Kết quả 1 đến 5 của 5
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3

    Một số bài viết, bài nói chuyện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

    THỦ ĐÔ HÀ NỘI
    VỚI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

    (Bài nói tại cuộc gặp mặt truyèn thống
    Các chiến sĩ Việt Minh thành Hoàng Diệu ở Nhát hát lớn,
    Nay 16-8-2000)(1)

    Hôm nay, tôi muốn phát biểu về tầm vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám. Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta cũng như lịch sử các nước trên thế giới, Cách mạng tháng Thám là một cuộc khởi nghĩa thành công vĩ đại nhất. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân ta đã tự lực đứng lên để giải phóng, đưa nước ta trở hành một nước độc lập, tự do, với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

    Vì đâu mà có sự kiện vĩ đại như vậy?

    Một, trước hết là do có đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ anh minh của giai cấp và dân tộc. Đường lối đó được quyết định tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp vào tháng 5-1941. Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Bác Hồ: không sách vở, giáo điều, mà ngược lại xuất phát từ quan điểm thực tiễn: Đặt Tổ quốc lên trên hết, tạm gác cách mạng thổ địa, đoàn kết toàn dân, đoàn kết tất cả các lực lượng yêu nước, mọi giai cấp, giai tầng, cá nhân yêu nước trong một mặt trận - Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh - gọi tắt là Việt Minh, đánh đổ đế quốc xâm lược và bè lũ ay sai, giành lại độc lập và thống nhất cho nước nhà. Nếu không có quyết định lịch sử đó thì không có Cách mạng Tháng Tám. Không những thế, lúc đã có quyết định đúng đắn rồi, Đảng và Bác Hồ đã đề ra chủ trương chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa; theo dõi tình hình trong nước và thế giới, lúc thời cơ xuất hiện kịp thời chớp lấy thời cơ. Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã hướng dẫn cụ thể cho nhân dân, trong điều kiện nào, giờ phút nào, bằng cách nào thì đứng dậy khởi nghĩa.

    Hai, nhờ có đường lối của Đảng, có truyền thống đấu tranh anh dũng bất khuất từ ngàn xưa được Đảng ta phát triển lên một tầm cao mới. Nhân dân ta đã nô nức tham gia Mặt trận Việt Minh chuẩn bị lực lượng, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang của toàn dân. Lúc chuẩn bị khởi nghĩa, trong một cuộc họp ở hang Pác Bó, có cán bộ nêu vấn đề chuẩn bị khởi nghĩa nhưng mà không có súng. Bác Hồ nói: Không sợ, có người khắc có súng; người trước, súng sau; có dân thì có tất cả. Phong trào Việt Minh nhanh chóng lan rộng

    Toàn dân trong cả nước theo lời kêu gọi của Đảng chuẩn bị sẵn sàng. Lực lượng to lớn nhất dưới bầu trời là lực lượng của toàn dân, trong đó có lực lượng nhân dân Hà Nội.

    Ba, sức mạnh đoàn kết và nghị lực sáng tạo của quần chúng, đây là điểm nổi bật. Ngày 12 tháng 8, có tin Nhật sắp đầu hàng. Mệnh lệnh kinh nghiệm lập tức được ban hành trong Khu giải phóng. Ở Hà Nội, lúc thời cơ đến, tho đường lối của Đảng và chỉ thị của Trung ương, mặc dù Mệnh lệnh của Ủy ban Khởi nghĩa và Quân lệnh số Một chưa đến Hà Nội thì nhân dân Hà Nội, các chiến sĩ Việt Minh ở Hà Nội, tự vệ Hà Nội dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Nội, lúc đó chỉ có mấy chục đảng viên, nhưng hết sức sáng tạo, gan dạ, đồng lòng cùng với đông đảo đồng bào đứng lên khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân.

    Ngày nay, nước ta đã bước vào thời kỳ lịch sử mới. Kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Tháng Tám, chúng ta càng phải ôn lại những bài học lịch sử, những nhân tố cơ bản đã đưa nhân dân ta đến thắng lợi vĩ đại: Đường lối đúng đắn, chỉ thị cụ thể, chuẩn bị lực lượng, nắm đúng thời cơ, phát huy sức mạnh đoàn kết và nghị lực sáng tạo của toàn dân.

    Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi cực kỳ to lớn về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Tuy nhiên, chúng ta phải có dũng khí nhìn thẳng vào sự thật. Sự thật ấy là nước Việt Nam ta còn nghèo nàn và lạc hậu. Ham muốn tột bậc của Bác Hồ lầ nước nhà được độc lập, thống nhất, chúng ta còn có nhiệm vụ làm cho nhân dân được tự do, hạnh phúc. Bác cũng thường nhắc nhở: Cuộc chiến đấu chống nghèo nàn, lạc hậu còn khó khăn hơn cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Do vậy, chúng ta có quyền tự hào với những thắng lợi đã giành được, nhưng không được chút nào tự mãn. Nhiệm vụ của chúng ta làm làm sao khi bước vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ ba, thì đất nước Việt Nam sẽ vững bước tiến lên nhanh hơn nữa, tiến kịp các nước trung bình rồi các nước tiên tiến trên thế giới. Chúng ta có làm được điều đó không, biến ước mơ đó thành sự thật không? Có lẽ không một ai không tin rằng chúng ta sẽ làm và nhất định làm bằng được.
    Muốn làm được nhiệm vụ lớn lao ấy, trước hết, chúng ta phải nhận rõ tình hình của đất nước, dân tộc ta đã tỏ ra rất anh hùng, rất tài giỏi về nhiều mặt, nhưng như trên đã nói, chúng ta đang còn là một nước lạc hậu và nghèo trên thế giới. Thu nhập quốc dân và năng suất lao động còn thấp hơn hàng chục lần so với các nước trung bình của thế giới, thấp hơn hàng trăm lần so với các nước tiên tiến. Trong lúc nước ta còn là một nước nông nghiệp, bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì có những nước đang tiến vào nền kinh tế tri thức, nền văn minh trí tuệ. Trào lưu toàn cầu hóa đang lôi cuốn cả hành tinh như một một cơn lốc, cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển với một nhịp độ siêu tốc. Chúng ta đang đứng trước những cơ hội mới đi đôi với những thác thức quyết liệt.

    Trước đây, Mác đã từng tiên đoán thiên tài: đến một ngày nào đó, lực lượng lao động sẽ thay đổi, sẽ có một giai cấp công nhân khoa học, và hàm lượng lao động cơ bắp trong mỗi sản phẩm xã hội sẽ thu lại đến mức cực kỳ nhỏ bé (infiniment petit), còn hàm lượng chất xám, hàm lượng lao động trí tuệ sẽ ngày càng tăng. Hiện nay, lao động trí tuệ, chất xám đã trở thành lực lượng sản xuất tiên tiến nhất, lực lượng sản xuất hàng đầu. Trước đây, Lênin đã từng nói: Chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô viết cộng với điện khí hóa. Nếu Lênin còn sống đến bây giờ tôi xin mạn phép Lênin nêu lên: Ở Việt Nam, chủ nghĩa xã hội là chính quyền nhân dân cộng với “tin học mới”, cộng với khoa học công nghệ tiên tiến nhất, những công nghệ mũi nhọn của nền văn minh trí tuệ, của nền kinh tế tri thức. Với tư cách là một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, chủ nghĩa xã hội phải có lực lượng sản xuất tiên têín nhất, cao hơn chủ nghĩa tư bản.

    Chúng ta cũng cảm thấy rằng, hiện nay, một số nước tư bản phát triển đang sử dụng sức mạnh kinh tế, công nghệ và quân sự để khống chế thế giới, gây ra những cuộc xung đột, chiến tranh và nhiều hiện tượng tiêu cực; mặt khác, chủ nghĩa tư bản thông qua các tập đoàn xuyên quốc gia, cũng đang nắm những thành tựu tiên tiến nhất về khoa học và công nghiệp của nhân loại.

    Trong suốt tiến trình lịch sử của mình, dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu nước, có tinh thần đoàn kết và có trí tuệ thông minh sáng tạo. Trong lịch sử, chúng ta đã từng có trạng nguyên của hai nước. Gần đây, chúng ta có đoàn học sinh Olympic tin học quốc tế, đứng đầu 65 nước, đáng lẽ phải hoan nghênh ít nhất thì cũng phải tương đương với các đội bóng đá, các cuộc thi thời trang…

    Hà Nội, có được những thành tựu như ngày nay là vì Hà Nội là nơi biểu hiện tập trung của truyền thống yêu nước Việt Nam và trí tuệ sáng tạo Việt Nam.

    Hôm nay tôi mong rằng, kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, các chiến sĩ Việt Minh năm xưa đã cùng với nhân dân ta làm nên những việc tưởng chừng như không làm được, làm nên huyền thoại, thì bước sang thế kỷ mới, nhân dân Hà Nội, đảng viên Hà Nội, Việt Minh cũ, Việt Minh mới, cả “Việt Minh carê” nữa, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và dưới sự lãnh đạo của Trung ương, dám nhìn rõ sự thật, dám xốc tới vươn lên phát huy tinh thần yêu nước cao nhất, trí tuệ cao nhất, sáng tạo cao nhất để làm chu Thủ đô Hà Nội trở thành một thủ đô giàu mạnh nhất, trí tuệ nhất.

    Trước đây, Hà Nội có Văn Miếu (Quốc Tử Giám) là trường đại học đầu tiên của nước Việt Nam nghìn năm văn hiến, thì rồi đây, thực hiện bằng được nghị quyết của Trung ương và Chính phủ coi giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách số một, tiến hành một cuộc cách mạng mới về giáo dục và đào tạo, xác định phương hướng mục tiêu và mô hình tổ chức hợp lý về giáo dục, mà hiện nay đang xuống cấp, thì Thủ đô Hà Nội sẽ đề nghị với Trung ương và Chính phủ thành lập ở Thủ đô một trung tâm đại học tiêu biểu cho trí tuệ cả nước - một Quốc Tử Giám của thời đại Hồ Chí Minh.

    Vào lúc này, tất cả chúng ta đều nhớ đến Bác Hồ kính yêu, đến các đồng chí lãnh đạo năm xưa, đến các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống để chúng ta có được ngày nay, hớ đến các thế hệ Việt Nam đã chiến đấu bảo vệ Thủ đô Hà Nội. Có thể nói, trên thế giới, chưa có một cuộc chiến đấu nào trong một thành phố lớn, một Thủ đô giữa một bên là nhân dân với bên kia là lực lượng vũ trang chính quy và hiện đại của kẻ địch mà lại giành được thắng lợi. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, lúc đầu Mác và Ăngghen có nói đến khởi nghĩa ở thành phố, nhưng sau thì cho rằng không thể khởi nghĩa được nếu phải đương đầu với quân đội chính quy của kẻ thù.

    Như vậy, Hà Nội là Thủ đô văn hiến, có truyền thống thanh lịch và trí tuệ, lại là nơi đi trước, dũng cảm và sáng tạo trong Cách mạng Tháng Tám. Mong rằng, Hà Nội sẽ tiếp tục đi trước, sáng tạo và sáng tạo hơn nữa, xứng đáng với truyền thống Thăng Long - Hà Nội - Thủ đô của nước Việt Nam anh hùng.

    Hà Nội vừa có vinh dự được Liên hợp quốc trao tặng danh hiệu “Thủ đô của Hòa Bình”. Chúng ta đều nhận thức, có được hòa bình là do thành quả chiến đấu và lao động của nhiều thế hệ nhân dân Hà Nội và nhân dân cả nước.

    Cho nên, vừa rồi, được biết Hà Nội có ý sẽ xây dựng một tượng đài Hòa bình, đó là một sáng kiến tốt, cần phải xây dựng thật tốt vì đây là một công trình thế kỷ, công trình thiên niên kỷ, nhưng theo tôi, dưới chân tượng đài nên có một hệ thống phù điêu hoành tráng nói lên được cả quá trình chiến đấu và lao động của nhân dân Hà Nội.

    Chúc Thủ đô Thăng Long - Hà Nội, ngày nay là Hà Nội của thời đại Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là Thủ đô của Việt Nam, tỏa sáng ở Đông Nam Á, ở Viễn Đông và trên thế giới

    (1) Cuộc gặp mặt truyền thống do Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội tổ chức với sự có mặt của 361 cựu chiến sĩ Việt Minh đã tham gia cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội năm 1945. Tổng Bí thư Lê Khá Phiêu, Cố vấn Đỗ Mười đã gửi lời chúc mừng, các ủy viên Bộ Chính trị Nông Đức Mạnh - Chủ tịch Quốc hội, Nguyễn Phú Trọng - Bí thư Thành ủy và nhiều vị lão thành cách mạng khác đã đến dự. Bài đăng trên Tap chí Xưa & Nay, số 78, tháng 8 năm 2000, tr.4-5.

    ================================================== =

    TRẬN CUỐI CÙNG “ĐỂ CHO NHỮNG THẾ HỆ
    SAU NÀY MÃI MÃI ĐƯỢC SỐNG VỚI ĐỘC LẬP
    TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC”(1)

    Thưa đồng bào,

    Sau mấy chục năm tranh đấu quyết liệt chống bọn cướp nước, chúng ta đã gặp được thời cơ thuận tiện là cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai này. Bắt đầu từ năm 1940, nhân dân ta sửa soạn đứng lên đuổi người Pháp, rồi người Nhật để lấy lại nền độc lập. Trong bí mật, các tổ chức cách mạng của Mặt trận Việt Minh đã lan tràn trong cả nước, ở nơi rừng xanh núi đỏ các bộ đội du kích đã phát triển và tiến tới một khu giải phóng gồm sáu tỉnh miền Thượng du và Trung du Bắc Kỳ thành lập Việt Nam giải phóng quân đã mở đầu việc kiến thiết nước Nam mới. Rốt cuộc tổng khởi nghĩa đã đoạt được Chính quyền về tay nhân dân và thực hiện sự thống nhất quốc gia từ cửa Nam Quan đến núi Cà Mau. Trải muôn ngàn nỗi gian lao nguy hiểm trong đó biết bao chiến sĩ anh dũng của chúng ta đã hy sinh cho Tổ quốc, chúng ta mới có ngày nay. Giờ đây, mấy chục vạn đồng bào có mặt ở đây, cũng như hai mươi triệu đồng bào ở khắp nước, đều hồi hộp, phấn khởi dưới bóng cờ đỏ sao vàng và cùng với Chính phủ thề hy sinh đến cùng để giữ đất nước, chúng ta tuyên bố với thế giới cái quyền sống và cái kết quả cuộc chiến đấu của dân tộc ta, nó là một sự thực không ai có thể chối cãi được.

    - Nước Việt Nam độc lập đã xuất hiện.

    - Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập.

    Sự nghiệp to tát đó sở dĩ thực hiện được là nhờ ba nguyên nhân:

    Nguyên nhân thứ nhất là cuộc chiến đấu của các bậc tiên liệt đã đầu rơi rỏ máu trong bảy tám mươi năm dưới gót sắt của bọn xâm lược tàn ác, hoặc tại pháp trường, hoặc trong lao tù, hoặc ngoài mặt trận.

    Nguyên nhân thứ hai là sự đoàn kết của các phần tử tiền phong trước đây và của toàn dân trong lúc này.

    Nguyên nhân thứ ba là trào lưu dân chủ toàn thế giới. Sự đại thắng của Mặt trận chống phátxít đã có ảnh hưởng quyết định đến vận mệnh của nước ta.

    Tuy vậy nước Việt Nam độc lập và Dân chủ Cộng hòa mởi vào những ngày đầu, hãy còn non nớt, nên chúng ta cần phải làm cho nó chóng đi đến bước trưởng thành, vững chãi, không có sức nào lấn át, lay chuyển được.

    Do đó, Mặt trận Việt Minh vốn đã mở rộng, lại biến thành hẳn một phong trào cứu quốc cho toàn thể nhân dân, trong đó tất cả mọi đoàn thể, tất cả mọi cá nhân có ý chí phụng sự quốc gia đều đứng lên cùng gánh vác nhiệm vụ nặng nề là làm thực hiện sự đoàn kết của toàn dân chống mọi mưu đồ xâm lược. Một Chính phủ lâm thời có đại biểu của đủ các giới tham dự đã thay cho Ủy ban Nhân dân Cách mạng mà Quốc dân đại hội do Tổng bộ Việt Minh triệu tập đã cử ra.

    Chính phủ Lâm thời bây giờ là ý chí của toàn quốc chứ không phải là ý chí của một tổ chức chính trị nào. Từ khi thành lập, nó đã kêu gọi quốc dân đoàn kết thêm, bố trí cuộc chiến đấu mạnh mẽ thêm. Tinh thần của dân ta ngày càng cao, lực lượng của nhân dân ta ngày càng lớn, Trung, Nam, Bắc cùng một lòng. Sĩ, Công, Nông, Thương, Binh cùng chung một chí. Cả đến các giáo sĩ đạo Phật và Cơ Đốc, cả đến vua Bảo Đại cũng đã nhiệt liệt hưởng ứng, tình nguyện góp sức đánh quân thù. Chính phủ Lâm thời là do sự đoàn kết, phấn đấu của nhân dân mà xuất hiện, nó lại làm cho sự đoàn kết, sâu rộng hơn nữa.

    Để tăng gia và củng cố sự đoàn kết và phấn đấu ấy, chỉ nay mai Chính phủ Lâm Thời sẽ ra Sắc lệnh triệu tập Quốc hội theo nguyên tắc dân chủ. Các đại biểu của Quốc hội đều do dân bầu theo lối phổ thông đầu phiếu. Quốc hội sẽ đem lại cho chúng ta một hiến pháp và một Chính phủ chính thức.
    Trong lúc chờ Quốc hội, Chính phủ Lâm thời có nhiệm vụ phải thi hành ngay những phương sách cấp bách về nội trị, ngoại giao, kinh tế, tài chính, văn hóa và cứu tế.

    Về nội trị, chính sách của Chính phủ Lâm Thời là thống nhất và đoàn kết. Sự phân liệt Trung, Nam, Bắc sẽ không còn. Sự chia rẽ các dân tộc trên giải đất Đông Dương sẽ mất hẳn. Những người lầm lỗi mà biết quay lại con đường chính nghĩa sẽ được tha thứ. Tài sản và sinh mệnh của đồng bào ngoại quốc bao giờ cũng được tôn trọng. Chỉ có một điều đáng nêu cao là chính quyền của nhân dân kiên quyết bảo đảm tự do và hạnh phúc của nhân dân.

    Bởi chú trọng đến điều đó, nên một mặt Chính phủ đã bắt đầu đặt sự liên lạc mật thiết giữa Trung ương và các địa phương để thi hành một chính sách duy nhất cho khắp nơi, đặng tránh những hiểu nhầm hoặc lạm dụng, một mặt Chính phủ đã sửa soạn nâng cao ý thức của quần chúng bằng tuyên truyền, cổ động và giáo dục để quần chúng biết “giữ” và biết “dùng” quyền tự do dân chủ đã giành được.

    Về quân sự, đội quân Giải phóng thành lập trong những ngày lưu huyết trên chiến khu và đã ghi được những thành tích rực rỡ, đang chỉnh đốn và mở rộng thành quân đội Quốc gia đủ mạnh mẽ để bảo vệ nền Độc lập và Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.

    Việc đào tạo những cán bộ quân sự để chỉ huy quân đội chính thức cùng là du kích và dân quân sẽ thành công cấp tốc để đối phó với tình thế.

    Mưu mô xâm lăng của đế quốc Pháp đang đe dọa chúng ta, nhưng với sự đoàn kết, hy sinh của toàn dân ở đằng sau những đội quân cảm tử, chúng ta sẽ thắng. Và nhất định chúng ta sẽ đập nát tất cả những cùm xích mà bọn xâm lược chực đeo vào cổ dân tộc ta một lần nữa.

    Về kinh tế, sự bóc lột của Pháp và Nhật làm cho kinh tế nước ta nguy ngập. Năng lực sản xuất bị nạn độc quyền kìm hãm, những ngành công nghệ bị chế biến thành những cơ quan chết tạo vật phẩm chỉ hữu dụng cho bọn quân phiệt, những đường mối thương mại bị nạn đầu cơ tích trữ làm cho rối bét. Ngày nay để phục hưng nền kinh tế, có người tưởng Chính phủ phải quốc hữu hóa tất cả những công cuộc doanh thương. Nhưng Chính phủ sẽ không làm thế. Chính phủ sẽ kiến thiết nền quốc dân kinh tế để cho ai nấy được tự do kinh doanh. Và hơn nữa, Chính phủ còn khuyến khích, nâng đỡ tư nhân trong những công cuộc kinh doanh to tát.

    Về tài chính, chúng tôi cũng không ngần ngại gì mà tuyên bố ngay rằng tình hình rất đáng lo ngại và chắc chắn là Chính phủ sẽ gặp nhiều sự khó khăn. Nhưng Chính phủ đang trù tính những phương pháp vượt qua những khó khăn ấy.

    Mặc dầu những nỗi khó khăn mà Chính phủ đã lường trước được, Chính phủ cũng sẽ thi hành dần dần những điều mà quốc dân mong mỏi như bãi bỏ thuế thân, thuế chợ để giúp cho sinh kế của người nghèo được dễ dảng.

    Nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng các công cuộc kiến thiết và nhất là việc xây dựng quân đội quốc gia cần đến nhiều tiền. Cho nên để bù lại chỗ hao hụt của ngân quỹ, tất cả những phương sách đặc biệt như công trái, lạc quyên, đặt thuế lợi tức.

    Trong những cách giải quyết ấy, Chính phủ trông cậy một phần lớn vào lòng ái quốc của đồng bào. Và chúng tôi tin rằng giờ phút nghiêm trọng này không còn một ai không nhận rõ là nước mất thì nhà cũng phải tan, nền Độc lập và chế độ Dân chủ Cộng hòa lung lay thì quyền lợi của riêng mình cũng sẽ không toàn vẹn. Quân thù mà trở lại đây được thì đừng nói là tự do của đồng bào, ngay đến tài sản của đồng bào cũng bị giày xéo.
    Về văn hóa, Chính phủ đã lấy lượng khoan hồng mà đối đãi những nhà văn, nhà báo trước kia đi lạc đường. Ty kiểm duyệt tuy còn tam giữ là để tránh những việc thông tin hay tuyên truyền có hại đến những việc ngoại giao hay nội trị biến chuyển hàng ngày. Nhưng rồi đây, khi tình hình chính trị đã sáng tỏ, quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, sẽ ban bố ngay.

    Nền giáo dục mới đang ở thời kỳ tổ chức. Chắc chắn là bậc sơ học sẽ cưỡng bách, bậc trung học sẽ không có học phí, học trò nghèo sẽ được cấp học bổng. Việc giảng dạy hết sức thiết thực sẽ đặc biệt chú trọng đến sự rèn luyện đức tính cần thiết trong cuộc đời đoàn thể rộng rãi và năng lực về kỹ thuật cần lao của con người. Trong thời gian rất ngắn sẽ ban hành lệnh bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ đến triệt đề. Vấn đề vô cùng quan trọng ấy chúng ta chẳng chờ đến lúc sự sinh hoạt trở nên bình thường mới giải quyết. Ngay trong cái hoàn cảnh eo hẹp này, chúng ta cũng quả quyết tiến hành.

    Một nền học thuật Quốc gia sẽ gây dựng ngay và sẽ bắt đầu bằng việc thiết lập những ban chuyên môn nghiên cứu về từng ngành hoạt động tinh thần. Những tập quán, phong tục đồi bại, phản tiến bộ sẽ bị triệt bỏ cũng như tất cả những văn chương uế tạp bông lông đầu độc dân chúng!

    Về cứu tế, nạn lụt hiện thời đặt chúng ta đứng trước một vấn đề lớn lao có ảnh hướng đến chính trị. Đó là vấn đề có gì ăn và một, hai tháng nữa phải tiếp tế cho dân những tỉnh thiếu gạo vì mất mùa. Cố nhiên là Chính phủ phải đẩm nhận cái trọng trách giữ cho nạn đói khỏi trở lại tàn sát đồng bào như mấy tháng trước đây.

    Nhưng các nhà hằng sản ở khắp nơi trong nước cũng nên coi việc cứu giúp cho đồng bào như một bổn phận thiêng liêng chẳng những vì nhân đạo mà còn vì tương lai dân tộc.

    Về ngoại giao, dư luận rất chú ý đến những phái bộ Đồng minh đã lục tục tới Hà Nội, và ai nấy đều băn khoăn về những kết quả ngoại giao của Chính phủ.

    Trước hết, chúng tôi mong quốc dân hãy nhận định tình thế một cách trầm tĩnh để tránh những xu hướng quá chủ lạc quan, hay quá bi quan.

    Chính sách ngoại giao của chúng ta dựa vào hai yếu tố: một là hoàn cảnh quốc tế, hai là lực lượng của chúng ta.

    Hoàn cảnh quốc tế hiện thời có nhiều điều thuận lợi cho cuộc giải phóng dân tộc ta. Từ Hiến chương Đại Tây Dương cho đến các Hiệp định Têhêrăng, Yanta, Cựu Kim Sơn, nguyên tắc tự quyết dân tộc đã nêu cao. Các cường quốc trong Mặt trận dân chủ đã tuyên bố chiến đấu cho nền hòa bình thế giới, thì không có lý do gì mà ngày nay lại bảo vệ cho đế quốc Pháp đem quân đến gây chiến tranh với nước Việt Nam độc lập. Các cường quốc trong Mặt trận dân chủ đã tuyên bố chiến đấu cho sự bình đẳng giữa các nước, thì không có lý gì lại giúp cho đế quốc Pháp trở lại đè nén, bóc lột dân Việt Nam.

    Chúng ta và cả thế giới không thể tưởng tượng được rằng sau khi đã tự ý đứng về phe Đồng minh đánh phátxít Nhật ở Đông Dương, sau khi đã góp xương máu vào cuộc chiến đấu của Đồng minh trên mặt trận Thái Bình Dương, chính chúng ta lại bị Đồng minh coi như sẽ phải ở dưới ách nô lệ của bọn thực dân Pháp là bọn đã bằng lòng cho phátxít Nhật chiếm đóng Đông Dương để làm căn cứ tiến công Phi Luật Tân, Mã Lai, Miến Điện, Hoa Nam, đã hàng phục phátxít Nhật, cộng tác với phátxít Nhật suốt thời kỳ chiến tranh. Kíp điến khi Nhật bị nguy hiểm, cướp đoạt cả quyền hành để tiện đối phó với Đồng minh, thì bọn Pháp tính đến việc trốn chạy hay đầu hàng hơn là chống lại. Trái lại, dân chúng Việt Nam đã hăng hái nổi lên đánh Nhật ở Thượng du và Trung du Bắc Kỳ, đã gây ra phong trào bài Nhật, bất hợp tác với Nhật ở khắp trong nước.

    Chúng ta lại cần nói cho Đồng minh biết rằng trong suốt ba năm trời, Việt Minh luôn luôn kêu gọi người Pháp ở Đông Dương hợp tác kháng Nhật, thì họ, chẳng những đã làm lơ, mà còn thẳng tay đàn áp, bắt bớ, bắt giết những chiến sĩ chống phátxít. Ấy thế mà mỗi khi thắng trận gặp bọn Pháp bị Nhật cầm tù, chúng ta đều giải phóng cho họ.

    Ngày nay, chúng đã nắm chính quyền trong tay, đối với người Pháp chúng ta vẫn đối đãi tử tế. Nhưng đó không phải là thái đội khiếp nhược hay trìu mến họ đâu. Họ nên biết điều mà công nhận quyền độc lập hoàn toàn của ta. Bằng như họ định dùng võ lực xâm phạm đến đất nước ta thì ta sẽ rỏ đến giọt mấu cuối cùng để chống lại họ. Và chắc chắn họ sẽ thất bại một cách đau đớn.

    Đó là chính sách thân thiện của chúng ta đối với tất cả các nước. Riêng đối với Trung Hoa và Mỹ, chúng ta có một cảm tình đặc biệt. Trung Hoa là nước gần gũi ta nhất về địa thế và sinh hoạt, kinh tế cũng như văn hóa.

    Những Hoa kiều ở đây đã bao lâu cùng với chúng ta chịu đau khổ dưới sức đè nén của Pháp rồi Nhật, đã sống giữa chúng ta một cách thân mật chẳng khác gì đồng bào ta, ngày nay đều mang sung sướng được thấy ngày giải phóng chung của hai dân tộc. Họ đã hoan nghênh, ủng hộ nền độc lập Việt Nam và Chính phủ Việt Nam sẽ bảo vệ quyền lợi của họ. Họ sẽ cùng chúng ta hưởng tự do, hạnh phúc trong một bầu không khí thân thiện, bình đẳng hoàn toàn.
    Trong mọi việc ngoại giao hiện thời, điều đáng chú ý nhất là thái độ của Chính phủ Pháp Đờ Gôn đối với nền độc lập của chúng ta. Về mặt tuyên truyền, họ cố ý gây sự hiểu nhầm của các nước Đồng minh, hiểu nhầm hiện tình Đông Dương. Lúc thì họ nói là chúng ta trung thành với họ, vì họ mà đánh Nhật; lúc thì họ nói chúng ta là tay sai của Nhật, lúc thì họ vu cáo ta tàn sát đàn bà, trẻ em Pháp kiều. Nhưng chúng ta có đủ bằng cớ để đập tan những mưu mô xảo quyệt ấy. Về mặt chính trị thì họ đã bổ viên toàn quyền mới và ngầm xui những công chức người Pháp cứ âm mưu giành lại các công sở. Về mặt quân sự, họ sửa soạn đem quân vào Đông Dương. Nói tóm lại, cứ theo những tin thức nhận được gần đây thì rõ ràng là họ có ý lập lại chính quyền ở nước ta. Ta thề sống chết với họ. Dân tộc ta vốn chuộng hòa bình, song khi cần đổ máu thì cũng quả quyết đổ máu.

    Thưa đồng bào.

    Rồi đây tất cả mọi phương tiện, nhất là về ngoại giao, chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn. Chúng ta không ỷ lại vào ai hết. Chúng ta cũng không cầu một sự may mắn nào. Chúng ta phải tự lo liệu để định doạt lấy số phận của chúng ta. Muốn cho nội trị hoàn hảo, ngoại giao thắng lợi, chúng ta phải mau mau gây một lực lượng bằng sự thống nhất, đoàn kết, bằng sự rèn luyện chiến đấu hy sinh, bằng những hành động ủng hộ Chính phủ một cách thiết thực.

    Trong lúc này, chia rẽ, hoài nghi, lãnh đạm đều là phản quốc. Trong lúc này, tâm trí mỗi người dân phải hướng cả về sự chiến đấu cho nền độc lập, sự lo lắng của mỗi người phải là một sự lo lắng chống ngoại xâm. Chỉ có thế mới thoát được họa diệt vong, mới tránh được ách nô lệ.

    Hỡi đồng bào thân yêu, con cháu của Trần Quốc Tuấn, của Lê Lợi hãy đứng dậy, xếp chặt đội ngũ để đợi lệnh của Chính phủ Lâm thời.

    Để cảnh cáo những kẻ định tái diễn thủ đoạn xâm lược, chúng tôi xin nhắc lời của ông Tưởng Giới Thạch nói về thái độ của các dân tộc phương Đông bị áp bức khi cuộc thế giới chiến tranh này kết liễu: “Nếu họ không được tự do, bình đẳng thì một cuộc thế giới chiến tranh thứ ba sẽ theo gót cuộc thế giới chiến tranh thứ hai này, như cuộc thế giới chiến tranh này đã học theo gót cuộc thế giới chiến tranh thứ nhất vậy”.

    Dân tộc Việt Nam phải được độc lập, tự do, bình dẳng. Đó không phải chỉ là nguyện vọng riêng của dân chúng Việt Nam mà còn là nguyện vọng chung của tất cả các nước dân chủ. Dân chúng các nước ấy đã hy sinh chiến đấu để phụng sự công lý, chứ không phải để phụng sự áp bức. Nếu dân chúng các nước ấy đều thiết tha mong mỏi trông thấy các dân tộc nhỏ yếu được giải phóng thì họ cũng nghĩ như ông Tưởng Giới Thạch rằng: “Cuộc chiến tranh đã hết thì đế quốc chủ nghĩa cũng phải hết nốt, vì đế quốc chủ nghĩa tức là nguyên nhân của chiến tranh”.

    Dân tộc Việt Nam đòi độc lập, tự do, bình đẳng đến cùng. Đòi bằng ngoại giao, ôn hòa chẳng được thì chúng ta hãy tuốt gươm. Chúng ta sẵn sàng nhận tất cả mọi sự có thể xảy đến. Chúng ta có thể không mạnh bằng kẻ địch, song chúng ta sẽ thắng kẻ địch như chúng ta đời Trần. Chúng ta có thể thua năm mươi trận, nhưng thắng lợi nhất định sẽ về tay chúng ta.

    Dù sao đi nữa, chúng ta quyết chí nỗ lực chiến đấu thì nhất định chúng ta duy trì được những thắng lợi ngày hôm nay. Đúng như lời ông Rudơven, sự áp bức và tàn bạo đã làm cho chúng ta biết tự do nghĩa là gì.

    Dưới sự lãnh đạo của Chính phủ Lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân ta sẽ đem hết của cải, xương máu ra xây đắp, tô điểm non sông, làm cho nước Việt Nam yêu quý của chúng ta lại được tươi sáng, phú cường bao năm lâm than kiệt quệ.

    Noi theo truyền thống của các thế hệ trước, thế hệ chúng ta sẽ đánh một trận cuối cùng để cho những thế hệ sau này mãi mãi được sống với độc lập, tự do và hạnh phúc.

    In trên báo Cứu quốc
    Số 40, 41, 42, 43 và 49,
    Tháng 9-1945

    (1) Ngày Lễ Độc lập diễn ra trên Quảng trường Ba Đình lịch sử 2-9-1945 là một sự kiện trong đại. Tạp chí Xưa & Nay đã đăng bài tường thuật của nhà báo Hồng Hà trên tờ Cứu quốc 5-9-1945 Tạp chí ( Xưa & Nay, số 19, IX-1995) mô tả lại không khí hào hùng và những diễn biến chính của ngày lễ. Theo chương trình của buổi lễ, sau Bản Tuyên ngôn Độc lập do Bác Hồ đọc là bài phát biểu của Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp. Để bạn đọc hình dung được bối cảnh lịch sử và ý nghĩa của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, Tạp chí Xưa & Nay, số 67, tháng 9 năm 1999 đăng lại toàn văn bài phát biểu của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đăng trên báo Cứu quốc ngay sau ngày Lễ Độc lập. Tiêu đề do Tạp chí Xưa & Nay đặt.

  2. #2
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    THƯ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
    VỀ CHỦ TRƯƠNG TÁC CHIẾN MỚI
    Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ(1)

    Kính gửi Hồ Chủ tịch,

    Đồng chí Trường Chinh và Chính trị Bộ.

    Chúng tôi đã nghiên cứu chủ trương tác chiến mới của ta ở Điện Biên Phủ và chủ trương quân sự của ta trên các chiến trường toàn quốc với đồng chí Quốc, nay xin phân bốn điểm báo cáo như sau:

    I - Chủ trương tác chiến mới ở Điện Biên Phủ. Ngày 25, bộ đội ta đã đến đủ ở vị trí tập kết, phần lớn pháo binh cũng đã vào trận địa. Chúng tôi đã nghiên cứu lại lần cuối cùng tình hình địch ta để ra lệnh nổ súng thì nhận thấy:

    a) Địch tăng đến 15 tiểu đoàn, một số pháo; sự bố trí ở phía Bắc và Tây đã mạnh hơn trước; vị trí Hang Cang ở phía Nam trước chỉ có 2 tiểu đoàn thì nay đã có 4 tiểu đoàn, thêm 12 khẩu lựu pháo, có trường bay mới làm, biến thành một tập đoàn cứ điểm thứ hai để yểm hộ cho Mường Thanh.

    b) Lựu pháo và cao pháo của ta bố trí ở Bắc và Tây Bắc chỉ hợp với kế hoạch đánh nhanh, không hợp với kế hoạch đánh từng bước vì từ đường ôtô kéo vào phải dùng trên một đại đoàn bộ binh kéo trong 8 đêm, trước báo cáo là chỉ cần hai đêm, nếu chiến sự phát triển không thuận lợi thì tiến lui đều khó.

    c) Việc chuẩn bị về mọi mặt phải tăng cường mới bảo đảm lâu được.

    Chúng tôi nhận thấy đối với một kẻ địch đã tăng cường như ở Điện Biên Phủ thì phải dùng cách đánh tiêu diệt từng bước, trong giai đoạn đầu tiêu diệt sinh lực chúng ở ngoại vi, đồng thời tìm cách tiêu hao chúng, khống chế sân bay để hạn chế hoặc triệt đường tiếp tế của chúng trong một thời gian khá dài. Vì vậy chúng tôi quyết định:

    a) Tạm định ngày nổ súng, điều chỉnh lại bộ đội cho hượp với kế hoạch mới. Vận chuyển các cao pháo và trọng pháo trở lại phía Đông để có thể sử dụng cơ động và đợi khi hệ thống đường kéo pháo phía Đông Điện Biên Phủ làm xong sẽ sử dụng. Lệnh chuyển pháo đã được thi hành trong đêm 26, cần phải bảy hôm mới hoàn thành.

    b) Nghiên cứu kế hoạch tiếp tục chuẩn bị về các mặt tân binh, đạn dược, lương thực, đủ đánh cho đến cuối tháng 4. Đường sá từ Yên Bái đến Điện Biên Phủ phải bảo đảm cho xe chạy được trong cả thời gian đó. Làm thêm nhiều con đường cho xe kéo pháo chạy đến gần Điện Biên Phủ để có thể điều động pháo theo nhu cầu chiến đấu. Kế hoạch này chia từng bước để tiến hành, định đến 10-2 thì hoàn thành bước thứ nhất.

    c) Trong lúc ở đây tích cực chuẩn bị thì nhanh chóng và bí mật điêu động toàn Đại đoàn 308 sang phía lưu vực sông Nậm hu, bao vây và tiêu diệt từ 4 đến 5 tiểu đoàn địch hiện đóng từ Mường Khoa đến Mường Ngòi. Chiều 26, trung đoàn đầu tiên của Đại đoàn 308 đã lập tức xuất phát, 27 toàn bộ xuất phát, dự liều vào khoảng 30 hay 31 thì hoàn thành bao vây địch. Nếu địch bỏ chạy thì truy kích. Nếu ta thắng ở mạn đó thì tình hình ở Điện Biên Phủ và ở Luông Phabăng có thể thay đổi ít nhiều.

    Trên đây là chủ trương tác chiến mới hướng này. Chúng tôi sẽ điện những nhu cầu cụ thể về nhân lực, vật lực để phục vụ một trận chiến đấu rất lớn trong thời gian khá dài như trên đã nói, mong Trung ương phê chuẩn và cho chỉ thị.

    II - Chủ trương quân sự của ta trên các chiến trường toàn quốc và Lào - Miên. Cuộc chiến đấu lớn của ta ở Điện Biên Phủ và Thượng Lào có liên quan rất mật thiết với tình hình toàn quốc. Ta tiêu diệt được nhanh chóng quân dịch ở Điện Biên Phủ hay chưa tiêu diệt được mà vẫn bao vây kiềm giữ chủ lực địch ở đây được thì đối với các chiến trường toàn quốc đều có một tác dụng rất lớn. Chúng tôi xin phân tích tình hình quân sự trước mắt và đề nghị chủ trương quân sự trong toàn quốc như sau:

    1. Tình hình quân sự hiện nay có hai điểm đáng chú ý:

    a) Từ khi ta bắt đầu kế hoạch Đông Xuân thì khắp các chiến trường đều thu được thắng lợi lớn: Lai Châu, Trung Lào, đồng bằng Bắc Bộ, Liên khu V, Nam Bộ.

    b) Chủ lực địch trước tập trung phần lớn ở địch hậu Bắc Bộ thì nay đã phân tán đến Điện Biên Phủ và Xavanakhẹt. Không những thế, bộ phận chủ lực còn lại ở địch hậu Bình Trị Thiên, Tây Nguyên, Nam Bộ và Miên, nay cũng bị thu hút một phần lớn lên trung Lào và sa lầy vào cuộc tấn công không đúng lúc của Nava ra Tuy Hòa. Địch đã phải bị động đối phó với ta, khiến chủ lực phải phân tán vào những chiến trường không lợi cho chúng như Điện Biên Phủ, khiến các chiến trường địch hậu sơ hở hơn trước nhiều.

    2. Căn cứ vào tình hình địch, ta nói trên, chủ trương quân sự của ta là tiếp tục hoạt động Đông Xuân theo những phương châm sau đây:

    a) Sự hoạt động ở chiến trường chính diện và sự hoạt động ở chiến trường địch hậu toàn quốc phải kết hợp chặt chẽ với nhau: chiến trường chính diện ra sức kiềm chế, giam giữ địch để tất cả các chiến trường địch hâu đẩy mạnh chiến tranh du kích và tiêu diệt sinh lực dịch. Sự phối hợp chính diện và địch hậu trước đây đã được thực hiện chặt chẽ ở Bắc Bộ trong chiến dịch Hòa Bình, nay phải được thực hiện trên chiến trường toàn quốc. Sự phối hợp toàn quốc và giữa các chiến trường Việt - Miên - Lào bắt đầu thực hiện trong một tháng nay, nay phải đẩy mạnh lên nữa. Đặc điểm của hoạt động Đông Xuân là bao gồm chiến trường toàn quốc và Việt - Miên - Lào, chứ không phải hạn chế trong một chiến trường nào.

    b) hoạt động Đông Xuân của ta cần phải liên tục từ nay cho đến mùa hè, chứ không phải hạn chế trong một thời gian ngắn; càng kéo dài thì càng khơi sâu nhược điểm của địch, càng tiêu diệt được nhiều địch và buộc địch càng phải phân tâm lúng túng. Ngay đến trong mùa hè cũng cần phải nghiên cứu tiếp tục hoạt động một phần nào, thay đổi quy luât mới nắm. Đặc biệt ở Điện Biên Phủ nếu trước Hè chưa tiêu diệt toàn bộ quân địch thì phải kiên trì chiến đấu ngay trong mùa Hè.

    c) Trong kế hoạch hoạt động Đông Xuân, vì ta sẽ giải phóng được nhiều địa phương mới, vì tác chiến kéo dài, nên cần kết hợp nhiệm vụ tác chiến với nhiệm vụ củng cố vùng giải phóng, kết hợp nhiệm vụ tác chiến với nhiệm vụ chấn chỉnh xây dựng bộ đội. Nếu đợi tác chiến xong rồi mới xây dựng bộ đội, mới củng cố địa phương, thì sẽ không duy trì được sự hoạt động bền bỉ và không củng cố được thắng lợi.
    III - Phương châm hoạt động trên từng chiến trường. Trên cơ sở những phương châm chung cho toàn quốc, phương pháp tác chiến cụ thể cho mỗi chiến trường thì tùy điều kiện mỗi chiến trường mà định.

    a) Ở Điện Biên Phủ thì bao vây kiềm giữ địch, tiêu diệt từng bộ phận, tạo điều kiện tiêu diệt toàn bộ. Trường hợp địch tình biến hóa có lợi thì có thể dùng cách đánh nhanh để tiêu diệt địch. Trường hợp địch tăng cường thì có thể dùng một bộ phận chủ lực tiến về phía Luông Phabăng, Phongxalỳ tiêu diệt địch và giải phóng địa phương, cô lập địch ở Điện Biên Phủ.

    b) Ở Trung và Hạ Lào: hiện đã giải phóng phần lớn tỉnh Thà Khẹt, cần nắm vững phương châm đánh nhỏ ăn chắc, đẩy mạnh hoạt động ở Hà Lào, mở rộng vùng giải phóng ở đó, liên lạc với Liên khu V, buộc địch từ chỗ chiếm đóng thành điểm đi vào chỗ bố trí tuyến trên đường số 13 và đường số 9. Đẩy mạnh công tác vùng giải phóng và tiến hành gấp rút tổ chức con đường từ Banafao đi đến đường số 9.

    c) Liên Khu V: hiện chiến dịch miền Tây đã thắng lợi bước đầu, cần hoàn thành chiến dịch, giải phóng cả miền Bắc Kon Tum, liên lạc với Hạ Lào và bắt đầu công tác củng cố vùng mới giải phóng. Sau đó sẽ dùng một bộ phận chủ lực mà phát triển về hướng địch yếu giữa Kon Tum và Pleiku hoặc giữa Pleiku và An Khê. Ở vùng địch đánh ra thì phát triển chiến tranh du kích. Ở toàn địch hậu liên khu cũng vậy.

    d) Ở đồng bằng Bắc Bộ, cần tiếp tục thực hiện kế hoạch Xuân - Hè nhằm đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt sinh lực địch, phá kế hoạch khinh quân, mở rộng căn cứ du kích, phát triển vào vùng tạm chiếm, nhất là Sơn Tây, cần đẩy hoạt động các chiến trường lên cho đều. Cần tích cực hoạt động, nhưng đề phòng khắc phục tư tưởng ham ăn to đánh lớn, bỏ mất cơ hội diệt địch, cần chú trong việc xây dựng lực lượng.

    e) Nam Bộ: đẩy mạnh chiến tranh du kích có trọng điểm, mở lại những căn cứ du kích ở vùng địch hậu một cách có trọng điểm, tranh thủ xây dựng bộ đội địa phương vầ dân quân du kích, kiện toàn các tiểu đoàn chủ lực trong tác chiến.

    f) Cao Miên: cần đẩy mạnh hoạt động có trọng điểm chú trọng gây cơ sở ở Đông Miên và Đông Bắc Miên (Stungtreng và Kompongthom) để liên lạc với Hạ Lào. Tranh thủ khuếch trương lực lượng vũ trang.

    IV. Triển vọng: Nếu chúng ta thực hiện được kế hoạch trên thì không những trên chiến trường chính diện sẽ tiêu diệt được sinh lực địch, không những ở địch hậu Bắc Bộ sẽ thu được nhiều thắng lợi mà khắp chiến trường miền Nam và Lào - Miên ta sẽ thu được nhiều thắng lợi mới. Chúng ta có thể giải phóng được toàn Tây Bắc và một phần quan trọng của Thượng Lào, mở được con đường vào Nam đi qua Trung và Hạ Lào, giải phóng miền Bắc Kon Tum, uy hiếp Tây Nguyên, mở những căn cứ du kích mới ở Miên, ở Nam Bộ, tạo được điều kiện để thực hiện việc tiến quân vào Nam. Địch sẽ bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng, khó thực hiện âm mưu khuếch trương ngụy quân, buộc phải phân tán chủ lực và ngày càng đi vào bị động. Chúng cũng ít có khả năng đánh ra vùng tự do của ta, do đó cuộc cải cách ruộng đất của ta được bảo đảm. Đứng về mặt quốc tế thì lại càng có lợi cho ta. Nói tóm lại, chúng ta sẽ phá được kế hoạch Nava.

    Chúng ta cần thấy trước bọn Pháp - Mỹ còn ra sức cố gắng mang thêm viện binh, tăng thêm vũ khí; hoặc điều chỉnh lực lượng thay đổi bố trí để mưu củng cố địch hậu, củng cố và đánh rộng ra ở miền Nam, nhưng chúng khó cứu vãn được cục diện khắp toàn quốc và cả ở Lào - Miên.

    Nhưng, muốn tranh thủ được những thắng lợi trên thì toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải có một cố gắng rất lớn, rất tích cực và bền bỉ:

    a) Các cấp chỉ đạo trong quân đội và cấp ủy của Đảng cần nhận rõ tình hình và thấu triệt chủ trương quân sự của Trung ương.

    b) Các cấp ủy cần nắm vững nhiệm vụ đánh giặc là công tác trung tâm thứ nhất, là có quyết tâm huy động nhân vật lực đầy đủ để phục vụ tiền tuyến, đồng thời chú trọng đúng mức đến công tác củng cố vùng giải phóng về mọi mặt (cán bộ, lực lượng võ trang, đường sá, dân sinh).

    V. Đề nghị Hội Chủ tịch và Chính trị Bộ cho chỉ thị về sự nhận định tình hình và chủ trương quân sự nói trên.
    30-1-1954
    Hưng


    (1) Đây là một tư liệu còn giữ ở Kho lưu trữ Trung ương Đảng (phồng số 11, mục lục số 2, đơn vị bảo quản số 742) được xác định là của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc đó lấy bí danh là “Hưng”. Thư được gửi hỏa tốc ngày 30-1`-1954 từ tiền tuyến Điện Biên Phủ đến các đồng chí lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ là Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Bộ Chính trị. Đây là một minh chứng cho thấy quyết định sáng suốt của Đại tướng, chuyển từ phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 209, tháng 4 năm 2004, tr.18-20.

    ================================================== ===========================

    ĐIỆN BIÊN PHỦ,
    BIỂU TƯỢNG CỦA SỨC MẠNH VIỆT NAM(1)

    Trong buổi bình minh của thiên niên kỷ mới, tên Tổ quốc Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, công cuộc đổi mới xây dựng phát triển dất nước đang từng ngày khởi sắc, nhân dân ta kỷ niệm trọng thể 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chúng ta còn nhớ: Thu - Đông 1953, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân xâm lược Pháp bước sang năm thứ tám. Sau 5 năm tự lực chiến đấu trong vòng vây, từ năm 1950 trở đi, chủ lực ta liên tiếp mở nhiều chiến dịch lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở biên giới Việt - Trung, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào. Chiến tranh du kích phát triển mạnh, làm “ruỗng nát” vùng tạm chiếm của đối phương.

    Trước tình hình nguy khốn ở Đông Dương, Chính phủ Pháp cử tướng bốn sao Hăngri Nava sang làm Tổng chỉ huy thứ bảy của đội quân viễn chinh xâm lược. Ta được biết nội dung kế hoạch Nava do bạn Trung Quốc cung cấp. Theo kế hoạch này, Nava đề ra mục tiêu trong vòng mười tám tháng, tập trung lực lượng cơ động chiến lược để tiến công tiêu diệt phần lớn chủ lực của ta, buộc Chính phủ ta phải chấp nhận tìm “lối thoát danh dự” cho cuộc chiến tranh xâm lược.

    Trong Đông - Xuân 1953-1954, Nava tập trung các binh đoàn cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ nhằm đối phó với cuộc tiến công có thể xảy ra của chủ lực ta, càn quét bình định vùng sau lưng chúng, cho quân nhảy dù xuống Lạng Sơn, đánh ra Ninh Bình, uy hiếp các căn cứ kháng chiến của ta ở Việt Bắc và Thanh Nghệ Tĩnh.

    Để phá tan kế hoạch buộc chúng phải phân tán lực lượng, bị động đối phó, Bộ thống soái tối cao của ta chủ trương dùng một bộ phận quân chủ lực, phối hợp với các lực lượng địa phương, chủ động mở các cuộc tiến công lên Tây Bắc, Trung Lào và Hạ Lào, Bắc Tây Nguyên, lấy Tây Bắc làm hướng chính. Đó là những hướng chiến lược hiểm yếu mà địch tương đối yếu, ta có thể tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, tiếp tục khoét sâu mâu thuẫn cơ bản giữa tập trung và phân tán binh lực của địch, tạo nên thế trận mới, thời cơ mới. Tình hình có thể phức tạp, ta cần theo dõi diễn biến, khi thời cơ xuất hiện thì nhanh chóng tập trung lực lượng, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch, làm chuyển biến cục diện chiến tranh có lợi cho ta.

    Tháng 11-1953, khi phát hiện chủ lực ta tiến lên Tây Bắc, Nava cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ để yểm trợ cho các đơn vị ở Lai Châu rút chạy, đồng thời bảo vệ Thượng Lào. Sau khi biết chắc phẩn lớn chủ lực ta đã tiến lên Tây Bắc, Nava chủ trương tăng cường lực lượng, gấp rút xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương nhàm thu hút và đánh bại chủ lực ta.

    Đầu tháng 12 nam 1953, quân ta mở cuộc tiến công tiêu diệt phần lớn quân địch ở Lai Châu rút chạy, bao vây Điện Biên Phủ. Hạ tuần tháng 12, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân giải phóng Pathét Lào mở cuộc tiến công vào Trung Lào, giải phóng Thà Khẹt và phát triển xuống Hạ Lào, giải phóng cao nguyên Bôlôven. Tháng 1 năm 1954, tuy có tin địch sẽ tiến công vào vùng tự do ven biển Liên khu V, nhưng chủ lực ta vẫn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, kiên quyết mở cuộc tiến công lên Bắc Tây Nguyên, giải phóng Kon Tum và một vùng rộng lớn, nối liền với khu giải phóng Hạ Lào. Hạ tuần tháng 1 năm 1954, trong khi tạm đình cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ, một đơn vị chủ lực ta đã bất ngờ mở cuộc tiến công sang Thượng Lào. Đòn tiến công này đã giải phóng lưu vực sông Nậm Hu, uy hiếp thủ đô Luông Phabăng.

    Bằng năm đòn tiến công chiến lược nói trên, ta đã điều động được lực lượng địch, thu hút chúng đến những chiến trường có lợi cho ta, buộc khối cơ động chủ lực của Nava phải chia năm xẻ bảy để tiêu diệt chúng.

    Phối hợp với các đòn tiến công của bộ đội chủ lực, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ ở các vùng địch hậu, đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Hàng chục đoàn tàu bị lật đổ, hàng chục máy bay bị phá hủy trên các sân bay, hàng trăm đồn bốt bị san bằng, nhiều vùng căn cứ du kích được mở rộng.

    Thắng lợi to lớn của các chiến trường phối hợp trong giai đoạn đầu của chiến cuộc Đông Xuân 53-54 đã làm cho kế hoạch Nava bị đảo lộn và bắt đầu phá sản. Ở chiến trường chính, Điện Biên Phủ, lúc đầu chưa có trong kế hoạch Nava và cũng chưa có trong kế hoạch tác chiến của ta, đã trở thành nơi diễn ra trận quyết chiến chiến lược, cuộc đọ sức quyết liệt nhất giữa ta và địch. Thực hiện quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, bộ phận tham mưu của ta và của đoàn cố vấn đi trước để chuẩn bị chiến trường, đã đề nghị phương án tranh thủ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” khi địch còn đứng chân chưa vững, dốc toàn lực đánh trong ba đêm, hai ngày, tiêu diệt toàn bộ quân địch giành thắng lợi. Tôi và đồng chí trưởng đoàn cố vấn đi sau, lên đến mặt trận đã nghe báo cáo phương án đánh nhanh.

    Tại cuộc họp đầu tiên của đảng ủy chiến dịch, tôi đã nêu những khó khăn lớn mà bộ đội ta chưa thể vượt qua nếu đánh theo phương án đó. Nhưng ý kiến chung đều cho rằng bộ đội ta đã được huấn luyện về cách đánh tập đoàn cứ điểm, hiện nay sung sức, quyết tâm chiến đấu rất cao, lại có lựu pháo và cao xạ pháo lần đầu xuất trận, với sức mạnh mới, có thể gây bất ngờ và sẽ chiến thắng. nếu không đánh sớm, để địch tăng thêm quân và củng cố công sự, khiến tập đoàn cứ điểm trở nên rất mạnh, ta sẽ bỏ lỡ cơ hội đánh tiêu diệt lớn trong Đông - Xuân này.

    Chiến dịch kéo dài sẽ không giải quyết được khó khăn về hậu cần. Đồng chí trưởng đoàn cố vẫn cũng tán thành phương án này. Tuy không tin vào thắng lợi của phương án đánh nhanh thắng nhanh nhưng tôi tự thấy mình vừa mới đến chiến trường, chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ ý kiến của đa số, nên đã đồng ý triệu tập Hội nghị cán bộ để phổ biến kế hoạch tác chiến theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Đồng thời tôi chỉ thị cơ quan tham mưu theo dõi chặt chẽ tình hình địch từng ngày, từng giờ, kịp thời báo cáo; nếu tình hình thay đổi ta có thể thay đổi kế hoạch.

    Suốt 11 ngày đêm theo dõi tình hình, tôi thấy địch ngày càng tăng cường lực lượng, ra sức củng cố trạn địa, và những khó khăn của ta chưa có cách khắc phục.

    Nhiều đêm trăn trở, cân nhắc, đêm cuối cùng thức trắng, tôi đi đến kết luận; đánh theo cách này nhất định thất bại. Sáng ngày 26 tháng 1, tô đã trao đổi ý kiến thống nhất với đồng chí trưởng đoàn cố vấn, tiếp đó dưa ra Đảng ủy mặt trận bàn thay đổi cách đánh. Cuộc thảo luận trong Đảng ủy đã diễn ra gay go sôi nổi, tất cả đều cho rằng bộ đội quyết tâm cao, mọi mặt đã chuẩn bị, phải đánh nhanh, nếu không sẽ khó khăn, mất thời cơ. Nhưng khi đặt ra câu hỏi: vậy đánh nhanh có bảo đảm chắc thắng 100% như Bác Hồ căn cặn không? thì không ai dám khẳng định. Cuối cùng Đảng ủy đã đi đến nhất trí phải chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc” - một phương án đã từng dự kiến trước đây. Mặc dầu mấy vạn quân ta đã dàn trận, đạn đã lên nòng sẵn sàng nổ súng vào đêm 26 tháng 1, nhưng chúng ta đã kiên quyết dừng lại, cho lui quân về vị trí tập kết, kéo pháo ra để chuẩn bị trận địa đánh theo phương án mới. Quyết định thay đổi phương châm đã được triển khai, sau đó báo cáo về Trung ương bằng thư hỏa tốc, được Bác Hồ và Bộ Chính trị nhất trí và cho biết sẽ động viên hậu phương đem toàn lực chi viện cho tiền tuyến đánh thắng.

    Thay đổi cách đánh trong tình thế toàn mặt trận từ trên xuống dưới quyết tâm chiến đấu theo phương án đánh nhanh giải quyết nhanh, các đơn vị đã lâm vào vị trí chiến đấu, chờ giờ nổ súng là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của tôi.

    Chúng ta chuyển sang cách đánh chắc tiến chắc, tức là bao vây đánh dần từng bước, tiêu diệt từng bộ phận, từ ngoại vi vào trung tâm. Đánh theo cách này, ta có điều kiện tập trung binh hỏa lực ưu thế tuyệt đối trong từng trận, tạo nên sức mạnh áp đảo đánh thắng địch.

    Để bảo đảm bao vây, tiêu diệt địch từng bước, theo kinh nghiệm chiến đấu của giải phóng quân Trung Quốc mà đoàn cố vấn giới thiệu, chúng ta đã xây dựng một hệ thống đường kéo pháo bằng cơ giới và các trận địa pháo có hầm đào sâu vào vách núi; xây dựng một hệ thống trận địa bao vây và tiến công quy mô chiến dịch, với hàng trăm kilômét hào giao thông để cơ động tiếp cận địch, với hàng vạn công sự chiến đấu, công sự ẩn nấp cho người và vũ khí, có hầm nghỉ ngơi, sinh hoạt, cấp cứu thương binh trong lòng đất, bảo đảm cho bộ đội chiến đấu liên tục ngày đêm trên cánh đồng Mường Thanh, dưới sự đánh phá ác liệt của không quân và pháo binh địch.

    Trải qua một quá trình chiến đấu dài ngay, chúng ta đã lần lượt tiêu diệt từng cụm cứ điểm của địch, xiết chặt vòng vây, vận dụng chiến thuật đánh lấn, bắn tỉa, chia cắt sân bay, triệt đường tiếp tế… làm cho tập đoàn cứ điểm ngày càng bị bóp nghẹt, không phận ngày càng bị thu hẹp, khó khăn ngày càng chồng chất, tinh thần chiến đấu của địch ngày càng sa sút. Cuối cùng ta mở đợt tiến công quyết định vào sở chỉ huy đầu não, bắt sống tướng Đờ Cát và bộ chỉ huy, buộc toàn bộ quân địch đầu hàng, giành toàn thắng cho chiến dịch.

    Như vậy, quân đội ta từ chỗ mới tiêu diệt được từng tiểu đoàn địch phòng ngự trong công sự vững chắc và thường chỉ đánh trong đêm, đã tiến lên tiêu diệt 21 tiểu đoàn phòng ngự trong một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, với 8 trung tâm đề kháng, 49 cứ điểm và đánh liên tục trong 56 ngày đêm, đã tiêu diệt, bắt sống hơn 1 vạn 6 nghìn quân địch, đại bộ phận là lính Âu - Phi tinh nhuệ.

    Đây là trận tiêu diệt chiến lớn nhất, tiêu biểu nhất, một bước trưởng thành vượt bậc về trình độ tác chiến của quân đội ta.

    Kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác Hồ viết: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng trong lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”(1). “Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”(2).

    Năm nay, kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, nhìn lại tiến tình lịch sử của dân tộc ta và của nhân loại qua nửa thế kỷ, chúng ta càng thấy ý nghĩa to lớn và sâu sắc của chiến thắng ví đại Điện Biên Phủ.

    Điện Biên Phủ là trận đánh tiêu diệt và bắt sống quân viễn chinh xâm lược lớn nhất, gọn nhất của quân đội ta, dân tộc ta và của phong trào giải phóng dân tộc trong thế ỷ XX.

    Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân xâm lược.

    Ông cha ta trước đây từng tiêu diệt quân xâm lược ở Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa… để giải phóng Thăng Long. Đến thời đại Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã đánh một trận tiêu diệt lớn quân xâm lược ở Điện Biên Phủ, buộc đối phương phải đi đến ký Hiệp nghị Giơnevơ, giải phóng nửa nước, giải phóng Thủ đô Hà Nội. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, được xây dựng ngày càng vững mạnh trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước, trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam. Đó là “nhân tố quyết định nhất” trong khi phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam thành đồng Tổ quốc là “nhân tố quyết định trực tiếp” của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.Như chúng ta đã biết, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ta bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với sức mạnh mới của một nửa nước được hoàn toàn giải phóng, xây dựng chế độ xã hội mới, với sự giúp đỡ của các nước anh em cả về kinh tế và quốc phòng. Ta có một quân đội nhân dân được xây dựng theo phương hướng chinh quy và hiện đại, gồm nhiều binh chủng và quân chủng, với một đội ngũ cán bộ dạn dày kinh nghiệm, đã được bồi dưỡng, đào tạo trưởng thành. Trong quá trình kháng chiến chống Mỹ, hàng triệu thanh niên lên đường vào Nam chiến đấu, trong đó hàng vạn “chiến sĩ Điện Biên Phủ” đã lập công xuất sắc. Hàng ngàn “chiến sĩ Điện Biên Phủ” đã tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đại thắng Mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có ba trong bốn tư lệnh quân đoàn từng là trung đoàn trưởng chiến đấu ở Điện Biên Phủ.

    Như vậy, chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo nên chỗ dựa vững chắc, tạo nên lực lượng, ý chí, niềm tin và kinh nghiệm để quân và dân ta tiến lên, đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, thống nhất hoàn toàn, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, qua 9 năm kháng chiến, nhân dân ta đã làm nên trận địa thắng Điện Biên Phủ, giải phóng nửa nước, tạo điều kiện để 21 năm kháng chiến tiếp theo, làm nên trận toàn tháng Mùa Xuân 1975, giải phóng nửa nước còn lại, đưa giang sơn về một mối. Điều trùng lặp kỳ lạ là về thời gian, hai trận quyết chiến chiến lược ấy đều diễn ra trong 56 ngày đêm chiến đấu liên tục và chiến thắng vẻ vang. Cũng một điều trùng lập nữa là khi tình thế thay đổi thì cả hai trận đã kịp thời thay đổi quyết định. Trận trước dự định đánh trong hai ngày ba đêm đã chuyển sang đánh gần hai tháng; trận sau dự định đánh trong hai năm nhưng khi thời cơ đến đã tiến công thần tốc chỉ đánh trong gần hai tháng.

    Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa trong thời đại mới.

    Ý nghĩa to lớn của chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ đối với dân tộc ta là như vậy.

    Trên phạm vi thế giới, với chiến thắng Điện Biên Phủ, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại: một đất nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, đất không rộng, người không đông, kinh tế còn lạc hậu, vũ khí kém cỏi đã đánh thắng quân đội xâm lược của một cường quốc phương Tây có tiềm lực kinh tế va quân sự lớn, trang bị vũ khí hiện đại.

    Trong lần đến Việt Nam gần đây, Chủ tịch Phiđen Caxtrô đã nói: “Tôi đã đọc lịch sử chiến tranh. Từ trước đến nay chưa từng có một cuộc chiến tranh nào mà một nước nhỏ, kinh tế lạc hâu như Việt Nam mà vẫn đánh thắng Pháp và Mỹ. Đó là điều vô song. Trên thế giới chưa từng có. Trong lịch sử chưa từng thấy”.

    “Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm cho các dân tộc thuộc địa ngửng cao đầu”(3). Tiếng sấm Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, vang tới những vùng xa xôi còn chìm đắm trong đêm dài nô lệ, thức tỉnh và tạo niềm tin cho các dân tộc bị áp bức vùng lên. Gần hai thập kỷ sau Điện Biên Phủ, hàng loạt nước thuộc địa ở châu Á, châu Phí, Mỹ latinh đã lân lượt giành độc lập, với hình thức và mức độ khác nhau. Phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội phát triển sâu rộng.

    Với Điện Biên Phủ, Việt Nam trở thành nước đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh đánh đổ chủ nghĩa thực dân cũ - một vết nhơ trong lịch sử nhân loại.

    Chiến thắng Điện Biên Phủ đã góp phần làm thay đổi cục diện thế giới. Ý nghĩa quốc tế lớn lao của Điện Biên Phủ là như vậy.

    Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, va Bác Hồ kính yêu, từ tinh thần chiến đấu đầy dũng cảm và mưu trí sáng tạo của quân và dân ta; từ sự phối hợp chiến đấu của nhân dân hai nước Lào, Campuchia anh em, sự giúp đỡ quan trọng của Trung Quốc, Liên Xô và sự đồng tình ủng hộ của bạn bè quốc tế, kể cả nhân dân Pháp.

    Chiến thắng Điện Biên Phủ bắt nguồn sâu xa từ truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí quật cường, bất khuất, trí thông minh sáng tạo; tình đoàn kết nhân ái là những nhân tố chủ yếu tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc ta được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử. Trong thời đại mới, sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt Nam đã được khơi dậy mạnh mẽ, được nâng lên tầm cao mới, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin va tư tưởng Hồ Chí Minh để tạo nên sức mạnh phi thường, lần lượt đánh thắng hai đế quốc to, giành thắng lợi trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
    Ngày nay sau 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, cục diện thế giới và đất nước đã và đang có những biến đổi lớn lao, sâu sắc.

    Đất nước ta đang đứng trước thời cơ và vận hội mới, đồng thời phải đương đầu với những nguy cơ và thác thức mới. Trong khi kinh tế và khoa học trên thế giới đang có những bước phát triển vượt bậc thì nước ta vẫn còn là một trong những nước nghèo, GDP bình quân đầu người mới bằng 1/3 của Thái Lan, 1/50 Xingapo, 1/70 của Mỹ.

    Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, điều thiết thực nhất là chúng ta hãy phát huy tinh thần Điện Biên Phủ trong cuộc chiến đấu mới - cuộc chiến đấu chống nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho toàn dân ta.

    Tinh thần Điện Biên Phủ trước hết là tinh thần yêu nước, “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, không cách mạng chịu làm nô lệ, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, quyết chiến, quyết thắng, kết hợp tinh thần dũng cảm kiên cường với trí thông mình sang tạo, nỗ lực phi thường để khắc phục những việc tưởng chừng không thể làm nổi, tạo nên bước tiến vượt bậc về khả năng và sức mạnh chiến đấu để đánh bại kẻ thù lúc chúng có những cố gắng chiến tranh cao nhất.

    Ngày nay, phát huy tinh thần Điện Biên Phủ chúng ta hãy nêu cao lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, tự tôn dân tộc, tự lực tự cường, không cam chịu nghèo nàn và lạc hậu, quyết tâm vượt qua thách thức, phát huy trí thông minh sáng tạo, dám nghĩ dám làm, làm nên một “Điện Biên Phủ” mới trong sự nghiệp đổi mới. Mỗi người, mỗi tổ chức có những nỗ lực vượt bậc, làm nên những đỉnh cao thành tích mới, những “Điện Biên Phủ” lớn, nhỏ trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa, xã hội. Như chúng ta đã từng thực hiện được bước tiến vượt bậc trong sản xuất, xuất khẩu lương thực, biến những vùng, những hộ nghèo đói trở thành giàu có, đạt đỉnh cao trong thi tài văn hóa, khoa học trên thế giới, đạt được một bước tiến vượt bậc về thành tích thi đấu của tuổi trẻ Việt Nam trong SEA Games 22. Điều cực kỳ quan trọng là chúng ta phải thực hiện cho được chủ trương coi khoa học và giáo dục là quốc sách hàng đầu, làm cho con người Việt Nam tiến lên chiếm những đỉnh cao của khoa học, làm cho khoa học - giáo dục thật sự trở thành động lực, nhất định chúng ta sẽ tạo nên những bước phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 9 vừa qua của Đảng, góp phần sớm khắc phục sự tụt hậu, từng bước đưa nước ta tiến lên nhanh và vững, sánh vai cùng các nước trung bình rồi các nước tiên tiến trên thế giới.

    Trong lúc tập trung vào nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, phải thường xuyên coi trọng nhiệm vụ tăng cường an ninh, củng cố quốc phòng. Có kế hoạch chống lại các mâm ưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, nghiên cứu những phát triển của khoa học quân sự hiện đại thế giới, các hình thức chiến tranh kiểu mới, vận dụng và phát triển sáng tạo kinh nghiệm quý báu của hai cuộc kháng chiến, hoàn thiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chuẩn bị cho các lực lượng vũ trang, cho đất nước sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược mà kẻ địch có thể gây ra với nước ta, bảo vệ vững chắc vùng đất, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.

    Tinh thần Điện Biên Phủ là tinh thần tôn trọng thực tế, nắm vững quan điểm thực tiễn, không chủ quan duy ý chí, luôn bám sát sự phát triển của thực tiễn, khi thấy tình hình thay đổi thì mục tiêu tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ vẫn giữ vững, nhưng kiên quyết thay đổi cách đánh, dù cách đánh ấy đã thành Nghị quyết đang triển khai, tìm ra cách đánh phù hợp để giành thắng lợi. Đây là bài học sâu sắc nhất về lãnh đạo và chỉ huy trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

    Ngày nay, bài học ấy đang hết sức có ý nghĩa đối với chúng ta, Đảng ta từ Đại hội VI đến Đại hội IX đã xuất phát từ tình hình thực tiễn, từng bước phát triển sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên giành được thắng lợi to lớn, quan trọng. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội ở một nước kinh tế chậm phát triển như nước ta là chưa có tiền lệ. Tình hình thực tiễn của thế giới và nước ta đã và đang cón hững biến đổi sâu sắc và những phát triển mới chưa từng có. Quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội còn nhiều vấn đề đặt ra.
    Chúng ta hãy phát huy tinh thần thực tiễn và sáng tạo của Điện Biên Phủ vào công cuộc đổi mới. Luôn gắn lý luận với thực tiễn, thấm nhuần quan điểm coi thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, luôn bám sát thực tiễn, phân tích và phát hiện, nhận thức đúng đắn những phát triển mới của tình hình thế giới và trong nước. Nghiên cứu tổng kết thức tiễn, phát triển sáng tạo lý luận. Khi thực tiễn thay đổi thì mục tiêu xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh vẫn giữ vững, nhưng kiên quyết thay đổi, bổ sung những chủ trương, chính sách, biện pháp, dù có những vấn đề đã thành quyết định, nghị quyết nhưng không còn phù hợp, không có hiệu quả. Không chủ quan, duy ý chí, không bảo thủ giáo điều, dừng lại ở nhận thức và quan điểm cũ đã lỗi thời. Có như vậy, mới đưa sự nghiệp đổi mới đến thắng lợi.

    Sức mạnh làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, sức manh của toàn dân, của cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, chúng ta đã động viên được toàn quân toàn dân, từ tiền tuyến đến hậu phương vào trận quyết chiến Điện Biên Phủ. Lần đầu tiên chúng ta đã tập trung gần 5 sư đoàn chủ lực mạnh vào một trận đánh, động viên các chiến trường trong cả nước và hai nước bạn Lào, Campuchia chiến đấu phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ. Chúng ta đã huy động sức người sức của từ vùng tự do Thanh Nghệ Tĩnh, Tây Bắc, Việt Bắc đến nhiều tỉnh vùng địch tạm chiếm ở Bắc Bộ chi viện cho Điện Biên Phủ. Hàng chục vạn đồng bào đã hăng hái đi dân công, thanh niên xung phong tham gia làm đường, vận tải tiếp tế, phục vụ chiến dịch, bảo đảm hậu cần cho một mặt trận xa hậu phương hàng năm, bảy trăm cây số, trong điều kiện đường sá khó khăn, phương tiện vận tải thô sơ thiếu thốn, địch đánh phá ác liệt; làm được một việc mà kẻ thù không thể ngờ tới ta có thể làm được.

    Ngày nay, sức mạnh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vẫn là một sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của toàn dân.

    Chúng ta phải luôn luôn coi trọng nêu cao tinh thần dân tộc, quán triệt sâu sắc Nghị quyết của Đại hội IX về phát huy sức mạnh khối đoàn kết dân tộc. Đoàn kết 54 dân tộc anh em, đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết đồng bào trong nước và đồng bào định cư ở nước ngoài, làm thất bại âm mưu chia rẽ của các thế lực thù địch, phải thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các vùng đồng bào dân tộc, trong đó có Điện Biên Phủ và Tây Bắc, vùng căn cứ kháng chiến, vùng sâu, vùng xa, giúp đồng bào phát triển kinh tế, văn hóa, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, khắc phục tình trạng quá chậm trễ như hiện nay, làm cho miền núi sớm tiến kịp miền xuôi như Bác Hồ mong muốn.

    Thưc hiện các Nghị quyết của Trung ương về phát huy thế mạnh của các vùng kinh tế - phát huy vai trò của các thành phần kinh tế, động viên toàn dân ra sức làm kinh tế để thực hiện dân giàu, nước mạnh, với một khí thế thi đua sôi nổi như toàn dân đã hăng hái tham gia hai cuộc kháng chiến trước đây. Phải luôn luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ trong Di chúc đối với công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh: “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khống lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”(1).

    Thực sự mở rộng dân chủ, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, tránh dân chủ hình thức, tạo nên sự nhất trí giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, sự gắn bó của người dân với chế độ xã hội, với lãnh đạo, như dân đã từng gắn bó với cách mạng trong thời kỳ kháng chiến. Thực hiện dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương phép nước.

    Chỉ trên cơ sở sự đồng tình ủng hộ và tham gia tự nguyện của nhân dân, giữ vững được lòng dân, ta mới giữ vững được ổn định chính trị, tạo nên sức mạnh đưa công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đến thành công.
    Nhân tố quyết định đưa đến thắng lợi Đông Xuân 1953-1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Sự lãnh đạo đó không những thể hiện ở đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn, sự chỉ đạo chiến lược tài tình mà điều quan trọng còn thể hiện ở vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên.

    Trước thách thức quyết liệt của trận Điện Biên Phủ, biết bao đảng viên ưu tú đã một lòng vì nước vì dân, nêu cao tinh thần gương mẫu trong chiến đấu, không quản gian khổ, hy sinh, sẵn sàng xả thân để giành chiến thắng. Tại mặt trận, trước tình huống khó khăn, gay go, quyết liệt đã vang lên tiếng thét: “Các đảng viên cộng sản tiến lên! Ai là người theo Đảng hãy tiến lên!”. Hai tiếng đảng viên thiêng liêng và hành động tiên phong gương mẫu của đảng viên đã có sức mạnh cổ vũ đồng đội xông lên tiêu diệt quân thù, giành thắng lợi.

    Ngày nay, sự lãnh đạo của Đảng, vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn là nhân tố quan trọng, quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta có một đội ngũ cán bộ, đảng viên kế tiếp xứng đáng, có phẩm chất và năng lực, năng động, sáng tạo, làm hạt nhân lãnh đạo trong các cấp, các ngành, đưa công cuộc đổi mới tiến lên đạt những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, điều mà hiện nay toàn Đảng, toàn dân quan tâm và lo ngại là bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng, đang làm giảm uy tín và sức mạnh lãnh đạo của Đảng, đe dọa sự tồn vong của Đảng. Vì vậy, toàn Đảmg, toàn quân, toàn dân ta đồng tâm, nhất trtí, tìm ra nguyên nhân yếu kém và biện pháp có hiệu lực, thực hiện bằng được nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, làm cho đội ngũ đảng viên thật sự hết lòng vì nước, vì dân, tiếp tục nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu trong nhiệm vụ cách mạng mới, như đã từng tiên phong gương mẫu trong chiến đấu. Đây cũng là nhân tố quyết định đưa sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc tiến lên đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Đối với nhân loại, Điện Biên Phủ là điểm hẹn tất yếu của lịch sử dành cho những cuộc chiến tranh xâm lược trong thời đại ngày nay. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chứng minh một chân lý của thời đại là các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược, nếu biết đoàn kết đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do, vì quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của mình, có đường lối đúng đắn, dám đấu tranh và biết đấu tranh thì dân tộc đó nhất định thắng lợi Trong thời đại ngày nay, bất cứ dân tộc nào để áp đặt ý muốn của mình lên dân tộc khác thì cuối cùng nhất định sẽ thất bại.

    Các lực lượng hiếu chiến dù có tàn bạo đến đâu thì cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình, hữu nghị và phong trào, vì một trận tự thế giới công bằng, dân chủ nhất định thắng lợi.
    *
    * *

    Kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại, nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, nhớ ơn các bà mẹ Việt Nam anh hùng đã hiến dâng cho đất nước những người con thân yêu. Chúng ta gửi lời thăm hỏi thân thiết nhất đến các đồng chí thương binh, bệnh binh, cựu chiến binh, thanh niên xung phong, dân công, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, của cuộc kháng chiến 30 năm chống đế quốc xâm lược.

    Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ đã làm cho ba tiếng “Điện Biên Phủ trở thành biểu tượng của sức mạnh Việt Nam.

    Tinh thần Điện Biên Phủ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.

    (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.11, tr.261, 220.
    (3 Ôman Uxêđích, Trưởng đoàn đại biểu Quân đội Angiêri nói trong dịp sang thăm Việt Nam năm 1960.)
    (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.12, tr.505.

    (1) Bài viết gửi Hội thảo “Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên tổ chức ngày 7-3-2004. Bài đăng trên Tại chí Xưa & Nay, số 209, tháng 4 năm 2004, tr.4-7, 39-40.

    ================================================== ===

    ĐIỆN BIÊN PHỦ XƯA VÀ NAY(1)

    Điện Biên Phủ là một sự kiện lịch sử trọng đại. Cũng như mọi sự kiện lịch sử khác, người ta chỉ có thể nhận thức đầy đủ tầm vóc và ý nghĩa của sự kiện khi đặt nó trong dòng chảy liên tục của thời gian, phân tích nó trong biện chứng vận động và phát triển của lịch sử.

    Nói “Điện Biên Phủ xưa và nay” không chỉ là sự so sánh đơn giản một thực tế ở hai thời điểm xưa và này. Lịch sử, nói chính xác hơn là hiện thực lịch sử chỉ xảy ra một lần, duy nhất và không thể chữa lại, nhưng nhận thức lịch sử, cũng như viết sử có thể làm đi làm lại nhiều lần. Thời gian như một thứ thuốc hiện hình sẽ làm cho các hiện thực của quá khứ ngày một rõ nét hơn, chân xác hơn; tất nhiên cũng có một lúc, một hoàn cảnh nào đó cùng với thời gian là sự lãng quên, thậm chí làm lu mờ hay méo mó lịch sử. Song thời gian với phép màu nhiệm của nó chắc chắn sẽ giúp chúng ta và các thế hệ con cháu chúng ta ngày một hiểu biết sâu sắc hơn về quá khứ, về Điện Biên Phủ. Với từng trải của 40 năm, giờ đây chúng ta nhìn lại Điện Biên Phủ sẽ thấy rõ hơn, sáng hơn những ý nghĩa và bài học lịch sử bổ ích cho công cuộc cách mạng hiện nay.

    Trước tiên, Điện Biên Phủ là một chiến dịch lớn, là một trận đánh diễn ra trên lòng chảo Mường Thanh suốt 55 ngày đêm giao tranh quyết liệt và kết thúc vào ngày 7-5-1954, như một trận quyết chiến chiến lược.

    Trở lại Mường Phăng vừa rồi, trong “lán chỉ huy” anh em bảo tàng vẫn để lại mấy tấm bản đồ tác chiến. Ngoài bản đồ khu vực Điện Biên, còn có cả một tấm bản đồ lớn khu vực Đông Dương, vì lúc đó tôi vừa là Chỉ huy trưởng của Mặt trận Điện Biên Phủ, vừa là Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ đạo toàn bộ các mặt trận phối hợp với Điện Biên Phủ ở Khu V, Nam Bộ, kể cả chiến trường Lào và Campuchia. Ở đồng bằng Bắc Bộ đã có các anh Văn Tiến Dũng, Nguyễn Chí Thanh. Điện Biên Phủ thắng to là do ta đánh thắng trên chiến trường Đông Dương, thắng trong từng trận cụ thể, nhưng quan trọng hơn là thắng vì ta giành được quyền chủ động trên toàn chiến trường, địch bị căng lực lượng ờ khắp nơi trong khi ta tập trung được sức mạnh ở Điện Biên Phủ.

    Bức tranh Điện Biên Phủ sẽ hiện rõ tầm vóc của nó nếu ta đặt trong một cái khung thời gian của toàn bộ sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, chấm dứt 100 năm đô hộ của thực dân Pháp và nhất là của 30 năm chiến tranh bảo vệ nền độc lập, tự do mở đầu bằng Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, được kết thúc bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 và Điện Biên Phủ là một cái mốc khẳng định ý chí và sức mạnh của dân tộc Việt Nam chúng ta. Nó là sự kế thừa của cách mạng Tháng Tám, nó cũng là tiền đề của thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này.

    Trong sự nghiệp đánh đuổi xâm lược Pháp, ông cha ta đã biểu thị truyền thống yêu nước rất sâu sắc. Từ ngày đầu giặc Pháp đánh Đà Nẵng (1958), nhân dân ta đã chứng minh điều đó, nhưng cũng với thất bại của nhiều phong trào khởi nghĩa vũ trang, lòng yêu nước ấy đứng trước câu hỏi: làm thế nào để chiến thắng? (Rồi đây các nhà sử học thử phân tích vì sao khi quân Pháp xâm lược nước ta, với một đội quân không đông lắm, thạm chí có lú chỉ vài trăm quân cũng có thể đánh thắng đội quân của triều đình lúc đó rất đông lại có những vị chỉ huy rất anh hùng như Nguyễn Tri Phương hay Hoàng Diệu?). Niềm khao khát chiến thắng ấy chẳng đã một thời vang lên trong những “Hồi trống tự do”, “Tiếng chuông chiều hồn” hay những lời da diết “Gọi hồn nước” của Phan Bội Châu và các bậc chí sĩ ái quốc thời trước khi có Đảng.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh với Chánh cương, sách lược vắn tắt từ hồi dựng Đảng được phát triển qua Cương lĩnh Mặt trận Việt Minh (1941) đã trở thành tư tưởng chủ đạo, tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc trong cao trào Cách mạng Tháng Tám 1945 giành lại non sông gấm vóc, tạo dựng nền Dân chủ Cộng hòa của một quốc gia độc lập.

    Tư tưởng ấy cùng với sự hình thành lực lượng vũ trang cách mạng. Quân đội nhân dân Việt Nam mà cuối năm nay, chúng ta sẽ long trọng kỷ niệm vừa tròn nửa thế kỷ, chính là nền tảng lịch sử của thắng lợi của cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ mà Điện Biên Phủ là một đỉnh cao quyết định.

    Nếu ta ngược về quá khứ xa hơn nữa của lịch sử dân tộc, truyền thống giữ nước của tổ tiên ta đã hình thành rất sớm trong thời các vua Hùng và được kết tinh trong hình tượng Thánh Gióng mang tính huyền thoại kỳ vĩ. Dưới thời Bắc thuộc, truyền thống ấy đã dấy lên cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Hai Bà phát động nhân dân vùng dậy chống quân đô hộ, trong một thời gian ngắn lấy lại được 65 thành, giải phóng đất nước, xác lập quyền tự chủ. Nhưng nói theo ngôn ngữ hiện đại, Hai Bà đã thực hiện thành công cuộc khởi nghĩa dân tộc, nhưng cuộc kháng chiến giữ nước tiếp theo bị thất bại.

    Ở thế kỷ XIII, nhân dân ta thời Trần cũng tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài 30 năm với ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên - Mông. Đó là một chiến công rất hiển hách. Nhưng nếu phân tích kỹ thì trong 30 năm ấy quân xâm lược đã ba lần tiến công vào đất nước ta: Lần đầu 1 tháng, lần thứ hai khoảng 6 tháng, lần thứ ba cũng khoảng 6 tháng. Cả ba lần quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh tài ba khác trên dưới vua tôi đồng lòng đánh bại không chỉ đội quân xâm lược mà cả ý chí xâm lược của giặc Nguyên - Mông. Tuy nhiên thời gian giữa ba cuộc chiến tranh ấy nước ta thời nhà Tràn vãn thanh bình và thịnh trị. Còn trong 30 năm tiến hành chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cả nước chúng ta đã trải qua một cuộc chiến tranh liên tục và khốc liệt.

    Với khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi ở thế kỷ XV thì bắt đầu bằng một cuộc khởi nghĩa ở địa phương, quy tụ lực lượng từ nhiều nơi, từ châu Hoan Diễn tiến tới lấy thành Đông Quan, giải phóng đất nước. Chúng ta biết thêm rằng, trước đó ách đô hộ của giặc Minh cũng mới chỉ có 10 năm, sau khi quân xâm lược đã đánh bại nhà Hồ, một triều đại có quân đội rất mạnh, có truyền thống thượng võ cao.

    Đến thời Tây Sơn, Nguyễn Huệ Quang Trung bắt đầu bằng một cuộc khởi nghĩa nông dân địa phương, đánh đổ các thế lực phong kiến đương thời, định đô ở Phú Xuân, tích lũy quân lương ở Hoan Diễn rồi tiến quân ra Bắc thần tốc đánh bại đại quân của giặc Thanh đúng với ý nghĩa của một trận quyết chiến chiến lược.

    Nhắc lại những chiến công của cha ông vừa để tự hào vừa để so sánh những nét giống và khác với sự nghiệp cách mạng của thế hệ chúng ta, chính là để thấy được tính kế thừa, học hỏi tiền nhân cũng như sự sáng tạo và phát triển trong thời đại mới.

    Đặt vào một bối cảnh rộng lớn hơn, chúng ta còn có thể sánh Điện Biên Phủ với nhiều trận đánh nổi tiếng trong lịch sử chiến tranh thế giới như Oatéclô, Bôrôđinô, Xtalingrát… Mỗi một sự kiện có ý nghĩa với thời đại của nó cũng như trong lịch sử chung của nhân loại. Với Điện Biên Phủ, không chỉ là sự kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam mà còn là sự khởi đầu cho cao trào cách mạng giải phóng dân tộc của các dân tộc nhược tiểu khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân trong lịch sử cận - hiện đại. Bởi vì Điện Biên Phủ là thắng lợi đầu tiên, thắng lợi chấn động địa cầu của một dân tộc vốn là thuộc địa, kinh tế lạc hậu, đánh bại quân đội hiện đại của một cường quốc công nghiệp, một đế quốc phương Tây. Bởi vì Việt Nam với Điện Biên Phủ đã nêu cao tấm gương, bài học: một dân tộc nhỏ yếu có thể đánh bại một cường quốc hùng mạnh một khi nhân tố con người trở thành quyết định vượt lên trên tất cả yếu tố tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự. Nhà viết sử phương Tây Jules Roy chẳng đã mô tả Điện Biên Phủ là nỗi “Kinh hoàng khủng khiếp, là thất bại lớn nhất của phương Tây báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ và sự cáo chung của nột nền cộng hòa ở Pháp”.

    Sau này, khi tướng Đờ Gôn, Tổng thống Pháp đang có mặt ở Phnôm Pênh đã nhắn vọng cho Mỹ lúc này đã can thiệp sâu vào Việt Nam rằng: Mỹ nên học bài học của Pháp. Nhưng đế quốc Mỹ lại cho rằng Pháp đã thua nhưng Mỹ sẽ thắng. Và thực tiễn đã cho thấy: Tô đậm thêm cho bài học lịch sử của Điện Biên Phủ chính là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc kết thúc bằng chiến dịch mang tên Bác hồ vào mùa xuân 1975.

    Bài học lớn ấy phải đã được thực hiện bằng một nghệ thuật chỉ đạo cách mạng và chiến tranh đúng đắn, sáng tạo. Một trong những tư tưởng chủ đạo của Bác Hồ ngay từ khi mới thành lập lực lượng vũ trang cách mạng là “Đánh phải chắc thắng”, bởi vì dân ta nghèo, xương máu của nhân dân và quân đội phải được quý trọng.

    Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, cái tư tưởng ấy luôn thường trực trong suy nghĩ của bản thân tôi cũng như của nhiều đồng chí khác, mỗi khi quyết định một trận đánh, một cách đánh… Ở Điện Biên Phủ, chính vào thời điểm quyết định, tư tưởng ấy đã giúp tôi đi tới một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy quân sự của mình. Bởi vì như lúc đầu, xuất phát từ sự phân tích cho rằng địch vừa đổ quân xuống một chiến trường mới, hệ thống phòng ngự chưa được củng cố, lực lượng của ta lớn hơn hẳn lại có sự chi viện mạnh của pháo binh, ở xa hậu phương nếu kéo dài sẽ gặp khó khăn về tiếp tế, phải đánh nhanh đề phòng sự leo thang can thiệp của Mỹ… Nên lúc đầu đã từng đề ra quyết định “Đánh nhanh thắng nhanh”.

    Quyết tâm rất cao, nhất trí từ trên xuống dưới, gần như không ai có ý kiến khác và trên chiến trường thì pháo đã kéo vào trận địa, quân đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Chuyên gia của bạn cũng nhất trí từ đầu. Dự kiến sẽ đánh trong 3 đêm 2 ngày.
    Chính vào thời điểm ấy, như một linh cảm, hay đúng hơn là kết quả của một quá trình suy nghĩ theo theo tư tưởng đánh chắc, thắng chắc, theo lời dặn của Bác: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”, tôi đã cho đi sâu theo dõi thực tiễn tình hình địch, đánh giá cho đúng mọi vấn đề trước giờ nổ súng. Mặc dù, như mọi lần vào trước trận đánh, tôi còn có thới quen yêu cầu mọi người phát biểu cho hết những khó khăn của mình, nhưng lần này tất cả đều nhất trí với cách đánh nhanh. Đảng ủy mặt trận họp cũng quyết định như vậy, mà Bác và Trung ương thì lại ở xa.

    Tôi yêu cầu anh em quân báo ở Cục 2 trinh sát kiểm tra lại tình hình thì được biết: địch có chiều hướng đổ quân thêm càng đông, công sự và hệ thống phòng ngự xây ngày càng kiên cố. Những động thái của địch cần được đánh giá lại. Thí dụ trước đó thấy địch càn quét đốt phá một số bản làng chỉ cho rằng nó khủng bố nhân dân, sau theo dõi mới biết chúng lấy gỗ, đá về củng cố công sự…

    Phân tích lại thì thấy, đến lúc này mà ta thực hiện chủ trương đánh 3 đêm 2 ngày thì cánh quân của ta từ hướng tây vượt qua cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng chẳng khác gì phơi mình cho hỏa lực của địch gây thương vong. Ở Điện Biên Phủ, địch có hỏa lực rất mạnh về pháo binh, xe tăng, lại được tăng cường bằng không quân. Lực lượng pháo binh của ta lần đầu ra quân với quy mô lớn hợp đồng tác chiến với bộ binh trên toàn chiến trường, sau một nỗ lực phi thường và rất gian khổ đã đưa được một bộ phận quân pháo vào trận địa sẵn sàng tác chiến. Đồng chí Phạm Kiệt đi sát pháo binh bằng điện thoại đã cho biết lúc này pháo vẫn phơi mình trên mặt đất, chỉ kịp làm công sự dã chiến ban ngày địch mà phát hiện thì thật nguy hiểm.

    Cũng qua đường dây điện thoại, tôi kiểm tra lại cánh quân của anh Lê Trọng Tấn đánh từ phía bắc đánh xuống. Anh Tấn là một tướng đánh giỏi, từng trải, đã trả lời rằng: Nếu thực hiện cách đánh nhanh, quân của anh phải đột phá liên tục qua ba phòng tuyến, rất khó khăn nhưng sẽ cố gắng…

    Tổng hợp lại tình hình, tôi thấy rằng quan trọng của chiến sĩ ta rất cao nhưng nếu đánh nhanh thắng nhanh thì tổn thất sẽ rất lớn, chắc chắn sẽ thất bại… Ta đã xây dựng các đại đoàn từ trước khi mở thông biên giới (1950), nhưng kinh nghiệm đánh thì mới chỉ tiêu diệt cỡ tiểu đoàn địch phòng ngự trong công sự, chưa lần nào đánh lớn như Điện Biên Phủ, cũng lại là lần đầu hợp đồng tác chiến lớn với pháo binh mà chưa từng lâm trận…

    Những ý nghĩa ấy khiến tôi đi đến quyết định thay đổi cách đánh gần như vào giờ chót. Lúc đầu ta đã quyết định giờ N là 17 giờ ngày 25 tháng 1 năm 1954, sua đó do có một chiến sĩ ta bị bắt nên quyết định lùi lại 24 tiếng. Và, trong buổi sáng của ngày nổ súng, tôi đã đưa vấn đề ra Đảng ủy, đi đến quyết định hoãn cuộc tiến công, lui quân ra và chuyển sang cách đắng chắc - thắng chắc… Và thực tế đã chứng minh đó là một quyết định đúng đắn và kịp thời.

    Về quyết định này, tôi đã viết khá kỹ trong bài “Quyết định khó khăn nhất” đăng trong báo Nhân dân tháng 5 năm 1989 và vừa rồi đăng lại dưới nhan đề “Mùa xuân Điện Biên Phủ” trên Tạp chí Lịch sử Quân sự 2 số đầu năm nay, nhưng ở đây tôi nuốn nhắc lại một lần nữa rằng, bài học sâu sắc đối với tôi qua quyết định này chính là làm sao có thể phát huy được cao nhất trí tuệ và sức sáng tạo của con người vào những thời điểm quyết định. Nhớ lại cái không khí “Dân chủ nôi bộ” khi đó, ta thấy rất quý cái quyết tâm, sự nhất trí của mọi người, nhưng rõ ràng nếu chưa trình bày hết thực chất của vấn đề, chưa tạo được không khí dẫu chưa đánh thức tính chủ động, bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm của mỗi người thì sự nhất trí ấy, quyết tâm ấy có thể trở thành “duy ý chí”, hay chỉ là sự nhất trí không có cơ sở của cấp dưới với ý kiến đề xuất của cấp trên. Ngay sau khi có quyết định thay đổi cách đánh, tôi xin ý kiến của Bác và anh Trường Chinh. Cũng như sự tin cậy của Trung ương đã giao phó trước khi vào chiến dịch, tôi đã nhận được sự ủng hộ hoàn toàn. Còn khi tôi ra lệnh cho các đơn vị: Đình chỉ nổ súng, kéo pháo ra, Đại đoàn 308 lập tức hành quân nghi binh sang Lào… thì sự đáp lại không chỉ là sự chấp hành tuyệt đối mệnh lệnh cấp trên mà phần nào còn là sự giải tỏa những băn khoăn mà cấp dưới chưa dám nói ra… Sau khi tôi hỏi anh Phạm Ngọc Mậu nghĩ gì khi được lệnh rút pháo khỏi trận địa, anh cười và nói rằng: “Được lời như cởi tấm lòng”… Nhiều anh em khác sau này cũng tâm sự như vậy. Nhưng không phải như hồi kỷ niệm 30 năm, có người nói rằng ngay từ khi đưa ra cách đánh nhanh thắng nhanh, “nhiều người đã thắc mắc”. Cần nhắc lại rằng ngay trong buổi họp Đảng ủy cuối cùng để quyết định thay đổi cách đánh, chi khi đặt vấn đề: “Đánh nhanh có chắc thắng 100% không?” thì mọi người nhất trí và đi đến quyết định cuối cùng.

    Và như thế, từ ý định đánh 3 đêm 2 ngày cuối cùng Điện Biên Phủ đã diễn ra trong 55 ngày vả đêm. Để thực hiện phương châm này ta cũng phải khắc phục vô vàn khó khăn, ví dụ như hậu cần: Phải đưa vũ khí, lương thực cung cấp cho hàng vạn chiến sĩ ở một vùng rừng núi xa hậu phương tới từ 5 đến 7 trăm cây số. Đồng bào Mông ở vùng cao dùng ngựa đưa lương thực xuống, đồng bào Sơn La chắt chiu chia sẻ bữa ăn hàng ngày của mình, đồng bào khắp các địa phương từ Nghệ An trở ra bằng mọi phương tiện đưa lên. Có lúc biểu đồ theo dõi dự trữ hậu cần tụt sát số không, Bác đã ra chỉ thị tất cả các đồng chí Trung ương tỏa đi khắp nơi để lo chi viện cho chiến trường. Về vũ khí đạn dược, càng về sau ta càng khai thác được nhiều quân dụng của địch từ máy bay thả xuống trận địa ta. Trong khi đó, ngược lại hậu cần của địch ngày càng kiệt quệ vì vòng vây ta thắt càng chặt. Mùa mưa sắp đến, chiến sĩ ta càng gian khổ, nhưng khó khăn của địch cũng lại tăng lên gấp bội. Cho đến lúc vòng vây của ta đã dồn địch vào một trận địa khoảng 1 cây số và 800m, giao thông hào của ta cắt ngang sân bay thì ưu thế của ta tăng lên theo cấp số nhân, một viên đạn cối hiệu quả như pháo lớn, mọi thứ súng tập trung bắn thẳng khiến địch thực sự ở trong địa ngục… Như thế là rõ ràng có nhiều yếu tố quyết định chiến thắng trên chiến trường nhưng yếu tố cơ bản nhất là phải biết chác đánh cho phù hợp với thực tế, quy luật vận động, cục diện chiến trường và nắm chắc thời cơ.

    Sau này, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là trong giai đoạn quyết định vào Mùa Xuân 1975, bài học biết vận dụng quy luật và thòi cơ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ở Điện Biên Phủ, ta đã chuyển ý đồ đánh nhanh trong 3 đêm 2 ngày thành một trận tiến công và bao vây 55 ngày đêm và đánh giành toàn thắng. Mùa Xuân 1975 ta đã đề ra kế hoạch kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ trong vòng 2 hoặc 3 năm, hậu cần phải chuẩn bị trong một năm rưỡi. Nhưng khi chiến sự diễn ra tấn công thắng lợi Buôn Ma Thuột, tiếp đó tiêu diệt phần lớn quân địch rút chạy từ Pleiku thì cục diện đã thay đổi. Chúng tôi đề ra với Bộ Chính trị cần dứt điểm trong năm 1975. Và ngày 26-3, Bộ Chính trị họp trong lúc địch cố thủ ở Đà Nẵng và cánh quân của các anh Lê Trọng Tấn và Chu Huy Mân cũng đang tiến tới đó. Địch ở Đà Nẵng đang bị tiêu diệt. Chính trong bối cảnh như thế, tôi đã đưa ra phương châm, cũng là khẩu hiệu: “Thần tốc, Táo bạo, Bất ngờ, Chắc thắng” và rút thời gian xuống trước mùa mưa. Ngày 29-3 ta giải phóng Đà Nẵng. Và với phương châm “Thần tốc, Thần tốc hơn nữa” và quyết tâm của quân dân cả nước, ta đã toàn thắng ngày 30-4-1975. Như vậy từ ý định 2,3 năm cuối cùng thắng lợi hoàn toàn của chúng ta được thực hiện trong vòng 2 tháng. Ở đây, tôi cũng muốn nhắc lại rằng nắm được thơi cơ, quyết tâm thực hiện được mục tiêu cuối cùng với tinh thần quyết chiến quyết thắng phải trên cơ sở một tư tưởng đúng đắn và xuyên sốt cả một quá tình tích lũy kinh nghiệm và theo dõi phân tích những thay đổi mau lẹ trhên chiến trường, phát hiện cái mới, phát hiện quy luật và hành động theo quy luật.

    Từ Pác Bó thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám, Bác đã vạch trước con đường Nam tiến từ Cao Bằng đến Thái Nguyên, tiếp đó là cuộc Nam tiến khi kháng chiến bùng nổ. Như vậy con đường Hồ Chí Minh bắt nguồn từ Pác Bó, phát triển thành con đường Hồ Chí Minh trong chống Mỹ, góp phần để kết thúc thắng lợi hoàn toàn cho sự nghiệp độc lập, tự do và thống nhất đất nước của dân tộc.

    Tôi cũng muốn nhắc lại nời nói của Người rằng nước nhà có độc lập mà nhân dân không được hưởng hạnh phúc thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì. Chúng ta đang đi trên con đường làm cho nền độc lập dân tộc càng ngày càng có ý nghĩa. Đó là con đường đổi mới, con đường xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và hạnh phúc.

    Trên con đường ấy đương nhiên không ít gian nan, thử thách. Để đi tới đích, chúng ta phải tiếp tục học hỏi những bài học lịch sử từ trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của ông cha, trong lịch sử hơn nửa thế kỷ cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, trong đó có những bài học quý báu của Cách mạng Tháng Tám 1945, của Điện Biên Phủ 1954 và của Tổng tiến công Mùa Xuân 1975. Có quyết tâm cao, biết nắm thời cơ, đi vào thực tiễn, phát hiện quy luật và hành động theo quy luật, có tinh thần tự lực tự cường, kiên định con đường phấn đấu vì sự nghiệp chính nghĩa… Những bài học ây đã giúp ta chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm xưa, nay cũng đang giúp ta thực hiện thành công bước đầu công cuộc đổi mới.

    Tôi nghĩ rằng một trong những nội dung chống “diễn biến hòa hình” của kẻ thù chính là làm sao cho mọi người chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ không được quên quá khứ vinh quang của dân tộc, những bài học quý giá mang tính thời sự nóng hổi của lịch sử, những chiến công hiển hách và thành tựu to lớn của cha ông đã được trả bằng mồ hôi và xương máu.

    Chính vì thế, vai trò của sử học là rất quan trọng, tôi hy vọng nhiều đồng chí đã từng đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của Đảng trong đó có lớp những chiến sĩ Điện Biên Phủ hãy cùng nhau góp phần viết lại những trang sử đã qua để cho các thế hệ cùng nhau học hỏi và tiếp tục đóng góp vào sự phát triển trường tồn của dân tộc. tôi cũng mong và tin rằng, kế tục và phát triển truyền thống quý giá vẻ vang ấy, thế hệ trẻ sẽ làm nên những Điện Biên Phủ mới của nước nhà.

    Điện Biên Phủ xưa - nay và mãi mãi như vậy.

    26-4-1994

    (1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 2, tháng 3 năm 1994, tr.6-9.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    TẾT MẬU THÂN - TRẬN QUYẾT CHIẾN
    CHIẾN LƯỢC LỊCH SỬ(1)

    Cách đây 30 năm, đúng vào lúc giao thừa Tết Mậu Thân, hưởng ứng hiệu lệnh của Bộ Thống soái tối cao đứng đầu là Bác Hồ kính yêu, toàn quân và toàn dân ta ở miền Nam đã mở cuộc tổng tấn công và nổi dậy mà lúc bấy giờ đề ra là tổng công kích - tổng khởi nghĩa, đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố lớn, đặc biệt là Sài Gòn và Huế, các thị xã, thị trấn, chi khu, quận lỵ, vào các sân bay và căn cứ hậu cần của Mỹ, trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam.

    Cuộc tiến công táo bạo và bất ngờ đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực cấp cao của Mỹ - ngụy, đánh chiếm những mục tiêu hiểm yếu như Đài Phát thanh, Tòa Đại sứ Mỹ, đánh vào Bộ Tổng Tham mưu, Tổng Nha cảnh sát ngụy ở Sài Gòn, đánh vào nội thành và làm chủ trong một thời gian dài cố đô Huế, phá hủy một khối lượng quan trọng các phương tiện chiến tranh và cơ sở hậu cần hiện đạy nhất của Mỹ - ngụy.

    Bất ngờ về thời gian: lúc giao thừa.

    Bất ngờ về mục tiêu: các đô thị và các căn cứ quan trọng.

    Bất ngờ về quy mô: không phải đánh vào vài chục điểm nhỏ như phán đoán của tình báo địch, mà đánh đồng loạt, trên khắp chiến trường miền Nam.

    Cuộc Tổng tiến công đã diễn ra trong tình hình địch đã leo thang đến đỉnh cao: trên 50 vạn quân đội viễn chinh Mỹ và chư hầu, cùng với đội quân được hiện đại hóa của ngụy, tất cả là 1 triệu 20 vạn quân; và trong khi tướng Oétmôlen đang chuẩn bị đợt tấn công thứ ba sau những trận tiến công thất bại của quân đội Mỹ trong hai mùa khô qua, trước mắt thì đang khẩn trương cứu nguy cho căn cứ Khe Sanh, ở đó 2/5 lực lượng chiến đấu Mỹ đã bị ta vây hãm và tiến đánh trong một cuộc nghi binh tài giỏi nhằm đánh lạc hướng quân địch.

    Như nhận định của một nhà lịch sử quân sự Mỹ, cuộc tấn công đã gây cho Mỹ một cú “choáng đột ngột”, đã làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến dự định của Mỹ. Nó đã làm rung chuyển không những toàn bộ chiến trường miền Nam mà còn làm rung chuyển Lầu Năm Góc và cả nước Mỹ. Cuộc tổng tấn công đã đưa cảnh tượng chiến tranh vào mỗi gia đình Mỹ, vào Quốc hội Mỹ. Trong phút chốc, nhân dân Mỹ bừng tỉnh, thấy nước Mỹ đang lao vào một cuộc chiến tranh đẫm máu, đang lún sâu vào đường hầm không có lối thoát; cao trào chống chiến tranh ở Mỹ lan rộng và lên cao chưa từng có. Té ra những câu chuyện “chiến thắng ở Việt Nam” mà Lầu Năm Góc thường tung ra đều là những điều dối trá. Cả thế giới theo dõi, khâm phục ý chí giành độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, phong trào ủng hộ nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của Mỹ phát triển mạnh.

    Thắng lợi quan trọng nhất của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân là đã làm lay chuyển ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Tổng thống Giônxơn phải xuống thang chiến tranh, chịu ngồi lại đàm phán với ta ở Pari, thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Giônxơn thôi không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ hai.

    Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu thân về cơ bản đã đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, mở ra khả năng cho ta thực hiện chiến lược “đánh cho Mỹ cút”, để tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, giành lại độc lập thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc Việt Nam.

    Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân có được những kỳ tích ấy là do cả nột quá trình đấu tranh của đồng bào và chiến sĩ trên cả hai miền Nam - Bắc, do ta đã có một kế hoạch chuẩn bị gian khổ, kiên trì và mưu trí trên chiến trường miền Nam trong nhiều tháng, có nơi hàng năm như ở Sài Gòn, Huế… Do vậy khi nỏ súng tấn công thì các lực lượng tinh nhuệ của ta đã ém sẵn ở các vị trí hiểm yếu của địch, ở hầu khắp các vùng nội thành.

    Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân thật là to lớn. Song, trong khi đánh giá cao thắng lợi, tại cuộc hội thảo khoa học này, chúng ta không thể không nói đến một số khuyết điểm, mà sau này Trung ương Đảng ta cũng đã nêu rõ. Do nhận thức và đánh giá chưa thật sát đúng tình hình, nên lúc đầu ta đã đề ra chủ trương tổng khởi nghĩa ngay trong lúc chiến tranh đang diểna quyết liệt, địch còn khá mạnh là không thực tế; cuộc tổng không khởi nghĩa đã không diễn ra. Ta đã kéo dài cuộc tổng tiến công vào các đô thị trong khi yếu tố bất ngờ không còn, địch đã củng cố. ta đã chậm chuyển hướng về nông thôn rộng lớn, ở đó một thời gian quân địch hầu như bị tan vỡ từng mảng, trước những cuộc nổi dậy của nhân dân. Khuyết điểm, sai lầm ấy đã gây cho ta những tổn thất và khó khăn về sau.

    Tổ quốc mãi mãi ghi nhớ tấm gương nghĩa liệt của biết bao anh hùng liệt sĩ, của bộ đội biệt động và đặc công, bộ đội chủ lực, địa phương và du kích, của các cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng, của đồng bào yêu nước đã có công lớn tham gia chiến đấu và nổi dậy, hưởng ứng và ủng hộ cuộc tổng tiến công để cho chúng ta giành được thắng lợi to lớn nói trên.

    Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đánh dấu một bước phát triển mới trong học thuyết và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Lần đầu tiên, ta đã tổ chức và phát động một cuộc tấn công đồng loạt trên khắp chiến trường rộng lớn và các sào huyệt của địch mà vẫn giữ được bất ngờ đến giờ nổ súng.

    Bài học lớn là: biết dựa vào dân, biết kết hợp chủ nghĩa anh hùng cách mạng vô song của nhân dân Việt Nam với trí tuệ sáng tạo Việt Nam, từ Bộ thống soái tối cao cho đến đông đảo quần chúng, thì sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam trở nên một sức mạnh vô tận, có thể làm nên những chiến công hiển hách, những kỳ tích phi thường, tưởng chừng như không thể làm được.

    Diễn biến cuộc Tổng tiến công còn cho thấy: trong chiến tranh, thực tiễn địch ta biến chuyển mau lẹ, biết địch biết ta không những lúc đầu mà phải bám sát tình hình trong cả quá trình chuyển biến. Xuất phát từ thực tiễn luôn luôn vận động, với tinh thần tích cực, chỉ động và cơ động, linh hoạt, tìm ra quy luật, kịp thời điều chỉnh chủ trương cho sát đúng, luôn hành động đúng quy luật thì nhất định tránh được khuyết điểm, giành được thắng lợi to lớn hơn, trọn vẹn hơn.

    Ngày nay, trong quá tình xây dựng, những bài học kinh nghiệm của trận quyết chiến chiến lược Mậu Thân vẫn còn có giá trị lớn.

    Chúng ta hãy đem tinh thần cách mạng tiến công của Tết Mậu Thân vào công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

    Hãy luôn phát huy ý chí và quyết tâm cao, phối hợp với trí tuệ sáng tạo tuyệt vời của con người Việt Nam trong cuộc chiến đấu mới chống nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân lao động, cho toàn dân.

    Hãy luôn xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, dựa vào dân, tin tưởng ở dân, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, kịp thời đề ra những bước đi, những quyết sách phù hợp với quy luật của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam ta nhất định vượt qua mọi thử thách, tranh thủ mọi vận hội, tiến lên giành thắng lợi ngày càng to lớn, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, đáp ứng lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu.

    (1) Tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hội thảo Khoa học “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968” do Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12-3-1998. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 49, háng 3 năm 1998, tr.7-8.

    ================================================== ========================

    TỔNG HÀNH DINH
    NGÀY 30-4-1975(1)

    Lời Toàn soạn: Vào dịp kỷ niệm 25 năm ngày Giải phóng miền Nam (1975-2000), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sẽ cho ra mắt bạn đọc cuốn hồi ức: “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

    Nhân toàn bộ cuốn hồi ức được phát hành, được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi xin trích một đoạn trong chương IX mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, đoạn viết về những động thái diễn ra tại Tổng hành dinh trong ngày 30-4-1975.

    Ngày 30-4-1975.

    Gần ba mươi năm qua, mà ngày lịch sử ấy vẫn hiện lên đậm nét trong ký ức, như mới hôm nào.

    “Nhà con rồng” hôm nay hình như rạng rỡ hơn trong gió xuân ấm áp. Ngôi nhà cũ, thềm sân rộng và cả bốn con rồng đá chầu ở bậc lên xuống như tươi tắn hơn mọi ngày. Những cây ngọc lan tán lá sum suê, toả hương thơm ngát.

    Sớm hơn thường lệ, tôi ngồi vào bàn làm việc ở Sở chỉ huy. Trên tấm bản đồ ở mặt bàn, các mũi tên đỏ đã tiến vào trung tâm thành phố. Tôi phác hoạ trong đầu một chương trình cho ngày hôm ấy, với bao nhiêu công việc phái làm: hội ý Bộ Chính trị, nắm thêm phản ứng của Mỹ, dự kiến các hoạt động quân sự, chính trị trong trường hợp chưa dứt điểm được ngay, chỉ đạo tác chiến và nổi dậy ở phần đất còn lại sau khi Sài Gòn giải phóng, điện động viên bộ đội, nhắc nhở chấp hành nghiêm các chính sách vào thành.

    Bất giác, tôi nhớ lại ngày toàn thắng ở Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954. Lẽ tất nhiên ở đây có rất nhiều điểm khác. Thế nhưng, cũng cái không khí phấn khởi sôi nổi ở Sở chỉ huy, cũng những giờ phút nao nức đón tin vui từ phía trước điện về, những suy nghĩ về công việc ở cuối và sau chiến dịch. Và nhất là cũng cái cảm giác lâng lâng khó tả, vừa khẩn trương, sôi nổi, vừa đàng hoàng, chủ động, vừa lo lắng chờ đợi, vừa vui sướng, tự hào, lúc này không còn là của riêng ai trong ngày toàn thắng của dân tộc.

    Anh Ba, anh Trường Chinh, anh Đồng cũng đến đây sớm hơn thường lệ. Các anh khác trong Bộ Chính trị lần lượt đến sau, đông đủ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp theo dõi tình hình chiến trường Sài Gòn - Gia Định, thảo luận công việc và đón tin toàn thắng. Anh Cao Văn Khánh, trực ban ngày hôm ấy, túc trực tại phòng tác chiến, chốc chốc lại sang báo cáo tình hình mới nhất. Các mũi tiến công của quân ta phát triển rất nhanh về hướng trung tâm thành phố. Mục tiêu cuối cùng của chiến dịch đã tới gần, chỉ còn tính từng giờ. Tin đến thường cắt ngang cuộc họp, đang phát biểu phải dừng lại giữa chừng, nhưng mọi người đều vui vẻ chấp nhận.

    Anh Khánh báo cáo: Đại sứ Mỹ Matin chuồn khỏi Sài Gòn lúc 4 giờ 15 phút sáng. Hy vọng của ông ta thoả hiệp, đàm phán với “Việt cộng” tan vỡ như bọt xà phòng.

    Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn II trong cánh quân phía đông của anh Lê Trọng Tấn đang vượt cầu xa lộ trên sông Đồng Nai, diệt ổ đề kháng của địch ở Thủ Đức phía bắc cầu Rạch Chiếc. Trận địa pháo của ta ở Nhơn Trạch đã bắn hơn 300 viên đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Các đơn vị đầu tiên đang tiến từ cầu Tân Cảng vào Sài Gòn. Quân đoàn IV tiến về Hố Nai. Địch liều mạng chống giữ. Ta tiêu diệt Hố Nai, đang tiến công sở chỉ huy Quân đoàn III nguỵ, chuẩn bị tiến vào nội đô.

    Sư đoàn 10 Quân đoàn III đang tiến vào ngã tư Bảy Hiền.

    Quân đoàn I đánh vào Lai Khê, phú Lộc, Lái Thiêu, đang tiến vào Gò Vấp; một cánh quân khác đánh địch từ cầu Bình Phước đến cầu Bình Triệu.

    Đoàn 232 đang tiến về hướng Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát nguỵ.

    Trên đường số 4, quân ta đã chiếm Thủ Thừa, thị xã Tân An.

    Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 Gia Định áp sát bắc sân bay Tân Sơn Nhất, mở hành lang vào ngã tư Bảy Hiền. Bộ đội đặc công chiếm giữ cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ Biên Hoà.

    Lực lượng vũ trang Biên Hòa phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng Nhơn Trạch. Thành Tuy Hạ.

    Ở vùng ven đô và nội đô, nhân dân nổi dậy phối hợp với bộ đội tiến công địch. Ở nhiều quận, nhiều phường xóm, đồng bào vùng lên chiếm đồn bốt địch, trụ sở nguỵ quyền. Cờ cách mạng đã tung bay ở phường Tây Nhì, quận Phú Nhuận từ trưa ngày 29-4.

    Một cảnh tượng điển hình của chiến tranh nhân dân Việt Nam diễn ra hết sức hào hùng. Tiến công kết hợp với nổi dậy. Quân sự, chính trị, binh vận giáp công. Sức mạnh tổng hợp của cách mạng áp đảo nguỵ quân, nguỵ quyền đang tan rã.

    Trên hướng đồng bằng sông Cửu Long, các lực lượng vũ trang ta đã ém sẵn quanh các mục tiêu quan trọng. Ở Bạc Liêu, quân ta đã vào thị xã. Ở Sóc Trăng, ta đang tiến công thị xã và sân bay.
    Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trao đổi về những công việc cấp thiết. Thay mặt Bộ Chính trị, tôi điện vào chiến trường: … “ủy ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh mệnh lệnh đầu tiên. Nội dung:

    a) Quân giải phóng tiến vào để giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định, hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam.

    b) Quân đội nguỵ quyền Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khí đầu hàng.

    c) Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp.

    d) Kêu gọi đồng bào đứng dậy, cùng Quân giải phóng đập tan mọi sự chống cự của địch, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài san của nhân dân, hoàn thành công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam thân yêu”.

    Vừa theo dõi tin kỹ thuật của Cục 2, tôi vừa liên lạc bằng vô tuyến điện thoại tiếp sức với Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh. Các cánh quân của ta đang tiến rất nhanh. Địch đang trong tình trạng vô cùng nguy khốn.

    10 giờ sáng. Đồng chí Nguyễn Thanh, trưởng phòng 70 vào báo cáo tin vừa nhận được: Theo Đài phát thanh Nhật Bản, Quân giải phóng miền Nam có xe tăng dẫn đầu đang tiến vào Sài Gòn. Mấy phút sau, có tin thêm: Dương Văn Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng.

    Mọi người cùng nói: “Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Còn gì đâu mà thương lượng?!”.

    Tôi viết ngay một bức điện, lệnh cho các cánh quân tiếp tục tiến công. Nội dung bức điện được đọc lên, tất cả đều nhất trí. Cùng lúc đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh cũng điện cho các quân đoàn và đoàn 232 không vì có tin ấy mà dừng lại.

    10 giờ 50 phút. Cục 2 báo cáo quân ta đã vào dinh Tổng thống nguỵ. Ngay sau đó, các đài phát thanh phương Tây cũng đưa tin này.

    11 giờ 30 phút. Đồng chí Nguyễn Duy Phê, Cục phó Cục cơ yếu mang vào phòng họp một bức điện của anh Lê Trọng Tấn báo cáo: một đơn vị thuộc cánh quân phía đông đã cắm cờ lên dinh Độc Lập.

    Mọi người vây quanh tấm bản đồ chiến sự. Tin từ các hướng tới tấp điện về. Năm cánh quân của ta hợp điểm giữa Sài Còn. Quân đoàn II chiếm dinh Tổng thống; Quân đoàn IV chiếm Bộ Quốc phòng, cảng Bạch Đằng và Đài phát thanh; Quân đoàn I chiếm Bộ Tổng Tham mưu và khu vực các bộ tư lệnh các binh chủng; Quân đoàn III chiếm sân bay Tân Sơn Nhất; Đoàn 232 chiếm Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát. Kế hoạch tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành thắng lợi.

    Trong không khí hân hoan, hội nghị sôi nổi trao đổi về những biện pháp cuối cùng. Tôi điện ngay vào chiến trường thông báo ý kiến của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: “… Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách Tổng thống mà với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân. Đã nhận tin ta cắm cờ lên dinh Độc Lập lúc 11 giờ. Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui”

    Bức điện gửi đi lúc 12 giờ 25 phút.

    Hội nghị ngừng họp.

    Các đồng chí lãnh đạo ra cả ngoài hành lang. Tiếng cười nói rộn ràng, vui vẻ. Phấn khởi, nghẹn ngào, xúc động đến trào nước mắt.

    Anh Ba, các anh trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ai nấy đều nhớ đến Bác Hồ. Ước mơ nước nhà độc lập, thống nhất mà Bác hằng mong đã thành sự thật, nhưng Người đã đi xa! Đồng bào, chiến sĩ miền Nam không còn được đón Bác vào thăm. Mọi người nghĩ đến biết bao đồng chí, đồng đội, đồng bào đã ngã xuống, không được thấy giờ phút khải hoàn. Ngay trong chiến dịch cuối cùng, bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ đã vĩnh viễn ra đi trước ngày toàn thắng.
    Tôi chỉ thị cho Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị điện ngay cho Việt Nam Thông tấn xã và Đài Tiếng nói Việt Nam kịp thời truyền tin thắng lợi, và chuẩn bị viết thông cáo chiến thắng. Chỉ mười lăm phút sau, đài đã ngừng buổi phát thanh thường lệ, phát đi phát lại những dòng tin phấn khởi mà muôn vạn con tim Việt Nam đón đợi: chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Lẫn vào tiếng loa phóng thanh, tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng vang dậy khắp phố phường.

    12 giờ 50 phút.

    Tại Sở chỉ huy, có mặt Thiếu tướng Cao Văn Khánh, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Đại tá Lê Hữu Đức, Cục trưởng Cục tác chiến, Đại tá Nguyễn Trọng Yên và Thượng tá Phạm Chí Nhân, Cục trưởng và Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn. Không ai chú ý đến nghỉ ngơi, cơm nước. Được sống trong giờ phút lịch sử của dân tộc, ai cũng muốn được ghi lại hình ảnh kỷ niệm vô giá này Trước tấm bản đồ thành phố Sài Gòn - Gia Định, mọi người đứng dậy, chăm chú nhìn theo hướng tay tôi chỉ. Thượng uý Nguyễn Tiến Trỗ, cán bộ bảo vệ thường xuyên đi với tôi, nhà nhiếp ảnh nghiệp dư với chiếc máy ảnh hiệu Kiép, đã bấm liền ba kiểu ở góc độ thích hợp nhất.

    Buổi chiều, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tiếp tục họp.

    Mở đầu, Hội nghị nghe qua dây ghi âm tiếng nói đầu hàng của Tổng thống nguỵ Dương Văn Minh: “Tôi là Dương Văn Minh, Tổng thống của chính quyền Sài Gòn. Tôi kêu gọi bỏ vũ khí đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng, giải tán cơ cấu chính quyền từ trung ương đến địa phương và giao quyền cho Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”.

    Tiếp đó là đại biểu Quân giải phóng chấp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh.

    Hội nghị tiếp tục thảo luận về công việc sắp tới và nêu lên những vấn đề sẽ bàn trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 3-5, chuẩn bị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị toàn thể.

    Gần cuối buổi họp, mọi người nghe đọc hai bức điện của các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng vừa nhận được, trong đó các anh nói rõ: Dương Văn Minh đã đầu hàng, các cánh quân của ta tiếp tục phát triển theo kế hoạch. Ta kêu gọi quân địch nộp vũ khí… Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sôi sục nổi dậy, lật đổ nguỵ quyền, lập chính quyền cách mạng.

    Hội nghị nhất trí gửi ra phía trước bức điện khen: “… Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Sài Gòn - Gia Định, khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên thuộc các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội đặc biệt tinh nhuệ, dân quân tự vệ đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập chiến công chói lọi, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc nguỵ quyền Sài Gòn phải đầu hàng không điều kiện, giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định, đưa chiến dịch mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng.

    Toàn thể các đồng chí hãy nêu cao tinh thần quyết thắng, cùng đồng bào tiếp tục tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu của Tổ quốc”(1).

    Các anh trong Bộ Chính trị ra về. Các đồng chí trong Thường trực Quân ủy ngồi lại trao đổi, chuẩn bị cho cuộc họp của Quân ủy Trung ương dự định tiến hành vào ngày 2-5. Tôi nhắc thêm một số công tác cần chú ý làm thật tốt, nhất là việc quản lý vùng mới giải phóng, đặc biệt các thành phố lớn, vừa xây dựng chính quyền cách mạng vừa truy quét tàn binh, bắt giữ bọn phản động đầu sỏ, giữ vững trật tự trị an, bảo vệ tài sản, tính mạng của dân và tài sản công cộng, ổn định đời sống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải là một cán bộ dân vận, biết phát động nhân dân cùng với bộ đội và các lực lượng cách mạng làm chủ địa bàn. Tôi cũng lưu ý Bộ Tổng Tham mưu giải quyết số quân địch ở đồng bằng sông Cửu Long và các đảo Côn Sơn, Phú Quốc, đón anh chị em tù chính trị trở về. Việc xây dựng và điều chỉnh lực lượng trong điều kiện đất nước thống nhất và số lượng rất lớn trang bị kỹ thuật của địch vừa thu được cũng phải khẩn trương nghiên cứu đề xuất với Bộ Chính trị và Quân ủy.
    Mặt trời đã khuất bóng sau rặng cây xà cừ trên đường Hoàng Diệu. Hà Nội đã lên đèn.

    Còn lại một mình trong phòng làm việc với niềm vui náo nức, mà sao nước mắt tôi cứ trào ra.

    “Giá như còn Bác…”.

    Tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Bác đã mang về thắng lợi trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Câu thơ xuân “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đã vạch đường đi nước bước để có thắng lợi hôm nay.

    Tôi lên xe đi một vòng quanh Hà Nội. Cả một rừng cờ hoa dậy lên tự lúc nào. Người đi chật phố, chật đường, vui như trảy hội. Đêm nay, Thủ đô đốt pháo hoa mừng toàn thắng. Đêm nay, Hà Nội, cả nước vui với Sài Gòn, vui với miền Nam.

    Trở lại cửa tây, tôi vào Sở chỉ huy tiếp tục làm việc.

    Hình ảnh các anh lãnh đạo, chỉ huy bộ đội ở chiến trường lúc này hiện về rõ nét. Chắc các anh đã nhiều đêm không ngủ. Chắc các anh cũng hân hoan, xúc động như chúng tôi ở ngoài này. Dưới sự chỉ huy của các anh, quân ta đã “tiến vào Sài Gòn!” ca vang câu hát: “Đồng bào ơi, ta đã về đây” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, như ngày nào bộ đội ta từ năm cửa ô tiến về giải phóng Thủ đô Hà Nội, ca vang bài hát của nhạc sĩ Văn Cao.

    Trong điện gửi anh Văn Tiến Dũng và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, thay mặt Quân ủy Trung ương, tôi tuyên dương công trạng các lực lượng vũ trang ta đã cùng đồng bào Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giành thắng lợi vang dội, làm nức lòng quân và dân cả nước và bè bạn năm châu.

    Một khuôn mặt trìu mến, thân quen chợt hiện lên trong tôi: Trung tướng Lê Trọng Tấn, người chỉ huy cánh quân đầu tiên tiến vào dinh Tổng thống nguỵ quyền. Tôi viết ngay một bức điện vượt ra ngoài khuôn phép thông thường về quân sự: “18 giờ 30 phút. Anh Tấn ơi! Làm ăn tốt quá! Phấn khởi quá! Chúc các anh rất khoẻ và chuyển lời mừng chiến thắng của mình cho các tướng trong đó. Ký tên: Văn”.

    Sau này được biết: Khi nghe báo cáo quân ta đã chiếm dinh Độc Lập, Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng, cả Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh reo mừng trong niềm vui chiến thắng. Không còn là chuyện bất ngờ mà ai nấy đều giàn giụa nước mắt, siết chặt tay nhau, phấn khởi, tự hào. Các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng xúc động ôm hôn mọi người. Anh Đinh Đức Thiện, vui tính là thế, mà giờ lại là người khóc ra tiếng to nhất. Anh Trần Văn Trà, đôi mắt đỏ hoe, nghẹn ngào sung sướng. Riêng anh Phạm Hùng, mở phanh chiếc áo bà ba, vừa cười to vừa bình luận sảng khoái, vừa ra lệnh chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn.

    Mấy ngày sau, tôi cùng anh Ba vào thăm miền Nam hoàn toàn giải phóng. Quên sao được niềm vui mừng phấn khởi khi đặt chân trở lại trên thành phố mang tên Bác, xúc cảm trước cảnh hân hoan mừng chiến thắng của đồng bào, đồng chí trên phố phường còn nguyên vẹn, tưởng như được đón Bác trở về từ nơi Người đã ra đi.

    Chúng tôi về thăm các cơ sở cách mạng ở Sài Gòn, Biên Hoà, Cần Thơ, Rạch Giá, những chiếc nôi đã nuôi dưỡng, chở che cho bao cán bộ kiên trung đi làm cách mạng không hẹn có ngày về. Vui mừng, xúc động, anh Ba giới thiệu các Ba, các Má đã nuôi anh những ngày hoạt động bí mật trong lòng địch. Trước cảnh cũ người xưa, tôi bồi hồi nhớ lại những lần vào Nam thực hiện các nhiệm vụ cách mạng được giao. Năm 1929, với tư cách phái viên của Tổng bộ Tân Việt và nhóm cộng sản trong Tân Việt, tôi đến Sài Gòn với nhiệm vụ chuyển kỳ bộ Tân Việt sang hàng ngũ cộng sản. Sau đó, năm 1935, tôi lại vào gặp nhóm đảng viên hoạt động nửa công khai, nhận tài liệu của Đông Dương Đại hội mang ra Hà Nội. Tìm đến các cơ sở cũ thì hầu hết đã không còn nữa. Nhiều ân nhân của cách mạng không còn được thấy ngày khải hoàn của dân tộc.

    Tiếp đó, tôi đến thăm các binh đoàn chủ lực, các đơn vị đặc công, biệt động, các đơn vị bộ đội địa phương. Những “Anh bộ đội Cụ Hồ” vừa làm nên kỳ tích, nhưng hết sức gian dị, thân tình. Tôi khen ngợi chiến công của cán bộ, chiến sĩ, lòng bùi ngùi thương tiếc bao đồng chí, đồng đội vừa ngã xuống để Tổ quốc trường tồn.

    Tôi cũng đã đến quan sát Bộ Tổng Tham mưu quân đội nguỵ. Tại phòng làm việc của Tổng Tham mưu trưởng, tôi chú ý đến tờ lịch ngày 28 tháng 4 còn bóc dở. Trong phòng triển lãm vũ khí, nhiều loại vũ khí trang bị hiện đại đều được trưng bày. Trên một tấm bản đồ Đông Dương chi chít những dấu chấm xanh, đỏ, đánh dấu những nơi mà vũ khí, trang bị điện tử phát hiện các căn cứ của ta, nhất là trên đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn. Cảm tưởng sâu sắc nhất của tôi là: vũ khí kỹ thuật Mỹ dù hiện đại đến đâu cũng không thể cứu kẻ thù khỏi thất bại. Quyết định thắng lợi là con người Việt Nam yêu nước, dũng cảm, thông minh.

    (2) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr.395.
    (1) Tiêu đề do Tạp chí Xưa & Nay đặt. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 74, tháng 4 năm 2000, tr.4-6. Nội dung bài này được trích theo cuốn sách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Sđd (B.T).

    ================================================== ===========================

    CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
    THẮNG LỢI VĨ ĐẠI, BÀI HỌC LỊCH SỬ(1)

    “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những chiến công chói lọi nhất, một biểu trưng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời đại sâu sắc”.

    Trong lịch sử chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã đối diện với những thách thức ghê gớm: một nghìn năm Bắc thuộc; một nghìn năm bảo vệ độc lập chống lại các triều đại phong kiến phương Bắc, đặc biệt là ba lần chống quân Nguyên - Mông - đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới trong thế kỷ XIII; gần một trăm năm chống ách thống trị thực dân và chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp và hai mươi mốt năm chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

    Cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc ta. Chúng ta đã phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm và hiếu chiến nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài qua năm đời tổng thống Mỹ với một tương quan lực lượng chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân ta về phương thức sản xuất và tiềm lực kinh tế quân sự.

    Việt Nam trở thành tiêu điểm của một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới, là nơi đọ sức điển hình giữa tiến bộ và phản động, giữa chính nghĩa và phi nghĩa trong cuộc đấu tranh của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy âm mưu can thiệp đen tối của Mỹ từ cuối cuộc chiến tranh Đông Dương. Để tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ Tơruman. Trên chiến trường Điện Biên Phủ còn chưa tan mùi thuốc súng, Người đã dặn “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu”, “Chúng ta còn phải đáy Mỹ!”.

    Tháng 7-1954, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu họp trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết mấy ngày, Đảng ta đã xác định: “Đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Trung ương”.

    Kế thừa những thành quả của cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dân tộc ta bước vào một cuộc kháng chiến chống Mỹ, trở thành hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam. Đội ngũ lãnh đạo Đảng và quân đội ta đã dày dạn kinh nghiệm chỉ đạo kháng chiến và chiến tranh cách mạng. Quân và dân ta trong cả nước đã trải qua thử thách và trưởng thành nhiều mặt sau 9 năm chống Mỹ trường kỳ.

    Bác Hồ và Đảng ta đã xác định đúng đắn đường lối cách mạng trong giai đoạn mới: tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai niềm nhằm mục tiêu chung là chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc; chỉ rõ mối quan hệ chiến lược giữa hai miền: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc để tạo sức mạnh giải phóng miền Nam, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam là để giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc; miền Bắc có vai trò quyết định nhất, miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp với sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. đó cũng là ý chí mọi người con Việt Nam: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi cói thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

    Đảng ta đã kết hợp và phát huy sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, xây dựng liên minh chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương, đoàn kết với các trào lưu cách mạng trên thế giới, với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, hình thành và phát triển một mặt trận rộng lớn của nhân loại yêu chuộc hòa bình và công lý trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống chiến tranh xâm lược.

    Bác Hồ và Đảng ta đã xây dựng cho toàn quân, toàn dân ta từ Nam chí Bắc “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, trên cơ sở truyền thống quật cường bất khuất, quyết thắng mọi kẻ thù xâm lược của dân tộc Việt Nam.

    Quyết đánh và biết đánh, anh dũng và thông minh, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và năng lực sáng tạo là bản lính và trí tuệ Việt Nam, là sức sống mãnh liệt của dân tộc để vượt qua thử thách lịch sử này.

    Quyết đánh và biết đánh là quá tình sáng tạo, sáng tạo của lãnh đạo và sáng tạo của quần chúng trên cơ sở đi vào thực tiễn chiến đấu, phát hiện và nắm vững quy lụật thực tiễn cách mạng và chiến tranh cách mạng, biết địch biết ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng thực tế hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch, tập trung đánh đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh, kiên trì giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi cuối cùng.

    Dưới ánh sáng “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn năm 1956, đặc biệt là Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng năm 1959, đồng bào miền Nam anh dũng đã tự lực vượt qua thời kỳ đen tối, vùng lên khởi nghĩa từng phần; làm tan rã bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở cơ sở, giành lại phần lớn nông thôn.

    Cao trào Đồng khởi vĩ đại đã đưa cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công, vô hiệu hóa chế độ thống trị độc tài thực dân kiểu mới do Mỹ dựng lên.

    Năm 1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời tập hợp ý chí và sức mạnh to lớn của mọi tầng lớn nhân dân vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng.

    Năm 1961, Bộ Chính trị quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh là Bí thư, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên toàn miền Nam, thúc đẩy cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới.

    Trước sự phát triển của cách mạng miền Nam, Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, một hình thức trong chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” dùng để đối phó lại trào lưu cách mạng trên thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

    Đánh bại “chiến tranh đặc biệt” là một quá trình phát triển sáng tạo từ đấu tranh chính trị, khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng. Với phương châm “Hai chân, ba mũi, ba vùng” tổng kết từ thực tiễn, quân và dân miền Nam đã đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, bẻ gãy các cuộc càn quét của quân ngụy, phá rã hệ thống ấp chiến lược, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận ở nông thôn và thành thị, từng bước phát triển đấu tranh vũ trang.

    Năm 1963, thắng lợi vang dội trong trận chống càn tại Ấp Bắc đã chứng minh khả năng đánh thắng quân ngụy có cố vấn Mỹ giúp bằng chiến tranh du kích. Các chiến dịch tiếp theo Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, tiêu diệt từng tiểu đoàn đến chiến đoàn quân ngụy đánh dấu sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ buộc phải thay đổi chế độ ngụy quyền, quyết định chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

    Năm 1965, bằng quyết định đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh tại một nưoi các Mỹ nửa vòng trái đất, tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” với sự tham chiến trực tiếp trên quy mô lướn của Lục quân, Hải quân và Không quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, phát động cuộc “chiến tranh phá hoại” ác liệt bằng không quân và hải quân ra miền Bắc Việt Nam, chính quyền Giônxơn đặt mục tiêu đầy tham vọng là đập tan ý chí giải phóng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, thiết lập tiền đồ thực dân mới và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á, chặn đứng phong trào giải phóng dân tộc trên quy mô toàn cầu.

    Cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỷ bắt đầu.

    Dân tộc ta đứng trước một thách thức chưa từng có trong lịch sử.

    Bác Hồ và Đảng ta đã đánh giá tình hình cục diện mới một một cách bình tĩnh, sáng suốt, tạo sự nhất trí cao độ trong toàn Đảng, toàn quân, toan dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

    Năm 1966, tại “Hội nghị Diên Hồng của thời đại Hồ Chí Minh”, tinh thần “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” của Cách mạng Tháng Tám “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của kháng chiến chống Pháp đã biến thành lời Hịch “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”.

    Trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt, hiểm nghèo, dân tộc ta đã tỏ rõ bản lính quyết đánh và biết đánh. Cả nước đánh Mỹ trong cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Đồng bào và chiến sĩ miền Nam “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Trên miền Bắc, quân dân ta “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, hậu phương lớn bảo đảm “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, các thế hệ nối tiếp nhau “xẻ dọc trường Sơn đi cứu nước”.

    Các trận đánh ở Núi Thành, Vạn Tường, Plâyme, Bầu Bàng là những cuộc đọ sức đầu tiên làm lộ những điểm yếu cụ thể của quân viễn chinh Mỹ. Trên miền Bắc, chúng ta đã đánh trả quyết liệt không quân và hải quân Mỹ, bắn rơi máy bay hiện đại, bắt sống phi công Mỹ. Dưới mưa bom bão đạn, sự chi viện chiến lược cho miền Nam vẫn được tăng cường từng ngày qua tuyến vận tải Trướng Sơn và những đoàn tàu không số trên biển Đông.

    Đế quốc Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một khối lượng bom đạn, vật chất kỹ thuật chưa từng có trên một địa bàn hẹp; sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại và dã man nhất trừ bom nguyên tử; đưa số quân Mỹ vào miền Nam lên tới hơn nửa triệu quân với một lực lượng lớn hải quân, không quân chiến lược, chiến thuật, 7 vạn rưỡi quân các nước theo Mỹ và hơn một triệu quân ngụy, một quân số kỷ lục cho cuộc chiến tranh cục bộ. Chính quyền Mỹ đã thực hiện mọi chiến lược, chiến thuật về chính trị, quân sự, ngoại giao, dùng những thủ đoạn chiến tranh tàn bạo nhất; bao vây phong tỏa, khủng bố toàn diện, tàn phá kinh tế, triệt hạ làng xóm và thành phố, tiêu diệt con người, hủy diệt môi trường thiên nhiên… Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã đưa ra các chiến lược gia, các tướng lĩnh bậc nhất của họ để đấu trí với ta.

    Trong tính toán chiến lược của đế quốc Mỹ, với sự huy động tiềm lực nhân lực và vật chất khổng lồ như vậy, sau hai hoặc ba mùa khô chúng sẽ đánh gãy xương sống quân chủ lực Việt cộng, tiêu diệt Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, tàn phá và phong tỏa miền Bắc, cắt đứt đường Hồ Chí Minh, găn chặn sự chi viện Bắc Nam, làm lung lay ý chí kháng chiến của chúng ta, áp đặt lại chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam.

    Trả qua hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 19t5-1966 và 1966-1967 với những cuộc hành quân lớn như Attenbôrô Gianxơnxiti và quân Mỹ không những không diệt được Quân giải phóng, không bắt được cơ quan đầu não kháng chiến, ngược lại phải chịu những tổn thất nặng nề.

    Trên mặt trận Tây Nguyên và Quảng Trị, chúng ta đã giành thắng lợi áp đảo trong những cuộc đối đầu quy mô và ác liệt giữa các đơn vị chủ lực ta và các sư đoàn chiến đấu tinh nhuệ của quân viễn chinh Mỹ, có ưu thế tuyệt đối về khả năng cơ động đường không, hỏa lực phi pháo và bảo đảm hậu cần. Trong các chiến dịch Sa Thầy năm 1966, Đăk Tô năm 1967, A Sầu - A Lưới năm 1969, ta đã hạn chế được chỗ mạnh của quân Mỹ trên chiến trường rừng núi, dụ địch vào bẫy chiến dịch, vận dụng chiến thuật “vận động tấn công kết hợp chốt” giáng cho địch những đòn tiêu diệt bất ngờ nhất. Đây là sự phát triển mới của chiến lược quân sự, của nghệ thuật chỉ huy chiến dịch, ”lấy ít thắng nhiều, lấ yếu thắng mạnh” trong chiến tranh hiện đại.

    Đến mùa khô thứ ba, khi Mỹ chưa kịp ra tay và tập trung chú ý vào căn cứ Khe Sanh đang bị vây hãm thì cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 nổ ra, đồng loạt đánh vào tất cả các đô thị miền Nam. Đây là đòn chiến lược bất ngờ làm rung chuyển toàn nước Mỹ. Tướng Mỹ Oétmôlen bị cách chức. Bộ trưởng Quốc phòng MácNamara từ chức. Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20, chấp nhận vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari,

    Cuộc tấn công Tết Mậu Thân là một sáng tạo quân sự độc đáo, tạo ra bước ngoặt cơ bản làm thay đổi cục diện chiến tranh, mở ra quá trình “xuống thang chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Chúng ta đã đánh bại một bước ý chí xâm lược của Mỹ trong lúc quân Mỹ đông nhất, mạnh nhất và những cố gắng chiến tranh cao nhất. Chiến lược “chiến tranh cục bộ” bị phá sản, chính quyền Mỹ phải phi Mỹ hóa” - “Việt Nam hóa chiến tranh”.

    Chống lại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là cuộc đọ sức dai dẳng và quyết liệt trong một giai đoạn rất khó khăn của cuộc kháng chiến. Địch dùng quân ngụy được hỏa lực Mỹ yểm trợ xâm lược Campuchia, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, tăng cường cố gắng “b́nh định” miền Nam, khủng bố ác liệt các cơ sở cách mạng bộc lộ trong tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Sát cánh cùng nhân dân hai nước Lào và Campuchia anh em, tăng cường sự chi viện từ miền Bắc vào Nam, chúng ta đã từng bước khôi phục lại cơ sở chiến tranh nhân dân ở những nơi bị suy yếu, giành lại chỗ đứng của quân chủ lực ở nhiều vùng nông thôn.

    Xuân năm 1969, trong thơ chúc mừng năm mới Bác Hồ có câu: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Người đã vạch ra quá trình chiến lược hai bước để tiến tới thắng lợi cuối cùng. Trong câu đầu tiên của Di chúc, Người khẳng định: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”.

    Quân và dân ta đã thực hiện trọng vẹn lời dạy của Bác. Sau khi cùng quân và dân Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Đường 9 - Nam Lào năm 1971, đầu năm 1972, chúng ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.

    Tháng 12-1972, quân dân ta đã đập tan cuộc tập kích ồ ạt bằng không quân chiến lược B52 của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng.

    Tháng 1-1973, chính quyền Níchxơn buộc phải ký Hiệp định Hòa binh Pari, rút hết quân Mỹ về nước trong khi quân chủ lực ta vẫn ở nguyên tại chỗ, tạo nên một sự thay đổi cơ bản về so sánh lực lượng có lợi cho ta trong 18 năm kháng chiến chống Mỹ.

    Trận quyết chiến chiến lược Mùa Xuân 1975 đánh dấu bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tổ chức và chỉ đạo những trận then chốt, đặc biệt là nghệ thuật điều hành chiến tranh ở giai đoạn cuối. Sau khi hoàn thành chuẩn bị chiến lược về thế và lực ở cả hai miền Nam - Bắc, chiến dịch giải phóng Tây Nguyên mở đầu bằng chiến thắng Buôn Mê Thuột đã tạo ra sự đột biến trong cuộc diện chiến tranh

    Nhạy bén nắm bắt thời cơ và chủ động tạo ra thời cơ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã liên tục bổ sung quyết tâm chiến lược theo nhịp độ thay đổi nhanh chóng của chiến tranh, thay đổi quyết sách từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong vòng hai năm sang kế hoạch thời cơ một năm. Và sau thắng lợi của chiến dịch Huế - Đà Nẵng, hạ quyết tâm cuối cùng giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975.

    Với khí thế “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được tiến hành với tinh thần quyết chiến và toàn thắng. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy sau 55 ngày đêm, với sức mạnh áp đảo về quân sự và chính trị, bằng ba đòn chiến lược then chốt và cuộc tấn công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long, hơn một triệu quân ngụy bị tiêu diệt và tan rã, cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Ngụy quyền sụp đổ. Những tên xâm lược Mỹ cuối cùng phải tháo chạy khỏi đất nước ta. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ la thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ huy ở tầm vĩ mô của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng, các Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh các chiến trường, Bộ Tư lệnh các chiến dịch và đường Trường Sơn… và thắng lợi của hoạt động chiến đấu ngoan cường và đấu tranh sáng tạo của từng chiến trường, từng đơn vị… không chỉ riêng một chiến trường nào, một bộ phận nào. Thắng lợi này là kết quả của toàn dân tộc trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt và lâu dài của nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ.

    Vì sao nhân dân Việt Nam, từ không một tấc sắt trong tay, vùng lên bẻ gãy gông xiềng nô lệ, lại đánh thắng “hai đế quốc to” trong một cuộc chiến tranh không cân sức, giành lại non sông đất nước, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội?

    Để tìm được câu trả lời cho câu hỏi này, phải nhìn sâu vào chiều dày lịch sử hàng nghìn năm, vào nền văn hóa dân tộc, tìm hiểu truyền thống và di sản quân sự của dân tộc Việt Nam và đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Một điều hiếm thấy trong lịch sử các bộc tộ người Việt cổ sinh sống trên mảnh đất này đã sớm có một triết lý sống, một nền văn hóa dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, cố kết với nhau trong một quốc gia dân tộc thống nhất, chống lại thiên tai và giặc ngoại xâm. Chính nhờ sức mạnh của nền văn hóa ấy mà dưới ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, dân tộc ta không bị đồng hóa và đã vùng lên giành lại nền độc lập. Cho đến khi vị tổ Trung hưng đầu tiên là Anh hùng dân tộc Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, thì kỷ nguyên một nghìn năm độc lập tự chủ đã được mở ra. Suốt trong một nghìn năm ấy, dân tộc ta đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn nhiều lần, từ Tống, Nguyên đến Minh, Thanh, quân Mông - Nguyên - đội quân xâm lược mạnh nhất thời bấy giờ, đã từng chinh phục nhiều lãnh thổ từ Á sang Âu.

    Mỗi khi kẻ thù đụng đến nước ta thì “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước chung sức” bảo vệ xã tắc. Từ Hịch tướng sĩ và Di chúc Canh Tý đến Bình Ngô đại cáo, một học thuyết quân sự Việt Nam đã hình thành: “Trăm họ là binh”, “Lấy đoản binh chống trường trận”, “Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”. Học thuyết đó đã dẫn dắt các cuộc đấu tranh giành lại và giữ vững chủ quyền dân tộc với những tư tưởng vượt thời đại: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, “Dập tắt muôn đời chiến tranh”, “Đem lại thái bình muôn thuở”.

    Trong thời đại Hồ Chí Minh, có sự phát triển mới về bản chất so với các thời kỳ lịch sử trước là: giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, đem lại tự do và ấm no hạnh phúc cho toàn dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ là những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng chính nghĩa, thực sự vì dân và do toàn dân tiến hành. Sự thay đổi về bản chất đó là giải phóng sức mạnh tinh thần và vật chất vô cùng to lớn của nhân dân ta trong cách mạng và chiến tranh cách mạng.
    Trên nền tảng tinh thần quyết chiến thắng, không có gì quý hơn độc lập tự do, tư tưởng cơ bản của học thuyến quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc. Trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Bác Hồ viết: “cuộc kháng chiến toàn dân, vũ trang toàn dân”(1). Người kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống thực dân pháp: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”(2). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Người khẳng định: Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là một cuộc chiến tranh nhân dân. “31 triệu đồng bào ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ cứu nước”(3). Người nêu cao chính sách đại đoàn kết dân tộc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công đại thành công”(4).

    Chúng ta đã kế thừa và phát triển nghệ thuật đánh giặc truyền thống của dân tộc “lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu đánh mạnh”, sáng tạo ra hàng loạt cách đánh thông minh của các lực lượng vũ trang, của mọi quân binh chủng, của từng cán nhân chiến sĩ,… đem ý chí quyết thắng và trí tuệ của ta để chiến thắng mọi chiến lược, chiến thuật và kỹ thuật hiện đại của quân xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần.

    Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, việc không nắm vững đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự của Bác Hồ, sự nôn nóng chủ quan và không sát thực tiễn, có lúc có nơi đã hạn chế không ít thắng lợi và dẫn đến tổn thất.

    Trng thời kỳ đầu chiến tranh, nhiều cán bộ quân sự ở chiến trường đã hiểu sai mối quan hệ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, chỉ chủ trương đấu tranh chính trị và dân quân du kích, coi nhẹ xây dựng bộ đội chủ lực. Đảng ta không bao giờ có một chiến lược quân sự thuần túy, đồng thời chưa bao giờ hạn chế đấu tranh vũ trang trong phạm vi chiến tranh du kích. Đối mặt với sức mạnh vật chất to lớn của đối phương, chỉ có xây dựng bộ đội chủ lực từ đại đội, tiểu đoàn đến những sư đoàn, quân đoàn mạnh, mới đủ sức đánh những đòn tiểu đoàn lớn quyết định chiến trường. Quan điểm này cũng dẫn đến những cố gắng lớn lao khắc phục tổn thất do địch đánh phá, quyết đưa tuyến vận tải Trường Sơn lên cơ giới hóa, đáp ứng yêu cầu chiến lược của chiến trường miền Nam.

    Lại do chủ quan duy ý chí, không nắm vững quy luật của khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng nên đã chủ trương tiến hành tổng khởi nghĩa, bộc lộ toàn bộ cơ sở cách mạng của quần chúng trong chiến tranh ngay khi trên chiến trường còn hơn một triệu quân Mỹ - ngụy và các nước chư hầu. Việc tiếp tục kéo dài tấn công vào các đô thị, chậm chuyển hướng hoạt động về nông thôn trong Mậu Thân 1968 đã gây ra nhiều tổn thất về thế và lực cho cách mạng.

    Áp dụng sai tư tưởng cách mạng tiến công trong chiến tranh cũng là bài học phải trả giá bằng xương máu. Tư tưởng chiến lược của chiến tranh cách mạng là tiến công, còn hình thức tác chiến thì có tiến công và phòng ngự cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Việc phủ nhận phòng ngự, thậm chí coi phòng ngự là hữu khuynh đã dẫn đến thương vong cho bộ đội trong một số trận đánh.

    Trong suốt quá tình chiến tranh 30 năm, Học thuyết quân sự Việt Nam luôn bám sát mục tiêu cam, xuất phát từ thực tiễn cụ thể của chiến tranh, tìm ra quy luật hành động. Trên cơ sở thế trận và sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, chúng ta luôn giữ thế chủ động trên chiến trường trong mọi tình huống, buộc địch phải bị động đối phó theo chiến lược và cách đánh của ta. Kẻ địch muốn đánh nhanh nhưng lại buộc phải kéo dài chiến tranh, muốn tạo nên hình thái chiến tranh có chiến tuyến thì lại phải tác chiến trong thế xen kẽ, cài răng lược, muốn tập trung lực lượng thì lại bị chiến tranh nhân dân của ta căng ra trên các chiến trường… Mọi tính toán chiến lược của bọn xâm lược đều sai lầm. Càng cố gắng, địch càng sa lầy và bất lực, dẫn đến thất bại cuối cùng không thể tránh khỏi trên chiến trường Việt Nam.

    Bước vào thế kỷ XXI, cục diện thế giới đang có những biến chuyển to lớn. Bên cạnh nguyện vọng và xu hướng xây dựng một thế giới hòa bình và công bằng của đại đa số các dân tộc và loài người tiến bộ, các siêu cường và các thế lực hiếu chiến cùng các tập đoàn công nghiệp quân sự siêu quốc gia đang muốn thiết lập một trật tự thế giới mới trong điều kiện toàn cầu hóa toàn diện do họ chi phối, đồng thời gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược, kích động ly khai, xung đột sắc tộc và tôn giáo, hoạt động bạo loạn lật đổ, phục vụ những mục tiêu bá quyền, lôi cuốn thế giới vào cuộc chạy đua vũ trang chưa từng có. Môi trường an ninh thế giới biến đổi khôn lường.

    Trong tình hình mới hiện nay, đánh giá đúng những thay đổi của tình hình để thích nghi với sự phát triển và vận động của chiến tranh hiện đại, xây dựng và hoàn thiện Học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại mới, chúng ta hoàn toàn tin tưởng và khả năng giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược dù hiện đại đến đâu và bất kể từ đâu tới.

    Ngày toàn thắng 30-4-1975 đã đi vào lịch sử như một sự kết thúc trọn vẹn của cuộc chiến tranh mười ngàn ngày. Dân tộc Việt Nam, một dân tộc luôn khát khao hào bình, đã phải trải qua cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ. Với ba mốc son Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Điện Biên Phủ và Mùa Xuân 1975 toàn thắng, dân tộc ta đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cứu nước, đất nước ta sạch bóng quân thù, Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập thống nhất.

    Trên phạm vi thế giới, lần đâu tiên trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc nhược tiểu, một dân tộc vốn là thuộc địa nửa phong kiến đã vùng lên tự giải phóng và liên tiếp đánh thắng hai cường quốc đế quốc chủ nghĩa chủ yếu bằng sức của chính mình. Cụm từ “Việt Nam - Hồ Chí Minh” đi vào ngôn ngữ của các dân tộc đồng nghĩa với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, tượng trưng cho lương tri và phẩm giá con người. Thắng lợi của nhân dân ta cũng là thắng lợi của nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.

    Thắng lợi của chúng ta khẳng định một chân lý thời đại: “Bất kỳ một quốc gia nào dù có hùng mạnh đến đâu, nếu dùng bạo lực để áp đặt ý chí của mình lên dân tộc khác thì cuối cùng nhất định thất bại”. Điện Biên Phủ, và kết cục chiến tranh trong Mùa xuân 1975 là những Điểm hẹn mà Lịch sử giành cho những cuộc chiến tranh xâm lược.

    30 năm sau ngày toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta cũng đang tiến tới kỷ niệm 60 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với những thay đổi sâu sắc trên đất nước.

    60 năm sau, trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta và nhân dân ta vẫn đang nỗ lực đưa vào cuộc sống những tư tưởng đi trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước. Ngay sau ngày độc lập và cũng là ngay trước khi dân tộc ta sắp phải bước vào cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối phát triển mối quan hệ hòa bình hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, đồng thời thực hiện hòa những bước đi đầu tiên để thiết lập một nhà nước pháp quyền do dân và vì dân, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, hòa hợp, văn minh và hạng phúc cho nhân dân.

    Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn và sáng tạo, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng, giành được nhưng thắng lợi to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và đối ngoại, bước đầu nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Tuy nhiên, dù thành tích đạt được to lớn như thế nào, chúng ta cũng phải dũng cảm nhìn vào thực trạng tụt hậu của đất nước ta so với các nước phát triển, khắc phục bằng được những cản trở trên con đường tiến lên. Đó là sự yếu kém về trình độ quản lý và lỏng kẻo kỷ cương, sự lạc hậu về công nghệ và khả năng cạnh trang của nền kinh tế chậm phát triển, tệ quan liêu, tham nhũng và sự tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên, những suy thoái đạo đức và tệ nạn xã hội do lối sống hưởng thụ mang lại. các thế hệ ngày nay hãy kế tục truyền thống của cha anh, kiên quyết đấu tranh loại bỏ những trở lực, phấn đấu rèn đức, luyện trí, luyện tài, sống có hoài bão, thi đua lập nghiệp lớn trên mọi lĩnh vực, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa nước ta tiến nhanh và vững, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong ước.

    Kỷ niệm toàn thắng 30 tháng Tư, chúng ta càng nhớ đến Bác Hồ kính yêu, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng ta và dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí lãnh đạo, các tướng lĩnh, các cán bộ lãnh đạo chỉ huy các mặt trận, các chiến trường, những người đã có những đóng góp lớn lao cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc mà ngày nay không còn nữa.

    Chúng ta vô cùng xúc động nhớ tới biết bao cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng để Tổ quốc ta, nhân dân ta có được ngày nay. Nhân dịp này, tôi thân ái gửi đến các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước cùng toàn thể đồng bào trong cả nước lời thăm hỏi ân cần và lòng biết ơn sâu sắc.

    Tôi thân ái gửi tới cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang, các đồng chí thương bệnh binh, các cựu chiến binh, các nạn nhân chiến tranh, nạn nhân chất độc màu da cam, các cựu chiến binh, nam nữ thanh niên xung phong, dân công, giao liên, lời thăm hỏi ân cần và những tình cảm thân thiết nhất.

    Tôi xin gửi tới nhân dân các nước anh em cùng bạn bè quốc tế lời cảm ơn chân thành về sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn và quý báu đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.

    Nhân dịp này, chúng ta kêu gọi Mỹ và các nước đã tham gia với Mỹ trong cuộc chiến tranh tội ác ở Việt Nam, hãy thực hiện nghĩa vụ pháp lý và nhân đạo của họ, bằng mọi cách giúp đỡ nhân dân Việt Nam hàn gắn những vết thương và khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước, giúp những nạn nhân của cuộc chiến tranh trở lại cuộc sống bình yên.

    Tôi tin tưởng vững chắc rằng, dưới ngọn cờ tất thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, với hoài bão lớn, kiên định trong mọi tình huống, phát huy bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại mới, nhân dân ta đoàn kết, đại đoàn kết, sẽ biến ước mơ thành hiện thức, tiếp tục tiến lên vững chắc trong sự nghiệp đổi mới, làm cho nước ta, một nước anh hùng nhưng còn nghèo sớm khắc phục tình trạng lạc hậu, đuổi kịp và sánh vai các nước tiên tiến trên thế giới, trở thành một nước anh hùng, giàu mạnh, cho toàn dân ta được sống hạnh phúc trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.507.
    (2) Sđd, t.4, tr.480.
    (3) Sđd, t.12, tr.323.
    (4) Sđd, t.10, tr.67.

    (1) Bài viết cho Hội thảo khoa học: Đại thắng mùa Xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương tổ chức ngày 14 và 15-4-2005, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 234, tháng 4 năm 2005, tr.7-13, 37.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    CỤ PHAN BỘI CHÂU LÀ MỘT ĐẤNG THIÊN SỨ,
    MỘT LÃNH TỤ CÁCH MẠNG,
    MỘT NHÀ VĂN HÓA LỚN(1)

    Hôm nay, tôi rất cảm động được đến dự cuộc họp lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh của cụ Phan Bội Châu, tôi không có bài chuẩn bị, tôi xin nói một vài suy nghĩ của tôi về cụ Phan. Trong Bộ Chính trị, tôi và một số đồng chí vẫn nhiều lần trao đổi, đánh giá về cụ Phan. Cụ Phan không chỉ là một nhà trí thức yêu nước bình thường. Cụ Phan Bội Châu là một lãnh tụ cách mạng, một nhà văn hóa lớn

    Thời thơ ấu, được nghe cha tôi đọc về Thất thủ kinh đô, được mẹ tôi kể chuyện về phong trào Cần Vương, những câu về và truyện kể đã sớm hun đúc tình yêu quê hương đất nước của tôi. Lớn lên, vào lúc 14 tuổi, vào học trường Quốc học Huế, tôi kết bạn với một số học sinh yêu nước. Rồi hăng hái tham gia phong trào sôi nổi đòi ân xá cụ Phan Bội Châu. Đến khi cụ bị đưa vào Huế thì hằng tuần cứ đến chiều thứ năm, tôi cùng với anh Nguyễn Chí Diểu, anh Hải Triều, chị Bội Lan, chị Thể Chi và một số học sinh trường Quốc học, trường Đồng Khánh đến nghe ông già Bến Ngự nói chuyện. Ấn tượng để lại trong tôi rất sâu đậm. Toàn là những câu chuyện yêu nước thương nòi. Cụ Phan không chỉ là một người trí thức yêu nước như đã viết trên băng khẩu hiệu treo ở đây. Cụ là một chí sĩ lớn. Đạo đức cách mạng là gì? Là suốt đời yêu nước thương dân. Cụ Phan tiêu biểu cho đạo đức ấy. Còn nói về văn chương yêu nước thì sức sáng tác của cụ có thể nói là vào bậc nhất. Cụ là một nhà chí sĩ yêu nước, một nhà văn hóa lớn. Đúng như Nguyễn Ái Quốc đã sớm đánh giá, cụ Phan là một vị “thiên sứ” thức tỉnh 20 triệu đồng bào ta.

    Thường đến Tết chúng tôi cùng nhau đến chúc tết cụ.

    Có Tết, bài chúc do cụ Võ Liêm Sơn thảo:

    Phan tiên sinh là người hào kiệt
    Mười lăm năm học hết sách thánh hiền
    Gặp lúc đất ngả trời nghêng
    Lòng mẫn thế ư thiên chan chứa…


    Cụ Phan Bội Châu lại có bài thơ chúc Tết thanh niên, đến đây tôi còn nhớ:

    Dậy! Dậy! Dậy!
    Bên án một tiếng gà vừa gáy,
    Chim trên cây vừa cất tiếng chào mừng.
    Xuân ơi, xuân có biết chăng?
    Thẹn cùng sông, buồn cùng nước, tủi cùng trăng.


    Buồi tủi là do phải sống kiếp người dân mất nước. Rồi đến những câu:

    Đời đã mới, người càng nên đổi mới
    Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội
    Xúm vai mà xốc vác cứu giang san.


    Hoặc những câu:

    Đừng ham chơi, ham mặc, ham ăn,
    Đúc gan óc để rời non lấp bể,
    Xôi máu nóng rửa vết nhơ nô lệ
    Mời thế này là mới hỡi chư quân.
    Chữ rằng: Nhật nhật tân, hựu nhân dân.


    Đổi mới, lúc đó đã nói đến đổi mới rồi. Chúng tôi mỗi học sinh nam nữ nghe cụ cất tiếng kêu gọi, lòng sáng bừng lên như một bó đuốc, cảm thấy làm gì cũng làm được, bất chấp quên mình như thế nào, hy sinh như thế nào. Sức kêu gọi, sức hô hào của cụ Phan Bội Châu là như vậy.

    Lúc cụ Phan Châu Trinh mất thì học sinh ở Huế cùng học sinh cả nước có phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh. Chúng tôi đều học thuộc bài văn tế do cụ Phan Bội Châu sáng tác, nhắc đến khí khái của các nhà yêu nước lúc bấy giờ bị đày ra Côn Đảo.

    Tôi còn nhớ câu:

    Đặng, Hoàng, Ngô, ba bốn bác hàn huyên,
    Khi chén rượu, khi câu thơ, ngoài cửa ngục lầm than mà khẳng khái.


    Tôi muốn nói thêm: cũng chính vào lúc bấy giờ, anh Diểu, anh Hải Triều và tôi đã hình thành một nhóm nhỏ, một thứ câu lạc bộ. Anh em đến đọc sách báo bí mật, đã có báo Việt Nam hồn, le Paria. Và một hôm Hải Triều mang đến một bức ảnh Nguyễn Ái Quốc còn rất trẻ, đội mũ phớt, chúng tôi rất vui mừng và cùng tôi đều vô cùng khâm phục Nguyễn Ái Quốc. Ít lâu sau tôi có dịp đọc cuốn sách ABC du Marxisme (ABC chủ nghĩa Mác) ở nhà cụ Võ Liêm Sơn. Thế la chúng tôi đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội, đi một mạch, liên tục, rất tự nhiên, không phải mất 10 năm đi tìm đường mà cũng chẳng trải qua một cuộc tranh luận nào cả. Cho nên tôi thường nói, tại Huế tôi đã đến với bình mình của nhân loại. Tôi nghĩ rằng đây cũng là con đường mà nhiều người trong thế hệ thanh niên lúc bấy giờ đã trải qua. Và tôi rất thích, rất mừng là tại ngôi nhà của cụ Phan, có treo ở giữa tấm ảnh của Lênin. Lúc sau này, tôi mới biết từ lâu còn ở Trung Quốc, cụ đã viết một cuốn tiểu sử Lênin.

    Một điều hiếm thấy trong lịch sử cách mạng các nước là: Các nhà yêu nước lớn của ta từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đến Huỳnh Thúc Kháng cuối cùng đã đi đến nhất trí với con đường của Nguyễn Ái Quốc, cho là con đường đúng đắn duy nhất. Điều đó là một diễm phúc của dân tộc.

    Ngày nay, chúng ta đi theo con đường chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chúng ta không quên những cống hiến của các vị tiền bối yêu nước trong đó có nhà chí sĩ, nhà văn hóa lớn, có vị “thiên sứ” Phan Bội Châu.

    Tôi rất biết ơn cụ, rất nhớ cụ và hôm nay xin phát biểu mấy lời từ đáy lòng.

    (1) Lời phát biểu của Đại tuóng Võ Nguyên Giáp trong lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh của cụ Phan Bội Châu tại Hà Nội (26-12-1967 - 26-12-1997), Bài đăng trên Tại chí Xưa & Nay, số 48, tháng 2 năm 1998, tr.9-10.

    ==============================================

    HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN
    VỊ ANH HÙNG DÂN TỘC KIỆT XUẤT(1)

    (Bài đọc tại Hội thảo khoa học kỷ niệm
    700 năm ngày mất của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
    (1300-2000) tại Nam Định ngày 16-9-2000)

    Nửa cuối thế kỷ XIII, trong vòng 30 năm (1257-1288), giặc Nguyên - Mông đã ba lần xâm lược nước ta và ba lần bị quân dân Đại Việt đánh bại hoàn toàn.

    Bấy giờ, giặc Nguyên - Mông là đạo quân xâm lược mạnh nhất, hung bạo nhất thế giới. Từ những thảo nguyên bao la của miền Bắc Á, với tài phi ngựa bắn cung, đội quân Mông Cổ khét tiếng đã tung hoành khắp các lục địa từ Á sang Âu, nô dịch các dân tộc, thôn tính các quốc gia, lập nên một đế quốc rộng lớn từ Thái Bình Dương đến tận bờ Hắc Hải. Vó ngựa của chúng đi đến đâu gieo rắc sự hoang tàn hủy diệt đến đó.

    Trong mưu đồ cuồng vọng của đế chế Nguyên - Mông, nước Đại Việt có vị trí đặc biệt quan trọng. Mục đích của chúng là thôn tính nước ta, mở đường tràn xuống vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên, kẻ hiếu chiến đã không lường được rằng, chính Đại Việt là nơi chôn vùi uy danh của những đạo kỵ binh xâm lược đã từng là bách chiến bách thắng.

    Tiến vào nước ta, giặc Nguyên - Mông đã gặp phải sức mạnh kháng chiến của cả một dân tộc. Nhân dân cả nước ta chung lưng đấu cật, kiên cường và mưu trí, liên tiếp chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Dân tộc ta không những đã bảo vệ quyền độc lập tự chủ của mình mà còn góp phần làm cho nhiều dân tộc khác thoát khỏi hiểm họa bị xâm lược và thôn tính.

    Năm 1258, lần thứ nhất xâm lược Đại Việt, quân Nguyên - Mông tưởng rằng sẽ dễ dàng nuốt chửng nước An Nam nhỏ bé. Chúng nhanh chóng chọc thủng các tuyến phòng ngự của ta, tiến vào kinh đô. Triều đình và quân đội phải rút lui khỏi kinh thành để bảo toàn lực lượng. Kẻ địch không ngờ rằng chỉ chín ngày sau khi chiếm được Thăng Long, kỵ binh của chúng đã lâm vào tình trạng thiếu lương ăn, bị chặn đánh khắp nơi, ngày càng thế suy lực yếu. Đòn phản công mạnh mẽ của quân ta ở Đông Bộ Đầu đã khiến đoàn quân viễn chinh vừa qua khí thế hung hăng, nhanh chóng bị tan rã, hoảng loạn và tháo chạy. Đó là thất bại lớn đầu tiên của đội kỵ binh thiện chiến người Mông Cổ.

    Hai mươi bảy năm sau (1285), sau khi đánh bại nhà Tống lập nên triều Nguyên ở Trung Quốc, giặc Nguyên - Mông lại phát động chiến tranh xâm lược Đại Việt với quy mô lớn gấp nhiều lần. Đại quân của chúng do Thoát Hoan và Toa Đô chỉ huy từ phía bắc đánh xuống, từ phía Nam tiến lên, hình thành hai gọng kìm giáp công xâm lược. Chúng đã đem sức mạnh sáu chục vạn đại quân, kết hợp kinh nghiệm chinh phạt còn nóng hổi của quân Mông Cổ với kinh nghiệm lâu đời của chủ nghĩa bành trướng phương Bắc, tưởng chừng như trong chốc lát tiêu diệt quân chủ lực của ta, bắt triều đình nhà Trần phải quy phục. Lần nữa, chúng lại không ngờ vấp phải sức mạnh kháng chiến quyết liệt của toàn dân ta. Tinh thần và ý chí “Sát Thát” từ Hội nghị Binh Than tới Hội nghị Diên Hồng đã được nhân lên trong cuộc chiến tranh giữ nước. Cả dân tộc không thể đội trời chung với kẻ thù, toàn dân thực hiện mệnh lệnh của triều đình: “Tất cả các quận huyện nơi có giặc đến phải liều chết mà đánh; nếu không đánh được cho phép trốn vào rừng núi, không được đầu hàng giặc”.

    Quân xâm lược đi đến đâu cũng bị quân địa phương và dân binh của ta tiến đánh, lương thảo nơi đồng nội đều bị giấu sạch. Quân giặc phải rảu quân chiếm đóng, sức tiến công ngay càng giảm sút. Quân đội và triều đình nhà Trần thực hành rút lui chiến lược để tránh cái khí thế hăng hái lúc ban mai, đánh cái khí thế tàn lụi lúc buổi chiều của giặc. Trong vòng năm tháng liền, quân Nguyên - Mông muốn đánh mà không được đánh: càng ngày càng sa vào hao mòn, mệt mỏi, thiếu thốn “như bị treo lơ lửng ở khoảng giữa”, tài phi ngựa bắn cung không thi thố được. Nhằm thời cơ ấy, quân ta chuyển sang phản công. Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp - các trận quyết chiến liên tiếp diễn ra, giành thắng lợi dồn dập. Thành Thăng Long được giải phóng. Thoát Hoan thế cùng phải chui vào ống đồng mới thoát thân. Quân và dân Đại Việt lập nên chiến công hiển hách, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của giặc Nguyên - Mông.

    Năm 1288, lần thứ ba quân Nguyên - Mông lại một lần nữa xâm lược Đại Việt. Rút kinh nghiệm hai cuộc chiến tranh trước, lần này quân giặc hành quân thận trọng. Chúng chuẩn bị đầy đủ lực lượng, gồm cả bộ binh, kỵ binh và thủy binh tinh nhuệ, lại mang theo cả lương thảo và quyết chí phục thù, tiêu diệt bằng được quân chủ lực và bắt sống triều đình nhà Trần. Nhưng, cũng như hai lần kháng chiến trước, quân Nguyên đi đến đâu cũng bị gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của quân dân các địa phương, còn lương thảo thì đi đâu cũng bị giấu sạch. Lần này, ngay từ đầu Trần Quốc Tuấn đã chủ động rút lui, từng bước dẫn dắt quân địch vào thế trận đã bày sẵn. Quân giặc sa vào thế trận làng nước của chiến tranh nhân dân Việt Nam, thiếu lương ăn, thương vong ngày một nhiều, ốm đau do trời nóng nực, tinh thần sụp đổ. Khi bất ngờ nhận được tin đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ bị tiêu diệt thì bọn tướng soái nhà Nguyên vô cùng hoảng loạn. Thoát Hoan cùng Ô Mã Nhi vội chia quân rút theo hai đường thủy, bộ. Nhưng với trận quyết chiến Bạch Đằng lịch sử, toàn bộ đạo thủy quân địch đã bị tiêu diệt và bị nhấn chìm trong sóng nước. Chủ tướng giặc là Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp bị bắt sống, quân của Thoát Hoan bị tiêu diệt phần lớn trên đường rút lui từ Vạn Kiếp đến biên cương. Cuộc kháng chiến lần thứ ba của quân và dân Đại Việt giành được thắng lợi rực rỡ. Tư đó giặc Nguyên - Mông từ bỏ ý đồ xâm lược nước ta.

    Như vậy, hồi thế kỷ XIII, dưới triều Trần, dân tộc ta hoàn toàn dựa vào sức mình, không có sự chi viện từ bên ngoài đã phải ba lần đương đầu với những đạo quân xâm lược mạnh nhất và hung hãn nhất thời đại và đã đánh thắng chúng. Kẻ địch tiến vào nước ta ào ào như gió, như lửa. Chúng phá vỡ các phòng tuyến của ta, cả ba lần đều chiếm được kinh thành Thăng Long và nhiều địa bàn quan trọng khác.

    Trước khí thế hung hãn chưa từng có của giặc Nguyên - Mông, dân tộc Việt Nam không hề biết sợ. “Tiểu dân thanh dã, đoản binh phục hậu”, từ miền ngược đến miền xuiôi, từ núi rừng đến sông biển, tất cả các quận huyện trong nước, hễ giặc đến đều đứng lên đoàn kết chiến đấu, dựa vào thôn xóm, làng bản, địa hình hiểm trở để kiên quyết chống trả. Tổng kết ba lần cuộc kháng chiến, cả nước chỉ có hai hương không chống giặc khi chúng đi qua, còn ở đâu cuộc chiến đấu cũng kiên cường, ở đâu quân và dân ta cũng gây cho quân xâm lược những tổn thất nặng nề và cuối cùng bị đánh bại.

    Sức mạnh của nước Đại Việt thời Trần bắt nguồn từ sức sống mãnh liệt, từ nền văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc, từ lòng yêu nước, chí khí đấu tranh bất khuất, từ truyền thống nhân ái và cố kết, trí thông minh và sáng tạo được tôi luyện trong quá trình chiến đấu chống ngoại xâm. Dưới thời Trần, chế độ phong kiến tập quyền đang ở vào thời kỳ hưng thịnh: nhiều chính sách tiến bộ về kinh tế và văn hóa đã được thi hành. Nền văn minh Đại Việt đang trên đà phát triển rực rỡ với hào khí Đông A nổi tiếng. Chính nhờ vậy mà khi giặc đến thì cả nước cùng đánh, sức mạnh cả dân tộc đã được huy động; khi giặc lui thì toàn dân lại ráo riết chuẩn bị, đề phòng. Đánh một trận rồi đánh hai trận, ba trận, trận sau lớn hơn và thắng lợi to hơn, cuối cùng đã toàn thắng.

    Trong sự nghiệp hiển hách ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có vai trò đặc biệt quan trọng. Ông là một nhà chính trị, quân sự đa tài, được vua Trần tin yêu, giao quyền Tiết chế, thống suất cả vương hầu, tông thất, tướng lĩnh, điều động binh nhung, khí giới. Khi quân Nguyên - Mông xâm lược lần thứ nhất (1258), ông được cử chỉ huy các tướng lĩnh điều quân thủy bộ bảo vệ vùng biên giới Tây Bắc. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), ông được cử làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn quân đánh giặc.

    Bản lĩnh của Trần Quốc Tuấn thể hiện ở quyết tâm diệt địch và thắng địch không gì lay chuyển. Ngay những lúc gian nan nguy nhiểm nhất, ông vẫn tin vào thắng lợi, giữ vững lòng quân lòng dân. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến clân thứ hai (1285), khi sự mất còn của nền độc lập nước nhà chỉ con trong gang tấc, quân xâm lược đã chiếm được nhiều địa bàn trọng yếu, trong đó có cả kinh thành Thăng Long và phủ Thiên Trường, một bộ phận quý tộc và quan lại triều Trần đã có người nao núng, hàng giặc, Trần Quốc Tuấn đã hiên ngang bất khuất, giữ vững lòng tin son sắt vào thắng lợi. Câu nói bất hủ của ông: “Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu thần đi đã”, đã nêu một tấm gương lớn về tinh thần quyết chiến và ý chí “Sát Thát” trước triều định, trước toàn quân và toàn dân ta.

    Tài năng của Trần Quốc Tuấn biểu hiện ở chỗ ông nhận thức rất rõ dân ta là nguồn sức mạnh giữ nước. Nguồn sức mạnh đó phải được xây dựng, bồi dưỡng lâu dài trong thời bình cũng như trong thời chiến, bằng nhiều chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội. Ông chủ trương: “Khoan thư sức dân, làm kế sâu dễ bền gốc là thượng sách giữ nước”.

    Ông xem việc đoàn kết nội bộ là một nhân tố cực kỳ quan trọng đê tọa thành sức mạnh. Nhìn lại ba cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thắng lợi, ông xác định: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức” là nhân tố đã làm cho “quân địch phải chịu bị bắt” (bị tựu tự cầm). Ông rất coi trọng đoàn kết quân và dân, đoàn kết trong quân đội “như cha con một nhà”.

    Chính nhờ nguồn sức mạnh đó mà dân tộc Việt Nam đã có thể đứng vững và vượt qua những thử thách ghê gớm của họa xâm lăng khốc liệt do Đế quốc Nguyên - Mông gây ra.

    Trần Quốc Tuấn là vị thống soái có tài năng quân sự tuyệt vời. Nắm vững yêu cầu chiến lược lấy nhỏ thắng lớn, cả nước đánh giặc, ông chủ trương lấy đoản binh chống trường trận, xem đó là điều thường trong binh pháp nước ta; kết hợp tác chiến của quân triều đình với tác chiến và đấu tranh của lực lượng dân quân các địa phương: “Tiểu dân thanh dã, đoản binh phục hậu”.

    Cái tài giỏi của Trần Quốc Tuấn là biết chuyển tình thế từ hiểm nghèo thành thuận lợi, xoay chuyển thế trận, tạo nên thời cơ. Và khi thời cơ đến thì chuyển sang phản công, tiến công, chọn đúng hướng, đúng mục tiêu, đánh những trận quyết định, khiến kẻ thù không kịp trở tay, trong chốt lát đã thất bại.

    Tài thao lược của Trần Quốc Tuấn nổi bật là tính chủ động và linh hoạt, “biết người biết mình”, chủ động điều địch, chủ động đánh địch, “xem xét quyền biến… tùy thời mà làm”.

    Câu trả lời của ông với vua Trần Nhân Tông: “Năm nay đánh giặc nhàn” khi quân Nguyên tiến công xâm lược lần thứ ba (1288), chứng tỏ vị chủ tướng đã biết rõ địch, biết rõ ta, phân tích sâu sắc tình hình thực tiễn và làm chủ được quy luật của chiến trận. Trong cuộc kháng chiến này, giặc chưa bị đánh lớn mà đã sợ hãi rút chạy, rốt cuộc bị tiêu diệt trên sông Bạch Đằng và ở biên giới. Đó là kết quả kỳ diệu của phương pháp dùng binh độc đáo của ông.

    Trần Quốc Tuấn quả là một vị tướng mưu lược, là con người của những quyết định lớn trong những thời cơ lớn.

    Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông là đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân bỏa vệ Tổ quốc của dân tộc ta trong thời đại phong kiến. Người đề ra và vận dụng thiên tài chiến lược, chiến thuật chiến tranh nhân dân đó không ai khác là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta, đã xuất hiện hình thái thế trận của dân chúng đánh giặc ở khắp các xóm làng, kết hợp chiến đấu của quan triều đình với quân các lộ và dân binh, tiêu diệt địch trong những trận lớn, xây dựng một thế trận rộng mà sâu, mạnh mà vững, luôn luôn chủ động, luôn luôn tiến công, tạo nên sức mạnh to lớn, chiến thắng quân thù.

    Trần Quốc Tuấn không chỉ là vị thống soái lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến mà ông còn là một nhà lý luận, một nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng. Từ lời Hịch kêu gọi tướng sĩ đầy khí phách hiên ngang đến bản Di chúc lịch sử, những nội dung tư tưởng tiên tiến của ông đã được khẳng định. Ông đã dày công nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của dân tộc, học tập những tư tưởng quân sự tiến bộ của nước ngoài, rút ra những điều tinh túy, kết hợp với những tri thức quân sự từ thực tiễn chỉ đạo chiến tranh của mình, viết thành những bộ binh thư có giá trị nhằm phục vụ cho sự nghiệp giữ nước. Trần Quốc Tuấn đã để lại cho đời nhiều tác phẩm lý luận quân sự có giá trị, khẳng định một bước phát triển quan trọng của khoa học quân sự Việt Nam. Với Trần Quốc Tuấn, một học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại phong kiến đã hình thành, học thuyết quân sự dân tộc trong chiến tranh giữ nước. Chính trên cơ sở này, Lê Lợi - Nguyễn Trãi phát triển thành học thuyến quân sự dân tộc trong khởi nghĩa nông dân, chiến tranh giữ nước.

    Những quan điểm tư tưởng chính trị - quân sự của ông về dựa vào dân, khoan thư sức cho dân, về xây dựng khối đại đoàn kết trong hoàng tộc và triều đình, tronng toàn quân và cả nước, về phương châm chiến lược “dĩ đoản, chế trường”, “quân đội cốt tinh không cốt nhiều, trên dưới một dạ như cha con”… là những tư tưởng tiên tiến, đúng đắn và sáng tạo, vượt thời đại mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị”.

    Trần Quốc Tuấn là anh hùng kiệt xuất không chỉ về tài năng quân sự, mà còn có đạo đức tiêu biểu của một vị chủ tướng. Ông luôn nêu tấm gương sáng ngời về lòng trung nghĩa, ý thức gạt bỏ mọi hiểm khích riêng tư để đoàn kết tông thất, triều đình và tướng lĩnh, tạo nên một cội nguồn của thắng lợi. Ông chủ trương “bạt dụng lương tướng”, dùng người hiền lương, biết chọn và đào tạo tướng giỏi, thường trọng dụng và tiến cử những người tài giúp nước. Ông quý trọng những người cộng sự, thương yêu binh lính và họ cũng hết mực trung thành với ông; đội quân phụ tử của ông đã trở thành đội quân bách thắng.

    Triều đình nhà Trần đã xây dựng nên một đội ngũ tướng lĩnh kiên cường tài giỏi, đoàn kết nhất trí, phần đông là văn võ song toàn. Lịch sử đời đời ghi nhớ chiến công và thành tích của các vị tướng như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Lê Phụ Trần, Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng, Đỗ Khắc Chung cho đến Yết Kiêu, Dã Tượng…

    Năm 1289, trong niềm vui toàn thắng, đô thành bị đổ nát, đất nước hoang tàn, vua Nhân Tông hạ chỉ gấp rút tu sửa lại thành trì Thăng Long. Trần Quốc Tuấn can rằng: “Việc sửa lại thành trì không cần kíp lắm. Việc cần kíp triều định phải làm ngay không thể chậm trễ được là việc úy lạo nhân dân. Hơn 4 năm quân giặc hai lần tràn sang đánh phá, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà dân chúng vẫn còn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuất lực, đi lính, đóng thuế làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua đã được trở về yên ổn, việc cần làm trước hết là chú ý ngay đến dân. Những nơi nào bị tàn phá, tùy tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế. Nơi nào bị tàn phá nặng có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: “chúng chí thành thành”. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay. Xin nhà vua xét kỹ”. Vua Trần Nhân Tông đã nghe theo lời khuyên.

    Trần Quốc Tuấn quả là một nhân cách lớn, có tấm lòng vì dân, vì nước. Tuy ở ngôi cao chức trọng mà vãn giữ tiết nhã nhặn, không tự tiện làm những việc trái với kỷ cương phép nước, ông không ham lợi giàu sang, lòng trung trong sáng, được mọi người tôn quý và tin yêu. Ông không lạm dụng quyền hạn. Vì có công lớn, ông được phong làm “Thượng quốc công”, được quyền tự ban thưởng cho người khác. Sử sách chép lại rằng, ông đã cẩn trọng giữ gìn chưa hề tự mình ban thưởng cho ai.

    Những chiến công đánh bại đế quốc Nguyên - Mông, những cống hiến trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng và nghệ thuật quân sự của Trần Quốc Tuấn đã đưa ông lên hàng ngũ anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Việt Nam, xứng đáng là một danh nhân quân sự tầm cỡ thế giới.

    Với tài năng chính trị, quân sự kiệt xuất, với tấm lòng tận trung với vua, với nước, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã cùng với triều đình nhà Trần và quân dân Đại Việt bảo vệ trọn vẹn độc lập dân tộc, đưa triều đại nhà Trần lên hàng triều đại thịnh trị trong lịch sử trung đại, để lại những bài học lịch sử có giá trị về dựng nước và giữ nước. Những thành tựu về võ công và văn trị, những giá trị vật chất và tinh thần thời Trần đã làm vẻ vang lịch sử dân tộc, là niềm tự hào lớn lao cho Tổ quốc ta.
    Lịch sử sang trang.

    Bước vào thời kỳ cận đại và hiện đại, các nước đế quốc phương Tây, với nền kinh tế phát triển, đã mang quân xâm lược thuộc địa khắp các châu lục. Nhân dân ta đã phải sống kiếp ngựa trâu hàng trăm năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà yêu nước vĩ đại đến với chủ nghĩa Mác - Lênin tìm ra con đường cứu nước. Từ đó, giai cấp đã gắn với dân tộc, độc lập dân tộc đã gắn với chủ nghĩa xã hội, lợi ích quốc gia đã gắn với lợi kích quốc tế. Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc đã phát huy lên tầm cao mới. Toàn dân ta đã vùng lên đưa Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đến thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nhà nước kiểu mới ấy không những “khoan sức cho dân” mà đã trở thành nhà nước của dân, do dân, vì dân. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, nhân dân là người chủ của đất nước. Tiếp đó, trong khi chính quyền ma con đang trứng nước, toàn dân ta đã phải đương đầu với cuộc xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Pháp rồi chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Trong suốt 30 năm trường, trên đất nước ta đã diễn ra một cuộc đọ sức lịch sử khốc liệt nhất, dân tộc ta đã giành được thắng lợi oanh liệt nhất, với những kẻ thù mạnh hơn ta gấp nhiều lần, kể cả kẻ thù mạnh nhất thế giới. Chiến tranh nhân dân Việt Nam đã phát triển đến một trình độ cao chưa từng thấy. Học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh đã hình thành.

    Với thị trấn “Không có gì quý hơn độc lập, tự do, toàn dân ta đã chịu đựng những hy sinh không bờ bến, cuối cùng giành được thắng lợi hoàn toàn.

    Đó là vì với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh dân tộc không chỉ mang lại Độc lập, Thống nhất cho đất nước mà còn mang lại Tự do, Hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động, cho toàn dân ta và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Chúng ta chiến đấu vì đại nghĩa, cho nên tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rộng khắp và mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”; đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn chiến thắng mọi kẻ thù.

    Từ khi hòa bình được lập lại, đất nước hoàn toàn độc lập và thống nhất, non sông thu về một mối, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. chỉ trong một phần tư thế kỷ, chúng ta đã giành được những thắng lợi mới hết sức to lớn về mọi mặt. Tuy nhiên, nhìn thẳng vào sự thật, ham muốn tột bậc của Bác Hồ: làm cho dân giàu nước mạnh, mang lại hạnh phúc cho dân, cho đến nay mới được thực hiện bước đầu. Nước ta vẫn còn là một nước đang phát triển, một ngước nghèo và lạc hậu, còn xa mới đáp ứng được yêu cầu rất cao về năng suất lao động, về hiện đại hóa khoa học và công nghệ, nhằm cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Do vậy, rõ ràng cuộc đấu tranh chống nghèo nàn và lạc hậu còn là một nhiệm vụ hết sức to lớn của dân tộc ta. Cuộc đấu tranh ấy, như Bác Hồ đã nói, còn khó khăn hơn nhiều so với cuộc chiến đấu chống đế quốc và phong kiến.

    Như các nghị quyết của Trung ương đã đề ra, hướng đột phá có ý nghĩa quyết định là phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, vì đó là “tiền đề của mọi tiền đề” của chủ nghĩa xã hội như Mác đã nói, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng tiếp cận với nền kinh tế tri thức, giữ vững và phát huy nền văn hóa dân tộc, thực hiện bằng được giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, phát triển mạnh mẽ nội lực cho đất nước trước hết là tiềm năng to lớn của con người, trên cơ sở đó chủ động hôi nhập với khu vực và thế giới theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi. Và nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định là thực hiện bằng được Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch và vững mạnh, là lương tâm trí tuệ và danh dự của giai cấp và của dân tộc.

    Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với trí tuệ và nghị lực sáng tạo của toàn dân, cả nước đoàn kết một lòng, chúng ta tin tưởng vững chắc trong thiên niên kỷ tới, dân tộc Việt Nam ta dưới ngọn cờ tất thắng của Đảng, của Bác Hồ nhất định sẽ biến ước mơ nói trên thành hiện thực, đưa đất nước ta sánh vai với các nước trung bình, các nước phát triển trên thế giới.

    Tiến hành cuộc hội thảo về anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn trong thời điểm sắp bước vào thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta càng tự hào về thành tự lớn lao của dân tộc ta từ 700 năm về trước cho đến cả thế kỷ XX. Chúng ta càng tưởng nhớ và biết ơn bao anh hùng và liệt sĩ thuộc biết bao thế hệ đã ngã xuống vì đại nghĩa để chúng ta có được ngày nay.

    Với tinh thần ấy, hội thảo của chúng ta không những có ý nghĩa ôn lại truyền thống của cha ông mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm và niềm tin của mỗi một người dân vào tương lai của Tổ quốc Việt Nam.

    (1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 79, tháng 9 năm 2000, tr.5, 26-27,27.

    ================================================

    “CON NGƯỜI TƯỢNG TRƯNG
    CHO LÒNG YÊU NƯỚC”(1)

    Đó là đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn của nhân loại về cụ Phan Đình Phùng, người anh hùng của phong trào vũ trang yêu nước chống Pháp vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XIX mà hôm nay chúng ta trận trọng tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày mất của cụ.

    Khi cụ Phan Đình Phùng hy sinh vì nghĩa lớn thì Bác Hồ của chúng ta mới lên 5 tuổi. Quê hương (làng Đông Thái, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) cũng như vùng núi rừng Hương Sơn, Hương Khê (Vụ Quang) căn cứ địa kháng chiến của Phan Đình Phùng không xa quê hương Nam Đàn, Nghệ An của Bác. Chắc chắn, tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như trên những chặng đường hoạt động sau này, hình ảnh người thủ lĩnh nghĩa quân Phan Đình Phùng rất sâu đậm. Người còn nhấn mạnh đến nét đặc sắc trong tiểu sử cụ Phan là “một học giả nổi tiếng, một vị quan to, một chí sĩ yêu nước và là người đã tổ chức những phần tử trí thức và nông dân…” tham gia sự nghiệp cứu nước.

    Lòng ngưỡng mộ và khâm phục của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cụ Phan đã nói lên tầm vóc của người tiêu biểu nhất của phong trào Cần Vương ở miền Trung (ở các tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh Bình), một vùng đất cũng tiêu biểu nhất cho tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của Tổ quốc chúng ta.

    “Có thể nói, cho đến nay sự đánh giá vị trí của cụ Phan Đình Phùng gắn liền với cuộc khởi nghĩa Hương Khê là nhất trí. Cụ là người chí sĩ bất khuất, biết dùng người tài như Cao Thắng. Đã chọn núi rừng hiểm yếu làm căn cứ địa, tổ chức ra 15 quân thứ có kỷ cương, coi trọng chế tạo vũ khí cả thô sơ và súng mới, biết dựa vào dân mà tích trữ quân lương. Nghệ thuật đánh giặc thì chủ động và sáng tạo, khi tập kích, phục kích, khi đánh ngay vào đầu não của địch, khi dùng mưu trí để diệt địch trong trận Vụ Quang nổi tiếng, chiến đấu suốt mười năm, rõ ràng đã có tư tưởng đánh lâu dài với quân Pháp. Song để tìm thấy ở con người đó những bài học cho cuộc sống bảo vệ, xây dựng và đổi mới đất nước ngày hôm nay, chúng ta còn phải tiếp tục nghiên cứu, còn nhiều việc phải làm.

    Cuộc hội thảo ngày hôm nay, chúng đã nghe nhiều tham luận khoa học nói về thân thế, sự nghiệp và vị trí của Phan Đình Phùng trong lịch sử. Nhưng làm sao cho những tri thức của các nhà khoa học trở thành tri thức của xã hội, nhất là của lớp trẻ sống trong một hoàn cảnh lịch sử khác xa thời mất nước, nô lệ như thuở cụ Phan đã sống. thực sự chúng ta thấy lo lắng khi chứng kiến hiểu biết về quá khứ, về lịch sử của xã hội ngày càng thấp. Một điều tra được công bố trên báo chí vừa qua cho biết, gần một nửa số người được hỏi mà chủ yếu là các cháu học sinh, không biết Vua Hùng là ai. Sự xuống cấp về tri thức lịch sử ấy được coi là một biểu hiện nghiêm trọng của sự xuống cấp về đạo đức xã hội. Bác Hồ luôn dạy chúng ta “Dân ta phải biết sử ta”, tổ tiên ta ngày trước cũng như Đảng ta ngày nay luôn coi việc học quốc sử là một phần tri thức tạo nên nhân chác một con người có ích cho xã hội.

    Bởi vậy, tổ chức kỷ niệm nhân ngày giỗ lần thứ 100 của cụ Phan Đình Phùng cũng như nhiều cuộc sinh hoạt tưởng niệm các danh nhân hay sự kiện lịch sử khác, chúng ta không nên chỉ tổ chức cho long trọng ở hội trường, xây mộ hay dựng bia - đó là những việc cần làm - mà quan trọng hơn là làm sao cho những tri thức này được truyền bá rộng rãi trong quần chúng, đặc biệt là trong giới trẻ. Bởi vì, trong cuộc đời của các vị tiền bối như Phan Đình Phùng có biết bao điều cao quý có tác dụng lớn với việc xây dựng con người mới có chí lớn, có hoài bão, có nghị lực, tài năng và nhất là có lòng yêu nước và tự tôn dân tộc. Điều này càng có ý nghĩa thiết thực trong thời mở cửa, tiếp nhận nhiều thông tin, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa các nước. Thử nhắc lại câu trả lời của Phan Đình Phùng trước thủ đoạn trả thù hèn hạ của thực dân quật mồ mả tổ tiên của mình, dọa bắt giết người anh ruột, cụ đã khảng khái đáp rằng ngội mộ to nhất nên giữ là Tổ quốc Việt Nam, người thân, rất thân nhất là cả mấy triệu đồng bào… thì quả thực tấm gương ấy rất cần cho cuộc sống hôm nay. Xây dựng cuộc sống hòa bình càng phải giữ phẩm chất khí tiết để biết bảo vệ lợi ích dân tộc, lợi ích đồng bào, không chỉ nghĩ đến lợi ích của riêng mình.

    Trong bất kỳ thời đại nào của lịch sử dân tộc, chủ nghĩa yêu nước cũng là một động lực cho sự tồn vong và phát triển của đất nước. Do đó, kỷ niệm cụ Phan Đình Phùng, một con người tượng trưng cho lòng yêu nước, chúng ta càng cảm nhận được sâu sắc ý nghĩa thiết thực của việc cần làm này.

    Nhân dịp ngày giỗ thứ 100 của cụ Phan Đình Phùng cũng là vào dịp sắp qua năm mới, xin chúc tất cả chúng ta sức khỏe, dốc lòng phấn đấu vì sự nghiệp chung của đất nước làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, khỏi phụ công ơn những bậc tiền bối đã từng chiến đấu và hy sinh cho Tổ quốc như cụ Phan Đình Phùng.

    (1) Bài phát biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Hội thảo kỷ niệm 100 năm ngày mất của Phan Đình Phùng, tại Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, ngày 28-12-1995. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, tháng 1 năm 1996, tr.9.

  5. #5
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    1
    Link: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
    http://www.vnmilitaryhistory.net/ind.../topic,20189.0

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •