Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 11
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1

    [Sưu tầm] Mộ các danh thần tại Sài Gòn

    Những ngôi mộ của các danh thần triều Nguyễn nằm lặng lẽ tại đất Sài Gòn. Trong số những ngôi mộ cổ có tuổi đời trên dưới 200 năm đó, một số được gìn giữ, thờ cúng, nhưng có cái đã thành phế tích.

    1. Lăng Bình Giang Quận công Võ Di Nguy

    Đệ nhất công thần

    Từ đường Phan Đình Phùng rẽ vào Cô Giang (gần ngã tư Phú Nhuận), ngay đầu đường có tấm biển lớn treo trên cao như cổng chào, ghi hàng chữ “Đền Phú Trung Bình Giang Quận công Võ Di Nguy”.

    Trong các cận thần của Nguyễn Ánh (vua Gia Long) thì Võ Di Nguy là người phò tá sớm nhất, ông theo giúp Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1751 - 1777, chú ruột của Nguyễn Ánh), rồi theo Nguyễn Ánh chống Tây Sơn và cũng tử trận sớm hơn nhiều công thần khác (ông mất ngày 27.2.1801) khi cuộc chiến với Tây Sơn bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, trước khi Nguyễn Ánh thống nhất đất nước, lên ngôi vua (1802). Thi hài Võ Di Nguy được chuyển về Gia Định. Chi phí cho tang lễ rất lớn.

    Năm Gia Long thứ sáu (1807), Võ Di Nguy được truy phong lên hàng nhất phẩm, được sắc phong “Tả Nam công thần đặc tân thượng trụ quốc thiếu bảo quận công” .

    Ngôi mộ của ông (số 19 đường Cô Giang) từ khi được an táng đến nay hơn 214 năm mà vẫn giữ được nét uy nghi, đường bệ của bậc đệ nhất công thần, đồng thời tiêu biểu cho nghệ thuật xây cất lăng mộ cổ ở Nam bộ. Do đó, Bộ VH-TT đã ra quyết định công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia (số 43-VH/QĐ ký ngày 7.1.1993).
    Ngôi mộ bề thế

    Cụ thủ từ Lê Văn Thành (80 tuổi) nói với chúng tôi: “Tôi sống ở Sài Gòn đã từng này tuổi nhưng chưa thấy phần mộ nào bề thế như mộ của ông, kể cả mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt”. Mà thật, mộ được đắp bằng ô dước, nhô khỏi mặt đất khoảng 0,25 m, hình chữ nhật với kích thước 2 x 1,6 m.

    Cách đầu mộ khoảng 1,8 m là bức bình phong hậu bằng ô dước hình chữ nhật, hai bên đắp phù điêu rồng chầu: đầu ôm cột có đính tòa sen, đuôi quấn chân bình phong (phong cách Angkor); ở giữa là 2 ô bài vị khắc chữ Hán: ô bên phải nói về công trạng của Võ Di Nguy, bên trái nói về thân thế phu nhân Võ Di Nguy. Tuy nhiên hầu hết chữ đã phai mờ rất khó đọc.
    Ông Lê Minh Hoàng (Trưởng ban Quản lý lăng Võ Di Nguy), bắc thang cho tôi leo lên mái sau của ngôi đền để chụp toàn cảnh khu mộ gồm phần tiền mộ và phần mộ (17,5 x 7 m). Dọc bờ tường bao quanh khu mộ kết nối liền nhau bởi nhiều bức phù điêu hình chữ nhật, chạm nổi các loại hình: bình hoa, chim trĩ, chim công, hoa mẫu đơn, tùng lộc, tứ linh, cúc trúc tùng mai...

    Khu tiền mộ (sân trước mộ) được ngăn bởi hai bờ tường, chừa cổng vào ở giữa. Đặc biệt, sinh thời Võ Di Nguy là danh tướng thủy quân (tước Bình Giang Quận công) nên trên mỗi bờ tường có tượng con rái cá. Một hồ nước nhỏ gắn với bức bình phong cao khoảng 1,8 m hai bên có tượng hai con sư tử mắt lồi, đuôi xòe, nhe răng ôm lấy bình phong có chiều ngang 3 m. Mặt trong bình phong chạm hình “vân tùng lộc” (mây, cây tùng và hươu nai), mặt ngoài bình phong rong rêu đã phủ kín.

    Đặc biệt, giữa sân phía trước mộ có tượng 2 con lân nhỏ rất đẹp, xứng đáng được liệt vào “tượng linh vật thuần Việt”, đó là chưa kể trên 2 cột trụ vuông có đặt 2 con lân lớn cũng uy mãnh và đẹp không kém... Trước mộ có bệ thờ bằng ô dước dài 1,4 m, ngang 0,6 m, cao xấp xỉ với mặt mộ. Trên bàn thờ đặt lư gốm to. Chân bệ thờ hình bàn quỳ kê trên 4 con kỳ lân ở 4 góc.

    Ngoài bờ tường phần mộ Võ Di Nguy còn có 4 ngôi mộ khác. Bên phải là mộ bà Lê Thị Mười (phu nhân Võ tướng công) và mộ người con trai thứ Võ Di Thiện. Bên trái là mộ người con dâu tên Triệu Thị Đào và một mộ phần vô danh. Cạnh 2 mộ này có một giếng nước cổ.

    Phía trước khu mộ là đền thờ do Phú Trung Quý tế hội điều hành. Ông Lê Minh Hoàng cho biết ngoài những vật dụng, linh vật thường thấy trong các đình, đền Nam bộ (tượng bạch mã, cặp hạc đứng trên rùa, lọng, thập bát binh khí...), đền còn lưu giữ 2 sắc phong của vua Minh Mạng năm thứ 13 (1832) đề ngày 11 tháng giêng âm lịch và ngày 14 tháng 12 âm lịch, truy phong tước phẩm, ghi trên lụa vàng, đựng trong hộp gỗ cuộn vải đỏ được đặt trong khám thờ. Đặc biệt, vì Võ Di Nguy là tướng thủy binh nên trong các vật thờ cũng có một thuyền rồng.

    [Võ Di Nguy sinh năm 1745, là người huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên-Huế). Năm 1775, ông cùng với cai đội Tô Văn Đoài cầm đầu một toán 200 người tìm vào Gia Định hợp sức cùng Nguyễn Ánh. Từ đó, ông trở thành thuộc tướng tin cẩn, được chúa giao phó trông coi thủy binh và cả việc đóng các chiến thuyền (cùng với Châu Văn Tiếp, Tôn Thất Cốc).

    Năm Canh Thân (1800), tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu vây thành Bình Định (do Võ Tánh trấn thủ), ông cùng Nguyễn Ánh đem quân ra ứng cứu. Khi đến vùng Cù Mông, ông được lệnh bảo vệ Vũng Trích (Phú Yên). Rồi mùa xuân năm Tân Dậu (1801), đạo quân của Nguyễn Ánh tiến vào Thị Nại với các bó củi đốt tấn công chiến thuyền của quân Tây Sơn. Võ Di Nguy ngồi trên chiến thuyền lớn đang chỉ huy trận đánh bị trúng đạn đại bác tử nạn.]

    Hà Đình Nguyên

    www(dot)thanhnien(dot)com(dot)vn/van-hoa-nghe-thuat/mo-cac-danh-than-o-sai-gon-lang-binh-giang-quan-cong-vo-di-nguy-625577(dot)html

  2. #2
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    2. 3 ngôi mộ của một danh tướng - Võ Tánh

    Theo tục lệ dân gian, khi một người chết mất xác hoặc vì lý do nào đó mà người ta phải tạo mộ giả (mộ gió) để hương khói, thờ cúng là chuyện bình thường. Nhưng một vị tướng mà có đến 3 ngôi mộ thì quả là chuyện hiếm.

    “Dũng” và “nhân” của đạo làm tướng

    Sử liệu ghi Võ Tánh người gốc Biên Hòa, năm 1788 ông theo phò Nguyễn Ánh, được Nguyễn vương gả em gái là công chúa Ngọc Du. Ông đã lập được nhiều chiến công hiển hách. Năm 1799, ông cùng Nguyễn Huỳnh Đức theo chúa Nguyễn tiến chiếm thành Quy Nhơn. Chúa Nguyễn đổi tên là thành Bình Định, giao cho Võ Tánh và Lễ bộ Tham tri Ngô Tùng Châu coi giữ còn chúa rút đại quân về Gia Định.

    Tháng giêng năm 1800, tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu cùng Võ Văn Dũng vây chặt thành Bình Định. Sau 14 tháng bị vây khốn, quân trong thành đã quá mệt mỏi, lương thực, đạn dược cạn kiệt... Ngô Tùng Châu khuyên Võ Tánh nên bôn tẩu về với chúa Nguyễn, nhưng ông nói: “Tôi là võ tướng phải chết theo thành. Ngài là quan văn hãy cố bảo trọng”. Ngô Tùng Châu đáp: “Võ có trung can lẽ đâu văn lại không có nghĩa khí”. Sách Hoàng Việt hưng long chí kể: Ngô Tùng Châu trở về mặc triều phục chỉnh tề, vái vọng về phía kinh đô Phú Xuân rồi ngửa cổ uống cạn chén thuốc độc. Võ Tánh nghe tin báo, đau buồn nói: “Thế là Ngô quân đã đi trước ta rồi”. Nói đoạn đi ngay đến dinh của Ngô Tùng Châu, lo việc khâm liệm mai táng... Việc đó xảy ra ngày 25 tháng 5 năm Tân Dậu (ngày 5 tháng 7 năm 1801). Rồi Võ Tánh sai quân sĩ lấy củi khô đem chất đống trước lầu Bát Giác, đặt thuốc dẫn hỏa lên trên, rồi bảo với các tướng rằng: “Ta không muốn cho quân giặc nhìn mặt, ta chết với lửa”. Nói đoạn, Võ Tánh sai người ra trao cho tướng Trần Quang Diệu một bức thư có câu: “Phận ta là chủ tướng, phải chết dưới cờ, còn quân lính chẳng có tội gì, xin đừng giết hại”. Võ Tánh thay áo mão ung dung bước lên lầu, rồi truyền châm lửa. Lầu Bát Giác bỗng chốc hóa thành ngọn đuốc khổng lồ...”.

    Trần Quang Diệu vào thành, không giết một ai cả mà cho nhặt tinh cốt của Võ Tánh rồi tổ chức mai táng “kẻ thù” theo nghi lễ tướng quân. Cả hai người, bên thắng và bên thua đều tỏ rõ cái “dũng” và cái “nhân” của đạo làm tướng.

    3 ngôi mộ của một danh tướng

    Ngôi mộ chính của Võ Tánh nằm trong nội cung thành Hoàng Đế (thành do Nguyễn Nhạc xây trước đó). Mộ hình tròn trên có đắp biểu tượng một con dơi, người viết đã từng đến viếng ngôi mộ này, thấy không có bình phong tiền nhưng có bình phong hậu, bên mộ có 2 con nghê đá ngồi chầu.

    Vì không đưa được thi thể của Võ Tánh về Gia Định mai táng nên Nguyễn Ánh đã tổ chức an táng ông tại Phú Nhuận dưới hình thức “mộ gió” (chôn theo hình nhân bằng sáp). Khu lăng mộ này hiện tọa lạc tại hẻm số 19 đường Hồ Văn Huê (Q.Phú Nhuận, TP.HCM). Từ cổng lăng vào lần lượt là nhà võ ca, đền thờ, lăng mộ. Trước mộ có bình phong tiền, mặt trước vẽ hình con hổ, mặt sau vẽ hình “long mã hà đồ” (trên lưng con long mã có một thanh gươm cột trên chồng binh thư, quanh mình lân mã là những đốm lửa, tượng trưng cho người có tài thao lược, nhưng phải tự thiêu để tỏ nghĩa khí). Sau bình phong tiền là cửa lăng rộng hơn 2 m, hai bên có trụ biểu, trên đầu mỗi trụ có chạm búp sen lớn nên chiều cao mỗi trụ lên đến 2,5 m. Trước mộ có nhang án. Phần nấm mộ có hình chữ nhật, giật hai cấp, chiều dài 4 m, rộng 3 m và cao khoảng 4 tấc. Cuối cùng là bình phong hậu vẽ hình “vân hạc” ngụ ý võ tướng công cưỡi hạc về trời. Lăng có khuôn viên rộng rãi, thoáng mát và sạch sẽ. Người hiện nay chăm sóc, nhang khói là bà Sáu (tên thật là Nguyễn Thị Bao, 73 tuổi, bộ đội phục viên).

    Tuy nhiên trên đường Nguyễn Thái Bình (Q.Tân Bình), ngay sau chốt dân phòng của tổ bảo vệ dân phố, khu phố 7, dưới tán một gốc cổ thụ xum xuê có thêm một mộ Võ Tánh (mộ gió) nữa. Mặt tiền của nấm mộ được xây (mới) dạng một cái am nhỏ có mái giả bằng xi măng. Mặt trước “am” chia làm 3 ô nhỏ, trước mỗi ô đều đặt bát nhang. Ở ô chính giữa có ghi hàng chữ bằng quốc ngữ “Đại Nam quốc. Phần mộ: ông Võ Tánh, mất ngày 27.7.1801 năm Tân Dậu” (về ngày tháng tuẫn tiết của Võ Tánh, nhiều tài liệu ghi khác nhau). Chị Tâm - người đặt bàn máy may dưới cây đa trước mộ hằng ngày vẫn quét tước, nhang khói vì “ông rất linh” cho chị luôn đắt hàng kể từ khi ra đây ngồi (đã được 4 - 5 năm). Ngôi mộ này có chiều dài khoảng chừng 10 m, rộng chừng 7 m, xung quanh có tường thành bao quanh (không có bình phong hậu, nhưng trên bờ tường có chạm những phù điêu hình thú, hoa điểu... đã bị nứt nẻ, rơi rụng mất nét khá nhiều), bốn góc mộ có xây trụ cột. Mái trũng bám đầy rêu. Tôi hỏi chị Tâm: “Mộ này chôn mấy người, chị?”. Chị đáp: “Ba người, hổng thấy 3 ô bia đó sao?”. Tôi hỏi: “Nếu như mộ ông Võ Tánh ở đây là “mộ gió” thì 2 người được chôn theo là ai?”, nhưng chưa có câu trả lời.

    Hà Đình Nguyên

    www(dot)thanhnien(dot)com(dot)vn/van-hoa-nghe-thuat/mo-cac-danh-than-o-sai-gon-ky-2-3-ngoi-mo-cua-danh-tuong-vo-tanh-626032(dot)html

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    82
    3. Lăng Long Vân hầu Trương Tấn Bửu

    Nằm cách con đường Nguyễn Văn Trỗi khoảng 100 m lúc nào cũng nhộn nhịp xe cộ, vậy mà khu lăng mộ Long Vân hầu Trương Tấn Bửu lại ngập tràn một không khí trầm mặc, u tịch.

    Khung cảnh lăng còn trầm mặc hơn nữa khi chúng tôi đến thăm nơi này vào một buổi chiều sau trận mưa lớn. Cổng chính ở số 41 Nguyễn Thị Huỳnh (P.8, Q.Phú Nhuận, TP.HCM) đóng im ỉm. Sau khi bấm chuông, có một phụ nữ trên 50 tuổi ra mở cổng và dắt chúng tôi tham quan khu lăng mộ.

    Phò chúa, dẹp cướp biển

    Trương Tấn Bửu (1752 - 1827) là con thứ ba của ông Trương Tấn Khương và bà Trần Thị Nghĩa ở vùng đất nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ông theo phò Nguyễn Ánh thuở Chúa còn bôn tẩu. Chuyện kể rằng vào năm 1787, trong một đêm bị quân Tây Sơn truy đuổi, Chúa phải cải trang vào nhà ông Khương xin tạm trú. Lúc trò chuyện, nhìn dung mạo phi thường của khách, gia chủ gạn hỏi. Biết không thể giấu được nên Chúa phải xác nhận mình chính là mục tiêu truy bắt của quân Tây Sơn. Trương Tấn Bửu lúc này đã 35 tuổi, rất giỏi võ nghệ đã xin cha theo phò giá.

    Từ đó ông sát cánh bên Chúa Nguyễn, lập được nhiều chiến công cũng như chia sẻ cùng chủ tướng nhiều cơn hoạn nạn. Ông được liệt vào “Ngũ hổ danh tướng” của Chúa Nguyễn (gồm Lê Văn Duyệt, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Văn Trương và Trương Tấn Bửu). Giai đoạn này ông được Nguyễn Vương ban tên là Long (sau này lại ban tước hầu, nên gọi là Long Vân hầu).

    Năm 1802, Nguyễn Ánh thống nhất giang sơn lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long. Trương Tấn Bửu là một trong những “khai quốc công thần” được vua tin dùng sai vào nam ra bắc.

    Năm 1806, khi đang nhận chức Chưởng dinh chỉ huy đạo quân Bắc thành, ông có công dẹp giặc Tàu Ô (cướp biển) nên được lãnh chức Tổng trấn Bắc thành (Hà Nội) thay Nguyễn Văn Thành.

    Năm 1812 ông vào nam nhận chức Phó tổng trấn Gia Định thành (dưới quyền Nguyễn Văn Nhơn), rồi xuống tận Châu Đốc lo việc xây thành đắp lũy, lại được triệu về kinh đô Huế nhận chức Trung quân phó tướng trông coi việc xây dựng Thái Miếu. Năm 1821, lại được cử làm Phó tổng trấn Gia Định thành lần 2 (dưới quyền Lê Văn Duyệt).

    Ông làm quan suốt 40 năm (trải 2 đời Gia Long, Minh Mạng), mất lúc 75 tuổi (1827). Chính Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt đã đứng ra lo việc tống táng và xây mộ cho ông.

    Mộ cổ xuống cấp

    Khu lăng mộ Lễ Thành hầu Trương Tấn Bửu là một trong những ngôi mộ cổ nhất ở Sài Gòn - nay đã xuống cấp trầm trọng. Đây là kiến trúc tiêu biểu cho lăng mộ giới tướng lĩnh, quan lại đầu triều Nguyễn nên dù đã gần 200 năm, lớp ô dước bên ngoài bong tróc gần hết nhưng gạch bên trong vẫn gắn kết chắc chắn với nhau và giữ được gần như nguyên vẹn cấu trúc khu lăng mộ.

    Mặt bằng khu lăng mộ gồm bình phong tiền, cổng ngoài, sân bái đình, cổng trong, hương án, mộ và bình phong hậu. Mộ Trương Tấn Bửu dài hơn 3 m, ngang khoảng 2 m và cao hơn 2 m, có dáng như một ngôi nhà mà nóc mộ là 2 mái vát chụm nhau... Đi quanh khu mộ mới thấy được sự tàn phá của thời gian.

    Những búp sen bằng đá trên những cột trụ khuôn thành bao quanh khu mộ đã rơi rụng sứt mẻ. Những bức bình phong trước và sau mộ bị bong tróc lòi gạch bên trong nên nếu không tìm hiểu thì chẳng thể biết được trước đây nó được thể hiện như thế nào (hình lân ở bình phong tiền, hạc tùng ở bình phong hậu).

    Thay vào đó là những tấm biển, tấm bia viết bằng chữ quốc ngữ (còn mới quá, có cảm giác như bị “đặt nhầm chỗ”): mặt trước bình phong tiền có treo tấm biển “Cổ tích liệt hạng: mộ Long Vân hầu Trương Tấn Bửu 1752 - 1827. Cấm phá hoại, di chuyển, đào quật, vẽ và viết lên di tích. Nếu ai vi phạm sẽ bị truy tố theo luật lệ hiện hành về bảo tồn cổ tích - Viện Khảo cổ, Bộ Quốc gia Giáo dục”. Còn tấm bia đặt trước mộ khắc những chữ: “Trương công công Trương Tấn Bửu, Trung quân phó tướng thọ Long Vân hầu”.

    Bên phải lăng mộ là đền thờ Trương Tấn Bửu do ban quý tế Phú Thành Hội dựng lên để cúng tế, thờ phụng Đức Long Vân hầu. Do thuở xưa, khu lăng mộ tọa lạc tại ấp Phú Thành, xã Phú Nhuận, tỉnh Gia Định nên Hội Quý tế lấy tên ấp làm tên hội. Hội này do ông Cao Văn Báu lập nên và là hội trưởng đầu tiên. Ông Báu mất năm 1990, thọ 90 tuổi. Hiện nay cháu ngoại của ông Cao Văn Báu là bà Lê Thị Sương (sinh năm 1959) là người coi sóc, hương hỏa khu lăng mộ. Bà Sương chính là người mở cổng và dẫn chúng tôi vào tham quan.

    Ngay cửa vào đền, trên hai cột hiên đắp nổi câu đối: “Uy đức Bắc thành an vũ trụ. Thống huyền Nam địa tịnh biên cương (Uy đức trấn an vùng thành Bắc. Trị dân ổn định cõi bờ Nam).

    Trong đền ngoài các linh vật, vật dụng thường thấy ở các đình đền Nam bộ (bạch mã, cặp hạc đứng trên lưng rùa, võng lọng, thập bát binh khí…) còn có một bộ triều phục màu đỏ thêu rồng 4 móng. Hỏi bà Sương có phải là triều phục của Long Vân hầu truyền lại, bà bảo cũng không rõ, khi bà vào đây đã thấy có chiếc áo ấy rồi.

    Hà Đình Nguyên

    www(dot)thanhnien(dot)com(dot)vn/van-hoa-nghe-thuat/mo-cac-danh-than-tai-sai-gon-lang-long-van-hau-truong-tan-buu-626521(dot)html

  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    11
    Mộ Trương Vĩnh Ký [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]


  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    10
    @Taitrumday: nhưng mà đang nói về danh thần mà [IMG]images/smilies/45.gif[/IMG]

  6. #6
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    5
    4. Hoang phế mộ cha con Trương Minh Giảng

    Bên cạnh những ngôi mộ của các danh thần triều Nguyễn ở Sài Gòn được chăm sóc thờ cúng, cũng có những ngôi mộ đang trở thành phế tích, mà mộ của danh thần Trương Minh Giảng là một điển hình.

    Từ nhiều nguồn tư liệu, chúng tôi biết được tại hẻm 82/5 Lý Thường Kiệt, P.7, Q.Gò Vấp, TP.HCM có ngôi mộ song táng của Bình Thành bá Thượng thư Bộ Hộ Trương Minh Giảng cùng phu nhân và ngôi mộ của Thành Tín hầu Thượng thư Bộ Lễ Trương Minh Thành (cha ruột Trương Minh Giảng). Rất may là có một cán bộ văn hóa của phường dẫn đường, nếu không thì chắc chắn rất khó tìm bởi phải qua những con hẻm ngoằn ngoèo. Đến nơi, người coi giữ từ đường “Trương Gia từ” yêu cầu phải có giấy giới thiệu của phường mới cho vào bên trong khu nhà có tường cao bao quanh. Anh cán bộ phường phải về cơ quan xin giấy. Tôi hỏi ướm người đàn ông dẫn đường: “Ngôi mộ trong này là của ai vậy anh?”. “Tui cũng không biết, để hỏi ba tui”. Rồi ông hỏi vọng vào trong nhà từ đường: “Ba ơi, mộ này của ai vậy ba?”. Người trong nhà trả lời: “Cũng không biết nữa, nhưng tui là hậu duệ đời thứ 6”.

    Nơi tập kết phế liệu

    Phía bên trái khu từ đường là một khu vườn um tùm lùm chuối, cau kiểng, mít và tràn lan cỏ dại. Người viết đạp cỏ tìm đường vào. Mộ ông bà Bình Thành bá Trương Minh Giảng được xây bằng hợp chất cổ (ô dước) hoang tàn rêu phong, đầy dây leo cỏ dại… Mộ có kiến trúc: Vòng ngoài là bờ thành hình chữ nhật (khoảng 10 x 6 m, cao khoảng 0,6 m), nối liền với cổng mộ là 2 trụ đá vuông, trên đầu trụ có chạm búp sen lớn. Bình phong trước gồm 3 ô hình chữ nhật (ô giữa nhô lên), hai bên bình phong có trụ dạng cuốn thư. Vì rất hoang phế nên không biết được nguyên trạng bình phong này có chạm khắc chữ hay hình thù gì không. Phần mộ không có bia, cuối cùng là bình phong hậu nối liền với bờ thành, trên bình phong hậu cũng chẳng thể hình dung được nguyên trạng.

    Mộ người con (và dâu) dẫu được nằm bên cạnh từ đường dòng họ Trương mà còn “thê thảm” như thế, huống gì mộ của người cha nằm ngoài khuôn viên “Trương Gia từ” đến những 70 m. Mộ Thành Tín hầu Trương Minh Thành nằm ngay góc ngã ba 2 con hẻm nhỏ (ở số 82/14A Lý Thường Kiệt, P.7, Q.Gò Vấp). Người qua đường chỉ có thể đoán đây là một ngôi mộ cổ bởi được khoanh vuông bằng một bờ thành (dài khoảng 10 m, góc có trụ vuông), còn thì chỉ thấy là mộ “rừng cây” um tùm và là bãi tập kết của đủ loại phế liệu (thùng mốp, cửa kính vỡ, khung nhôm sắt, gỗ tạp, chậu kiểng…). Mặt tiền của ngôi mộ bị che chắn kín mít bởi những thứ tạp nham này. Không thể tìm được lối vào (mà có lối thì cũng chẳng ai dám vào vì quá um tùm, rậm rạp). Chạnh nghĩ cả 2 cha con đều đạt tới bậc thượng thặng vinh hoa: một là Thượng thư Bộ Lễ, người kia là Thượng thư Bộ Hộ, cha còn hơn con khi được phong tước hầu, còn con mới tới tước bá, cùng phò vua giúp nước nổi tiếng một thời, vậy mà ngày nay mộ phần lại tang thương như vậy.

    Công thần bậc nhất của nhà Nguyễn

    Có rất ít thông tin về Thành Tín hầu Trương Minh Thành nhưng tiểu sử của Trương Minh Giảng thì… dài dằng dặc. Ông người làng Hạnh Thông, H.Bình Dương, tỉnh Gia Định. Trương Minh Giảng được đánh giá là người văn võ song toàn, công thần bậc nhất của nhà Nguyễn, vừa là võ tướng vừa là sử gia, từng giữ chức Tổng tài Quốc sử quán. Ông đỗ cử nhân năm 1819 và chỉ hơn 10 năm sau đã thăng tiến đến chức Thượng thư Bộ Hộ.

    Năm 1833, Trương Minh Giảng được vua Minh Mạng sai đem quân dẹp loạn Lê Văn Khôi, mãi 2 năm sau mới hạ được thành Phiên An (tức thành Gia Định). Tuy nhiên, trước đó Lê Văn Khôi đã cầu viện với Xiêm La (Thái Lan ngày nay) nên vua Xiêm sai quân thủy bộ chia làm 5 đạo nhất loạt tiến đánh Hà Tiên, Nam Vang, Cam Lộ, Cam Cát và Trấn Ninh. Minh Mạng cấp tốc điều động các tướng chỉ huy bảo vệ cả 5 mặt trận. Trương Minh Giảng cùng Nguyễn Xuân đẩy lui được quân Xiêm, nên được vua ban thưởng phong tước Bình Thành nam. Thừa thắng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân phối hợp cùng quân của Lê Đại Cang (đang chiến đấu ở mặt trận Nam Vang) tấn công giặc, quân Xiêm thất trận phải bỏ Nam Vang, rút tàn quân chạy về nước, giúp Chân Lạp thu phục lại thành Nam Vang (Phnom Penh bây giờ). Nhờ chiến công này, Trương Minh Giảng được gia phong tước Bình Thành bá. Sách Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu ghi: “Vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua nghe tấu chương của Trương Minh Giảng, lập đất Cao Miên thành quận huyện của Đại Nam, đặt tên là Trấn Tây thành”. Vua phong Trương Minh Giảng chức Tướng quân kiêm chức Bảo hộ Cao Miên và phong Lê Đại Cang làm Trấn Tây Tham tán đại thần cùng lo việc trấn thủ. Năm 1838, do công lao trấn giữ Trấn Tây thành, khi triều đình dựng bia ghi công võ tướng, tên ông được khắc hàng đầu trong Võ miếu ở kinh đô Huế.

    Do tình hình Trấn Tây (gồm vài tỉnh đông nam Cao Miên, phía dưới Biển Hồ, Phnom Penh, Kandal, Takeo, Prey Veng) không yên vì gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của người bản xứ, năm 1841, vua Thiệu Trị quyết định rút bỏ Trấn Tây thành (tức thủ đô Nam Vang ngày nay) và toàn bộ Trấn Tây. Trương Minh Giảng theo lệnh rút quân về trấn thủ An Giang.

    Tháng 7 năm Tân Sửu (1841), Trương Minh Giảng bệnh và qua đời tại An Giang.

    Hà Đình Nguyên

    www(dot)thanhnien(dot)com(dot)vn/van-hoa-nghe-thuat/mo-cac-danh-than-o-sai-gon-hoang-phe-mo-cha-con-truong-minh-giang-626966(dot)html

  7. #7
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    5. Mộ Huỳnh Ngọc hầu Phan Tấn Huỳnh

    Nằm sâu trong con hẻm 120 Huỳnh Văn Bánh (Q.Phú Nhuận, TP.HCM) có một ngôi mộ cổ của một danh tướng triều Nguyễn, đó là Huỳnh Ngọc hầu Phan Tấn Huỳnh.

    Ngôi mộ nằm bên cạnh đường hẻm với tường rào bao quanh (dài hơn 12 m, rộng khoảng 6,5 m). Khu mộ trông khá nhỏ vì những hộ buôn bán chung quanh đã tận dụng khuôn viên mộ để dựng vài chiếc xe đạp, xe máy và một số vật dụng.
    Vẹn nguyên sau gần 200 năm

    Do cổng khu mộ không khóa nên chúng tôi “chui” vào dễ dàng. Phải “chui” vì khi xây mộ, những người thiết kế đã cố tình xây vòm cửa khá thấp (khoảng 1,4 m) để những ai bước vào khu mộ phải cúi đầu trước anh linh người đã khuất. Cổng mô phỏng dạng nhà hai mái, lợp giả ngói ống. Trên vòm cửa vào có 4 chữ Hán “Đức hóa lê dân” (dùng đức để cảm hóa chúng dân).

    Chúng tôi thử dò hỏi những người chung quanh về chủ nhân ngôi mộ nhưng ai cũng lắc đầu không biết. Hỏi về hậu duệ của nhân vật này có còn ai ở quanh đây không, họ cũng lắc đầu. Tuy thế, khi vào mộ quan sát, chúng tôi vẫn thấy những chân nhang cắm trong những bát hương ở bên trong bình phong tiền và trước bia mộ. Chắc hẳn những hộ buôn bán chung quanh vẫn thường nhang khói cho người nằm dưới mộ để được phù hộ buôn may bán đắt, họ cũng chăm sóc, quét dọn khu mộ chu đáo, vì vậy nếu so với lăng mộ được xây dựng cùng thời như mộ Long Vân hầu Trương Tấn Bửu (cũng ở Q.Phú Nhuận) thì ngôi mộ này còn nguyên vẹn, tươm tất hơn nhiều.

    Ngôi mộ rập theo phương thức xây dựng mộ của các danh thần, võ tướng triều Nguyễn - từ ngoài vào trong gồm: bình phong tiền, cổng (cửa), bia mộ, mộ và cuối cùng là bình phong hậu. Bình phong tiền vẽ hình hổ trên nền mây, mặt sau vẽ phong cảnh (biển, núi, cây cối…). Chắc chắn là những tranh này mới được vẽ lại trong những đợt trùng tu, tuy vậy cũng đã ố tróc nhiều chỗ. Qua khỏi cổng là mộ có dạng liếp hình chữ nhật gồm 2 cấp khá thấp. Bia trước mộ ghi: Hoàng Việt, Huỳnh Ngọc hầu, nguyên Phiên An Tổng trấn, Phan công chi mộ. Minh Mệnh đệ ngũ niên (tức năm 1824 - NV). Cuối mộ (sát tường nhà dân) là bình phong hậu dạng cuốn thư, giữa là văn bia khắc 18 hàng (dọc) chữ Hán (khoảng 300 chữ) ghi lại công lao, thành tích của Huỳnh Ngọc hầu Phan Tấn Huỳnh, chữ còn rất rõ nét.

    Lập đất, an dân

    Tra cứu lịch sử chúng tôi thấy có rất ít tài liệu nói về Phan Tấn Huỳnh, chỉ biết rằng ông sinh trưởng ở đất Gia Định, là một trong những bộ tướng của Nguyễn Vương (Nguyễn Ánh) chống lại quân Tây Sơn (cùng với Lê Văn Duyệt, Ngô Tùng Châu, Võ Tánh, Trương Tấn Bửu…). Sau khi Gia Long lên ngôi, năm 1807 ông được phong là Thần Sách tướng quân, Khâm sai Đô thống chế kiêm Hữu quân phó tướng dưới trướng của Tả quân - Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt. Từ năm 1809 đến 1816, ông phụng mệnh vua đi đánh dẹp “Mọi Đá Vách” (người dân tộc thiểu số ở miền núi Quảng Ngãi) lập được nhiều chiến công, vỗ an dân chúng được vua trọng thưởng.

    Năm 1820, vua Gia Long băng hà, vua Minh Mạng nối ngôi, ông lại được cử vào Gia Định là phó tổng binh, năm 1822 thăng Tổng binh Gia Định thành giúp Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Ngoài tài dụng binh, cầm quân ông còn nổi tiếng “văn hay chữ tốt” (trên văn bia khắc ở bình phong hậu, có nói ông là người thảo soạn những tấu chương, văn biểu cho Lê Văn Duyệt để vị tổng trấn này bẩm báo lên các vị vua Gia Long, Minh Mạng). Không chỉ có vậy, ông còn được ghi công bởi thành tích khẩn hoang lập ấp, bình định những vùng đất mới mở nên được vua phong tước “hầu” với mỹ danh Huỳnh Ngọc hầu Phan Tấn Huỳnh.

    Năm 1822 ông cáo quan lui về quê. Hai năm sau ông mất (1824). Có tài liệu nói rằng ông tự kết liễu đời mình vì tuổi già không muốn làm phiền con cháu…

    Như vậy, Huỳnh Ngọc hầu Phan Tấn Huỳnh mất trước Long Vân hầu Trương Tấn Bửu 3 năm (tức năm 1827). Cả hai đều là phụ tá đắc lực cho Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt. Khi ông Trương Tấn Bửu mất (thọ 75 tuổi) vua Minh Mạng sai Lê Văn Duyệt đích thân lo việc tang lễ và xây mộ. Chẳng biết khi chết, ông Phan Tấn Huỳnh có được sự vinh hạnh này chăng? Nhưng lăng mộ Long Vân hầu dù bề thế hơn nhưng nay đã xuống cấp trầm trọng, còn mộ của Huỳnh Ngọc hầu vẫn còn hầu như nguyên vẹn với thời gian...

    Hà Đình Nguyên

    www(dot)thanhnien(dot)com(dot)vn/van-hoa-nghe-thuat/mo-cac-danh-than-o-sai-gon-mo-huynh-ngoc-hau-phan-tan-huynh-627511(dot)html

  8. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    10
    Trích dẫn Gửi bởi Fury
    @Taitrumday: nhưng mà đang nói về danh thần mà [IMG]images/smilies/45.gif[/IMG]


    Danh thần là bề tôi nổi tiếng của vua, tức người nổi tiếng có chức vụ vua ban cho là danh thần rồi :3

    Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898), tên hồi nhỏ là Trương Chánh Ký, sau này đổi tên đệm thành Trương Vĩnh Ký, hiệu Sĩ Tải; là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục học, và khảo cứu văn hóa tiêu biểu của Việt Nam.

    Ông có tri thức uyên bác, am tường và có cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên đương thời ông được giới học thuật Châu Âu liệt vào 18 nhà bác học trên thế giới[1]. Ngoài ra, vì biết và sử dụng thông thạo 27 ngoại ngữ, nên ông trở thành nhà bác học biết nhiều thứ tiếng nhất ở Việt Nam, và đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới.

    Ông để lại hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật,... Riêng đối với nền báo chí Quốc ngữ Việt Nam, ông được coi là "ông tổ nghề báo Việt Nam", người đặt nền móng, bởi ông chính là người sáng lập, là Tổng biên tập tờ báo quốc ngữ đầu tiên: Gia Định báo ).

    Chức vụ, huân huy chương

    Không những Trương Vĩnh Ký là một nhà văn tiền phong của nền văn học chữ quốc ngữ mà ông còn là một học giả rất nổi tiếng. Trong quá trình hoạt động, ông đã được nhận các chức việc và huân huy chương:

    Nhận huy chương Dũng sĩ cứu thế của Tòa thánh La Mã ngày 1 tháng 10 năm 1863.
    Năm 1871, được cử làm hội viên Hội Nhân Văn và Khoa học vùng Tây Nam nước Pháp, Hội nhân chủng học, Hội Giáo dục Á châu.
    Năm 1874, được phong Giáo sư ngôn ngữ Á Đông, vì Pétrus Ký đã thông hiểu 27 sinh ngữ trên thế giới.
    Nhận huy chương Isabelle la Catholique của Tây Ban Nha ngày 27 tháng 6 năm 1886.
    Trở thành hội viên Hội chuyên khảo về Văn hóa Á Châu ngày 15 tháng 2 năm 1876.
    Trở thành hội viên Hội chuyên học địa dư ở Paris ngày 7 tháng 7 năm 1878.
    Nhận khuê bài Hàn Lâm Viện đệ nhị đẳng bội tinh (Palmes d'Académie) của Hàn Lâm viện Pháp ngày 17 tháng 5 năm 1883.
    Nhận Tứ đẳng Long tinh, Ngọc khánh, Long khánh của Nam triều ngày 17 tháng 5 năm 1886.
    Nhận Bắc Đẩu Bội Tinh đệ ngũ đẳng của Pháp ngày 4 tháng 8 năm 1886
    Nhận Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Pháp ngày 3 tháng 6 năm 1887.
    Nhận Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Hoàng gia Cam Bốt.
    Vua Đồng Khánh ban cho ông chức Hàn Lâm viện Thị giảng học sĩ.
    Vua Khải Định ban hàm Lễ Bộ Tham Tri.
    Vua Bảo Đại ban hàm Lễ Bộ Thượng Thư.

    Một số tác phẩm

    Ông có trên một trăm tác phẩm (có nguồn ghi 119 tác phẩm), nhiều quyển rất đáng chú ý, như:

    Truyện đời xưa
    Abrégé de grammaire annamite (Tóm lược ngữ pháp An Nam)
    Kim Vân Kiều (bản phiên âm ra chữ quốc ngữ đầu tiên)
    Tiểu giáo trình Địa lý Nam Kỳ
    Ký ức lịch sử Sài Gòn và vùng phụ cận
    Cours de langue annamite (Bài giảng ngôn ngữ An Nam)
    Voyage au Tonkin en 1876 (Chuyến đi ra Bắc Kỳ năm Ất Hợi, 1786)
    Guide de la conversation annamite (Hướng dẫn đàm thoại An Nam)
    Phép lịch sự An Nam (Les convenances et les civilités annamites)
    Lục súc tranh công
    Cours de la langue mandarine ou des caractères chinois (Bài giảng tiếng quan thoại hay chữ Trung Quốc)
    Cours d'histoire annamite (Bài giảng lịch sử An Nam)
    Dư đồ thuyết lược (Précis de géographie)
    Đại Nam tam thập nhất tỉnh thành đồ
    Cours de littérature annamite (Bài giảng văn chương An Nam)
    Cours de géographie générale de l'Indochine (Bài giảng địa lý tổng quát Đông Dương)
    Đại Nam tam thập nhứt tỉnh địa đồ
    Grand Dictionnaire Annamite-Français (Đại tự điển An Nam-Pháp), v.v...

    Nỗi lòng

    Hay tin Pétrus Ký, một con người tài giỏi, sẽ ra làm việc với Pháp, một số quan lại nhà Nguyễn đâm ra nghi kỵ ông. Nhưng sau nhiều toan tính, ông nghĩ rằng phải làm việc để giúp đỡ đồng bào, trước hết là trong phương diện văn hóa, nhất là lúc ấy, Pháp và Nam triều chưa hiểu nhau, chưa thành thật với nhau. Pétrus Ký đã mượn câu cách ngôn Latinh "Ở với họ mà không theo họ" ("Sic vos non vobis"), để biện minh cho việc nhận lời làm thông ngôn cho Jauréguiberry.[12] Mặc dù làm việc cho thực dân Pháp, nhưng khi sưu tầm và chú thích bản Gia Định thất thủ vịnh, Trương Vĩnh Ký vẫn gọi họ là "giặc".

    Ngày 8 tháng 11 năm 1870, ông có lời di huấn: Người đời sanh ký tử quy, đàng đi nước bước vắn vỏi lắm. Nhưng ai cũng có phận nấy, hể nhập thế cuộc bất khả vô danh vị, cũng phải làm vai tuồng mình cho xong đã, mới chun vô phòng được. Sự sống ở đời tạm nầy, đỏ như hoa nở một hồi sương sa; vạn sự đều chóng qua hết, tan đi như mây như khói. Nên phải liệu sức, tùy phận mà làm vai tuồng mình cho xong....

    Bài thơ ông sáng tác lúc gần lâm chung:

    Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai,
    Xô đẩy người vô giữa cuộc đời.
    Học thức gửi tên con mọt sách,
    Công danh rốt cuộc cái quan tài.
    Dạo hòn, lũ kiến men chân bước,
    Bò xối, con sùng chắt lưỡi hoài!
    Cuốn sổ bình sanh công với tội,
    Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.

    Trên cửa nhà mồ của ông có ghi một câu văn bằng tiếng Latinh: "Miseremini Mei Saltem Vos Amici Mei" (Xin hãy thương xót tôi, hỡi các anh chị là những người bạn tôi). Đây là một câu văn trích ra từ Sách của Gióp (Job 19:21-27) trong Cựu ước, thuật lại chuyện Gióp bị Thượng đế và loài người lìa bỏ.

    Đánh giá

    Ở cuối thế kỷ 19, học giả Pháp tên là Jean Bouchot đã gọi Trương Vĩnh Ký là "một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cho đến ở nước Trung Hoa hiện đại nữa." Ngoài ra, ông này còn viết:

    Ta phải xem đời của cụ Trương Vĩnh Ký là một bài học và một gương tốt cho ta. Một bài học vì, vì ta thấy người dân hoàn toàn Nam Kỳ ấy sánh kịp với các nhà thông thái xứng đáng nhất của Âu châu trong đủ ngành khoa học...
    Trích thêm một vài nhận xét:

    Học giả Vương Hồng Sển:
    Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của là ba ông minh triết bảo thân, gần bùn mà chẳng nhuốm mùi bùn, không ham "đục nước béo cò" như ai, chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất Tào mà lòng giữ Hán, thác không tiếng nhơ, thấy đó mà mừng thầm cho nước nhà những cơn ba đào sóng gió còn hiếm người xứng danh học trò cửa Khổng.
    Nhà văn Sơn Nam:
    Ông Trương Vĩnh Ký từ khi đỗ đạt cho đến khi mất vẫn tỏ ra thân Pháp. Tuy nhiên, người ở miền Nam không bao giờ khinh rẻ ông. Ông không gia nhập Pháp tịch; trước khi mất, ông biết thân phận của người học giả sống trong thời kỳ khó khăn...Ông này khi sanh tiền tuy là nhà nước tin cậy mặc dầu chớ chẳng hề ỷ thế mà hại quê hương, chỉ vẽ cho các quan Lang sa biết phong tục lễ nghĩa của con nhà An Nam, cho khỏi chỗ mích lòng nhau, làm cho mẹ gà phải thương con vịt. Đêm ngày lo đặt sách này dịch sách kia cho kẻ hậu sinh dễ học. Thiệt là quan thầy của cả và Nam Kỳ...
    Ngoài những tác phẩm biên khảo mang tính cách bác học, ông Trương vĩnh Ký còn chú ý đến độc giả bình dân, lời văn theo lời ăn tiếng nói thông dụng lúc bây giờ. "Chuyện đời xưa" của ông cùng là "Chuyện giải buồn" của Huỳnh Tịnh Của hãy còn được nhắc nhở.
    Giáo sư Thanh Lãng:
    Trương Vĩnh Ký không đạo mạo, không đài các, không cao kỳ; ông trai trẻ hơn, ông mới hơn...Và nhờ ông, câu văn Việt được giải phóng khỏi những xiềng xích chữ Hán. Chủ trương của ông chính là "cách nói tiếng An Nam ròng" và viết "trơn tuột như lời nói". Nếu đem phân tích theo ngữ pháp thì thấy lôi thôi, nhưng so với văn xuôi khác ra đời sau ông 20, 30 năm, văn ông vẫn còn hay hơn, mạch lạc khúc chiết hơn .
    Giáo sư Nguyễn Huệ Chi:
    Những biên soạn của Trương Vĩnh Ký đã có những đóng góp quan trọng cho một số ngành khoa học đương thời, nhất là khoa ngôn ngữ học và khoa học lịch sử… Các sáng tác của Trương cũng nói lên ít nhiều cá tính một con người cần mẫn trong công việc, có cái nhìn tinh tế và óc tò mò trước sự vật, nhiều lúc có khả năng hài hước hóa mọi chuyện ở đời...
    Nhà nghiên cứu Lê Thanh:
    Ông là người, từ nhỏ được giáo dục theo phương pháp Âu Tây, khi trưởng thành theo giúp việc người Pháp, thế mà bằng hữu viết thư giục ông, ông không nghe, vẫn khăng khăng từ chối để suốt đời được giữ bộ quần áo Việt Nam và suốt đời là một người Việt Nam thuần túy.
    Nhà nghiên cứu Huỳnh Minh: Nếu cụ Võ Trường Toản là "Hậu tổ" của Nho học ở đất Gia Định thì cụ Trương Vĩnh Ký là bậc tiền hiền của chữ quốc ngữ trong toàn cõi đất Việt.
    Nhà văn Vũ Ngọc Phan:
    Trong số những sách dịch thuật, khảo cứu và sáng tác của ông, người ta thấy chỉ những sách khảo cứu của ông là có giá trị hơn cả...Người ta thấy ông rõ là một nhà bác học có óc tổ chức và có phương pháp....
    Học giả Nguyễn Văn Tố tóm tắt sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký gọn trong 3 tiếng Bác học, Tâm thuật, Khiêm tốn

    Trường Trung học Petrus Ký xưa, nay là Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến phê phán, buộc tội vì họ Trương đã cộng tác với thực dân, như Lê Thanh trong quyển Trương Vĩnh Ký, Trần Huy Liệu trong Lịch sử 80 năm chống Pháp, Phạm Long Điền và Nguyễn Sinh Duy trong quyển Cuốn sổ bình sanh của Trương Vĩnh Ký...

    Ghi công, khi phong trào Duy Tân hoạt động công khai rầm rộ, ông Trần Chánh Chiếu đã cổ động lạc quyên đúc tượng kỷ niệm ông Trương Vĩnh Ký với bài "ông Đốc Ký" đăng trên báo Lục Tỉnh Tân Văn

  9. #9
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    722
    Cảm ơn Taitrumday nhé! Tại đọc thì nhớ ông Trương Vĩnh Ký là học giả nhiều hơn là quan trong triều [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    6. Lăng ông Thượng và ông Tổng

    Ở Gò Quéo (ấp Đông, P.Bình Trưng Đông, Q.2, TP.HCM), có một quần thể mộ cổ gồm 15 ngôi mộ. Trong số đó chỉ 2 ngôi mộ lớn có bia, được xác định là của hai cha con Triệt Thanh hầu Phạm Quang Triệt và con là Tuần phủ Bắc Ninh Phạm Duy Trinh.

    Hai ngôi mộ linh thiêng

    Lăng mộ tọa lạc trên một vùng gò rộng lớn cao hơn 2 m, được bao quanh bởi rạch Giồng Ông Tố. 13 mộ đã mất bia, 2 ngôi mộ còn bia tuy bị hư hại nhiều nhưng trông vẫn còn rất hoành tráng, cư dân ở đây gọi là lăng Ông Thượng (lăng Ngài Triệt) và lăng Ông Tổng (lăng Ngài Trinh), hay nghĩa trang họ Phạm. Dân quanh vùng nói hai ngôi mộ này rất linh thiêng, họ thường đến lễ bái, quét dọn.

    Hai ngôi mộ có bia ấy kề cận nhau, hình thể uy nghi. Ngôi mộ thứ nhất được xây dựng vào năm Kỷ Mão 1819, làm bằng hợp chất cổ (ô dước). Khu mộ bình đồ hình chữ nhật, dài 8,5 m, rộng 5,5 m. Kiến trúc từ ngoài vào trong như sau: bình phong tiền, ngôi mộ hình chữ nhật và bình phong hậu gắn liền với vòng tường bao xung quanh. Mặt trước bình phong tiền có ô hộc trang trí hình chữ nhật, bên trong có hình kỳ lân (long mã) nhưng đã phai mờ theo thời gian. Cửa mộ có hai trụ gắn vào tường bao. Trên đầu cột trụ có chạm búp sen nhưng đã sứt mẻ nhiều. Các đoạn tường bao dày trung bình hơn 0,5 m. Nấm mộ dạng hình chữ nhật giật 2 cấp cao khoảng 0,3 m so với nền đất và bị nứt, hỏng nhiều trên bề mặt mộ. Gắn chặt vào chân mộ là tấm bia làm bằng đá Non Nước (Đà Nẵng), khắc 45 chữ Hán: “Hoàng Việt. Hiển khảo Đồng Đức công thần Phụng trực đại phu chính trị khanh, Lại bộ Tả tham tri, Triệt thanh hầu, thụy Đôn Mẫn quý công chi mộ. Gia Long Kỷ Mão niên, nhuận nguyệt cốc đán. Tự tử Quang Chiêm lập bi” (Nước Hoàng Việt. Mộ Đồng Đức công thần Phụng trực đại phu chính trị khanh, Lại bộ Tả tham tri, Triệt Thanh hầu Phạm Quang Triệt, thụy Đôn Mẫn. Con nuôi là Quang Chiêm lập bia mộ ngày tốt tháng nhuận năm 1818 niên hiệu Gia Long - Kỷ Mão). Kết thúc là bình phong hậu gắn liền với bờ thành. Bình phong rộng 2,1 m chia thành 5 ô dọc hình chữ nhật, lại có những ô ngang nhỏ như cánh cửa gỗ thường thấy hiện nay. Viền bao quanh bình phong hậu trang trí hình cúc dây, hai bên bình phong có vành quai hình cuốn thư cao 1,2 m uốn lượn, được làm rất công phu và có tính nghệ thuật cao.

    Ngôi mộ thứ hai được xây dựng vào năm Tân Hợi 1851, gồm các kiến trúc: cổng và bình phong tiền, mộ hình chữ nhật, bình phong hậu gắn liền với vòng tường bao quanh. Bia mộ cũng làm bằng đá Non Nước khắc 51 chữ Hán: “Đại Nam. Hiển khảo, nguyên thụ Trung phụng đại phu, Binh bộ Tả tham tri, Bắc Ninh tuần phủ, hộ lý Ninh - Thái tổng đốc quan phòng Phạm lượng phủ, thụy Trang Khải, phủ quân chi mộ. Tuế thứ Tân Hợi, mạnh hạ cát đản. Tự tử Quang Bạc lập bi”. (Nước Đại Nam. Mộ người trước đây được phong Trung phụng đại phu, Binh bộ Tả tham tri, Bắc Ninh tuần phủ, Hộ lý Ninh - Thái Tổng đốc quan phòng Phạm Duy Trinh, thụy Trang Khải. Con nuôi là Quang Bạc lập bia mộ ngày tốt tháng tư năm 1851 - Tân Hợi).

    Năm 1998, nhân kỷ niệm Sài Gòn - TP.HCM 300 năm, Bảo tàng Lịch sử VN đã đưa 2 bia mộ này về trưng bày tại bảo tàng.

    Khoanh vùng bảo vệ khu mộ cổ

    Sách Đại Nam chánh biên liệt truyện (do các sử quan biên soạn, hoàn thành cuối năm 1889) ghi: “Phạm Quang Triệt, tổ tiên người H.Diên Phước (Quảng Nam), sau đến ở Gia Định, là em họ Hình Bộ Thượng thư Phạm Như Đăng. Triệt là người cương trực có học thuật. Năm Gia Long thứ 14 (1815) thăng Lại Bộ Tả Tham tri. Năm thứ 15, sách lập Hoàng Thái Tử (Minh Mạng sau này) Triệt được phong làm quan Phụng chiếu năm thứ 17 (1818) chết”. Còn trong Đại Nam thực lục chánh biên cũng có ghi: “Cuối năm 1794, Phạm Quang Triệt được thăng từ Cống Sĩ Viện lên Hàn Lâm Viện Thị Học theo sự bảo cử của Cương Đồng (Đình thần). Đầu năm 1803 (năm Gia Long thứ 2) được cử làm Phiên Trấn Dinh Ký Lục. Năm 1813 làm Lại Bộ Tả Tham tri, lúc đó Lại Bộ Thượng thư là Trịnh Hoài Đức, Hữu Tham tri là Võ Thanh Trung”.

    Còn thông tin về Tuần phủ Bắc Ninh, Hộ lý Ninh - Thái (Ninh Bình và Thái Bình) Tổng đốc Phạm Duy Trinh thì hầu như không có. Tuy nhiên, nhận được nhiều thông tin liên quan đến 2 ngôi mộ này, dòng tộc họ Phạm ở Huế (đại diện là các ông Phạm Tất Đạt, Phạm Như Lợi, Phạm Lương Quang...) đã nhiều lần vào TP.HCM liên lạc và ghi nhận hai nhân vật này có liên quan mật thiết với dòng tộc của họ, cụ thể là 2 mộ tổ thuộc Phái Nhất, Chi Hai đã thất lạc lần 200 năm nay. Đối chiếu gia phả với các tư liệu, bia ký của hai ngôi mộ cổ các ông Đạt, Lợi, Quang chắc chắn hai ngôi mộ đó là mộ ngài Phạm Quang Triệt và ngài Phạm Duy Trinh. Các ông đề xuất đem lư hương hai ngôi mộ đó nhập vào nhà thờ họ Phạm ở Truồi, Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế, để thờ cúng.

    Ngày 15.11.2006, UBND Q.2 cùng Sở VH-TT-DL và Sở Tài nguyên - Môi trường TP.HCM đã khảo sát và đề xuất khoanh vùng bảo vệ khu mộ cổ Gò Quéo.

    Hà Đình Nguyên

    www(dot)thanhnien(dot)com(dot)vn/van-hoa-nghe-thuat/mo-cac-danh-than-o-sai-gon-lang-ong-thuong-va-ong-tong-627900(dot)html

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •