Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    0

    Tổ chức quân sự của đế chế Khwarezmia (1077-1231)

    Dưới đây là bài dịch của Tĩnh về tổ chức quân sự của đế chế Khwarezmia, chương 4 trích từ quyển Vương Quốc Khwarezmia dưới triều Anushtegin của Z.M.Bunyatov (nguyên bản tiếng Nga: Государство Хорезмшахов-Ануштегинидов 1097-1231), được xuất bản lần đầu năm 1986 do nhà xuất bản khoa học (наука), Moskva. Tĩnh đã từng post một thread y hệt như vầy nhưng dưới nick khác, nay bổ sung thêm dưới nick Lí Tĩnh.

    Giới thiệu:

    Vương quốc Khwarezmia xuất xứ khởi đầu là một quận trong đế chế rộng lớn của người Seljuk, Anushtegin, người đầu tiên được giao cho trọng trách quản lý tài chính khu vực Khorezm, là nô lệ được mua lại và phục vụ cho Sultan Seljuk. Khi còn sống ông vẫn chưa phải là chủ nhân của vùng đất mà chẳng qua chỉ là quan coi thuế cho Sultan. Về sau con ông đã được lập làm vua xứ này, lấy danh hiệu Shah (tiếng Ba Tư: Vua) để tự gọi mình, mở đầu cho sự hình thành một nhà nước hùng mạnh mà sau này thống nhất Ba Tư.

    Sau cái chết của Sultan Malik-Shah I và tể tướng của ông Vizier Nizam al-Muk, đế chế Seljuk rơi vào tình trạng nội chiến liên minh, tranh giành quyền lực, điều này khiến cho các thuộc quốc nhỏ chịu xưng thần với chính quyền trung ương thoát khỏi sự kiềm kẹp của các vị sultan Seljuk. Đế chế Khwarezmia vươn lên trong cuộc tranh giành đẫm màu để rồi trở thành vương quốc hùng mạnh nhất Trung Đông, cho đến khi người Mông Cổ, do sự khiêu khích của nhà cầm quyền ở thành Otrar, tiến hành một cuộc chiến thảm khóc phá hủy toàn bộ vương quốc.


    Chương Bốn:
    Tổ Chức Quân Sự Của Đế Chế Khwarezmia (Военная организация государства Хорезмшахов)


    Ngay từ buổi đầu của cuộc đấu tranh giành độc lập khỏi đế chế Seljuk cho đến khi đế chế sụp đổ, các vị Shah xứ Khwarezmia đã sở hữu những đạo quân thường trực. Việc cung cấp và bổ sung vũ khí cho họ là mối quan tâm hàng đầu của các Shah Khwarezmia. Quân đội của các Shah được huấn luyện kĩ càng, được trang bị nhiều loại vũ khí, và tướng lĩnh của họ đã nhiều lần chứng tỏ sự gan dạ cũng như dày dạn kinh nghiệm trong trận mạc.

    Đạo quân mà các Shah-Khwarezmia tụ tập được trong thời kì thành hình đế chế của mình chủ yếu là người Thổ (Turkic). Quân đoàn và đơn vị được tổ chức dựa trên những đặc tính của bộ tộc (1). Ngay cả trong những ngày vinh quang nhất của đế chế, khi mà công việc tuyển mộ binh lính được thực hiện ở những bộ tộc khác hay ở các quốc gia khác, thì người Thổ vẫn là lực lượng tinh nhuệ chính trong quân đội.

    Dựa trên các nguồn sử liệu, chính các Shah là những người đầu tiên giới thiệu chương trình huấn luyện quân sự bắt buộc cấp quốc gia cho thần dân của mình.

    Zakarya-al-Qazwini (زکریا قزوینی) (1203-1283) viết về thủ đô của Khwarezmia, Gurganj như thế này: "Đây là một thành thị lớn với dân cư đông đúc, và mọi cư dân đều là chiến binh, ngay cả những người giữ tiệm tạp hóa, người làm thịt, người nấu bánh, và thợ dệt vải. Người ta nói vị Sultan Muhammad ibn Tekish đã lánh nạn vào tòa thành này sau khi bị người Kara-Khitai (Tây Liêu) đánh bại trong một trận chiến. Vị sultan chạy khỏi chúng với một số ít quân lính. Ông ta vào thành vào ban đêm, nên không ai phát hiện ra ông ta chỉ còn ít binh sĩ. Và rồi sáng hôm sau, ông ta ra khỏi thành cùng với 30,000 kỵ sĩ, tiến thẳng về phía kẻ thù. " (2)

    Một tác giả khác, khi mô tả tòa thành Hazarasp (theo tiếng Ba tư có nghĩa là nghìn con ngựa, nay ở nước Cộng Hòa Uzbekistan) là một trong những pháo đài vững chắc nhất ở Khwarezmia, đã nhận xét rằng: "Dân cư ở đây được sinh ra dưới những ngôi sao ở chiến trường và quen mùi gươm giáo." (Nguyên văn tiếng Nga là вскормлены молоком копий и мечей, nghĩa là được nuôi dưỡng từ sữa của gươm và giáo). (3)

    Kích thước quân đội thay đổi tùy theo quy mô của chiến dịch mà các Shah tham dự. Ví dụ như trong năm 1195, sổ điểm danh chiêu mộ quân lính (nguyên văn tiếng Nga - tiếng Arab là Diwan al- 'ard) lấy từ giấy tờ đăng ký quân sự (nguyên văn tiếng Nga-tiếng Arab Dafa'tir) của Shah Tekish liệt kê tên của 170,000 kỵ sĩ. (4) Trong những năm đầu trị vì, Shah-Khwarezmia Ala ad-Din Muhammad II có thể tuyển mộ đến 70,000 kỵ binh chỉ trong vòng vài ngày. (5) Khi Ala ad-Din Muhammad chống lại một cuộc xâm lược vào Iraq tổ chức bởi những nhà cầm quyền ở Ba Tư, Atabegs Uzbek xứ Azerbaijan và Sa'd xứ Fars (1), ông ta đã chiến thắng với "những người dũng cảm nhất, và những chiến binh gan dạ nhất có đến 100,000 kỵ sĩ." (6) Sau khi Atabeg xứ Uzbek xin được làm chư hầu của vị Shah-Khwarezm này, ông đã yêu cầu vị vương kia gửi tiếp viện chống lại người Georgia, và ông đã ra lệnh cho "50,000 kỵ sĩ tinh nhuệ nhất tấn công họ." (7)

    Trong thời kì Ala ad-Din Muhammad cầm quyền, tổng số quân đội của ông đã đạt tới kích thước khổng lồ, "nhiều như tất cả các loại ngũ cốc, khiến người ta không còn biết được đâu là bắt đầu và đâu là kết thúc nữa." (8) Vào mùa thu năm 1217, vị Shah-Khwarezmia quyết định hành quân đến Baghdad, ông ta đã gửi "một số quân nhiều tới nỗi lấp kín sa mạc và thảo nguyên, nhưng ngay cả sự rộng lớn của sa mạc và thảo nguyên không thể chứa hết được đạo quân của ông." (9)

    Vào năm 615 (lịch Arab)/1218 (Dương lịch), vị Shah-Khwarezmia tổ chức duyệt binh, trong đó có đến 150,000 quân kỵ tham dự và đó là chưa kể đến quân bộ, vốn cũng lên đến 100,000 người. (10)

    Chứng cứ từ các nguồn sử liệu này có vẻ như xuất phát từ bộ ốc tưởng tượng của các tác giả các cuốn biên niên sử (chronicle). Song những con số mà họ đưa ra lại ăn khớp với những báo cáo từ những người đưa tin, mà nhiệm vụ chính thức của họ lại là cung cấp nguồn thông tin chân thật. Cho nên, sứ giả của vua xứ Erbil (tức Ardabīl, nằm ở tây bắc Iran) atabeg Muzaffar ad-Din Gok buri, sau khi quay về từ Khwarezmia, đã báo lại cho vương công của mình rằng: "Có 350,000 quân sĩ phục vụ dưới trướng Shah-Khwarezmia". (11) Trong cuộc chiến với Kara-Khitai năm 1211 và năm 1212, Ala al-Din đã tung ra 400,000 người chống lại họ, và đó là chỉ tính số kỵ binh. (12) Điều này được chứng minh bởi vì sổ bộ đăng ký quân dịch ghi nhận có 400,000 kỵ binh và quân cưỡi lạc đà tham gia vào cuộc hành quân đến Baghdad (13) (2)


    Trước cuộc xâm lược Trung Á của người Mông Cổ, tổng số quân lực trên khắp lãnh thổ đế chế Khwarezmia đạt xấp xỉ 400,000 người. Trong đó 20,000 kỵ binh đóng ở thành Otrar (nay thuộc nước Cộng Hòa Kazakhstan) và vùng Transoxiana (nguyên văn tiếng Nga Мавераннахр hay Maverannarr đến từ tiếng Arab Maa waraa' an-nahr, có nghĩa là vùng đất năm sau sông Oxus, nay thuộc các nước Uzbekistan, Tajikistan, nam Kyrgyzstan và tây nam Kazakhstan), 10,000 quân ở Benaket (hay còn gọi là Sharukhiya, nằm ở phía Tây Nam thành phổ Tashkent, thuộc Uzbekistan) và 110,000 người đóng ở thành Samarqand (nay thuộc nước Uzbekistan). Hơn nữa, một số lượng quân đáng kể khác đóng ở Sistani (nay bao gồm tỉnh Sistan và Balochistan miền đông Iran, nam Afghanistan và vùng Nok Kundi thuộc tỉnh Balochistan, Pakistan), Balkh (phía bắc Afghanistan), Khuttalia (hay Khutal, nay vào khoảng tỉnh Khatlon thuộc Tajikistan),Kunduz (bắc Afghanistan), Yarkent (hay Yarkant, nay huyện Toa Xa ( 莎车县), địa khu Kashgar, thuộc vùng tự trị Tân Cương, Trung Quốc) (14). Ngay cả khi trong giai đoạn suy tàn của đế chế, Jalal ad-Din Mingburnu (con của Ala ad-Din Muhammad II) có trong tay 90,000 quân khi ông lưu lạc đến Ấn Độ (15), và trong trận chiến dưới thành Isfahan (nay là thành phố phía nam Tehran, Iran) năm 1227, ông chỉ huy đến 100,000 quân kỵ bộ. (17) <font color="#008000">(3)


    Không có nghi ngờ gì khi một đội quân hùng mạnh đông đảo như vậy, bao gồm cả kỵ binh, quân lạc đà, bộ binh, dân binh hạng nặng và nhẹ các loại lại được hỗ trợ bởi một lực lượng hậu cần không kém hùng hậu cung cấp cả vũ khí, trang bị, lương thực và rơm khô.

    Ngoài những đạo quân thường trực, các Shah-Khwarezmia còn có quân cận vệ (nguyên văn tiếng Nga là харас, đến từ tiếng Arab الحرس, hay Al-Haras, có nghĩa là quân cận vệ, túc vệ) (18), trong đó bao gồm các chiến binh Mamluk (chiến binh nô lệ). Đội cận vệ này được Shah Tekish thành lập đầu tiên, đến thời Ala ad Din Muhammad II đã tăng lên đến 10,000 người. (19) Ngoài việc bảo vệ các Shah và thành viên hoàn tộc, quân cận vệ còn được điều đi trong các cuộc chinh phạt, hay dùng để tháp tùng bảo vệ những lữ đoàn thương nhân (nguyên văn tiếng Nga караван). (20)

    Khi chiến tranh nổ ra, các Shah tuyên bố huy động các đạo dân binh trên toàn quốc, nhưng khi chiến dịch diễn ra thì dân binh không được nhận lương, mà phải sống bằng cách tổ chức càn quét cướp bóc. (21)

    ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
    Chú thích của tác giả:

    (1) Juvayni, tập 2, tr.378; Mirkhond, tập 4, tr.170
    (2) Al-Qazwini Zakhariya, tr.519
    (3) Vatvat, Rasa'il, 1.8
    (4) Rawandi. tập 2, tr.355
    (5) Juvayni, tập 1, tr.322
    (6) Al-Nasavi, tr.57
    (7) như trên, tr.61
    (8) Al-Subki, tr.330
    (9) Al-Nasavi, tr.64
    (10) Tarikh-i-Sistan, 363
    (11) Al-Diyarbakri (hay Al-Hamis Diyabakri), tập 2, tr.369
    (12) Juzjani, tập 1, 262
    (13) Al-Nasavi, tr.55
    (14) Ibn al-'Ibri, tr.234; Al-Subki, tr.355; Rashid al-Din, quyển 1; tập 2, tr.191; Ibn-Khaldun, tr.231
    (15) Var Zorei, tập 2, tr.496
    (16) Vardan, tr. 175
    (17) Rashid al-Din, quyển 1; tập 2, 234; Ibn al-Imad al-Hanbali (tập 5, tr. 63) viết rằng: "Người ta nói Jalal ad-Din có 300,000 quân, nhưng cũng nói có thể còn nhiều hơn."
    (18) Al-Subki, tr.331
    (19) Như trên, tr.330
    (20) Al-Qazwini Zakhariya, tr.514
    ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
    Chú thích của dịch giả
    (1) Atabeg hay nguyên gốc tiếng Thổ là Atabeyliği (A-ta-bây-líc-gi) có nghĩa là "người bảo trợ". Theo điển chế của vương triều Seljuq, khi một sultan Seljuq qua đời, một người bảo trợ sẽ được bổ nhiệm để chăm nom và hướng dẫn các hoàng tử còn nhỏ. Những người bảo trợ này sẽ lại lấy vợ quá của cố sultan, do đó có thể xem họ như những vị "cha kế" hay "dượng" của vị sultan tương lai. Do các Atabeg có quyền tự chủ ở những địa phương mà sultan giao cho họ thống trị, lâu dần, họ trở thành những tiểu vương với triều đại riêng biệt của mình, mặc dầu trên danh nghĩa vẫn là bề tôi đối với dòng dõi hoàng tộc Seljuq. Tình trạng cát cứ này tương tự như cục diện chính trị thời Xuân Thu-Chiến Quốc vậy.

    Atabeg Uzbek là một người cầm quyền vương triều Ildegizids từ năm 1210 đến 1225, cai trị vùng Azerbaijan và Bắc Iran ngày nay. Vương triều này được thành lập bởi Shams al-Din Ildeniz (mất năm 1176), một người Kychak. Atabeg Sa'd là nhà cầm quyền vương triều Salghurid ở Nam Iran, thủ đô ở Fars. Vương triều này sống sót đến tận thời kỳ Hãn quốc Ilkhanid.

    (2) (Đây là cuộc hành quân năm 1217, khi Ala ad-Din Muhammad, sau khi thống nhứt hầu hết Ba Tư, đòi caliph al-Nasir ở Baghdad công nhận danh hiệu "Shah" mà ông tự xưng).
    (3) Jalal ad-Din Mingburnu đánh bại 30,000 quân Mông Cổ truy đuổi ông dưới sự chỉ huy của Shikhikkhutug (šiqiqutug) hay Thất Cát Hốt Thốc Hốt 失吉忽禿忽 theo quyển Thánh Võ Thân Chinh Ký 聖武親征錄) ở trận Parwan với sự giúp đỡ của những chiến binh tộc Laskhar ở Afghanistan, nhưng bị Thành Cát Tư Hãn đánh bại khi ông sắp sang sông Ấn, một số nguồn khác ghi rằng ông chỉ còn khoảng 50,000 quân và vài ngàn người tỵ nạn từ Ba Tư.

    ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
    Giới thiệu sơ lược về các tác giả và sử liệu được nhắc trong bản dịch

    Ata-Malik Juvayni (1226-1283) (tiếng Ba Tư: عطاملک جوینی): Ông sinh ở thành phố Juvayn, vùng Khorasan, thuộc Iran ngày nay. Ông nội và cha ông từng phục vụ dưới triều của Shah Muhammad ad-Din II và sau này là Khả hãn Ögedei. Ông là tác giả quyển sử Tārīkh-i Jahāngushāy (Lịch sử của những nhà chinh phục thế giới).

    Quyển này đã được dịch trọn bộ sang tiếng Anh bởi đại học Havard, xuất bản năm 1958, bản điện tử có thể download ở đây:
    Tập 1: https://archive.org/details/historyoftheworl011691mbp
    Tập 2: https://archive.org/details/historyoftheworl011648mbp

    Zakhariya Al-Qazwini (1203-1283) (tiếng Ba Tư: زکریا قزوینی): Ông sinh ở thành phố Qazwin (đọc là Gát-xơ-vin), thuộc Iran ngày nay. Ông là dược sĩ, nhà chiêm tinh học, địa lý học. Ông là tác giả của nhiều quyển sách. Ở đây, Bunyatov trích dẫn quyển địa lý chí của ông mang tên Athat al-bilad wa-akhbar al-‘ibad (tiếng Anh: Monument of Places and History of God's Bondsmen).

    Rashid al-Din Muhammad Umar-i Vatvāt hay Rasa'il ad-Din Vatvat (sinh khoảng năm 1088- mất năm 1177 ở Khorezm) (tiếng Ba Tư: رشیدالدین وطواط): Ông sinh ở thành Balkh (Iran), là nhà thơ cung đình, nhà hùng biện tại triều Shah Atsiz ibn Muhammad.

    Muhammad bin Ali Rawandi (chưa tìm được năm sinh và mất) (tiếng Ba Tư: محمدبن علی راوندی‎‎): Không rõ ông sinh ở đâu, chỉ biết ông được giáo dục ở Hamadan từ năm 1174 đến năm 1184. Ông là tác giả quyển sử Rahat al-sudur, viết về lịch sử giai đoạn sau của đế chế Seljuq, về sự tan rã của chính quyền trung ương, sự nổi dậy của các vương hầu (atabegs) trong đế chế, và sự quật khởi của các Khwarezm-Shah. Cuối đời ông chuyển đến sống ở vương quốc Hồi giáo Seljuq ở Rum (tức bán đảo Anatolia ngày nay, thuộc Thổ Nhi Kì). Ông trình quyển sử của mình lên Sultan Kaykhusraw I vào khoảng năm 1207. Ông không đánh giá cao vương triều Khwarezmshah, cho rằng họ là những kẻ cơ hội.

    Shihab al-Din Muhammad al-Nasawi (không rõ năm sinh - mất năm 1250) là thư ký của vị Khwarezm-Shah cuối cùng Jalal Ad-din Mingburnu. Ông chứng kiến tận mắt cuộc xâm lược tàn khốc của người Mông Cổ vào Khorasan và sự sụp đổ của vương triều ngắn ngủi Khwarezmshah. Ông trở thành thư ký cho Jalal Ad-Din khi ông này bị đánh bại ở sông Indus. Ông viết lại quyển tiểu sử này 10 năm sau khi Jalal bị ám sát tại Diyabakir năm 1231.

    Quyển sách này được dịch ra tiếng Pháp bởi Octave Houdas và xuất bản năm 1895. Theo Houdas, văn phong al-Nasawi rất tao nhã, nhưng phong cách viết văn tiếng Arab của ông bị ảnh hưởng bởi tiếng Ba Tư. Có thể download quyển này tại trang ở đây:

    http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt...4996/f12.image

    Tarikh-i-Sistan là quyển sử khuyết danh viết về vùng Sistan, quyển này chỉ được phát hiện vào khoảng những năm 1930s. Phần giới thiệu có thể đọc thêm ở đây:
    https://books.google.com/books?id=Vo...%20194&f=false
    http://www.iranicaonline.org/articles/tarikh-e-sistan

    Vardan Areveltsi (khoảng 1198-1271) nhà sử học, địa lý học, triết học và dịch thuật gia người Armenia. Quyển sách Bunyatov trích dẫn ở đây là quyển Havakumn Patmutsyun (Thông sử) của ông. Quyển này được viết dưới dạng biên niên sử.</font>

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Cơ quan chỉ huy tối cao của quân đội là diwan al-ard (hay diwan al-jaish) (1), người đứng đầu cơ quan này là sahib diwan al-ard (2) (hay sahib diwan al-jaish hoặc 'arish diwan al-jaish). Một nguồn sử liệu nói cơ quan đứng đầu quân đội mang tên diwan-i ‘ard dar jumla-yi mamalik.

    Diwan al-ard chịu trách nhiệm quản lý các thực ấp quân sự (iqta') (3), trả lương và các khoản chi phí cho binh sĩ thuộc tất cả các cấp, cũng như kiểm soát và đăng ký sổ bộ quân lính và vũ khí. Diwan al-ard phân phát lương tiền lương cho tất cả quân sĩ (mawajib, arzak), chu cấp cho họ quân nhu cần thiết (huquq) và giám sát các khoản tiền chi trả cho cấp dưới từ các cấp chỉ huy.

    Ở những vùng trọng điểm, việc quản lý quân đội được giao cho các cơ quan địa phương.

    Vị trí quan trọng thứ hai trong quân đội Khwarezmshah là các thanh tra quân đội (nazir al-jaish). Họ hoạt động dưới sự giám sát của những người đứng đầu diwan trong quân đội.

    Người chỉ huy quân đội Khwarezmshah giữ danh hiệu qa'id (đọc là ca-ít) hoặc muqqadam (mu-kha-đam). Những vị amir nào nổi bật nhất hay có khả năng nhất sẽ được bổ nhiệm vào chức vụ này. Cho nên Shah Il-Arslan mới bổ nhiệm Shams al-Mulk ibn Husayn ‘Ayyar-bek, một amir gốc Qarluq, làm chỉ huy quân đội của mình (al-muqaddam ‘ala-l-‘asakir). Ông gã con gái cho Ayyar-bek và cho ông lãnh đạo quân đội (qa’id jayshihi). Dưới triều Ala ad-Din Muhammad I, con trai ông Abu-l-Fath Yusuf được bổ nhiệm làm thống đốc tỉnh Ray (hay Rey, nay là thành phố Ray gần Tehran) và chỉ huy quân đội ở đấy. Những người chỉ huy quân đội ở các địa phương cũng được gọi là sahib al-jaysh.

    Khi chinh phục được những vùng đất mới hay những tỉnh mới, các Shah chia lại những nơi vừa chiếm được cho các amir dưới dạng iqta' (thực ấp) và bổ nhiệm trong số họ một người xuất chúng nhất để đứng đầu các amirs với danh hiệu amir al-umara (amir của tất cả các amir).

    Những người chỉ huy 10,000 kỵ binh thì giữ chức vụ malik. Ở những trường hợp hiếm hoi, chức vụ này có thể được trao cho những người xuất thân từ tầng lớp thấp hèn hơn. Cho nên dưới triều Shah Ala ad-Din Muhammad, mới có việc tashtdar của ông là Ayaz "vươn lên đến cấp bậc malik". Điều tương tự cũng diễn ra với Mu’ayyid al-Mulk Qawam ad-Din, vốn chỉ là một thứ dân. "Quả là một thành tích" - như al-Nasawi khen ngợi.

    Những malik nào khiến bản thân nổi bật trong chiến trận sẽ được phong danh hiệu Khan.

    Sĩ quan hay binh sĩ có nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh trong quân đội Khwarezmshah được gọi là Chavush. Họ được chỉ huy bởi một Chavush cấp cao (muqaddam chavushiya). Ngoài ra còn có một đơn vị gián điệp điệp báo đặc biệt (jasiya) chuyên thu thập và cung cấp các thông tin liên quan đến tình trạng kẻ thù và do thám động tĩnh của chúng, vốn là một vấn đề tối quan trọng.

    Quân đội Khwarezshah cũng có riêng một lãnh tụ tâm linh, đồng thời cũng là chánh án quân sự (qadi yi hasham wa lashkar-i hadrat hay qadi al-‘asakir).

    Ngoài những vũ khí truyền thống như gươm, giáo, cung va tên, quân đội Khwarezmshah còn có máy bắn đó lớn (manjaniq), máy bắn đá (dabbabat) "mai rùa" hay các tháp công thành (mataris), xung xa (jamalukat) và thang để bắc lên thành (salalim)
    ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
    Chú thích của tác giả:
    ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
    Chú thích của dịch giả
    (1) Diwan là một cơ quan cấp cao trong chính quyền các đế chế, vương quốc hay tiểu quốc Hồi giáo. Nghĩa của nó có thể xem như từ "bộ" (部) trong tiếng Hán hay tiếng Việt. Diwan al-ard có được dịch nôm na là "Binh bộ", hay hiểu theo nghĩa ngày nay là bộ trưởng quốc phòng. Diwan al-ard là từ tiếng Arab, còn diwan i-ard là tiếng Ba Tư. Diwan được thiết lập lần đầu tiên dưới triều đại Umayyad (661–750). Cơ cấu chính quyền Khwarezmshah thừa kế nhiều từ đế chế Seljuq.
    (2) Từ đồng nghĩa của Sahib trong tiếng Thổ là Sübeshi hay Sü-Begi, có nghĩa là thủ lĩnh quân sự, tướng quân.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •