Trang 1 của 3 123 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 29
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    52

    Các triều đại Việt Nam

    Tác giả: Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng
    Nhà xuất bản Thanh Niên
    Người đăng sách/đánh chữ: Vi tước gia
    Trang web đăng sách: lichsuvn.info
    LỜI NHÀ XUẤT BẢN


    Lâu nay các bạn đọc trẻ muốn tìm hiểu lịch sử dân tộc còn gặp nhiều khó khăn. Các sử gia phong kiến thường chỉ chép về cuộc đời và hành động của các vị vua chúa qua mỗi triều đại. Ngược lại, cách biên soạn của các nhà sử học ngày nay lại phân kì và đánh giá sự phát triển lịch sử theo các hình thái kinh tế xã hội và đấu tranh giai cấp, không chú ý nhiều đến cuộc đời của các ông vua, bà chúa. Thảng hoặc chỉ có một số vị vua có công tích nổi bật trong sự nghiệp dưng nước và giự nước mới được đề cập đến. Vì vậy, độc giả trẻ khi đọc các cuốn thông sử hay các giáo trình lịch sử ở trường học trong mấy chục năm trở lại đây, chưa có được một ý niệm đầy đủ về sự mở đầu kế tục của các triều đại, các đời vua trong lịch sử dân tộc.

    Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của bạn đọc, nhà xuất bản Thanh Niên cho tái bản có sữa chữa và bổ sung cuốn "Các triều đại Việt Nam" do hai nhà sử học Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng biên soạn" nhằm giúp các bạn đọc trẻ có thêm được những kiến thức lịch sử với những chi tiết sinh động.

    Đây là một tập biên khảo có hệ thống, tận dụng nhựng thành tự mới nhất của khoa học lịch sử kết hợp với tham khảo các bộ sách cổ nhất của các nhà sử học xưa và nay. Các tác giả sẽ cung cấp cho bạn đọc một lịch trình phát triển kế tiếp nhau của các triều đại, các ông vua bà chúa, từ các vua Hùng đến vua Bảo Đại. Các tác giả cố gắng khai thác các chi tiết, các giai thoại gắn với mỗi vị vua, các ông hoàng bà chúa giúp bạn đọc dễ đọc, dễ nhớ. Đây cũng là một trong số các bộ sách viết về truyền thống mà nhà xuất bản chúng tôi đã làm và tiếp tục những năm tới.

    Lần tái bản thứ 6 này, chúng tôi có sữa chữa những chi tiết, niên hiệu các đời vua còn chưa thật chính xác và bổ sung thêm một số tư liệu mới, để cuốn sách thêm hoàn chỉnh.

    Rất mong bạn đọc xa gần góp y kiến để cuốn sách được hoàn thiện hơn.

    Hà Nội, 2001
    NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN
    ----------------------------
    1. Quỳnh Cư viết từ đầu đến hết triều Hồ. Đỗ Đức Hùng viết tiếp theo đến hết.

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    8
    MỤC LỤC

    Lời nhà xuất bản

    Nước Việt Nam - Quốc hiệu

    Việt Nam thời kì dựng nước

    Nhà nước sau công nguyên

    Nước Vạn Xuân độc lập

    Nhà Tùy Đường và các cuộc khởi nghĩa

    Thời kì tự chủ họ Khúc dấy nghiệp

    Triều Ngô

    Nhà Đinh và sự thống nhất nước nhà

    Nhà Tiền Lê

    Triều Lý - Sự phát triển của Quốc gia phong kiến độc lập

    Triều Trần

    Triều Hồ và nước Đại Ngu

    Triều Hậu Trần

    Triều Lê Sơ

    Triều Mạc

    Triều Hậu Lê (Lê Trung Hưng)

    Vua Lê Chúa Trịnh

    Trịnh - Nguyễn phân tranh

    Triều Tây Sơn

    Dòng dõi Chúa Trịnh

    Dòng dõi các Chúa Nguyễn

    Triều Nguyễn thời kì độc lập

    Thời kì bắt đầu thuộc Pháp

  3. #3
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    38
    NƯỚC VIỆT NAM - QUỐC HIỆU
    Thời Hồng Bàng (2879 - 258 trước Công Nguyên) nước ta gọi là Văn Lang. Thời Thục An Dương Vương (257 - 207 trước công nguyên) gọi là Âu Lạc. Dưới thời Bắc thuộc, nhà Hán chia đất nước ta thành các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Cuối thời Đông Hán đổi gọi là Giao Châu. Năm 544, sau khi đánh đuổi được bọn đô hộ nhà Lương, Lý Bí lên ngôi vua, tự xưng là Nam Việt đế đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Năm 602 nhà Tùy (581–618) chiếm lại nước ta đặt thành Giao Châu. Năm 622 nhà Đường (618 - 907) đổi làm An Nam đô hộ phủ.

    Năm 968 sau khi dẹp xong loại Thập nhị sứ quân, lập nên một nước độc lập, Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là Đại Cồ Việt.

    Sang thời Lý, vua Lý Thánh Tông đổi là Đại Việt (từ năm 1054) (1).

    Đến thời Nguyễn, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, thiết lập chính quyền trong cả nước, vua Gia Long đặt quốc hiệu là Việt Nam (từ năm 1804). Năm 1838 vua Minh Mệnh định lại quốc hiệu là Đại Nam.

    Sau cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9-1945, quốc hiệu nước ta là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước từ năm 1976 quốc hiệu nước ta là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Diện tích Việt Nam hiện nay khoảng 329.600 km2, năm trong khoảng 8'30' - 23'22' độ vĩ bắc với một chiều dài khoảng 1650 km, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và Campuchia, đông và nam giáp biển Đông. Nước Việt Nam nằm ở khu vực nối liền hai đại dương là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nối vùng hải đão với lục địa châu Á. Do vị trí ngã ba đường của các trung tâm văn minh lớn, cổ xưa của nhân loại, nên Việt Nam cũng sớm là điểm giao lưu của những nền văn minh đó là nơi tụ cư của nhiều tộc người khác nhau. Các phát hiện khảo cổ học cho thấy Viện Nam là một trong những nơi có mặt loài người sớm nhất. Trên cơ sở cư dân bản địa sinh sống trên đất Việt Nam và là chủ nhân của nền văn hóa đồ đồng thau rực rỡ của các bộ lạc người Lạc Việt và Âu Việt, quá trình hình thành tộc người ở nước ta là một quá trình lâu dài, bao gồm nhiều đợt di cư của các tộc người tiếp theo.

    Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 tộc người sinh sống với số dân la 76.324.753 người (kết quả điều tra đến 1-4-1999), trong đó người Kinh chiếm 87% dân số, 53 tộc ngườ còn lại chiếm 13%. Đặc điểm nổi bật của sự phân bố dân cư của các tộc người ở nước ta là tình trạng cư trú xen kẽ nhau nên các tộc người không có lãnh thổ rõ rệt. Căn cứ vào ngông ngữ, các nhà dân tộc học chia các tộc người thành 8 nhóm như sau:

    1. Việt Mường (gồm Việt, Mường, Chứt.....)
    2. Tày - Thái (gồm Tày, Nùng, Thái, Bố Y, Cao Lan, Sán Chỉ, Lào.....)
    3. H'mông - Dao (gồm H'mông, Dao, Pà Thẻn.....)
    4. Tạng - Miến (gồm Hà Nhì, Lô Lô, Xá.......)
    5. Hán (gồm Hoa, Sán Dìu........)
    6. Môn - khơ me (Khơ mú, Kháng, Xinh Mun, Hơre, Xơ đăng, Bana, K'ho, Mạ, Rơ măm, Kho7me...........)
    7. Mã Lai - Đa đảo (gồm Chăm, Giơ rai, Ê đê, Raglai.....)
    8. Hỗn hợp Nam Á (gồm La chỉ, Laha, Pu péo...........)

    _________________________________________________
    1. Quốc hiệu Đại Việt được dùng qua các triều Lý, Trần, Lê trừ một thời gian ngắn nhà Hồ lấy quốc hiệu là Đại Ngu (1400 - 1407). Ngu còn có nghĩa là An Vui - nguyên họ Hồ vốn tự nhận là dòng dõi nhà Ngu bên Trung Quốc, nên Hồ Qúy Ly đặt quốc hiệu như vậy.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    10
    VIỆT NAM THỜI DỰNG NƯỚC

    TRUYỀN THUYẾT KINH DƯƠNG VƯƠNG VÀ HỒNG BÀNG THỊ
    (2879 - 258 trước công nguyên)
    Theo truyền thuyết thì thủy tổ dân tộc ta là Kinh Dương Vương, hiện còn có mộ tại làng An Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh.

    Nguyên Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Linh (Hồ Nam, Trung Quốc) đóng lại đó rồi lấy con gái bà Vũ Tiên, sau đó sinh được một người con trai tư chất thông minh đặt tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam xưng là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương làm vua vào khoảng năm Nhâm Tuất (2879 trước công nguyên) và lấy con gái Thần Long là vua hồ Động Đình sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân, sau lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, Trăm trứng ấy nở thành trăm con trai.

    Một ngày, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: "Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau được". Hai người bèn chia con mà ở riêng. Năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biển, chia nhau mà thống trị những xứ đó, đó là thủy tổ của các nhóm Bách Việt. Người con cả trong số những người con theo mẹ lên Phong Châu (nay là Phú Thọ) và được tôn làm vua gọi là Hùng Vương.

    NƯỚC VĂN LANG VÀ CÁC VUA HÙNG
    Theo sử cũ nước Văn Lang được chia thành 15 bộ :

    Giao Chỉ (Hà Nội - Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
    Việt Thường Thị (Quảng Bình, Quảng Trị)
    Vũ Ninh (Bắc Ninh)
    Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
    Châu Diên (Sơn Tây)
    Ninh Hải (Quảng Ninh)
    Lục Hải (Lạng Sơn)
    Phúc Lộc (Sơn Tây)
    Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
    Bình Văn (?)
    Văn Lang (Bạch Hạc, Phú Thọ)
    Cửu Chân (Thanh Hóa)
    Dương Tuyến (Hải Dương)
    Hoài Hoan (Nghệ An)
    Cửu Đức (Hà Tĩnh)

    Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ) đặt tướng văn là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính.

    Thời ấy người Văn Lang lấy vỏ cây làm áo, bện cỏ làm chiếu, lấy nước nhựa cây làm rượu, lấy bột cây quang lang làm cơm (tức cây đao, thân to như cây cọ, thân cây có bột ăn được) lấy cầm thú ngư trùng làm mắm, lấy rễ gừng làm muối. Cày bằng đao, cắt bằng lửa, làm cơm nếp bằng ống tre, gác cây làm nhà sàn, cắt ngắn tóc để đi trong rừng cho tiện, khi có người chết thì lấy cối chày không ra mà giã để báo tin cho hàng xóm, trai gái lấy nhau chưa dùng trầu cau mà lấy phong muối làm đầu, v..v..

    Đời Hùng Vương thứ nhất, người nước Văn Lang làm nghề chài lưới, cứ hay bị thuồng luồng làm hại, vua mới bắt dân lấy chàm vẽ mình để thú dữ tưởng là đồng loại không làm hại được nữa. (1)

    Sử cũ cũng chép thuyền của ta ở đằng mũi hay làm hai con mắt, để thủy quái ở sông, bể trông thấy mà sợ.

    Thông qua những truyền thuyết trong 15 bộ lạc vừa kể trên, bộ lạc Văn Lang mạnh nhất. Bộ lạc này có vị thủ lĩnh tài ba, thu phục được các bộ lạc khác và trở thành thủ lĩnh liên minh các bộ lạc rồi chuyển thành người cầm đầu cả 15 bộ lạc. Vị thủ lĩnh lỗi lạc ấy gọi là vua Hùng, cha truyền con nối.

    Cả nước chia ra 15 bộ. Đứng đầu mỗi bộ là Lạc tướng, cũng cha truyền con nối. Dưới bộ là các công xã nông thôn, đứng đầu là Bồ Chính (già làng). Mỗi công xã có một ngôi nhà chung để làm nơi hội họp và sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng.

    Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng đơn giản, mới hình thành nhưng đã cố kết được lòng người. Từ tình cảm cộng đồng dẫn đến ý thức công đồng. Họ bước đầu hiểu được mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người, thấy được sức mạnh của cộng đồng trong việc làm thủy lợi, trao đổi sản phẩm, và đấu tranh giữ gìn làng bản, đất nước.

    _____________________________________
    1. Tục xăm mình đến đời Trần Anh Tông mới bỏ.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    NHÀ THỤC VÀ NƯỚC ÂU LẠC


    Theo truyền thuyết và sử cũ thì An Dương Vương tên là Thục Phán là cháu vua nước Thục. Nước Thục này không phải là nước Thục ở vùng Tứ Xuyên thời Chiến Quốc (Trung Quốc) mà là một bộ tộc đă tới vùng Bắc Bộ từ lâu, sống xen kẽ với người Lạc Việt và người Thái. Tục gọi là người Âu Việt. Chuyện xưa kể rằng: Vua Hùng Vương có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên là Mị Nương. Vua nước Thục nghe tin, sai sứ sang cầu hôn. Vua Hùng Vương muốn gả nhưng Lạc Hầu can rằng: Thục muốn lấy nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy được Mị Nương, Thục Vương căm giận, di chúc cho con cháu đời sau thế nào cũng phải diệt nước Văn Lang của vua Hùng. Đến đời cháu là Thục Phán mấy lần đem quân đi đánh nước Văn Lang. Nhưng vua Hùng Vương có tướng sĩ giỏi, đă đánh bại quân Thục. Vua Hùng Vương nói: ta có sức thần, nước Thục không sợ hay sao? Bèn chỉ lo yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi thế, khi quân Thục lại kéo đến đánh nước Văn Lang, vua Hùng còn trong cơn say. Quân Thục đến gần, vua Hùng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông tự tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là nước Văn Lang mất.

    Năm Giáp Thìn (257 trước công nguyên), Thục Phán dẹp yên mọi bề, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, (tên hai nước Âu Việt và Lạc Việt ghép lại) đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú).

    AN DƯƠNG VƯƠNG DẸP TẦN


    Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc thì Doanh Chính nước Tần đã kết thúc mọi hỗn chiến đời Chiến Quốc, thống nhất nước Trung Hoa, lập nên một nhà nước lớn mạnh. Để thỏa tham vọng mở mang lãnh thổ, Doanh Chính huy động lực lượng to lớn phát động cuộc chiến tranh xâm lược Bách Việt.


    Năm 218 trước công nguyên, Doanh Chính huy động 50 vạn quân chia làm 5 đạo đi chinh phục Bách Việt. Để tiến xuống miền Nam, đi sâu vào đất Việt, đạo quân thứ nhất của quân Tần phải đào con kênh nối sông Lương (vùng An Hưng Trung Quốc ngày nay) để chở lương thực. Nhờ vậy, đạo quân chủ lực của quân Tần do tướng lừng danh Đồ Thư thống lĩnh vào được đất Tây Âu, giết tù trưởng, chiếm đất rồi tiến vào đất Lạc Việt. Nhân dân Lạc Việt biết không thể đương nổi quân Tần nên bỏ vào rừng để bảo toàn lực lượng. Thục Phán được các Lạc tướng suy tôn là lãnh tụ chung chỉ huy cuộc kháng chiến này. Bởi vậy, khi Đồ Thư đem quân tiến sâu vào Lạc Việt, chúng gặp khó khăn chồng chất. Quân địch tiến đến đâu, người Việt làm vườn không nhà trống và tiến vào rừng đến đó. Chẳng mấy chóc, quân Tần lâm vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng. Khi quân Tần đã mệt mỏi, chán nản và khổ sở vì thiếu lương, khí hậu độc địa, thì người Việt do Thục Phán làm tướng mới bắt đầu xuất trận. Chính chủ tướng Đồ Thư trong một trận giáp chiến đã bị bắn hạ. Mất chủ tướng, quân địch hoang mang mở đường máu tháo chạy về nước. Như vậy, sau gần 10 năm lãnh đạo nhân dân Âu Việt - Lạc Việt kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, Thục Phán đã thực sự nắm trọn uy quyền tuyệt đối cả về quân sự lẫn chính trị, khiến cho uy tín của Thục Vương càng được củng cố nâng cao. Từ vị trí ấy, Thục Vương có điều kiện thi thố tài năng, dựng xây nước Âu Lạc hùng mạnh.

    THỤC AN DƯƠNG VƯƠNG XÂY THÀNH CỔ LOA, MỘT CÔNG TRÌNH SÁNG TẠO VĨ ĐẠI

    Sau chiến công vĩ đại đánh thắng 50 vạn quân xâm lược nhà Tần, Thục Vương quyết định xây thành Cổ Loa.

    Tục truyền rằng Thục An Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều đổ. Sau nhờ có thần Kim Quy hiện lên, bò quanh bò lại nhiều vòng dưới chân thành, Thục An Dương Vương bèn cho xây theo dấu chân rùa vàng. Từ đó, thành xây không đổ nữa. Sự thực về truyền thuyết đó như thế nào?

    Thời ấy, tổ tiên ta chưa có gạch nung. Bởi vậy, thành Cổ Loa được xây bằng đất ở chính địa phương. Thành có 9 vòng, chu vi vòng ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km... Diện tích thành trung tâm lên tới 2 km2. Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5m, có chỗ 8-12m. Chân lũy rộng 20-30m, mặt lũy rộng 6-12m. Khối lượng đất đào đắp ước tính tới 2,2 triệu mét khối. Xem vậy công trình Cổ loa thật đồ sộ, trong khi khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu. Chính vì vậy, việc xây thành Cổ Loa cực kì khó khăn. Thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu. Nhưng điều đáng tự hào là cuối cùng thành đă đứng vững. Thục An Dương Vương đă biết dựa vào những kinh nghiệm thực tế để gia cố nền, móng khắc phục khó khăn. Vết chân rùa thần chính là bí mật đă được tổ tiên khám phá, xử lý. Ngày nay, khi xẻ dọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học thấy rõ chân thành được chẹn một lớp đá tảng. Hòn nhỏ có đường kính 15cm, hòn lớn 60cm. Cần bao nhiều đá để sử dụng cho công trình? Kĩ thuật xếp đá? Đây quả là một kỳ công.

    Thành Cổ Loa chẳng những là một công trình đồ sộ, cổ nhất của dân tộc mà còn là công trình hoàn bị về mặt quân sự. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dầy đặc, tạo thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ thủy binh hùng mạnh. Thuở ấy, sông Thiếp - Ngũ Huyền Khuê - Hoàng Giang thông với sông Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Đông Anh). Bởi vậy, ngay sau khi xây thành, Thục An Dương Vương đă chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền chiến. Với thuật đi sông vượt bể vốn là sở trường của người Lạc Việt, chẳng mấy chốc, các đầm phá quanh thành Cổ Loa biến thành quân cảng. Rồi nhân dân được điều tới khai phá vùng rừng đa (Gia Lâm), rừng mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm) v.v... thành ruộng. Bên côn, kiếm, dáo, mác đủ loại, bàn tay sáng tạo của cha ông đă chế tạo nỏ liên châu, mỗi phát bắn hàng chục mũi tên. Cũng tại Cổ Loa, kỹ thuật đúc đồng cổ đă được vua Thục khuyến khích. Hàng chục vạn mũi tên đồng, những mũi tên lợi hại, có độ chính xác cao, kỹ thuật tinh vi, dùng cho nỏ liên châu đă được bàn tay thợ tài hoa sản xuất tại đây.

    Với vị trí thuận lợi ấy, với cách bố trí thành có 9 lớp xoáy trôn ốc, 18 ụ g̣ cao nhô hẳn ra chân lũy để có thể từ cao bắn xuống, với vũ khí nỏ thần và những mũi tên đồng lợi hại, sức mạnh quân sự tổng hợp của Cổ Loa thời ấy thật đáng sợ.
    Thành Cổ Loa là sự đúc kết tuyệt vời về trí tuệ của cha ông, là công trình sáng tạo kỳ vĩ của dân tộc.


    TRIỆU ĐÀ, AN DƯƠNG VƯƠNG VỚI TRUYỀN THUYẾT NỎ THẦN


    Nhà Tần suy yếu, xă hội Trung Quốc bước vào thời kỳ loạn lạc. Ở các nơi, bọn phong kiến cát cứ nổi lên tranh giành ngôi thứ, đánh lẫn nhau. Ở quận Nam Hải (vùng Quảng Đông) có quan úy là Nhâm Ngao muốn đem quân đánh chiếm nước Âu Lạc của Thục An Dương Vương. Nhưng âm mưu đó chưa thực hiện được thì Nhâm Ngao chết. Khi sắp mất, Nhâm Ngao giao binh quyền lại cho Triệu Đà thay mình làm quan úy quận Nam Hải. Bao phen Triệu Đà huy động binh mă, toan chiếm lấy Âu Lạc nhưng đều thất bại. Vì An Dương Vương có thành Cổ Loa kiên cố, lại có nỏ thần (Liên Châu) lợi hại nên quân Triệu Đà đông, thế Triệu Đà mạnh mà vẫn phải kinh hoàng nhìn quân mình phơi xác dưới chân thành Âu Lạc. Triệu Đà dùng mưu giả hoà hiếu, cho con trai là Trọng Thủy sang làm rể An Dương Vương để mưu phá nỏ thần.

    TRỌNG THỦY - MỊ CHÂU


    Sự thật chuyện Mị Châu - Trọng Thủy như sau:
    Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải muốn cướp nước Âu Lạc, đă bao lần đem quân sang đánh nhưng đều đại bại. Triệu Đà thấy dùng binh không xong bèn xin giảng hoà với An Dương Vương và sai con là Trọng Thủy sang cầu thân. Trong những ngày đi lại để giả kết tình hòa hiếu, Trọng Thủy được gặp Mị Châu có sắc đẹp tuyệt vời, con gái yêu của Thục An Dương Vương. Trọng Thủy đem lòng yêu Mị Châu. Mị Châu cũng dần dần tha thiết yêu chàng. Hai người quấn quít bên nhau, không chỗ nào trong Loa Thành Mị Châu không dẫn người yêu đến xem. An Dương Vương thấy đôi trẻ yêu nhau, rất mừng, liền gả Mị Châu cho Trọng Thủy.
    Một lần, trong câu chuyện tâm tình, Trọng Thủy hỏi vợ:
    - Nàng ơi, bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không ai đánh được?
    Mị Châu chân thành đáp:
    - Âu Lạc chỉ có thành cao, hào sâu, lại có nỏ Liên Châu, bắn một phát hàng loạt mũi tên bay đi có thể giết chết nhiều quân địch.
    Trọng Thủy làm bộ ngạc nhiên vờ như mới nghe nói đến nỏ Liên Châu. Chàng ngỏ ý muốn xem chiếc nỏ. Mị Châu không ngần ngại chạy đi lấy nỏ đem cho chồng xem. Nàng lại còn chỉ dẫn cách thức bắn, cách bịt đồng cặn kẽ. Trọng Thủy chăm chú nghe, nhìn khuôn khổ cái nỏ hồi lâu rồi đưa cho vợ cất đi.
    Sau đó, Trọng Thủy xin phép An Dương Vương về thăm cha và thuật lại cho Triệu Đà biết cách chế tạo nỏ Liên Châu.

    Triệu Đà mừng rỡ reo lên:
    - Phen này nước Âu Lạc tất về tay ta.
    Lợi dụng mối tình trong trắng thiết tha của Mị Châu và sự lơ là mất cảnh giác của An Dương Vương, cha con Triệu Đà đă nắm được bí mật của thành Cổ Loa và chế tạo hàng loạt nỏ Liên Châu trang bị cho quân mình rồi cất quân đánh Âu Lạc.

    An Dương Vương ỷ có vũ khí lợi hại, chủ quan không phòng bị. Vì vậy, khi Triệu Đà trong tay có nỏ Liên Châu, đem quân ồ ạt tiến đánh, quân Âu Lạc bị thua.
    Từ mối tình trong trắng bị lợi dụng của Mị Châu đă dẫn đến kết cục bi thảm. Năm 208 trước công nguyên, Triệu Đà chiếm được nước Âu Lạc.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    THỤC AN DƯƠNG VƯƠNG BÃI CHỨC TƯỚNG QUÂN CAO LỖ


    Chuyện xưa kể rằng:
    Một lần Thục An Dương Vương hỏi tướng quân Cao Lỗ, người thiết kế và chỉ huy công trình xây thành Cổ Loa:
    - Mấy năm nay nhà Triệu với Âu Lạc giao hảo thuận hòạ Nay con trai họ là Trọng Thủy muốn cầu hôn với Mỵ Châu, ông nghĩ thế nào. Riêng ta muốn chấp thuận lời cầu hôn cốt để hòa hiếu, tránh nạn binh đaọ
    Cao Lỗ suy nghĩ hồi lâu rồi tâu:
    - Việc này hệ trọng lắm, xin Vương thượng cho nghĩ ba ngàỵ
    Về nhà, Cao Lỗ suy nghĩ băn khoăn lắm. Ý vua An Dương Vương đã rõ, nếu không chấp thuận có thể bị bãi chức. Nếu đồng tình thì vận nước có cơ nguỵ
    Mấy hôm sau, vào chầu vua, Cao Lỗ tâu:
    - Xưa nay chưa thấy kẻ bại trận lại xin cho con trai ở gởi rể. Chẳng qua họ muốn biết cách bảo vệ đất nước của Loa Thành mà thôị Việc ngàn lần không nên.
    Thục An Dương Vương bỗng nổi giận:
    - Nhà Triệu đánh mãi Âu Lạc không thắng, muốn mượn chuyện cầu hôn để xí xóa hiềm khích, ta lẽ nào không thuận? Ông già rồi, ta cho ông về nghỉ
    Cao Lỗ không ngạc nhiên. Vốn điềm đạm, ông chỉ nói:
    - Việc đúng sai còn có vầng nhật nguyệt soi sáng, thần không ân hận khi nói điều phảị
    Vì không nghe lời can của Cao Lỗ, An Dương Vương đã mắc mưu giặc khiến cho vận nước tan tành.
    Lấy được nước Âu Lạc, nhà Triệu sát nhập quận Nam Hải với Âu Lạc thành nước Nam Việt.
    Vốn là người quỷ quyệt, lại rút được nhiều kinh nghiệm trong việc thống trị người Nam Việt, cho nên Triệu Ddà đã áp dụng chính sách hiểm độc gọi là "Dĩ di công di", tức là chính sách dùng người Việt trị người Việt. Triệu Đà vẫn giữ nguyên quyền vị cho các lạc tướng, dùng họ để cai trị nhân dân Âu Lạc. Triệu Đà chỉ đặt một số ít quan lại và một số quân đồn thú để kiềm chế các lạc tướng và đốc thúc họ nộp phú cống, mục tiêu chủ yếu của cuộc xâm lược lúc đó.

    NHÀ TRIỆU VÀ NƯỚC NAM VIỆT
    (Năm 207 - 111 trước công nguyên)


    Nhà Triệu được lập từ năm 207, đến năm 111 trước công nguyên thì bị nhà Tây Hán thôn tính, trải qua 5 đời vua:
    - Triệu Vũ Vương (207-137 trước công nguyên)
    - Triệu Văn Vương (137-125 trước công nguyên)
    - Triệu Minh Vương (125-113 trước công nguyên)
    - Triệu Ai Vương (113-112 trước công nguyên)
    - Triệu Dương Vương (112-111 trước công nguyên)
    Năm 111 trước công nguyên nhà Triệu mới mất nhưng từ năm 113 nội tình nhà Triệu đã rất rối ren. Lúc đó, vua nhà Hán cho An Quốc Thiếu Quý sang dụ Nam Việt về chầụ Thiếu Quý nguyên là tình nhân của Cù Thị (hoàng hậu của vua Minh Vương) nên họ tư thông với nhau dụ dỗ Triệu Ai Vương dâng nước Nam Việt cho nhà Hán. Việc làm đó bị tể tướng Lữ Gia phát hiện. Lữ Gia đã truyền hịch đi mọi nơi nói rõ sự thật rồi cùng một số đại thần đem quân cấm binh vào giết chết sứ nhà Hán, Cù Thị và vua Ai Vương, tôn Kiến Ddức, con trưởng của Minh Vương lên làm vua, hiệu là Triệu Dương Vương. Dương Vương làm vua được một năm thì bị vua Vũ Đế nhà Hán sai phục ba tướng quân Lộ Bác Dức và Dương Bộc đem 5 đạo binh sang đánh lấy Nam Việt. Tể Tướng Lữ Gia chống không nổi bèn đem vua Dương Vương chạy trốn. Quân Hán đuổi theo bắt được, vua tôi đều bị hạị Nhà Hán thôn tính nước Nam Việt, đổi là Giao Chỉ bô.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    NHÀ NƯỚC SAU CÔNG NGUYÊN BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT

    GIAO CHỈ VÀ NHÀ TÂY HÁN
    (Năm 111 trước công nguyên - năm 39 sau công nguyên)


    Sau khi xâm lược Nam Việt, nhà Hán chia Giao Chỉ bộ ra làm 9 quận:
    Nam Hải (Quảng Đông)
    Thượng Ngô (Quảng Tây)
    Uất Lâm (Quảng Tây)
    Hợp Phố (Quảng Đông)
    Giao Chỉ (Bắc Bộ)
    Cửu Chân (Thanh Hóa)
    Nhật Nam (Nghệ Tĩnh)
    Châu Nhai (Đảo Hải Nam)
    Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam)
    Nhà Hán đặt mỗi quận một viên thái thú trông coi mọi việc trong quận và viên thứ sử giám sát các quận. Ở Giao Chỉ các lạc tướng, lạc hầu vẫn được giữ nguyên và được cha truyền con nối như trước.
    Đã có nhiều viên thái thú đến cai trị các quận thuộc Âu Lạc, nhưng sách xưa nói nhiều đến Tích Quang, thái thú quận Giao Chỉ và Nhâm Diên, thái thú Quận Cửu Chân. Những viên quan này có công trong việc khai hóa, dạy dân làm điều nhân nghĩạ đến năm Giáp Ngọ (34) vua Quang Vũ nhà Hán sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao Chỉ. Dưới ách đô hộ của Tô Định, gánh nặng thuế khóa và cống nạp đè lên vai người dân Giao Chỉ. Ở miền rừng núi người dân phải đi tìm chim thú lạ để cống nạp. Ở miền biển, nhiều người đã mất xác vì phải đi mò tìm đồi mồi, ngọc châụ. Bọn người Trung Nguyên kéo vào ruộng nương, ỷ quyền lực của quận trị, đô úy trị cướp đoạt mất tất cả những nơi mầu mỡ nhất của ruộng vườn. Khắp Giao Chỉ phải gánh chịu cảnh hãm hại, hà hiếp, giết chóc dân lành.

    ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP HAI BÀ TRƯNG KHỞI NGHIỆP (40-43)


    May mắn thay, đến những năm đầu công nguyên từ miền đất Mê Linh (1) đã xuất hiện hai người con gái kiệt xuất Trưng Trắc và Trưng Nhị (2) và ở Chu Diên là chàng trai Thi Sách dũng mãnh. Bởi vậy, mùa xuân năm 40, khi mùa săn ở Mê Linh bắt đầu, quan lạc tướng Chu Diên (3) đã cho con trai là Thi Sách dẫn theo một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân với họ Trưng. Ý quan lạc tướng Chu Diên đã rõ, hai miều đất Mê Linh và Chu Diên liên kết với nhau thì chẳng phải chỉ tốt lành cho chuyện nhân duyên của đôi trẻ Thi Sách - Trưng Trắc mà sức mạnh của người Việt sẽ được nhân lên. Sức mạnh đó có thể xoay chuyển tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán, khôi phục lại nước cũ của người Việt. Ít lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người, Trưng Trắc đã cùng Thi Sách kết nghĩa vợ chồng. Hôn lễ vẫn theo đúng lệ cũ của người Việt: vợ chồng tuy thành thân nhưng người nào vẫn ở lại đất cũ của người ấỵ.

    Tô Định giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh với con trai lạc tước Chu Diên. Bởi hắn biết rõ đằng sau cuộc hôn lễ là sự liên kết thế lực giữa hai miền đất lớn của người Việt. Sự liên kết ấy đang nhân bội sức mạnh chốn lại nền đô hộ của nhà Hán. Linh cảm thấy trước một cuộc biến sẽ xảy ra mà cội nguồn của nó từ đất Mê Linh. Tô Định hoảng hốt tìm cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem đại binh đột ngột kéo về Chu Diên, bắt giết Thi Sách, xem như đòn trấn áp phủ đầu của hắn.

    Tin dữ từ Chu Diên tới khiến Trưng Trắc đau đớn. Rồi ngay sau đó, Trưng Trắc rar lệnh nổi trống đồng hợp binh quyết trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước. Nghe tiếng trống ầm ào nổi lên, dân Mê Linh cung nỏ, dao búa, khiên mộc, giáp lao trong tay cuồn cuộc đổ về nhà làng. Trên bành voi cao, nữ chủ tướng Mê Linh mắc giáp phục rực rỡ. Dân Mê Linh thấy chủ tướng đẹp đẽ, oai phong lẫm liệt thì hò reo dậy đất, ào ào bám chân voi, theo chủ tướng mà xốc tớị Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, tòa đô úy trị của nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan tành. Dân Mê Linh đạp bằng dinh lũy giặc tiến xuống Luy Lâụ. Trong đoàn quân trẩy đi phá quận trị Giao Chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về. Thành Luy Lâu cũng không đương nổi cuộc công phá cỦa một biển người ào ào xung xắt, dũng mãnh theo hiệu trống đồng của Trưng Trắc, Trưng Nhi.. Tô Ddịnh kinh hoàng cao chạy xa bay về Nam Hải chịu tội với vua Hán. Nỗi vui mừng quá lớn khiến cho người dân Việt nhiều đem liền không ngủ. Trải qua hàng chục đời, nay đất nước của vua Hùng mới được khôi phục, nợ nước thù nhà của chủ tướng Mê Linh đã được trả. Trai gái rìu đồng, giáo sắc nắm chắc trong tay, những chiếc lông chim cắm ngất ngưởng trên đầu, bộ áo lông chim xòe rộng theo nhịp trống đồng dồn dập như không bao giờ dứt. Tin thắng trận bay đị Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cũng nổi lên theo về với Hai Bà Trưng.

    Đất nước sạch bóng quân thù. Hai Bà Trưng được cả nước tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Những nữ thủ lĩnh, nữ nam được phong các chức tướng lĩnh rồi người nào trở về đất ấy dốc sức cùng dân xây cuộc đời mớị.

    Trưng nữ vương quyết định miễn hẳn thuế khóa cho thiên hạ trong hai năm.
    Năm Tân Sửu (41), vua Hán sai Mã Viện làm tướng quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với quan lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem 20 vạn tinh binh kéo sang Trưng Vương.

    Một trận quyết chiến tối sầm cả trời đất giữa 20 vạn quân của Mã Viện với dân binh các làng chạ do Trưng Vương thống suất đã diễn ra ở Lăng Bạc(4). Quân Mã Viện đóng trên các triền đất cao giữa vùng Lãng Bạc lầy lội chuẩn bị tiến công Mê Linh thì bị Trưng Vương đem quân tới chặn đánh. Hơn một vạn người Việt đã ngã xuống trong trận đánh bất lợi nàỵ Trưng Vương thu quân về giữ Cấm Khệ(5). Mã Viện lại kéo tới, một loạt trận huyết chiến nữa lại nổ ra, máu chảy đỏ cả sông Hồng, sông Đáỵ. Hơn hai vạn người Việt nữa lại bỏ mạn. Trận địa chính chống lại cuộc đàn áp dã man của Mã Viện là 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tổng số dân chỉ có 91 vạn người có cả người già trẻ. Trong mấy trận đánh, hơn 4 vạn người Việt đã bị giết và bị bắt. Quyết chống giặc đến cùng, sức của người Việt hầu như dốc cạn. Trong trận đánh cuối cùng, sau khi phóng những ngọc lao và bắn những mũi tên cuối cùng, Trưng Trắc, Trưng Nhị đã gieo mình xuống dòng Hát Giang. Đó là ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43).

    ______________________________________
    1. Vùng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, Vĩnh Phúc.
    2. Gia đình họ Trưng có nghề chăn tằm. Nghề chăn tằm gọi kén đềy là kén chắc, kén mỏng là kén nhì. Tên gọi Trắc và Nhị từ đó mà ra.
    3. Thuộc quận Giao Chỉ thời Hán, nay là Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Tây.
    4. Vùng từ Đông Triều Quảng Ninh đến Yên Phong (Bắc Ninh ngày nay)
    5. Vùng Thạch Thất, Quốc Oai (Hà Tây)

  8. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Nhà Đông Hán (25 - 220)
    (Bắc thuộc lần thứ hai)


    Mã Viện đánh được Trưng Vương đem đất Giao Chỉ sát nhập vào nhà Đông Hán rồi chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh đến đâu thì xây thành đă‘p lũy đến đó. Mã Viện còn cho xây cây đồng trụ ở biên giới và khă‘c sáu chữ, "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt." (Cây đồng trụ mà đổ thì người Giao Chỉ mất nòị) Người Giao Chỉ đi qua chỗ đó, ai cũng phải bỏ vào chân cột đồng một hòn đá. Về sau này thành gò đá nhưng đến nay không còn biết cột đó ở đâụ.

    Cũng như nhà Tây Hán, nhà Đông Hán gom miền đất Âu Lạc cũ thành Châu Giao gồm 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và khoảng 50 huyện. Ddứng đầu châu vẫn là thứ sử từ Trung Quốc cử sang. Thứ sử có quyền că‘t đặt quan lại và điều động quân lính ở trong châu đó. Ở mỗi quận có chức thái thú cũng là ngườI Hán. Dưới quận là các huyện. Còn chế độ lạc tướng cha truyền con nối ở huyện bị bãi bỏ. Thay cho các lạc tướng Việt là những tên người Hán. Luật cũ của dân Việt bị bãi bỏ. Dân ta phải theo luật của ngườI Hán. Chính quyền đô hộ ra sức đưa dân Hán sang ở chung với ngườI Việt để đồng hóạ Họ bă‘t dân Việt phải học chữ Hán và tiếng Hán, truyền bá tư tưởng, "thần phục thiên tử," "quy phục thiên triềụ".

    Hàng năm dân ta phải cống nộp sản phẩm quý như: sừng tê giác, ngà voi, gỗ trầm hương, ngọc trai, đồi mồi, san hô, kể cả hoa quả quý như vải, nhãn, dứa… Rồi có cả những thợ thủ công tài ba cũng bị trở thành hàng cống nộp.

    Sử ghi: Sĩ Nhiếp có viết rằng mỗi năm thu hàng ngàn tấm vải cát bá, hàng trăm ngựa và nhiều thứ lâm thổ sản quý khác. Tôn Tư đã bă‘t hàng ngàn thợ thủ công có tài, khéo léo, tinh xảo sang xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh).

    TRUYỆN TRƯƠNG TRỌNG


    Trương Trọng, người quận Nhật Nam (Quảng Nam), nhờ biết chữ giỏi cho nên được viên thái thú Nhật Nam lấy vào làm thuộc lại trong quận.
    Cuối năm 78, theo tục lệ nhà Hán, Trương Trọng được viên thái thú cử sang kinh đô Lạc Dương (Hà Nam) để tâu trình công việc trong quận lên cho vua Hán.
    Hán Minh Đế thấy Trương Trọng người thấp bé lại là dân "man di" bèn hỏi xóc:
    - Viện tiểu lại kia người quận nào
    Trương Trọng trong lòng khó chịu nhưng điềm tĩnh đáp:
    - Tôi là người thay mặt thái thú quận Nhật Nam vào chầu vua chứ không phải là một viên tiểu lạị Bệ hạ muốn dùng người tài cán hay chỉ muốn đo xương thịt?
    Bất ngờ bị đối thủ trả lời cứng cỏi lại đứng đắn, vua Hán giận lắm nhưng không làm gì được.
    Mấy ngày sau, tết Nguyên Ddán, vua mở yến tiệc, thì nhận thấy trong số các quan vào chúc Tết có Trương Trọng, vua Hán muốn rửa nhục bữa trước bèn hỏI Trương Trọng:
    - "Nhật Nam" có nghĩa là "phương Nam mặt trờị" Ta nghe nói tất cả các nhà cửa của xứ ấy đều quay về phương Bắc để trông thấy mặt trời đó phải không?
    Thấy vua Hán kiêu ngạo tự ví mình là mặt trời, bắt mọi người phải ngưỡng mộ sùng bái, Trương Trọng quyết trả miếng. Bởi vậy, trước trăm quan, Trương Trọng chậm rãi đáp:
    - "Nhật Nam" không phải là mặt trời phương Nam. Một bậc nho không ai hiểu như thế. Đất Trung Nguyên (Trung Quốc) có quận gọi là Vân Trung nhưng quận ấy có ở trong mây đâu ? Có quận gọi là "Kim Thành" nhưng có phải thành xây dựng bằng vàng đâu ? Tên được đặt như vậy nhưng thực ra không phải vậỵ Thêm nữa, ở nơi nào thì mặt trời cũng đều mọc đằng đông, kẻ vô học cũng biết chuyện đó. Còn ở xứ Nhật Nam, không ai xoay nhà về phương Bắc để trông thấy mặt trờị. Ngược lại "lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam" là tục lệ của dân Nhật Nam. Không ai thay đổi tục lệ đó.
    Vua Hán và quần thần ngây người trước câu đối đáp rắn rỏi, mạnh mẽ của viên sứ thần có tầm vóc bé nhỏ mà trí tuệ thì bao lạ Về sau Trương Trọng được vua Hán cho làm thái thú quận Kim Thành.

    LÝ TIẾN VÀ LÝ CẦM PHÁ LỆ


    Các triều đại phong kiến Trung Quốc phần lớn tự xem mình là "Thiên tử" coi dân Việt là "man rợ" nên người Việt dù có học hành thông thái đến đâu cũng không được trọng dụng (ngoài trường hợp của Trương Trọng). Cho đến đời vua Linh đế (168-189) cuối nhà Đông Hán, mới có người Việt học giỏi được cất nhắc làm thái thú quận Giao Chỉ. Lý Tiến dâng sớ xin cho người Giao Chỉ được bổ đi làm quan bất kỳ quận nào, kể cả ở Trung Nguyên. Nhưng vua Hán chỉ cho những người đậu Mậu Tài hoặc Hiếu Liêm được làm quan trong xứ mà thôị Lúc đó có người Giao Chỉ tên là Lý Cầm, làm lính vệ trong cung, khẩn thiết xin vua Hán bãi bỏ lệnh đó. Cuối cùng, vua Hán mới cử một người Giao Chỉ đậu Mậu Tài đi làm quan lệnh ở Hạ Dương và một người đậu Hiếu Liêm làm quan ở Lục Hợp.

    Trên thực tế, đất Âu Lạc từng có người đỗ Mậu Tài, Hiếu Liêm, làm quan nhà Hán. Vì vậy quan điểm của các nhà sử học Trung Quốc cho rằng đất Giao Chỉ từ khi Sĩ Nhiếp (187-226) sang làm thái thú văn hóa mới phát triển nền giáo dục mới được mở mang là không đúng.

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Nhà Đông Ngô (222-280)


    Nhà Đông Hán mất, nước Trung Quốc bị phân chia làm 3 nước: Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngộ. Đất Giao Châu lúc đó thuộc về Đông Ngô. Nhà Đông Ngô vẫn cho Sĩ Nhiếp làm thái thú.

    Năm 926 (Bính Ngọ), Sĩ Nhiếp mất, con là Sĩ Huy tự xưng là thái thú: Ngô chủ là Tôn Quyền chia Giao Châu từ Hợp Phố về Bắc gọi là Quảng Châu, từ Hợp Phố về Nam gọi là Giao Châu, rồi sai Lữ Đại làm thứ sử Quảng Châu, Đài Lương làm thứ sử Giao Châu và Trần Thì thay Sĩ Huy làm thái thú quận Giao Chỉ. Đài Lương và Trần Thì sang Hợp Phố thì bị Sĩ Huy đem quân ra chống giữ. Thứ sử Quảng Châu, Lữ Đại, một mặt đem binh đi đánh dẹp, mặt khác cho người dụ hàng Sĩ Huỵ. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng liền bị Lữ Đại bắt giết. Tôn Quyền lại hợp Quảng Châu và Giao Châu thành một và phong cho Lữ Đại làm thứ sử.

    Cuộc Khởi Nghĩa Của Triệu Thị Trinh (248)


    Bà Triệu, tên là Triệu Trinh Nương hay Triệu Thị Trinh, được gọi là nữa anh hùng của dân tộc từ đầu thế kỷ thứ IIỊ Bà là em gái Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng lớn ở miền núi Quản Yên, quận Cửu Chân (Thanh Hóa). Bà là người có sức khỏe, gan dạ và mưu trí. Năm 19 tuổi, bà cùng người anh tập hợp nghĩa quân, lập căn cứ Phú Điền (Hậu Lô.c-Thanh Hóa). Đây là một thung lũng ở giữa hai núi đá vôi, vừa gần biển lại vừa là cửa ngõ từ đồng bằng vàọ Lúc đầu anh bà có ý can ngăn lo phận gái khó đảm đang trọng trách. Bà trả lời:
    - Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không thèm cúi đầu, còng lưng để làm tì thiếp ngườị
    Vì mến mộ Bà, nghĩa quân ngày đêm mài gươm luyện võ chờ ngày nổi dậy:

    "Ru con con ngủ cho lành
    Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
    Muốn coi lên núi mà coi
    Coi bà Triệu Ẩu cưỡi voi đánh cồng."

    Năm Mậu Thìn (248) nghĩa quân bắt đầu tấn công quân Ngộ Các thành ấp của quân Ngô đều bị đánh phá tan tành. Quan lại cai trị kẻ bị giết, người chạy trốn. Từ Cửu Chân, cuộc khởi nghĩa lan rộng nhanh chóng. Thứ sử Giao Châu hoảng sợ bỏ chạy mất tích. Sử Ngô phải viết: "Toàn thể Giao Châu chấn động".

    Mỗi lần ra trận, Triệu Thị Trinh thường mặc áo giáp đồng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi dẫn quân xông trận, oai phong lẫm liệt. Quân Ngô khiếp sợ đã phải thốt lên:

    "Hoành qua đương hổ dị
    Đối diện bà Vương nan"

    Nghĩa là:

    "Vung giáo chống hổ dễ
    Giáp mặt vua Bà Khó."

    Tin khởi nghĩa ở Cửu Chân và thứ sử Châu Giao mất tích, vua Ngô hốt hoảng phái ngay Lục Dận, một tướng từng trải qua bao trận mạc, lại rất quỷ quyệt sang làm thứ sử. Lục Dận đem thêm 8000 quân tinh nhuệ sang đàn áp. Lục Dận vừa đánh mạnh vừa đem của cải chức tước ra dụ dỗ mua chuộc các thủ lĩnh người Việt. Một số bị giao động mắc mưụ Dù vậy, Bà Triệu vẫn kiên cường đánh nhau với giặc không nao núng. Sau 6 tháng chống chọi và có kẻ phải bội, bà đã bỏ mạng trên núi Tùng (Hậu Lộc-Thanh Hóa). Bà chỉ mới 23 tuổị.

    Vua Lý Nam Đế sau này khen và là người trung dũng, và sai lập miếu thờ, phong là: "Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân." Đền thờ đó nay ở Phú Điền -Thanh Hóa.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    NƯỚC VẠN XUÂN ĐỘC LẬP

    NHÀ TIỀN LÝ (544 - 602)
    Niên hiệu: (1) Thiên Đức


    Dẹp yên cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh, nhà Ngô lấy đất Nam Hải , Thượng Ngô và Uất Lâm làm Quảng Châu, đặt Châu trị ở Phiên Ngung, lấy đất Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam làm Giao Châu, đặt Châu trị ở Long Biên (Bắc Ninh) (2). Đất Nam Việt của nhà Triệu ngày trước thành ra Giao Châu và Quảng Châu từ đó.


    Năm Ất Dậu (265), nhà Tấn đánh bại Ngụy, Thục , Ngô, đất Giao Châu lại thuộc về nhà Tấn. Nhà Tấn phong cho họ hàng ra trấn trị các nơi, nhưng các thân vương cứ dấy binh đánh giết lẫn nhau, làm cho anh em cốt nhục tương tàn, nước Tấn nhanh chóng suy yếu. Nhân cơ hội ấy, các nước Triệu, nước Tần, nước Yên, nước Lương, nước Hạ, nước Hán v.v...nổi lên chiếm lấy cả vùng phía Bắc sông Trường Giang, nhà Tấn chỉ c̣òn vùng đất ở Đông Nam, phải dời đô về Kiến Nghiệp (Nam Kinh ngày nay) gọi là nhà Đông Tấn.


    Năm Canh Thân (420), Lý Du cướp ngôi nhà Đông Tấn, lập ra nhà Tống ở phía Nam. Nước Trung Quốc phân ra làm Bắc Triều và Nam Triều. Bắc Triều có nhà Ngụy, nhà Tề, nhà Chu, nối nhau làm vua. Nam Triều có nhà Tống, nhà Tề, nhà Lương và nhà Trần kế nghiệp trị vì. Năm Kỷ Mùi (479) nhà Tống mất ngôi, nhà Tề kế nghiệp, trị vì được 22 năm th́ì nhà Lương lại cướp ngôi nhà Tề.


    Nhà Lương sai Tiêu Tư sang làm thứ sử Giao Châu. Cũng như các triều đại phong kiến Trung Quốc thuở trước, các viên quan lại nhà Lương sang cai trị Giao Châu đă áp dụng những biện pháp khắt khe, độc ác khiến dân Giao Châu cực khổ trăm bề, mọi người đều oán giận. Bởi vậy, năm 542, Lý Bôn đă lănh đạo dân Giao Châu nổi lên đánh đuổi Tiêu Tư, chiếm giữ thành Long Biên, lập nên nhà nước độc lập đầu tiên.


    Lý Bôn c̣òn gọi là Lý Bí quê ở Long Hưng Thái B́ình(3), xuất thân từ một hào trưởng địa phương. Tổ tiên Lý Bí là người Trung Quốc, lánh nạn sang nước ta từ cuối thời Tây Hán, khoảng đầu công nguyên. Trải qua 7 đời, đến Lý Bí th́ dòng họ Lý đă ở Việt Nam hơn 5 thế kỷ. Chính sử Trung Quốc đều coi Lý Bí là "Giao Châu thổ nhân".


    Lý Bí sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi (17-10-503). Ông là con độc nhất trong gia đ́nh. Bố là Lý Toản, trưởng bộ lạc, mẹ là Lê Thị Oánh người Ái Châu (Thanh Hoá). Từ nhỏ Lý Bí đă tỏ ra là cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí 5 tuổi th́ cha mất; 7 tuổi mẹ qua đời. Cậu bé bất hạnh phải đến ở với chú ruột. Một hôm có vị Pháp tổ thiền sư đi qua, trông thấy Lý Bí khôi ngôi, tuấn tú liền xin Lý Bí đem về chùa Linh Bảo nuôi dạy. Quả hơn 10 năm đèn sách chuyên cần, lại được vị thiền sư gia công chỉ bảo, Lý Bí trở thành người học rộng, hiểu sâu, ít người sánh kịp. Nhờ có tài văn vơ kiêm toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương. Có thời kỳ Lý Bí ra làm quan cho nhà Lương, nhận chức giám quân (kiểm soát quân sự) ở Cửu Đức, Đức Châu (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Nhưng do bất b́nh với bọn đô hộ tàn ác, Lý Bí bỏ quan, về quê, chiêu binh măi mă chống lại chính quyền đô hộ. Tù trưởng ở Chu Diên (Hải Hưng) là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục, mến tài đức Lý Bí đă đem quân nhập với đạo quân của ông. Rồi Tinh Thiều, Phạm Tu và hào kiệt các nơi cũng nổi dậy hưởng ứng.

    Tháng Giêng năm Nhâm Tuất (542), Lý Bí khởi binh tấn công giặc. Không đương nổi sức mạnh của đoàn quân khởi nghĩa, thứ sử Tiêu Tư khiếp sợ không dám chống cự, vội mang của cải, vàng bạc đút lót cho Lý Bí xin được toàn tính mạng, chạy về Trung Quốc. Không đầy 3 tháng, Lý Bí đă chiếm được hầu hết các quận, huyện và thành Long Biên. Được tin Long Biên thất thủ, vua Lương lập tức hạ lệnh cho quân phản công chiếm lại. Bọn xâm lược vừa kéo sang đă bị Lý Bí cho quân mai phục đánh tan.


    Đầu năm Quí Dậu (543), vua Lương lại huy động binh mã xâm lược một lần nữa. Tướng sĩ giặc khiếp sợ c̣n dùng dằng chưa dám tiến quân, th́ì Lý Bí đã chủ động ra quân, đón đánh giặc ở bán đảo Hợp Phố, miền cực Bắc Châu Giao. Quân Lương mười phần chết bảy, tám. Tướng địch bị giết gần hết, kẻ sống sót cũng bị vua Lương bắt phải tự tử.


    Tháng Hai năm Giáp Tư (544) Lý Bí tự xung hoàng đế lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân (ước muốn xã tắc truyền đến muôn đời), đặt kinh đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội) và cho dựng điện Vạn Thọ làm nơi vua quan họp bàn việc nước. Triều đinh gồm có hai ban văn vơ. Phạm Tu được cử đứng đầu hàng quan võ, Tinh Thiều đứng đầu quan văn, Triệu Túc làm thái phó, Triệu Quang Phục là tướng trẻ có tài cũng được trọng dụng.


    Lý Nam Đế xây dựng một ngôi chùa lớn ở phường Yên Hoa (Yên Phụ) lấy tên là chùa Khai Quốc, sau này trở thành một trung tâm phật giáo và phật học lớn của nước ta. Chùa Khai Quốc là tiền thân của chùa Trấn Quốc, trên đảo Cá Vàng (Kim Ngư) ở Hồ Tây Hà Nội.
    Việc Lý Bí đặt tên nước là Vạn Xuân, tự xưng là hoàng đế, định niên hiệu, lập một triều đ́nh riêng ngang hàng với nước lớn phương Bắc là sự khẵng định chủ quyền độc lập dân tộc, sự bền vững muôn đời của đất trời phương Nam.
    Triều Lý khởi nghiệp từ đây.


    Đầu năm Ất Sửu (545), nhà Lương sau khi đàn áp những cuộc nổi dậy của nông dân Trung Quốc đă dồn sức mở cuộc tấn công xâm lược nước Vạn Xuân non trẻ nhằm chiếm lại Châu Giao. Dương Phiêu được cử làm thứ sử Châu Giao cùng với Trần Bá Tiên, một viên tướng khát máu, chia hai đường thuỷ bộ cùng phối hợp vào nước ta. Lý Nam Đế đem quân chặn đánh ở vùng Lục Đầu (thuộc Hải Hưng) nhưng không cản được giặc. Vua cho quân lui về giữ thành ở sông Tô Lịch (Hà Nội). Song thành bằng đất, lũy bằng tre gỗ mới dựng nên không giữ được lâu. Quân địch hung hăn tấn công ác liệt. Thành Tô Lịch bị vỡ, lăo tướng Phạm Tu tử trận. Lý Nam Đế phải lui quân, ngược sông Hồng về giữ thành Gia Ninh (ở miền đồi núi Việt Tŕ). Quân Lương đuổi theo, vây hăm rồi chiếm được thành Gia Ninh. Lý Nam Đế đem quân chạy vào miền núi Vĩnh Phú. Được nhân dân các dân tộc ủng hộ, chỉ vài tháng sau, Lý Nam Đế đã khôi phục được lực lượng, quân lên tới vài vạn người. Lý Nam Đế đem quân và thuyền bè ra đóng ở hồ Điển Triệt (thuộc xã Tứ Yên, Lập Thành, Vĩnh Phú). Nơi đây có con ng̣i thông sông Lô với hồ, ba mặt Đông, Nam, Bắc của hồ là các đồi cao, phía Tây là những đồi thấp và cánh đồng trũng. Từ sông Lô chỉ có một đường phía Bắc của hồ.


    Quân Lương từ Gia Ninh ngược dòng sông Lô kéo lên tấn công. Bị quân của Lý Nam Đế đánh trả quyết liệt không tiến lên được, chúng phải đóng giữa đồng trống. Lúc này, quân lính nhà Lương đă mỏi mệt, tướng lĩnh chán nản, nhưng Trần Bá Tiên vốn xảo quyệt, nhân một đêm mưa to gió lớn đã thúc quân tràn vào đánh úp quân của Lý Nam Đế. Lý Nam Đế phải lui vào động Khuất Lão (Tam Nông, Vĩnh Phú). Anh vua là Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử (một người trong họ) và là tướng của Lý Nam Đế đem một cánh quân lui vào Thanh Hóa. Ở động Khuất Lăo, Lý Nam Đế bị đau yếu luôn nên ông trao binh quyền cho Triệu Quang Phục tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Lương. Hai năm sau, Lý Nam Đế mất vào ngày 20 tháng 3 năm Mậu Th́ìn (13-4-548).


    Tưởng nhớ Lý Nam Đế, người anh hùng dân tộc mở đầu nền độc lập, tự chủ của đất nước, nhân dân nhiều nơi lập đền thờ ông theo nghi lễ thờ vua. Tính riêng ở miền Bắc có hơn 200 đền, miếu thờ vua Lý Bí và các tướng của ông.

    _____________________________
    1. Niên hiệu: Khi đăng quang nhà vua đặt niên hiệu mới (tên của năm). Một đời vua có thể đặt một hay nhiều niên hiệu. Khi đổi niên hiệu nhà vua tin rằng chính sự sẽ tốt đẹp hơn. Có nhiều trường hợp lấy niên hiệu để gọi tên cho đời vua đó.
    2. Nay là vùng Bắc Ninh.
    3. Nay thuộc đất Quốc Oai, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •