Trang 1 của 16 12311 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 159
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0

    Đông Dương hấp hối

    Tên sách: Đông Dương hấp hối
    Tác giả: Henri Navare
    Người dịch: Phan Thanh Toàn
    Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
    Năm xuất bản: 2004
    Số hoá: ptlinh, chuongxedap






    Lời nhà xuất bản


    “Đông Dương hấp hối” là cuốn hồi ký của vị Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương - Henri Navarre. Trở về Paris sau khi thất trận ở Điện Biên Phủ, năm 1956, ông đã viết cuốn hồi ký này với mục đích “đơn giản chỉ vì quan tâm đến sự thật”.

    Là học sinh trường sĩ quan từ hồi mười chín tuổi, Henri Navarre đã tham gia chiến đấu trên mặt trận Pháp từ tháng 5 năm 1917 đến cuối Đại chiến lần thứ nhất. Ông từng được điều sang Syrie chống lại người Ảrập nổi dậy. Kết thúc một khóa học ở trường Chiến tranh, ông đã tham gia những chiến dịch bình định ở Maroc. Ông bắt đầu phục vụ trong Phòng Nhì năm 1937. Trong thời kỳ Đức chiếm đóng, Navarre tham gia cơ quan tình báo của Kháng chiến. Sau một thời gian chỉ huy một vùng ở Algérie và giữ cương vị tham mưu ở Đức, ông được đưa lên đứng đầu sư đoàn thiết giáp 5 D.B. đóng tại Đức, rồi được đề bạt làm Tham mưu trưởng cho thống chế Juin – Tư lệnh các lực lượng NATO tại Trung Âu. Được lời giới thiệu của thống chế Juin, Thủ tướng René Mayer bổ nhiệm Navarre làm Tổng tư lệnh Quân đội Pháp tại Đông Dương.

    Lúc này, về mọi phương diện, ông là một sĩ quan đặc biệt thích hợp để làm tròn nhiệm vụ quân sự của chức Tổng tư lệnh Quân đội Pháp tại Đông Dương.

    Vào đầu tháng 5 năm 1953 Navarre đặt chân đến Đông Dương.

    Qua một tháng điều tra, nghiên cứu tình hình, ông đã hoàn thành bản kế hoạch tác chiến của mình. Đó chính là “Kế hoạch Navarre”. Trên diễn đàn Quốc hội, ngày 20 tháng 10 năm 1953, Thủ tướng Joseph Laniel hứng khởi tuyên bố: “Kế hoạch Navarre chẳng những được Chính phủ Pháp, mà ngay cả những người bạn Mỹ cũng tán thành. Nó cho phép chúng ta hy vọng đủ mọi điều”.

    Tướng bốn sao Henri Navarre nắm vận mệnh Đông Dương trong tay từ ngày 29.5.1953, và chỉ khi đó người ta mới “trông thấy chiến thắng rõ ràng như ánh sáng ở cuối đường hầm” mà “trước đây một năm, không ai tin vào chiến thắng”. Navarre thường được ca ngợi là một vị tướng “có nhãn quan chiến lược”, “đầy tự tin và bất ngờ”, “có cái quyết đoán hạng nhất về quân sự, chính trị”...

    Nhưng sự thực như thế nào? Vị Tổng tư lệnh Quân đội Phát tại Đông Dương đã nói gì sau tiếng sấm Điện Biên chấn động địa cầu?

    Henri Navarre đã viết đầy đủ trong cuốn hồi ký của mình – “Đông Dương hấp hối”.

    Đây là hồi ký của một danh tướng bại trận, được viết theo cách nhìn của cá nhân tác giả, chắc chắn sẽ mang tính chủ quan và không tránh khỏi độ thiếu chính xác.

    Nhưng dù nói gì đi nữa và có biện minh như thế nào chăng nữa, thì Điện Biên Phủ vẫn là một dải băng tang trong lịch sử nước Pháp; và Henri Navarre đã phải thừa nhận sự lãnh đạo tài tình và trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng sức mạnh ngàn nam của dân tộc Việt Nam. Đó mới là chân lý cuối cùng!

    Nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng tôi cho xuất bản cuốn sách này (lần đầu tiên được dịch ra tiếng Việt) với hy vọng mang đến cho bạn đọc một nguồn tài liệu tham khảo.

    Xin trân trọng giới thiệu.


    Nhà xuất bản Công an Nhân dân

    Nguồn:http://www.quansuvn.net/index.php/topic,18938.0.html

  2. #2
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    29
    Lời nói đầu


    Bức điện tín mà tôi nhận được một tháng sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ sụp đổ, đặt dấu chấm hết cho nhiệm vụ chỉ huy trưởng các lực lượng Quân đội Pháp tại Đông Dương của tôi. Nội dung bức điện khẳng định một “sự đoàn kết của Chính phủ và Bộ Chỉ huy, trong mọi tình huống, huy hoàng cũng như đau đớn”. Thế nhưng khi trở về Pháp vài tuần lễ sau đó, tôi cảm nhận một bầu không khí hoàn toàn khác.

    Tại Quốc hội có một mối liên kết chặt chẽ giữa các phe nhóm chính trị từng điều hành cuộc chiến tranh Đông Dương một cách tồi tệ với phe đang nắm chính quyền và đang tiến hành cuộc thương thuyết để đạt đến một nền hòa bình hết sức vụng về. Họ tìm cách đổ hết mọi trách nhiệm lên đầu Quân đội và tất nhiên đặc biệt là chính bản thân tôi. Một “sự thật chính thức” rất khác với những gì xảy ra tại hiện trường được dựng lên: “Sau khi mất Điện Biên Phủ tình hình đã trở lên tuyệt vọng. Ta đang đứng trước một thảm họa toàn diện, và chỉ có một nền hòa bình nhanh chóng mới tránh được thảm họa này; cuộc chiến bị thất bại là do lỗi của các tướng lĩnh và chỉ các nhà chính trị mới là những người có thể cứu được những gì còn cứu được”. Cách nói này nhận được một âm vang đồng điệu từ một vài nhà chỉ huy quân sự, là những người cảm thấy trách nhiệm của họ gắn liền với các quan chức trong chính phủ, khi họ là những cố vấn hay là những kẻ thừa hành dễ sai bảo của các vị trên.

    Trước tình hình như vậy, tôi viết một bức thư gửi cho ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phản đối thái độ cư xử của chính phủ đối với tôi lẫn “khuynh hướng đổ trách nhiệm chính lên đầu quân đội Pháp tại Đông Dương về tình hình bi đát của cuộc chiến này”. Tôi yêu cầu thành lập ngay một Ủy ban Điều tra, để “đánh giá đúng việc chỉ huy của tôi”, “làm rõ hoàn cảnh mà các đơn vị dưới quyền tôi phải chiến đấu”, và “tìm hiểu một cách tổng thể diễn tiến của cuộc chiến tranh Đông Dương, từ khi tôi nắm quyền chỉ huy cho đến ngày ngưng chiến.”

    Tôi là đối tượng của nhiều sức ép kín đáo từ các giới chính trị và quân sự yêu cầu rút lại bản kiến nghị nói trên. Thực tế là cả Chính phủ lẫn Bộ Tư lệnh tối cao đều không muốn có một cuộc điều tra như vậy, nhưng người ta lại không dám công khai đưa ra lời từ chối. Chỉ ba tháng sau, trước sự đòi hỏi quyết liệt của tôi, Chính phủ Pháp mới quyết định trả lời chính thức không thỏa mãn yêu cầu của tôi1.

    Sự phản đối của tôi chẳng đi đến đâu cho đến khi, vào tháng giêng năm 1955, một tờ báo với những hàng tít lớn đã vô tình tạo cơ hội cho tôi lật lại sự việc, khi nó trình bày cho công chúng về “thảm kịch Điện Biên Phủ” một cách hoàn toàn sai lệch và có dụng ý xấu khiến tôi không còn giữ im lặng được nữa. Tôi thông báo cho các giới chức biết, nếu trong vòng vài ngày, một Ủy ban Điều tra không được thành lập tôi sẽ cho đăng trên báo chí tất cả sự thật về sự kết thúc của cuộc chiến tranh Đông Dương. Lời đe dọa này giúp tôi chỉ trong tám ngày đạt được những gì đã có được, những điều mà nhân danh Công lý tôi đã đòi hỏi suốt nhiều tháng nhưng không kết quả.

    Tôi tưởng như đã đạt được mục đích của mình. Nhưng đây chỉ là giai đoạn hai của một quá trình bưng bít sự thật. Người ta phải mất ba tháng để thành lập Ủy ban này và quy định các thẩm quyền của nó. Các quyền hạn điều tra của Ủy ban bị giới hạn rất nhiều so với những gì tôi yêu cầu. Không những nó không có quyền tìm hiểu khía cạnh chính trị của cuộc chiến tranh - một khía cạnh tuyệt đối không thể tách rời khía cạnh quân sự của cuộc chiến, mà còn bị áp đặt các sự hạn chế đối với lĩnh vực quân sự. Và đặc biệt là câu hỏi đặt ra về trách nhiệm của Bộ Chỉ huy tối cao quân đội Pháp, vấn đề chủ yếu và nóng bỏng nhất về tình hình quân sự sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, có bắt buộc các lực lượng của ta phải tháo lui chiến lược một cách thảm hại, đưa đến việc ký hiệp định Genève một cách vội vã để đạt tới một nền hòa bình bằng mọi giá hay không. Những vấn đề này nhất thiết phải được Ủy ban Điều tra thẩm định2.

    Dù sao đi nữa, Ủy ban Điều tra cũng bắt đầu công việc vào đầu tháng 5 năm 1955. Lẽ ra nó kéo dài trong ba tháng nhưng thực tế kéo dài đến bảy tháng, và bản báo cáo chỉ được đệ trình vào tháng 12.

    Mặc dù các yêu cầu của tôi được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhưng tôi không thể nào đọc được bản báo cáo này. Lý do là bản báo cáo phải được giữ một cách tuyệt đối bí mật. Thế nhưng qua những bài báo đăng tải về nội dung bản báo cáo, cho thấy nó được đưa cho nhiều nhân vật chính trị và ở các lĩnh vực khác xem, cho dù có một số người đáng lẽ không được xem, và một số không ngần ngại tiết lộ họ đã được đọc qua. Vì thế tôi cho rằng mình cũng có quyền nói tới.

    Tuy nhiên tôi tránh làm như vậy vì không muốn sử dụng các nguồn thông tin không chính thức cho vấn đề này. Tôi chỉ phát biểu nói chung là kết luận của cuộc điều tra thỏa mãn được những gì tôi mong đợi khi yêu cầu lập ra nó. Cho dù người ta đã dựng lên những “vùng cấm” trong các lĩnh vực chính trị và quân sự khiến các kết luận bị sai lệch nhưng kết luận này phản bác lý lẽ cho rằng Quân đội là người phải chịu trách nhiệm chính cho việc mất Đông Dương. Cho dù có một số nhận định về các quyết định của tôi và thuộc cấp của tôi đòi hỏi cần phải được cân nhắc thận trọng, các vấn đề được xem xét lại đã gần đúng như các hoàn cảnh dẫn đến việc quyết định, chuẩn bị và tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ. Đặc biệt là một số quan điểm hoang đường được lan truyền về trận đánh này đã bị phá vỡ hoàn toàn bởi một sự lên án nghiêm khắc của bản báo cáo đối với các tác giả của chúng.

    Cho dù kết luận của báo cáo không đầy đủ và rất dè dặt, nhưng nó mở ra một lỗ hổng lớn trong sự thật chính thức mà người ta nhào nặn.

    Nhưng do cái sự thật chính thức này quá có lợi cho chế độ và các nhân vật đang nắm quyền nên Chính phủ không nghĩ đến việc sửa đổi nó.

    Mặc dù có nhiều lần yêu cầu, nhưng tôi không có cách nào làm cho bản báo cáo của Ủy ban Điều tra được đưa ra công khai. Người ta không quan tâm đến các lời yêu cầu này, và thậm chí còn tìm cách phản bác chúng. Trước các bằng chứng hiển nhiên của một sự bưng bít vĩnh viễn và cho dù Chính phủ có thỏa mãn hay hứa hẹn3 một cách bất đắc dĩ một số yêu cầu của tôi, tôi quyết định rời khỏi quân đội. Việc ở lại trong quân ngũ bắt buộc tôi bằng sự im lặng của mình phải chấp nhận sự thật một loạt các sự việc mà người ta cố tình tạo ra để lừa phỉnh dư luận quần chúng đưa đến thảm họa nước Pháp phải chịu đựng ở Đông Dương, mà lại không được biết sự thật về tất cả những gì đã xảy ra.

    Có thể người ta sẽ nói rằng, vì tôi là diễn viên chính trong màn diễn cuối cùng của thảm kịch này, nên tôi không thể nào khách quan được. Độc giả sẽ là người phán xét cuối cùng. Tôi sẽ viết những gì tôi nghĩ là sự thật. Tôi chỉ khẳng định những gì tôi chứng minh là sự thật, nhưng tôi sẽ không giấu một cái gì mà tôi nghĩ là phải và có thể được nói ra4. Nếu cuốn sách của tôi làm dấy lên những lời phủ định có chứng cứ, thì đó cũng là những việc rất đáng hoan nghênh, vì chúng sẽ giúp làm rõ sự thật. Cuốn sách này không có một mục đích nào khác.
    ________________________________________
    1. Bức thư ngày 26 tháng 10 năm 1954 do Bộ trưởng Bộ Lục quân kí, viết: “Không xét việc lập Ủy ban Điều tra sự chỉ huy của ông ở Đông Dương bởi lẽ tuy đã từng có vài điều lệ nhưng thủ tục này không có cơ sở pháp lý hoặc quy chế...”.
    2. Nhiệm vụ của Ủy ban Điều tra, được quy định trong một nghị định của Bộ trưởng Quốc phòng ký ngày 31 tháng 3 năm 1955, và được công bố cho báo chí, có những giới hạn như sau:
    a) Cho ý kiến về:
    - Công tác điều hành các cuộc hành quân chiến dịch Điện Biên Phủ.
    - Sự chuẩn bị và điều hành trận đánh này.
    b) Xác định trách nhiệm của các cấp có liên quan:
    Trong một báo cáo gửi cho Chính phủ, tôi yêu cầu Ủy ban phải trả lời thêm nhưng câu hỏi sau đây:
    - Chính phủ và giới thẩm quyền cao cấp của Quân đội có biết tình hình một cách nghiêm chỉnh không? Họ có được báo trước về các rủi ro của sự thất trận này và các hậu quả của nó hay không?
    - Các Bộ Tham mưu của các lực lượng Vũ trang, Lục quân, Hải quân, Không quân có làm tất cả những việc cần thiết để củng cố lực lượng Viễn chinh trong phạm vi các yêu cầu của Tổng tư lệnh và Chính phủ không?
    - Những hậu quả của chiến dịch Điện Biên Phủ đối với việc phòng thủ nước Lào, vùng châu thổ và tình hình tổng thể tại Đông Dương.
    3. Sau kết luận của Ủy ban Điều tra, tôi được bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng Chiến tranh Cao cấp và được hứa sẽ sớm được bổ nhiệm vào một chức vụ chỉ huy trong Quân đội.
    4. Lúc này, không có gì trở ngại về mặt quan điểm an ninh quốc gia, để đưa ra công khai tất cả những gì liên quan đến cuộc chiến tranh Đông Dương. Đây là những sự kiện lịch sử và đã từng bị tiết lộ nhiều lần, hoặc trong thời kỳ cuộc chiến đang diễn ra - tuy hồi đó cực kỳ nguy hiểm - hoặc là nhân vụ án “rò rỉ thông tin”. Thế nhưng, tôi vẫn tránh chưa đưa ra một số tài liệu vẫn còn được chính thức liệt vào loại Mật”. Các tài liệu đó có thể được tiết lộ trong những cuộc đối chứng.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    ***

    Vài tuần lễ ở Đông Dương củng cố thêm quan điểm là hiệu quả công việc của tôi tùy thuộc rất nhiều vào việc thực hiện phương cách tổ chức các quyền lực. Ở phần trên, tôi đã nói về sự tiên liệu trước cho vấn đề này, và những sự dè dặt mà tôi lưu ý ông Chủ tịch Hội đồng. Trong khi chờ đợi một sự bổ nhiệm chính thức chức vụ Tổng ủy, tôi tiếp một phái đoàn của Bộ Quan hệ với các Quốc gia Liên kết đến bàn giao một số quyền hạn tạm thời để điều hành các trách nhiệm. Tôi nhận ra ngay các thiếu sót cơ bản của cách tổ chức được dự kiến này. Tôi trình bày quan điểm của mình cho ông René Mayer biết trong văn bản “Nhận xét về bộ máy chính trị ở Đông Dương”, mà tôi trình cho ông ngay từ đầu tháng sáu.

    Các ý tưởng tôi trình bày có thể được tóm tắt như sau:

    Việc đề ra chức danh Tổng ủy Pháp tại Đông Dương sẽ làm cho các Quốc gia Liên kết có cảm tưởng là, bằng cách chỉ thay đổi danh xưng, chúng ta muốn duy trì một chức vụ cấp cao đứng đầu Đông Dương. Điều này không phải là không có cơ sở, vì để thi hành trách nhiệm Quốc phòng, Tổng ủy có các quyền hạn rất rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực. Và trên thực tế, ông ta có hình ảnh một quan toàn quyền được ngụy trang, nhất là việc ông ngồi ngay trong dinh Norodom, một biểu tượng của thời kỳ “thực dân”, càng tô đậm thêm hình ảnh này.

    Trong khi đó, lá bài duy nhất có hiệu quả mà chúng ta có thể sử dụng vào lúc này là con bài độc lập cho các Quốc gia Liên kết. Để đạt thắng lợi cho cuộc chơi này, lá bài phải được sử dụng một cách triệt để và trung thực.

    Nhưng tình trạng chiến tranh buộc chúng ta phải có các giới hạn tạm thời cho các nền độc lập nói trên. Chỉ có vị Tổng tư lệnh quân đội, người không sợ bị nghi ngờ có những ẩn ý về chính trị, mới có thể áp đặt sự hạn chế cần thiết lên các Quốc gia Liên kết để tiến hành chiến tranh.

    Do đó, người chỉ huy chiến trường phải có trong tay quyền hạn chính trị cần thiết. Việc này đặc biệt đúng tại Đông Dương, nơi chính trị và quân sự pha trộn rất mật thiết với nhau, hành động thống nhất tuyệt đối.

    Nói như vậy, có phải tôi cho rằng Tổng Chỉ huy phải kiêm luôn chức danh Tổng ủy? Không nên, vì với tư cách người chỉ huy quân sự cao nhất, nếu quyền lực của ông ta không bị chia xẻ, việc mang thêm chức danh Tổng ủy sẽ chỉ khiến ông ta bị chỉ trích như bất cứ quan chức dân sự nào.

    Sau khi đã trình bày các ý tưởng này, tôi đề nghị hai giải pháp.

    Giải pháp thứ nhất, theo tôi là tốt nhất: hủy bỏ các quyết định ngày 27 tháng 4. Giải pháp thứ nhất này đặt các vị Cao ủy ở Việt Nam, Lào và Campuchia dưới quyền trực tiếp của Bộ Quan hệ với các Quốc gia Liên kết1, đồng thời bỏ đi cấp trung gian của chức vụ Tổng ủy.

    Giải pháp thứ hai duy trì chức vụ Tổng ủy, nhưng chỉ với vai trò thuần túy ngoại giao2 và không có một quyền hạn nào khác.

    Trong cả hai giải pháp đó, Tổng tư lệnh quân đội nắm trọn các quyền hạn chính trị cần thiết để tiến hành chiến tranh, nghĩa là trực tiếp nắm chính phủ của các Quốc gia Liên kết.

    Điều tôi yêu cầu cũng tương tự như trường hợp của một vị tướng tư lệnh quân đội Mỹ ở Triều Tiên. Vị này tự mình làm việc (hoặc trong một vài trường hợp qua trung gian của đại sứ của ông) trực tiếp với các chính phủ Triều Tiên và Nhật Bản, trên những lãnh thổ thuộc thẩm quyền của ông. Không hề có chuyện đặt ông ta dưới quyền của một công chức cao cấp dân sự, gọi là “Tổng ủy Hoa Kỳ tại Triều Tiên và Nhật Bản”. Chỉ có ở Pháp, mới có cơ chế những chỉ huy quân đội nằm dưới thẩm quyền của một công chức “dân sự” cho dù họ được giao nhiệm vụ giữ những vai trò chính và chịu trách nhiệm chủ yếu.

    Khi ông René Mayer nhận được tờ trình của tôi, thì ông đã từ chức, nhưng ông thông báo cho tôi biết ông hoàn toàn đồng ý với các quan điểm của tôi. Ông đã chuyển nó đến ông Joseph Laniel, người kế nhiệm ông giữ chức vụ cao nhất trong Chính phủ. Một trong những việc làm đầu tiên của Chính phủ mới là bổ nhiệm một Tổng ủy, mà không có một sự sửa đổi nào đối với những quyền hạn đã được quy định trong sắc lệnh ngày 27 tháng 43.

    Tôi đã được biết sự bổ nhiệm này qua báo chí khi về đến sân bay Orly, ngày 3 tháng 7. Sở dĩ tôi đã không nộp đơn xin từ chức vì tôi không muốn bỏ chạy nhiệm vụ khó khăn người ta mới trao cho tôi và một lý do khác là tư cách của người Tổng ủy mới được bổ nhiệm. Tôi quen biết ngài đại sứ Dejean rất lâu. Ông là một người thông minh, có phẩm chất đạo đức, trung thực, dành nhiều tình cảm tốt đẹp cho giới quân sự. Tôi chắc chắn rằng với ông ấy thì những khuyết điểm của sự phân quyền giữa quyền lực dân sự và quân sự sẽ được giảm đến mức tối đa, nhờ vào những sự thông cảm mà tôi tin chắc là sẽ có giữa hai chúng tôi. Tôi đành phải chấp nhận một phương thức mà tôi cho là không tốt, nhưng tôi mong rằng sẽ tiến hành nó với những quyết định tốt nhất có thể có được.

    Tôi trở về Sài Gòn ngày 1 tháng 8, trên cùng một chuyến bay với ông Dejean.
    _______________________________________
    1. Theo tôi, thẩm quyền nên dành cho Bộ Ngoại giao và không nên để cho Bộ Quan hệ với các Quốc gia Liên kết, vì tên của bộ này cũng như Bộ Pháp quốc ở hải ngoại chẳng khác gì một di sản của Bộ Thuộc địa cũ.
    2. Quyền hạn của ngài Tổng ủy bao gồm những cuộc thương thảo, những hiệp định phải ký với các Quốc gia Liên kết, trong khuôn khổ của bản tuyên ngôn ngày 3 tháng 7 (còn đang được nghiên cứu).
    3. Tôi nghĩ rằng sở dĩ có quyết định vội vã đó là do ảnh hưởng - một ảnh hưởng có tính quyết định bên trong nội các mới - của ông Paul Reynaud, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    12
    CHƯƠNG II
    TÌNH HÌNH ĐÔNG DƯƠNG KHI TÔI ĐẾN


    Bạn đọc sẽ không hiểu rõ tình hình ở Đông Dương khi tôi đến Việt Nam nếu không có một cái nhìn lướt qua về quá khứ.


    SỰ TRỞ LẠI ĐÔNG DƯƠNG CỦA NGUỜl PHÁP

    Những đảng phái quốc gia chống Pháp, với các khuynh hướng chính trị khác nhau, đã luôn xuất hiện ngay từ khi Pháp chiếm đóng Việt Nam.

    Các đảng này phát triển rất nhiều trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, và nhiều lần gây ra những biến động nghiêm trọng, nhất là vào năm 1930 ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

    Sự thất bại của chúng ta vào năm 1940, và nhất là cuộc chiếm đóng của Nhật Bản tiếp sau đó, đã làm mất đi uy thế của nước Pháp một cách nghiêm trọng. Bên dưới một trật tự bên ngoài mà đô đốc Decoux tạo ra là một sự âm ỉ các cuộc nổi dậy. Hầu hết các đảng phái theo chủ nghĩa quốc gia đều đã giữ một thái độ “chống đối” cả hai “kẻ chiếm đóng” họ đều xem là kẻ thù như nhau: “Những người Pháp Vichy” và những người Nhật. Bị săn đuổi ráo riết, lãnh đạo của họ đều ẩn náu tại các tỉnh của Trung Quốc dọc theo biên giới Bắc Bộ.

    Lúc đầu, họ kình chống nhau, nhưng năm 1941 các đảng phái này đoàn kết lại với nhau để tạo thành một mặt trận “nhân dân”, liên minh để giành độc lập cho Việt Nam (Việt Nam Độc lập đồng minh hội, viết tắt là Việt Minh). Cũng như trong tất cả các tổ chức hình thành như thế này, những người cực đoan nhất nắm quyền lãnh đạo: đó là Đảng Cộng sản Đông Dương, mà người lãnh đạo là nhà cách mạng kỳ cựu Nguyễn Ái Quốc, được biết nhiều đến với tên là Hồ Chí Minh, được công bố là Chủ tịch của Liên minh này.

    Việt Minh xây dựng một chương trình hành động, nhằm mục đích loại trừ người Pháp, bắt đầu việc “dân chủ hoá” Đông Dương, nhưng vẫn giữ các mối liên hệ tạm thời với Trung Hoa và Mỹ.

    Một phái bộ bí mật của Việt Minh đóng ngay trên lãnh thổ Đông Dương, trong vùng Thái Nguyên (cách Hà Nội 100 cây số về phía bắc), chỉ huy nhiều chi bộ để hoạt động trên khắp đất nước và hàng ngàn quân du kích, hoạt động chủ yếu trong vùng Trung du Bắc Bộ.

    Người Mỹ và người Anh đã liên hệ với Việt Minh cũng như với tất cả các phong trào kháng chiến khác, thả dù vũ khí và đạn dược cho họ.

    Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính. Họ tước bỏ quyền cai trị của người Pháp ở Đông Dương. Bị quân đội Nhật bắt hoặc phải chạy trốn, những người Pháp trong bộ máy cai trị biến khỏi chính trường. Quân đội chúng ta do bị tràn ngập về quân số, đã phải chịu thất thủ mặc dù có chống trả quyết liệt. Một số bị giam giữ ngay tại chỗ, và nhiều nơi tù binh Pháp còn bị tàn sát. Một nhóm khác (khoảng 5000 quân dưới sự chỉ huy của tướng Alessandri) rút chạy về miền Nam Trung Hoa và ẩn náu tại đấy.

    Hoàng đế Bảo Đại, là người được Pháp bảo hộ vào thời điểm nói trên đã tuyên bố độc lập cho Việt Nam, gồm ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và bãi bỏ tất cả những gì tượng trưng cho quá khứ của người Pháp.

    Việt Minh có được một địa bàn hoạt động thuận lợi. Mặc dù vẫn hoạt động trong bí mật, nhưng nhờ các cơ sở, họ chiếm được một phần lớn các vị trí trong chính quyền của nhà vua, họ phát triển nhanh chóng trên cả nước Việt Nam, nhất là ở thượng du Bắc Bộ. Mục đích của họ rất rõ: ngay sau sự sụp đổ của Nhật, được nhận định là rất gần kề, sẽ tranh thủ chiếm chính quyền.

    Vận dụng các sách lược một cách khéo léo và tài tình, họ không chỉ có được sự giúp đỡ ngày càng gia tăng của người Mỹ, mà còn cả sự ủng hộ của chính phủ lâm thời Pháp. Để có được sự thiện cảm của người Mỹ, họ tự thể hiện mình như là một phong trào quốc gia, vừa là đối thủ của Nhật vừa chống lại Chủ nghĩa Thực dân Pháp. Để tranh thủ những “người Pháp mới” (một danh từ ở Đông Dương để chỉ tất cả những gì không phải thuộc Chính phủ Vichy), họ hứa hẹn một sự hợp tác của Việt Nam với một nước Pháp đổi mới. Họ lừa phỉnh cả hai phía. Sự thù địch người Nhật chỉ thể hiện bằng những cuộc chống đối hời hợt nhưng cũng đã lừa được người Mỹ. Và mối thiện cảm của Việt Minh đối với nước Pháp mới vẫn không ngăn cản họ kích động tinh thần chống Pháp của dân chúng bằng mọi phương tiện có thể có được.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    ***


    Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng. Ngay lập tức Chính phủ Hồ Chí Minh nắm quyền ở Hà Nội, vài ngày sau chiếm được chính quyền trên phạm vi cả nước. Hoàng đế Bảo Đại thoái vị, trở thành ông Vĩnh Thụy, cố vấn tối cao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

    Theo thỏa thuận đạt được giữa các nước Đồng minh nhưng không có ý kiến của nước Pháp, việc tước vũ khí quân đội Nhật và tái lập lại trật tự ở Đông Dương được giao cho quân đội Anh từ phía nam vĩ tuyến thứ 16, quân đội Trung Hoa Tưởng Cliới Thạch ở phía Bắc. Sau đó cả hai sẽ được giao lại cho người Pháp.

    Tình hình trong hai vùng diễn biến rất khác nhau.

    Ở phía nam vĩ tuyến thứ 16, cuộc tiến quân của quân đội Anh và sau đó của quân Viễn chinh Pháp dưới quyền của tướng Leclerc đã nhanh chóng chiếm lại các vùng lãnh thổ, đẩy các tổ chức và bộ đội Việt Minh vào hoạt động bí mật. Các thành phố lớn đều rơi vào tay chúng ta còn Việt Minh thì rút về các vùng hiểm trở, vùng rừng núi, nơi họ lập ra các căn cứ để hoạt động du kích chống lại ta. Có một sự việc tối quan trọng và có ảnh hưởng nặng nề về sau là, họ vẫn giữ một vùng đất quan trọng, trải dài 300 cây số từ Vũng Rô (Cap Varella) đến sông Hội An (Faifoo), phía nam Đà Nẵng. Do thiếu thốn về phương tiện, chúng ta đã không tái chiếm được.

    Ở phía bắc vĩ tuyến 16, người Trung Hoa, vì rất muốn chiếm lại vĩnh viễn vị trí của chúng ta ở Đông Dương, nơi họ đã từng thống trị trong vòng một ngàn năm vẫn để cho Việt Minh duy trì thủ đô ở Hà Nội, và khuyến khích họ đối xử với Pháp trên danh nghĩa một quốc gia độc lập.

    Trong nhiều tháng, chúng ta không thể nào tái lập lại sự kiểm soát ở Bắc Bộ, bắc Trung Bộ. Những người lãnh đạo Trung Hoa cũng như Việt Nam đã dùng mọi cách sỉ nhục người Pháp; cả hai đều được sự hỗ trợ của người Mỹ, đang cương quyết phản đối việc tái lập “sự thống trị thực dân” của chúng ta, sự trở lại của Chủ nghĩa Thực dân1. Cao ủy của nước cộng hòa Pháp là Sainteny, dù đã đến Hà Nội vài ngày sau khi Nhật Bản đầu hàng, nhưng không hề được ai công nhận. Quân đội chúng ta, kể cả những đơn vị bị Nhật giam giữ tại chỗ, trên nguyên tắc đã được trả tự do, và những đơn vị từng tạm rút lui về phía nam Trung Hoa, không được phép xuất đầu lộ diện.

    Người Nhật, tuy bị bắt buộc phải giao nộp vũ khí, nhưng họ lại muốn chuyển quyền lại cho Việt Minh, những người anh em châu Á của họ, mà chính họ cũng mong muốn các người anh em này tiếp tục cuộc chiến tranh để giành lại châu Á cho người châu Á, hơn là cho người da trắng, dù những người da trắng đó là ai. Rất nhiều người Nhật thậm chí đã đi theo Việt Minh, họ làm việc như là những chuyên gia.

    Ý đồ sâu xa của người Trung Hoa đối với Đông Dương, tinh thần ái quốc của Việt Minh, tinh thần sắc tộc của người Nhật, và ý tưởng chống lại Chủ nghĩa Thực dân của Mỹ, tất cả đều chống chúng ta.

    Nhưng việc trở lại Đông Dương của chúng ta lại còn vướng phải những bất đồng ở nội bộ bên trong nước Pháp. Những rối ren ở Pháp đi kèm theo cuộc giải phóng đất nước khỏi tay phát xít Đức đã có các ảnh hưởng đến tình hình Việt Nam qua sự đối đầu giữa những nhóm người Pháp thù địch với nhau. Dĩ nhiên không thể để đô đốc Decoux ở lại cương vị cũ vì ông ta có đôi chút tài năng nhưng lại đã “mất mặt” trước người Nhật. Dù vậy, đối xử với ông ta một cách tồi tệ như người kế nhiệm đã làm, thực ra là gây tổn thương cho uy tín nước Pháp. Mặt khác, việc thanh lọc bộ máy cai trị - dưới danh nghĩa thanh lọc những phần tử “theo Vichy” - cũng không đúng lúc vì nó loại mất một số quan chức cai trị am hiểu nước này, thay vào đó bằng quá nhiều “người kháng chiến” - thật có mà giả cũng có - là những người hoàn toàn không am hiểu gì. Sự can dự của nền chính trị Pháp, có một ảnh hưởng rất lớn về sau, bắt đầu được thể hiện.



    ***

    Chúng ta đã trả một giá rất đắt để quân đội của Tưởng Giới Thạch rút đi và tiến hành các cuộc thương lượng kéo dài với Việt Minh để quân đội ta tái chiếm lại Bắc Bộ. Một bản Hiệp định được ký ngày 6 tháng 3 năm 1946. Chúng ta công nhận Việt Nam như là “một quốc gia tự do, có quốc hội, Quân đội và Tài chính, nằm trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp”. Để đổi lại chúng ta được phép thay thế toàn bộ 200.000 quân Tưởng Giới Thạch đóng ở phía bắc vĩ tuyến 16 bằng một lực lượng của ta gồm 15.000 quân, kể cả các lực lượng đang có mặt tại chỗ.

    Ngày 18 tháng 3, để thực thi hiệp định này, tướng Leclerc tiến quân vào Hà Nội, sau khi phải nổ súng để đổ bộ vào Hải Phòng.

    Một thời kỳ mới đã mở ra, khi ta tìm cách thiết lập với Việt Minh một tạm ước.

    Chính phủ Hồ Chí Minh trung thực đến mức độ nào trong ý muốn hợp tác? Về phía ta, chúng ta có làm hết sức để đi đến một giải pháp chưa? Nhưng vấn đề tranh cãi không phải là ở đây.

    Vấn đề là, trong bất cứ tình huống nào, chúng ta phải có một chính sách rõ ràng về Đông Dương. Có quá nhiều sự kiện đã diễn ra nên rất khó có thể thực hiện mọi chuyện như hồi năm 1939. Nhưng đó lại là chính sách duy nhất mà đô đốc Argenlieu và phái đoàn của ông dự kiến thực hiện. Một số người khác, kể cả tướng Leclerc, nhận thức phải có sự đổi mới. Đứng giữa hai khuynh hướng trên, Chính phủ Pháp không lựa chọn dứt khoát một giải pháp nào cả.

    Các cuộc thương thuyết được bắt đầu tại Đà Lạt và kết thúc tại Fontainebleau. Sau hai tháng thương lượng, kết quả đạt được là một sự thất bại mà người ta cố che giấu bằng “Tạm ước” ký ngày 14 tháng 9 năm 1946. Về thực chất, tạm ước này không giải quyết được một vấn đề gì.

    Tình hình trở nên căng thẳng hơn từng ngày giữa ta và Chính phủ Hồ Chí Minh, cho đến ngày 19 tháng 12 năm 1946, Việt Minh mở một cuộc tiến công bất ngờ vào chúng ta và cuộc chiến tranh Đông Dương bắt đầu nổ ra.
    ____________________________________
    1. Những tư liệu của hội nghị Yalta cho thấy Tổng thống Roosevelt đã từng có ý định giao Đông Dương dưới sự lãnh đạo của Việt Minh cho Trung Hoa.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    CUỘC CHIẾN TRANH

    Tường thuật lại một cuộc chiến tranh kéo dài bảy năm chỉ trong vòng vài trang là một việc không thể làm được. Tuy nhiên tôi có thể ghi lại một số giai đoạn chủ yếu về diễn biến của cuộc chiến.


    ***

    Giai đoạn đầu tiên kéo dài qua các năm 1947, 1948, 1949. Trong thời gian này, chúng ta tìm cách chiếm lại từ Việt Minh các lãnh thổ họ chiếm giữ nhưng họ chưa củng cố được một cách vững chắc. Việc này có thể thành công một cách mỹ mãn nếu như có một chính sách rõ ràng, nếu như có sự kiên định thống nhất trong công tác chỉ huy, và nhất là đảm bảo có đủ các phương tiện chiến tranh khi cuộc chiến bắt đầu.

    Không có một điều kiện nào trong các điều kiện nói trên được đáp ứng, vì sự chống đối tuyệt đối của không khí chính trị ở Pháp. Về mặt pháp lý, chúng ta không ở trong tình trạng chiến tranh. Các đảng viên Cộng sản (Pháp) ngay từ lúc này đã tích cực bênh vực Việt Minh. Cuộc chiến tranh Đông Dương, đối với họ là một “cuộc chiến tranh bẩn thỉu”. Còn đối với những người khác, đây là một “cuộc chiến tranh nhục nhã”, “cuộc chiến tranh không dám xưng tên” 1. Sự chi viện ít ỏi về nhân lực và trang thiết bị được đưa lên tàu một cách lén lút. Tổ chức của quân đội Pháp bị xáo trộn vì một cuộc giải ngũ vội vã và không có tổ chức, vì sự cắt giảm hàng loạt về tài chính, sự thanh trừng độc đoán và việc đưa ra khỏi quân đội các khung chỉ huy một cách thiếu suy nghĩ.

    Tái chiếm Đông Dương trong hoàn cảnh như thế là một thách thức lớn. Tuy vậy, dần dần ta vẫn chiếm lại phần lớn vùng châu thổ Bắc Bộ, nhưng ta không thể loại trừ được hết những căn cứ hỗ trợ các lực lượng du kích. Ở những vùng Thượng và Trung du, chúng ta tái chiếm các cứ điểm chiến lược chính, nhất là các điểm chặn các ngõ vào Trung Quốc: Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, song ngay tại các nơi này, chúng ta cũng không ngăn cản được Việt Minh xâm nhập một cách vững chắc vào các mắt xích của một hệ thống chiếm đóng quá lỏng lẻo, chỉ bao gồm các thành phố và trục giao thông mà ta kiểm soát được.

    Cũng trong thời gian này, chúng ta tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, bằng cách tìm ra một “người đối thoại có thể nói chuyện được”. Thay vì có sự cân nhắc nghiêm túc về tình hình Đông Dương, thì sự tranh cãi trong nội bộ chính trường nước Pháp lại là yếu tố quyết định thái độ của chúng ta đối với các vấn đề ở vùng lãnh thổ này: các đảng cánh tả ủng hộ một cuộc đàm phán với Việt Minh, còn các đảng cánh hữu lại bác bỏ ngay từ đầu.

    Sau nhiều lần tìm cách bắt liên lạc với ông Hồ Chí Minh, chúng ta quay trở về cựu hoàng Bảo Đại, đã sang tá túc ở Hồng Kông và mệt mỏi trong vai trò “cố vấn tối cao” của Việt Minh.

    Các cuộc đàm phán với ông này cũng rất gay go, vì các đòi hỏi của ông cựu Hoàng này về vấn đề độc lập cũng không kém gì ông Hồ Chí Minh. Tuy nhiên vào tháng tư năm 1949, ông ta đồng ý với một danh hiệu không thật rõ ràng, đứng đầu “Quốc gia Việt Nam”, một chính thể mà chúng ta công nhận chủ quyền về mặt chính trị và quân sự, nhưng không chính thức nói đến từ Độc Lập. Tình hình lúc này hết sức nhập nhằng.

    Như thế là trong ba năm nói trên, trong khi Việt Minh chưa củng cố được một cách thật vững chắc cơ sở của họ, thì chúng ta cũng không đạt được một kết quả dứt khoát nào, cả về chính trị lẫn quân sự. Cơ hội đã trôi qua.
    _______________________________________
    1. Các ví dụ:
    Năm 1948, ban hành quyết định là các vấn đề về Đông Dương sẽ không còn được đăng trên công báo chính thức.
    Năm 1951, Chính phủ thông báo là máu do cơ quan y tế xã hội quyên được sẽ không được dùng cho thương binh ở Đông Dương.
    Mãi cho đến tháng 7 năm 1952, mới có dự luật được thông qua công nhận tư cách cựu chiến binh cho những người lính Pháp. Sắc lệnh để thực hiện đạo luật này chỉ có được sau 18 tháng.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    0
    ***

    Cuối năm 1949, chiến thắng của quân đội Mao Trạch Đông cùng sự áp sát của nó đến biên giới Bắc Bộ mở ra một giai đoạn mới cho cuộc chiến tranh. Việc tiếp tế vũ khí, phương tiện chiến tranh mà Việt Minh nhận được từ Trung Quốc đặt chúng ta trước một vấn đề mới. Cho đến thời điểm này, do không đủ đạn dược, vũ khí nặng, nên Chính phủ Việt Minh chỉ có thể giao cho quân đội họ tiến hành chiến tranh du kích. Và tất cả sẽ thay đổi nếu viện trợ của Trung Quốc giúp cho họ có đủ hỏa lực họ đang thiếu.

    Cuộc chiến đang đi đến một bước ngoặt quyết định và là lúc nước Pháp phải lựa chọn: hoặc chiến thắng trong cuộc chiến, bằng cách đưa vào tất cả mọi phương tiện cần thiết, trước khi viện trợ của Trung Quốc được đưa vào một cách ồ ạt; hoặc là kết thúc cuộc chiến này bằng một giải pháp chính trị. Không thể có một phương cách trung gian.

    Thế nhưng một giải pháp dung hoà lại được lựa chọn. Tướng Revers, Tổng Tham mưu quân đội, được Chính phủ phái đến hiện trường để đánh giá tình hình, quyết định bỏ trống vùng biên giới với Trung Quốc, tập trung lực lượng về vùng châu thổ. Chiến dịch này được tiến hành vài tháng sau đó, dẫn đến các trận đánh tồi tệ, trong đó có trận Cao Bằng.

    Cho dù có rất nhiều sự tranh cãi1, nhưng phương án rút lui cũng có thể lý giải được, đứng về quan điểm cách tiến hành các cuộc hành quân và nếu chỉ căn cứ vào tương quan lực lượng lúc này tại Đông Dương. Nhưng, nếu xét trên bình diện đường lối chung chỉ đạo chiến tranh - lẽ ra phái viên chính phủ phải xem xét tình hình trên bình diện này - nếu tính đến các phương tiện bổ sung mà nước Pháp có thể gửi sang nếu những người lãnh đạo có can đảm yêu cầu - thì cuộc rút lui này quả thật là hình mẫu của sự xoay sở hòng hoãn trả nợ nhưng lại làm món nợ tăng thêm. Nó mang mầm mống của những thảm họa sẽ xảy đến về sau.

    Giải pháp này đã mở toang các cánh cửa “cổng vào Trung Quốc” tạo điều kiện cho đối phương có thể nối liền hệ thống giao thông của họ với Trung Quốc, dễ dàng nhận viện trợ quân sự không ngừng gia tăng và giúp họ xây dựng được một lực lượng chính quy thật sự ngày càng được củng cố, bên cạnh các lực lượng du kích.

    Về phía ta, sự phình ra của các vùng cần phải kiểm soát trong vùng châu thổ sông Hồng từng ngày làm cho quân đội ta bị giữ chân tại chỗ và giảm các lực lượng cơ động.

    Vì vậy khi lực lượng Việt Minh càng ngày càng đông hơn, mạnh hơn, cơ động hơn, thì lực lượng của ta lại càng bị sa lầy hơn, vì giới lãnh đạo chúng ta tại Chính quốc - mặc dù tình hình tồi tệ hơn - vẫn không cho tăng thêm quân. Do đó, tinh thần của Việt Minh trở nên phấn khởi hơn nhờ các chiến thắng, còn tinh thần chúng ta bị giáng một đòn nặng nề, ngày càng mang nặng tư tưởng bại trận.

    Cán cân lực lượng bắt đầu suy sụp với phần lợi nghiêng về phía đối phương.

    ____________________________________________
    . Tướng Alessandri, Tư lệnh các lực lượng Pháp, chống đối một cách công khai sự rút quân này. Và ông đã phải trả giá bằng cách phải rời khỏi quân đội vì dám can đảm nói lên sự thật.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    0
    ***

    Việc thất bại tại Cao Bằng gây ảnh hưởng đến dư luận và các lực lượng Viễn chinh khiến cho Chính phủ phải giao tất cả quyền lực ở Đông Dương vào tay một danh tướng. Tháng 12 năm 1950, tướng De Lattre de Tassigny cùng một lúc nắm giữ chức vụ Cao ủy Pháp và Tổng tư lệnh quân đội tại Đông Dương.

    Tình hình chính trị được sáng sủa hơn một chút do việc ký kết tại Paris tháng 6 năm đó, các hiệp ước để ba Quốc gia liên kết được chính thức công nhận độc lập, trong khuôn khổ của khối Liên hiệp Pháp, nhưng thực chất khối này vẫn chưa được xác định một cách rõ ràng.

    Trong khi đó tình hình quân sự thì kém đi. Vùng Thượng và Trung du bị sơ tán hoàn toàn. Chỉ có thái Nguyên là còn trong tay chúng ta. Tất cả lực lượng đều rút về đồng bằng,và đa số đều phải cắm chốt. Lực lượng dự bị giới hạn ở con số 12 tiểu đoàn, chỉ có 6 tiểu đoàn là tổ chức thành hai nhóm cơ động. Vùng đồng bằng châu thổ rất sơ hở dễ bị đối phương xâm nhập, không hề có một tổ chức phòng vệ nào.

    Về phía Việt Minh, một Binh đoàn Tác chiến đã xuất hiện, gồm 3 sư đoàn, cùng với 2 sư đoàn khác đang ở giai đoạn cuối của việc thành lập. Trên khắp lãnh thổ Đông Dương, các lực lượng địa phương của đối phương xuất hiện, được tổ chức thành đại đội, tiểu đoàn và thậm chí trung đoàn.

    Tận dụng tối đa ảnh hưởng tâm lý do sự xuất hiện của mình, tướng De Lattre đã mang lại niềm tin cho quân đội. Cùng lúc ấy, ông có những quyết định đã tạo ra dấu ấn của ông về sau.

    Đóng ngay tại Hà Nội, bỏ lại Sài Gòn phía sau, ông nhấn mạnh ngay lập tức tính quan trọng vượt trội của miền châu thổ sông Hồng. Ông nhận định đó là cái chốt cánh cửa mở ra Đông Nam Á. Ở thời điểm đó, đánh giá như vậy là chính xác vì đồng bằng Bắc Bộ là nơi đối phương đang nhắm tới. Không may là sự quan tâm của tướng De Lattre về đồng bằng bắc Bộ, trong thâm tâm ông, chắc chắn là chỉ có tính nhất thời, nhưng về sau nó đã trở thành một sự quan tâm thường trực. Và ngay sau khi ông không còn nữa, sự quan tâm này đã làm mất đi cái nhìn tổng thể đối với các mặt trận khác tại Đông Dương. Sau này, chúng ta sẽ thấy rõ những hậu quả nghiêm trọng của sự sai lầm về cách nhìn nói trên.

    Huy động tất cả các phương tiện có được từ tất cả các vùng lãnh thổ thuộc Pháp, nhận được tiếp viện từ chính quốc, tạo thành 4 lực lượng cơ động mới, tướng De Lattre trong vài tuần đã gây dựng lại cho lực lượng Pháp ở Bắc Bộ khả năng đối đầu cân bằng với Binh đoàn Tác chiến của Việt Minh. Hai cuộc tiến công dữ dội, một tiến đánh Hà Nội, một tiến đánh Hải Phòng đã bị đẩy lui1.

    Tướng De Lattre quyết định bao quanh vùng châu thổ với một tuyến phòng thủ. Quyết định có một ảnh hưởng nặng nề về sau này, là cách để tướng De Lattre đối phó với hai mối lo trong đầu ông. Trước hết là để chặn đứng một cuộc tấn công tổng lực hoặc của Binh đoàn chiến đấu Việt Minh, hoặc của Trung Quốc. Kế đến là ngăn chặn mọi sự trao đổi giữa đồng bằng và các vùng lân cận2.

    Nhưng khi quyết định này được thực hiện thì nó đã không đáp ứng được những ý đồ trên. Xây dựng một “chiến tuyến Maginot” thu nhỏ đã tiêu hao rất nhiều tiền của, song chiến tuyến này không bao giờ thực hiện vai trò như mong đợi. Chiến tuyến “De Lattre” không bao giờ ngăn cản được các cuộc tiến công hàng loạt của đối phương3, cũng không có khả năng ngăn chặn được sự vận chuyển của các đơn vị và đoàn xe Việt Minh4. Trái lại, nó đã giữ chân lực lượng tinh nhuệ của chúng ta - khoảng 20 tiểu đoàn - trong khi các lực lượng trù bị cơ động của ta đều thiếu quân.

    Nghĩ rằng đã cô lập được vùng châu thổ, tướng De Lattre tiến hành càn quét các lực lượng Việt Minh. Đó là mục tiêu của một loạt các chiến dịch kéo dài đến tận mùa xuân và mùa hè năm 1951. Kết quả không hoàn toàn như ý, nhưng đã cải thiện tình hình đáng kể.

    Tiếp tục những cố gắng của mình, tướng De Lattre quyết định tăng quân số lực lượng Viễn chinh bằng cách thành lập những đơn vị mới. Do bị giới hạn về mặt kinh phí và nhân lực mà Chính quốc rót qua một cách hết sức keo kiệt, ông chỉ có thể tăng được quân số các lực lượng bản xứ. Việc “da vàng hóa” nhanh chóng quân đội này đã cung cấp các phương tiện để đương đầu với tình hình lúc bấy giờ, nhưng lại mang mầm mống cho sự xuống cấp của quân đội Viễn chinh.

    Cố gắng của De Lattre cuối cùng nhắm vào việc phát triển các lực lượng Quân đội Liên hiệp, nhất là quân đội Việt Nam, một sự phát triển - thực ra chính thức được bắt đầu từ trước khi ông đến, nhưng ông là người đầu tiên tạo sự thúc đẩy nghiêm túc.

    Ngay sau khi cải thiện tình hình, De Lattre quyết định mở cuộc tiến công vào mùa thu 1951, với một ý muốn đầy tham vọng là tiêu diệt Binh đoàn chiến đấu của Việt Minh. Ý thức phải diệt cho được một địch thủ có ưu điểm là khả năng biến hóa nhanh, ông quyết định tiến công một vùng quan trọng mà Việt Minh phải đánh để tái chiếm lại. Ông chọn vùng Hòa Bình.

    Một trận đánh khốc liệt diễn ra trong vòng hơn bốn tháng mà tướng De Lattre vì bệnh phải trở về Pháp, đã không thấy được sự kết thúc của chiến dịch này. Sau những diễn biến phức tạp, chiến dịch kết thúc vào tháng 2 năm 1952, bằng sự rút quân của chúng ta về vùng châu thổ. Gây cho đối phương những tổn thật nghiêm trọng nhưng chúng ta cũng phải chịu nhiều thiệt hại nặng nề. Đứng về mặt chiến lược thì cuộc tiến công này không đem lại một kết quả quyết định, có chăng chỉ là ngăn chặn được Việt Minh mở một cuộc tiến công mới vào Hà Nội.

    Không may là trận đánh Hòa Bình đã giữ chân các lực lượng cơ động của chúng ta quá xa vùng đồng bằng trong một thời gian dài. Điều này đã giúp đối phương xâm nhập được vào đó với một số lượng lớn về quân số và xây dựng luôn cơ sở tại chỗ. Đây là mở đầu của một sự “mục rữa”, từ đấy không ngừng gia tăng, và dần dần tệ liệt hóa đại bộ phận các lực lượng Viễn chinh. Trước mắt, Việt Minh đạt được một thắng lợi hết sức cơ bản.

    Nói chung, thống chế De Lattre đã thực hiện được một sự gượng dậy rất đáng khâm phục. Tuy nhiên, nếu muốn cho nó được tồn tại thì ông ta phải còn sống, tiếp tục tiến hành những cố gắng liên tục và mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực. Nhưng thực tế đã không xảy ra như vậy.
    _________________________________________
    1. Các trận đánh Vĩnh Yên (tháng 1.1951) và trận Đông Triều (tháng 5.1951).
    2. Ngay tại vùng châu thổ lẫn những vùng chung quanh, luôn luôn có các hoạt động của Việt Minh (thay, bổ sung, dưỡng quân) và trao đổi hàng hoá (đặc biệt là xuất lúa gạo được canh tác trong vùng châu thổ).
    3. Dù sao đi nữa, sự hiện hữu của chiến tuyến này đã làm cho cuộc tấn công của Việt Minh trở nên khó khăn hơn, góp phần làm chuyển hướng các hoạt động của đối phương.
    4. Do các công trình trải quá rộng, nên các lực lượng đồn trú đã không đủ sức để hành quân ra bên ngoài.

  9. #9
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    ***

    Cái chết của tướng De Lattre đã mở ra một giai đoạn mới của cuộc chiến, giai đoạn thể hiện tình hình sa sút dần dần trên mọi lĩnh vực. Quyền lực về chính trị - quân sự một lần nữa bị tách rời: ông Letourneau, Tổng trưởng phụ trách các Quốc gia Liên kết, giữ chức Cao ủy; tướng Salan làm Tổng tư lệnh quân đội.

    Trong vùng châu thổ, nơi mọi thứ đều phải hy sinh để phục vụ việc phòng thủ, quân đội chúng ta đứng trước một hoàn cảnh ngày càng khó khăn. Họ phải chiến đấu chống lại một lực lượng bộ binh vô cùng linh hoạt, ẩn náu ngay trên lãnh thổ của chúng ta, được trang bị ngày càng tốt hơn, ngày càng tinh nhuệ hơn. Lực lượng cơ động của ta thì ngày một bị thu nhỏ về quân số. Lực lượng “cắm tại chỗ” bị tập trung vào những cứ điểm được xây dựng chỉ đủ để chống lại quân du kích trang bị kém, và khó có khả năng cầm cự lại một địch thủ được trang bị nhiều về súng bazooka và đại bác không giật. Tiếp nữa là sự sa sút ngày càng nghiêm trọng hơn về tinh thần, tư tưởng thụ động lan truyền hằng ngày trong quân lính, do những mặc cảm về sự thua kém làm cho họ ngày càng ít thực hiện những cuộc tuần tiễu hơn vào ban đêm chung quanh nơi đóng quân của họ. Sự việc này đã tạo điều kiện cho đối phương có được một sân trống - nhất là vào ban đêm - họ hoàn toàn làm chủ. Những cuộc hành quân “tảo thanh” liên tục và đầy thất vọng không giải quyết được tình hình xấu đi này.

    Trên tất cả những vùng lãnh thổ khác, các diễn biến cho dù không bi thảm như trên, nhưng cũng tương tự như vậy. Khắp nơi Việt Minh đã xâm nhập vào, phát triển theo vết dầu loang. Chỉ có ở Nam Bộ và một vài vùng ở Trung Bộ, là có một sự cải thiện tương đối.

    Tuy nhiên, Binh đoàn Tác chiến của Việt Minh đã đạt tới quân số 6 sư đoàn (lúc bấy giờ phía Quân đội Nhân dân Việt Nam gọi là đại đoàn - ND), chưa hề chứng tỏ sức mạnh từ khi kết thúc trận đánh Hòa Bình. Bộ Chỉ huy Pháp luôn luôn nghĩ rằng họ đang chuẩn bị cho một cuộc tiến công về phía vùng châu thổ.

    Mùa thu năm 1952, ở vùng Thái Nguyên, Binh đoàn này xuất đầu lộ diện. Bất ngờ vào giữa tháng 10, một cuộc tiến công ồ ạt vào căn cứ Nghĩa Lộ1 (tình báo của ta không kịp phát hiện) mở màn cho các hành động quân sự quyết liệt theo một hướng mới: thượng lưu sông Mê Kông. Sau khi chiếm Nghĩa Lộ, phần lớn lực lượng Việt Minh (sư đoàn 308, 312 và 316) xuyên thủng một chiến tuyến nhỏ mà chúng ta định dựng lên dọc theo sông Đà, chia quân đội chúng ta làm đôi, đẩy lui một nhóm chạy về Lai Châu, nhóm kia chạy về Nà Sản. Lực lượng của chúng ta tổn thất và mệt mỏi, tập trung về quanh các sân bay, để có thể được tiếp tế và nhận thêm viện quân. Các cứ điểm được xây dựng một cách vội vã.

    Cuối tháng 11, lực lượng Việt Minh tập trung quanh Nà Sản, mở cuộc tiến công. Sau một trận đánh 4 ngày (29 tháng 11 đến 2 tháng 12), họ chịu nhiều tổn thất, ước tính khoảng 7000 người bị loại khỏi vòng chiến, đã không chiếm được cứ điểm này. Chiến thắng ở thế phòng thủ này đã giúp chúng ta có được ba tháng nghỉ ngơi.

    Vào cuối tháng ba, binh đoàn chiến đấu của Việt Minh lại hướng về Luang Prabang. Họ chiếm được Sầm Nưa, và lực lượng trấn giữ, do rút lui quá trễ, một phần lớn đã bị bắt làm tù binh, hoặc bị tiêu diệt khi rút chạy. May mắn là do không chuẩn bị đủ trang thiết bị tiếp tế và mùa mưa gần kề, nên Bộ Chỉ huy Việt Minh không thể đẩy xa cuộc tiến công đến cùng. Họ dừng lại vào cuối tháng tư ngay trước những trận địa vừa được gấp rút dựng lên ở Luang Prabang, cánh đồng Chum. Không mạo hiểm tiến công tiếp nên họ rút Binh đoàn Tác chiến về vùng tập kết tại châu thổ.

    Họ không tới được sông Mêkông, nhưng đã tới rất gần, thiết lập được những bàn đạp tạo cho họ những ưu thế chiến lược quyết định cho các chiến dịch sau.

    Việc này cũng cho thấy, dù thế nào đi nữa, vùng đồng bằng sông Hồng không còn là “cái chốt cửa của vùng Đông Nam Á”, vì nó có thể bị vặn một cách dễ dàng2.

    Vượt ra khỏi khuôn khổ của nước Việt Nam, chiến tranh đã chuyển qua giai đoạn “chiến tranh Đông Dương”. Sự thay đổi này đã làm cho chúng ta hoàn toàn bị bất ngờ.

    Chúng ta chưa tiên liệu một cách nghiêm túc, trước tháng 10 năm 1952 (thời điểm khởi đầu của cuộc tiến công vào vùng dân tộc Thái và Thượng Lào), là Việt Minh có thể một ngày nào đó mở những cuộc tiến công lớn như vậy bên ngoài vùng châu thổ sông Hồng. Do đó, đã không có một sự chuẩn bị nào trong tất cả các lĩnh vực để đối phó như các trang thiết bị tiếp hậu cần, hệ thống đường xá và sân bay) cũng như không có bất cứ một biện pháp phòng ngừa nào. Đặc biệt là không có một sự chuẩn bị nào để có thể ngăn chặn bất cứ một hành động lớn của đối phương, trước khi nó trở nên nguy hiểm trong vùng từ Đà Nẵng đến Vũng Rô.

    Sự chuyển biến này của cuộc chiến đã có những tác động trên trường quốc tế. Nước Xiêm cảm thấy bị đe dọa trầm trọng và sẵn sàng kêu gọi sự trợ giúp của Liên Hiệp Quốc. Chúng ta đã can ngăn họ làm điều này, có thể đây là một sự sai lầm. Tại vì lời kêu cứu có thể đặt hai phía: một bên là Liên Xô và Trung Quốc, còn bên kia là Mỹ và Anh trước những trách nhiệm của họ, có thể mang lại một giải pháp cho vấn đề Đông Dương, hoặc ít nhất là ngăn cản tái tiếp tục cuộc tiến công của họ vào Lào năm sau.

    Trong việc tổ chức các lực lượng, đây là một giai đoạn đình trệ tiếp theo sau những gì mà thống chế De Lattre đã thực hiện. Quân số và số lượng các đơn vị quân Viễn chinh đã giảm sút3. Các lực lượng Quân đội Liên hiệp tăng đáng kể nhưng chỉ ở những quy mô nhỏ. Nếu tổng số quân của chúng ta đã tăng đôi chút kể từ khi thống chế De Lattre ra đi4, thì sự gia tăng đó lại phải trả giá bằng một sự sút giảm về chất lượng, do sự giảm sút tỷ lệ số khung lính Pháp so với tổng thể5.

    Cuối cùng và đây là điều nghiêm trọng nhất - các lực lượng cơ động của chúng ta đã không có sự thay đổi6, làm cho Binh đoàn Tác chiến của ta ngày càng yếu kém so với Binh đoàn Tác chiến đối phương.

    Chỉ mặt hậu cần, những tiến bộ đáng kể mới được thực hiện. Một sự kiện hàng đầu đã xảy ra, có khả năng tạo được ảnh hưởng rất lớn cho cuộc chiến về sau. Dưới sức ép của những thất bại tại Trung Quốc và nhất là tại Triều Tiên, nước Mỹ sau năm năm chậm trễ đã ý thức được sự bành trướng của Chủ nghĩa Cộng sản trong vùng Đông Nam Á. Nhận thức này khiến họ phải thay đổi quan điểm. Cuộc “chiến tranh thuộc địa” vô đạo được họ biến thành một thánh chiến chống lại Chủ nghĩa Cộng sản. Sau nhiều năm mong muốn chúng ta thua trận, họ đã quyết định giúp chúng ta về mặt tài chính và trang thiết bị, tạo điều kiện cho việc hiện đại hóa quân đội Viễn chinh, nhất là việc tăng cường các lực lượng Quân đội Liên hiệp Pháp.

    Bên cạnh những điểm thuận lợi kể trên, viện trợ của Mỹ lại tạo ra rất nhiều điểm yếu rất nghiêm trọng.

    Đầu tiên là nó đưa quân đội ta đi vào tình trạng nặng nề. Được nhận miễn phí các trang thiết bị chỉ thích hợp với chiến tranh quy ước, chúng ta đã vin vào cớ đó để tiết kiệm ngân sách và không chịu nghiên cứu để có được những thứ thích hợp với cuộc chiến tranh linh hoạt, nhiều biến dạng ở Đông Dương.

    Nhưng mối hiểm họa lớn nhất của viện trợ Mỹ là chính trị. Nếu chúng ta không có được sự cam kết chính thức, thì nguồn viện trợ này sẽ tạo điều kiện cho Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào công việc của chúng ta. Ảnh hưởng của Mỹ lên các Quốc gia Liên kết sẽ dần dần thay thế ảnh hưởng của chúng ta. Chúng ta đã phải đối mặt với tình thế ngược đời: chấp nhận viện trợ của Mỹ, chúng ta chắc chắn sẽ mất Đông Dương, cho dù chúng ta có chiến thắng. Đây là bi kịch của đường lối chính trị của chúng ta.
    _____________________________________
    1. Một cuộc hành quân đánh vào phía sau quân Việt Minh được thực hiện xuất phát từ vùng đồng bằng, hướng về nút giao thông Yên Bái (cuộc hành quân “Lorraine”). Nó phá hủy được một vài kho dự trữ, nhưng không gây được một ảnh hưởng gì đến cục diện tổng thể của chiến trường. Chúng ta cuối cùng bị bắt buộc phải rút lui trong những điều kiện hết sức khó khăn mà không đạt được mục tiêu đề ra.
    2. Việt Minh đã có kế hoạch xây dựng một con đường chiến lược đi ngang qua Yên Bái và Sầm Nưa, tiến đến sông Mêkông qua Paksane.
    3. Tổng tư lệnh quân đội Pháp đã phải chịu sức ép của Chính phủ giảm quân số lực lượng Viễn chinh từ 190.000 người xuống còn 174.000 người.
    4. Sự gia tăng quân số của các đơn vị Liên hiệp và các đơn vị bổ sung tạm thời cao hơn sự cắt giảm của lực lượng Viễn chinh.
    5. Hậu quả của việc chuyển các lực lượng Viễn chinh sang các lực lượng quân đội Liên hiệp.
    6. Trong khoảng thời gian giữa nhiệm kỳ của thống chế De Lattre và thời điểm tôi đến nhận công tác, số lượng các binh đội cơ động không có gì thay đổi.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    0
    BẢN TỔNG KẾT TÌNH HÌNH VÀO THÁNG 5 NĂM 1953

    Trên đây là hình ảnh của quá khứ, mà tôi phải nhận lãnh như một di sản hết sức nặng nề. Sau đây là bản tổng kết về tình hình Đông Dương vào thời điểm tôi nhận quyền chỉ huy.

    Đây không phải là một việc dễ dàng. Sau bảy năm chiến tranh, rất nhiều vấn đề làm cho bản tổng kết này đen tối, cả quân sự cũng như chính trị. Có những quan điểm đã được khẳng định - dù đúng hay sai - mà người ta tìm cách bênh vực bằng mọi giá, những trách nhiệm mà người ta muốn che giấu, những quyền lợi đủ loại, hợp pháp hay không hợp pháp mà người ta muốn duy trì.

    Bầu không khí ở Pháp

    Những dữ liệu đầu tiên của bản tổng kết này phải được tìm ở Paris. “Không khí” ở Pháp là một yếu tố rất quan trọng, ít nhất là cũng ngang bằng với những gì tôi thấy được tại chỗ.

    Về mặt tinh thần, bầu không khí thật là khủng khiếp: bên cạnh sự chống đối thường xuyên của Đảng Cộng sản Pháp, đã thể hiện công khai từ khi chiến tranh mới bắt đầu, không khí còn bị đầu độc bởi “vụ án tướng lĩnh”, tiếp đó đến vụ “buôn lậu tiền Đông Dương” đang gây ầm ĩ trong dư luận.

    Không khí chính trị nói chung là sự thờ ơ. Những thảo luận lớn ở Nghị viện về tình hình Đông Dương chỉ diễn ra với khoảng từ 50 đến 100 dân biểu. Một số ít nhà hoạt động chính trị còn quan tâm đến chiến tranh không phải vì hệ quả của nó đối với các cuộc tuyển cử, thì lại mơ hồ hoàn toàn về mục đích của cuộc chiến tranh đang tiến hành ở Viễn Đông. Không khí bao trùm là một sự bi quan do sự thiếu ý chí, tư tưởng chủ bại có hệ thống, và nhất là do sự quan tâm đến tình hình chính trị ở Chính quốc hơn là sự đánh giá chính xác về các vấn đề ở Đông Dương. Những việc diễn ra ở Đông Dương rất ít được biết đến, thậm chí bị hiểu sai ở Paris. Những bản báo cáo của các đoàn công tác Quốc hội, dù rất nhiều, nhưng cũng chỉ xoay quanh những điểm chung chung hoặc nhắc lại toàn những chuyện xoi mói.

    Các vị chỉ huy quân sự hàng đầu biết rõ tình hình thực tế nhưng đối với họ, chiến tranh Đông Dương là một trở ngại cho việc tái tổ chức lại quân đội Pháp ở châu Âu. Đây là một gánh nặng họ mong muốn gạt bỏ càng nhanh càng tốt.

    Đối với tất cả “những nhà lãnh đạo” chính trị và quân sự này - những người lãnh đạo đất nước qua bảy năm chiến tranh nhưng vẫn không biết cách huy động toàn lực cho cuộc chiến mà cũng chẳng biết làm cách nào để đưa đất nước thoát ra - đã xem Đông Dương như là một vấn đề cần phải thanh lý. Họ xem nó là một “ngõ cụt”, một “tổ ong”, một “mớ bòng bong”. Họ muốn “đi ra khỏi nó”, nhưng chưa thống nhất với nhau về chính sách, cũng như chiến lược để có thể đi đến sự kết thúc này.

    Một số người thống nhất việc kéo dài chiến tranh thêm một thời gian ngắn nữa để thực hiện cố gắng cuối cùng và có giới hạn, nếu sự giải quyết đó không quá tệ hại. Một số người khác nghĩ rằng nên tiến hành ngay lập tức và làm thế nào cũng được.

    Khuynh hướng thứ hai này đang còn là một thiểu số - ít nhất là theo bề ngoài - nhưng không lâu sau đó, nó sẽ lại chiếm ưu thế. Vài tuần sau, thất bại trong cuộc bỏ phiếu tín nhiệm ông Mendès France đã thể hiện điều đó. Ông là người được phái “hòa bình bằng bất cứ giá nào” tin cậy1.

    Khuynh hướng này tương ứng với một trào lưu tư tưởng ngầm mà không một chính phủ nào tìm cách sửa đổi. Chiến tranh Đông Dương không phải là chiến tranh của quốc gia. Đó là một công việc xa xôi, do một đạo quân nhà nghề tiến hành, trong khi đất nước không hiểu được ý nghĩa, cũng không dự vào.

    Tôi phải nhìn nhận như nhiều người đã nói rằng, nếu ở Đông Dương tôi gặp những khó khăn nghiêm trọng, thì tôi sẽ không thể dựa vào, trong mọi trường hợp, một hậu phương vững chắc ở Pháp.
    ______________________________________
    1. Số lượng đại biểu quốc hội được xem như ủng hộ một nền hoà bình với bất cứ giá nào là 301/627.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •