Trang 1 của 4 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 34
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4

    Sử Việt nhìn theo tính cách diện địa _ Tạ Chí Đại Trường

    "Sử Việt nhìn theo tính cách diện địa " thuộc chương IV của cuốn "LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG TẦM MẮT NGƯỜI VIỆT: MỘT LỐI NHÌN KHÁC ", tác giả Tạ Chí Đại Trường. Đây là chương trọng tâm của cuốn sách, với những cách phân tích "phi truyền thống" , dựa trên nguồn sử liệu dồi dào, đáng tin cậy cộng với cách viết đơn giản, dễ hiểu khiến chúng ta có thể đễ dàng nắm bắt đc vấn đề . Hi vọng các bạn có hứng thú với cuốn sách này. Thanks.[IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]


    Sử Việt nhìn theo tính cách diện địa


    Tạ Chí Đại Trường


    Đất nước tất có một lãnh vực để người dân sinh sống, dời đổi. Theo với thời gian, người ta thấy dân Việt từ thời khởi đầu độc lập ở thế kỉ X, vốn nổi lên trong khuôn khổ lãnh địa phủ Đô hộ An Nam, từ phía bắc đã tràn xuống phương Nam trên những vùng thuộc các tập họp quyền bính có những nhóm dân khác thành phần chủng tộc, văn hoá.Và người ta gọi đó là cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam. Cơ sở bành trướng là quân lực của các chính quyền Việt nằm ở Thăng Long, Huế như đã ghi rõ ràng trong sử cũ. Tuy nhiên với thời đại mới thì người ta thấy không bằng lòng với việc giải thích khả năng của dân tộc nằm trên đỉnh cao quyền bính - nhất là khi quyền bính ấy có tính chất vay mượn rõ rệt - nên lại cố tìm cơ sở phát triển của nó ở tận tập họp đơn vị căn bản vẫn thường quen gọi là làng xã. Ở đây thấy có sự mâu thuẫn trong chọn lựa: tự tôn trong cách giải thích về đặc điểm làng xã Việt Nam và tự ti trong việc bắt chước học giả phương Tây, bằng lòng công nhận sự lạc hậu, cho rằng đặc tính văn minh không nằm ở tầm mức quốc gia mà chỉ là làng xã!

    Thật ra, tuy sự kiện là cũ nhưng cụm từ “Nam tiến” rất là mới. Và sự chậm trễ này cũng không phải là do sai lầm nhận thức về phương hướng của người xưa. Nó là phản ảnh của một tình trạng tiến triển hợp với tâm thức của đương thời qua từng chặng thời gian của một sự kiện phức tạp mà người thời nay đã quá đơn giản hoá đi. Đó là những bước đi có nhiều sự hồi chuyển pha trộn văn hoá, chủng tộc gây nên những khu vực quyền lực làm nên lịch sử Việt Nam từ thời độc lập. Và điều đó cũng làm thay đổi diện mạo làng xóm Việt Nam không như những người hoài cổ lầm tưởng.

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    11
    I. Ý NIỆM KHỞI ĐẦU: ĐỒNG BẰNG VÀ RỪNG NÚI


    Người dân thường sống với khung cảnh quen thuộc trong tầm mắt của mình không phải bận tâm về chuyện đất nước bành trướng tới đâu, theo hướng nào. Chỉ có các bậc vua chúa, chủ tể mới phải so sánh vị trí mình đang đứng với tình trạng xê dịch quyền lực của mình đã đi đến đâu. Từ thời thuộc địa, người ta đã thấy rõ phải phân biệt khu vực đồng bằng và rừng núi nên từ 271, Thứ sử Đào Hoàng đã cắt các vùng thượng du của Giao Chỉ, Cửu Chân làm các khu vực hành chính riêng. Rồi đến đời Đường, vùng đồng bằng phải chịu sự cai trị trực tiếp của các quận thú, còn vùng rừng núi thì chỉ chịu sự kềm thúc lỏng lẻo (“ki mi”) qua quyền uy quân sự của các đô đốc thôi. Đó là lãnh thổ của những bộ phận dân chúng bị coi là thấp kém, mang các tên Di, (Lí, Lái) Lão, còn mãi trong sử Việt. Điều đó vẫn xảy ra sau thời thuộc địa khi có các tông tộc trị nước xuất thân trên vùng đồng bằng, tiếp tục giữ thói quen phân biệt từ trước.


    Các chính quyền Ngô, Đinh, Lê khởi đầu không đủ khả năng tóm thâu quyền lực trên toàn vùng đất phủ Đô hộ An Nam như ta đã thấy (xem Chương II). Trong tình hình đó, họ chưa có ý thức rõ về sự phân biệt chủng tộc, văn hoá: Họ phần nhiều đang tranh chiến với những lực lượng họ coi là thù địch chứ không phải với những tập đoàn dân tộc khác. Họ Ngô chưa đặt tên nước, và có vẻ chỉ giữ lại danh xưng Đô hộ cũ rồi đổi “phủ” ra “nước” để gọi vùng đất dưới quyền mình là nước Đô Hộ mà thôi.(1) Hơn hai mươi năm cai trị ngắn ngủi của Ngô không thể làm thay đổi ý niệm về lãnh vực của thời thuộc Đường. Đinh, Lê có những bà hoàng hậu mang tên “quốc” khiến ta nghi ngờ rằng ý niệm “chiến quốc” của cổ Trung Hoa đã chen vào. Điều này không phải là vô lí bởi vì sử quan tăng lục đã cho ta thấy họ có bắt chước chép sử triều đại theo khuôn với những biến chuyển lớn ở phương Bắc: chuyện Ngô Xương Văn treo Đinh Liễn doạ giết và câu trả lời của Đinh Bộ Lĩnh có dáng như chuyện giữa Hạng Vũ và Lưu Bang; chuyện Lê Hoàn cướp ngôi Đinh có dáng như cuộc binh biến Trần Kiều của Triệu Khuông Dẫn khi lấy ngôi Hậu Chu. Không phải những sự kiện đó của Đinh Lê là chuyện bịa, chúng đã có thật, nhưng sử quan đã lấy mẫu của phương Bắc để ghi nhận, thêm thắt cho trang trọng. Điều này vẫn tiếp tục thấy rõ rệt trong chuyện cung đình.


    Trong thời đại trước khi Tần thống nhất, Trung Hoa có cả hàng trăm nước/“quốc” rồi dồn lại còn 7 nước trong đó, đối đầu là các quyền lực trên đỉnh cao chứ không thấy bóng dáng ngăn ngừa giao thông khiến cho thương nhân đòi buôn vua (Lã Bất Vi), các Tung hoành gia tha hồ thay đổi “quốc tịch”, hết phụng sự ông vua này lại nhảy sang “nước” khác khi bị bỏ rơi hay không được nghe theo kế sách để đạt quyền bính mong ước. Tập họp cựu Đô hộ phủ qua bao nhiêu thế kỉ đã mang một chừng mực liền lạc về văn hoá, tổ chức chính trị, đến bây giờ lại chia manh mún về quyền lực, có thể gợi nên một thời chiến quốc mới ở phương Nam như thế. Đinh Tiên Hoàng có bà Kiểu Quốc, Cồ Quốc, Lê có bà Trịnh Quốc giống như là đã lấy vợ từ những đại gia đình có quyền lực nào đấy được nâng lên địa vị “nước” cho xứng tư cách thông gia. Và chính ngay trong khu vực quyền bính của mình, Lê Hoàn cũng đã phong cho hai người con những tước vị đúng với vị trí đất đai quản lãnh: Trung Quốc Vương Long Kính (992) nằm giữa vùng của các anh em, Nam Quốc Vương Long Mang (994) ở vùng Thanh Hoá phía nam.

  3. #3
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    5
    Ý niệm “quốc” trong tương quan hôn nhân sẽ còn vướng víu ở đầu đời Lí. Qua trung gian Lê đã “văn minh” hơn với các bà Phụng Càn Chí Lí, Thuận Thánh Minh Đạo, Lí Thái Tổ đổi bà Tá Quốc đặt trên bà Lập Giáo, chứng tỏ lúc này chỉ còn một “quốc” càng lúc càng thấy quan trọng hơn. Và vì thế ta mới nói những người cầm đầu chính quyền thời này chưa có ý thức phân biệt chủng tộc, văn hoá gay gắt. Ngoài bà Cồ Quốc, Kiểu Quốc, Đinh còn có bà Ca Ông, các tên nghe như có hơi “Di Lão” của vùng Hoa Lư mà Đinh Tiên Hoàng đã lấy vợ, kết thân, và chính bản thân tông tộc của ông sống trong các “sách” (như sách Vũng Đào của ông, sách Bông [Vũng Tế theo ĐVSL] của chú ông) cũng không thấy xa rời lắm. Lê Hoàn đánh giết dân Hoan Ái như với một kẻ thù khác chủng tộc, lấy một nữ tù binh Chàm có đến hai/ba con, và phong tước, trao quyền cho họ không phân biệt, chứng tỏ nơi tư thế chiến thắng của họ trong việc giành ngôi sau này.


    Tình hình đó đã khác đi với Lí, Trần. Họ là những tông tộc của vùng đồng bằng, tất nhiên coi sự phân biệt dân “Kinh phủ” và Di Lão là đương nhiên, cũng như các quan đô hộ ở La Thành xưa, nơi mà ngày nay là Thăng Long của họ. Họ Đinh một thời làm vua nay trở thành xuống cấp. Vớt vát một thời hẳn là chuyển tiếp còn có Đinh Lộc làm Điện tiền chỉ huy sứ nhưng lại bị giết vì “làm phản” (1041), rồi tiếp tục làm phản là người đồng tộc ở kinh đô cũ Hoa Lư (1198), bị bắt xây cung điện, lại trốn đi, chống đối (1203-05). Cho nên một nhóm họ Đinh khác đã bị coi là Di Lão, cần phải đánh dẹp, hành hạ, “đánh chết rồi đem phơi khô thịt”(1185).(2)


    Trên vùng đồng bằng, cái tên “phủ Đô hộ An Nam” vẫn còn trong cơ cấu hành chính, danh xưng công thự đến vài ba thế kỉ sau thời độc lập. Sự tồn tại của danh xưng đó trong suốt hai triều Lí, Trần đã chứng tỏ níu kéo quan niệm phân vùng cũ của thời thuộc trị. Có khác là đến lúc này có một chính quyền trung ương ở đồng bằng mà tập họp Di Lão bao quanh, nên hướng tây trở thành nơi của những thành phần thấp kém so với hướng đông có kinh thành Thăng Long văn minh, cao quý hơn. Các từ ngữ vốn chỉ phương hướng địa lí lại trở thành có ý nghĩa kì thị, và điều đó ăn sâu vào tâm trí người cầm quyền, rồi qua những dời đổi suy nghĩ ngoắt ngoéo lại được sử dụng để chỉ một vùng đất chẳng tuỳ thuộc vào ý niệm phương hướng nào cả.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Ngay ở đồng bằng cũng có sự phân biệt hơn kém. Thực tế “phủ Đô hộ An Nam” là vùng đồng bằng phía bắc, còn khu vực Thanh Nghệ Tĩnh vẫn là nơi của tranh chấp với các thủ lãnh địa phương mà kết quả đầu phục là do binh lực trung ương của chính vua ra tay. Lí Thái Tổ vẫn đánh dân châu Diễn (1012) “không theo giáo hoá, ngu bạo làm càn...” Và đến 1031, Thái Tông lại phải đánh châu Hoan, gần hơn, cũng “làm phản”... Đánh dẹp xong thì có các thân vương (Lí Hoảng, Lí Thường Kiệt, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Khang - rồi đến con là Trần Kiện) đóng giữ trấn áp. Và bên lề của những thủ lãnh địa phương đầu phục vẫn có những họ Lê, họ Nguyễn độc lập, không lan tiếng tăm đến Thăng Long để các sử quan hạ bút ghi chép, nhưng rồi sẽ nổi lên xây dựng triều mới khi tình thế tranh chấp động chạm đến quyền lợi của họ.

    Trong một thời gian thuộc Trần, vùng phía nam này vẫn còn mang danh vị “trại” (ấp) so với Thăng Long là “kinh” đô. Trong ý nghĩa phân biệt như thế thì Thanh Nghệ Tĩnh tuy ở về hướng nam nhưng vẫn bị đối xử, và tự nhận như là “tây” - không hẳn là man rợ nhưng vẫn không bằng “đông”. Sự kì thị đó còn rất rõ trong phản ứng ngược của một tông tộc trong vùng này lúc lên nắm quyền cuối thế kỉ XIV: họ Hồ, qua đó ta thấy rơi rớt một chữ dùng theo thói quen.


    Họ Hồ là một vọng tộc lâu đời của đất Nghệ An như chứng tỏ trong sử sách còn lưu lại và trong tham vọng đặt tên nước là Đại Ngu, muốn nối dòng Ngu Thuấn xưa. Họ Hồ đã có người làm phò mã của Lí theo cung cách đối xử liên minh của Lí đối với các tập họp Di Lão phía bắc, phía tây (họ Thân, họ Hà, họ Dương...) Thế mà chung quanh khu vực phía nam này còn có một hay nhiều họ Lê quyền thế hơn nhưng lại không được sử quan chú ý, chỉ vì không liên quan đến việc chép sử của họ ở các kinh đô. Ta thấy có tên Lê Lương với 3000 thuộc hạ (“khách”), chứa thóc hàng trăm lẫm, được Đinh phong làm “Ái Châu Cửu Chân Đô quốc dịch sứ”(3) - một cách nói khác về việc giao phần đất đó cho ông, một sự uỷ nhiệm tượng trưng từ vùng trung tâm còn rơi rớt tên nước mà dòng họ Đinh vừa chiếm được: Đô (hộ) quốc. Có viên quan sát sứ họ Lê hẳn là đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy ông con nuôi Lê Hoàn lên làm Thập Đạo Tướng quân của Đinh. Cũng một họ Lê ở Thanh Hoá đã đủ uy thế để liên kết với họ Hồ danh tiếng nọ trong việc nhận tổ 4 đời của Hồ Quý Li làm con nuôi khiến ông vua đầu đời này phải chịu mang họ Lê cho đến khi cướp được nước trong tay họ Trần. Nhưng không phải vì vị thế con nuôi mà họ Lê-mới / Hồ-cũ, phải thất thế: Hai chị em cô cậu của Lê/Hồ Quý Li đã vào được cung vua Trần, nơi một dòng họ chỉ truyền đời bằng người cùng máu mủ tông tộc không lẫn lộn, thế mà các cuộc hôn phối đó đã sản sinh ra hai ông vua (Nghệ Tông và Duệ Tông). Uy thế địa phương khiến cho Hồ Quý Li, khi thấy có cơ hội lấy được nước (1397), đã muốn dời đô về hương Đại Lại, phủ Thanh Hoá quê nhà, theo ý thức tông tộc vẫn còn lưu lại đến lúc bấy giờ của những người cầm đầu đất nước. Nơi đó được gọi là Tây Đô. Hẳn là không phải Hồ Quý Li không biết định hướng. Ông chỉ dùng một từ của thời đại tuy đã yếu ớt ý nghĩa miệt thị nhưng vẫn giữ lại vì một hướng đi theo con đường thượng đạo từ Thăng Long vào Thanh Hoá còn thấy ở cuộc tiến quân của Quang Trung đầu năm 1789.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Tên đã đặt thành thì cứ tiếp tục giữ, không thắc mắc. Phủ Đô hộ của Vương Thông được các sử quan Hậu Lê gọi là Đông Đô trong cuộc chiến chống Minh. Thành nhà Hồ còn đó, được gọi là Tây Kinh (1430) ; trong vùng thêm một đất phát xuất của triều mới nên có Lam Kinh. Còn Đông Đô làm trị sở của nước mới, gọi là Đông Kinh (cũng năm 1430). Trong cuộc tranh chấp Mạc và Lê, ranh giới Tam Điệp / Ba Dội được Mạc cho là phân biệt hai vùng: phía bắc là Đông Việt, phía nam là Tây Việt, khiến cho khi Lê trung hưng vẫn phải giữ chút ý niệm chia cắt mà gọi lại là nội trấn và ngoại trấn, lấy theo vị trí trung tâm của mình. Tuy nhiên tên ba Kinh vẫn còn giữ cho đến khi người Tây Phương tới, đem chuyển Đông Kinh thành Tonkin trong thư từ trao đổi, để người Pháp đặt ra một xứ bảo hộ thay tên Bắc Thành / Bắc Kì của nhà Nguyễn.


    Sự đối kháng đồng bằng và rừng núi làm nảy sinh ra hai hướng khác: trong và ngoài. Người ta ngại ngùng rừng, núi âm u, tối tăm nên nói: “trong núi”, “trong rừng”, và cảm thấy thảnh thơi, dễ chịu với cảnh “ngoài đồng” rộng rãi, thênh thang. Thế là tây và đông có thêm ý nghĩa của trong và ngoài. Cho nên khi đất nước dài ra, tây và đông không thích hợp nữa thì có từ chỉ địa vực thay thế: Đàng Trong và Đàng Ngoài là hai phần đất phân tranh Nguyễn Trịnh. Ngay đến các cụm từ đối kháng “vào trong / ra ngoài”, “vào nam /ra bắc” được sử dụng thời bây giờ cũng còn vướng vất ý niệm tây/đông, tối tăm / sáng sủa như thế.

    Về cuộc phân tranh Lê Mạc ở thế kỉ XVI, nhóm sử gia VNDCCH viết: “Sử cũ gọi triều đình này (Lê) là Nam triều để đối lập với nhà Mạc.” Không thấy các tác giả nêu rõ tên “sử cũ” là gì. Sử quan ở Toàn thư của Lê Trịnh không thể coi Mạc là triều đại chính thống để đối đầu ngang hàng với mình trong sử sách được. Sử quan nhà Nguyễn tuy chép liên tục sự việc, không có lối phân biệt “Phụ: Mạc Đăng Dung...” nhưng cũng phân chính, nguỵ rõ ràng. Tập họp từ Hán: Bắc Hà, Nam Hà dùng để chỉ phương hướng hai bên con sông ranh giới, không luỵ vì tính chính thống nên dễ dàng được chấp nhận để gọi trong sử sách thay thế cho cụm từ nôm na Đàng Ngoài Đàng Trong. Có lẽ chỉ có Trần Trọng Kim (1920) là người của thời đại mới như đã nói, mới kể Mạc như một triều đại chính thống (dù vẫn chê bai Mạc Đăng Dung), và đặt cuộc tranh chấp Lê/Trịnh - Mạc vào một chương sách của ông: “Nam triều Bắc triều (1527-1592)”. Ông xếp cuộc tranh chấp này vào bên trong một khung lịch sử lớn hơn: “Tự chủ thời đại (Thời kì Nam Bắc phân tranh) (1528-1802)”. Tập họp “Nam triều Bắc triều” xưa hơn là từ thực tế phân tranh Trịnh Nguyễn, nhưng không phải phát xuất từ khu vực Trịnh vì các lí lẽ chính thống của sử quan Toàn thư, như đã nói. Nó phát xuất từ phía Nguyễn. Tuy chúa Nguyễn vẫn dùng niên hiệu nhà Lê nhưng chiến tranh và sự phân liệt lâu dài cũng tạo nên ý thức tự chủ ở những người lãnh đạo Đàng Trong. Tuy mãi đến 1744, Nguyễn Phúc Khoát mới xưng vương hiệu, đúc ấn, nhưng Nguyễn Phúc Chu (1692-1725) đã xưng là “Quốc” chúa, tự gọi là Đại Việt Quốc Vương và sai người cầu phong nơi vua Thanh (1702). Cho nên ta không lấy làm lạ khi Nguyễn Khoa Chiêm viết sách năm 1719, đặt tên là Nam triều công nghiệp diễn chí, trong ấy không những chỉ nói đến Nam, Bắc, Nam triều, Bắc triều để chỉ Đàng Trong, Đàng Ngoài mà còn có ý lấn đoạt “chính thống” để gọi vùng chúa Nguyễn cai trị là “Nam Việt”, “Nam Việt ta”!

  6. #6
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    608
    Vậy là các triều đại Việt trở về trước thường đã không dùng ý niệm nam, bắc trong tương quan đối với lãnh thổ phía nam bên ngoài vùng quyền lực của mình. Có bắc, nam, đông, đoài, nội, ngoại bên trong khu vực Đô hộ phủ cũ nhưng khi sử dụng với nước ngoài, Nam là từ đặc biệt chỉ lãnh thổ của họ đối với nước lớn phương Bắc: Trung Hoa.


    Cá biệt có trường hợp Bà Chúa Xứ được chỉ thuộc về “đại địa Nam Quốc” . Hẳn vì vai trò linh thiêng của Bà mà nơi xuất thân cũng được nâng cấp bậc, chứ còn trở về chuyện trần thế thì Chiêm Thành ngay từ đời Lí đã được xác định bằng từ “phiên” theo cách người Hán gọi dân phía tây của họ. Với Trần, Hồ Lê thì Chiêm Thành vẫn là ở “phía tây”. Ngự sử đại phu Trương Đỗ can Duệ Tông đừng đánh Chiêm (1377) đã nói: “Nó ở tận cõi tây xa xôi...” Đến Hồ bắt được tướng Chàm (1396), thu phục, ban họ là Kim (Trung Liệt) lấy từ hành kim của bát quái, chỉ phương tây. Rồi đến Lê Thánh Tông đánh Chàm (1471), Nguyễn Xí được cấp tù binh, cho lập thành thôn cũng đặt tên là Kim Ổ (có lẽ là bàu Ô, gần cửa sông Lam).


    Những vùng đất lấn chiếm của Chiêm Thành có các tên chuyển hoá hay tự đặt: Ô, Rí/Lí, Hoá Châu / Thuận Hoá. Lê không với tay xa xuống phía nam được thì có chúa Nguyễn dùng các chữ Quy Nhơn (xứ của lòng nhân tụ về), Bình Khang, Gia Định... mang cung cách thuần Hán Việt. Người Thượng, người Khmer được gọi là Man, Phiên, Di: luỹ Tịnh Man dọc phía tây Nam, Ngãi, Bình, Phú (1804); đồn Trấn Di làm căn cứ cho các nhà vẽ đồ bản người Pháp đặt tên một cửa sông Hậu với chữ Pháp líu lo (Tran Dee), chuyển qua các nhà địa lí học Việt Nam ngày nay thành các tên Tranh Đề, Trần Đề không chằng, không rễ, không dính vào đâu cả! Với sử quan Nguyễn thì dân Miên là Phiên dân, người Thanh là Đường nhân, người Việt là Hán/Hoa nhân. Cho đến mãi gần đây, khi đạo Cao Đài truyền bá sang Nam Vang, người ta vẫn gọi vùng ấy là của “nước Tần” theo lối nghĩ về một trong Thất Quốc ở phía tây, của Bắc sử.


    Tất nhiên không phải vua quan Việt không biết định hướng. Khi thống nhất một đất nước dài theo chiều nam bắc, nhà Nguyễn đã theo quan niệm ngũ hành chia ra làm 5 phần: Kinh kì, Tả kì, Hữu kì, Nam kì, Bắc kì. Nhưng ý niệm đông tây vẫn còn vướng víu song hành. Khi phiên âm Campuchia thành Giản Phố Trại, chỉ vì chữ Hán viết lẫn, “giản” thành “đông”, vùng đất trước lúc có tên Gia Định chính thức lại cứ được gọi là Đông Phố (sau giữ lại trong văn thơ) và từ đó, khi Minh Mệnh tạm thời chiếm Phnom Pênh đã cho gọi phần đất mở rộng là Trấn Tây Thành. Còn đối với các vùng chiếm được của các vương quốc Lào đúng ở hướng tây, nơi không có từ “đông” đối chiếu, thì chỉ có các tên mang dấu hiệu quyền lực: Trấn Biên, Trấn Ninh... Nghĩa là không có ý niệm, từ ngữ Nam tiến trong đầu óc các người cầm quyền đất nước Đại Việt.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    6
    II. “NAM TIẾN” TRONG SỰ PHỨC TẠP NHÂN CHỦNG

    Trên con đường phát triển quyền lực, các vương triều dù muốn hay không cũng phải thu nhận trong vòng tay của mình những tập đoàn khác nhau mà họ phải ghìm giữ, khuôn nắn trong trật tự họ lập thành với tất cả những thay đổi, chuyển biến có khi không tuỳ thuộc vào họ nữa.

    1. Vấn đề đối với các tập đoàn dân tộc Chàm, Khmer

    Khởi đầu của vấn đề có lẽ vẫn phải nhắc lại các diễn biến lịch sử. Năm 982, Lê Đại Hành đánh thắng Chiêm Thành, tiếp theo là các chiến thắng của Lí Thái Tông 1044 như một sự phô trương uy vũ với cả các tập đoàn Man khác, chiến thắng 1069 của Lí Thánh Tông tuy to lớn hơn nhưng là kết quả của một sự tổn thương tự ái: sợ mất mặt với bà vợ trị nước được tôn phục. Tất cả chỉ là một sự cướp bóc, không qua khỏi tính cách của cuộc chiến bộ lạc, tuy với quy mô lớn hơn nhiều. Lê Đại Hành thắng trận thì “năm ấy đói to”, bản thân tồn tại được hẳn là nhờ chiến lợi phẩm. Ông bắt vợ người làm vợ mình không hãnh diện, không chê bai, ông đem đồ quý cướp được bày ra sân hàng ngày để khoe với sứ Tống (986) như một ông nhà giàu khoe của. Lí Thái Tông không được may mắn như Lê Đại Hành trong chuyện riêng tư, để lại nỗi lo sợ hồn oan Mị Ê, nhưng cũng có cung Ngân Hán chứa nữ tù binh, sự việc không tránh khỏi làm phức tạp dòng máu họ Lí mà sử quan không ghi chép. Trong cách sử dụng từ ngữ sang cả của sử quan, ta nhận ra “điện”
    là nhà, còn “cung” là phòng, ví dụ trong xây cất của Lí Thái Tổ có việc “mở cửa Phi Long thông qua cung Nghênh Xuân” rõ ràng để ông vua đi qua hưởng thú vui chăn gối.


    Tính cách hỗn tạp nhân chủng này có dấu vết trong dân gian nổi bật hơn vì không bị che giấu. Lí Thái Tông bắt “hơn 5 nghìn” tù binh Chàm cho lập thành “hương ấp phỏng theo tên gọi” của nước cũ, rải ra trên vùng Nghệ An, vùng gần Hà Nội, trung, thượng lưu sông Hồng ngày nay. Tù binh của Lí Thánh Tông không thấy được ghi là phân bố nơi nào tuy số lượng thật là lớn: năm mươi ngàn, nghĩa là gấp mười con số 15 năm trước. Sự cách biệt của 2 trận chiến không xa khiến ta ngờ rằng người ta đã cho nhập vào vùng các tù binh cũ. Họ không dễ dàng tan biến, bởi vì hơn hai trăm năm sau Lê Văn Hưu (1272) còn nhận ra nơi chốn tập đoàn của họ sinh sống: “Lí Thánh Tông bắt vua nước ấy là Chế Củ, bắt làm tù dân nước ấy năm vạn người, đến nay vẫn phải còn chịu làm tôi tớ...” Có thể phỏng đoán không sai chạy, là trong khi vua Lí sử dụng chuyên viên tù binh xây dựng đền tháp thì hẳn những người này cũng phải lưu lại dấu vết nhân chủng trên các vùng có kiến trúc của Lí rải rác trên khắp lãnh thổ.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    13
    Rồi trên phần đất chiếm được cũng không phải chỉ có sự thuận dòng một chiều. Cũng Lê Văn Hưu than thở chuyện thời Bắc thuộc mà ta thấy những gì xảy ra đến trước thời ông: “Nước Lâm Ấp thừa lúc nước Việt ta không có vua, đến cướp Nhật Nam và Cửu Chân rồi xin (vua Trung Quốc) quản lĩnh cả (Giao Châu)...” Vì thế tình hình nhân chủng ngay chính trên vùng quanh Thăng Long cũng không giản dị. Nguyễn Nộn xuất hiện cuối đời Lí (1218) như một thế lực chân vạc tranh quyền với Đoàn Thượng và họ Trần, có một tướng Chàm tên là Phan Ma Lôi “có tài chủ động đánh thắng, dụng binh như thần”. Sử cho rằng Nguyễn Nộn nhận cho làm “nô”, nhưng qua gốc tích “đi buôn bán ở Ai Lao”, hẳn là Phan Ma Lôi không phải bị ràng buộc nhiều, ông chỉ là “người dưới quyền” để có đủ khả năng sau khi chủ tướng chết (1229) thì phóng ngựa bỏ đi, “không biết là đi đâu”.


    Qua câu chuyện về Trần Nhật Duật, ta biết được có một “thôn” Bà Già ở gần kinh thành nguyên gốc là thôn Đa Gia Li rõ ràng tên Chàm, và cách thức sử quan kể về ông hoàng này “cưỡi voi đến chơi... ở lại vài ba ngày mới về” đã chứng tỏ dân gốc tù binh này không có dáng gì là nô cả. Lê Văn Hưu khi kiêu ngạo hạ chữ “tôi tớ” (thần bộc) cũng không chỉ một tình trạng pháp lí của con cháu đám tù binh 200 năm trước có khác gì với những dân thường ông nhận là đồng chủng, những người vốn cũng là “thần bộc” của họ Trần, chủ ông. Ông hoàng thông dịch được tiếng của sứ giả Tumasik (Singapour sau
    này), hẳn không phải vì chỉ học với sứ giả lần trước như ông trả lời, mà đã có căn bản trong lúc giao tiếp với người Chàm nói tiếng tương tự như dân hải đảo một chừng mực nào đó. Và điều đó cũng chứng tỏ thêm rằng con cháu tù binh Chàm qua hơn hai thế kỉ giữa đất người chiến thắng vẫn giữ được ngôn ngữ, sinh hoạt riêng.

    Trong lúc người Chàm còn phồn tạp ở ngay sát kinh đô Thăng Long thì sự yếu thế của Lí làm cho các vùng chiếm được bằng binh lực của trung ương trở nên không yên ổn, và đã trở thành những vùng “xôi đậu” nhân chủng. Trong sự kiện Lí Thái Tông an trí tù binh trên đất Bắc, ta chú ý đến lệnh cho họ “nhận người cùng bộ tộc” lập làng, chứng tỏ rằng từ nơi xuất phát, họ cũng không thuần chủng, không cùng tiếng nói, phong tục.


    Cùng lúc với Đại Việt giành độc lập, xây dựng nước thì các vùng chịu ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ ở phương Nam cũng kết tập lại và lợi dụng sự suy yếu của Lí để lấn ra. Sử Việt ghi riêng biệt đến các cuộc chiến trên đất Nghệ An với quân Chân Lạp của vương triều Angkor: 1128, 1137, 1150, mà năm 1928 thì có đến 20.000 chiến binh, 700 chiến thuyền trong hai lần đánh phá. Chân Lạp nổi lên thì Chiêm Thành cũng nâng uy thế theo. Năm 1132, họ phối hợp với Chân Lạp đánh phá Nghệ An; năm 1177 họ một mình vào Nghệ An. Trong tình hình đó thì việc Lí can thiệp vào nội tình của Chiêm không còn có tính cách quyết định như ở đầu đời. Họ không những đã thua trên đất Chàm (1152) mà với một toán li khai cũng thua nốt (1203). Ngay trên đất Nghệ An, năm 1132, xảy ra chuyện người Chiêm rình bắt người Việt bán cho Chân Lạp hẳn đang cần nô lệ xây dựng Angkor Vat. Hình người chèo trên vách đền Bayon biểu dương chiến tích thắng Chàm của Jayavarman VII (lên ngôi 1181) được đoán định là bạn thuyền Việt được Chân Lạp mướn,(8) nhưng ta ngờ rằng đó là những nô lệ Việt thì đúng hơn.

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    40
    Sự tràn lấn của quân Nguyên Mông tuy thất bại nhưng cuối cùng đã làm tan nát cả Trần lẫn Chiêm tuy họ cố kết thân để chống cự quân Nguyên (Trần Nhân Tông thăm Chiêm Thành 1301, dẫn đến việc gả Huyền Trân cho Chế Mân 1306). Tuy sử quan ghi lại tinh thần kì thị kẻ cả của triều đình Việt và tự mình cũng biểu lộ thái độ đó, nhưng một chi tiết khác lại chứng tỏ không hẳn là như vậy trong tương quan Chàm Việt đương thời. Qua chuyện năm 1303, Đoàn Nhữ Hài trổ tài ranh vặt ngoại giao lạy chiếu thư của vua Trần, ta biết rằng trước đó, sứ Việt đều phải lạy vua Chiêm như chính bậc trên của mình. Sử quan tự phụ ghi lại sự việc mà không biết rằng người Chiêm có lẽ không coi nghi lễ đó là quan trọng nên không trách cứ sứ thần đã quên. Bằng cớ về sự kiêu ngạo của vua Chàm đối với Việt có thể thấy trong lời Chiếu của Lê Thánh Tông về sau. Tương quan ngoại giao nằm ở tương quan binh lực chứ không ở tiểu tiết nghi lễ. Cho nên, sau giai đoạn hoà hoãn là chiến tranh thua, được. Trần thắng Chiêm 1312, nhưng cuối thế kỉ là sự vươn lên của Chiêm với cái chết của Trần Duệ Tông ở Chà Bàn (1377), Chế Bồng Nga lui tới đe doạ và cướp Thăng Long 1371, 1377, 1378, 1389 cho đến khi phải chết vì bị chỉ điểm năm 1390. Chiến tranh về sau lại chuyển chiều hướng ngược lại khi nhà Hồ lên khuếch trương quyền lực để tìm thế giữ ngôi vị, chống đánh nhà Minh.

    Sự đảo lộn quyền lực tranh chấp đã cho ta có thể đoán được những thay đổi vai trò, tâm thức của người đương thời theo những ứng biến thực tế. Tuy nhiên chúng thường vẫn bị khuất lấp dưới ngòi bút của người ghi chép. Do đó điều dễ thấy để bàn luận hơn cũng vẫn là những người ở cấp cao, ở các nhân vật lịch sử. Lòng tự phụ của sử quan khiến họ ghi việc sứ thần các nước, ngoài Trung Quốc, đến Đại Việt như là để cầu cạnh, “nạp cống xưng thần”. Với Chiêm Thành, họ ghi rất nhiều về những kẻ li khai đến xin chỗ dung thân, đầu hàng. Ít khi có trường hợp ngược lại, trừ phi là chuyện trên tột đỉnh quyền bính, như trường hợp Ngự Câu Vương Trần Húc - chưa kể một thân vương khác: Trần Nguyên Diệu, theo Chế Bồng Nga mãi đến khi ông này chết (1390). Ông con của Nghệ Tông, Trần Húc, bị bắt trong trận chiến Chà Bàn 1377, giữa năm 1378 theo quân Chiêm ra Nghệ An lập triều đình “nguỵ” riêng, được “nhiều người nghe theo lệnh”. Quân Chiêm rút lui bỏ Húc cô thế nên bị (Phế Đế) Trần Nghiện dụ trở về rồi giết. Tước hiệu “con ngựa non của vua” chứng tỏ ông ta là cưng của Nghệ Tông, việc ông bị giết gây mối căm giận của Nghệ Tông và cũng là duyên cớ khiến sau này Phế Đế bị giết khi âm mưu hại Lê Quý Li. Nhưng sự việc hàng Chiêm rồi trở về của Húc cho thấy ngôn ngữ, chủng tộc không là hàng rào ngăn cách của việc phục vụ chính quyền - càng không phải là vì lí do đạo đức Nho Giáo! Tình hình ngược lại với một tướng Chiêm: Bố Đông. Đây là một tù binh (tháng 9âl. 1396) vào hàng thượng lưu của Chàm (“Pô” như là với các tên Po Rome, Po Klang Garai), được đem về đổi tên là Kim Trung Liệt, giao chỉ huy đội quân Hổ bôn, rồi giữ thành Đa Bang (1406), từng dâng kế sách chận đánh quân Minh

  10. #10
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    58
    Tình hình đó cũng đoán được ở tầng lớp dân chúng. Năm 1371, Lê Quý Li được phái đi Nghệ An “chiêu tập dân chúng, vỗ về nơi biên giới”, điều đó có nghĩa là các châu Ô, Rí xa hơn về phía nam, vốn đã chính thức thuộc Trần hồi đầu thế kỉ, càng nằm ngoài tầm tay quyền lực của triều đình. Dân Nghệ An “ăn ở hai lòng” (Ngô Sĩ Liên?), mới theo Trần Húc dưới sự bảo trợ của quân Chiêm. Năm 1380, người Tân Bình, Thuận Hoá “phần nhiều làm phản theo Chiêm Thành”, lấn ra Nghệ An cướp của, bắt người. Chẳng ai biết được trong tình trạng chà đi xát lại của chiến tranh lớn, cuộc chiến vặt, con người phải ứng biến như thế nào để lẩn được vào phe chiến thắng bất chợt của những thời điểm ngắn ngủi. Lời huênh hoang của sử quan Việt cho ta thấy thân phận tù binh Chàm trên đất Việt, nhưng lời hống hách trong Chiếu của Lê Thánh Tông sau này cũng cho ta đoán ra thân phận ngược lại: “Cấm mổ thịt làm khốn khó dân trời [dân Việt], cấm nấu rượu việc tế thần phải bỏ... Đàn ông đàn bà của ta nó bắt làm nô lệ, tù tội trốn tránh của ta nó hết thảy bao dung. Lưu dân [Việt] phải chụm chân mà chịu oan...”


    Minh thuộc không phải chỉ ảnh hưởng đến Đại Việt mà còn giúp phần đất của vương quốc Vijaya yên ổn một thời gian. Trương Phụ, Vương Thông lo củng cố, chống đỡ ở Đại Việt; nhà Hậu Lê trong vài mươi năm đầu lúng túng đi tìm một mô thức xây dựng triều đại, gỡ cái mâu thuẫn nguồn gốc tù trưởng lang đạo của mình và nhu cầu cai trị một đất nước to rộng với một tập đoàn người đông đúc trên khu vực của các tông tộc cũ. Về tương quan với bên ngoài, có vẻ các ông vua đầu đời Lê lo bận tâm với các tập họp phía tây hơn là với phía nam. Đó là những tranh chấp thanh toán tương quan đồng minh hay kình địch cũ trong hồi chống Minh nay còn dây dưa. Với phía nam, như sử quan Nguyễn nhận định: “(Thăng Hoa, Tư Nghĩa của Hồ, phủ Thăng Hoa của Minh) hồi đầu triều Lê là đất cơ mi, gọi là Nam giới nhưng sổ sách chỉ chép tên suông, chứ thực ra đất đai chỗ ấy vẫn do người Chiêm Thành chiếm giữ...”(9) Trận đánh Chà Bàn 1446, bắt Bí Cai không có tính cách quyết định bằng trận chiến đầu năm 1471, chấm dứt nước Chiêm Thành như một quốc gia có thế lực trên phần đất giáp biển Đông. Tuy nhiên lời chiếu của Lê Thánh Tông cho ta thấy được sự cứng cỏi của chúa Chàm: “... tự xưng bừa là cha chú, gọi đức vua ta là cháu con... coi nước Việt ta là tôi tớ... khinh thường triều sứ... chế nhạo sắc thư...” Gọi kẻ thù là chó lợn thì chẳng có điều gì đáng nói nếu ta không chú ý rằng nguyên cớ bắt bẻ là thuộc quan niệm đạo lí của một bên: Lê Thánh Tông và sử quan ghê tởm việc vua Chàm lấy cả vợ của người anh làm vua trước đó, cho là trái lẽ với đạo Nho mà không biết rằng không trái với tục lệ Chàm! Nhưng vua Chàm cũng lớn tiếng bênh vực điều mà Lê Thánh Tông gọi là “mạo xưng phong hoá”!

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •