Kết quả 1 đến 10 của 10
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0

    Trận đánh giữa làng Công Giáo Trà Kiệu và quân Văn Thân

    Như đã nhắc đến từ trước trong topic "Phong Trào Văn Thân" , vốn là thời kì hàm chứa rất nhiếu tư liệu lịch sử quý giá nhưng chưa được xem trọng và nghiên cứu đúng mực. Còn thiết thực hơn nữa, các sử liệu được ghi nhận tại địa phương Trà Kiệu là 1 trong các bằng chứng quan trọng để nghiên cứu về nghệ thuật dàn trận của Việt Nam thời Nguyễn cũng như các thời kì phong kiến VN, qua đấy ta chúng ta có thể hình dung được chiến thuật, vũ khí và trang bị của người Việt thời "mạt" Nguyễn cũng như suốt thời phong kiến như thế nào.

    Dẫn nhập: Phong trào Văn Thân là sự kiện sĩ phu yêu nước nổi lên nhằm chống lại thực dân Pháp xâm lược. Tuy nhiên phong trào Văn Thân đã vô cùng sai lầm trong đường lối khi "Bình Tây Sát Tả" mà chỉ tập trung vào việc tàn sát người Công Giáo mà ko lo tập trung phát triển lực lượng để đánh giặc Pháp. Kết quả là gây nên sự mất đoàn kết lớn trong nước, ko chỉ giữa người Công Giáo với quân Văn Thân, mà còn là giữa quân Văn Thân với nhau, do mức độ tàn ác của cuộc chiến vô nghĩa này đã khiến cho người dân ko còn tin tưởng với giới sĩ phu yêu nước nữa, cuối cùng giúp cho người Pháp thắng lớn và đô hộ toàn Việt Nam.

    Trong khi đa số các làng Công Giáo từ Thanh Hóa đến Phú Yên "phải chịu cảnh máu chảy đầu rơi, nhà tan cửa nát thảm khốc chưa từng có trong lịch sử. Chỉ nơi nào liều chết chống trả tự vệ thì may ra thoát nạn hoặc ít bị tổn hại", trong đó nổi tiếng nhất là trận đánh tại làng Trà Kiệu ở tỉnh Quảng Nam

    I. Sơ lược về làng Trà Kiệu


    Trà Kiệu vốn là kinh đô của nước Lâm Ấp(TK1 SCN) , năm 808 với tên gọi là Simhapura (Sư Tử Thành) , kinh đô của tiểu vương quốc Amaravati, là 1 tiểu vương quốc hùng mạnh nhất trong 4 tiểu Vương quốc Champa lúc bấy giờ. Trải gần một thiên niên kỷ Cho đến đời vua Viạya Cri (998 - 1009) thì dời kinh đô vào Đồ Bàn (Vijaya), đến đây Simhapura bỏ hoang và được dân gian gọi là Chiêm động. Sau sự kiện Lê Thánh Tông bình định Chăm Pa, người Việt theo chân nhà Lê vào lập nghiệp trong vùng đất của Chiêm Thành, lập nên xã Trà Kiệu, nhưng người dân quanh vùng ai cũng sợ những vị thần bảo vệ vương quyền của Vương quốc Champa còn trú ngụ nên không ai lui tới khu vực nội thành đổ nát của Simhapura

    Năm 1628, những người Công Giáo miền Bắc và cả dân Công Giáo trong vùng khai hoang vùng đất nội thành Trà Kiệu và lập ra làng Công Giáo đấu tiên ở đây, từ một nơi bị người ta chê sợ, Trà Kiệu lại trở nên vô cùng sung túc và đẹp đẽ nhờ những người Việt đến đây khai hoang và nhờ vào địa thế tuyệt đẹp của kinh thành năm xưa

    Ngày nay đền đài thành quách của Chiêm quốc đã điêu tàn đổ nát, một số nền móng lâu đài đã được Trường Viễn Ðông Bác Cổ khai quật, đào bới. Một số thành lũy đã đứt nối nhau dưới những ngôi nhà của cư dân.

    Nếu thật chú ý chúng ta mới có thể nhận ra được một vài di tích còn sót lại nhưng không trọn vẹn, đó là :

    - Ở phía Ðông Giáo xứ có hòn Bửu Châu (hay còn gọi là Non Trược, hay Non Trọc) mà người ta tin rằng đó là kỳ đài của kinh thành. Hòn Bửu Châu án ngữ ngay sau hậu cung của Chiêm Chúa. Ngày nay Hòn Bửu Châu đã trở thành Ðền Mẹ Trà Kiệu - Trung tâm Thánh Mẫu (Hoàng cung tọa lạc ở xóm Hoàng Châu, quay mặt về hướng Ðông).

    - Ở phía Bắc là dãy thành đất chạy song song với con sông Thu Bồn, từ chân đồi Bửu Châu lên hướng Tây, đến chân núi Kim Sơn (Hòn Bằng) dài độ 1000 mét. Trên mặt thành đất này dân cư đã xây dựng nhà cửa và ngôi chợ Hàm Rồng ở vào khoảng giữa.

    - Ở phía Tây có rặng đồi Kim Sơn và dãy thành lũy chạy dọc theo con suối Hố Diêu vào phía nam dài độ 500 mét. Dãy thành này hiện là khu nhà thờ, nhà xứ, cô nhi viện, Phước viện và cư dân.

    - Ở phía Nam có dãy thành cao, rộng, chạy từ hướng Tây xuống hướng Ðông đến hồ Hoàng Châu, giáp với cổng thành phía Ðông. Dãy thành này dài trên một kilômét và hiện nay là khu dân cư thuộc phái nam của giáo xứ.

    Tại giáo xứ Trà Kiệu hiện nay còn có một số địa danh quen thuộc, mà chúng ta cần biết đó là : Ðồi Bửu Châu, Ðồi Kim Sơn, Hàm Rồng, Hòn Gành, Bến Giá, Hòn Ấn...



    (Trà Kiệu ngày nay-không khó để nhận ra vết tích tường lớn phía Nam của kinh thành, nay đã là xóm nhà)
    Tháng 12/1870 , tại làng Trà Kiệu, linh mục quản xứ là Louis Maria Galibert (tên Việt Nam là Cố Lợi) được gia đình gởi cho bốn trăm quan để xây dựng ngôi thánh đường mới theo kiểu Âu Châu, ngôi thánh đường đã đóng vai trò quan trọng như 1 "tổng hành dinh" và "pháo đài" giúp dân làng Trà Kiệu tổ chức hội họp để đánh lại quân Văn Thân


    (Thánh đường Trà Kiệu xưa)
    Sau khi linh mục Galibert Lợi thuyên chuyển về Quy Nhơn làm giám mục thì tòa giám mục cho Linh mục Jean Baptiste Bruyère (Cố Nhơn) làm chánh xứ tại Trà Kiệu, Cố Nhơn là người lanh le, có đầu óc phán đoán và tài tổ chức, cá nhân mình ngờ rằng một bộ phận lớn các linh mục Châu Âu cũng như linh mục Bruyère này đều đã từng đọc qua các tác phẩm quân sự kinh điển, hoặc tình cờ học được nó do tìm hiểu về lịch sử giống như dân forum ta [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    II. Bối cảnh trận đánh

    Phong trào Văn Thân 1873 ảnh hưởng lớn đến kinh tế của xã Trà Kiệu

    Khoảng cuối năm 1873, Giáo xứ Trà Kiệu lại bị chao đảo và lo sợ một cơ bách hại mới. Nhà vua đã ra lệnh phải kiểm tra chính xác tất cả giáo dân trong cả nước. Nguyên nhân chính là do Jean Dupuis, rồi Francis Garnier cố tình vi phạm luật lệ của nước ta, để lấy cớ chiếm cứ Bắc kỳ. Người Pháp đã kêu gọi người Công giáo hỗ trợ cho công việc xâm lăng của họ. Mặc dù các Giám mục phản đối âm mưu xâm chiếm đó và từ chối hợp tác, nhưng các Văn thân lại nghi ngờ người Công giáo sẽ làm loạn nên áp lực buộc nhà vua phải sát tả. Cố Lợi rời Trà Kiệu để về Tòa Giám Mục tĩnh tâm và báo cáo tình hình với Ðức Cha Trí. Sau khi tĩnh tâm xong, Ngài gặp Ðức Cha Trí tường trình mọi việc, rồi vội vã quay trở lại Trà Kiệu để cùng chung số phận với

    Sau đó ông trở về lại Trà Kiệu để chờ... được tử đạo. Trong suốt 6, 7 tháng của năm 1873, giáo dân Trà Kiệu không còn thiết gì đến việc làm ăn đồng áng, chỉ lo "phần hồn" để chờ ngày hy sinh cho Chúa. Tháng 7 năm 1873 Cố Lợi cũng đã viết bức thư vĩnh biệt người mẹ yêu quý của mình như sau :

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;"> "Phần con, mẹ đừng lo lắng gì. Ðã hơn 6 tháng nay, có biết bao lần con hồi hộp chờ ngày Tuẫn đạo, vừa lo mà vừa mừng. Mẹ yêu, mẹ thấy đó, Thừa sai thì ham được Tuẫn đạo. Họ ham muốn nhất là được đón nhận ơn Thiện triệu thánh thiện Tuẫn đạo này. Ðây là con đường về trời chắc chắn và ngắn nhất.

    Xin mẹ hãy cầu cho con, cho giáo dân của con và cho những người bách hại con.

    Và sau cùng xin vĩnh biệt mẹ, mẹ rất đỗi yêu mến... và trên trời... và trên trời... và trên trời... nếu Chúa muốn.

    Con của mẹ - Con yêu mẹ - Louis Galibert".</div>
    </div>
    </div>

    Thế nhưng vào ngày 15/3/1874, theo tinh thần điều 9 của Hòa ước 1874 (có 20 điều) vua Tự Ðức đã ra lệnh cho phép thần dân được tự do theo đạo và giữ đạo.

    Mọi người trong giáo xứ vui mừng hoan hỷ, nhưng cuộc sống kinh tế lại kiệt quệ vì cả năm qua chả ai tha thiết gì đến việc làm ăn nữa. Cố Lợi mới tìm mọi cách giúp đỡ cho giáo xứ phục hồi lại cuộc sống kinh tế. Trong thư gửi cho mẹ, Cố Lợi đã viết :

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;"> "Mẹ hiền ơi ! Mẹ yên tâm. Hòa ước đã được ký tại Huế, giáo dân của con được cứu khỏi hiểm nguy, ...Phần con, khi con viết thư cho mẹ, con cứ nghĩ là các quan và Văn thân đã gởi con về trời bằng con đường Tuẫn đạo.

    Mẹ hiền ơi ! Mẹ hiểu và biết rõ nơi đáy lòng con, con quý con dao Văn Thân hơn sự bình yên này. Chúa đã không ban cho con ơn này thì xin vâng ý Chúa"</div>
    </div>
    </div>

    Có thể nói 1 số các linh mục Tây cò phần hơi "ích kỷ" khi chỉ sốt sắng lo việc đạo mà ko nghĩ đến việc xem xét tình hình chiến sự cụ thể để bảo vệ giáo dân, quá lạc quan khiến giáo dân bị sát hại nhiều.

    Sau khi Vua Tự Đức qua đời, Triều đình rơi vào họa “Tứ Nguyệt Tam Vương” . Mọi việc đều do 2 viên Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chuyên quyền, thao Túng.
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">Lợi dụng tình thế bất ổn của Việt Nam, ngày 20.8.1883, Toàn quyền Harmand và Thiếu tướng Courbet tấn công cửa Thuận An, bắt Triều đình kí Hòa ước Qúy Mùi ngày 25.8. 1883, còn gọi là Hòa ước Harmand, gồm 27 khoản. Theo đó, nhà Nguyễn phải chấp nhận quyền bảo hộ của Pháp ở nước ta. Sau đó, quân Pháp mở chiến dịch đánh đuổi quân Tầu ra khỏi các tỉnh phía Bắc sông Hồng, đưa tới Hòa ước Fournier kí kết giữa Tầu và Pháp tại Thiên Tân ngày 18.4.1884 (đây chỉ là hòa ước sơ bộ). Tầu công nhận Việt Nam là thuộc địa của Pháp.

    Để củng cố sự độc quyền thống trị ở nước ta, chính phủ Pháp ra lệnh cho Patenôtre tới Huế để dàn dựng ra một hòa ước mới, sửa lại Hòa ước Harmand năm 1883. Đó là Hòa ước năm Giáp Thân, 06.6.1884. Đại diện nhà Nguyễn là các ông Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan, Nguyễn Văn Tường; phía Pháp là Jules Patenôtre. Hòa ước gồm 19 khoản, gần giống Hòa ước 1883. Kí xong, Patenôtre bắt nấu chảy ấn phong vương của hoàng đế Tầu, coi như từ nay Việt Nam không còn lệ thuộc gì vào nước Tầu nữa.

    Cũng năm 1884, Hàm Nghi được đưa lên làm vua, nhưng chỉ có hư vị, người Pháp đã nắm mọi quyền hành ở nước ta.

    Vì thái độ quá hống hách quá đáng của người Pháp, đêm 05.7.1885, Phụ chánh đại thần Tôn Thất Thuyết tấn công tòa Khâm sứ của Pháp ở Huế, nhưng bị thất bại. Tôn Thất Thuyết vội đưa vua Hàm Nghi bôn tẩu ra chiến khu Tân Sở ở Quảng Trị. Từ chiến khu, ông nhân danh nhà vua ban Dụ Cần Vương. Hưởng ứng Dụ Cần Vương, một phong trào kháng Pháp mới nổ ra khắp nơi ở miền Bắc và miền Trung. Đó là Phong trào Cần Vương.</div>
    </div>
    </div>
    Vua Hàm Nghi, ra chiếu Cần Vương, nương theo khí thế của Phong trào Cần Vương, Phong trào Văn Thân lại bùng lên dữ dội. khắp các vùng quân Văn Thân mộ được nho sĩ và cả các hào trưởng yêu nước chân chính cũng như cả những người ghét đạo Gia Tô, cả thảy hơn 4000-5000 người, kèm theo khoảng 6000-8000 dân đen đi theo do tuyền truyền hoặc thúc ép, đám người này tạo thanh thế cho Văn Thân và đi theo để kiếm chác, hôi của...

    Văn Thân cáo buộc người Công giáo bỏ thờ cúng tổ tiên, thần thánh, nên Trời đã giáng xuống đầu nhân dân đủ thứ thiên tai như dịch tả, mất mùa, đói khát v.v…, nghĩa là tất cả tai họa trên đất nước đều do người Công giáo gây nên. Bởi đó, phải tiêu diệt người Công giáo. Sớ còn vu cáo Giám mục Sohier đã trốn lên núi, chớ không phải đi Pháp, để tập trận với các loại vũ khí tối tân, như đại bác bằng gỗ mới phát minh bên Tây.

    Quân Văn Thân trước khi tới đâu, đều dùng cựu chức sắc hoặc những người biết chữ, đến các làng Công Giáo và đọc bố cáo, bảo rằng sẽ cho tự do tôn giáo, chi đỉ tiễu trừ giặc Tây và kiểm tra vũ khí các họ đạo. Rất nhiều làng đạo ở nhiều tỉnh tin theo mà ko vũ trang hoặc ko đi di tản, kết quả là đều bị quân Văn Thân tàn sát cả làng, ở Quảng Ngãi giết hơn 6000 người, ở Bình Định giết khoảng 10 nghìn ngưới, giáo dân bắt đầu chạy loạn đến các vùng Trà Kiệu hoặc đến tòa tổng giám mục để trốn.

    Để giết sạch người Công giáo như đã thề nguyền, Văn Thân ở Quảng Nam đã cho nhiều nhà nho và quan chức trong đó có Phó Bảng Nguyễn Duy Hiệu đến các họ đạo Công giáo hứa hẹn bảo đảm an toàn, không giết chóc bừa bãi như ở Quảng Ngãi và Bình Định.

    Làng Trà Kiệu từ khi phục hồi kinh tế, cũng chỉ tích trữ được 1 tháng lương, thế nhưng nhờ biết sớm thông tin, không tin những gì quân Văn Thân nói, linh mục Jean Baptiste Bruyère (Cố Nhơn) tổ chức giáo dân phòng ngự. Thành Chăm cũ chỉ dùng được mặt Bắc vốn là đoạn tường cũ nát, tương đối thấp, nhưng sát với giáo xứ, trong khi thành Nam to cao hơn nhưng xa đến 500m, đành để Văn Thân tràn qua. dân làng làm tường gỗ, cọc tre thay cho thành để nghênh chiến.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Sự chuẩn bị của 2 bên

    Phía quân Văn Thân

    Quân Văn Thân thường chia thành nhiều đạo để tổ chức bố ráp, bắt giết người Công Giáo, nên khi đến Trà Kiệu quân sổ có thể giảm xuống còn 1/3 hoặc 1/2, tức khoảng 3000 đến 5000 người, trong đó có khoảng vài trăm lính địa phương, 500 đến gần 2000 Văn Thân, còn lại là dân đen

    Khi đến Trà Kiệu, để bổ sung lực lượng nhằm tăng thanh thế, khiến Trà Kiệu đầu hàng, quân Văn Thân cho người đến các làng lương giáo xung quanh (vốn từng sống chung với dân công giáo) và cho người lên các tỉnh đòi thêm quân và bắt người dân đi theo ủng hộ, ai không theo tức là phản quốc hoặc bị cáo buộc là Tả đạo.

    Văn Thân kéo xuống chiếm tỉnh Quảng Nam, lấy 12 khẩu đại bác trong biên chế của tỉnh (đại bác mua của Tây, loại bắn đạn bi, gồm 2 loại nòng lớn và nòng nhỏ), bắt đầu kéo qua Trà Kiệu

    Trang bị quân Văn Thân còn có súng hỏa mai, giáo mác, đao kiếm v.v... Văn Thân lại yêu cầu tỉnh cử 1 người cấp tướng để chỉ huy quân, tên là Túy (Tý). Chưởng Thủy Túy có thể là cấp chỉ huy yêu cầu, vì suốt cuộc chiến chưa thấy có vị nào cấp bậc cao hơn.

    Trước khi đánh Trà Kiệu, đề phòng quân Pháp đến đánh cứu theo hiệp ước bảo hộ, quân Văn Thân cho phao tin đánh Trà Kiệu trước 2 lần, mỗi lần cách mấy tuần, có linh mục Maillard ở giáo xứ Phú Thượng cách Trà Kiệu khoảng 15km báo tin cho đại úy Pháp là Ducrès đến giải vây, nhưng khi đến thì không thấy ai, quân Pháp đi 2 lần như thế rồi ko tiếp cứu nữa.

    Phía Công Giáo Trà Kiệu

    Giáo xứ Trà Kiệu có khoảng 700 người, tính cả đàn bà trẻ em, sau khi quân Văn Thân đánh các họ đạo xung quanh, khoảng hơn 350 người từ các làng xung quanh chạy đến, nâng tổng số quân trong làng Trà Kiệu lên 370 nam và 500 nữ, nữ chia làm 3 đội, nam chia làm 7 đội thay phiên chống giữ các nơi hiểm yếu

    Cố Nhơn có 4 khẩu súng nạp hậu, mỗi khẩu có 10 viên đạn, 6 khẩu súng bắn đá do Cố Thiên cho mượn và 1 khẩu súng trường. trong dân chắc cũng có khoảng vài chục súng hỏa mai và súng trường nạp hậu và một ít cung nỏ săn thú.
    Cố Nhơn đốc thúc các giáo dân làm công sự, chặt tre làm giáo và nhiệt tình động viên, khích lệ tinh thần dân làng, lập bàn thờ lớn, quây đám trẻ nhỏ lại phía trong cho người lớn an tâm chiến đấu.

    Ngoài ra dân làng cũng có 1 người có tài chỉ huy, có thể nói giúp cho dân làng có thế hơn hẳn mấy ông tướng Nho sĩ ở ngoài, đó là ông Đội Phổ, tên thật là Trương Phiến, sinh năm 1811 tại Trà Kiệu. Lúc còn trẻ, ông đã phục vụ trong quân đội Triều đình và được thăng cấp Đội, nên người ta thường gọi ông là Đội Phổ. Sau khi giải ngũ, ông trở về sinh sống tại Trà Kiệu, ông là phụ tá đắc lực của Cố Nhơn từ tư tưởng đến hành động. Ông có tài “Nham độn” (bấm ngón như Gia Cát ?!?!) nên đã cứu được Trà Kiệu nhiều lần.


  4. #4
    Ngày tham gia
    Oct 2015
    Bài viết
    29
    Diễn biến trận đánh

    Sau 2 lần dò la hành dộng của quân Pháp, Quân Văn Thân yên tâm ko bị Pháp đánh nữa (như đã từng bị Cụ Sáu lừa). rạng sáng ngày 1 tháng 9 năm 1885, quân Văn Thân kéo đến bao vây Giáo xứ Trà Kiệu. Họ chiếm giữ bốn mặt một cách nghiêm ngặt, không cho giáo dân Trà Kiệu có thể chạy thoát được. Lúc này quân Văn Thân tự tin có thể dễ dàng đánh bại làng Trà Kiệu như nhiều làng khác, nên chưa kéo đại bác từ trên tỉnh về.

    Quân Văn Thân vừa hò reo khí thế, vừa chửi mắng dân trong làng là bán nước, Tả đạo... nhưng chưa có động thái gì. đến trưa quân Văn Thân bắt đầu dựng trại và tổ chức tấn công chiếm đồi Kim Sơn.

    Kim Sơn là ngọn đồi nằm sau lưng và cách nhà thờ chính chừng vài trăm thước mà thôi. Đây là một cao điểm rất quan trọng đối với sự an toàn của Trà Kiệu. Ai cũng biết, nếu Văn Thân mà chiếm được ngọn đồi nầy, chúng chỉ bắn đá xuống làng, thì Trà Kiệu cũng chịu không nổi, nói chi tới súng đạn!
    Chiều hôm đó Văn Thân chưa tấn công. Họ hí hửng chiếm cứ những cao điểm và lo củng cố những vị trí chiến đấu. Họ chỉ bắn một vài phát súng vu vơ. Giáo dân Trà Kiệu lập tức tiến lên giữ ngọn đồi Kim Sơn và có ý giữ cao điểm này cho đến cùng. Thế nhưng vào ngày hôm sau, tức ngày 02/09/1885, vì khiếp sợ trước lực lượng quá đông đúc của Văn Thân, nên giáo dân không dám ở lại trên đồi cao này nữa. Sau một trận chiến giả vờ, họ đã tháo chạy xuống đồi một cách hoảng sợ, và tìm cách trở vào bên trong vị trí phòng thủ của Giáo xứ. Mặc dầu không phải đương đầu với quân Văn Thân, nhưng vì quá hoảng sợ tháo chạy bán sống bán chết, nên đã bị té chết mất 4 người. Chỉ mỗi cái thất bại này cũng đủ làm cho họ thất đảm, tinh thần nguy ngập và chao đảo. Họ từ chối đi chiến đấu và quyết buông vũ khí để sớm cam chịu số phận bất hạnh của mình. Họ tập trung trước nhà Cha xứ và xin Ngài ban cho các phép sau hết rồi cả thảy tự sát. Họ nói : "Chúng con phải chết, vì tất cả sự tự vệ đều vô ích, chúng con muốn chết ngay tại nhà thờ này hơn là ở chỗ nào khác".

    Cố Nhơn đau buồn vì mọi người mất nhuệ khí, nhưng quyết không để ai phải tự sát, ông bảo dân làng tự sát là đi ngược lại luật Chúa, có chết cũng ko được lên thiêng đàng, mạng sống Chúa ban là quý giá, sao lại vô duyên mà hủy đi? Rồi ông bảo dân làng đừng nao núng "vì đã có Đức Mẹ", rồi kể các chuyện quân đạo đánh thắng như thế nào. Đoạn ông lại cho đám trẻ con trong làng đang vui đùa ko biết gì, bắt cả đám xếp vuông vắn quanh bàn thờ Đức Mẹ mà cầu nguyện, bảo với dân làng có đám trẻ này cầu nguyện rồi thì chắc chắn sẽ thắng... thế rồi với cái thứ niềm tin ấy, vực dậy nơi những người đang hoảng sợ, phút chốc trở nên kiên cường, trên đường trở về công sự, họ lượm lại những giáo mác mình đã vứt bỏ trong lúc sợ hãi, rồi đón chờ sự chiến thắng mà đã được cố Nhơn hứa hẹn

    Thế nhưng ngày 2-9, quân Văn Thân chiếm đồi Kim Sơn, thấy quân phủ kín cả quả đồi, dân làng lại thêm 1 lần hoảng loạn. Cố Nhơn lại tăng cường khích lệ động viên, rồi bày cho dân làng ba hiệu lệnh "Giê su-Maria-Giuse", cứ mỗi khi quân Văn Thân đến gần thì nhất loạt gầm to lên, ít nhất quân trong làng thêm phần nhuệ khí, mà cũng ko còn sợ chết nữa, vì họ tin có chết trong trận này họ cũng được lên thiêng đàng. Cũng may đêm ấy trong lúc dân làng đang ở nhà thờ, quân Văn Thân không tấn công, do sợ lúc tấn công có người lợi dụng đêm tối mà chạy mất... Khi mọi người đã vào vị trí sẵn sàng trở lại thì có các bà đến chăm sóc tận tình khiến cho đám nam nhân cũng yên lòng, đến giờ thứ 9 (khoảng 3h chiều) quân Văn Thân lại đến khiêu khích. Quân lính Văn Thân vốn ô hợp, lại được chỉ huy bới quá nhiều nho sĩ thành các đội lẻ tẻ, khi tấn công không có hàng ngũ, mạnh ai người nấy đánh. Nên mội đội đánh được vài phút lại ôm đầu chạy ra.

    Ngày 3-9, thấy chỉ huy lẻ tẻ vậy không đánh vào làng được, quân Văn Thân hợp đồng lực lượng, quyết định tấn công vào cổng nam của làng. Thấy quân quá đông, dân làng hoảng sợ, các đội trưởng lại họp nhau trong nhà thờ, 1 số dân làng vũ trang vẫn được cắt cử bảo vệ các điểm yếu, người thì bàn đánh, người thì bàn hàng. Quân Văn Thân ở ngoài nghe tiếng khóc lóc và tiếng cãi vã thế thì lại càng hứng chí, bắt đầu tràn qua, vừa dàn quân vừa chửi bới dân làng. Các đội trưởng tuy bất đồng nhưng đành phải đưa quân ra chuẩn bị nghênh chiến.

    Trong lúc chửi bới, nhiều tên Văn Thân dè bỉu "Cố Thiên của chúng mày đâu rồi.... Cố Thiến cứu chúng mày kìa...Cố Thiên đâu sao không vào cứu...". Có ông thầy Phan nhanh trí, hét lớn lên "Cố Thiên đến đây ứng cứu rồi !! đang kéo quân (Pháp) đến, chúng ta phải mau ra đẩy lui quân tấn công, để Ngài có thể vào được". Tức thì 7 đội binh của làng tăng sĩ khí, lao vào đánh quân Văn Thân, còn quân Văn Thân "gậy ông đập lưng ông" nghe thấy thế tưởng quân Pháp đến thật, liền chạy tán loạn, bị giết rất nhiều... Đội Phổ cho quân dí đánh hơn 1 cây số, tức qua thành Chăm mới về.

    Nhiều ngày sau đó, quân Văn Thân tổ chức đánh nhiều lần tổng cộng hơn 5 trận, nhưng đều được chưa tới 10 phút lại chạy ra. Cũng hò hét như mọi lần nhưng nghe tiếng rõ là đang mỏi mệt chán nản. Dẫu biết quân Văn Thân đang yếu tinh thần, nhưng Cố Nhơn tính trước để làm bất ngờ Văn Thân, ông cho tuyển thêm lính, cho mấy bà xung phong, tập luyện giáo mác, lúc giàn trận thì cho các bà tuyến giữa còn các ông thì 2 bên cánh. Đến trận thứ 6 các bà mới ra, trang bị vừa giáo tre vừa dao phay, Văn Thân nhìn xa tưởng có thêm quân mới từ đâu, nhưng đến gần thời mới thấy đám tóc dài. Quân Văn Thân cười khẩy, chông xem đám đàn bà bày trò gì đây.

    Đúng lúc này 2 bên chạm mặt nhau, đều đã quá quen cách đánh, 2 hàng cứ thế giáo tre mác gỗ thi nhau đâm chọt nhưng dài quá cũng chẳng trúng gì, chợt có mấy người nhanh trí, hẳng là đám đàn bà, hô lớn lên "sập rồi sập rồi, đổ cả vào đầu bây giờ" đám Văn Thân giật mình ngó đầu lên xem, thì bị mấy bà cầm giao tre dài thọt cho chết. Giáo tre mới cắt dài hơn, gậy ra sự bất ổn trong đội hình tấn công của Văn Thân, quân Văn Thân thấy không đánh được nữa, lại bị mấy bà đâm chọt cho chết khá nhiều, nên lại chạy tháo thân. Vất bỏ khí giới rất nhiều.

    Thất bại nhiều lần, quân Văn Thân họp nhau lại, chỉ ra những lỗi sai. Biết quân đang yếu tinh thần, Văn Thân cho họp quân lại cùng với dân đen, xây rào gỗ với chất rơm, một mắt bảo là tạo công sực chiến đấu, nhưng kì thực là định "noi gương người xưa cho sông giáp lưng" thì nay Văn Thân cho xây rào gỗ nhọn sau lưng chính quân mình, hòng ép quân Văn Thân phải đánh không được lui

    Trong làng ông Đội Phổ cho xây tháp cao, ông hay thường lên "bấm độn" rất tài, cũng là để biết bên Văn Thân đang làm gì, thấy chúng chất rơm đang chuẩn bị hỏa công, định đốt cháy rào gỗ của làng mà xông vào. Ông bèn xuống họp với Cố Nhơn và các đội trưởng. Họp xong, cố nhân quyết phải phá vây để tránh cả làng bị thiêu tứ phía.

    Sáng ngày 7-9, quân Văn Thân lần này do Cậu Học chỉ huy trận đánh. Cậu là con trai tướng Ông Ích Khiêm hiện đang chỉ huy Mặt trận chống Pháp tại cửa Thuận An Huế. Lại cho trống trận rầm vang, đội rơm đi trước tính đà hỏa công. Quân Đạo tiến binh trước để chặn, đốt các xe rơm hỏa công mà vào sau trận tuyến của quân Văn Thân. Quân Văn Thân trông thấy phía trước là quân Đạo bừng bừng khói lửa, phía sau là công sự thì chạy về, nhưng lúc này Cậu Học đã cho đóng cửa thoát thân, thế nên quân lính bỏ chạy và đào ngũ, bị giết khoảng 50 người, bị thương trên 200, khoàng vài trăm người đào ngũ và chạy trốn vào các làng. Thắng thế, quân Đạo dùng xe rơm đốt hết các rào gỗ, khói bốc nghi ngút làm trên tỉnh lẫn cả Cố Thiên (Mailard) lầm tưởng là Trà kiệu đã bị thiêu rụi mà ngậm ngùi tiếc thương. Xong xuôi, quân Trà Kiệu đốt thêm lán trại và công sự đến tận thành Chiêm rồi về.

    Đêm đấy quân Trà Kiệu đi gom xác quân Văn Thân mà giao trả các làng xung quanh, người lương giáo cảm kích mà không giúp đỡ quân Văn Thân nữa. Người lương thường cứ hỏi han


    "Mắt tre" Trà Kiệu reo vang nghĩa gì?

    Tại sao tác động ly kỳ

    Hễ nghe tiếng đó, mất đi hùng cường.

    Mỗi khi Nghĩa hội biểu dương

    Giàn binh bố trận, can trường lên cao.

    Nhưng khi "Mắt tre" théo gào

    Văn Thân ớn lạnh, nôn nao trong lòng.
    Ngày 8-9 Quân Văn Thân đánh 1 trận rửa thù, vì toàn bộ công sức làm công sự đã tiêu tan trong ngày 7, đồng thời để câu giờ cho đại bác được kéo lên các đồi, quân Văn Thân tổ chức tấn công vào mặt Tây Nam giáo xứ, từ đầu đến giờ mặt này chưa bị tấn công nên cũng ít người phòng thủ. Trận này quân Văn Thân cho tốt thí đi đánh, cốt không để thắng, chỉ để cầm chân và đánh lừa quân Trà Kiệu. Khi quân Văn Thân tiến sát phía Tây Nam thì có người phát hiện réo lên "Quân giặc tràn vào nhà Phước rồi, mau ra chống không thì chết hết" (phía Tây Nam là nhà cửa ruộng vườn ông Phước). Tức thì Cố Nhơn huy động đội nữ binh cùng 1 phần đội Nam binh ra chống, phần còn lại vẫn canh phòng cẩn mật. Đội nữ binh từng đánh thắng trong trận hỏa công nên rất khí thế, đánh và dí đánh đám tân binh Văn Thân đến hết ruộng lúa Tây Nam, nhiều tên vấp lúa thì bị đâm chết ngay. Các "tốt thí" chạy về báo tin "nhà Đạo có quân âm binh toàn trẻ con đến cứu", "mặc áo xanh đỏ, lăm lăm kiếm trần"

    Chúng ta không rõ đây là do quân lính chạy về báo thế để khỏi bị tội, hoặc là "quỷ kế Gia Cát" mà Cố Nhơn hoặc Đội Phổ bày ra, bằng cách "trang bị" cho đám trẻ mấy ngày nay vẫn đọc kinh quanh bàn thờ không, nhưng những tin đồn này hẳn cũng làm cho quân Văn Thân xuống tinh thần theo
    Hoặc là đồn thổi của phía nhà đạo vậy thôi [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]

    Về phần mình, quân Văn Thân điên tức vì toàn thua, ngày 9-9 án binh bất động. Chiều muộn, quân trong làng quan sát thấy lính đang kéo pháo tỉnh cho lên đồi Kim Sơn và đồi Bửu Châu, quan quân reo hò mừng vui, định bắn nát làng. Quân Trà Kiệu muốn đánh cao điểm cũng không được, đành gia cố quân sự, đào hào đắp đất mà trú

    Từ ngày 10 quân Văn Thân thi thố tài năng bắn pháo nhà Nguyễn [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG] và bắt đầu nã pháo vào làng, số pháo này đa phần bắn đạn bi sắt (bọc đan bằng mây bên trong chưa khoảng 80 viên bi sắt) nên không gây thiệt hại công trình mấy và đa phần bắn trượt, thành ra quân đạo tưởng như có Chúa trợ giúp, còn quân lính bên Văn Thân thì vò đầu bứt tai không hiểu sau bắn hoài không sập nổi nhà thờ hay nhà dân. Tuy nhiên chỉ huy phía Văn Thân cho rằng Cố Nhơn là lãnh đạo tinh thần nên phát giết ngay, nên điều pháo bắn vào "ông nào áo thụng dài đen, râu dài" Vậy là Cố Nhơn xém bị đạn bắn trúng, sau phải mặc áo thường dân, cạo râu để cải trang.
    Mặt Tây từ đồi Kim Sơn, Văn Thân dùng đại bác bắn qua, định bắn cháy lũy tre và rào phía Tây, được huy động, các sơ trong trại mồ côi ra sức dập lửa, 1 sơ bị đạn bắn nát thây...
    Bắn nát phòng tuyến rồi, Văn Thân cho quân băng suối vượt qua, quân đạo giả vờ lui sâu vào làm quân Văn Thân đuổi, rồi bất ngờ tràn ra từ 3 phía giáp công, làm quân Văn Thân hoảng sợ bỏ chạy, bị giết mất 5 người. Từ giờ quân Văn Thân tái tổ chức, dưỡng thương kèm thỉnh thoảng bắn lai rai vào làng.

    Ngày 12-9 Cố Nhơn thấy phải đánh chiếm lại đồi Kim Sơn, không thể trông chờ vào phép lạ hay quân Pháp cứu viện nào được, vì quân địch càng bắn thì càng thương vong, nếu chẳng may bắn sập nhà thờ thì coi như tan luôn phong trào. Đêm ngày 13 cho họp các đội, nhân lúc quân Văn Thân không để ý, từ từ bò lên đồi, vừa trèo vừa rút cọc gai và rào gỗ, đến gần sáng thì rút xong, đến khi có tên lính đi tuần bắt gặp thì bắn chết, đồng loạt đánh từ đồi xuống, thế như chẻ tre, dùng hết súng đạn quyết bắn cho Văn Thân sợ chạy hết. Cuối cùng chiếm được đồi Kim Sơn và 4 đại bác 5 súng nhỏ và khoảng chục súng trường, giáo mác. Quân Văn Thân tính rút lên cứu Pháo nhưng thấy không ăn được nên đành chiếm cái chùa gần đó làm chỗ đóng quân. Số pháo này được quân Trà Kiệu ra sức giữ và kéo về làng. Lúc này quân Văn Thân có lẽ đã đào ngũ đi khá nhiều, nhưng vẫn đủ để vây làng.

    Ông Đội Phổ chiều muộn lại leo lên tháp bấm độn, dường như nhận ra được điều gì, ông xuống họp bàn và lệnh cho các đội chuẩn bị rơm đuốc và con cúi để chuẩn bị đánh voi

    Ngày 14 tháng 9 quân Văn Thân quyết cầm cự lâu dài để vây chết dân Trà Kiệu, trên đài cao, ông đội Phổ thấy rõ quân Văn Thân đang cũng cố Thành Chăm và xây thêm tường để dời bản doanh đến trên tường thành, còn thớt voi mới tới đặt phía Tây Nam để chuẩn bị đánh tiếp và để tạt ngang đánh càn quân Trà Kiệu. Cố Nhơn cùng Đội Phổ quyết chí đánh để phá không cho quân Văn Thân xây thêm tường gỗ, công sự trên thành Chăm. Đồng thời chuẩn bị sẵn rơm lửa để đánh voi. Sáng ngày 14/9 quân Trà Kiệu bất ngờ tấn công quân lính và dân phu đang đóng cọc làm tường, giói Văn Thân cho Đô Đốc-Chưởng Thủy Tý một mặt cầm quân bảo vệ công sự đang xây, 1 mặt lênh cho nài voi dời vị trí qua càn quân Trà Kiệu. Voi chưa tới nơi, đột ngột quân Trà Kiệu la hét, xông lên đánh quân Văn Thân, làm cho đám người này chạy tán loạn về bản doanh cũ, tướng Tý gắng ngăn cho quân khỏi chạy trốn, nhưng đến khi quân Trà Kiệu đến gần thì 10 tên cận vệ cũng bỏ chạy, đô đốc Tý bị quân Trà Kiệu xiên cho 1 giáo tre rồi dùng chính kiếm của ông để chặt đầu, mang về làng.

    Lúc này voi trận và lính phụ mới chạy qua, vốn 1 con voi to thì còn dùng để phá lũy hẹp mà tiến vào được, nay giữa đồng lúa sình lầy, voi đi chậm lại bị dân làng Trà Kiệu cầm gậy tre dài và gậy quấn rơm cháy, ra sức thọc để con voi đang hăng cũng phải quay đầu chạy về bản doanh Văn Thân, đạp chết mấy người.

    Quân Văn Thân thấy không đánh vào được nữa, xây thành cũng ko xong, bèn cố thủ trong bản doanh, chờ các nhánh Văn Thân khác tiếp viện. Để tránh bị quân Trà Kiệu phục kích, họ cho người tuần tra và xếp những pháo bắn đạn bi còn lại để bán yểm trợ vào làng, khiến quân Trà Kiệu phải lo rào chống. Ông Đội Phổ lại lên bấm độn, ông cam đoan hôm sau quân Lăn Khiên sẽ đến đánh từ mặt bắc

    Lăn Khiên là quân trực thuộc tỉnh, đóng ở 2 vùng rừng núi là Tý Sé, Dùi Chiên. Quân này triều đình lập ra để đánh "giặc ma" tức người Thượng hay tấn công các thương nhân, nay phải theo lệnh Văn Thân, tỉnh gửi quân Lan Khiên xuống đánh. Mà quân Lăn Khiên có tài "lăn tròn", lại từ mạn Bắc đi xuống thì gặp ngay bãi bồi toàn cát phẳng của sông Thu Bồn, thế là quá hợp lý cho quân Lăn Khiên rồi, ông lệnh tối ngày 14 cho người ra cắm chông dày đặc trước mặt bắc để cản quân Lăn Khiên.

    Đây là lời giải thích của Đội Phổ. Không ai rõ ông có hậu ý hay hiểu sai ý nghĩa chữ Lăn Khiên. Theo ông, quân nầy có tài lăn tròn, cái khiên lúc nào cũng che cả người, nên khó đâm trúng họ. Ngược lại, họ lăn vào rồi chặt chân địch. Bởi vậy ông đã yêu cầu cắm chông bãi cát.
    Thế rồi phụ lòng chuẩn bị ân cần của đội Phổ [IMG]images/smilies/9.gif[/IMG] , sáng hôm sau chỉ có 30 lính Lăn Khiên đến đánh mặt bắc, dầu có trò khiên to cung tên không bắn được, nhưng ngay khi họ nâng khiên né cọc chông thì liền bị súng trường mà Cố Nhơn tập kết ra bắn cho tan tác. quân Trà Kiệu gần như muốn cười phá lên vì mấy trò lăn khiên ấy.
    Đang lúc tưởng như khỏi phải đánh gì hôm nay nữa thì quân Trà Kiệu hốt hoảng nghe tiếng nổ lớn phía Đông, quân Văn Thân tổ chức quy củ hơn trước, nhưng quân số thì đã giảm nhiều do đào ngũ.
    Đầu hàng thì cho rơm chắn đi trước, ở giữa có người lăn đại bác, hàng sau là vài chục lính cầm súng và đao kiếm đi theo, con voi lại được mang ra và theo sau là 1 toán lính. Quân Văn Thân dẫu tinh thần đã sa sút nghiệm trọng nhưng đám lãnh đạo thì vẫn đinh ninh quân lính có hàng ngũ, quân số đông hơn, phen này dốc túi phát nữa ắt thắng.

    Quân Trà Kiệu cho vài chục người khỏe mạnh núp phía trước, bị chắn tầm nhìn bởi rơm che, bất thình lìh xông qua chém đẹp, vưa đi vừa hô to "đánh chết thằng cầm súng" , quân súng Văn Thân nghe thế hoảng quá liền vứt súng mà tháo chạy. quân Trà Kiệu lao lên lấy súng mà bắn ngược, làm đám quân kia tan rã, voi trận ko còn ai điều khiển nên cũng chẳng lo nữa

    Hôm ấy không khí ảm đạm bao trùm doanh trại quân Văn Thân, án binh bất động, chẳng ai nghĩ ra được kế sách nào nữa, mà quay về thì nhục với các nho sĩ khác.

    Ngày 18-9 , có người trong phe Văn Thân góp ý, lấy tre dài lấy bùi nhùi, gai táo quấn thật to mà sắc nhọn, để chùm lên đầu quân Trà Kiệu, ai dính vào thì phải lo gỡ , rồi thả gậy dài ra mà rút gươm chém. Còn nước còn tát, nghĩ cả 2 bên đều đã hết lương, bây giờ ko đánh sớm để rút thì cũng đói mà chết, nên đành liều. Văn Thân lại trang bị cho mấy chú Nho sinh bủn rủn còn trụ lại được đến giờ, mỗi người chừng đó thứ, để đi đánh nốt trận nữa. Cố Nhơn đoán ra tác dụng, liền cho mỗi nhóm 2 người vũ trang bằng rựa hoặc kiếm ngắn, cứ 2 người đi một để có gì gỡ rối cho nhau. Kế sách không thành, quân Văn Thân lại chạy trốn về doanh trại, còn khoảng nghìn dân đen đứng chửi bới và la hét nhưng cũng không vào cứu vì trước giờ họ không đánh chỉ đi theo phô trương thanh thế rồi hôi của. Quân Trà Kiệu đuổi không kịp, lại vào làng cố thủ khỏi bị đạn bị bắn trúng.

    Quân Văn Thân đói và thiếu lính, cho người vào các làng xung quanh gọi lính và xin gạo, nhưng dân làng quanh vùng thức tỉnh không nghe Văn Thân nữa. Xin trên tỉnh được vài chục tù nhân để tăng quân số, nhưng sợ đám này chạy mất nên Văn Thân cạo đầu họ để dễ kiểm soát.

    Quyết mở đường sống, dân làng trà Kiệu họp nhau để phá doanh trại Văn Thân. Cố Nhơn và Đội Phổ bàn sẽ đánh lên đồi nơi đặt đại bác trước, không cần phòng bị gì nữa.

    Rạng sáng 21-9, đề phòng đạn bắn ra từ đồi, 10 thanh niên "lực sĩ" được chọn ra trong làng, nửa đêm âm thầm leo lên đồi, gần như là cảm tử quân vì không biết được lực lượng trên đồi thế nào. cùng với cả dân làng từ từ bò ra ngoài, đến doanh trại đủ gần để không bị phát hiện. Ngay khi nghe tiếng hô của các thanh niên, cả lang ào ra đánh, những người từ hồi đầu chưa đánh nhau, có đám đàn bà và trẻ con, mang hết xoong nồi mõ gõ ra để tạo thanh thế, tiếng thùng dầu nhà Phước gõ ầm ầm làm quân Văn Thân hoảng sợ, tưởng đại quân đến sát, đang mơ ngủ tìm đường chạy trốn khắp xung quanh, không sao dí hết nổi. Dân làng đốt hết doanh trại, đến cái chùa nơi Văn Thân đóng quân thấy có thóc lúa quân Văn Thân dự trữ để đánh lâu dài, đem mang về làng hết, rồi đốt chùa và cái đình gần đấy để Văn Thân không còn chỗ nào đóng quân nữa. Hơn thế nữa, Cố Nhơn cho dân làng Trà Kiệu đi vào các làng xung quanh tìm tàn quân Văn Thân, các làng hoảng sợ vì thấy đình chùa bị đốt, nhưng quân trà Kiệu vào các làng kể rõ sự tình, ko đánh người lương dân.
    Chức sắc các làng lương dân đích thân xin lỗi, phần trần rằng thời gian qua có giúp gạo giúp quân cho Văn Thân, cũng chỉ là do bị tỉnh ép, chứ ko hề có ý làm chuyện sát sinh. Đâu đó êm xuôi, có người lương giáo mách cho Trà kiệu biết quân Văn Thân kéo đến đông hơn trước nữa, định đốt phá làng trả thù.

    Đúng như thế, ngày 23-9 quân Văn Thân quay lại trả thù, nhưng khi đến cách làng khoảng 5km thì nghe tiếng nổ khủng khiếp, do phủ Quảng Nam bị quân Pháp bắn phá và chiếm đóng. các Văn Thân liền hạ lệnh chôn súng ống và pháo nặng rồi tháo chạy về phía bắc.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Không có nguồn trích dẫn hay tham khảo thì tối nay ta quăng vào Quán Cóc đó nghe. Mấy nguồn kiểu danchimviet hay svconggiao thì có cũng như không thôi [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG]

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Ba cái này chắc chỉ có nguồn của bên TCG ghi chép mới tỉ mỉ như thế. Về diễn biến mình nghĩ chắc là cũng tương đối gần sự thực. Còn cái kiểu miêu tả quân Văn Thân như băng ngáo đá thế này không biết là do chủ thớt thêm vào hay là tài liệu gốc ghi như thế. Hóng dẫn nguồn xem thế nào đã [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]

  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    72
    Trận đánh nghe kể quá buồn cười đặc biệt với khả năng thiện cmn chiến của đại quân Văn Thân [IMG]images/smilies/24.gif[/IMG]

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Ước gì có thể chém chết bọn dân Việt theo Công Giáo bán nước.[IMG]images/smilies/105.gif[/IMG]

  9. #9
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    ÔI đất nước bị đô hộ, thê thảm thay, máu của bao nhiêu người yêu nước phải đổ vì bọn nguỵ bán nước, giờ bị chúng miêu tả như phường thổ phỉ trộm cướp.
    Bài học cho giới lãnh đạo bây giờ, nếu nhu nhược để bọn phản động làm loạn thì chúng sẽ giết hết người yê nước thuơng nòi, bán rẻ đất nước chô ngoại bang. Ô hô ô hô ô hô thiên.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    10
    Không thể nói là quân Văn Thân thiện chiến được, nếu thiện chiến thì đã ko sợ triều đình và quân Pháp đánh, toàn mấy ông Nho sĩ "ngày ba bữa vỗ bung rau bình bịch" thì binh pháp đánh đấm nỗi gì [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG]

    Nguồn rất hiếm trên Internet, ai từng đến thánh địa Trà Kiệu thì mới đọc được ghi chép ở đây, còn trên mạng chỉ có mỗi trang Trakieu.net đăng nên chỉ có nguồn từ 1 phía, thành ra sau khi loại bỏ bớt các yếu tố thần thánh và tự sướng thái quá thì cũng ko dám post nguồn làm gì [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]

    http://www.trakieu.net/%C4%91%E1%BB%...owall=&start=1

    Kiểu thơ lục bát, chia thành chương hồi, vốn chỉ là những trận đánh nhỏ lẻ nên cũng ko dám đưa mấy đoạn tự sướng vào làm gì [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •