Kết quả 1 đến 6 của 6
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1

    Sách viết về Nguyễn Trãi gia nhập Khởi nghĩ Lam Sơn vào thời điểm nào ?

    Chào các bạn, tôi xin post đoạn mà ông Nguyễn Diên Niên, Nguyên chủ tịch hội Khoa học lịch sử Tỉnh Thanh Hóa, Ủy viên hội Khoa học lịch sử Việt Nam về việc Nguyễn Trãi gia nhập khởi nghĩa Lam Sơn vào năm nào, xin đón đọc. Tựa sách: Suy ngẫm 20 năm một chớp mắt của lịch sử đầu thế kỷ 15; Nhà xuất bản Tri thức, 2013.

    II. Xác định thời gian và địa điểm Nguyễn Trãi gặp Lê Lợi.

    Nguyễn Trãi có cả một Biểu Tạ Ơn viết dâng Lê Thái Tông năm Kỷ Mão (1439) lúc bây giờ đang ở chùa Tư Phúc làm một viên quan lãnh thì được Lê Thái Tông triệu về kinh giao việc. Ông mừng đến phát khóc mà làm một Biểu Tạ Ơn dâng lên Lê Thái Tông dài tới 49 câu trong đó có 14 câu viết về thời kỳ ông gặp Lê Thái Tổ.

    Theo Biểu Tạ Ơn thì Nguyễn Trãi gặp Lê Lợi ở đâu ?

    1. Biểu Tạ Ơn viết: Viên môn trượng sách: Cầm roi ngựa đến trước cửa dinh. Có nghĩa là Nguyễn Trãi đến gặp Lê Lợi ở tại một nơi đóng quân. Vậy Nguyễn Trãi khẳng định ông gặp Lê Lợi khi khởi nghĩa đã bùng nổ rồi.

    2. Việc tiếp theo là phải tìm doanh trại ấy ở đâu và ở thời gian nào ? Dựa vào đâu để có lời giải chính xác ? Theo chúng tôi, phải dựa vào Lê Lợi, đối tượng của cuộc gặp gỡ. Nhưng điều rất cần phải hiểu là cuộc gặp gỡ ấy để lại ấn tượng như thế nào đối với Lê Lợi, nó có phải là ấn tượng vô cùng quan trọng giữa ông với Nguyễn Trãi không ? Nghĩa là có phải như các tác giả cuốn Khởi nghĩa Lam Sơn viết không ? Cuối cùng chúng tôi đã tìm ra một đoạn trích trong Lam sơn thực lục, Trùng san Lam Sơn thực lục và Toàn thư.

    Bản dịch Lam Sơn thực lục nhà Lê Sát:

    Nhớ lại ngày trước, Trẫm lo liệu công việc bốn phương,, Bắc đánh giặc Minh, Nam thì đánh Ai Lao, đều tránh chỗ mạnh, đánh chỗ hư. Kể những kẻ có công thì võ thần chỉ có Lê Thạch, Lê Lễ, Lê Sát, Lê Vấn, Lê Lý, Lê Ngân, ba mươi lăm người; văn thần có bọn Lê văn Linh, Lê quốc Hưng; cùng binh sĩ cha con; hai trăm thiết đột, hai trăm nghĩa sĩ, hai trăm dũng sĩ và mười bốn thớt voi. Còn bọn người chuyên chở và người già yếu hộ vệ vợ con cũng chỉ hơn hai nghìn người mà thôi.

    Trùng san Lam Sơn thực lục:

    Khi vua kinh dinh bốn phương, Bắc đánh giặc Minh, phía Nam đuổi quân Lào, trải trăm trận đánh đâu thắng đấy, chỉ có bọn võ thần là Lê Thạch, Lê Lễ, Lê Sát, Lê Vấn, Lê Lý, Lê Ngân, ba mươi lăm người; văn thần có bọn Lê văn Linh, Lê quốc Hưng; cùng binh sĩ cha con; hai trăm thiết đột, hai trăm nghĩa sĩ, hai trăm dũng sĩ và bốn mươi thớt voi. Cả xe cộ cùng người già, người hộ vệ và vợ con chỉ hơn hai nghìn người mà thôi.

    Toàn thư:


    Buổi đầu vua kinh dinh bốn phương, phía Bắc đánh giặc Minh, phía tây đuổi Ai Lao, tránh chỗ thực, đánh chỗ hư, đến đâu được đấy, chỉ có võ thần là bọn Lê Thạch, Lê Lễ, Lê Sát, Lê Vấn, Lê Ngân, Lê Lý 30 người, văn thần là bọn Lê Linh, Lê Quốc Hưng; quân cha con thì có 200 quân Thiết đột, 200
    nghĩa sĩ, 300 dũng sĩ, 4 thớt voi; còn quân khinh dũng và quân già yếu hộ vệ chỉ có 1 nghìn người mà
    thôi.

    Với Lam Sơn thực lục, Trùng san Lam Sơn thực lục và Toàn thư thì rõ ràng là thời kỳ Lê Lợi hoạt động ở vùng thượng du Thanh Hóa (1418-1424) chưa có văn thần Nguyễn Trãi.

  2. #2
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    tiếp (tr 107)

    Sau trận Đa Căng 20/09 Giáp Thìn nghĩa quân bắt đầu chuyển hướng vào Nghệ An, tạo ra bước ngoặt chiến lược cả về thế và lực. Khi bọn Phương Chính, Lý An bỏ thành Nghệ An chạy ra Đông Đô thì thời cơ chiến lược xuất hiện. Toàn thư chép như sau:

    Tháng 9, ngày 17, bọn Lý An, Phương Chính bỏ thành Nghệ An, vượt biể chạy về ĐôngQuan, chỉ để Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ An. Vua tiến đánh phía ngoài thành, phá được. Vua liệu tính thế giặc ngày một suy, quân ta ngày một mạnh, thời cơ đã đến mà không hành động ngay sợ lỡ mất cơ hội, liền để bọn Lê Ngân, Lê Văn An, Lê Bôi, Lê Điền, Lê Lĩnh, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng ở lại đóng dinh vây thành Nghệ An. Vua đích thân chỉ huy đại quân, ngày đêm đi theo đường thủy, đường bộ tiến gấp đuổi theo bọn An, Chính. Khi đến thanh Tây Đô, vua đóng dinh ở Lỗi Giang, úy lạo tướng sĩ, ban thưởng bô lão trong làng và họ hàng cùng những người quen biết cũ theo thứ bậc khác nhau. Bấy giờ nhân dân các huyện nghe tin vua đến Thanh Hóa, đều hăng hái đến trước cửa quân, tình nguyện rong ruổi theo hầu để lập chút công lao.

    Doanh trại Lỗi Giang nơi đại quân đóng là ở một khúc sông Lỗi vì có quân thủy.

    Từ những khảo chứng trên đây khẳng định một sự thật lịch sử rằng: Nguyễn Trãi đến gặp Lê Lợi ở doanh trại Lỗi Giang vào mùa thu năm Bính Ngọ (1426) Nguyễn Trãi được thâu nạp với chức thừa chỉ.

    III. Tìm hiểu kỹ hơn thời gian Nguyễn Trãi ở Đông Quan.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3

    1. Biểu Tạ Ơn viết: Viên môn trượng sách: Cầm roi ngựa đến trước cửa dinh. Có nghĩa là Nguyễn Trãi đến gặp Lê Lợi ở tại một nơi đóng quân. Vậy Nguyễn Trãi khẳng định ông gặp Lê Lợi khi khởi nghĩa đã bùng nổ rồi.
    Ngay từ câu đầu tiên đã thấy xàm xí cuội rồi. Khẳng với định [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG]

    Này thì Lam Sơn Thực Lục :

    “ Vua từ khi khởi binh cho đến khi dẹp được giặc Ngô và giành lại được nước nhà, bao nhiêu văn thư qua lại ở trong quân ngũ đều do Nguyễn Trãi làm cả ”

    Chắc thời xưa Nguyễn Trãi làm việc online, gởi email cho Lê Lợi các mảng văn thư [IMG]images/smilies/24.gif[/IMG]

    Văn thề Lũng Nhai của Hoàng Xuân Hãn sưu tầm và dịch :

    Bui ! (cổ-ngữ đứng đầu các văn khấn)

    Năm đầu niên-hiệu Thiên-khánh là năm Bính-thân (1416), quá ngày sóc (mồng một) là ngày Kỉ-mão đến ngày 12 là ngày Canh-dần. Tại nước A-NAM, lộ Khả-lam, tôi là phụ-đạo Lê-Lợi đứng đầu, với Lê-Lai, Lê-Thận, Lê Văn-Linh, Lê Văn-An, Trịnh-Khả, Trương-Lôi, Lê-Liễu, Bùi Quốc-Hưng, Lê-Nanh, Lê-Kiểm, Vũ-Uy, Nguyễn-Trãi, Lưu Nhân-Chú, Trịnh-Vô, Phạm-Lôi, Lê-Lí, Đinh-Lan, Trương-Chiến,

    Chúng tôi kính cẩn đem lễ-vật, sanh-huyết mà thành-khẩn dâng lời tâu, cáo cùng Vua Trời, Hậu Đất và các thần linh bậc thượng, trung, hạ, coi các cảnh đẹp sông núi tại các xứ ta. Chúng tôi cúi xin rộng rủ lòng thương, soi xét để chứng cho việc nầy. Rằng có bạn từ xa tới kết tình vui-vẻ và rất tin nhau, cho nên phải làm lễ tâu cáo.

    Nay ở nước tôi, tôi phụ-đạo Lê-Lợi đứng đầu với 18 người từ Lê-Lai đến Trương-Chiến, tuy sinh khác họ, quê quán xa cách nhưng kết nghĩa cùng nhau, xem nhau như cành liền chung một tổ. Tuy phần vinh hiển có khác nhau, nhưng nguyện đem tình đối xử với nhau như người không khác họ.

    Nếu có bè đảng, vì muốn xâm-tiếm, tỏ vẻ xem chừng sắp vượt cửa vào để làm hại, thì :

    Ví bằng chúng tôi đây, Lê-Lợi với 18 người từ Lê-Lai đến Trương-Chiến, có đều hiệp lực đồng tâm chống giữ địa-phương để làng xóm được yên ; nếu chúng tôi sống chết cùng nhau không quên lời thề ước, thì chúng tôi cúi xin Trời, Đất và các vị

    Thần linh chứng giám cho, ban xuống trăm điều lành, cho từ thân đến nhà, dòng-dõi, con cháu đều được yên lành để đời đời hưởng lộc Trời.

    Ví bằng Lê-Lợi với 18 người từ Lê-Lai đến Trương-Chiến lại ra ý đổi đường, tìm sướng hiện-thời, mập-mờ sao-lãng, không chịu đồng tâm, bỏ quên lời thề ước, thì chúng tôi cúi xin Trời, Đất và các vị Thần linh phát xuống trăm tai, cho từ thân đến nhà, dòng-dõi, con cháu đều chịu giết sạch, đúng với luật Trời.

    Kính cẩn tâu trình



    Bonus thêm Quân Trung Từ Mệnh Tập - Thư xin hàng Nguyễn Trãi viết cho Mã Kỳ, Sơn Thọ năm 1423 :

    Tôi nghe nói: “Sinh đời thái bình, ai chẳng được ở yên; gặp đời thánh minh, ai chẳng được thỏa sống”. Nay tôi sinh đời bình, gặp thời thịnh, mà lại thường phải than là mất chỗ ở yên là cớ làm sao? Trước vì tri huyện Đỗ Phú là người đồng hương, cùng tôi có hiềm khích, nó đút lót tham chính lương Nhữ Hốt, nói vu cho tôi khinh mạn quan trên, cậy mạnh mà chống lại mệnh trên, nếu không trị trước, tất có lo sau. Nhữ Hốt báo với quan quản binh cùng nội quan Mã Kỳ nhân đó cho quan quân đến đánh úp bộ chúng tôi, không kể trẻ già, đều bị chém giết bắt bớ; họ hàng tôi đều tan tác, vợ con tôi đều chia lìa. Lại khai quật mồ mả tổ phụ tôi phởi bày hài cốt (sách Lam-sơn kí chép: Năm Mậu tuất (1418) vua khởi binh ở Lam-sơn, bọn Mã Kỳ nhà Minh đến bức, nhà vua lui về đóng đồn ở Lạc-thủy, Đỗ Phú đưa bọn giặc đến đào hài cốt của đức Hoàng khảo ở xứ Phật-hoàng; lại đi lén theo đường tắt để đánh úp phía sau nhà vua, bắt gia thuộc nhà vua cùng vợ con của quân dân rất nhiều). Tôi không biết kêu đâu, tiến thoái đều khó, bèn sai thân nhân đến Tam ty tạ tội, thì hai ba lần sứ đi đều bị giết, không ai được về. Tôi không biết tính sao, đành phải chạy đi núp náu cho qua năm tháng, để đợi quan trên xét soi. Sống tạm nơi rừng núi đã sáu năm trời, ngày cơm hai bữa, chưa từng có bữa nào no. Song chim tinh vệ lấp biển, há quản gian lao; kẻ oan ức trả thù, cũng liều sống thác; nên tôi đem bộ chúng đến vây quê nhà Đỗ Phú, bắt họ hàng làng xóm nó để hả lòng căm giận mà thôi, đâu dám có chí khác. Nay nghe quan tổng binh là bực đức lớn ân rộng, tâm như Đặng Vũ dụ địch, chính như Hoàng Bá dạy dân, thực là dịp cho tôi được đổi lỗi sửa mình. Vậy xin kính sai bọn anh họ là Lê Vận dâng thư đến viên môn, giãi bày oan khổ, cúi xin đại nhân tha cho lỗi đã qua, mở cho đường đổi mới. Nếu được rủ lòng khoan thứ, thật là ơn tạo hóa của trời đất vậy.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    2
    Chào bạn, Hàn lâm viện, chỉ chép sách chứ không tranh luận. Xin hiểu cho, thank.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    8
    Trích dẫn Gửi bởi tinhcamqueminh
    Chào bạn, Hàn lâm viện, chỉ chép sách chứ không tranh luận. Xin hiểu cho, thank.
    Tiêu đề topic không phải tựa sách. Còn những dòng tui trích ra cũng đều là từ sách, khớp với tiêu đề topic !

  6. #6
    Ngày tham gia
    Feb 2016
    Bài viết
    5
    Nguyễn Phi Khanh hay Nguyễn Ứng Long được Tư đồ Trần Nguyên Đán mời về dạy con gái, tên là Thái, nhân gần gũi nảy sinh tình yêu nam nữ với Thái, làm Thái có thai rồi bỏ trốn. Trần Nguyên Đán cho gọi Ứng Long về gả con gái cho, sinh ra Nguyễn Trãi. Sau đó Ứng Long thi đỗ nhưng vua Trần Nghệ Tông bỏ không dùng, cho rằng "Bọn chúng có vợ giàu sang, như thế là kẻ dưới mà dám phạm thượng ''
    Năm 1400, Hồ Quý Ly phế truất vua Trần Thiếu Đế, lật đổ nhà Trần, nhà Hồ thành lập. Cũng trong năm đó, nhà Hồ mở khoa thi Nho học, Nguyễn Trãi tham dự và đỗ Thái học sinh, đứng thứ tư, được trao chức Ngự sử đài Chính chưởng. Nguyễn Phi Khanh cũng ra làm quan, làm đến chức Hàn Lâm viện học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Năm 1407, Minh Thành Tổ phái Trương Phụ đem quân xâm lược nước Đại Ngu, nhà Hồ kháng chiến thất bại, Hồ Quý Ly cùng nhiều triều thần bị bắt và bị đem về Trung Quốc, Nguyễn Phi Khanh đầu hàng trước đó..
    Thời điểm Nguyễn Trãi lên Lỗi Giang, yết kiến Bình Định Vương Lê Lợi, tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, hiện nay các tài liệu chưa được thống nhất.
    -Một số học giả cho rằng Nguyễn Trãi đã có mặt trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ hội thề Lũng Nhai vào năm 1416
    -Theo Trần Trọng Kim viết trong Việt Nam sử lược thì Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn vào năm 1420. Việt Nam sử lược, chương XIV (Mười năm đánh quân Tàu), đoạn số 6 viết: "Khi Bình Định Vương về đánh ở Lỗi Giang, thì có ông Nguyễn Trãi, vào yết kiến, dâng bài sách bình Ngô, vua xem lấy làm hay, dùng ông ấy làm tham mưu". Trước đó, đoạn đó 5 viết rằng " Năm canh tí (1420) Bình Định Vương đem quân ra đóng ở làng Thôi"
    Vua Lê Thái Tổ có 2 đợt phong thưởng chính, lần một vào tháng 2, năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) cho những Hỏa thủ và quân nhân Thiết đột ở Lũng Nhai, gốm 121 người. Lần 2, vào tháng 5, năm Thuân Thiên thứ 2 (1429), ban biển ngạch công thần cho 93 viên. Cả 2 đợt phong thưởng này không có tên của Nguyễn Trãi.
    Bấy giờ có 93 người được phong tước và khắc biển công thần (Những người tên chữ nghiêng đều được cải sang họ Lê của vua, ở đây ghi nguyên họ những người đó):
    Tuy nhiên 93 người được phong tước sau có tên của Nguyễn Trãi:
    Huyện Thượng hầu, 3 người: Phạm Vấn, Lê Sát, Phạm Văn Xảo.
    Á Thượng hầu, 1 người: Lê Ngân.
    Hương Thượng hầu, 3 người: Nguyễn Lý, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng.
    Đình Thượng hầu, 14 người: Nguyễn Chích, Lê Văn An, Đinh Liệt, Lê Miễn, Đinh Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Trịnh Lỗi, Nguyễn Nhữ Lãm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Bật.
    Huyện hầu, 14 người: Bùi Bị, Lê Bì, Lê Phủ, Lê Náo, Lê Thụ, Trương Lôi, Trịnh Khả, Lê Bồi, Lê Lang, Nguyễn Xí, Đỗ Khuyển, Đỗ Bí, Lê Quốc Trinh, Lê Bật;
    Á hầu, 26 người: Lê Lạn, Lê Trãi, v.v...;
    Quan nội hầu, 16 người: Lê Thiệt, Lê Chương,...
    Quan phục hầu, 12 người: Phạm Cuống, Lê Dao, Nguyễn Trãi,...
    Thượng trí tự trước phục hầu, 4 người: Trịnh Khắc Phục, Lê Hài, v.v...
    Các tướng tử trận khi khởi nghĩa chưa kết thúc như Lê Thạch, Lê Lai, Đinh Lễ, Lý Triện cũng đều được truy tặng.
    Sách Khâm định việt sử thông giám cương mục có những nhận định về Nguyễn Trãi như sau:

    Theo nhận định của sử quan: Ông Trãi giúp Lê Thái Tổ khai quốc, rồi lại giúp Lê Thái Tông, tài trí, phép tắc, mưu mô, đạo đức, đều vượt hơn hết mọi người lúc bấy giờ.
    Theo lời phê của Tự Đức: Đời Lê Thái Tông, vua thì buông tuồng, bầy tôi thì chuyên quyền. Trãi nếu là người hiền, thì nên sớm liệu rút lui, ẩn náu tung tích để cho danh tiếng được toàn vẹn. Thế mà lại đi đón trước ngự giá, thả lỏng cho vợ làm việc hoang dâm, vô liêm sỉ. Vậy thì cái vạ tru di cũng là tự Trãi chuốc lấy. Như thế sao được gọi là người hiền?

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •