Trang 13 của 13 Đầu tiênĐầu tiên ... 3111213
Kết quả 121 đến 128 của 128

Chủ đề: Phong Trào Văn Thân

  1. #121
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    19
    Trích dẫn Gửi bởi yevon
    từ bao giờ Khâm, Liêm là đất của Đại Việt???
    Vãi, buôn bán từ mỗi Việt Nam lên đến Khâm Liêm nhà Tống (Quảng châu hiện nay đúng không?) mà cũng ngồi kể, cái đó khác quái gì buôn bán nơi biên giới, nơi nào chả có, sao không thấy kể người Việt đi xa được như người Nhật, từ tận NHật vượt biển đến Việt Nam? Nếu tính kiểu thế thì người Việt chắc có buôn bán đến tận Khmer, chắc là xa hơn từ biên giới phía Bắc đến Quảng Châu đó

  2. #122
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3

    Vãi, buôn bán từ mỗi Việt Nam lên đến Khâm Liêm nhà Tống (Quảng châu hiện nay đúng không?) mà cũng ngồi kể, cái đó khác quái gì buôn bán nơi biên giới, nơi nào chả có, sao không thấy kể người Việt đi xa được như người Nhật, từ tận NHật vượt biển đến Việt Nam? Nếu tính kiểu thế thì người Việt chắc có buôn bán đến tận Khmer, chắc là xa hơn từ biên giới phía Bắc đến Quảng Châu đó
    Nhật cũng có đi được bao lâu đâu, vỏn vẹn có 35 năm với tổng cộng 350 chiếc tàu. [IMG]images/smilies/105.gif[/IMG] Nói kiểu ông thì Nhật cũng chẳng đáng gọi là có tư duy thương mại.

  3. #123
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    có 1 sự ko hiểu ý nhao ở đâu rùi :3 ý của lão Septh là thương nhân Đại Việt có xa buôn bán, và lập phố phường như người Nhật và Tàu làm ở Hội An hay ko? Còn Khâm+Liêm thì kiểu như giao dịch cửa khẩu trên bộ giữa 2 nước láng giềng với nhao thôi

  4. #124
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Việc Nho Phật Lão có thực sự dung hòa với nhau hay không và như thế nào là tùy quan điểm của mỗi người, vì việc xung đột giữa các triết thuyết khác nhau cùng tồn tại trong một xã hội là điều thường thấy, và khi một xã hội đạt đến mức các triết thuyết khác nhau có thể cùng tồn tại song song và bình đẳng mà không xảy ra xung đột lẫn nhau, người theo triết thuyết này vẫn tìm hiểu triết thuyết khác một cách thực tâm, thì có thể được xem như đã có một sự dung hòa ở một mức độ nhất định. Đó là quan điểm thông thường và phổ biến. Còn nếu như không coi đó là dung hòa thì mình cũng không biết phải thế nào mới gọi là dung hòa nữa.

    Về vấn đề thương mại ở Đàng Trong, không phải chỉ có người Hoa và người Nhật là những người đóng vai trò trung gian duy nhất ở Hội An đâu. Để hiểu được vai trò thực sự của trung gian trong giao thương ở Đàng Trong, thì phải hiểu được cách thức hệ thống thương mại ở Đàng Trong được vận hành như thế nào. Theo Charles Maybon trong cuốn "Những người châu Âu ở nước An Nam", thì giao thương ở Đàng Trong thời các chúa Nguyễn diễn ra theo mùa. Một năm tổ chức 2 lần những phiên đại giao dịch theo định kỳ, cứ vào dịp này trong năm thì tất cả mọi hàng hóa trong nước đều được mang đến các cảng chính, và các thương nhân nước ngoài cũng chủ yếu cập cảng mua hàng cũng vào thời điểm này trong năm chứ không phải ghé liên tục trong suốt cả năm. Tại các phiên đại giao dịch này, người bán sẽ bán thẳng cho người mua không qua trung gian.

    Vì thế, sở dĩ chúa Nguyễn cho phép người Hoa và người Nhật làm trung gian ở Hội An, là vì nhắm đến nhu cầu mua bán hàng hóa trong năm ngoài hai kỳ đại giao dịch này. Nói cách khác, thuyền buôn nước ngoài phần lớn chỉ cập cảng vào các kỳ đại giao dịch, trong khi nhu cầu mua bán lại diễn ra quanh năm nên cần người giữ vai trò trung gian. Các trung gian Hoa và Nhật định cư ở Hội An là để tiện thu mua những hàng hóa do người dân đem đến trong khắp cả năm, và cất giữ để hoặc chờ đến kỳ đại giao dịch hoặc khi có thuyên buôn bất chợt ghé đến. Tuy nhiên, các nước phương Tây có giao dịch thương mại với cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài như Bồ Đào Nha, Hà Lan dần chuyển đổi cách thức mua bán, họ tìm cách tiếp cận trực tiếp người sản xuất hàng hóa và sẵn sàng đặt tiền trước để nhận hàng mà không cần qua trung gian nữa.

    Và đây mới là lý do khiến hai bộ phận trung gian truyền thống là người Hoa và người Nhật mất dần vị thế, chứ không hẳn là do Nhật Tỏa Quốc và ngưng cấp Châu Ấn cho thuyền buôn. Vì cả trung gian Hoa và Nhật ở Hội An dần suy tàn và biến mất từ khoảng cuối thế 17, chỉ còn hoạt động nhỏ lẻ. Cuối thế kỷ 17 là thời điểm mà nhà Minh cho phép thuyền buôn trong nước được đi ra nước ngoài trao đổi thương mại (dù vẫn cấm thuyền buôn một số nước ngoài cập cảng Trung Quốc), các thuyền buôn Trung Hoa cập cảng Đàng Trong mua hàng rất nhiều, nên về lý thuyết lẽ ra tầng lớp trung gian người Hoa ở Hội An phải rất phát triển mới đúng, nhưng thực tế thì ngược lại. Lý do chủ yếu là vì hình thức giao thương mới đã không còn cần đến hệ thống trung gian chuyên biệt nữa rồi, cả thương nhân Bồ, Hà Lan lẫn Hoa đều trực tiếp đóng vai trò trung gian để tìm nguồn hàng mỗi khi cập cảng Đàng Trong. Trung gian Hoa và Nhật biến mất vì thế không dẫn đến sự thay thế của người Việt, mà dẫn đến sự thay thế của các thương nhân Bồ, Hà Lan, Hoa trực tiếp đến đây giao dịch thương mại.

    Và vấn đề lợi thế của Nhật Bản khi mở cửa canh tân, thì mình nghĩ bạn nên tìm đọc những tài liệu sách vở viết về thời kỳ này trước đã, vì như mình thấy bạn có lẽ cũng chưa nắm chắc được các dữ kiện và vấn đề chính yếu của giai đoạn này. Mình liệt kê ra thì cũng được thôi, nhưng sẽ không có nhiều hiệu quả bằng việc bạn tự tìm đọc, vì nó sẽ khách quan hơn. Sau khi tìm hiểu xong thì bạn vào trao đổi tiếp cũng chưa muộn.

  5. #125
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Cả Trung Quốc to thế mà cũng chỉ Phúc Kiến với Quảng Đông buôn bán mạnh. Đáng ra theo sự phát triển từ Tần-Hán thì Giao Chỉ cũng phải buôn bán mạnh. Về sau Giao Chỉ loạn lạc quá nên trung tâm thương mại chuyển sang Quảng Châu, và thương nhân cũng theo đó mà bỏ đi.

  6. #126
    Ngày tham gia
    Jan 2016
    Bài viết
    6
    Tui thấy bác Yevon cố tình diễn giải sử liệu theo cách của bác ấy để cho ra một cái kết luận hết sức quái gở, tôi sẽ vạch ra ngay ở đây:


    1/ Khổng Tử giết người
    Tôi đã cất cong dịch rõ Tả Truyện, Cốc Lương Truyện và Sử Ký, cho nên ở đây chỉ chốt ý lại như vầy:

    Bác Dê Vón nói bậy rằng Sử ký là sách gần với thời Khổng tử nhất. Cái này chứng tỏ bác ấy chưa bao giờ rớ nỗi tới Tả truyện (nói chi các sách Mạnh tử, Trang tử,…). Đứng về mặt sử học, Tả truyện đáng tin cậy nhất vì nó được viết tương đối sớm hơn các sách kia (khoảng giữa thời Chiến Quốc, thế kỷ thứ IV TCN). Theo đó, mẫu chuyện về việc Khổng tử giết người hoàn toàn không xuất hiện trong Tả truyện. Ông chỉ là người hô lệnh cho binh sĩ bảo vệ chủ mình trước mánh khóe dùng người Lai, vốn là người thuộc một nước nhỏ đầu hàng thần phục Tề, để uy hiếp Lỗ công. Như đã chỉ ra, câu chuyện trong Tả truyện diễn ra một cách tự nhiên hơn, và hội thề là Giáp Cốc được mô tả kỹ hơn, đặc biệt là mục tiêu ngoại giao ngay tại đó của hai nước.

    Trái lại, mẫu chuyện ta thấy trong Cốc Lương Truyện, Sử ký Khổng Tử Thế Gia và Tề Thái Công Thế Gia mang màu sắc gượng gạo. Phản ứng của nhân vật trong câu chuyện không hề tự nhiên, mà như bị tác giả ép buộc phải hành xử theo một khuynh hướng nhứt định để nói lên một hay nhiều điều gì đó.

    Theo kinh nghiệm khảo sát sử học Xuân Thu-Chiến Quốc của Tĩnh thì đây là câu chuyện đã được chế tác lại bởi ai đó vào thời Tần đến Tây Hán để đề cao tầm vóc của Khổng tử, đề cao quan hệ vua tôi trong bối cảnh củng cố vương quyền nhà Hán. Một khả năng khác là mẫu chuyện này và vài phiên bản của nó có thể có nguồn gốc từ loại sách của bọn du hiệp, vốn rất thịnh cuối đời Chiến Quốc. Sách của bọn du thuyết không nhất thiết phải viết đúng lịch sử, mà chỉ dùng lịch sử làm cái sườn để mài dũa kỹ năng biện luận mà thôi.



    Nhưng thiệt thòi cho dân Miến là ở chỗ, người Miến ko học được hệ thống tổ chức theo kiểu quân chủ chuyên chế của TQ. Từ Pagan đến Kobaung vẫn là hệ thống phong kiến phân quyền, mỗi vùng đất là 1 lãnh chúa chư hầu. Bởi vì cơ cấu lỏng lẻo vậy nên Bayinnaung chiếm được 1 vùng rộng lớn nhưng ko có khả năng giữ nó, đến nỗi triều Toungoo sụp đổ ( thay bằng Toungoo Trung Hưng). Không có Nho hẳn nhiên Miến vẫn mạnh, nhưng nếu học được cơ cấu quân chủ chuyên chế thì cương vực Miến có khi còn rộng gấp 3 hiện tại.
    Từ lúc xuất hiện trong thread này tới giờ, bác đưa ra những luận điểm không có căn cứ. Tại sao Miến Điện học được cái “cơ cấu quân chủ chuyên chế” thì “cương vực Miến có thể rộng gấp 3 lần hiện tại”? Dẫn chứng đâu? Sợi dây liên hệ giữa cái cơ cấu ấy với khả năng bành trướng lãnh thổ nằm ở chỗ nào? Thế nhà Bắc Tống có cả cái “cơ cấu quân chủ chuyên chế” có khiến cho cương vực của nó bằng nỗi với thời Hán, Đường không? Bộ cứ là Nho giáo là thành lập được “cơ cấu quân chủ chuyên chế” à? Đố bác biết chính trị nhà Bắc - Nam Tống ai là người có nhiều quyền hành điểu khiển quốc gia nhất đấy (gợi ý: không phải thiên tử đâu).

    Còn dưới đây là việc bác xuyên tạc sử liệu theo ý bác:


    3/ Sao mi biết Lý-Trần ko khóc thương ngoại nhân? –
    Lý Thái Tông thấy dân Chiêm bị giết mà xót, ra lệnh ai chém người Chiêm nữa thì bị giết.
    Hãy xem cho kỹ lại nhé:

    Nguyên cố của việc xuất chinh:
    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư:

    Vua hỏi tả hữu rằng: "Tiên đế mất đi, đến nay đã 16 năm rồi, mà Chiêm Thành chưa từng sai một sứ giả nào sang là cớ gì? Uy đức của trẫm không đến họ chăng? Hay là họ cậy có núi sông hiểm trở chăng?" Các quan đáp: "Bọn thần cho rằng đó là vì đức của bệ hạ tuy có đến nhưng uy thì chưa rộng. Sao thế? Vì từ khi bệ hạ lên ngôi đến giờ, họ trái mệnh không đến chầu, bệ hạ chỉ ban ơn để vỗ về, [32b] chưa từng ra oai dùng võ để đánh phạt, đó không phải là cách làm cho người ta sợ oai. Bọn thần e rằng các chư hầu khác họ trong nước đều như Chiêm Thành cả, há chỉ riêng người Chiêm mà thôi đâu". Vua từ đấy quyết ý đánh Chiêm Thành.
    Lời bình: Gây chiến vì không được công nhận, y hệt một quân vương Trung Hoa. Đã gây chiến mà tỏ ra thương xót cái gì? Đạo đức giả à?


    Đến cửa biển Tư Khách , có con cá trắng nhảy vào thuyền. Vua nghe tin Chiêm Thành đem quân và voi bày trận ở bờ nam sông Ngũ Bồ muốn chống cự quan quân. Vua truyền cho quân bỏ thuyền lê bộ, đem quân sĩ lên bờ bắc, thấy quân Chiêm đã dàn ở bên sông. Vua mới cắt đặt quân sĩ dựng cờ nổi trống, sang tắt ngang sông đánh. Binh lính chưa chạm mà quân Chiêm đã tan vỡ, quan quân đuổi chém được 3 vạn thủ cấp. Quách Gia Di chém được đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu tại trận đem dâng. Đoạt được hơn 30 voi thuần, bắt sống hơn 5 nghìn người, còn thì bị quan quân giết chết, máu nhuộm gươm giá, xác chất đầy đồng. Vua tỏ ý cảm khái, xuống lệnh rằng: "Kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành thì sẽ giết không tha".
    Lời bình: Ra quân chém vua Chiêm cho đã, song lại còn sinh lòng "nhân từ"? Mà khóc chỗ nào? Ai đời đi khóc thằng giặc nước nhà?


    Tháng 9, ngày mồng 1, đến phủ Trường Yên, có rồng vàng hiện ở thuyền ngự. Khi đến hành điện Ly Nhân, sai nội nhân thị nữ gọi Mỵ Ê là phi của Sạ Đẩu sang hầu thuyền vua. Mỵ Ê phẫn uất khôn xiết, ngầm lấy chăn quấn vào mình nhảy xuống sông chết. Vua khen là trinh tiết, phong là Hiệp Chính Hựu Thiện phu nhân.
    Lời bình: Cướp đoạt phi tần của kẻ bại trận, ép vào thuyền mình phục vụ tình dục, khiến người ta căm phẫn nhảy xuống sông, rồi cho lập đền thờ. Cũng chỉ là một người phàm phu tục tử, giống các bậc đế vương khác thôi chứ có cái gì mà "nhân từ"?


    Dựng cung riêng cho các cung nữ Chiêm Thành
    Lời bình: Nhưng trong cung chết con đàn bà này thì còn cả tá phi tần khác.


    Toa Đô bị chém mà Nhân Tông quấn áo bào bảo chúng tướng " người làm tôi phải như thế này".
    Cái này là thấy bác xuyên tạc rõ ràng nhất, bác cắt 1 nửa chi tiết của người ta

    Nguyên văn:

    Vua trông thấy thủ cấp của Toa Đô, thương hại nói: "Người làm tôi phải nên như thế này". Rồi cởi áo ngự, sai quân đem liệm chôn, nhưng ngầm sai lấy đầu Toa Đô đem tẩm dầu để răn, vì cớ Toa Đô mượn đường vào cướp nước ta đã ba năm vậy
    Cái hành vi "thương hại" ấy nó được làm ngay trước mặt bá quan, nó có dụng ý của nó: "Bọn bây làm tôi thì phải tận trung báo quốc."

    Tại sao phải trước mặt bá quan làm việc này?

    Vì tông thất nhà Trần đã có nhiều người chạy sang hàng Nguyên, sau đó lại còn:


    Trước kia, người Nguyên vào cướp, vương hầu, quan lại nhiều người đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng sai đốt hết đi để yên lòng những kẻ phản trắc.

    初元人入冦,王侯、臣 僚多送欵(送款)虜營,及賊敗,獲降表 一篋。上皇命焚之,以安反側。

    - Ngột Lương Hợp Thai thì Trần Hưng Đạo kính nể trong hịch tướng sĩ, coi như gương sáng mà binh sĩ nên học tập
    Cái này có gì đáng kể? Khâm phục kẻ thù đâu phải chỉ có mình Trần Hưng Đạo? Chính người Mông Cổ cũng có cái tính ấy. Thành Cát Tư Hãn đánh bại Khwarezmshah cuối cùng Jala Ad-din Mingburnu ở Afghanistan xong mà vẫn thấy ông ta dũng mãnh thoát được nên mới nói: "Kẻ làm con phải như thế." (theo Juwayni và Rashid Ad-din). Lúc Hoàn Nhan Trần Hòa Thượng, dũng tướng nhà Kim, tới chết không hàng, Tốc Bất Đài (cha Ngột Lương Hợp Thai) rưới rượu lên men từ sữa ngựa xuống đất để tế, khấn rằng: "Hảo nam nhi, ngày khác tái sinh, nên để ta bắt hắn." (「好男子,他日再生,當令我得之。 ��). Tháng 6 năm đó 1236, tặng luôn cho Hoàn Nhan Di chức Trấn Nam Tiết Độ Sứ, lập miếu thờ.

    Nể Ngột Lương Hợp Thai cũng phải thôi, nhấc tay 1 cái quân Trần người ngựa voi xô vào nhau mà chạy, không hổ là con Tốc Bất Đài.


    - bọn Nho TK13-14 thoá mạ Phật giáo hết lời, nhà Trần vẫn làm thinh không bắt tội.
    Thóa mạ chỗ nào? Phê bình đạo Phật mà gọi là thóa mạ à?


    - bọn Lê Bá Quát, Phạm Sư Mạnh muốn thay đổi chế độ, Trần Minh Tông cũng chỉ nói "Nhà nước đã có phép tắc riêng, Nam, Bắc khác nhau, nếu nghe kế của bọn học trò mặt trắng tìm đường thoát thân thì sinh loạn ngay".
    Thì sao? Chả nhẽ đem chém? Hai ông kia có làm gì sai với quốc pháp đâu? Kiến nghị không cho thì thôi chứ, làm gì giết người ta?


    4/ Mi có tài liệu gì chứng minh nông nghiệp là trọng điểm thời chúa Nguyễn, trừ sự tưởng tượng để biện bạch cho bọn Nho của mi? Ta có Xứ Đàng Trong của Li Tana, ghi rõ lời chúa Nguyễn cầu khấn trời đất cho năm nay nhiều thuyền buôn đến, nhé. 4-5 triệu lạng bạc ( chỉ tính riêng giao dịch với Nhật) nghe có vẻ "nhỏ", nhưng nên nhớ lúc đó Đàng Trong chỉ là 1 dải đất nhỏ xíu từ Quảng Bình - > Phú Yên, nhé.
    Đàng Trong thời nào? Đếch có nông nghiệp lấy cái ngóe gì mà ăn? Nếu không cần nông nghiệp đi khai phá xuống phía Nam làm gì?


    Vô Vi: về chuyện Nho-Phật trung hoà, nó chẳng cho thấy Nho khoan dung với tôn giáo khác, mà chỉ cho thấy tính chất ba phải của bọn nhà Nho. Chuyện bài xích chửi bới Phật, nhớ ko lần từ đời Đường đã thấy có chú mở miệng rồi. Thời Trần vì ghen ghét muốn nắm trọn quyền hành nên kịch liệt bài xích Phật giáo. Mê tín hay sự suy đồi của Phật tử chỉ là cái cớ thôi ( dù nhờ sự công kích đó, ta mới thấy Phật giáo thời này suy đồi như vậy):
    Phật giáo suy đồi là điều hoàn toàn có thật, ảnh hưởng đến kinh tế quốc gia cũng là chuyện có thật. Thời Đường dân gửi vàng vào chùa trốn thuế, tăng sư hoang dâm ăn thịt cũng có thật, nhà Nho chả phải ngồi vẽ chuyện ra để vu khống nhé.

    Lại nói về Miến Điện, có biết tại sao đế chế Pagan suy yếu không? Vì ruộng đất của chùa chiền không chịu thuế, quốc khố hoàng gia thu hẹp không nuôi nổi quân đội. Nhà chùa ngày càng tích lũy thêm ruộng đất, quý tộc mê muội muốn được lên cõi Niết bàn đem ruộng tặng chùa. Tới khi quý tộc muốn lấy lại đất như tăng lữ phản đối, còn có quân đội riêng (theo Than Tun). Việc này giống tình hình nhà Đường sau loạn An Lộc Sơn, nhà chùa vun vén nhiều tài sản không chịu thuế, tới khi quốc gia cần tiền để trang trải chiến phí chống thù trong (các Tiết độ sử) và giặc ngoài (đế chế Uyghur) thì không biết lấy vào đâu, đành phải bắt chùa nạp trả ruộng và tiền như đã thấy thời Đường Võ Tông (814-846), mặt khác dân nghèo giả làm sư tăng nhiều, tránh được thuế má nên phải ép sư hoàn tục, và tình hình ấy cũng tương tự như ở ta thời mạt Trần. Nhưng Đường Võ Tông chả phải chỉ đàn áp có mình Phật giáo, mà đủ các tôn giáo khác nữa. Những người như Hàn Dũ không chỉ đả kích Phật giáo, mà tới Đạo giáo cũng bị đả kích. Thời Đường, nhiều vua tin vào trường sanh bất tử, nuốt kim đang mà lăn ra chết, đạo sĩ cũng không hết lời đả kích Phật giáo, không riêng gì Nho gia, mà Phật giáo vì bảo vệ mình cũng cãi lại Đạo giáo. Chuyện tam giao cãi nhau om sòm chả phải mới, từ thời Nam Bắc triều đã có tranh luận dữ dội rồi.

    Mặt khác, Hàn Dũ là một trong số rất ít trí thức thời Mạt Đường đả phá kịch liệt Phật giáo, kêu gọi gột rửa tư tưởng Trung Hoa khỏi ảnh hưởng của Phật giáo, vốn ông ta gọi là đạo của Di Địch. Lương Tiêu, Độc Cô Cập vâng vâng đều muốn phục cổ, tức là bắt chước viết văn xuôi theo kiểu của các bậc Thánh nhân (Khổng, Mạnh, Tuân v.v) nhưng vẫn tin vào Phật giáo.

  7. #127
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    14
    Ai bảo nhật khi canh tân thì giống với việt nam thì vớ vẩn[IMG]images/smilies/105.gif[/IMG] mình chỉ thấy khi đó việt nam với nhật đã là chàng lùn với thằng khổng lồ rồi[IMG]images/smilies/70.gif[/IMG] nhật lúc đó đã có tầng lớp samurai bị tư sản hóa, có sự tập trung đất đai trên quy mô lớn, cố những tập đoàn thương nhân giàu sự có những đô thị hằng triệu người, có cả khái niệm văn hóa thị dân, cố các phong trào tây dương học, hà lan học, cố tỷ lệ dân biết chữ cáo nhất châu á với một trên hai nam va một trên bốn nữ biết chữ...

  8. #128
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1

    Đó là những gì may mắn còn rơi rớt được tới nay, còn người đương thời còn khóc những gì mà ta không biết thì sao tra cứu được. Vì sao? Vì sách vở 400 năm Ngô, Đinh, Lý, Trần đã bị cái tên " nhà Nho yêu nước" Bùi Bá Kỳ dẫn 80 vạn " đồ đệ thánh hiền" vào đốt nhẵn rồi, còn gì nữa mà đọc. Nhưng chúng đốt sạch mà vẫn còn lại nhiều thế kia thì cũng đủ thấy Phật giáo ta thời đó đáng làm thầy của bọn Khuyển, Nhung, Bắc di vậy.
    Cái gì? Bùi Bá Ký là nhà Nho hồi nào? Dựa theo tờ biểu gửi vua Minh chép trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, ông này có thi đỗ khoa cử ra làm quan đâu? Ông cha làm Chính đại phu, mẹ lại có họ hàng với nhà Trần, sau them làm tỳ tướng cho Trần Khát Chân, ông này phải là con nhà nòi thuộc dòng dõi danh gia vọng tộc, bởi vậy mới được làm võ tướng chứ Nho gia quái gì?

    Xuyên tạc lịch sử nó cũng vừa vừa thôi chứ!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •