ĐẠI VIỆT CỔ PHONG TƯỜNG TRÌNH ✵ TTXVA BIÊN TẬP
Bài viết này là sự cố gắng liệt kê những danh từ về cổ trang Việt Nam, đồng thời lược thuật đặc tính và cách thức sử dụng mỗi loại trang phục trong trường kỳ lịch sử.

1. Các loại cổ trang cơ bản :
◆ Giao lĩnh (交領) : Còn gọi là Áo cổ chéo ; đôi khi loại áo này cũng được gọi là Trực lĩnh (直領), nhưng về sau lại dùng “trực lĩnh” để chỉ kiểu áo Nhật bình (日平). Đây là loại áo cơ bản của người các xứ đồng văn Đông Á (Trung Hoa – Triêu Tiên – Nhật Bản – Lưu Cầu – Việt Nam), có lẽ đã xuất hiện từ thời cổ đại và là loại áo đặc trưng cho nền văn minh Trung Hoa.

Họa hình lối ăn vận của người Đàng Ngoài qua nét vẽ của họa sĩ Nhật Bản.
◆ Viên lĩnh (圓領) : Còn gọi là Áo cổ tròn ; đôi khi được gọi là Đoàn lĩnh (團領) hoặc Bàn lĩnh (盤領). Đây là loại áo cơ bản thứ nhì, nhưng chỉ xuất hiện từ thời Đường bởi đặc tính của nó chịu ảnh hưởng từ lối y phục người Hồ (胡人).

Bức ảnh chụp Nam Phương hoàng hậu (南芳皇后, 1914 – 1963) mặc áo Viên lĩnh năm 1934.
◆ Lập lĩnh (立領) : Còn gọi là Áo cổ đứng. Loại áo này chỉ xuất hiện dưới triều Minh, bởi nó mang dáng dấp của lối y phục Hoa Bắc với tác dụng chống lạnh. Nó trở thành kiểu áo phổ biến của người Đàng Trong dưới thời Võ vương Nguyễn Phước Khoát (阮福闊, trị vì từ 1738 đến 1765) và được ấn định thành quốc phục Việt Nam kể từ một sắc dụ ban hành năm 1832 của Minh Mệnh đế (明命帝, 1791 – 1841). Một thời gian dài trước đây, kiểu áo này được mặc định là lối ăn vận của tiền nhân nước Việt trong suốt mấy ngàn năm.

Một thiếu niên ở Sài Gòn năm 1906.
◆ Tiện phục (便服) : Loại áo thông dụng trong đời sống thường nhật, lối cắt may và quy chế không cầu kỳ.

Một gia đình ở Bắc Kỳ.
◆ Triều phục (朝服) : Còn có tên gọi ít phổ biến hơn là Công phục (公服) ; đây là loại áo chỉ dành cho bậc đế vương và giới quan chức. Được phân thành hai dạng : Đại triều (大朝服 ; được mặc vào những ngày mồng Một và ngày Rằm), Thường triều (常朝服 ; được mặc vào những ngày còn lại trong tháng).

Nghi lễ đại bái tại sân Đại triều nghi (kinh thành Huế) năm 1926.
◆ Lễ phục (禮服) : Loại áo này chỉ được mặc trong các dịp tế lễ, lối cắt may thường rất cầu kỳ và quy chế hầu như không đổi trong suốt nhiều thế kỷ.
Hoàng đế Khải Định (啓定, 1885 – 1925) mặc trang phục Cổn miện trong lễ tế Nam Giao năm 1916.
2. Biến tấu của cổ trang :
a. Lễ phục :
◆ Bào phục (袍服) : Đặc trưng của loại áo này là khổ to và rộng hơn so với thân thể, riêng giới quan chức thường kèm đai lưng. Loại áo này thường có thêm thứ áo khoác được gọi là Trường y (長衣) hoặcTrường bào (長袍).

Quan Kinh lược sứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải (黃高啟, 1850 – 1933) mặc Bào phục.

Một viên lại ở Bắc Kỳ mặc Bào phục, 1915.
◆ Long bào (龍袍) : Đây là loại Bào phục thêu hình rồng 5 móng (龍 / long), được sử dụng trong các buổi thiết triều. Loại áo này chỉ dành cho Thiên tử (màu vàng sẫm) và Thái tử (màu vàng cam), các tầng lớp khác có thể bị xử phạt rất nặng nếu xâm phạm.


Hoàng đế Đồng Khánh (同慶, 1864 – 1889) trong trang phục Long bào năm 1885 và mẫu phục chế.
◆ Mãng bào (蟒袍) : Tức là loại Bào phục thêu hình rồng 4 móng (蟒 / mãng). Loại áo này xuất hiện ở Việt Nam có lẽ từ thời Lê trung hưng, đặc trưng của nó là chỉ dành cho các hoàng tử (màu đỏ) và giới quan chức (màu tím) từ cấp tam phẩm trở lên.

Mãng bào của hoàng tử triều Nguyễn.

Mãng bào của quan lại triều Nguyễn.
◆ Hoa bào (花袍) : Tức loại áo thêu hình hoa. Đây là loại áo Đại triều của giới quan chức triều Nguyễn từ cấp tứ phẩm trở xuống, lưu hành từ 1804 đến 1845, sau được thay thế bởi Giao bào (蛟袍).
[Không có hình minh họa]
◆ Giao bào (蛟袍) : Áo thêu hình thuồng luồng (蛟 / giao). Cứ quan chế triều Nguyễn năm 1845 thì đây là loại áo Đại triều của giới quan chức từ cấp tứ phẩm trở xuống.

◆ Bổ phục (補服) : Một dạng Trường bào, có đính Bổ tử (補子). Đây là loại áo Thường triều của các hoàng thân và giới quan chức kể từ thời Lê trung hưng. Tuy nhiên, vào thời Lê thì nó là dạng Viên lĩnh Trường bào, còn thời Nguyễn lại là dạng Giao lĩnh Trường bào.

Họa hình một văn quan triều Lê trung hưng trong sách Hoàng Thanh chức cống đồ (皇清職貢圖).
◆ Phụng bào (鳳袍) : Loại áo dạng Trường bào này được coi là cao quý nhất của bậc phi hậu. Cứ điển chế triều Nguyễn, loại áo này chỉ dành cho Thái hậu, Hoàng hậu và Hoàng quý phi.

Phụng bào của Trưởng công chúa triều Nguyễn.
◆ Vĩ địch (煒翟) : Còn được gọi là Địch y (翟衣) ; một dạng áo Giao lĩnh, thêu hình chim trĩ (翟 / địch). Đây là lễ phục dành cho các phi hậu.

Cung Thánh hoàng hậu Dương thị (恭聖皇后 楊氏, 1162 – 1232), chính thất của Hoàng đế Tống Ninh Tông (宋寧宗, 1168 – 1224), trong trang phục Vĩ địch.
◆ Nhật bình (日平) : Một dạng Đối khâm (對襟), loại áo dành cho các phi tần và mệnh phụ triều Nguyễn, có lẽ khởi nguồn từ áo Phi phong thời Minh. Đặc trưng của loại áo này là xẻ cổ thành hình chữ Nhật (日) trước ngực, dưới eo có thêm dải lụa để buộc hai vạt áo.

b. Thường phục :
◆ Sam (衫) : Tức là loại áo đơn, mỏng và nhẹ, thấm mồ hôi rất tốt.

Các mệnh phụ Bắc Kỳ thưởng trà và đọc sách.
◆ Bối tử (背子) : Còn được gọi là Đối khâm (對襟) ; loại áo khoác ngoài, có hai vạt song song trải suốt. Có quan điểm cho rằng, loại áo này là khởi nguồn của áo Tứ thân (四身).

Họa hình nữ nhân Đàng Ngoài mặc Bối tử do họa sĩ Nhật Bản vẽ năm 1645.
◆ Tứ điên (四顛) : Một loại áo sam cổ tròn, phần ngực áo có xẻ vạt và kết cấu hai bên hông giống áo Bối tử.

Họa hình các võ sĩ mặc áo Tứ điên trong họa phẩm Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ (竹林大士出山圖).
◆ Cao thúc (高束) : Loại nữ phục phổ biến từ thời Đường ; ở Việt Nam, thứ áo này đã không còn hiện diện kể từ thời Nguyễn. Bên trong lót yếm, thắt lưng ngang ngực, có thể khoác thêm Đối khâm.

Họa hình cung nữ mặc Cao thúc trong họa phẩm Đảo luyện đồ (搗練圖) của tác giả Tống Huy Tông (宋徽宗, 1082 – 1135).
◆ Thâm y (深衣) : Loại áo sang trọng dành cho sĩ phu, người cao tuổi hoặc giới trung lưu trở lên. Nó là dạng Giao lĩnh Trường bào, đôi khi là dạng Đối khâm ; thường thắt đai ở ngang lưng. Tại Việt Nam, khi mặc loại áo này thì thường đội thêm mũ Ni, mũ Bao đính hoặc mũ Bức cân.

Một người cao tuổi ở Quảng Yên mặc Thâm y và đội Bao đính.
◆ Thường (裳) : Một loại phục sức để che hạ thể. Độ dài thường là từ phần eo qua qua đầu gối chừng một tấc, phần tà tuyệt đối không chạm đất.

Họa hình nữ nhân Đàng Ngoài quây Thường qua nét vẽ của họa sĩ Nhật Bản.
◆ Quần (裙) : Loại phục sức trở nên phổ biến kể từ thời Đường, phần nhiều dành cho nam giới. Nó có dạng hai ống, thường được làm bằng lụa và có màu trắng, được may thụng. Ở Việt Nam có một dạng quần thông dụng được gọi là Quần lá tọa, cố định bằng một dải rút ngang hông và không buộc túm ở dưới chân.

◆ Váy (裙子 / Quần tử) : Còn được gọi là hoặc Viên thường (圜裳) ; loại phục sức này trở nên thịnh hành kể từ thời Minh, ban sơ không phân biệt nam nữ.

Đôi thiếu nữ ở Hà Nội mặc váy đụp trong sinh hoạt thường nhật.
◆ Xiêm (襜) : Hay được gọi là Kế y (繼衣) ; một dạng áo lót dành cho giới thượng lưu.

Áo xiêm thời Nguyễn.
c. Phục sức :
◆ Đại đới (大帶) : Tức là đai làm bằng trúc bạch hoặc lụa, có hai đuôi buông thõng.

Họa hình Cấm binh triều Nguyễn. Họa phẩm của họa sĩ Nguyễn Văn Nhơn.
◆ Thao (絛) : Một loại phục sức thắt thẳng lưng, được làm bằng tơ lụa. Thông thường, Thao được kết hợp với Đại đới nhằm làm toát lên vẻ quý phái. Riêng ở Việt Nam, Thao còn được dùng làm quai nón của nữ lưu.

Các cung nữ thắt Thao đỏ trong họa phẩm Hán cung xuân hiểu đồ (漢宮春曉圖) của họa sĩ Cừu Anh (仇英, 1494 – 1552) thời Minh.
◆ Ngư đại (漁袋) : Tức loại phục sức hình con cá, được đeo trên đai của giới quan chức. Thứ phục sức này khởi nguồn dưới triều Đường.
[Không có hình minh họa]
◆ Cách đới (革帶) : Một thứ đai của đế vương và giới quan chức. Nó được làm bằng các chất liệt da hoặc sừng tê, có thể nạm thêm vàng ngọc tùy theo phẩm trật.
Cách đới nạm ngọc trên Triều phục của võ quan triều Nguyễn. Họa phẩm của họa sĩ Nguyễn Văn Nhơn.
◆ Phú hậu (覆後) : Một thứ phục sức nhỏ hình cánh cung, che phần hậu của Bào phục.

Phú hậu trên Triều phục của Hiệp biện Đại học sĩ triều Nguyễn. Họa phẩm của họa sĩ Nguyễn Văn Nhơn.
◆ Loan ổ (鸞塢) : Họa tiết bố cục vòng tròn khép kín, với chủ đạo hình chim loan (鸞). Ngoài ra, còn có các họa tiết như : Long ổ (龍塢), Phụng ổ (鳳塢), Hoa ổ (花塢)…

Loan ổ trên áo bào của Trưởng công chúa triều Nguyễn.
◆ Bổ tử (補子) : Một loại họa tiết hình vuông, bên trong trang trí hình chim (văn quan) và thú (võ quan) với mây phủ. Thứ họa tiết này khởi nguồn từ triều Minh, chỉ tồn tại trên Bổ phục.

Bổ tử trên Bổ phục của văn quan triều Nguyễn.
◆ Thủy ba (水波) : Tức là họa tiết sóng nước, được trang trí ở các phần nách – tay – vạt áo của Bào phục ; rất đặc trưng trong y phục của giới thượng lưu thời Thanh và được triều Nguyễn nồng nhiệt tiếp thu. Riêng thành viên hoàng thất thì có thêm Thủy cách (cột nước) nằm trên Thủy ba ở phần vạt áo.

Thủy ba và Thủy cách trên áo Bách thọ (百壽衣) dành cho người cao tuổi thuộc hoàng thất.

3. Tiện phục được phối hợp như thế nào ?

a. Thứ dân :

Lối ăn mặc của thứ dân thường có tính thực dụng cao, không cầu kỳ và lựa những màu sẫm hoặc nhợt.

◆ Giới lao công : Nam nhân thường cởi trần đóng khố, lúc thư nhàn thì mặc áo có từ 2 đến 4 lớp, để lộ bắp chân ; nữ nhân mặc áo Bối tử để lộ yếm, sắc áo sẫm. Đa phần giới lao công ưa để chân trần, rất hiếm khi có giày dép.

万国人物図巻·東京人 1

万国人物図巻·東京人 2



◆ Giới trung lưu : Nam nhân mặc áo Tứ điên màu đen, quây Thường cũng màu đen, quần trắng, có thể dùng giày dép hoặc để chân trần, thường mang nón khi đi công vụ và có đày tớ theo hầu cắp nón ; nữ nhân mặc áo nhiều lớp và màu sắc có phần sặc sỡ hơn, phổ biến nhất là dạng áo Giao lĩnh và quây Thường.

世界人物図巻·東京人 1

Họa hình lối phục sức của giới trung lưu Đàng Ngoài qua nét vẽ của họa sĩ Nhật Bản.

皇清職貢圖·安南國女人


b. Quý tộc :

Giới quý tộc có những quy chuẩn về phục sức rất nghiêm cẩn và sang trọng, nhưng vẫn phải đảm bảo đặc tính không phô trương.

◆ Nam giới : Mặc áo Tứ điên để lộ áo lót Giao lĩnh màu trắng, quây Thường, đội mũ Đường cân ; khoác áo Giao lĩnh Trường bào, thêm một áo mỏng dạng Đối khâm ; thắt Đại đới và Thao ; có thể cầm quạt lông hạc hoặc quạt giấy.

◆ Nữ lưu : Mặc áo Cao thúc lộ yếm hoặc cũng mặc áo Tứ điên để lộ áo lót Giao lĩnh màu trắng, quây Thường ; khoác áo Giao lĩnh Trường bào, thêm một áo mỏng dạng Đối khâm ; thắt Đại đới và Thao ; cầm quạt lông hạc hoặc quạt giấy.

朱印船交趾渡航図巻·1

朱印船交趾渡航図巻·2

Lối phục sức của giới quý tộc Đàng Trong được thể hiện trong họa phẩm Châu ấn thuyền Giao Chỉ độ hàng đồ quyển (朱印船交趾渡航図巻), do họa sĩ Nhật Bản vẽ vào khoảng cuối thế kỷ XVII.

Chúa Trịnh Sâm và Tuyên phi Đặng Thị Huệ thưởng trà bên hồ Tả Vọng


皇清職貢圖·安南國夷人

Lối phục sức của giới quý tộc Đàng Ngoài trong sách Hoàng Thanh chức cống đồ (皇清職貢圖).

c. Hoàng thất :

◆ Nam giới : Mặc áo Giao lĩnh màu vàng hoặc Viên lĩnh lót Giao lĩnh, quây Thường màu tía, thắt Đại đới và Thao, đội mũ Đường cân ; khoác áo Đối khâm ; cầm quạt lông hạc hoặc quạt giấy ; về sắc áo thì Hoàng đế mặc áo màu vàng hoặc trắng xen chỉ vàng, các hoàng thân mặc áo màu nhung đen hoặc trắng xen chỉ bạc.

◆ Nữ lưu : Mặc áo Cao thúc lộ yếm hoặc áo Giao lĩnh, hay Viên lĩnh lót Giao lĩnh, quây Thường có quấn dải phi bạch ; khoác áo Đối khâm hoặc Giao lĩnh Trường bào ; cầm quạt lông hạc hoặc quạt giấy.

統天體道仁明光孝皇帝圖

Tranh phục chế lối phục sức thông dụng của Hoàng đế triều Trần.

Mạc Thái Tổ lạy Minh sứ

d. Một số lưu ý khác :

◆ Về đầu tóc : Thời Lý – Trần, người An Nam để tóc ngắn hơn Trung Châu – nam giới cắt ngắn sát đầu hoặc cạo trọc, nữ lưu có thể cắt ngắn ngang vai ; đến thời Lê trung hưng, người An Nam lại có thói quen buông xõa tóc dài (đuôi tóc cố ý bện xoắn cho khỏi bay rối) – nam giới thường đội mũ và có thể cạo vạt tròn trên thóp (để tưởng nhớ cha mẹ vừa mất), nữ lưu thì vấn lụa trên đầu ; tục búi tóc và đội khăn xếp chỉ xuất hiện sớm nhất từ thời Vũ vương Nguyễn Phước Khoát.

◆ Về y phục : Mặc nhiều lớp áo, trông có vẻ thụng, tay áo dài, phần tà chỉ chạm đến gót chân chứ không quết đất.

◆ Về chất liệu may mặc : The Cát Liễu, the hoa tim táo sợi thẳng, the hợp, lụa bống, bông, ỷ (the lụa có hoa bóng chằng chịt không dùng sợi thẳng), lĩnh, là, hài. Gai và tơ chuối thì được chắp lại làm vải, mịn như lụa nõn, rất hợp để mặc vào mùa hè.