Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 18
  1. #1
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    43

    Hội Đồng Tứ Giáo

    Có đọc được rằng năm 1627 có cuộc tranh luận giữa Đắc Lộ và một số sư sãi ở Thăng Long, nhưng kiếm hoài trên... Internet thì không thấy, nhưng mà được cái này [IMG]images/smilies/9.gif[/IMG]





    Hội Đồng Tứ Giáo
    (Part of seri "Truyền Giáo" on LSVN [IMG]images/smilies/9.gif[/IMG] )



    (Sách này nguyên văn tiếng Hán-Nôm hiện còn được lưu giữ tại Thư Viện Quốc Gia Việt Nam )


    Phần I: sơ lược, tóm tắt văn bản và nhận định

    Hội đồng tứ giáo là 1 tài liệu mô tả sự kiện tranh luận giữa 4 tôn giáo lớn tại đàng Ngoài vào năm 1773. Bối cảnh chúa Trịnh Sâm đang bắt đạo và bắt được nhiều linh mục, thầy giảng phương Tây lẫn Việt Nam, tức thầy giảng Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm


    Trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, cũng đã có nhiều buổi gặp gỡ, đối thoại và tranh cãi giữa đại biểu của Công giáo và đại biểu các tôn giáo khác như linh mục Bunzomi và thày Tư Bàng đạo sư năm 1621 ở Nước Mặn. Rồi cuộc tranh luận giữa Đắc Lộ và một số sư sãi ở Thăng Long năm 1627 hay cuộc tranh luận kéo dài hai ngày đời Lê Cảnh Hưng của đại diện 4 tôn giáo là Nho, Phật, Đạo và Công giáo được ghi lại trong cuốn “Hội đồng tứ giáo” và được xuất bản lần đầu năm 1887…Với kiến thức uyên bác và kiểu tư duy logic chặt chẽ thì kết quả các cuộc tranh luận này bao giờ phần thắng cũng thuộc phía Công giáo và đã có một số nhà sư theo đạo. Trong số này, có người có nhiều đóng góp vào con đường hội nhập văn hoá của đạo Công giáo tại Việt Nam như vị Hoà thượng ở chùa Phao khi trở lại lấy tên thánh là Phanxicô đã cộng tác với Majorica sáng tác ra bản kinh “Phục dĩ chí tôn”, một áng Hán văn tuyệt diệu.

    BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ

    "Tại kinh thành có một quan lớn là chú của chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm. Mẹ của ông là bà Thượng Trâm, quê xứ Hải Dương, vốn theo đạo Công giáo. Nhiều lần, bà khuyên con theo đạo. Ông này liền nảy ra sáng kiến triệu tập đại diện bốn tôn giáo: Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo và Công giáo để trình bày về đạo của mình để quyết định theo một đạo. Cuộc trao đổi kéo dài ba ngày, mỗi ngày một vấn đề: nguồn gốc con người, mục đích cuộc đời này và đời sau (kiếp này và kiếp sau) của mỗi người. Linh mục Liêm và Gia đại diện cho Công giáo đã khéo léo trình bày đến nỗi quan lớn phải trầm trồ khen ngợi. Nhưng vì ông biết Chúa Trịnh vẫn cấm đạo Công giáo nên quan vẫn còn ngần ngại chưa theo"

    Ít lâu sau, hai ông có cơ hội được đàm đạo với Thái Tôn Dương Hậu là mẹ của chúa Trịnh. Cuối buổi đàm đạo, bà hỏi: "Những người không tin đạo của các ông sau khi chết sẽ đi đâu?". Ông trả lời: "Bẩm bà, sa hỏa ngục khốn khổ đời đời ạ". Câu trả lời đó khiến bà tức giận và ép con mình phải xử tử hai ông"



    Năm nay (2013) kỷ niệm 25 năm đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh cho 117 vị tử đạo tại Việt Nam (ngày 19 tháng 6 năm 1988). Xếp theo thứ tự niên tuế, đứng đầu danh sách là bốn linh mục dòng Đaminh: Francisco Gil de Federich, Mateo Alonso Leciniana (1745), Jacinto Castaneda, Vicentê Lê Quang Liêm (1773). Đặc biệt là hai vị sau cùng đã được gán làm tác giả của một tác phẩm nổi tiếng “Hội đồng tứ giáo” (hoặc đôi khi mang tựa đề dài hơn: “Hội đồng tứ giáo danh sư”). Sở dĩ gọi là “nổi tiếng” bởi vì từ năm 1867 đến năm 1921, nó được in ba lần tại Phú Nhai (Bùi chu) và bảy lần ở Tân Định (Sài-gòn)[1], và được dịch sang tiếng Tây-ban-nha, đăng trên tạp chí “Correo Sino-Annamita”, Manila, vol.31 (1902), trang 121-138; vol. 32 (1903), trang 151-191; 485-494.

    Bài này gồm hai phần: trước tiên, trình bày nội dung tác phẩm; sau đó, nhận xét về tác giả và tư tưởng thần học.

    I. NỘI DUNG TÁC PHẨM


    “Hội đồng tứ giáo” là một tập sách không dày lắm. Nguyên văn trong bản in của cha Nguyễn Hưng chỉ trên dưới 75 trang khổ giấy A5[2]. Nội dung gồm một lời tựa, thuật lại hoàn cảnh cuộc gặp gỡ giữa đại diện của bốn tôn giáo, và ba chương dành cho ba chủ đề trao đổi trong ba ngày: chương Một, về nguồn gốc vạn vật; chương Hai, dài nhất, về những bổn phận con người; chương Ba, về cứu cánh cuộc đời.

    <font color="red">A. Tựa


    Bài tựa cho độc giả biết lai lịch cuốn sách: “hội đồng tứ giáo”, nghĩa là một cuộc họp giữa bốn tôn giáo (Thiên Chúa giáo, Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo) diễn ra tại dinh Tĩnh Đô Vương (Trịnh Sâm, 1767-1782). Người chú của Chúa Trịnh có bà thân mẫu đã theo đạo Thiên Chúa, và bà muốn thúc giục con mình theo đạo, nhưng ông muốn biết lý lẽ của đạo mới, vì thế ông muốn mời hai linh mục (Tây sĩ) của đạo Thiên Chúa vừa mới bị bắt, để trình bày giáo lý cùng với đại diện của ba đạo cổ truyền: một nho sĩ (đạo Nho), một pháp sư (đạo Lão), một hòa thượng (đạo Phật).

    Nho sĩ được dịp “khai pháo” và chĩa vào đạo Thiên Chúa: dân Đông phương đã theo ba đạo cổ truyền từ hồi xa xưa và đã được nhìn nhận là “chính đạo”, còn “đạo Hoa lang” thì mới được du nhập và bị nhà vua ngăn cấm, ắt hẳn bởi vì đã giảng dạy điều mê tín dị đoan.

    Tây sĩ[3] liền đỡ lời và đưa ra ba điểm cải chính: thứ nhất, đây không phải là đạo Hoa Lang nhưng là đạo Thiên Chúa (“Thiên Chúa chi giáo”); thứ hai, ba đạo kia cũng được du nhập từ nước ngoài (Nho từ nước Lỗ, Lão từ nước Hồ quảng, Phật từ Ấn độ); thứ ba, không thể dựa vào sự kiện một đạo bị nhà vua cấm mà kết luận là dị đoan phi lý, bởi vì bên Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng (246-210 trước Công nguyên) đã đốt sách đạo Nho và chôn học trò; Hán Minh đế (56-58) bỏ đạo Nho theo đạo Phật, vua Tống Vi Tôn (1201-1208) bỏ đạo Phật theo đạo Lão. Do đó, muốn biết đạo nào đúng đạo nào sai thì phải xét lý lẽ giáo lý, chứ không chỉ dựa trên phản ứng của nhà cầm quyền. Do đó, Tây sĩ đề nghị thảo luận ba đề tài:

    - Thứ nhất: bản nguyên con người sinh ra từ đâu (nhân chi bản nguyên sinh tự hà lai)?

    - Thứ hai: hiện tại con người ở đời này thế nào (nhân chi hiện tại, tại thế hà như)?

    - Thứ ba: cứu cánh của con người, chết rồi đi đâu (nhân chi cứu cánh, tử vãng hà sở)?

    Nên ghi nhận hai điều trong bài tựa. Trước hết, ngay từ đầu, tác giả đã muốn đánh tan vài ngộ nhận liên quan đến sự hiện diện của đạo Thiên Chúa tại Việt Nam: đó là đạo ngoại quốc và là tà đạo (vì bị luật pháp ngăn cấm). Thứ đến, ba đề tài thảo luận xoay quanh con người: con người từ đâu đến? con người phải sống thế nào? đâu là cứu cánh cuộc đời? Các vấn đề “tôn giáo” cũng là những vấn đề “nhân sinh”.

    Thứ tự trình bày trong mỗi chương thường theo một mô hình nhất định: Nho sĩ, Pháp sư, Hòa Thượng lần lượt trình bày quan điểm của mình; sau cùng Tây sĩ biện bác với các đạo ấy và trình bày giáo lý của mình. Do đó, tuy mang danh là “Hội đồng tứ giáo” nhưng đây không phải là cuộc tọa đàm giữa “bốn phía”, mà chỉ là “hai phía”: một bên là đạo Thiên Chúa; bên kia là ba đạo cổ truyền. Không hề có lời qua tiếng lại giữa ba đạo này, mặc dù có nhiều sự khác biệt về đạo lý.

    <font color="blue">B. Ngày thứ nhất: nguồn gốc vũ trụ


    Lần lượt các đại biểu của đạo Nho, đạo Lão, đạo Phật trình bày vũ trụ quan của mình; đại biểu của đạo Thiên Chúa đối chất với mỗi đạo ấy, trước khi trình bày đạo lý Kitô giáo về sự tạo dựng.

    1/ Nho giáo

    Vạn vật khởi đầu từ Thái cực; Thái cực chuyển động sinh ra Dương và âm. Sự kết hợp của hai nguyên lý này sinh ra ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), nghĩa là năm yếu tố làm nên mọi sự.

    - Vấn nạn của Tây sĩ: cái gì làm cho Thái cực chuyển động? Phải có cái gì thúc đẩy thì mới có thể chuyển từ tĩnh sang động chứ! Vì thế Thái cực chưa phải là cội rễ mọi loài.

    2/ Đạo giáo

    Nguồn gốc vũ trụ đã được giải thích ở đầu Đạo đức kinh: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Đạo bắt nguồn từ hư không.

    - Vấn nạn của Tây sĩ cũng tương tự như đối với Nho sĩ: Đạo là gì? Làm thế nào mà một vật xuất hiện từ hư vô? Làm thế nào hư vô mà sinh ra cái hiện hữu? Sách cũng viết: “Đạo sinh nhất”; vậy thì Nhất là cái gì: là một người hoặc là cái gì khác nữa? Sách lại thêm “Hư vô đại đạo”; nhưng làm thế nào mà hư vô lại có thể trở nên cội rễ mọi sự được?

    3/ Phật giáo

    Theo sách Tâm Đăng, đầu bài Cửu kiếp nói rằng: “Đầu trước hết có một hạt sương là hư vô, là Phật tính. Từ hạt sương ấy tự nhiên chia ra làm ba phần: xanh (trời), vàng (đất), trắng (người); ba phần lại hóa nên một, họp nên một cái trứng lớn, rồi cái trứng ấy hóa ra bốn tấm: trời, đất, cha, mẹ.

    - Vấn nạn của Tây sĩ: Theo sách Nho, vào thời Thiêu Vương nhà Chu, năm thứ 24, thì Phật Thích ca mâu ni sinh ngày 8 tháng 4 tại Ấn độ, con của vua Tịnh Phạn vương và bà Ma Da phi. Như vậy thì làm sao mà ngài sinh ra trời đất được?

    4/ Thiên Chúa giáo

    Sau cùng, đến lượt Tây sĩ trình bày đạo của mình. Kinh thánh nói rằng cách đây 6 ngàn năm, Thiên Chúa đã dựng nên trời đất muôn vật trong 6 ngày[4]. Loài người cũng do Thiên Chúa dựng nên, gồm một nam một nữ; hai ông bà là tổ tông của mọi người, vì thế tất cả mọi người đều là anh em, tứ hải giai huynh đệ, như sách Luận ngữ đã viết.

    - Vấn nạn của Nho sĩ. Thiên Chúa chỉ là Chúa của riêng phương Tây mà thôi, bởi vì các sách thánh hiền bên Đông không hề nói đến Thiên Chúa.

    - Trả lời. Các sách bên Đông cũng đề cập đến Thiên Chúa dựng nên trời đất và loài người (Sách Khổng tử gia ngữ, sách Tiểu học Cao ly). Văn chương bình dân cũng có câu “trời là nền, đất là nhà” (thiên phú địa tái). Đã có nhà thì hẳn nhiên phải có người làm nên nhà: đó là điều hợp với lý lẽ, hơn là các lý thuyết “âm sinh dương rồi dương sinh âm”. Vũ này vận hành theo trật tự thì hẳn phải có Đấng khôn ngoan cầm quyền xếp đặt. Thiên Chúa không phải là Chúa của người Tây phương mà thôi; các sách Đông phương đều biết đến Thượng đế, chủ tể thiên địa (Kinh Dịch, Chu Thư, Kinh Thư). Thượng đế chính là Thiên Chúa của Kinh thánh; nhưng Phật giáo đặt ra “Ngọc Hoàng Thượng đế” như là một người trần, từ đó đạo chúng tôi không dùng danh Thượng đế nữa.

    C. Ngày thứ hai: Những nghĩa vụ của con người

    Chương này dài nhất, có lẽ bên Đông phương, “đạo” nặng về lối sống hơn là về lý thuyết. Trong chương này, chúng ta nhận thấy có hai điểm đặc biệt: thứ nhất, cuộc đối chất giữa Tây sĩ với Nho sĩ dài hơn là với hai đạo kia; có lẽ bởi vì xã hội thời ấy chịu ảnh hưởng mạnh bởi luân lý Nho giáo; thứ hai, khi trình bày đạo Thiên Chúa, Tây sĩ đã dành phần lớn thời gian để trả lời cho các vấn nạn được nêu. Nói cách khác, Tây sĩ ở vào thế “bị động”; tuy nhiên, như sẽ thấy sau, lối tiếp cận này nằm trong chủ ý của tác giả.

    1/ Nho giáo

    Các bổn phận của con người tóm lại ở những điểm sau:

    a) Tám nguyên tắc cư xử: nghiên cứu tận cùng nguyên lý sự vật để có hiểu biết (tri chí); có được sự hiểu biết thì ý niệm mới chân thành (thành ý), ý niệm chân thành thì tâm mới ngay ngắn (chính tâm), tâm ngay ngắn thì mới tu chỉnh được bản thân (tu thân), tu chỉnh bản thân thì mới sửa sang nhà của chỉnh tề (tề gia), sửa sang nhà chỉnh tề thì mới bình trị được nước (trị quốc), bình trị được nước mình thì mới làm cho thiên hạ được thái bình (bình thiên hạ)[5].

    b) Thờ Thượng đế và thờ thần

    c) Năm nhân đức: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

    d) Ngũ luân: quân-thần, phụ-tử, phu-phụ, huynh đệ, bằng hữu

    - Vấn nạn của Tây sĩ. Thật đáng tiếc khi Tây sĩ không bình luận gì về “luân lý tự nhiên” của Nho giáo, nhưng quay ra bắt bẻ Nho sĩ liên quan đến quan niệm về Thượng đế, được đồng hóa với trời xanh. Xem ra điều này bóp méo quan điểm của Nho giáo, bởi vì trước đó, Nho sĩ đã trích dẫn nhiều đoạn văn nói đến Thượng đế không phải là trời xanh, chẳng hạn khi đề cập đến “mệnh Trời, phép Trời”.

    - Tây sĩ cũng chất vấn Nho sĩ về các thần (đồng hóa với khí), về việc cúng tế các thần, đặc biêt là thờ Khổng tử (là một người phàm chứ không phải là Đức Thánh). Một vấn nạn khác xoay quanh vấn đề thưởng phạt: tại sao có bao nhiêu người lành phải lận đận suốt đời? Lẽ ra câu hỏi này nên đặt vào chương ba thì thích hợp hơn.

    2/ Đạo giáo

    Luân lý được tóm gọn trong câu nói: “vật vi, vật ý, vật biện” (không làm, không nghĩ, không xét). Nếu thiên hạ giữ được như vậy thì sẽ bình an vui sướng.

    - Tây sĩ vặn lại quan điểm luân lý “tiêu cực” (ba không), bởi vì nếu ai cũng không làm thì đâu còn sức sống, đâu còn xã hội nữa. Nguyên tắc ấy chỉ thích hợp cho gỗ đá thôi. Nhưng điểm tấn công mạnh nhất nhắm vào các thần linh được cúng tế: Đức thánh cả (Thái thượng Lão quân), Ngọc Hoàng Thượng đế, Thập nhị Hành Khiển vương. Đây là những nhân vật lịch sử chứ đâu phải là thần thánh gì.

    3/ Phật giáo

    Luân lý tóm vào ngũ đức (bố thí, ăn chay, nhịn nhục, tu đức, giữ lòng thật) và ngũ giới (cấm sát sinh, cấm trộm cướp, cấm tà dâm, cấm nói dối, cấm uống rượu)[6].

    - Tây sĩ đặt câu hỏi: nếu ai giữ những điều ấy thì sự thưởng phạt sẽ ra sao?

    - Trả lời: Có 6 cấp độ thưởng phạt: cao nhất thì thành Phật; thứ nhì làm vua trên trời; thứ ba làm thần; thứ tư trở về làm người; thứ năm, bị phạt làm thần đi rông; thứ sáu, những ai không giữ luật thì sẽ bị đầu thai làm cầm thú.

    - Tây sĩ phê bình thuyết luân hồi vì tính phi lý của nó.

    4/ Đạo Thiên Chúa

    Tây sĩ mở đầu với việc trình bày luân lý của đạo mình. Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã ghi trong lòng mỗi người “đạo tính giáo” (= luật tự nhiên), nhờ đó biết phân biệt điều tốt điều xấu. Kế đó, Ngài đã ban cho con người thập giới (mười điều răn) và bảy bí tích.

    Đến đây, Tây sĩ phải trả lời cho 15 vấn nạn do Nho sĩ đặt lên (chỉ có một vấn nạn của Hòa thượng).

    a). Luân lý đạo Thiên Chúa cũng giống như đạo thánh do Đức Khổng truyền dạy. Như vậy đâu cần phải học đạo Chúa làm gì? - Đáp: Đức Khổng tử không lập ra luân lý mới, nhưng chỉ san định những điều đã có trước, nghĩa là luật tự nhiên (“tính giáo”). Không lạ gì mà nhiều dân không biết Khổng giáo nhưng vẫn giữ tam cương ngũ thường. Dù sao, đạo Khổng vẫn còn thiếu sót, bởi vì chỉ nói đến những nghĩa vụ giữa con người với nhau, nhưng hầu như chẳng đả động gì đến nghĩa vụ của con người đối với Thiên Chúa. Do đó, không thể nói rằng đạo Thiên Chúa không có điều gì khác với đạo Khổng.

    b). Đạo Thiên Chúa cũng thờ thần thánh, chứ đâu phải chỉ thờ duy một Thiên Chúa? - Đáp: Chúng tôi cũng tin có các thiên thần (và ma quỷ) và các thánh, nhưng không thờ các ngài bằng Thiên Chúa.

    c). Tại sao, đạo Thiên Chúa cũng thờ các thiên thần và các thánh, mà lại cấm thờ các thần đã được nhà vua ban sắc phong? - Đáp: Sự tế lễ chỉ được dành cho Thiên Chúa mà thôi. Mặt khác, không phải tất cả các người được Vua phong thần cũng đều là những người có đức cả, thậm chí có cả kẻ bất lương nữa (thần hùm, thần khỉ, thần ăn trộm, vv).

    d). Như vậy tại sao lại thờ Giêsu bị luận tội đóng đinh, chết cách nhục nhã? - Đáp: Đức Chúa Giêsu bị xử tử giữa hai người trộm cướp nhưng không phải vì cũng phạm tội như họ. Chính một người tử tội đã nhìn nhận như vậy. Ai nêu vấn nạn thì chứng tỏ là không hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện.

    (Đến đây Hòa thượng xen vào, và nói rằng thuở xưa Đức Phật và Đức Giêsu là hai anh em, con của Ngọc Hoàng. Đức Phật đẹp lòng Ngọc Hoàng cho nên ngự tòa sen trên trời, còn Đức Giêsu có tính hung nghiệt, nên bị phạt đày xuống dương gian, chịu đóng đinh. - Vấn nạn này không khó trả lời, bởi vì thiếu cơ sở lịch sử).

    Năm vấn nạn kế tiếp liên quan đến việc cứu chuộc của Đức Giêsu: Ngài sinh ra trong nước Giu-dêu thì làm sao có thể cứu muôn dân cho khỏi tội, cách riêng các dân ở bên Đông không biết đến ngài? Đức Giêsu có chuộc tội cho các Đấng Thánh hiền như Phục hy, Thần nông, Nghiêu Thuấn, Khổng tử không? Tại sao Chúa Cả trời đất không thể tha tội cho nhân loại, mà lại bắt Đức Giêsu phải chết để đền tội: còn đâu là Đấng phép tắc vô cùng nữa? Tại sao Đức Giêsu phải chết thay cho kẻ có tội? Làm thế nào mà Đức Giêsu có thể chuộc tội cho những người đã sống mấy ngàn năm trước đó?

    Sau một vấn nạn về chuyện đức Maria sinh con mà vẫn còn đồng trinh, sáu vấn nạn cuối cùng xoay quanh việc tham dự vào việc cúng tế trong làng xã và gia đình. Tây sĩ cho biết đạo Thiên Chúa dạy 5 điều để giữ lòng Trung với vua (1. Kính vua như đấng trọng nhất trong nước; 2. Vâng mệnh lệnh vua; 3. Phục dịch đóng thuế; 4. Giúp vua đánh ngoại xâm; 5. Báo ơn vua, chứ không manh tâm phản loạn), 7 điều để giữ Hiếu với cha mẹ (1. Tôn kính; 2. Vâng lời; 3. Giúp đỡ nuôi dưỡng; 4. Nhịn nhục; 5. An táng; 6. Làm lành cầu cho linh hồn cha mẹ; 7. Nhớ đến cha mẹ trong ngày giỗ chạp). Như vậy, đạo dạy thờ Tam phụ: Thượng phụ là Thiên Chúa, Trung phụ là Quốc vương, Hạ phụ là cha mẹ. Tuy nhiên, việc tế lễ chỉ dành cho Thiên Chúa, chứ không cho các bậc thấp hơn. Người có đạo không dâng cúng đồ ăn uống cho người quá cố bởi vì họ đâu còn ăn uống gì được, cũng không lạy cha mẹ sau khi các ngài đã qua đời. Đối với cha mẹ đã khuất, người có đạo bày tỏ lòng hiếu qua việc đọc kinh cầu nguyện cũng với việc dâng các công phúc.

    D. Ngày thứ ba: Cứu cánh cuộc đời

    Chương này tương đối ngắn. Về những chuyện bên kia thế giới, đạo Phật có nhiều điều để nói hơn là đạo Nho (khác với chương vừa rồi).

    1/ Nho giáo

    “Người ta chết thì hình thể tiêu diệt cũng như gỗ đá; còn hồn thì bay đi như gió”.

    - Vấn nạn của Tây sĩ: Nếu chẳng còn gì tồn tại sau khi chết thì cũng chẳng có thưởng phạt; người lành cũng như người xấu đều như nhau. Như vậy thì tu nhân tích đức suốt đời đâu được ích gì?

    2/ Đạo giáo


    Sau khi chết, có đời sau bất tử. Đạo có bài thuốc trường sinh.

    - Vấn nạn của Tây sĩ: Trên thực tế, chưa nghe nói có người nào bất tử trường sinh hết. Các bậc thánh hiền đều đã chết!

    3/ Phật giáo

    Qua những điều vừa nói, Nho giáo và Đạo giáo không bàn rộng về đời sống mai hậu. Về điểm này, giáo lý nhà Phật phong phú hơn. Con người có ba hồn. Sau khi chết, thần bì tan đi mất; thần xác thì theo xác; thần hồn nếu được niệm kinh thì sẽ vào nước nhà Phật để thụ phúc, nếu không thì phải sa địa ngục.

    - Vấn nạn của Tây sĩ: Niệm kinh như thế nào? Đáp: Phải kêu Phật tính để được đưa vào cầu Âm không. Mặt khác, kẻ sa địa ngục cũng có thể được giải thoát nhờ các kinh mà người sống ăn chay niệm kinh, đặc biệt nhờ lễ phá ngục. Duy chỉ những kẻ khinh dễ phép Phật thì ngài mới chẳng tha.

    - Tây sĩ bắt bẻ hai điều: a) như vậy người ta lên trời là do may phúc (gặp được người niệm kinh) chứ không phải do công đức; b) không thể có chuyện phá ngục, bởi vì ngục là do Đấng chí tôn lập ra thì làm sao phá nổi? Thầy Hòa thượng vặn lại: tại sao bên đạo Thiên Chúa cũng làm lễ cầu hồn và rảy nước thánh chung quanh người chết, mà lại đi chê lễ phá ngục bên đạo Phật?

    - Tây sĩ trả lời: có lễ cầu hồn chứ không có lễ phá ngục. Có hai thứ ngục: địa ngục dành cho linh hồn mắc tội trọng, và luyện ngục dành cho kẻ mắc tội nhẹ. Chúng tôi chỉ cầu cho các linh hồn nơi luyện ngục, xin Chúa bớt phần phạt cho họ, chứ không phá ngục.

    4/ Đạo Thiên Chúa

    Giáo lý được tóm lại vào bốn điểm (tứ chung): a) chết là thân phận của hết mọi người; b) phán xét: ngay sau khi chết, linh hồn được đưa ra trước mặt Thiên Chúa để chịu xét xử về những tư tưởng, lời nói, việc làm; c) địa ngục, gồm bốn tầng: thứ nhất là ngục dành cho các tổ tông xưa; thứ hai là ngục dành cho các trẻ em chết mà chưa được lãnh bí tích thanh tẩy; thứ ba là luyện ngục dành cho những người mắc tội nhẹ cần được thanh luyện; thứ bốn là hỏa ngục dành ma quỷ và những kẻ không giữ luật Chúa; d) thiên đàng là nơi sáng láng vui vẻ dành cho các thiên thần và các thánh. Tuy nhiên, vào ngày tận thế, tất cả mọi người từ thuở tạo thiên lập địa sẽ được sống lại để chịu phán xét chung; sau đó, kẻ lành lên thiên đàng sống vui vẻ vô cùng, còn kẻ dữ sẽ chịu hình phạt muôn kiếp.

    - Một vấn nạn duy nhất được nêu lên từ phía Nho sĩ là: sau khi chết, linh hồn đã lãnh phần thưởng hay chịu hình phạt rồi, thì đâu cần gì phải thêm một lần phán xét nữa? Để trả lời, Tây sĩ đưa ra hai lý do: a) bởi vì trong lần phán xét trước đây, chỉ có linh hồn; lần này còn thêm thân xác vốn là một đồng minh với linh hồn trong công phúc hoặc tội ác; b) lần phán xét trước kia mang tính riêng tư kín đáo, vì thế cần có sự phán xét chung để hết mọi người được biết những việc tốt việc xấu của mỗi người.

    Tập sách kết thúc với lời cuối cùng của Tây sĩ, bày tỏ lòng biết ơn với quan đã tạo cơ hội cho mỗi tôn giáo trình bày giáo lý của mình, cũng như sự vui mừng đối với các đại biểu vì dịp gặp gỡ hiếm có này. (Nên ghi nhận là các vị đại diện này không tuyên bố thua cuộc, hoặc xin trở lại đạo Thiên Chúa).

    II. NHẬN XÉT

    Trong phần này, chúng tôi muốn bàn hai điểm, liên quan đến tác giả và tư tưởng của tác phẩm.

    A. Tác giả

    Người ta không biết tác giả là ai. Trong lời mở đầu, độc giả được biết rằng đại diện cho đạo Thiên Chúa là hai Thầy cả, “một thầy phương Tây, một thầy bản quốc” đang bị giam tại dinh Chúa Tĩnh đô vương, dưới thời vua Cảnh Hưng nhà Lê.

    Truyền thuyết cho rằng hai linh mục ấy cũng chính là tác giả của tập sách này, và cụ thể hơn nữa, đó là Jacinto Castaneda và Vicente Liêm. Điều này đã được các thừa sai dòng Đaminh khẳng định từ đầu thế kỷ XX[7].

    Tuy nhiên, ngay từ năm 1939, Didinger bắt đầu đặt nghi vấn cho giả thuyết ấy, nhưng không nói lý do[8]. Gần đây, chúng ta thấy ý kiến cổ truyền bị bác bỏ vì có những dữ kiện không phù hợp với lịch sử.

    1). Theo Linh mục Nguyễn Hưng, hai vị thánh tử đạo đã bị xử trảm vào năm 1773 thì không thể nào hiện diện trong mộc cuộc tranh luận diễn ra dưới triều vua Cảnh Hưng (1786)[9]. Tuy nhiên, xem ra lý luận này không vững, bởi vì năm vua Cảnh Hưng (Lê Hiển Tông) đã lên ngôi từ năm 1740, và mất ngày 17 tháng 7 năm 1786.

    2). Theo Giáo sư Trần Văn Toàn, các dữ kiện nói ở lời tựa không phù hợp với lịch sử. Chú của chúa Trịnh Doanh là một người thích nghe nói về đạo Thiên Chúa và đã được rửa tội trước khi chết. Tuy nhiên, cái chết xảy ra vào năm 1763, dựa theo lời của cha Bricart trong lá thư gửi cho cha Hody ngày 6/6/1763. Vì thế ông không thể nào hiện diện ở cuộc gặp gỡ này[10].

    3). Theo thiển ý, chúng ta có thể tìm thấy một chứng cớ khác để cho thấy rằng cuộc gặp gỡ này là một hư cấu chứ không phải là một sự kiện lịch sử, đó là dựa theo án phong thánh của hai vị tử đạo. Thật vậy, hồ sơ điều tra về nguyên nhân cái chết của các vị không hề nhắc đến một cuộc gặp gỡ giữa đại diện của bốn tôn giáo, một “biến cố” quan trọng vào thời ấy, mặc dù nhiều nhân chứng đã khai rằng họ đã theo dõi suốt vụ án từ khi các ngài bị bắt cho đến lúc bị trảm quyết[11]. Một chi tiết nhỏ có vẻ “tranh luận” xảy ra là khi bà thân mẫu của chúa hỏi các thừa sai về số phận của những người ngoại đạo sau khi chết. Bà đã nổi giận khi nghe đáp lại rằng những ai không tin vào Chúa Giêsu đều bị xuống địa ngục[12].

    Ta có thể kết luận rằng hai vị thánh vừa kể không phải là tác giả tập sách Hội đồng tứ giáo, và có lẽ cuộc gặp gỡ giữa bốn tôn giáo đã chẳng bao giờ xảy ra. Tác giả đã tạo ra một khung cảnh với một dụng ý nào khác mà chúng ta sẽ nói sau. Thật khó xác định tác giả là ai; chỉ có thể đoán xuất xứ của nó là vùng truyền giáo thuộc dòng Đaminh (địa phận Đông), bởi vì đã được các thừa sai cùng dòng phổ biến (bản mộc từ năm 1864, rồi in tại Phú nhai từ năm 1867) và dịch sang tiếng Tây ban nha.

    B. Tư tưởng

    Cuộc gặp gỡ các tôn giáo do tác phẩm mô tả không phải là một cuộc “đối thoại” mà là một cuộc “đối đầu”. Đây không phải là một cuộc tọa đàm giữa “bốn phương” mà chỉ là “song phương”: một bên là Công giáo và bên kia là ba tôn giáo cổ truyền; giữa ba tôn giáo này không hề có sự trao đổi cho dù khác quan điểm.

    Thực ra thể văn “đối thoại” đã được sử dụng từ lâu đời để các tác giả Kitô giáo trình bày đạo lý của mình với các tôn giáo. Chúng ta có thể kể đến quyển “Đối thoại với Trypho” (Cum Tryphone Iudaeo dialogus) của thánh Giustinô (+ khoảng 162-168) ở những thế kỷ đầu tiên, và quyển “De pace fidei” của Nicola de Cusa (+1464) vào thời cận đại để làm thí dụ[13]. Nên biết rằng vào thời ấy sự “đối thoại” mang tính cách một chiều, theo nghĩa là phía Kitô giáo vạch cho bên kia thấy sự sai lầm của họ và thuyết phục họ theo đạo. Đương nhiên có người sẽ hỏi: như vậy thì đâu phải là đối thoại nữa? Đúng thế, nhưng các tác giả thời xưa khởi đi từ tiền đề rằng “đạo Kitô là đạo thật” (vera religio), vì thế cần phải thuyết phục các đạo khác quay về với đạo Kitô, chứ không có chuyện tìm hiểu chân lý nơi các đạo khác. Nếu muốn gọi danh đích xác thì phải gọi là “minh giáo” (hay “hộ giáo”: apologia, dựa theo thể văn biện hộ trước pháp đình)[14].

    Khi sang Việt Nam, việc minh giáo gặp những vấn đề khác. Tại đây, “chính đạo” là các tôn giáo cổ truyền (tượng trưng nơi ba đạo Nho, Lão, Phật), còn Đạo Kitô bị kết án là “tà đạo”. Làm sao lật ngược lại được thế cờ? Tác giả phân tích những lý do của việc buộc tội “tà đạo” (vì là đạo ngoại lai; vì đã bị nhà vua cấm) và tìm cách phản biện, như ta đọc thấy trong lời tựa. Tiếp đến, một cách tích cực hơn, tác giả chứng minh tính cách “chính đạo” của mình bằng các lý lẽ của giáo thuyết, đồng thời vạch ra những điều phi lý, bất cập của các tôn giáo cổ truyền. Các bản văn “Hội đồng tứ giáo” mới được in lại đều có kèm vài tác phẩm thuộc cùng thể loại để đối chiếu. Chẳng hạn, linh mục Nguyễn Hưng đăng một thủ bản minh giáo viết theo thể ca kịch bằng lục bát, kể lại một cuộc “đối thoại” giữa một Bà Vãi (Phật giáo) và một Bà Chúa (Công giáo)[15]; cuối cùng, Bà Vãi trở lại đạo. Giáo sư Trần Văn Toàn cũng nhắc đến một tác phẩm tương tự viết hồi cuối thế kỷ XVIII, tựa đề “Tam giáo chư vọng”[16], thuật lại một cuộc đàm đạo giữa một Tây sĩ và một Đông sĩ về các tôn giáo ở Việt Nam: Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo.

    Chúng tôi muốn ghi nhận vài cảm tưởng để kết thúc:

    1. Sách viết cho ai? Tác phẩm viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Có thể là tác giả nhằm đến các nhà trí thức thời ấy (phần lớn chịu ảnh hưởng của Nho giáo), không phải để vạch cho họ thấy sự sai lầm của tôn giáo cổ truyền, cho bằng để đánh tan những ngộ nhận của họ về đạo Thiên Chúa. Tuy nhiên, chắc là tác giả nghĩ đến các độc giả Kitô giáo hơn là những người ngoại đạo. Dù không biết đích danh tác giả, nhưng sự kiện tác phẩm được phổ biến giữa các thừa sai dòng Đaminh khiến ta dễ đưa một giả thuyết về nguồn gốc của nó. Thực vậy, một truyền thuyết lâu đời trong Dòng Đaminh cho rằng thánh Tôma Aquinô đã viết sách Summa contra gentiles theo lời yêu cầu của cha tổng quyền Raymunđô, để giúp cho các thừa sai biết cách trả lời những vấn nạn do đạo Islam nêu lên. Truyền thuyết này mãi đến giữa thế kỷ XX mới được xét lại[17]. Có lẽ “Hội đồng tứ giáo” đã được soạn ra theo ý hướng ấy, tuy không chỉ dành riêng cho các nhà thừa sai mà còn cho các tín hữu nói chung, để họ biết cách trả lời các vấn nạn do các tôn giáo khác đưa ra.

    2. Với một chủ đích như vậy, người ta dễ hiểu vì sao tác giả vạch ra những dị biệt giữa Kitô giáo với các tôn giáo khác, hơn là tìm ra những điểm tương đồng[18]. Thản hoặc có điểm gì giống nhau (như trong trường hợp của luân lý Nho giáo), thì tác giả quy gán cho “luân lý tự nhiên” hơn là cho tôn giáo ấy.

    3. Các quan điểm tôn giáo được thuật lại theo niềm tin dân gian. Sự phân biệt giữa Nho, Lão, Phật nhiều khi không rõ ràng, đó là chưa nói đến sự phân biệt giữa các trường phái trong một tôn giáo. Tuy nhiên, chúng ta không thể đòi hỏi quá nhiều về sự hiểu biết lịch sử các tôn giáo nơi một nhà thừa sai ở thế kỷ XIX.

    4. Dù sao, thiết tưởng nên nêu bật tính cách “thời sự” của lối tiếp cận tôn giáo của tác phẩm này. Nói đến tôn giáo, người ta dễ liên tưởng đến ý niệm về đấng linh thiêng, việc thờ cúng phụng tự. Tác giả quan niệm tôn giáo như là câu chuyện nhân sinh, xoay quanh những băn khoăn của con người: Con người từ đâu đến và sẽ đi về đâu? phải làm gì để được hạnh phúc? việc gì được xem là tốt? Đó cũng là cách tiếp cận của công đồng Vaticanô II khi mở đầu tuyên ngôn Nostra Aetate, về liên lạc giữa Hội thánh với các tôn giáo. Chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng, tác giả chú ý đến Lão giáo khi bàn về nguồn gốc vạn vật, Nho giáo khi nói đến luân lý và tương quan xã hội, Phật giáo về kiếp sau. Sự đối chiếu này có thể mang lại sự hiểu biết phong phú hơn về Kitô giáo.

    Tóm lại, ta có thể chào đón “Hội đồng tứ giáo” như khai mở cho hướng truyền giáo mà từ sau công đồng Vaticanô II mang danh là: “Loan báo Tin mừng và Đối thoại” (tựa đề của một văn kiện Tòa thánh năm 1991), hoặc “Sứ vụ đối thoại” (Ecclesia in Asia số 29). Tác phẩm này chỉ là khởi điểm, và vì thế cần được cập nhật liên lỉ, không những để hiểu biết thêm các tôn giáo bạn mà cả kiến thức về Kitô giáo nữa.


    ----------------------------------------------------------
    Thư tịch

    [Linh mục Nguyễn Hưng], Hội đồng tứ giáo danh sư. Gồm bản Quốc ngữ, bản Nôm, bản Hán. Lưu hành nội bộ (TPHCM) 1996, 342 trang.

    Hội đồng tứ giáo. Cố Giuse Chiêu tân san và truyền tử 1867, Trần Kim Vinh Nguyễn Huy Hùng và Nguyễn Đức Quý phiên âm, Lavang tùng thư, Liên đoàn Công giáo Việt Nam tại Hoa kỳ 2002. Tựa của Giáo sư Trần Văn Toàn. Có thể download (dạng PDF) từ website của Giáo phận Qui nhơn:
    http://gpquinhon.org/qn/news/tap-chi...#.Ukz_AdKBmK4;
    hoặc: http://conggiao.info/news/2143/14309...g-tu-giao.aspx


    ---------------------------------------------------------------------
    [1] R. Streit - J. Didingen, Bibliotheca Missionum, vol.XI, Aachen, 1939, p.577, n.1415. Linh mục Nguyễn Hưng (chú dẫn số 2 dưới đây) cho biết còn giữ một bản in lần thứ 12 tại Thái Bình (1953).

    [2] (Nguyễn Hưng), Hội đồng tứ giáo, Tủ sách Hán Nôm, Lưu hành nội bộ, (TPHCM) 1996, 344 trang. Gồm lời giới thiệu (trang 5-13); bản quốc ngữ (trang 20-95, với chú thích từ trang 96-104); bản Nôm (trang 105-186); bản Hán (trang 189-284). Phần phụ trương (trang 285-340) còn thêm một bản ca kịch giữa Bà Vãi (Phật giáo) và Bà Chúa (Thiên Chúa giáo) bằng chữ Nôm và chữ Hán.


    [3] Tuy có hai linh mục đại diện cho đạo Thiên Chúa, nhưng chỉ có “Tây sĩ” lên tiếng, nghĩa là vị thừa sai ngoại quốc. Người ta gán tác giả câu chuyện này cho hai linh mục dòng Đaminh: Vinh-sơn Liêm (1731-1773), quê ở Trà Lũ (Nam định), gia nhập dòng Đaminh tại Manila khi đang theo học ở thủ đô nước Philippin. Hồi hương sau khi thụ phong linh mục, cha bị bắt và xử trảm năm 1773. Vị thừa sai Tây ban nha Jacinto Castaneda trẻ hơn 12 tuổi (1743-1773): sinh năm 1743 tại Jativa (Valencia), sau một thời gian ngắn giảng đạo ở Trung hoa, cha được cử sang Việt Nam năm 1770, và bị bắt cùng với cha Liêm, và cũng bị trảm quyết ngày 7 tháng 11 năm 1773.


    [4] Nên biết là cho tới đầu thế kỷ XX, nhiều sách giáo lý Công giáo vẫn giải thích sách Sáng thế theo nghĩa đen: không những Đức Chúa Trời đã dựng nên trời đất trong 6 ngày, mà lịch sử vũ trụ cũng chỉ mới được 6 ngàn năm (4 ngàn năm trước đức Kitô, và 2 ngàn năm sau đức Kitô).


    [5] “Cách vật nhi hậu tri chí, tri chí nhi hậu ý thành, ý thánh nhi hậu tâm chính, tâm chính nhi hậu thân tu, thân tu nhi hậu gia tề, gia tề nhi hậu quốc trị, quốc trị nhi hậu thiên hạ bình” (Sách Đại Học, chương 2).


    [6] Thật đáng ngạc nhiên khi không đả động đến bát chánh đạo.


    [7] X. Giới thiệu bản dịch tác phẩm sang tiếng Tây-ban-nha, Correo Sino-Annamita, vol. 31 (1902), trang 121. Marcos Gispert, Historia de las misiones dominicanas en Tungkin, Avila 1927, p.277.


    [8] J. Didinger, Bibliotheca Missionum, vol. XI, Aachen 1939, p.577: “Ganz sicher ist die Authorschaft der beiden Martyrer von 1773 nicht”.


    [9] Nguyễn Hưng, op. cit., trang 8.


    [10] Trần Văn Toàn, “Tựa” cho cuốn sách Hội đồng tứ giáo, xuất bản tại Hoa kỳ năm 2002. Tác giả trích dẫn lá thư được lưu trữ trong Văn khố của MEP (Archives des Missions Etrangeres de Paris) tập 690 trang 230.


    [11] S. Rituum Congregatio, Tunquinum, Beatificationis seu Declarationnis martyrii ven. servorum Dei Francisci Gil de Frederich, Matthaei Alonso Leziniana, Hyacinthi Castaneda et Vincentii a Pace ... Positio super martyrio, causa martyrii et signis sive miraculis, Romae 1904.


    [12] Idem, Informatio super dubio: an constet de martyrio et causa martyrii, p.265 n.36. X. G. Clementi, Gli otto martiri tonchinesi dell’Ordine di s. Domenico solennemente beatificati da Pio Papa X nell’anno 1906, Roma 1906, p.245.


    [13] X. P. Damboriena, La salvación en las religiones no-cristianas, Madrid 1973, p.21 et 73.


    [14] X. R. Latourelle, Apologetica. Historia, in: “Diccionario de Teologia Fundamental”, Madrid 1992, p.104-118. Tựa đề De vera religione đã được dùng làm tựa đề cho một tác phẩm của thánh Augustinô (năm 390).


    [15] Trang 285-316 (bản Quốc ngữ) và trang 319-340 (bản Nôm).


    [16] Trần Văn Toàn, Tam giáo chư vọng (1752), một cuốn sách viết tay bàn về tôn giáo Việt Nam, đăng trên: “Nghiên cứu tôn giáo” 1 (2003), 47-54. “Tam giáo chư vọng” là một cuốn sách, khổ 10x15cm, dầy 205 trang, được tàng trừ tại Văn khố Hội Thừa sai Paris (Archives des Missions étrangères de Paris, số hiệu V-1098).


    [17] M. D. Chenu, Introduction à l’étude de saint Thomas, Paris 1950, p.247-254. Truyền thuyết này bắt đầu từ Pedro Marsilio O.P. (1313).


    [18] Do ảnh hưởng của công đồng Vaticanô II, thần học mới nhìn các tôn giáo khác như là “semina Verbi”. X. J. Nguyễn Huy Lai, La tradition religieuse spirituelle et sociale au Viet Nam. Sa confrontation avec le christianisme, Paris 1981.</font></font>

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4

    NGÀY THỨ NHỨT:


    Giải điều thứ nhứt, cội rễ người ta bởi đâu mà sinh ra



    Trước hết Nhu sĩ rằng:

    Trong đạo Nhu các sách thánh hiền hiệp một ý mà dạy rằng: Mọi sự thì bởi ngũ hành mà ra; mà khi ngũ hành chưa chia phân ra thì ở lộn làm một khí , gọi là Thái cực, như lời sách Tánh lý rằng: Thái cực động nhi sinh dương, tịnh nhi sinh âm, dương biến âm hiệp nhi sinh ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa , thổ, nghĩa là Thái cực, khi động thì sinh ra dương, khi lặng thì sinh ra âm; khí dương tan, khí âm hiệp mà sinh ra ngũ hành là kim, cây, nước, lửa, đất. Ấy vậy, cũng bởi một khí mà hoá sinh muôn vật như lời Trình tử rằng: Vạn vật chi thỉ bất quá tán tụ nhi dĩ, nghĩa là cội đầu muôn vật thì tại khí tan ra, rồi hiệp lại mà thôi. Bởi đó đạo Nhu lấy Thái cực làm đầu cội rễ mọi sự.



    Tây sĩ rằng:

    Vốn giống khí không, nó động thì động mãi cho đến khi có sự gì khác ở ngoài nó mà ngăn cầm nó lại thì mới thôi động; mà khi nó an thì nó an mãi cho đến khi có sự gì ở ngoài nó mà day động nó thì nó mới động mà chớ. Vậy khi đầu hết có một khí Thái cực, thì Thái cực nhờ đí gì mà làm cho nó động khi nó đang an, cùng làm cho nó an đang khi động ? Vậy bởi tay ai, hay là phép ai phân hai khí ấy ra mà khiến định xây vần, thì nó mới có khi động khi lặng mà chớ. Bằng nó tự nhiên bởi một mình nó mà động lặng, thì chúng tôi chưa phục lẽ ấy.



    Nhu sĩ rằng:

    Tự nhiên nhị khí chi đạo liền phân ra; nghĩa là tự nhiên phép hai khí ấy liền phân ra



    Tây sĩ rằng:

    Ông nói làm vậy cũng như nói rằng: An sinh ra động, động sinh ra an; lạnh sinh ra nóng, nóng sinh ra lạnh; trời sinh ra đất, đất sinh ra trời; ngày sinh ra đêm, đêm sinh ra ngày; cha sinh ra mẹ, mẹ sinh ra cha; như sách Kinh Dịch cũng có một nơi thể này rằng: “Khí âm làm mẹ khí dương, khí dương lại làm cha khí âm.” Nào có điều gì nghịch tai hơn nữa sao ?



    Nhu sĩ rằng:

    Nhị khí động tịnh thể ấy, vốn từ trước vô cùng, là hai khí động lặng thể ấy vốn từ xưa đến nay chẳng khi đừng.



    Tây sĩ rằng:

    Ông là người Nhu, cách vật cùng lý, mà còn nói thể ấy, làm sao nghe cho đặng ? Vốn khí âm khí dương không có tri giác linh minh, lẽ nào mà nó động lặng mãi từ trước vô cùng cho đặng?Vì hễ vật gì không có tri giác, thì nó chẳng hề làm cho mình nó day động đặng; lại nó cũng không sinh ra mình nó đặng nữa; mà nó tự nhiên động lặng từ trước vô cùng làm sao đặng ? Nói làm vậy có phải lẽ và nghe đặng chăng ?



    Thày Pháp môn giải câu ấy rằng:

    Sách bên chúng tôi có nhiều lẽ rõ ràng lắm; Tây sĩ muốn biết cội rễ muôn vật, thì đã tóm lại trong một câu thánh Thái Thượng truyền rằng: “Đạo sinh nhât, nhứt sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật, vô hư tự nhiên chi đại đạo, nghĩa là, lẽ tự nhiên sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra muôn vật, tự nhiên hư không là đạo cả.

    Tây sĩ rằng:

    Chữ “Đạo” ở đầu câu ấy là đí gì ? Vì chữ “Đạo” là cái chữ không, chẳng phải là vật hằng có mà ở một mình sao đặng ? Phải có người hay là giống gì khác, thì mới có “Đạo” ấy đặng, cho nên chữ rằng: Thiên địa vạn vật chi đạo, là, lẽ phải thuộc về trời đất muôn vật. -Lại rằng: Đạo sinh nhứt, nhứt ấy là đí gì ? Nhứt là người hay là loài khác ? cũng chẳng có lẽ mà có nhứt không một mình đặng nữa. -Cùng rằng: Hư vô đại đạo. Vốn thiên hạ xưa nay đã hiểu chữ hư vô là trống không mọi đàng, mà còn làm đặng đạo cả làm sao ? Kìa thày hãy xem cái lều bốn cột, tuy là việc nhỏ mọn, cũng phải có kẻ làm mới có; chưa hề thấy cái lều nào bởi tự nhiên hư không mà dựng nên đặng; phương chi trời đất muôn vật, là việc cả thể dường ấy !
    – Như rằng: Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Ba ấy là giống gì ? làm cách nào mà sinh muôn vật ? Nói càng ngang làm vậy, có phải lẽ mà nghe đặng chăng ? Ấy bên đạo thày Pháp cứ chỉ tiếng lấy hư vô tự nhiên làm Đấng cội rễ mọi sự, thì chúng tôi mới chịu.



    Thày Hòa thượng giải câu ấy thế này:


    Trong sách Tâm Đăng, đầu bài Cửu Kiếp nói rằng: “Đầu trước hết, có một hột sương, là hư vô, là Phật tánh, mà hột sương ấy tự nhiên chia ra làm nhiều phần: một phần xanh làm trời, một phần vàng làm đất, một phần trắng làm người; bây giờ hóa nên một tên là Nguyên Thỉ. Đoạn ba phần ấy hiệp lại nên một cái trứng lớn lắm, mà cái trứng ấy lại hóa ra làm bốn tấm; một tấm làm trời, một tấm làm đất, một tấm làm cha, một tấm làm mẹ”. Mà muôn sự mầu nhiệm khác lạ lùng tỏ ra Phật phép tắc vô cùng, đã có tỏ tường trong sách Tâm Đăng, đầu bài Cửu Kiếp; song tôi kể tắt một ít phép lạ cho Tây sĩ nghe.

    Trước hết đầu đức Phật Thích ca đã hóa nên 36 từng trời; lưỡi người đã hóa nên cột vàng chống trời; hai chơn và hai tay đã hóa nên bốn vua trên trời; hai xương sườn cụt đã hóa nên hai bụt; còn bao nhiêu xương sườn thì đã hóa nên ba bụt; còn các xương khác thì hóa nên 360 bụt; hai đầu gối đã hóa nên 83.000 bụt; ruột già đã hóa nên sông cả; ruột non đã hóa nên sông nhỏ; cùng muôn vàn phép lạ khác nữa, song kẻo nói lâu, thì kể tắt bấy nhiêu, Tây sĩ muốn biết cho rõ, thì sẽ cho xem trong các sách đạo Phật ”



    Tây sĩ rằng:

    Những lời thày nói, thật là dị kỳ lắm. Chớ thì sao trong sách Nhu rằng: “Phật mới sinh ra ở đời nhà Châu, vua Chiêu Vương năm 24, tháng 4, ngày mồng 8, ở nước Thiên Trước (trúc); tên vua cha là Tịnh Phạn Vương, mẹ là Ma Da thị, vợ là Na thị, thiếp là Như La, tên Phật là Thái Đát Đa, cùng là Nhẫn Nhục, hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật” mà sinh ra trời đất muôn vật bao giờ ? Chớ chi Thích Ca chưa sinh ra trời đất, thì các vua đời trước, như Nghiêu, Thuấn, Thang, Võ, và cha mẹ Phật cúng thiên hạ đời ấy, lấy chỗ nào mà ở, ăn những đí gì cho sống ? Thày nói làm vậy có hiệp với sách sao ? có phải lẽ mà nghe đặng chăng ? Thật là đều bày đặt, nói hoang mang cho chúng khinh mà phỉnh đời dối dân, như lời ông Hàn Dũ đã đoán về đạo Phật thể ấy mà chớ.



    Nhu sĩ rằng:

    Ai chẳng tin mặc ai; ba ta cứ lẽ đã chép trong sách đạo ta mà nói rồi thì thôi; nào có phải lời riêng chúng tôi mà cãi ? Bây giờ bên đạo Tây sĩ giải câu ấy làm sao?



    Tây sĩ giải thể này:

    Trong sách Kinh chúng tôi có lời rằng: “Thuở đầu hết, không trời, không đất, không thần, không người, không vật gì , có một Đấng tự hữu, thiêng liêng hằng sống, tự phước, tự đức, rất trọng lành, rất công bình, rất nhơn từ, rất phép tắc, là Đức Chúa Trời thật. Người phán một lời liền có trời, đất, thần, người, cùng muôn vật; Người chẳng lao tâm, lao lực, cùng chẳng dùng giống chi mà dựng nên, một dùng phép tắc vô cùng mà chớ”. Dầu mà muốn dựng nên mọi sự trong một giây, cũng đặng; song bởi có ý mầu nhiệm, Người đã dựng nên mọi sự trong sáu ngày, mà ngày sau hết, là ngày thứ sáu, mới dựng nên loài người ta. -Trước dựng nên người nam, đặt tên là Adong; lại dựng nên một người nữ, đặt tên là Evà để sanh sản con cháu, cùng làm tổ tông hết cả loài người ta cho đến đời đời. Cho nên dầu ai ai ở khắp đông tây nam bắc, cũng bởi một cội rễ là ông bà ấy, mà ra thảy thảy; cho nên trong sách rằng: Tứ hải chi nội giai huynh đệ dã, nghĩa là: người trong bốn biển là anh em với nhau cả, vì là bởi một nguơn tổ (nguyên tổ) mà sinh ra. Từ Thiên Chúa tạo thiên lập địa cho đến rày kể đã hầu sáu ngàn năm. Bấy nhiêu sự đã kể tỏ tường trong Tây Sử, gọi là sách Sấm Truyền, rày còn có chứng rõ ràng đó.



    Nhu sĩ rằng:

    Bấy nhiêu chuyện thày nói, cũng là sự lạ lùng bày đặt mà chớ; vì trời đất đều tại lý khí gày nên tự nhiên nhi nhiên, mà có ai sanh ra đâu ? Thiên Chúa ấy là Chúa riêng nước phô thày, đừng khoe đều ấy bên phương đông này làm chi. Vì nếu có phải là Chúa chung cả và thiên hạ vạn dân, thì người ta cũng biết. Nhơn sao từ xưa đến nay, chẳng những là chẳng có ai thấy Chúa bao giờ, mà lại trong sách Nhu các đấng thánh hiền đã truyền, chẳng hề có thấy nói đến Thiên Chúa bao giờ sốt, thì làm sao ? Ấy chẳng phải là đều bày đặt mà phỉnh phờ người ta sao ?



    Tây sĩ rằng:

    Thày nói trời đất đều tại lý khí gày nên tự nhiên nhi nhiên, thì sao trong sách Khổng tử Gia Ngữ rằng: Chúa Thiên địa dĩ sanh vạn vật là Chúa trời đất sinh muôn vật ? Lại trong sách Tiểu học Cao ly cũng rằng: Thiên Chúa sanh thiên sanh địa sanh nhơn nghĩa là Chúa Trời sinh trời sinh đất sinh người. Ấy bấy nhiêu lời trong sách chỉ đí gì ? Chẳng chỉ tỏ tường có Chúa sinh nên trời đất muôn vật sao ? –Thử xem thợ kia lấy gỗ làm nhà thì đặng thật, song gỗ tạo lấy gỗ làm nhà một mình, chẳng có nhờ tay thợ nào sốt, đều ấy xưa nay đã có ai nghe thấy bao giờ chăng ? Huống chi nói lý khí không, bởi một sức nó mà gày dựng trời đất. cũng như nói rằng : Dương sanh âm, âm sanh dương, là trời sanh đất, đất sanh trời, nói làm vậy, thì chẳng nghịch lý lắm sao ?

    Chữ rằng: Thiên phúc địa tải, là trời che đất chở; vì trời là nhà, đất là nền. Hễ có nhà thì có chủ nhà, có trời đất thì có Chúa trời đất, mới hợp lẽ mà chớ. – Lại chữ rằng: Vật bất tự thành, nghĩa là, mỗi một vật chẳng sinh nên mình đặng. Kìa như cái cối xay kia, tuy là vật nhỏ mọn, nếu chẳng nhờ tay người ta làm, thì có đời nào mà nó quay đặng ? Phương chi mọi việc trong trời đất, đã có luật phép lớp lang thứ tự; nếu chẳng có Đấng nào phép tắc gày dựng, cai trị, sửa sang, làm sao đặng. Vậy nếu nói tự nhiên mà có làm vậy, ắt là chẳng suy cho cùng lẽ mà chớ.

    Kìa ta xem thấy mặt trời cao hơn mặt trăng, mặt trăng cao hơn khí, khí nổi trên đất, nước chảy quanh đất, đất theo bốn mùa mà sinh ra hoa quả thảo mộc: nước thì nuôi tôm cá, khí thì nuôi muông chim; mặt trời soi sáng ban ngày, mặt trăng soi sáng ban đêm; các từng trời xây đi vần lại, phân làm đêm ngày, có khi nắng, khi mưa, khi gió, cùng làm sấm sét bão bùng, có bốn mùa tám tiết, xuân hè thu đông; đất trổ sinh hoa quả thảo mộc cho người ta dùng. – Nếu không có Đấng khôn khéo cầm quờn ra máy nhiệm, thì sao khiến đặng trời xây đi vần lại ? Sao hay khiến đặng bốn mùa thay đổi, mà chẳng lỗi thì tiết sao đặng ? Các đều làm vậy, nào phải là tự nhiên nhi nhiên sao ? Nói vậy, ắt là ông suy chưa đủ lẽ mà chớ.
    Bằng sự ông nói: Nếu có Chúa, thì sao xưa nay chưa hề có ai xem thấy” thì phải biết, Thiên Chúa là đấng thuần thần, vô hình, vô tượng, vô thinh, vô xú, nghĩa là Đấng thiêng liêng, không hình không tượng, không tiếng không mùi, mà con mắt xác thịt xem thấy sao đặng? mà con mắt xác thịt xem thấy sao đặng ? Cũng như khi người ta nói ma quỉ cùng linh hồn; mà mỗi người mỗi có linh hồn trong xác, mà ông đã thấy ma quỉ cùng linh hồn chưa ? Hay là bởi chẳng xem thấy thì chẳng tin có ma quỉ, chẳng tin có linh hồn chăng ? Lại cũng có sự chẳng phải thiêng liêng, mà người ta xem chẳng thấy, như gió, khi gió động cây cối, nào ai đã thấy hình gió thể nào ?

    Chữ rằng: “Cứ lý, bất khả cứ mục”, là phải cứ lẽ mà xét, đừng cứ theo con mắt mà thôi. Còn đều sau hết ông nói rằng: “Xưa nay trong các sách chẳng thấy có nói đến tên Thiên Chúa chỗ nào sốt”; ấy ông thường đọc sách luôn, mà nói chẳng thấy làm sao ? Kìa đời Hán, Võ Đế mạng Mật Đê tác vị kim nhơn dĩ tế Thiên Chúa; kì hậu hữu tự Thiên Chúa ư thiên trai, nghĩa là, đời Hán, vua Võ Đế dạy người Mật Đê làm người vàng mà tế Thiên Chúa; đến sau lại làm lễ càu cùng Thiên Chúa trên trời thanh; mà tên Thiên Chúa là như tên Thượng Đế, vì cùng một nghĩa là Vua trên trời.

    Kìa sách Kinh Thơ rằng: Duy Hoàng Thượng Đế giáng trung vu hạ dân, là, có một vua cả trên trời ban đạo lành cho dân dưới thế. - Lại châu thơ rằng: Khắc tướng Thượng Đế sủng tuy tứ phương, nghĩa là, đặng giúp vua trời an vỗ bốn phương. - Lại trong Kinh Thi Đại Nhã rằng: Thượng Đế lâm nhữ, là, Vua trên trời đoái đến mày . - Trong Kinh Thi, thiên Chấp Cạnh rằng : Thượng Đế thị Hoàng, nghĩa là, Thượng đế là vua cả trên trời. - Lại sách Kinh thi thiên Đãng rằng: Đãng đãng Thượng Đế hạ dân chi bích, nghĩa là, Thượng Đế rất cao trọng là vua dân dưới thế. - Lại trong thiên Thần Công rằng: Chiêu Minh Thượng Đế ngật dựng khương niên, nghĩa là, Thượng Đế là đấng cao sáng, ban cho thiên hạ đặng mùa. - Ấy Thượng Đế là ai, có phải là âm dương hai khí không tri giác chăng ? Thật là đấng thiêng liêng sáng láng thông biết mọi sự làm vua trên trời dưới đất, cai quản hết thiên hạ, xuống phước cho kẻ làm lành, xuống họa cho kẻ làm dữ. Ấy sách nhà Nhu gọi rằng: Thượng Đế, thì cũng như trong sách đạo chúng tôi gọi rằng Đức Chúa Trời. Tại người đọc ngoài miệng mà không xét trong lòng nên mới nói rằng: Không thấy tên Thiên Chúa mà chớ. Song những người tri lý, nào có nên lấy lẽ xưng tên khác mà nói rằng không thấy nói đến tên Thiên Chúa trong sách nào ? Vì tuy xưng tên khác mà nghĩa lý cũng vậy.

    Như trong các kinh sử bên Đại Tây chẳng thấy tên vua Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Đế, Nghiêu, Thuấn thì các người tri lý bên ấy chẳng tin có vua Phục Hy, Thần Nông, Hùynh Đế, Nghiêu, Thuấn sao ? Vì hễ những đều có thật, dầu mắt ta không xem thấy mặc lòng, thì cũng phải tin là có thật mà chớ.


    Bấy giờ quan lớn phán đoán rằng:

    (Đọan này thấy chỉ có trong bản Quốc Ngữ 1959; Bản Nôm 1867 không thấy có)

    Ta nghe bốn đạo cứ lẽ đã chép trong sách đạo mình mà nói theo thứ tự làm vậy thì ta hiểu được rõ ràng. Song thày Nhu sĩ, thày Pháp sư, thày Hòa thượng nói lẽ đạo mình rồi, mà khi thày Tây sĩ bắt lẽ nọ lẽ kia, thì các thày giải không đặng cho xuôi; còn Nhu sĩ bắt bẻ Tây sĩ nhiều lẽ mà Tây sĩ giải lại, nghe cũng thật thông. Vậy ta đoán đạo Thiên Chúa về đều thứ nhứt là đạo thật, đạo chính, chẳng hồ nghi, vì có lẽ mạnh hơn, và sánh so sự lý, trưng chứng sách vở chắc chắn hơn bội phần mà chớ.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1

    NGÀY THỨ HAI


    Giải điều thứ hai, là người ta ở đời này phải làm thể nào

    Điều này Nhu sĩ giải rằng:

    Trong đạo Nhu, thánh Khổng Tử có truyền tám đều làm qui mô, mà dạy người ta thể này: “Cách vật nhi hậu tri chí, tri chí nhi hậu ý thành, ý thành nhi hậu tâm chính, tâm chính nhi hậu thân tu, thân tu nhi hậu gia tề, gia tề nhi hậu quốc trị, quốc trị nhi hậu bình thiên hạ”, nghĩa là , xét vật rồi mới biết trọn, biết trọn rồi mới thật trong ý, thật ý rồi mới chính trong lòng, chính trong lòng rồi mới sửa mình, sửa mình rồi mới sửa nhà, sửa nhà rồi mới trị nước, trị nước rồi mới an thiên hạ. -Lại dạy thờ Thượng Đế, tế Quỉ thần, tế Lục tông: dạy người ta tu ngũ đức: nhơn nghĩa lễ trí tín, nghĩa là, thương yêu, công bình, lễ phép, khôn ngoan, ngay thật; dạy người ta giữ ngũ luân là vua tôi thì giữ đều ngãi, cha con thì giữ đều nhơn, vợ chồng thì có phân biệt, anh em thì hòa thuận, bạn hữu thì chí tín.



    Tây sĩ rằng:


    Bên Nhu thờ Thượng Đế là đấng nào ?



    Nhu sĩ rằng:

    Thượng Đế là trời, song chẳng phải lả trời xanh xanh con mắt ta xem thấy đâu, thật là phép trời, lòng trời, là đấng thượng trí hay soi xét, hay cai trị, ở trong mình trời, con mắt ta xem chẳng thấy đâu. Trong Kinh Diệc có lời thày Trình tử rằng: “Dĩ hình thể dị chi thiên, dĩ Chúa tể vị chi Đế”, nghĩa , là luận về hình thể gọi là trời, luận về cai trị gọi là Đế. Châu Tử rằng: “Thiên địa chi tâm, tâm thị Chúa tể”, nghĩa là, trời đất có lòng, lòng là Chúa tể. Sách Tánh lý rằng: “Tâm tự thị Đế, Đế dã thiên chi Chúa tể”, nghĩa là, chữ tâm là đế, chữ đế là Chúa cai trị. Vì vậy thượng đế là Chúa tể trên trời.



    Tây sĩ rằng:

    Trời xanh này có hình thể không mà thôi, như trong sách Sử chép lời Hồ Thị rằng: “Khí phù nhi vi thiên dã, bất quá mang mang nhất thái hư nhĩ”, nghĩa là, khí nổi lên làm trời, chẳng qua là một khí lớn hư không mù mù vậy mà thôi. Vậy trời là khí thái hư, chẳng phải là vật có linh minh (thiêng sáng) có sống lâu, nên chẳng có đầu chẳng có bụng; mà sao thày nói Thượng đế là lòng trời ? Lại rằng: “Làm một cùng trời ở trong mình trời” sao đặng ? vì trời hay xây (xoay) đi vần lại, chẳng khi đừng như sách Đại Học rằng: “Thiên vận tuần huờn (hoàn) vô vãng bất phục” nghĩa là vòng trời xây vần có qua có lại. Vậy Thượng Đế đã xưng là Chúa tể còn phải tùy trời mà xây (xoay) đi vần lại làm một cùng trời đêm ngày quanh trái đất chẳng khi đừng, thể ấy thì chẳng là xấu hổ quái gở cho Thượng Đế sao ? Nếu Thượng Đế chẳng có nơi nào mà nương dựa, còn đí gì là Thượng Đế nữa sao ? Nói làm vậy thì chưa công lý. - Phải nói Thượng Đế là đấng thiêng liêng ngự lầu đài tòa trên các trời, cùng khiến trời xây đi vần lại mới phải mà chớ. Kìa Hoa Phong Nhơn rằng: “Qui vu đế hương”, nghĩa là, về kinh đô vua trời. Lại lời Châu Công nói trong thiên Kim Đằng rằng: “Nãi mạng qui vu đế đình”, nghĩa là, bèn khiến về trước sân vua trời ngự; ấy chẳng phải là Thượng đế có đền đài tòa các ngự trên trời sao ? – Vậy ông nói Thượng Đế lòng trời, ở chung lộn làm một cùng trời thì chúng tôi chẳng chịu lẽ ấy.



    Tây sĩ lại hỏi rằng:

    Quỉ thần là đí gì ? vì làm sao mà phải thờ ?



    Nhu sĩ rằng:

    Kinh Dịch rằng: “Âm dương bất trắc vị chi thần”; lại rằng: “Dĩ công đức vị chi quỉ thần dĩ diệu dụng vị chi quỉ thần” , nghĩa là, âm dương sâu nhiệm hiểu không đặng, gọi là quỉ thần; lại rằng : Vì có công đức nên gọi là quỉ thần, vì màu nhiệm nên gọi là quỉ thần; mà phải thờ phượng vì có ý cậy quỉ thần phù hộ nước nhà, cho dân an vật thạnh; như lời thánh Khổng Tử rằng: “Vụ dân chi ngãi, kính quỉ thần nhi viễn chi, khả vị trí dã” nghĩa là hãy lo lắng sửa sang việc dân sự, còn Quỉ thần thì kính thờ mà để ở xa cách, ấy là kẻ có trí vậy.



    Tây sĩ rằng:

    Ví bằng Quỉ Thần là đấng thiêng liêng phép tắc thì mới giữ nước giúp dân đặng; song bên nhà Nhu gọi Quỉ Thần là âm dương nhị khí, như lời Trình Tử rằng: “Khí chi thân dã vi Thần, khuất dã vi Quỉ”, nghĩa là, khí giang ra ấy là Thần, khí nhóm lại ấy là Quỉ. Châu Tử rằng: “Quỉ thần chỉ thị khí” , nghĩa là, Quỉ Thần vốn là khí mà thôi. Ấy bấy nhiêu lời giải rõ. Quỉ thần đều là khí vô tri vô giác mà chớ, nào ta có nên thờ phượng trông cậy khí vô tri vô giác ấy phù hộ cho ta đặng sự lành khỏi sự dữ sao ? Ấy là thờ lạy hư không mà chớ.



    Nhu sĩ rằng:

    Sách Trung dung rằng: Quỉ thần chi vi đức kỳ thạnh hỉ hồ. Châu công rằng: Quỉ dã âm chi linh dã. Thần dã dương chi linh dã, nghĩa là, Quỉ thần có công đức cũng nhiều lắm; lại quỉ là đấng linh về khí âm, Thần là đấng linh về khí dương. Cho nên đạo Nhu dạy thờ Quỉ Thần là đấng linh thiêng có phép tắc, chẳng phải là vật vô tri vô giác đâu.



    Tây sĩ rằng:

    Vốn trong trời đất thì có Thần, mà Thần có hai thứ: một là Thần lành gọi là Thiên thần thì nên kính thờ; hai là Thần dữ gọi là Quỉ thần hay Ác thần, ấy là quỉ ma yêu quái thì chẳng nên kính thờ, Như trong triều đình thì có quan, mà quan cũng có hai thứ một là trung gọi là Trung thần, lương thần; hai là quan nịnh gọi là Gian thần, nghịch thần. Vậy dân sự tôn kính vưng theoquan trung lương là quan ngay lành thì thậm phải; bằng dân sự tôn kính vưng (vâng) theo quan gian nịnh, là quan nghịch ngụy thì chẳng nên; vì cũng phải mắc tội ngụy nghịch với triều đình mà chớ, Vậy trong các đình miễu (miếu), người ta tế tự thờ lạy quỉ thần, xin xuống phước cho dân, đừng phá phách làm hại làm khốn dân. –Vả lại thờ quỉ thần ấy là thờ ác thần, ấy thờ quỉ ma, là loài rất dữ, lẽ nào mà có xuống phước cho ai đặng ? Nó một làm khốn hại người ta mà chớ. Vậy nhà Nhu dạy thờ quỉ thần, là ác thần, là quỉ ma, thì tôi chẳng chịu lẽ ấy.



    Tây sĩ lại hỏi rằng:

    Còn tế Lục Tông là đí gì ?



    Nhu sĩ rằng:

    Trong Kinh Thơ truyền rằng: “Lễ vu lục tông” là tế sáu thứ: một là tế mùa lạnh nóng, hai là tế mặt trời, ba là tế mặt trăng, bốn là tế mùa nắng, năm là tế các vì sao, sáu là tế núi sông; mà khi tế làm vậy, có ý thờ phượng tạ ơn bấy nhiêu đấng ấy, đã soi sáng xuống khí lành cho thiên hạ mà chớ.



    Tây sĩ rằng:

    Vả chăng mùa lạnh nóng, mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, mưa nắng núi sông, cùng muôn sự muôn vật khác, dầu mà nó sáng tốt trọng vọng dường nào mặc lòng, thì cũng chẳng dám sánh bày với loài người ta đặng vì bấy nhiêu sự ấy là vật có hình thể, chẳng có sự sống, chẳng có tri giác: chỉ có một loài người ta có hình thể có tri giác: có tính thiêng liêng hằng sống. Sách Kinh Thơ rằng: “Duy nhơn vi vạn vật chi linh”, nghĩa là, có một loài người ta thì thiêng sáng hơn mọi vật thảy thảy. Ấy vậy loài người ta là đấng trọng vọng thiêng sáng mà lại thờ phượng các vật thua kém, hèn hạ, chẳng bằng mình, thì sao cho phải lẽ ? Có một khi thờ phượng tế lễ chính Đấng cao trọng, đã sinh nên bấy nhiêu sự vật ấy, thì mới phải lẽ mà chớ.



    Khi ấy quan lớn phê đoán rằng:



    Tây sĩ phân biệt sự tế Quỉ Thần cùng tế Lục Tông, ta lấy làm rõ ràng phải lẽ lắm. Biện phân thần lành là Thiên Thần thì nên kính thờ; còn thần dữ là Quỉ thần, chẳng nên kính thờ; cũng như quan trung lương thì dân sự nên kính tôn vưng phục, còn quan ngụy nghịch, thì dân sự chẳng nên tôn kính vưng theo, ấy là đều chắc thật rõ ràng. – Lại trưng chứng loài người ta quí trọng hơn muôn vật thảy thảy, chẳng nên thờ lạy những vật thua kém chẳng bằng mình; phải thờ lạy đấng cao trọng hơn mình; đã sinh dựng nên bấy nhiêu sự vật ấy mới phải lẽ. “Thử ngôn kim du biện bạch, ngọc thạch phân minh, túc phá thiên cổ chi hoặc” nghĩa là lời này vàng thau rõ biện, đá ngọc phân minh, đã đủ mà phá sự lỗi xưa nay

    (Đọan này thấy chỉ có trong bản Quốc Ngữ 1959; Bản Nôm 1867 không có)



    Tây sĩ rằng:


    Bằng kẻ tu ngũ đức, và giữ ngũ luân cho nên, thì đặng phước thể nào ? mà kẻ chẳng giữ thì phải tội phạt thể nào chăng ?



    Nhu sĩ rằng:

    Từ Thần Ông viết: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nghĩa là, lành có trả lành, dữ có trả dữ”; lại sách Thượng Thơ rằng: “Tác thiện giáng chi bá tường tác bất thiện giáng chi bá ương”, nghĩa là, kẻ làm lành thì xuống cho trăm đều lành, kẻ làm dữ thì xuống cho trăm đều dữ.



    Tây sĩ rằng:

    Nếu làm vậy, sao cũng thường thấy ở đời này có nhiều kẻ tu đức cho đến chết mà những phải gian nan khốn khó mãi ? nào có thấy Thiện hữu thiện báo đâu ? Chớ thì ai báo mà đến bao giờ mới báo, thế ấy chẳng phải lời nói không không sao ?



    Nhu sĩ rằng:

    Kẻ ở đời hiền lành ngay thảo cho đến chết mà chẳng đặng thiên báo thì con cháu nó sẽ đặng mà chớ.



    Tây sĩ rằng:

    Ví bằng cha ông hiền lành, lập công tích đức, mà chẳng đặng phước gì, thì đến đời con cháu, hoặc phải đứa xấu nết dữ dằn mãi, mà nó lại đặng hưởng phước, thì làm sao cho phải phép công bình ? – Lại có kẻ nết na, nhơn ngãi, trung tín song chẳng có con nào sốt, chúc ấy thể nào ? Vì chẳng những là kẻ ấy đã hỏng phước thiện báo mà lại phải tội; chớ thì câu “thiện ác hữu báo như ảnh tùy hình”, là, dữ lành có trả như bóng theo hình thì ở đâu ? Nói làm vậy có thật sao ? Ấy bởi đâu kẻ tích đức cũng chẳng trông hẳn sự hưởng phước, lại kẻ làm dữ cũng chẳng lo sợ sự phạt tội là bao nhiêu ? Hãy xem có nhiều kẻ thông minh cùng lý, lại làm nhiều sự phi lý, gặp chánh thì chánh, gặp tà thì tà, chẳng lo sanh tử tội phước là gì, một muốn theo tư dục mình mà thôi. Ấy bấy nhiêu sự ấy bởi đâu mà ra ? Thật bởi đạo Nhu chẳng dạy hẳn Đấng nào thưởng phạt cho tỏ tường chắc chắn mà chớ.



    Nhu sĩ rằng:

    Chẳng phải bởi đều chẳng dạy cho tỏ tường, một bởi đều có “bẩm thọ”, là, lãnh chịu hai khí âm dương thuận liền sanh ra hiền lành ngay thật; lại có kẻ bẩm thọ âm dương hai khí chẳng thuận liền sanh ra tà vạy gian dữ. Ấy vậy mạng trời đã phú cho có kẻ sang kẻ hèn, kẻ giàu kẻ khó, kẻ dữ kẻ lành, kẻ trí kẻ ngu, kẻ thánh kẻ phàm, mà ai dạy làm cho đặng ?



    Tây sĩ rằng:

    Đã vậy, hễ bao nhiêu kẻ lành kẻ dữ đều tại thiên mạng phú cho, thì còn khuyên người ta cải dữ về lành, sửa mình tu đức làm chi nữa ? nếu vậy phép nhà nước khi trách phạt kẻ có tội thì chẳng oan sao ? Nào có phải tại nó làm nên tội mà nó chịu phạt cho cam, vì là tại thiên mạng phú cho nó bẩm thọ lấy khí xấu khí nghịch mới hóa ra làm vậy, mà phạt nó làm sao ? như nói làm vậy, mọi tội đều đổ cho thiên mạng mà ra thảy thảy; bởi đó kẻ làm lành cũng chẳng đặng công phước gì, kẻ làm dữ cũng chẳng mắc tội vạ gì sao ? Nói thể ấy, có phải lẽ mà nghe đặng chăng ? – Sau nữa bên Nhu sĩ có thờ thánh nào nữa chăng ?



    Nhu sĩ rằng:

    Chẳng những nhà Nhu, mà lại các vua chúa quan quyền cả và thiên hạ phương đông này đều thờ phượng đức thánh Khổng tử, và Tứ phối, Thập triết, là bốn thánh, mười hiền; gọi thánh Khổng tử là Thiên Ứng chi thánh, nghĩa là thánh trời sai, và phong là Đại Thánh chí Thánh Văn Tuyên vương, nghĩa là, vua Văn Tuyên rất trọng rất thánh , vì người đã có công trọng, dọn Lục Kinh là Kinh Diệc, Kinh Thơ, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Xuân Thu, truyền đạo cho thiên hạ đặng học; lại xin người phù hộ cho các học trò đặng sáng trí, học

    các sách người đã truyền, cùng thi đỗ đặng làm quan sang trọng; cho nên hễ các sanh đồ, hương cống, tấn sĩ, khi đỗ cùng đặng lên chức, phải vào đền Tư Văn mà tế lễ thánh Khổng Tử, cùng tạ ơn người, vì đã ban cho bấy nhiêu ơn trọng ấy.

    Tây sĩ rằng:

    Nhà Nhu kính ông Khổng Tử là đấng duệ trí thông minh, đã có công dọn sách truyền cho thiên hạ học những lẽ công chính, thì thậm phải; thì thậm phải; song càu khẩn cùng người vưng hộ (phù giúp) cho đặng sáng dạ cùng thi đỗ thì chẳng nên; vì quyền phép ấy về một Đấng Tạo Hóa mà thôi. Mà ông Khổng cũng là người ta, ắt chẳng có phép trọng ấy: vì ông Khổng mới sanh đời nhà Châu, vua Linh Vương, năm thứ hai mươi mốt, ở nước Lỗ, xứ Sơn Đông, phủ Doãn Châu, huyện Khúc Phụ, làng Xương Bình; ông là Lương Phục, cha là Thúc Lương Hội, mẹ là Nhan Thị; đặt tên là Khưu, tên chữ là Trọng Ni. Mà bởi người ta thấy người thông minh duệ trí thì gọi rằng người thánh trời sanh. Song khi ông Tử Cống hỏi rằng: Thày có phải là đấng thánh chăng? thì người rằng: “Ngã bác học đa thức, thánh ngã bất cảm”, nghĩa là, ta học nhiều biết nhiều, còn đấng thánh thì ta chẳng dám đâu. -Đến đời nhà Đàng, vua Huyền Tông mới phong là Văn Tuyên Vương; lại đến đời vua Nguyên Võ Tông gia phong là Đại Thánh Chí thánh Văn Tuyên Vương. Ấy ông Khổng Tử đã xưng thật, bởi người học nhiều thì biết nhiều đều song người chẳng phải là thánh; nào có phép gì mà vưng hộ cho ai sáng dạ thi đỗ, và đặng phước khỏi tội đâu ? Ấy vậy các vua dưới thế có phép phong cho người ta làm quan quyền dưới thế, chẳng có phép phong cho ai làm thánh đâu.



    Thày Pháp sư giải câu ấy rằng:

    Mọi sự ta phải giữ ở đời này, thì đã tóm lại một câu đức Lão Tử rằng: “Vật vi, vật ý, vật biện”, là chớ làm gì, chớ có ý gì, chớ phân biện; chớ chi thiên hạ giữ bấy nhiêu sự cho trọn, thì mọi người đặng bình an, thong thả, vui sướng là dường nào!



    Tây sĩ rằng:

    Thày nói đều ấy thì cao trí lạ lùng lắm, chẳng hiểu đặng; vì ở nhưng cả ngày đừng làm sự gì sốt, thật thì đặng thong thả thanh nhàn lắm, song ai kiếm cho mà ăn, dân sự làm sao cho đặng sống ? Vua chúa quan quyền đừng làm thì lấy ai mà coi sóc, cai trị dạy dỗ thiên hạ cho bình an ? Nếu phải cứ đều ấy, là vật vi, thì sao các thày chịu khó nhọc, chạy ngược xuôi đêm ngày, đi chữa người ta làm chi ? Sao mà bảo đào mồ đào mả ông bà cha mẹ người ta lên, dời nơi nọ đổi nơi kia; sao bảo người ta nhường chỗ đổi số, giải ách tống tai làm chi ? Chớ thì phô thày cũng lỗi đạo lắm sao ?

    Tôi thấy trong sách Nhu chê việc ấy rằng:

    Địa lý tiên sanh quán thuyết thông,

    Chỉ nam, chỉ bắc, chỉ tây đông,

    Thế gian quả hữu vương hầu địa,

    Hà bất tiên mưu táng nãi ông ?

    nghĩa là
    Thày Địa lý quen tuồng nói hướng không,

    Chỉ nam chỉ bắc chỉ tây đông,

    Dưới thế chỗ nào đất vương tướng,

    Sao thày chẳng để táng cha ông?

    (đọan này không thấy trong các bản Nôm và Nho)

    Lại rằng: Vật ý, vật biện, là đừng có ý nào, đừng có suy xét đí gì sốt; nói làm vậy thì sao cho phải lẽ? Kìa giống vật kia đói còn biết tìm ăn, khát thì tìm uống, cùng biết giống nào nên ăn mới ăn, chẳng nên ăn thì đừng. Lại như giống lục súc kia còn biết giữ nhà cho chủ, phương chi loài người có tính thiêng liêng, lại có đạo đức trong mình, biết tam cang ngũ thường, vua là giềng tôi, cha là giềng con, chồng là giềng vợ; (nhơn ngãi lễ trí tín đã giải trước) mà dạy rằng: Vật ý, vật biện, thế thì đừng biết ai là cha mẹ, đừng biết ai là vua chúa, đừng biết ai là vợ chồng, một ở lộn lạo chung mãi, gặp thế nào thì hay thế ấy mà thôi sao ? Ba đều ấy có xứng cho loài loài người sao ? một xứng cho loài đá, loài cây, tượng gỗ giữ đạo ấy mà chớ; vì nó chẳng có làm gì, chẳng có ý nào, cũng chẳng biết đí gì chúc; Thày nói vậy thì tôi chẳng chịu lẽ ấy.



    Tây sĩ hỏi Pháp môn có thờ vị nào nữa chăng ?



    Thày Pháp môn rằng:

    Bên đạo chúng tôi thờ phượng nhiều vị lắm, nhứt là vị đức thánh cả, là Thái Thượng Lão Quân, vị vua Ngọc Hoàng Thượng Đế, vị thập nhị Hành khiển vương; mà mỗi một năm một làn tế lễ trọng thể, xin đức thánh cả phù hộ cho thiên hạ khỏi mọi sự dữ đặng mọi sự lành cùng cho trường sanh bất tử, nghĩa là sống lâu chẳng chết.



    Tây sĩ rằng:

    Ông Lão Tử mới sinh thì (thời) nhà Châu, vua Linh Vương năm thứ nhứt, tháng hai, ngày rằm, ở xứ Hồ Quảng, họ Lý, tên Trọng Nhĩ, cũng có tên là Lão Đam và Lão Quân, sống đặng tám mươi mốt (81) tuổi mà chết trong đời nhà Châu vua Kỉnh Vương, năm thứ ba mươi lăm, ở đất Hàm Quan. Sách Luận ngữ Tây Sơn Chơn thị rằng: Lão Đam, Dương Châu, Mặc Địch giai dữ Khổng Tử đồng thì, nghĩa là, người Lão Đam, người Dương Châu, người Mặc Địch là những người sinh một đời cùng Khổng Tử. -Đến đời nhà Tống, vua Chơn Tông, năm Giáp Dàn là năm thứ nhứt, vua viếng mồ Lão Tử mới gia hiệu là Thái Thượng Lão Quân, - Song ông Lão tử vốn cũng là người ở đời nhà Châu, cũng chẳng có công nghiệp gì với người thiên hạ; nào có phép gì mà cho người ta khỏi tội đặng phước sao?

    Còn vị Ngọc Hoàng, thật là người họ Trương, tên là Nghi, là cháu Trương Lương, học phép Lão Quân làm chước tiên bay, sống đặng ba mươi tuổi mà chết. Trong đạo ấy rằng: Nhà Tống, vua Huy Tông nằm chiêm bao thấy Trương Nghi giúp vua đánh giặc: đến khi vua thức dậy ngờ là người ấy có phép tắc, liền phong cho Trương Nghi làm Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ấy vua Huy Tông là người dương thế, bởi yêu Trương Nghi, liền phong cho làm vua cả trên trời, há có phải lẽ đặng chăng ? Nếu vậy trước khi vua Hy Tông chưa phong ngươi Trương Nghi, thì trên trời chưa có ai làm Thượng Đế sao ? -Vả lại sách bên nhà Phật cũng rằng: Ngọc Hoàng là con vua Quang Nghiêm, ở đất Diệu Lạc, vợ là Bửu Nguyệt Quang bởi chẳng có con, khi nằm chiêm bao thấy Nguyên Hậu khiến Lão Quân ẵm một con trai đưa cho nàng Nguyệt Quang, tức thì liền chịu thai. Đến năm sau, tháng giêng, ngày mùng chín, sanh đặng con trai, đặt tên là Ngọc Hoàng, ấy là lời bên nhà Phật thì làm vậy. Song trong bản đồ các nước thiên hạ, chẳng thấy nước nào có tên Diệu Lạc, ấy là nước riêng nhà Phật mà chớ. Lại ví bằng cha mẹ yêu con , muốn đặt tên trọng cho con, thì đặng làm Ngọc Hoàng Thượng Đế trên trời sao ? Sự ấy có phải lẽ mà nghe đặng chăng ? Sau nữa, về những thần Hành khiển vương là làm sao ?



    Pháp sư rằng:


    Mười hai vua ở trên trời, mỗi một năm, là một vua trị, đem binh xuống hạ giới, là dưới thế, làm ốm đau, làm chết người ta; vì vậy phải lấy tiền cùng vàng bạc và lễ vật, dưng cho Hành Khiển Vương mới khỏi.



    Tây sĩ rằng:

    Mười hai Hành Khiển ấy là Châu vương, Triệu vương, Ngụy vương, Trịnh vương, Sở vương, Ngô vương, Tàn vương, Tống vương, Tề vương, Lỗ vương, Việt vương, Liệt vương ấy là mười hai vua chư hầu mà thôi, cũng là người thế gian, đời nhà Châu đã phong cho làm vua. Đến đời nhà Tống, có người Mạnh Tông mới bày ra gọi là mười hai vua Hành Khiển. Đến đời nhà Lê vua Dương Đức năm đầu, có người Trịnh Thiên Thu và thày pháp môn là Trịnh Đạo Khiêm, làm sách Hồng Liêu, có vẽ đồ hình mười hai vua ấy vào sách nữa. Song bấy nhiêu người ấy cũng là người thế, có sanh có tử như kẻ khác; nào có phép tắc gì mà cầm quyền sanh tử thưởng phạt ai đặng ?
    – Vả lại nếu bấy nhiêu người đã đặng làm thánh cả, làm vua cả cai trị nước trên trời, sao mà lại phải đói khát thèm lạt, đem binh xuống thế gian, ép nặn người ta, để lấy mâm xôi, tấm thịt, ghè (hũ) rượu cùng một ít tiền bạc, đọan mới chữa người ta khỏi tật nguyền bịnh hoạn làm sao? Ấy là những cách thế mọn dạ ăn vặt làm vậy, có xứng đáng cho vua trên trời chăng ? Ấy là những đều chẳng thật, cho nên trong sách Sử rằng: Tàn Hoàng, Hán Võ cùng cực dĩ càu thần tiên, liễu vô chứng nghiệm; nghĩa là vua Tàn Hoàng và vua Hán Võ , hết lòng hết sức tìm kiếm thần tiên, mà không ích chi cả. Tống Đạo Quân phụng đạo chi càu, thuyết tiếu chi hậu, thọ nhục ư Mạc Bắc, nhi đạo diệc bất văn, nghĩa là vua Tống Đạo Quân hết lòng giữ đạo Lão Tử, làm chay đặt tế rất trọng thể, mà đến khi giặc bắt đặng vua ấy, đem về làm sỉ nhục tại đất Mạc Bắc, cũng chẳng nghe đạo Lão Tử phù hộ chi. Bởi đó cho nên đạo Lão Tử gọi là hư vô chi giáo thì hạp lắm.

    Thày Hòa Thượng giải câu ấy rằng:
    Bên Phật giáo dạy người ta tu ngũ đức: một là thí của, hai là giữ chay, ba là chịu nhục, bốn là tu đức, năm là giữ lòng thật. Lại giới (giới) cấm năm đều: một là cấm sát sanh, hai là cấm ăn trộm cướp, ba là cấm tà dâm, bốn là cấm nói dối, năm là cấm uống rượu.



    Tây sĩ rằng:

    Kẻ giữ và kẻ chẳng giữ bấy nhiêu sự, thì sẽ thưởng phạt làm sao ?



    Thày Hòa thượng rằng:

    Trong lục đạo đức Phật Thích Ca đã truyền sự thưởng phạt tỏ tường, chẳng có đều nào thật hơn nữa. Thứ nhứt hễ ai giữ đạo Phật cho trọn thì đặng làm Phật nữa; thứ hai kẻ giữ bực kém, chẳng đặng trọn, thì đặng làm vua trên trời; thứ ba kẻ giữ một bực kém nữa thì cho làm thần; thứ bốn kẻ giữ một bực kém hơn nữa thì khi chết rồi lại nhập sanh người khác; thứ năm kẻ giữ kém một bực nữa thì phải hóa ra một thần dông dài, chẳng có nơi mà ở, những đi khuấy khỏa người ta; thứ sáu kẻ giữ kém một bực nữa thì hóa ra loài cầm thú côn trùng; kẻ giữ càng kém hơn nữa, thì càng phải nên giống xấu xa hơn nữa.



    Tây sĩ rằng:

    Như trong lục đạo có sự thưởng phạt thể ấy thì tôi lấy làm sự quái gở lắm; vì nếu cha mẹ phải phạt nhập sanh lại làm con người khác, mà hoặc khi khó khăn đi ở thuê mướn, gặp phải cửa nhà con cháu, nó chửi rủa đập đánh phải cha mẹ, thì làm sao? hay là nó lấy vợ chồng lầm phải cha mẹ, chẳng ra tội loạn luân sao? Lại nếu cha mẹ đã hóa ra loài muông chim cầm thú, mà khi con cháu giỗ chạp giết trâu bò gà lợn, làm phải cha mẹ, thì chẳng mắc tội giết cha mẹ sao ? Nếu đã hóa ra làm con nhà khác, hay là loài vật khác, chốc ấy con cháu cũng thờ vật ấy, người ấy làm cha mẹ mình sao ? Nếu các người lành dữ đã hóa ra hết làm vậy, thì còn ai trong âm phủ ? Chớ con cháu làm chay làm tiếu, chữa tội ông bà ông vải làm chi nữa ? Vả lại bên nhà Phật hay cấm sát sanh cho nhặt phép, kẻo lại hóa ra loài vật mình đã giết . Ấy vậy những ông bà cha mẹ bụt, và chính thân bụt là Thích Ca trước ba mươi tuổi chưa có tu hành , những đi săn bắn, thật đã giết muông chim cày cáo nhiều lắm: chúc ấy khi cha mẹ bụt và chính bụt Thích Ca chết đoạn, thì làm sao ? Cũng lại hóa ra giống lục súc loài vật mình đã giết ngày trước ấy sao ? Nếu Thích Ca đã hóa thể ấy thì ai làm thần làm Phật nữa ? Ấy là những lời quái gở, cho nên các Nhu sĩ chê rằng “Phật giả yêu ngôn”, nghĩa là, đạo Phật nói quái gở; lại rằng: “Dị đoan tịch diệt chi giáo”, nghĩa là, đạo dị đoan hư không làm hại kín đáo. Mà Hán Minh Đế tin thờ đạo Phật thì nhà Nhu chê rằng: “Đảng ác chi nhơn” nghĩa là người theo phe dữ; lại rằng: “Danh giáo trung vạn thế chi tội nhơn”, nghĩa là, người có tội muôn đời trong hàng danh giáo. Ấy bấy nhiêu lời đã đáng thật, chẳng có oan đâu.



    Tây sĩ giải câu ấy rằng:

    Khi Chúa mới dựng nên nguơn tổ loài người ta, liền ban cho có linh hồn hiệp với xác, có trí khôn ngoan, có mọi nhơn đức, cùng biết chính Đấng cội rễ đầu mọi sự mà thờ phượng. Lại ban cho chính đạo in vào trong lòng, mọi người đều biết tam cang ngũ thường, gọi là đạo tánh giáo, là, đạo tự nhiên. Bởi đó cho nên, ai ai đều biết sự lành sự dữ, sự phước sự tội, tỏ tường. Lại ban cho mọi người có sự thong thả (tự do) trong mình thảy thảy. Song cũng để nhằm ý thích tình người ta, muốn chịu về đàng lành hay là đàng dữ, thì mắc ý mình liệu; mà ai làm việc phước đức thì sẽ đặng thưởng, ai làm sự tội lỗi thì sẻ phải phạt. Đều ấy tại ý mình muốn, chẳng phải tại ai ép đâu. Sau nữa, lại ban cho người ta mười điều răn mà giữ, là
    Đệ nhất giới (Điều răn thứ nhất): khâm sùng Thiên Chúa ư vạn hữu thị thường nghĩa là điều răn thứ nhất dạy kính chuộng một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự;
    Đệ nhị giới: Vô hô Thiên Chúa thánh danh dĩ phát hư thệ, thứ hai,chớ lấy tên Đức Chúa Trời mà thề dối;
    Đệ tam giới: Thủ chiêm lễ chi nhựt, thứ ba, giữ ngày Chúa nhựt;
    Đệ tứ giới: Hiếu chi phụ mẫu, thứ bốn thảo kính cha mẹ;
    Đệ ngũ giới: vô sát nhơn, thứ năm chớ giết người;
    Đệ lục giới: Vô hành tà dâm, thứ sáu chớ làm tà dâm;
    Đệ thất giới: Vô du đạo, thứ bảy chớ ăn trộm cướp;
    Đệ bát giới: Vô vọng chứng, thứ tám chớ bỏ vạ cho người;
    Đệ cửu giới: Vô nguyện tha nhơn chi thê, thứ chín chớ muốn vợ chồng người;
    Đệ thập giới: Vô tham tha nhơn chi tài, thứ mười, chớ tham của người;

    - Mà mười đều răn ấy tóm lại trong hai sự này: Một là kính mến Thiên Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự; hai là thương yêu người ta như mình vậy. Kẻ tuân giữ thì thưởng thiên đàng hưởng; kẻ chẳng tuân phải phạt hỏa ngục gia hình,

    - Sau lại truyền Thất qui là bảy phép chỉ để làm ích cho người ta;

    Nhứt viết Thánh tẩy, một là phép Rửa tội;
    Nhị viết Kiên chấn, hai là phép Thêm sức;
    Tam viết Thánh thể, ba là phép Mình Thánh Chúa;
    Tứ viết Cáo giải, bốn là phép Giải tội;
    Ngũ viết Chung phù, năm là phép Xức dầu thánh;
    Lục viết Phẩm cấp, sáu là phép Truyền chức Thánh;
    Thất viết Hôn phối, bảy là phép Hôn phối. Ấy là thất qui, phép thì tha tội cho kẻ thống hối cải quá; phép thì giúp cho mạnh đạo, thà chết chẳng thà bỏ đạo Thiên Chúa truyền; có phép thì để giúp sức mạnh phần hồn; có phép thì để giúp kẻ liệt cho đặng chết lành; có phép thì để phong chức quờn cho các đấng làm thày; có phép thì để ban cho người nam người nữ đặng phối hiệp cùng nhau mà sinh ra loài người ta.



    Nhu sĩ rằng:

    Đạo Thiên Chúa cũng chẳng qua đạo thánh Khổng Tử; vì các nước thiên hạ bên phương này cứ một đạo thánh Khổng Tử truyền, thì cũng đủ đế vương, công hầu, khanh tướng, quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử, phu phu, phụ phụ, bá tánh âu ca, quốc phú dân an, nghĩa là vua cho phải vua, tôi cho phải tôi, cha cho phải cha, con cho phải con, chồng cho phải chồng, vợ cho phải vợ, trăm họ ca ngợi, nước giàu dân an, nào có phải đi học đạo Thiên Chúa đâu ? Nào đạo đức Khổng Tử có kém gì đâu ?

    Tây sĩ rằng:
    Ông Khổng Tử sán định lục kinh là sửa định sáu kinh cho thiên hạ phương này đặng học những sự phải lẽ, thì có công trọng thật; song chẳng phải người đặt nên chữ Nhu đâu. Trong sách rằng: Thương Đế sán văn tự, là vua Thương Đế tạo lập chữ Nhu; lại sách Lụ Kinh cũng chẳng phải của riêng người lập ra thì thiên hạ mới biết đâu. Hãy xem các vua đờI xưa khi chưa có Khổng Tử sinh ra như Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang, Văn, Võ, thiên hạ đề khen là thánh đế minh vương, là vua thánh vua sáng, thì các đấng ấy cứ đạo nào, học sác nào mà dĩ đạo trị thiên hạ? Thật là các đấng ấy đã cứ đạo tự nhiên Thiên Chúa ban ch người mà chớ. Cũng như đời này biết là bao nhiêu nước, bao nhiêu phương, chẳng có họ sách ông Khổng Tử cùng chẳng biết ông Khổng Tử là ai, mà cũng biết tam cang ngũ thường nhơn luân đạo lý, thì tại đâu ? Thật bởi đã có chính đạo thiên Chúa in vào lòng mọi người như lời đã dẫn trước rằng “Duy Hoàng Thượng Đế giáng trung vu hạ dân”, nghĩa là, có mộ vua trên trời ban đạo lành xuống cho dân; cùng lời ông Đổng Tử rằng: “Đạo chi đại nguyê xuất ư thiên”, là gốc tích đạo bởi trời mà xuống, lại rằng: “Phù đạo tại thiên hạ vô cổ kim chi thù”; nghĩa là đạo ở trong thiên hạ từ xưa đến nay không có khác gì; lại lời tựa Đại Học rằng “Cái tự thiên giáng sinh dân, tắc ký mạc bất dữ chi ái nhân nghĩa lễ trí tín chi tánh dã”, nghĩa là, vì từ trời đã sinh ra dân, thì liền phú cho có tính nhơn ngãi lễ trí tín.
    Lại lời ông Châu Tử rằng:
    “Tánh phi hữu vật, chỉ thị nhất cá đạo lý chi lại ư ngã dã”, là tính chẳng phải là vật gì song vốn là đạo lý ở trong mình ta mà chớ Ấy bấy nhiêu lời tỏ ra đạo vốn đã có từ tạo thiên lập địa đến rày, chẳng phải là đạo mới đâuMà sau Nhu sĩ nói rằng: Các nước bên phương đông này cứ một đạo Khổng Tử truyền; nó làm vậy chẳng nghịch sách sao ? Có lời Tăng tử rằng: “Phu tử chi đạo trung thứ nhi dĩ hĩ ” nghĩa là, đạo Khổng Tử dạy trung, thứ, hai đều ấy mà thôi: (trung là hết lòng, thứ là muốncho mình thể nào thì muốn cho người thể ấy) cùng dạy tu thân, tề gia, trị quốc ở đời này, là,
    dạy sửa mình, an nhà, trị nước mà chẳng dạy ai cho biết đấng nào là chơn Chúa đã dựng nên trời đất, thần, người muôn vật, mà thờ phượng cho đặng sống thật vô cùng đời sau, thì đạo Khổng Tử chỉ là nhơn đạo mà thôi. – Mà đạo Thiên Chúa dạy người ta cho biết Đấng cội rễ, mà thờ phượng cho đặng sống thật vô cùng đời sau; ấy là thánh đạo siêu thánh chi giáo, nghĩa là, đạo thánh cùng là đạo cao quá tánh tự nhiên, mà chẳng trọng chẳng tỏ tường hơn đạo Khổng Tử sao? Nhơn sao Nhu sĩ rằng: Đạo Thiên Chúa cũng chẳng quá khỏi khỏi đạo Khổng Tử; nói thế ấy có thật chăng ?

    Nhu sĩ rằng:
    Bên đạo Tây sĩ có thờ thần nào hay là thánh nào chăng?

    Tây sĩ rằng:
    Có, vì thuở xưa khi Thiên Chúa dựng nên trời đất, có dựng nên vô số thiên thần thiêng liêng vô hình, phân làm chín phẩm để mà chầu chực Thiên Chúa, cùng cho một Thiên thần tên là Luxiphe, làm đầu cai chín phẩm ấy. Bấy giờ Luxiphe thấy mình đặng sang trọng dường ấy thì sinh lòng kiêu ngạo muốn lên bằng Thiên Chúa, cùng muốn cho các Thiên thần tôn kính mình làm Chúa nữa. Khi ấy một phần thiên thần trở lòng theo Luxiphe, tức thì Thiên Chúa phạt thần ngụy ấy cùng thần theo nó, đuổi khỏi thiên đàng, phạt sa hỏa ngục, cất chức thiên thần, biến làm quỉ thần. Từ ấy thần lành thần dữ phân ra khỏi nhau.
    Mà trong chín phẩm thiên thần ấy phần thì giữ việc chầu chực Thiên Chúa, phần thì cầm mặt trời mặt trăng và các ngôi sao soi sáng cho thiên hạ. Mà khi nói kính thờ thiên thần, nghĩa là có ý cậy các đấng ấy cầu cùng Thiên Chúa phù hộ cho ta đặng mọi sự lành phần hồn phần xác mà thôi; chẳng có thờ phượng tế lễ các đấng ấy bằng Thiên Chúa đâu.

    Bằng sự các thánh, thì cũng là người ta, nhưng mà thuở còn sống đã hết lòng thờ phượng Thiên Chúa, giữ điều răn nghiêm nhặt, làm việc lành phước đức đã trọn công; cho nên đã ghe phen (?) Thiên Chúa đã cho làm nhiều dấu, tỏ ra công nghiệp người trọng vọng đẹp lòng Thiên Chúa lắm, và khi sinh thì (chết) đoạn, thì đặng lên thiên đàng hưởng phúc chầu chực Thiên Chúa, ta gọi các đấng ấy là Thánh. Vậy khi nói kính các thánh, nghĩa là có ý cậy các đấng ấy đã được đẹp lòng Thiên Chúa mọi đàng, xin cầu bầu cho cho ta đặng giữ đạo cho trọn, ngõ hầu (cốt để) mai sau đặng làm bạn cùng người trên nước Thiên đàng. Ấy là ý kính thờ thiên thần các thánh thì làm vậy.

    Nhu sĩ rằng:
    Sao bên đạo, chẳng những thờ thiên thần, lại những người đã chết gọi là thánh, thì cũng đặng thờ ? Mà bên chúng tôi kính những đấng linh thần anh hùng hào kiệt đã có công danh trọng vọng trong đời đã có sắc gia ban là thượng đẳng, trung đẳng tối linh thần, cùng đại vương đại thánh nghĩa là đã phong cho kẻ ấy làm thần rất linh thính, có bực nhứt, bực nhì cũng làm vua cả thánh cả; thì bên đạo lại cấm, chẳng cho thờ phượng tế lễ, thì làm sao? Hay là muốn cho một đạo mình nên sang trọng mà thôi, cho nên ghen chẳng muốn cho đạo khác thờ phượng hơn đạo mình.

    Tây sĩ rằng:
    Chẳng phải thể ấy đâu, một là vì sự đã có tôn ti đẳng cấp, là cao thấp các bực, mà sự thờ phượng tế lễ là việc rất trọng, thì việc ấy chỉ xứng về một Thiên Chúa, là Đấng chí tôn vô đối mà thôi. Còn các thánh khác chẳng đặng sánh bày với Đấng rất trọng ấy đâu, cho nên chẳng đặng tế lễ vị nào thay vì Thiên Chúa, kẻo phạm tội tiếm lễ như lời ông Khổng tử rằng: “Giao xã chi lễ sở dĩ sự Thượng Đế”, nghĩa là, lễ giao lễ xã thì để thờ một đấng Thượng Đế.
    –Hai là vì trong các thần cũng có thần lành thần dữ, có thần đáng kính, có thần chẳng đáng kính: thần lành vốn vưng lịnh Thiên Chúa, gọi là thiên thần, thì đáng kính; thần dữ là kẻ nghịch mạng Thiên Chúa, gọi là quỉ thần, thì chẳng nên kính đâu.
    Còn các tướng anh hùng hào kiệt, người ta thường nói rằng: khi thì hiển hiện ra bề ngồi hoặc dùng miệng kẻ còn sống mà xưng mình là tướng nọ thần kia. Ấy là chước ma quỉ mượn lấy tên kẻ đã chết, cho người ta tin mà thờ làm Chúa, làm thần. Lại thờ làm vậy, có ý sợ hãi mà thờ; vì chẳng thờ thì e sẽ phải chết người, chết vật mà chớ.
    Nên sách Sử rằng: Tự Thiếu Hạo thị suy, thiên hạ chi nhơn tương cụ dĩ thần, tương hoặc dĩ quái, gia vi vu sử, dân độc vu tự, thiên đạo vi chi tiểu biến hĩ”, nghĩa là, từ khi vua Hiếu Hạo suy, người thiên hạ lấy việc quỉ thần mà nhát nhau, lấy việc yêu quái mà phỉnh nhau, mỗi nhà đều làm sách bóng chàng (?), cho nên dân sự đều lọan trong việc tế tự, đạo trời dời đổi vì cớ ấy. Ấy vậy trong sử đã chê làm vậy.

    Lại thử xem đời này, hễ ai đặng làm quan nên sang trọng, trước thì làm tôi đức vua cho hết lòng ngay, và có công nghiệp; lại phải có sắc lịnh và ấn tín đức vua ban cho, thì mới đặng làm quan. Nếu thiếu bấy nhiêu sự còn dám xưng mình là quan, ấy là mạo xưng. Nếu lại cả gan giục dân làm ngụy cùng vua, ấy là tướng ngụy tướng giặc mà chớ. Phương chi kẻ xưng mình là thần là thánh đức Vua Cả trên trời, mà chẳng những là chẳng làm tôi Thiên Chúa, những xui giục người ta bỏ Thiên Chúa,mà chỉ tôn kính thờ mình; những kẻ thể ấy có phải là thần thật sao ? Ấy thật là yêu tinh ma quỉ mà chớ.
    Lại rằng: Đã có sắc ban cho là Thượng đẳng tối linh, thiên cổ tối (19b)linh, là rất linh trên hết, rất linh ngàn đời. Vậy những sắc ấy có phải sắc cùng ấn tín Thiên Chúa ban cho những vị ấy đặng làm thần thánh ở trên trời chăng ? Thật chẳng phải, ấy là những sắc vua chúa ở đời này phong cho mà chớ. Vậy đấng vua chúa có quờn cai trị muôn dân, thì cũng có quờn cai trị hết các thần hay sao ? Vốn các đấng ấy, thuở bình sinh, đã chẳng nhìn Thiên Chúa, chẳng thờ phượng tôn phục Thiên Chúa, thì đã ra ngụy nghịch cùng Thiên Chúa; khi chết đọan, ắt Thiên Chúa chẳng nhìn các đấng ấy, huống lựa là (nói gì đến) ban sắc cho làm thần làm thánh sao ?
    Dầu các vua thế gian có phong cho các đấng ấy làm thánh làm thần mặc lòng, cũng chẳng cướp được phép công thẳng Thiên Chúa.
    Nếu vậy, kẻ thờ phượng Thiên Chúa gọi các đấng ấy là thánh thần mà thờ phượng làm sao đặng ?
    – Lại có nơi thờ thần hùm, thần khỉ, thần rắn, thần chó, thần kẻ trộm, thần ăn mày, bấy nhiêu giống ấy cũng đặng lên trời làm thần hết sao ? Ấy những người những vật làm vậy có xứng đáng cho ta tế lễ sao? Nhơn sao Nhu sĩ muốn lấy những thần ấy mà sánh với Thiên Chúa, với đấng thánh nhơn là kẻ thờ phượng làm tôi Thiên Chúa trọn đời làm sao đặng ?

    Nhu sĩ rằng:
    Tây sĩ chê nhạo thần kẻ trộm, thần ăn mày, chẳng đáng thờ lạy; sao bên đạo thờ lạy Giêsu phải luận tội đóng đinh mà chết ? chẳng hèn hạ, chẳng xấu hơn, chẳng đáng chê hơn sao ?

    Tây sĩ rằng:
    Sự chịu chết cách hèn hạ làm vậy, cũng có khi ra hèn đáng chê; lại có khi càng ra trọng vọng đáng khen. Vậy phải xem kẻ chịu chết ấy là ai, và nhơn vì ý nào mà chịu chết làm vậy, thì mới nói đặng. Ví dụ: đứa trộm cướp kia phải chết chém bêu đầu lên, thì xấu hổ đáng chê thật,
    vì tội lỗi nó đã đáng phải làm vậy; nhược bằng quan tướng trung thần kia, hoặc vì lo việc vua, giúp nước, giữ thành, mà quân giặc chém giết bêu đầu lên, thì sự xấu hổ có đáng chê sao ? Thật là nên trọng vọng đáng kính thờ mà chớ. Cũng một lẽ ấy, Đức Chúa Giêsu chịu đóng đinh chịu chết khốn nạn làm vậy, có ý chuộc tội cho cả và thiên hạ thì có đáng chê nhạo sao ? Thật thì ông chưa hiểu tỏ lẽ ấy, thì nói làm vậy mà chớ.

    Thày Hòa thượng rằng:
    Chưa biết chuộc tội cho thiên hạ hay là chuộc tội cho mình; vì thuở xưa, đức Phật Thích ca và đức Chúa Giê su là hai anh em, đức vua cả Ngọc Hoàng trên trời sinh ra; mà đức Phật Thích ca có nhơn hậu từ bi đẹp lòng vua cha lắm, nên đặng làm tiên làm Phật đáng ngồi tòa sen; bằng đức Chúa Giêsu là em chẳng đặng thể ấy, bởi có tính hung dữ độc địa, cho nên vua cha phạt đày xuống hạ giới, phải luận tội đóng đinh thập tự mà chết, ấy là sự tích người làm vậy. Mà sao Tây sĩ xưng rằng: Đức Chúa Giêsu chuộc tội cho thiên hạ, thì đã thật lắm sao ?

    Tây sĩ rằng:
    Thày Hòa thượng nói nghe dễ lắm chúc ! vì bên nhà Phật xưng rằng: Ngọc Hoàng là con vua Quang Nghiêm ở đất Dịu Lạc, mẹ là Bửu Nguyệt Quang, sinh ra Ngọc Hoàng, tháng giêng, ngày mồng chín, giờ ngọ. Ấy là sự tích Ngọc Hoàng đã chép làm vậy, mà sao thày rằng: là hai con đức vua trên trời? Chớ thì trên trời thiếu vua trị, mà phải chọn lấy Ngọc Hoàng là người thế gian, đem lên làm vua cả trên trời, thì năm nào, sách nào chép tích ấy ?
    Còn Thích ca là con vua Tịnh Phạn Vương ở nước Thiên Trước, mẹ là Ma Da Thị, sinh ra Thích Ca là ngày mồng tám tháng tư, đời nhà Châu, vua Chiêu Vương. Ấy sách Nhu đã chép rõ ràng làm vậy, mà sao thày còn quyết rằng: Ngọc Hoàng là cha sinh ra Thích Ca nào nữa? Nói làm vậy chẳng nghịch với sách sao ? Chớ thì có mấy Phật Thích ca, hay là Ngọc Hoàng có chung vợ với Tịnh Phạn Vương mà sinh ra con sao ? Ấy đều này còn nói thể ấy, huống chi còn nói đều khác. Có lời trong sách Sử rằng: Phụng Phật chi cẩn, xá thí chi đa, vô dĩ du ư Lương Võ; nhiên tắc ngạ tử ư Đại thành, nhi Phật bất chi cứu; nghĩa là, thờ Phật hết lòng, cúng thí rất nhiều, không ai hơn vua Lương Võ Đế; nhưng mà vua ấy chết đói đất Đại Thành, mà Phật cũng chẳng cứu. Ấy là việc tỏ tường ai ai cũng biết.

    Nhu sĩ rằng:
    Chớ thì Giêsu sinh ra ở nước nào, mà có làm đặng công ơn gì, thì ắt là cho một ít kẻ ở nước ấy đặng nhờ mà thôi; nào can chi đến cả phương đông này, đã cách bờ cõi, lại khác thế giới . Vả lại bên này, nào có ai biết Giêsu là ai, nào có ai khiến, mà sao rằng: chịu chết cho muôn dân đặng khỏi tội, thế chẳng ra đều hoang đàng lắm sao ?

    Tây sĩ rằng:
    Dầu mà Đức Giêsu khi mới giáng sinh ở trong nước Giudêu, song người đã có ý làm ơn cả thể, là chuộc tội cho muôn nước muôn đời nữa. Như mặt trời vốn mọc ở phương đông, song chẳng những là soi cho một phương đông, mà lại cũng soi sáng cả bên tây, bên nam, bên bắc nữa, thì ơn chuộc tội này cũng như làm vậy.

    Nhu sĩ rằng:
    Đã vậy, các đấng từ Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Đế, Nghiêu, Thuấn, Võ Thang, Văn Võ, Châu Công, Khổng Tử, kể là liệt vị đại thánh, đại hiền, là các vị thánh hiền cả, thì Giêsu có chuộc tội cho những đấng ấy chăng ?

    Tây sĩ rằng:
    Có, bởi vì thuở xưa ông Adong là tổ loài người, cả lòng nghịch mạng Thiên Chúa mà ăn trái cấm, cho nên ông Adong cùng hết thảy con cái cháu chắt bởi ông ấy sinh ra, cũng gọi là dòng dõi kẻ nghịch, kẻ ngụy; bởi đó hễ ai thóat sinh ra đều mắc lấy tội, gọi là tội tổ tông truyền, chẳng khỏi sốt. Như lời Kinh Diệc rằng: Tất đãi tự thiên hữu chí, nhiên hậu họach miễn, nghĩa là, phải đợi trên trời tha cho mới khỏi. Vì vậy ai ai cũng phải nhờ ơn Chúa Cứu Thế chuộc cho, thì mới đặng rỗi mà chớ.

    Nhu sĩ rằng:
    Nếu Giêsu là Chúa thật thiên hạ, là Chúa trời đất, mà chẳng có phép tha tội cho kẻ phạm đến người đặng sao ? Sao người phải chịu nạn chịu chết thì mới đền đặng tội ? Chớ thì phép tắc vô cùng ở đâu ? phép tắc vô cùng làm những sự gì ?

    Tây sĩ rằng:
    Thật Người là Chúa cả trời đất, người ta cùng muôn vật, phép tắc vô cùng, muốn sao thì nên vậy, muốn tha tội cho kẻ phạm đến người, thì cũng đặng. Song bổn tính Đức Chúa Trời rất công chánh, thấy tội thì đều phạt cho công thẳng, thì mới hiệp đức công bình, phạt cho thẳng mà chẳng cứu lấy, chẳng chuộc tội cho, thì lại chẳng tỏ đức nhơn từ vô cùng, hay thương hơn hay phạt. Vì vậy Người đã muốn chịu nạn chịu chết để mà đền tội cho cả và lỗi người ta, thì mới vẹn đức lòng lành vô cùng, hay thương vô cùng, chẳng bỏ kẻ có tội chết hư mất đời đời.

    Nhu sĩ rằng:
    Vốn tính tự nhiên ai ai cũng yêu mình trước, chớ hề thấy ai yêu kẻ khác hơn mình bao giờ. Vả lại nếu Đức Chúa Giêsu có thương kẻ có tội mà tha cho nó, thì kể là may phước cho nó lắm. Lẽ đâu mà chịu nạn chịu chết đền cho kẻ có tội, thì đều ấy chẳng khó nghe, khó hiểu lắm sao ?

    Tây sĩ rằng:
    Đều ấy khó nghe, khó hiểu cũng phải, vì là sự rất hiếm rất lạ trong đời; song thử xem những tích trong sách thể nào. Kìa vua Nghiêu, khi thấy kẻ có tội thì nói rằng: Ngã hãm chi dã. Là trẫm làm cho nó mắc tội. Võ vương kiến tội nhơn tắc hạ xa vấn nhi khấp chi, vua Võ vương thấy người tội, thì xuống xe hỏi mà khóc. Vua Thành Thang thấy thiên hạ lâm phải đại hạn mười năm, thì vua liền ăn chay cắt tóc, bó mình làm vật hy sinh, là của tế lễ; lại lấy sáu tội trách mình, dưng mình tế lễ ở nội Tang lâm. Vua Tông thấy sâu ăn hết lúa thì rằng:
    Thà bay ăn gan ruột trẫm, chẳng thà ăn hết lúa là của nuôi dân sống,”
    liền bắt lấy con sâu keo gớm ghiếc ấy mà nuốt đi.
    – Ấy các vua là đấng rất cao rất trọng, cầm quờn thưởng phạt trong nước, khi thấy tội dân mà còn nhìn là tội mình, đau đớn sa nước mắt; khi thấy sự tai cực đến trong dân, thì chẳng nỡ để cho dân chịu, bèn hạ mình xuống cam chịu lấy cả kẻo khốn dân.
    Ấy bấy nhiêu đấng cũng là người ta, mà còn biết thương dân sự dường ấy, cho đến đỗi chẳng tiếc sự sống mình làm vậy; huống chi Đức Chúa Giêsu là Đấng chí tôn vô đối, chí nhơn chí mĩ (rất nhân từ, rất đẹp đẽ), đã sinh ra cả và loài người ta mà chẳng hay thương xót thiên hạ bằng các vua đã kể trước này sao ?

    Nhu sĩ rằng:
    Đều này thật là kỳ quái, là Đức Chúa Giêsu mới sinh ra đời nhà Hán, vua Ai Đế, là đời hậu thế, mà đã chuộc tội cho người thượng cổ cách ba bốn ngàn năm trước làm sao đặng ?

    Tây sĩ rằng:
    Dầu Đức Chúa Giêsu mới sinh ra đời hậu thế , mà muốn chuộc tội cho những người đời thượng cổ, thì cũng đặng. Hãy xem đời nhà Thương, thiên hạ phải tay vua Trụ rất dữ tợn cai trị, thì khốn nạn biết là ngần nào: các quan quyền phần thì phải chết, phần thì phải giam cầm tù rạc, biết bao giờ khỏi, cho đến đời nhà Châu, may được vua Võ vương khoan nhơn đại độ, liền truyền đại xá mở cửa tù ra thì các quan trước đời vua Trụ cầm trong ấy đặng ra khỏi. Cũng một lẽ ấy, bởi tội cho nên linh hồn người ta bấy nhiêu đời trước dầu thượng cổ, trung cổ, cũng phải tay ma quỉ rất độc dữ cai trị buộc cầm hết thảy đến đời Đức Chúa Giêsu xuống thế, là như vua Võ vương phá trừ phép ma quỉ mà cứu thiên hạ khỏi vòng tội lỗi, nào có khó gì ?

    Nhu sĩ rằng:
    Còn một đều thái mê hoặc, là rất mê muội, là bà Maria vô nhơn đạo nhi sanh tử, là chẳng theo thói thường mà sinh con. Lại rằng : sanh đọan hãy còn đồng trinh, thì lẽ nào đặng sao ? Và người thể ấy có đáng khen đáng thờ sao?

    Tây sĩ rằng:
    Vô nhơn đạo nhi sanh tử là đều khó hiểu thật; nhưng mà do nhơn đạo nhi sanh, là, theo thói thường mà sinh con, nào có dễ hiểu sao ? Dầu cho đấng rất thông thái thể nào, biết cho thấu lẽ ấy cũng chẳng đặng. Mà bởi vì sự theo thói thường mà sinh con là việc thường thấy, dầu người ta chẳng hiểu, song chẳng lấy làm lạ gì; còn chẳng theo thói thương mà sinh con, người ta cũng chẳng hiểu, mà bởi việc không thường thấy, thì lấy làm lạ; vậy sự do nhơn đạo nhi sanh, hay là sự bất do nhơn đạo nhi sanh, cả hai đều ấy chẳng ai hiểu đặng, dầu cha mẹ sinh con cũng chẳng hiểu đặng, Vậy sự sinh con dầu cách nào mặc lòng cũng bởi phép Chúa đã phán định làm vậy, mới gọi Người là Đấng khôn ngoan vô cùng, phép tắc vô cùng; có lẽ nào trí mọn người ta thấu hiểu đặng đâu ? Đầu hết, bởi không Người dựng nên trời đất nhân vật, mà chẳng ai chê là sự trái mê hoặc, song đạo ta nói rằng: Người dùng máu cực sạch trong lòng bà Maria mà dựng nên Chúa cứu thế, Nhu sĩ dám chê là sự thái mê hoặc sao ? Thiên Chúa chẳng phải là Đấng phép tắc vô cùng, muốn sao nên vậy sao ? – Còn sự bà Maria sinh con mà hãy còn đồng trinh , là việc Thiên Chúa làm khó gì đâu ? Như yếng (ánh) sáng mặt trời thấu qua bình thủy tinh mà bình thủy tinh chẳng bể chẳng hại chút nào ? Bà Maria sinh con cũng như làm vậy. – Hay là như lửa nung vàng không làm cho vàng càng ra sạch và sáng hơn. Vàng là đồng trinh, lửa là sự sinh đẻ bởi phép Chúa. – Còn sự Nhu sĩ trách rằng: Người thể ấy đáng khen, đáng kính thờ sao ? thì hãy xem ở đời này, người nào đặng làm mẹ đấng vua chúa, thiên hạ còn phải kính chuộng, còn tôn là đức Hoàng thái hậu, đức thánh từ, đức thánh mẫu: người thăng hà là chết đọan, các quan và dân sự còn phải tang phục. Huống chi Cứu Thế chi thánh mẫu kỳ lâm thuần tủy vô tì, kỳ đức tòan mãn vô khuyết, thượng ưng thiên Chúa chi sủng tích, hạ vi chúng nhơn chi từ thị, nghĩa là Mẹ Chúa Cứu Thế là Đấng rất thánh, lòng người rất trong sạch chẳng đúng bọn nhơ, Người gồm no các nhơn đức, trên thì đặng thiên Chúa ban ơn cho, dưới thì làm cho mọi người đặng cậy nhờ mà chẳng đáng kính chuộng chẳng đặng thờ lạy hơn mẹ vua chúa thế gian này thì làm sao ?

    Nhu sĩ rằng:
    Bên đạo có dạy thờ phượng đấng làm vua chúa chăng ?

    Tây sĩ rằng:
    ///Có, vì trong đạo gọi đấng làm vua vi nhất quốc chi đại phụ, thị quốc như xích tử, nghĩa là , một đấng cha cả trong nước coi sóc mọi người như con. Vì vậy dạy các người trong nước phải lấy năm sự này mà kính thờ vua chúa là,
    Nhứt tắc tôn kính vi nhứt quốc chi thượng, nghĩa là trước phải tôn kính làm bề trên cả trong nước; nhị tắc thọ mạng, tuy lao khổ bất từ ,
    hai là phải vưng lịnh người dạy, dầu khó nhọc cũng chẳng từ; tam tắc phụ tùng cúng cấp,
    ba là phục chịu xâu thuế; tứ tắc hữu sự tương trợ,
    bốn là khi có việc thì sẵn lòng giúp đỡ; ngũ tắc tận trung báo ân,
    năm là hết lòng trả ơn chớ khá mống lòng ngụy nghịch. Ấy là năm sự về thờ phượng đấng vua chúa thì làm vậy.

    Nhu sĩ rằng:
    Trong đạo có dạy thờ cha mẹ là thể nào nữa chăng ?

    Tây sĩ rằng:
    Trong đạo thánh có điều răn con cái phải thảo kính cha mẹ; thì buộc kẻ làm con phải làm bảy sự này mà phượng dưỡng cha mẹ. Nhứt tắc kỉnh úy, một là sợ; nhị tắc tùng mạng, hai là vưng lời; tam tắc phượng dưỡng, ba là dưỡng nuôi, tứ tắc khuất nhẫn, bố là nnín nhịn, ngũ tắc tử hậu dĩ lễ táng chi, năm là khi chết phải chôn theo phép Hội Thánh; lục tắc xá thí bần nhơn vị phụ mẫu linh hồn khẩn kì ư Thiên Chúa, sáu là bố thí cho kẻ khó khăn mà cầu cùng Chúa cho linh hồn cha mẹ; thất tắc cảm tứ chung thì, thường vị phụ mẫu hiền kính thất lễ; bảy là trọn đời cám nhớ, hằng phải cầu hồn xin lễ cho cha mẹ. Ấy là bảy đều dạy con cái, phải sớm viếng tối thăm, mà phượng dưỡng cha mẹ, khi còn sống và khi qua đời. Ấy là phép đạo dạy thờ tam phụ; hạ phụ là cha mẹ, trung phụ là đấng làm vua, thượng phụ là Thiên Chúa thì làm vậy.

    Nhu sĩ rằng:
    Đều nói báo hiếu là nói cho ai vậy, vì khi cha mẹ chết, thì đem đi chôn sấp chôn ngửa vậy mà thôi; nào thấy tế lễ gì đâu mà rằng phượng dưỡng ? Nào có thấy mão gậy chi đâu cho ra
    tang chế, mà rằng: báo hiếu ?

    Tây sĩ rằng:
    Trong đạo dạy thờ tam phụ, song sai đẳng chẳng bằng nhau: mà việc tế lễ là cách thờ phượng trọng thể nhứt, thì có một Đấng thượng phụ đáng việc trọng thể ấy mà thôi. Vậy con cái chẳng dám tôn cha mẹ, là bậc hạ phụ, lên bằng thượng phụ, cho nên chẳng dám tế lễ, Vả lại khi hành lễ, thì có mời tư văn bổn hội, sanh đồ hương cống, quan viên chức sắc, mặc đại mão, hia tất, dưng cơm, đốt hương, đọc lời chúc văn, rót rượu pha trà, Làm những việc trọng thể dường ấy, có xứng cho cha mẹ ngồi mà chịu sao ? Kìa lời ông Khổng tử dạy rằng:
    Sự tử như sự sanh hiếu chi chí dã, nghĩa là, thờ khi chết như thờ khi sống, ấy là rất thảo. Nào
    khi cha mẹ còn sống, có dám ngồi trên giường cho sanh đồ, hương cống quì xuống mà dưng cho mình ăn uống bao giờ đâu ? Ông Thành Trinh trách rằng: Thiên hạ sự tử bất như sự sanh, sanh nhi bất sự tử tắc sự chi, kì mậu dĩ thậm, nghĩa là, người thiên hạ thờ khi chết chẳng như thờ khi sống, khi còn sống chẳng thờ, đến khi chết mới thờ, thì thật sai làm đã lắm.- Còn sự mão gậy trong sách Gia Lễ, là lễ ông Châu Văn Công lập ra. Khi người làm lễ hiếu sự cho cha mẹ người, thì người mặc áo ấy, đội mão ấy, tuy là áo gai mão chuối mặc lòng, song hình dạng thể thức cũng về phẩm kẻ tấn sĩ đời nhà Tống, mới có đầu cân dải đến gót làm vậy; nào kẻ thứ dân chức phẩm gì, sao đặng bắt chước người mà dùng cân đai thể thức ấy, thì chẳng phải là tiếm lễ sao ? Cho nên ông Ôn công rằng: Lễ tắc pháp dã, lễ tắc danh phận dã, nghĩa là, lễ là phép, lễ là theo danh phận vậy. Mà ông Khổng tử cũng trách họ Tam Gia về sự tiếm lễ rằng: Hề thủ ư Tam Gia chi đường, nghĩa là, những lễ phép ấy làm trong nhà họ Tam Gia, nào có nghĩa lý gì đâu ?
    Nhu sĩ rằng:
    Đã vậy chẳng tế lễ thì chớ, nhơn sao khi dọn cỗ bàn rồi, xúi xúi cứ ăn, mà chẳng đoái nhớ cha mẹ, chẳng mời cùng người ăn uống với, thế thì làm vậy có hiếu sao ?

    Tây sĩ rằng:
    Vốn người ta ăn uống của dương thế cho đặng khỏe đặng sống, nhưng mà khi đã chết thì thôi, vì ngũ quan đã hư nát, ngũ tạng đã rã rời, còn ăn gì đặng nữa mà mời ? Cho nên trong tiểu chú Kinh Thi, Châu thị viết: Phụ mẫu kì một, dung mạo bất khả dĩ phục kiến, âm hưởng bất khả phục văn, tuy hữu cam chỉ khinh noãn, diệc vô sở phụng chi dã, nghĩa là khi cha mẹ đã chết rồi, thì hình tượng chẳng còn thấy đặng, tiếng tăm chẳng còn nghe đặng, dầu có những vật ăn ngon ngọt, đồ mặc nhẹ ấm, cũng chẳng có lẽ mà dưng cho cha mẹ nữa. Còn linh hồn là tính thiêng liêng hằng sống, chẳng hay mòn chẳng hay nát, cũng chẳng ăn uống của thế gian này đặng. Vả lại linh hồn trọng hơn xác muôn phần, nếu lại lấy của phàm tràn xác ăn mà mời linh hồn ăn, thì chẳng những là chẳng làm ích gì, mà lại ra như trêu chọc nhạo cười cha mẹ vậy. Cũng như khi cha mẹ đã già nua răng rụng mà con lại đem khúc mía, bánh khô đến mời cha mẹ ăn, thì cha mẹ có ấy làm toại lòng chăng ? Có lấy sự ấy làm hiếu chăng ? Ấy là cũng một cách khi xác còn sống, cũng là một cách khi xác còn sống, cũng là một của ăn người đã dùng khi trước, song khi già nua răng rụng chẳng còn sức dùng đặng nữa, mà thấy con cái đem của ấy đến, còn lấy làm buồn, huống chi rày đã về kiếp khác, mà con cái còn lấy của xác hèn ăn xưa, mời linh hồn thiêng liêng ăn hưởng làm sao cho đáng ? Cha mẹ có lẽ nào lấy sự ấy làm hiếu sao ?

    Nhu sĩ rằng:
    Chớ thì ông Khổng tử dạy sự vong như sự tồn, hiếu chi chí dã, là, thờ chết như thờ sống, ấy là đều rất hiếu, thì làm sao ? Chẳng phải là cha mẹ còn sống đã dùng của gì, thì khi người tạ thế đọan, lại phải lấy của ấy mà phượng dưỡng sao? Thày cứ đâu mà nói đều cha mẹ chẳng hưởng ?

    Tây sĩ rằng:
    Ví bằng ông cứ đều ấy mà rằng: phải nuôi cha mẹ khi chết cũng bằng khi sống, chúc ấy phải phượïng dưỡng cơm nước một ngày là ba bữa, ít nữa là một ngày hai bữa, thì mới phải. Nhơn sao khi mới chết có đặt tế đơm cơm bữa tối bữa sáng, rồi thì cách khỏan ra, bảy ngày một lần đơm, ba mươi ngày một lần, sau hết một năm mới mời một bữa; còn những ngày khác thì cha mẹ lấy đâu mà ăn cho sống ? Ông đã biết thật phải nuối cha mẹ, chẳng nên để cho người đói khát mà có tội, mà sao một năm mới nhớ đến người một bữa, rồi lại đưa người đi ? Thể ấy có hiệp chữ sự tử như sự sanh sao ? Sách nào dạy muốn cho người ăn thì cho, muốn bỏ thì bỏ ? Thể ấy có gọi là hiếu chi chí dã chăng ? Sách làm vậy có nên cứ chăng ?

    Ấy ông xem hai bên: một bên thì tin thật linh hồn ông bà cha mẹ đã về kiếp khác thì thôi, chẳng còn trở lại ăn của dương thế nữa, cho nên con cháu chẳng đơm quải, chẳng mời khẩn nữa; mà bên kia tin rằng linh hồn còn về ăn uống như thuở bình sanh, lại có phép phù hộ cho con cháu, tin làm vậy mà lại bỏ chẳng cho ăn uống, hay là một năm mới cho ăn một bữa, rồi lại đưa đi; vậy thì bên nào thật, bên nào hư ? – Kìa lời vua Hạ Võ rằng: Sanh ký dã, tử quy dã, là làm sao ? Nghĩa là, sống là tạm gởi, thác là về quê. Ví bằng kẻ lành đã đặng về quê thật thiên đàng, chầu chực Thiên Chúa, đặng phước vô cùng, lẽ nào còn phải đói khát, tìm về nhà ăn hưởng với con cháu một bữa, mới đặng phỉ chí sao ? Lẽ nào dám bỏ việc rất trọng chầu chực Thiên Chúa, để chốn rất thanh nhàn thể ấy mà về chốn trần ai khổ hải, cho đặng ăn uống với con cháu, thì lấy làm trọng hơn sao ? Nhược bằng kẻ dữ đã phải giam cầm nơi ngục đời đời, dầu muốn ước ao hết sức cho đặng ra khỏi đó mà về, phép nào mà mình về đặng sao ? Cho nên lời vua Hạ Võ rằng: Tử qui dã, thì là thật lắm. Còn về sự phù hộ cho con cháu thì khi chết rồi cũng như khi còn sống, con cháu hoặc phải đau bụng, hoặc phải đau mắt, hoặc phải nóng rét, thì cũng chẳng có phép cất bịnh ấy cho nó khỏi đau đặng; lại có khi thấy nó hấp hối nằm trên tay mình mặc lòng, cũng chẳng có phép gì cầm lại cho nó khỏi chết đặng; huống chi bây giờ đã về kiếp khác mà phù hộ làm sao cho đặng ?

    Nhu sĩ rằng:
    Nhơn sao chẳng lạy cha mẹ, hay là cha mẹ đã chết chẳng phải là cha mẹ mình nữa sao ?

    Tây sĩ rằng:
    Phải biết trong mình người ta có hai phần: phần trọng hơn là linh hồn, vi vạn chi tối linh, là rất thiêng hơn muôn vật: phần kém hơn là xác thịt: sanh thổ phản thổ, là, sanh ra bởi đất rồi trở về đất. Vậy khi cha mẹ còn sống, con cái muốn lạy mà tỏ ra lòng cung kính, mến yêu cùng
    mừng người, thì nên, cũng là việc phải lẽ: song khi cha mẹ đã tạ thế, thì linh hồn là phần cực trọng đã ra khỏi xác đoạn , cũng như đức vua đã ngự ra khỏi đền rồi, dầu xác đang nằm trên giường, thì xác cũng như áo long cầu đức vua mặc, đã cổi ra để đó vậy. Xưa nay có quan nào, khi đức vua đã ngự ra ngoài mà còn chầu chực lạy cái áo không để đó, có lấy làm phải lẽ chăng ? Hay là, khi cha mẹ đang giấc ngủ mê, con cái có kính lạy cùng mời người ăn uống mặc lòng, thì người cũng chẳng hay gì sốt. Song từ xưa đến nay, nào có thấy ai lạy cha mẹ đang khi người ngủ mê mà lấy làm hiếu kính sao ? Nào có thấy ai mời người ăn uống đương (đang) lúc ngủ bất tỉnh nhơn sự mà kể rằng : đã cho cha mẹ ăn uống sao ?
    Kìa vua Tống Huy Tông, khi bị người nước Kim bắt đem về phương bắc, mà ông Cao Tông là con, người rằng: Vua Huy Tông là cha, cách mặt ở cõi bắc, thì con an lòng sao đặng ? liền làm lễ vọng bái ở đất Việc Châu, lại làm lễ ấy ở đất Thiệu Hưng nữa; mà ông Huỳnh Phát Trai chê trách: Vua Cao Tông khi ấy dầu có lạy vọng, cũng chẳng ai khen rằng: có thảo cùng cha; dầu không lạy cũng chẳng ai chê rằng: không thảo cùng cha. Nếu vua biết sự thảo cho thật, thì chẳng làm việc hư văn thể ấy làm chi, vì vua Huy Tông đang phải giam cầm ở cõi bắc, nào có trông cho con lạy thể ấy đâu ? một trông cho con liệu cách nào mà đem cha về khỏi chốn ấy mà chớ. Cho nên thị thần là Hồ Diễn khuyên vua Cao Tông : Vụ thật hiệu khử hư văn, là lo việc thật mà đem cha về, đừng làm việc hư văn làm chi.Bởi đó trong đạo, khi cha mẹ qua đời đoạn, con cứ việc đọc kinh càu nguyện cùng làm nhiều việc lành khác, để giúp linh hồn người, mà chẳng có làm sự hư văn là lạy bóng lạy gió, lạy khỏan không làm vậy, vì chẳng đặng ích gì cho cha mẹ đâu.

    Khi ấy quan lớn mới phán đoán rằng:
    (Đoạn này chỉ có trong bản Quốc Ngữ Latinh; bản Nôm không có)
    Thày Nhu sĩ dạy thờ thánh Khổng tử ở nước Lỗ, và Tứ Phối Thất Triết; thày Hòa Thượng dạy thờ Phật Thích Ca ở nước Thiên Trước và các bụt; thày Pháp sư dạy thờ Lão Quân ở xứ Hồ Quảng, cùng 12 vua Hành Khiển; còn thày Tây sĩ dạy thờ Thiên Chúa là đấng dựng nên trời đất, thần, người, muôn vật; và thờ phượng Đấng cứu chuộc lỗi người ta cho đặng sống đời đời; lại thứ nhứt dạy thờ thượng phụ là Thiên Chúa, cầm quờn sanh tử thưởng phạt muôn dân muôn nước đời này và đời sau chẳng cùng; thứ hai dạy thờ trung phụ là đấng làm vua, cầm quờn sanh tử thưởng phạt ở đời này trong cả và nước; thứ ba dạy thờ hạ phụ là cha mẹ là đấng sanh thành dưỡng dục con cái, cùng làm bề trên một nhà. Những lẽ đã nói cùng những tích kinh sách đã trưng thì ta cũng đã nghe rõ ràng . Song lẽ thày Tây sĩ nói thì ta lấy làm vững chắc hơn lẽ ba thày đã nói trước, cho nên trong đều thứ hai là Người ta ở đời này phải làm thể nào, thì ta đoán đạo Thiên Chúa phải lẽ hơn và vững hơn mọi đàng.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    NGÀY THỨ BA
    Giải điều thứ ba, là sự sau cùng hết, người ta chết rồi đi đâu ?

    Nhu sĩ rằng:
    Vốn loài người ta, trong sách có nói: khí tụ tắc sanh, khí táng tắc tử, dữ cầm thú vô dị, nghĩa là, lỗi người ta, khí nhóm lại thì sống, khí tan ra thì chết, chẳng khác chi cầm thú vậy. Lại ông Ôn công rằng: Nhơn tử tắc hình thể tiêu diệt dữ thảo mộc đẳng, kì thần phiêu như phong hỏa, nghĩa là, người ta chết thì hình thể tiêu mất cũng như cỏ cây vậy, còn thần hồn thì bay đi như gió như lửa vậy.Lại nơi khác rằng: Nhơn tử cốt nhục qui vu thổ, huyết qui vu thủy, hồn khí qui vu thiên, nghĩa là người ta chết, xương thịt trở về đất, máu trở về nước, hồn khí trở về trời.

    Tây sĩ rằng:
    Cứ như đều ấy, khi chết đọan thì mọi sự tan đi mất; chẳng còn tội, chẳng còn phước, chẳng còn thưởng chẳng còn phạt; chết đoạn người ta cũng như muông chim, cây cối vậy; chúc ấy kẻ khi trước đã gia công sửa tánh tu đạo, bây giờ sẽ phàn nàn vì đã mất công chẳng ích gì; mà kẻ ngỗ nghịch, buông tuồng theo tính mê đắm, khi ấy vui mừng, vì chết rồi thì thôi. Như quân đi chiến trận về không thưởng không phạt, thì còn ai lo thắng bại làm chi ?
    Lại rằng: chết đoạn, cốt nhục qui vu thổ, hồn khí qui vu thiên cả. Vậy kẻ tu nhơn tích đức trọn đời hồn khí cũng về trời; kẻ làm ngụy làm giặc, tà dâm trộm cướp giết người, hồn khí cũng về trời bằng nhau. Nhu đạo Nhu sĩ nói làm vậy, thì để mặc thiên hạ tung hoành, ai muốn làm thể nào thì nên thể ấy sao ? Dầu lành dữ cũng chẳng hề chi, chết đọan cũng chẳng sợ chi, vì ai ai cũng về trời cả. Nói thể ấy có phải lẽ mà nghe đặng chăng ?

    Thày Pháp sư giải câu ấy rằng:
    Bên đạo chúng tôi dạy đời sau bất sanh bất tử, bạch nhựt phi thăng, đằng không nhi khứ, nghĩa là, chẳng sống chẳng chết, ban ngày bay lên trên không mà đi, vì đã có bài thiên dược trường sinh tồn kì thiên niên bất tử là, có bài thuốc thần linh trọn sống ngàn đời chẳng chết.

    Tây sĩ rằng:
    Nếu vậy, nhơn sao các đấng thượng cổ, đế vương, đã thăng hà hết? Ấy những đấng vua thiếu chi sự khôn ngoan, mà sao chẳng tìm đặng bài thuốc ấy ? thiếu chi vàng bạc, mà sao chẳng mua đặng bài thuốc ấy ? Lại những người đã mời các thày chữa cũng đã chết hết chẳng còn sót một người, thì làm sao ? Nào đều bất sinh bất tử ở đâu ?

    Thày Pháp sư rằng:
    Hoặc người ta chẳng tu đức tu tiên cho đặng sống lâu, hoặc khi ốm đau chẳng tìm được thày hay cao tay mà chữa, hoặc đã đến khi mạng trở định mà thôi; vì chúng tôi chữa bịnh chẳng có chữa mạng đâu.

    Tây sĩ rằng:
    Kìa ông Thái thượng Lão quân, Trương Lương, Trương Nghi, Trương Bửu, Trương Đậu, Trương Lịnh, Trương Lỗ, Trương Giác và các sư đã truyền đạo thái bình bùa chú, đều đã chết hết. Chớ thì các ông ấy chẳng có tu đức tu tiên cho đặng sống lâu sao ? Hay là chẳng gặp thày nào hay cao tay mà chữa sao ? Ấy các thày những thờ phượng Ngọc Hoàng, sao chẳng càu khẩn Ngọc Hoàng đổi thiên mạng cho đặng sống lâu mãi ? Sao chẳng dùng bài thuốc tiên dược trường sinh bất tử ? Chớ thì bài thuốc ấy để cho ai, mà chẳng chữa lấy mình cho đặng sống lâu, thì làm sao ? Nói thể ấy có phải lẽ mà nghe đặng chăng ?

    Thày Pháp môn rằng:
    Hễ ai tu đạo nào thì tin đạo nấy, lấy lời trong sách đại thánh đã truyền lại làm cứ làm thật thì thôi, Phước phận thì tại trời, trời cho ai nấy đặng, nào có tại ta muốn mà đặng sao ? Thày đừng nói nữa. Nào có phải tôi đã lập nên đạo, mà tra tôi lắm làm chi ?

    Tây sĩ rằng:
    Đã vậy từ này đừng khoe bởi gặp thày hay cao tay khéo chữa mới sống; bởi chẳng gặp thày hay cao tay khéo chữa thì chết. Đã biết rằng mạng tại trời, thì thôi.

    Thày Hòa thượng giải câu ấy rằng:
    Trong mình người ta có ba giống: đến khi chết đọan, da tan đi mất; xác thịt xương cũng tan đi nữa; còn thần hồn, nếu có rước thày niệm kinh bảo đàng cho, mới đặng thăng thiên vào nước Phật hưởng phước; chẳng vậy thì phải sa hỏa ngục khốn nạn.

    Tây sĩ rằng:
    Niệm kinh bảo đàng là thể nào ?

    Thày Hòa thượng rằng:
    Khi người ta gần chết thì niệm rằng: Phật tánh hỡi, Phật tánh hỗi hãy ra lỗ chóp trên đầu chớ ra cửa con mắt, lỗ tai, mũi, miệng cùng âm môn mà lạc, như lời trong sách Bí truyền rằng: Đầu dã thiên dã; nhược tử đáo thiên hải ngoại không, thăng thiên dã; nhược xuất nhãn nhĩ tị khẩu âm môn, bất thành tiên dã, nghĩa là đầu là trời, bằng chết mà ra chốn biển trời ngoài không, thì là lên trời; bằng ra nơi con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, miệng, âm môn, thì thẳng nên tiên.
    Vậy thì chết đoạn mà linh hồn đi đàng, thì phải xưng mình là con Phật, mới khỏi vào hỏa ngục cùng ba nẻo đàng dữ; phải có sắc Phật mới đặng đi cầu âm không, đến suối Huỳnh Tuyền, đến giếng có cây dừa, mới đặng qua sông Đài Hà, qua đò Tự Nhiên , mới đến bãi cát Trường Sa, mới qua ngã tư có cầu đồng ván sắt hiệu là Âm Không. Có kệ thơ rằng:
    Sống thì lành dữ mặc thân ta
    Thác thì trừ khử nghiệp gian tà
    Chơn tình nhớ lấy kinh niệm Phật
    Dầu vào hỏa ngục lại đặng ra

    Tây sĩ rằng:
    Linh hồn là tính thiêng liêng, không hình, không tượng, khi vào trong xác cùng khi ra khỏi xác là cách mầu nhiệm, chẳng phải ra cửa nào mới khỏi đâu. Nếu vậy kẻ hiền lành nhơn đức khi chết mà hồn chẳng ra nơi chóp; thì sa hỏa ngục; mà kẻ tội lỗi độc dữ gian tà cả đời, đến khi chết, linh hồn nó ra nhằm nơi lỗ chóp thì đặng thăng thiên sao ? Nói vậy có hiệp lẽ công bình sao ?

    Tây sĩ lại hỏi rằng:
    Những linh hồn sa hỏa ngục đã phải chịu hình khổ khốn nạn làm vậy, có lẽ nào cứu đặng cho ra khỏi chăng ?

    Thày Hòa Thượng rằng:
    Cũng có thế đặng, vì đức Phật rất nhơn lành, chẳng muốn cho ai phải khốn nạn, cho nên người đã truyền nhiều cách cho người ta khỏi tội. Dầu người ta yếu đuối chẳng có sức giữ đặng các sự người răn mặc lòng, song đã có chúng tôi giữ thế cho người ta. Tây sĩ hãy xem kinh Đại Thừa Diệu Tiên Liên Hoa. Hễ ai đọc kinh ấy thì mới đặng lên trời hưởng phước ai ai đọc kinh Nam vô A di đà Phật thì khỏi các tội từ bây giờ về trước, cùng khỏi sa hỏa ngục nữa. Bằng những kẻ đã chết rồi, nếu con cháu có rước chúng tôi làm chay làm tiếu, thì đức Phật đã cho chúng tôi phép phá ngục cho các linh hồn trong ấy đặng ra,

    Tây sĩ rằng:
    Các kẻ có tội trong hỏa ngục có đặng ra như vậy hết chăng ?

    Thày Hòa thượng rằng:
    Đều đặng thảy thảy, có một kẻ khinh dể phép Phật, thì người chẳng tha mà thôi

    Tây sĩ rằng:
    Phép phá ngục là làm sao ?

    Thày Hòa thượng rằng:
    Kẻ làm việc ấy phải ăn chay, niệm kinh, đơm tế nhiều ngày, chữa tội ông bà cha mẹ, mà ngày sau hết làm lễ phá ngục cho linh hồn tổ tiên đặng ra, Vì vậy cắm bốn cột giữa nhà, lấy giấy mà dán xung quanh, cùng làm bốn cửa bốn bên, lại làm một cửa ở giữa, đặt hình hỏa ngục, rồi thì tế Thập Điện Diêm Vương là mười vua cai trị âm phủ; lại tế năm vua ở năm cửa, Đông phương thanh đế, Tây phương bạch đế, Nam phương xích đế, Bắc phương hắc đế, Trung phương huỳnh đế, đi xung quanh ba làn, niệm kinh rưới linh thủy rồi gieo hai đồng tiền lấy sấp ngửa, làm dấu các vua đã chịu sự tế cúng lễ. Đoạn thày thứ nhứt cầm gậy phá các cửa ngục cho các hồn trong ấy đặng ra khỏi. Mà lễ phá ngục này đạo Phật đã truyền tỏ tường trong sách Huỳnh đồ Vĩnh quyết.

    Tây sĩ rằng:
    Thày nói đạo Phật truyền lễ này tỏ tường, nhơn sao trong sách kinh bốn mươi hai chương, chẳng thấy Thích Ca chép lời gì về lễ ấy sốt mà sách Đăng Tâm rằng: Lương Võ Đế lập vi trai hội, là từ Lương Võ đế bày ra lễ ấy. Thế thì từ Thích Ca cho đến Lương Võ Đế đã cách nhau 1500 năm, mới lập ra lễ làm chay làm hội để mà phá ngục; mà thày nói rằng : Phật giáo truyền lễ này tỏ tường thì đều ấy đã chẳng hiệp Lại điều phá ngục là làm sao ? Kìa xem vua chúa thế gian lập ngục ra giam cầm kẻ có tội, dầu ai muốn phá, có phá đặng chăng ? Phương chi Đấng phép tắc vô cùng lập ngục giữa trái đất này là chốn rất sâu hiểm, con mắt xem chẳng thấy; mà các thày cũng là người thế gian có xác thịt biết đi đàng nào mà xuống phá ngục đặng ? Vả lại, đám này đã có mời thày phá, đám khác lại mời phá, muốn phá khi nào thì phá, chúc ấy còn đí gì mà gọi là ngục nữa? Nếu vậy những linh hồn trong ấy đã đặng ra hết, thì còn ai ở trong ngục ấy, mà năm khác con cháu còn làm chay chữa tội làm chi nữa, hay là có thày nào lại xây ngục lại chăng ?

    Thày Hòa thượng rằng:
    Bên đạo Tây sĩ cũng thường có làm lễ càu hồn phá ngục đi xông quanh mồ rảy nước thánh, thì nào ai bắt nét, nào ai chê đều ấy ? Cũng một đều mình làm thì đặng, mà nhạo báng kẻ khác làm sao ?

    Tây sĩ rằng:
    Trong đạo chúng tôi làm lễ càu hồn thì có, song chẳng có lễ phá ngục đâu. Vậy có hai thứ linh hồn, một là linh hồn mắc tội trọng đã giam cầm trong hỏa ngục, thì chúng tôi chẳng dám càu cho những linh hồn ấy đâu, vì chẳng có lẽ nào mà đặng khỏi. Hai là linh hồn mắc tội nhẹ, hay là đền chưa đủ, mà phải giam cầm trong luyện khổ, thì chúng tôi có ý làm lễ càu khẩn cùng Thiên Chúa thứ tha, bớt phần phạt cho những linh hồn nơi ngục tạm ấy mà thôi.
    Cũng như sự đời nay vua chúa lập ngục ra có thứ tù trọng tội đã phải bỏ vào ngục khám đường, giam cầm cho đến chết, thì chẳng ai vào kêu cho tù ấy nữa đâu. Còn thứ tù tạm, giam vạ mọn vì mắc tội nhẹ, hay là mắc công nợ trả chưa đủ, thì con cháu có thế chạy chuộc cho lại đặng ra khỏi. Ấy lễ chúng tôi càu hồn cũng như làm vậy: nào chúng tôi có dám phá ngục như các thày đâu ?

    Nhu sĩ rằng:
    Ba đạo đã giải rồi, thì đạo Tây sĩ giải câu ấy làm sao ?

    Tây sĩ rằng:
    Trong đạo chúng tôi dạy bốn đều cả thể sau hết, gọi là tứ chung: một là sự chết, hai là sự phán xét, ba là hỏa ngục, bốn là thiên đàng. Vậy trước hết sự chết, bởi tội tổ tông, nên Chúa đã đoán định cho loài người ta phải chết, dầu ai ai, đấng bực nào, dầu khôn khéo thể nào mặc lòng, thì cũng chẳng ai khỏi đặng.
    Hai là sự phán xét, là hễ người nào khi tắt hơi vừa đoạn, dầu xác còn nằm trên giường, tức thì thánh thiên thần bổn mạng đem linh hồn người ấy đến trước tòa Thiên Chúa rất oai nghi công thẳng, chịu Người phán xét về mọi việc mình; những sự tư tưởng kín nhiệm trong lòng, mọi lời đã nói, mọi việc đã làm dầu lành dầu dữ , từ khi có trí khôn cho đến khi ấy, bao nhiêu tội, bao nhiêu phước, thảy thảy đều bày ra hết chẳng sót sự gì cả, cũng chẳng chữa lỗi mình mà đổ cho ai đặng; mỗi một người đều phải gánh lấy của mình là những việc lành dữ, đã làm khi còn sống,
    Ba là Hỏa ngục, vì thuở tạo thiên lập địa, Chúa đã dựng nên trên chốn ấy cách xa nước Thiên đàng, song phân làm bốn từng; một là Lâm bô, hai là Hài sở, ba là Luyện ngục, bốn là ngục Vĩnh khổ.
    Lâm bô là từng ở ngoài và ở trên hết, là nơi linh hồn các thánh tổ tông xưa khi sinh thì (chết) đọan còn phải ở đó, đợi trông Chúa Cứu Thế ra đời chuộc tội cho thiên hạ, đoạn các thánh ấy mới đặng lên Thiên đàng;
    Hài sở là nơi những linh hồn con trẻ mới sinh ra mà chết khi chưa đặng chịu phép rửa tội;
    Luyện ngục là nơi giam cầm của linh hồn kẻ có đạo, khi chết hoặc còn mắc tội nhẹ, hoặc đền tội trọng chưa đủ, thì phải chịu lửa nung đốt cho đến khi sạch hết tội vạ mới đặng ra khỏi đó mà lên Thiên đàng;
    Ngục Vĩnh khổ là nơi rất sâu hiểm, giam cầm các ma quỉ và các kẻ vong ân bội nghĩa, chẳng thờ phượng Thiên Chúa, chẳng giữ luật phép Người răn dạy. Ngục này những lửa sinh lửa diêm, cùng muôn muôn vàn vàn hình khổ rất khốn nạn vô cùng. Những kẻ bị giam cầm trong ấy phải thiêu đốt đời đời, cũng chẳng hề có bao giờ chết đặng cho khỏi sự khốn ấy.
    Bốn là Thiên đàng là chốn rất sang rất trọng, rất thanh nhàn, rất vui vẻ, gồm no mọi sự phước đức, Thiên Chúa đã dựng nên để thưởng các Thiên thần cùng các Thánh nam nữ là những người khi còn sống ở đời này đã thờ phượng Thiên Chúa và giữ luật Người cho trọn, thì khi chết đoạn linh hồn lên trên ấy chầu chực Thiên Chúa, hưởng phước vô cùng. Ấy là tứ chung thì làm vậy.

    Còn việc cả thể sau hết nữa là khi thiên địa cùng tận là ngày tận thế, thì Thiên Chúa cho mọi người đã chết từ tạo thiên lập địa cho đến ngày ấy đều sống lại thay thảy: những linh hồn kẻ lành ở thiên đàng, những linh hồn kẻ dữ ở hỏa ngục, đều phải nhập vào xác cũ mình, tựu đến một nơi gọi là đồng Giôsaphát mà chịu phán xét chung trong một khi ấy; đọan linh hồn và xác kẻ lành lên thiên đàng sáng láng tốt lành, vui vẻ vô cùng; còn linh hồn và xác kẻ dữ phải phạt xuống hỏa ngục khốn nạn đời đời kiếp kiếp.

    Nhu sĩ rằng:
    Khi nãy đã nói: hễ ai chết đọan thì Thiên Chúa đã phán xét, kẻ lành cho lên Thiên đàng hưởng phước, kẻ dữ bỏ xuống hỏa ngục chịu phạt rồi. Nhơn sao thày lại nói rằng sẽ có ngày Thiên Chúa lại gọi lại khắp mọi người sống lại, đến một nơi mà chịu phán xét làm sao nữa ? Chớ thì trước khi Thiên Chúa chưa xét đoán nên sao ? Ấy chính việc Người đã làm, nào có phải việc ai làm, mà phải làm đi làm lại nhiều lần, thêm việc thể ấy làm chi ?

    Tây sĩ rằng:
    Việc Thiên Chúa làm thì có nhiều ý sâu nhiệm. Vì một là khi phán xét lần trước, mới có một linh hồn đặng hưởng phước hay là chịu phạt mà thôi, xác thì còn ở dưới đất này. Ngày ấy mới cho xác cũ sống lại, vì xác kẻ lành xưa đã giúp linh hồn làm nhiều việc phước đức, đã thờ phượng Thiên Chúa hết lòng, thì bây giờ cho linh hồn hiệp với xác, cả và hai đều đặng thưởng. Lại xác kẻ dữ xưa cũng đã giúp linh hồn làm việc tội lỗi, chẳng thờ phượng Thiên Chúa cho nên, thì bây giờ lại cho xác hiệp với linh hồn, cả và hai đều chịu phạt; làm vậy mới hợp phép công bình.
    Hai là phán xét lần trước, kẻ lành, kẻ dữ đặng thưởng hay là chịu phạt, thì thiên hạ chưa biết rõ, vì việc lành phước đức nào mà người kia đặng thưởng dường ấy, vì những tội lỗi xấu xa nào mà kẻ nọ phải phạt dường ấy, lần này thì cả và thiên hạ muôn đời đặng rõ biết Chúa là đấng công bình vô cùng; vì kẻ làm việc lành phước đức, khi ở đời này, những chịu người ta khinh dể nhạo báng, bắt bớ làm khốn cực chẳng khi đừng mà khi ấy đặng phần thưởng vui vẻ thanh nhàn thì càng thêm sang trọng sáng láng cho kẻ lành hơn; lại kẻ dữ khi còn sống ở đời này làm những việc gian dâm tà nghịch, phạm tội lỗi xấu xa ô uế, nên khi ấy phải hình khổ; thì càng thêm xấu hổ khốn cực cho kẻ dữ hơn. Ấy là ý Thiên Chúa định có ngày phán xét chung thì làm vậy.

    Trong ba ngày nay, chúng tôi đến trước mặt quan mà trình qua các lẽ trong đạo chúng tôi tắt vậy, để quan lớn xét cho, thì chúng tôi lấy làm ơn trọng lắm. Song bởi chúng tôi chưa thuộc tiếng nói cùng lễ phép trong nước cho đủ, hoặc đang khi nói có điều gì chẳng lịch sự ra thất lễ thì trước là xin quan lớn rộng xét thứ tha cho chúng tôi, sau xin các thày miễn chấp vì chẳng có mấy khi đặng gặp các thày mà đàm đạo thể ấy. Vậy các thày đã cứ trong sách các thày, tôi đã cứ lẽ sách đạo tôi mà nói; dầu đạo bên nào chơn giả, thì để mặc lượng quan lớn quyền hành cân xét cho.

    Bấy giờ quan lớn mới phán đoán rằng:
    Trong đều thứ ba, là sự sau cùng hết, người ta chết rồi đi đâu, có lẽ thày Nhu sĩ, thày Hòa thượng, thày Pháp sư nói thì ta cùng đã có nghe nhiều lần, mà thật trong lòng ta chưa biết thể ấy là nhằm hay là chẳng nhằm; còn sự Tây sĩ nói bốn sự sau, là người ta sinh ra rồi phải chết, chết rồi phải chịu phán xét, phán xét rồi kẻ lành đặng thưởng lên thiên đàng, kẻ dữ phải phạt xuống hỏa ngục; lẽ ấy rất công bình chính trực, chẳng còn nghi hoặc đặng nữa. Như vua trị nước , nếu chẳng dùng phép công bình, dùng quờn thưởng phạt thì trị nước làm sao đặng ? Huống chi Thiên Chúa đã sinh nên trời đất thần người muôn vật đời đời; nếu chẳng dùng phép công bình, chẳng dùng quờn thưởng phạt kẻ lành dữ thì cai trị làm sao đặng ? Ấy là lẽ nhãn tiền phải có như vậy chẳng sai, cho nên trong đếu thứ ba này, ta đoán đạo Thiên Chúa dạy phải rõ ràng chắc thật hơn các đạo thảy thảy. Lại ta đã biết rõ sự thật ở đâu thì ta cũng tin tưởng noi giữ theo đó cho đến cùng.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Ban tôn giáo chính phủ mà dám để bài viết có đoạn này trên trang chủ của mình, quả là hết sức phản động.

    Anh đọc sơ qua cái đoạn chém gió giứa 4 giáo ở trên, thì thấy chả phải vì "Tây sỹ" giỏi, mà vì đơn giản 3 vị kia quá ngu. Có lẽ sách này do giáo dân viết, nên 3 vị kia, đặc biệt là hòa thượng về bản chất chẳng hiểu gì về đạo của chính mình (đặc biệt là đạo Phật) và cũng chẳng hiểu gì về đạo Thiên chúa, toàn nói nhăng nói cuội, Tây sỹ không logic hơn mới lạ. Chứ xét về tính khoa học và logic, thì Thiên chúa xách dép cho đạo Phật [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG]

    Trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, cũng đã có nhiều buổi gặp gỡ, đối thoại và tranh cãi giữa đại biểu của Công giáo và đại biểu các tôn giáo khác như linh mục Bunzomi và thày Tư Bàng đạo sư năm 1621 ở Nước Mặn. Rồi cuộc tranh luận giữa Đắc Lộ và một số sư sãi ở Thăng Long năm 1627 hay cuộc tranh luận kéo dài hai ngày đời Lê Cảnh Hưng của đại diện 4 tôn giáo là Nho, Phật, Đạo và Công giáo được ghi lại trong cuốn “Hội đồng tứ giáo” và được xuất bản lần đầu năm 1887…Với kiến thức uyên bác và kiểu tư duy logic chặt chẽ thì kết quả các cuộc tranh luận này bao giờ phần thắng cũng thuộc phía Công giáo và đã có một số nhà sư theo đạo. Trong số này, có người có nhiều đóng góp vào con đường hội nhập văn hoá của đạo Công giáo tại Việt Nam như vị Hoà thượng ở chùa Phao khi trở lại lấy tên thánh là Phanxicô đã cộng tác với Majorica sáng tác ra bản kinh “Phục dĩ chí tôn”, một áng Hán văn tuyệt diệu.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Thành thực mà nói, chuyện Hội Đồng Tứ Giáo dựa trên sự kiện có thật, nhưng chỉ quanh quẩn ở đoạn giải tù nhân là các nhà truyền giáo lên cho quan phân xử thôi, để xem xét vào tội nào mà phạt, chẳng qua là các nhà truyền giáo lúc nào cũng mong được tử đạo nên chưa thành công cũng thành thánh [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG]

    Còn chuyện các đoạn hội thoại, đối đáp, đa phần là truyền tai nhau, dễ gì mà giáo sĩ Tây lại thông thao những chuyện Nho giáo tín nghĩa lẫn tôn giáo 3 đạo kia rõ ràng vậy được, những chuyện này hẳn là do người đời sau thêm vào để viết thành sách cho dài với đầy những triết lý, giáo lý... nó là giống như quyển "Phép Giảng Tám Ngày" của Đắc Lộ (quyển sách chữ quốc ngữ được in đầu tiên trên thế giới [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG] ) , để nhằm mục tiêu truyền đạo và nhằm hướng những người thuộc giáo phái khác sang Công giáo.

    Tuy nhiên phần tóm tắt là tóm tắt theo cách nghĩ của người TCG, còn phần nguyên văn mới thực sự đủ ý và tương đối "trung lập" nhất có thể, để đảm bảo cái vai của 1 người kể chuyện, tác giả đã làm rõ nhất những quan điểm của các tôn giáo khác mà cho đến tận ngày nay vẫn đúng (Ví dụ phép phá ngục, niệm kinh, v.v... các tư tưởng Nho giáo thì hiện nay đa phần không còn [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG] ), chứ không phải là sự bịa đặt, áp đặt cho tôn giáo... ấy vậy vẫn có những đoạn hoặc cho thấy "vị sư" trong tài liệu không phải là người am hiểu, hoặc chính người viết tác phẩm này cũng không am hiểu đạo Phật, ví dụ không biết có Phật TƯơng Lai, quá khứ, nên luận điểm nói về giọt sương là sai

    Có điều đây là sách do TCg viết ra, cần có những tôn giáo khác giải ngược các vấn nạn mà Tây Sĩ đã nêu [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]

  7. #7
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    Trích dẫn Gửi bởi Sephiroth
    Ban tôn giáo chính phủ mà dám để bài viết có đoạn này trên trang chủ của mình, quả là hết sức phản động.

    Anh đọc sơ qua cái đoạn chém gió giứa 4 giáo ở trên, thì thấy chả phải vì "Tây sỹ" giỏi, mà vì đơn giản 3 vị kia quá ngu. Có lẽ sách này do giáo dân viết, nên 3 vị kia, đặc biệt là hòa thượng về bản chất chẳng hiểu gì về đạo của chính mình (đặc biệt là đạo Phật) và cũng chẳng hiểu gì về đạo Thiên chúa, toàn nói nhăng nói cuội, Tây sỹ không logic hơn mới lạ. Chứ xét về tính khoa học và logic, thì Thiên chúa xách dép cho đạo Phật [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG]
    chuẩn.mình cũng nghĩ là nếu xét tính lo gic và giáo lý chặt chẽ thì Phật Giáo là số 1, nếu xét những tôn giáo hiện tại thì Phật Giáo có thể xem là tôn giáo tốt nhất..mà mình không tưởng tượng nỗi là ban tôn giáo chính phủ lại có thể viết ra mấy câu như vậy..!"Với kiến thức uyên bác và kiểu tư duy logic chặt chẽ thì kết quả các cuộc tranh luận này bao giờ phần thắng cũng thuộc phía Công giáo và đã có một số nhà sư theo đạo" cái này giống vị nào đó Giáo Dân viết ra thì đúng hơn là ban tuyên giáo

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    mà nhắc đến tôn giáo thì có clip này
    thực sự là rất quan ngại,rất nguy hiểm với cái kiểu tuyên truyền,thù hằn tôn giáo thế này
    https://www.youtube.com/watch?v=GAhPyiNRtPM

  9. #9
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    5
    đạo phật bây giờ là láo nhất:
    Đưa tượng Phật ngọc lớn nhất thế giới về Bái Đính
    http://news.zing.vn/dua-tuong-phat-n...ost644366.html

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Trích dẫn Gửi bởi Văn Lang-Âu Lạc
    mà nhắc đến tôn giáo thì có clip này
    thực sự là rất quan ngại,rất nguy hiểm với cái kiểu tuyên truyền,thù hằn tôn giáo thế này
    https://www.youtube.com/watch?v=GAhPyiNRtPM
    Cái này trước ta đăng lên quán mía rồi nhé, tên này là một mục sư người Việt đạo Tin Lành hiện đang sống tại Mẽo, không liên quan đến Roman Catholic Church :3

    Trích dẫn Gửi bởi Văn Lang-Âu Lạc
    cái này giống vị nào đó Giáo Dân viết ra thì đúng hơn là ban tuyên giáo
    Không phải người viết theo đạo, mà là người viết muốn gây thiện cảm với "đọc giả" [IMG]images/smilies/10.gif[/IMG]

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •