Trang 1 của 12 12311 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 119
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0

    Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam (tập I)



    <div style="text-align: center;">Cung cấp tài liệu: yevon
    Đánh máy: Faust - The Chanter, phamtrantuan
    LỊCH SỬ TRANG PHỤC CÁC TRIỀU ĐẠI TRONG KIẾN VIỆT NAM

    Trịnh Quang Vũ</div>

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN


    Muốn tìm hiểu lịch sử trang phục Việt Nam cần biết đến các thiết chế văn hóa nghi lễ và trang phục các triều đại phong kiến của nước ta. Cuốn “Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam” được tác giả Trịnh Quang Vũ viết dựa theo công trình nghiên cứu cùng tên của ông.

    Bẳng cách phân tích về lý thuyết, những hình ảnh, phục chế trang trí vật dụng, đồ dùng của nhân thân từ bậc Đế vương, các bà hoàng, phi tần, quan lại đến dân thường; đặc biệt từ hình vẽ, từ tượng đình chùa của cha ông, từ tư liệu trang phục ảnh xưa để lại, kết hợp với lời miêu tả của Đại Việt sử ký toàn thư và trong thư tịch, các điển lệ tác giả làm hiện dần lên được quá trình diễn tiến trang phục của các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn.

    Đã có nhiều tranh vẽ về các thiết chế văn hóa, nghi lễ và trang phục của những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử bởi sự thiếu hụt các tư liệu cũng như các thông tin về nó. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu lịch sử trang phục còn chưa nhiều, vì thế, kết quả nghiên cứu và các thông tin mà tác giả Trịnh Quang Vũ mang tới cho chúng ta thật quý báu.

    Bộ sách “Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam” được chia làm hai tập: tập I giới thiệu từ giai đoạn tiền sử đến hết thời Trần, tập II giới thiệu từ giai đoạn tiền Lê đến hết đời Nguyễn.

    Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tập I bộ sách “Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam”, hi vọng đây là các thông tin có giá trị sử dụng góp phần khắc họa ngày càng chính xác hơn các sắc phục của cha ông ta từ thời xa xưa.

    Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin


    Lưu ý:

    "Cuốn sách là một tư liệu quý và hiếm hoi nghiên cứu về trang phục Việt Nam. Tuy vậy, người xem cần có sự chọn lọc của riêng mình khi sử dụng. Một nhược điểm dễ thấy là họa sĩ Trịnh Quang Vũ dựa quá nhiều vào hệ thống quy định phẩm phục các triều đại Trung Quốc, ít nhiều áp đặt theo kiểu "TQ đời này mặc thế này thì VN đương thời cũng phỏng gần y chang thế". Ví dụ rõ ràng nhất là sự kiện Lê Hoàn mặc áo long cổn. Theo điển lệ Trung Quốc, mặc áo long cổn tất phải đi kèm với mũ bình thiên. Tuy vậy, vẫn có thể có khả năng Lê Hoàn không hề đội mũ bình thiên, tuân thủ sát luật Trung Quốc quy định vì có thể đơn giản là ông không biết rõ về những luật lệ đó đến thế. Bằng chứng rõ ràng là vua Lê Long Đĩnh định phẩm phục quan lại theo đúng nhà Tống, ấy vậy mà đến đời Lý lại có thêm lệnh bắt quan lại đi giày, rồi đội mũ phốc đầu vốn lẽ ra phải được bao gồm trong cụm từ "phẩm phục Tống" rồi. Trịnh Quang Vũ bỏ qua khả năng này và tin rằng sử chép Lê Hoàn mặc long cổn tất có nghĩa là có đội mũ bình thiên.

    Lời cảnh báo cuối cùng cho các độc giả: hãy đọc và chọn lọc những điều mình cho là hợp lý nhất.

    Mong rằng tài liệu này sẽ giúp ích nhiều cho mọi người trong việc nghiên cứu trang phục Việt Nam cổ."

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    7
    CHỮ VIẾT TẮT
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">ANCL: An Nam chí lược
    BT: Bảo tàng
    BTLSVN: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
    BTTH: Bảo tàng Thanh Hóa
    BTHN: Bảo tàng Hà Nội
    BCC: Bình chế chí
    CMCB: Cương Mục chính biên
    ĐDC: Địa dư chí – Nguyễn Trãi
    ĐP: Đàm phố (Tôn Thăng – Tống)
    ĐVSKTT: Đại Việt sử kí toàn thư
    ĐVSKTB: Đại Việt sử kí tục biên
    ĐVSL: Đại Việt sử lược
    ĐLMCBD: Định Lăng một cuộc bể dâu – TQ (Dương Sĩ – Nhạc Nam)
    HLNP: Hoàng Lê ngọc phả
    HCM: Hồ Chí Minh
    HVDN: Hùng Vương dựng nước
    KĐVSTGCM-CB: Khâm định Việt sử thông giám cương mục – chính biên
    KVTL: Kiến Văn Tiểu Lục
    KĐTGCM: Khâm định thông giám cương mục
    LTTK: Lịch triều tạp kỉ
    LNĐĐ: Lĩnh Ngoại đại đáp – Chu Khứ Phi TQ
    LTK: Lý Thường Kiệt
    LTHCLC: Lịch triều hiến chương loại chí
    LNCQ: Lĩnh Nam chích quái
    LTHĐ: Lê Triều hội điển
    LTQC: Lê Triều quan chế
    LTCLTC: Lê Triều chiếu lịch thiện chính
    LSPGVN: Lịch sử Phật giáo Việt Nam
    LSMTVN: Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam
    LSTGVN: Lịch sử tôn giáo ở Việt Nam
    NCLS: Nghiên cứu lịch sử (tạp chí)
    NTTP: Nguyễn tộc thế phả
    NPHMVKCH 2004: Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2004
    NTTT/DĐC: Nguyễn Trãi toàn tập – Dư địa chí
    NBS: Nhữ Bá Sĩ (Bia thần phả)
    NGVSPTCKT – BTVNNĐS: Nguồn gốc và sự phát triển của kiến trúc – Biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn
    PBTL: Phủ biên tạp lục
    PGS: Phó giáo sư
    PHC: Phan Huy Chú
    QHNHC: Quế hải ngũ hành chí
    SCN: Sau công nguyên
    STÊĐ: Sử thi Ê-đê
    SPTQ 5000N: Sắc phục Trung Quốc 5000 năm (hoặc trang phục Trung Quốc 5000 năm)
    STDL: Sùng Thiện Diên Linh (bia chùa Đọi)
    TĐPTNNTTVN: Từ điển phổ thông ngành nghề truyền thống Việt Nam
    TCN: Trước công nguyên
    TK: Thế kỉ
    TQV: Trịnh Quang Vũ
    TS: Tiến sĩ
    TT: Toàn thư
    TTTGTB: Tư Trị thông giám trường biên – Lý Đào Tống
    TVG: Trần Văn Giáp
    TUTANL: Thiền uyển tập anh ngữ lục
    VSCMTY: Việt sử cương mục tiết yếu
    VĐUL: Việt điện u linh
    VSL: Việt sử lược – Trần Trọng Kim
    VNPGSL: Việt Nam Phật giáo sử luận
    VSTA: Việt sử tiêu án
    VNGS: Việt Nam giáo sử - Nguyễn Phát Huồn
    VNDCCH: Việt Nam dân chủ cộng hòa
    VNSL: Việt Nam sử lược
    VBTLSVN: Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam</div>
    </div>
    </div>

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    MỤC LỤC (DANH MỤC ĐƯỜNG DẪN)
    Chương I: Giai đoạn Việt Nam cổ đại
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">40px- Những hình thức trang phục, màu sắc mũ, khăn, váy, áo, khố thời Hùng vương
    40px- Những di tích dệt phải lụa từ thời Hùng vương</div></div>
    </div>
    </div>
    Chương II: Thời kì Bắc thuộc
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">40px</div></div>
    </div>
    </div>
    Chương III: Nước Đại Cồ Việt
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">40px</div></div>
    </div>
    </div>
    Chương IV: Vương triều Lê Đại Hành (980 - 1006)
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">40px</div>
    </div>
    </div>
    Chương V: Trang phục Đại Việt triều Lý
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">40px</div></div>
    </div>
    </div>
    40px<div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">40pxPhần 9: Ảnh hưởng của Phật giáo tới trang phục triều Lý40px</div></div>- Một số đặc điểm khác nhau giữa áo Long Bào Trung Hoa với áo Long Bào Việt Nam; tiếp theo
    * Màu sắc cờ, thẻ, trang phục ở hai bên cầu môn khi vua Lý đánh cầu
    - Một vài nét về thủy quân, kiến trúc lầu thuyền và lễ hội
    40px- Sinh hoạt của nhân dân Thăng Long triều Lý; tiếp theo
    - Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh</div></div>
    </div>
    </div>
    Chương VI: Trang phục triều Trần
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">40pxII. Quy chế mũ áo bách quan triều Trần
    40pxIII. Trang phục quân đội
    40pxIV. Trang phục nhân dân thời Trần
    V. Triều Hồ Quý Ly
    VI. Một số loại nói thời Lý, Trần
    VII. Chế phục mũ áo hoàng đế, bách quan Lý, Trần

    * Chú giải
    * Trang phục tiến sĩ - tạo sĩ và sứ thần & Tượng cổ Chu Văn An (1292 - 1370)

    Nghề dệt ở kinh đô Thăng Long thời Lý, Trần</div></div>
    </div>
    </div>
    Bảng tóm lược về màu sắc phẩm phục, mũ áo bách quan các triều phong kiến Việt Nam thế kỉ IX - XVIII

    Đôi lời kết

    PHỤ LỤC: Một vài hình ảnh màu; tiếp theo và hết

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    CHƯƠNG I

    GIAI ĐOẠN VIỆT NAM CỔ ĐẠI


  5. #5
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    7
    PHẦN MỞ ĐẦU

    Trang phục có những thăng trầm lịch sử, từ huyền thoại đến thư tịch và cổ sử. Nhà nước VNDCCH tổ chức nghiên cứu đề tài này trong 10 năm, từ 1960 đến 1970. Bằng phương pháp đồng bộ nghiên cứu tài liệu từ thời Pháp thuộc kết hợp với các ngành khảo cổ, địa chất, sử học, văn học, dân tộc học v.v…, nhiều hội nghị khoa học đã làm sáng tỏ, đánh thức nền văn hóa Đông Sơn của nhà nước Văn Lang thời các Hùng vương với những kết luận khoa học.

    Việt Nam cổ đại có nền văn hóa mang tính đại diện của cư dân bản địa, có bản sắc riêng thuộc ngữ hệ Đông Nam Á, được tiếp nối qua quá trình hình thành từ các nền văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Mậu, Gò Mun đến văn hóa Đông Sơn 2700 – 2000 TCN.

    Người Việt cổ đã tạo ra văn hóa Mỹ thuật đồ đồng Đông Sơn có phong cách riêng, những đặc tính riêng kể cả thành phần phân tích: có 64% đồng, 15% kẽm, 4% sắt. Các di vật khảo cổ học tìm thấy năm 1935 do Janassé đào được ở Lạch Trường, Nghi Vệ, Lim cho biết: chúng đều được đúc tại bản địa (Việt Nam) và có chịu ảnh hưởng tiếp biến của văn hóa Trung Hoa. Trên các mặt trống đồng có trang trí vòng xoáy tròn, chim nước và người đội mũ lông chim; có chỗ người đeo mặt nạ, chèo thuyền, chiến đấu v.v… Những lối trang trí này vẫn còn tồn tại tới nay ở Nam Dương, ví dụ hình cấu trúc mái nhà và nghi thức hành lễ có những người đội mũ lông chim trên những con thuyền của người Dayak ở quần đảo Nam Dương (Indonesia).

    Nhà nghiên cứu khảo cổ học Louis Finot nhận xét về trống đồng Đông Sơn và đồ đồng như sau: “Những điều thấy được trên những hiện vật đồ đồng là hình ảnh của một cư dân nông nghiệp, săn bắn, đi bể, thờ vật tổ và nhất là cách ăn mặc rất giống trang phục của thổ dân vùng Nam đảo”.

    Khảo cổ học tìm thấy một số tượng đồng giống những di vật đào được ở Lạch Trường có những nét như tóc xoắn, râu quăn, mắt hơi lồi, môi dày v.v… gợi rõ nét người Nam Dương, xa hơn là người Chăm và người Weldidé. Vậy gốc người Chăm trước thời đồ đá mới có thể là người Weldidé. Cư dân Négroide đã làm nên nền văn minh Indus Mohejno – Daro. Nam tước Egon Eicksstedt trong Đông học chủng tộc miền Đông Nam Á: Ở Indonesia có sự phân bố đặc trưng giống Palomogoloide (Nésidé) chủ yếu ở miền bờ biển, đặc trưng Weldidé sống trung nội địa là chủng tiền Mã Lai… Tất cả chung ngữ hệ Indonesie. Những người nhóm kể trên đều đã có và hiện tại đang sống ở những dãy Trường Sơn của Đông Dương. Như vậy cho thấy ở đây tập hợp nhiều bộ tộc, dân tộc khác nhau. Một khu vực bị dồn ép tập trung, lưu giữ duy trì tích cổ nhất của các nền văn hóa đa chủng tộc vùng “Indo – China”[1]. Theo Nam tước Eicksstedt thì người Radé ở miền trung Việt Nam nói tiếng Mã Lai, họ được coi đơn thuần là những phần sót lại của nhóm tổng hợp người Chăm. Người Mã Lai có nền văn hóa mang nhiều màu sắc Ấn Độ đã tràn sang khu vực Đông Nam Á hàng ngàn năm TCN lập nên miền Đông bán đảo Đông Dương chính là đền thời Ponaga và vùng Nha Trang[2].

    Theo Việt sử Tân Biên khi đế quốc Kushana (Ấn Độ) sụp đổ nhường địa vị cho dòng họ Gupta, do biến động lịch sử, nhiều dân Ấn thiên cư khắp miền nam bán đảo Đông Nam Á. Kể cả truyền thuyết dựng nước của vua Phù Nam. Brahmane tên là Kaudinya với tín ngưỡng Siva, Vishinu (Lương thư sử Trung Hoa gọi là Hỗn Điền). Những cư dân sống trên cao nguyên miền trung Việt Nam có nói tiếng Mã Lai đó là người Radé, Giarai. Theo biên niên sử, tài liệu của Pamentier dẫn: năm 774 là chuyến xâm lược cuối cùng của người Mã Lai vào Nha Trang, cướp đi một số tượng vàng Ponagar rất lớn.

    Ngoài ra một số bộ tộc còn lại ở dãy Trường Sơn và vùng ven biển miền trung Việt Nam là hậu duệ của những tộc người phương Bắc xuống gồm Sineide, Mongoloide vượt qua đèo Ngang từ từ tiến xuống phía Nam. Nhóm người Palamongoloide, Mongoloide, Thebétian, Negroide, Aryen từ Bắc và Nam Ấn Độ tràn về phía Đông đến Đông Dương đã tạo ra những dân tộc trên dãy Trường Sơn ở miền Trung và ven biển Đông. Những nhóm dân tộc này có nhiều ngữ hệ hoàn toàn khác như: Tạng Miến, hệ Nam Hải, hệ Mã Lai, hệ Nam Đảo, hệ Môn Khơ Me.

    Người Việt còn được gọi là người Kinh, do đặc trưng từ phương Bắc tràn xuống hòa với người Sineide. Theo quá trình lịch sử, người Việt tụ lại ở Quảng Đông, Quảng Tây và đồng bằng Bắc Việt. Khi tràn xuống phía Nam, người Việt lại hòa với người Thái nên hệ ngữ hệ của người Việt thuộc hệ Việt – Hán – Thái, có cùng cách phát nguyên âm và đơn âm cũng như ngữ pháp. Chính cộng đồng dân cư khu vực Đông Nam Á đã tạo ra nguồn gốc các vương quốc cổ Văn Lang, Phù Nam, Chăm Pa, Chân Lạp.

    Khu vực Đông Nam Á với cư dân Việt là chủ nhân văn minh Đông Sơn thời đại đồ đồng thau và sắt. Thời kì này đã phát triển rực rỡ, tiêu biểu là hình ảnh trống đồng Đông Sơn. Văn hóa Đông Sơn từ thế kỉ VII TCN đến sau thế kỉ I SCN còn để lại nhiều di vật công cụ sản xuất, vũ khí, đồ trang sức, áo giáp… Trống đồng được biểu tượng cho bộ tộc, dùng trong nghi lễ tế thần linh, cầu mong có sức mạnh và tập hợp chiến đấu. Trống đồng Đông Sơn lan tỏa xuống Java (Indonesia). Thời đại đồng đồng Đông Sơn trải dài các bộ tộc hợp thành nước Văn Lang cổ đại của các vua Hùng và nước Âu Lạc của An Dương Vương với kinh thành Cổ Loa còn vết tích đến ngày nay.

    --------------------
    [1] Rassendy Namik Von Oslasien, Lê Bạch Tuyết dịch
    [2] Cảm luận nghệ thuật – Trần Duy – NXBMT – 2002

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    VƯƠNG QUỐC VĂN LANG CỔ ĐẠI VÀ ÂU LẠC
    Trong lịch sử Việt Nam, thời kì vương quốc Văn Lang là một gian đoạn lịch sử cội nguồn quan trọng. Ngày nay còn tồn tại nhiều huyền sử bảo vệ đất nước chống ngoại xâm và các sự tích về nếp sống văn hóa xưa như: Phù Đổng Thiên Vương, Bánh chưng bánh dầy, Sơn Tinh và Thủy Tinh, tục xăm mình, lệ cưới xin… Sách Việt sử lược (1960) ghi: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (696 – 682 TCN) ở bộ Gia Ninh có người lạ dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu nước là Văn Lang, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút, truyền 18 đời gọi là Hùng Vương". Tiếp đến là thời kì vương quốc Âu Lạc, Thục Phán xưng là An Dương Vương dời kinh đô về Cổ Loa để xây dựng một kinh đô mới, nơi đây xuất hiện và phát triển kĩ nghệ đồng thau – nghề hội tụ từ vùng Yên Bái. Ở Yên Bái đã phát hiện thạp đồng Đào Thịnh nổi tiếng và có nhiều công cụ trống đồng, dao đồng, rìu đồng và nhiều đồ đồng thau. Tới Cổ Loa đồ đồng cũng được tìm thấy nhiều như: các công cụ lao động, đặc biệt là hàng tạ mũi tên đồng. Những hiện vật khảo cổ tìm thấy trong quá khứ hé mở một nền mỹ thuật cổ. Văn hóa Đông sơn rực rỡ đã bị đứt khúc, ngăn cách bởi ngàn năm Bắc thuộc.

    Để tìm lại quá khứ lịch sử, tìm lại một nền mỹ thuật cổ đại Lạc Việt xa xưa, từ năm 1960 đến năm 1970, nhà nước VNDCCH đã tổ chức nghiên cứu đồng bộ nhiều ngành khoa học gồm: khảo cổ, địa chất, sử học, thư tịch, dân tộc học, hóa học, mỹ thuật… Trong 10 năm nghiên cứu, kết hợp với những tài liệu và thành tựu nghiên cứu trước của nhiều nhà khoa học các nước, Hội đồng nghiên cứu khoa học Việt Nam đã làm thức dậy nền văn hóa và mỹ thuật Đông Sơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy: thời Hùng Vương là đại diện của cư dân bản địa, có bản sắc riêng thuộc ngữ hệ Đông Nam Á ở Bắc Việt Nam hợp thành vương quốc Văn Lang, Âu Lạc. Đây là một cộng đồng cư dân có sinh hoạt văn hóa bản địa riêng biệt, dựa trên nền tảng sản xuất nông nghiệp (văn mình sông Hồng, sông Mã). Cộng đồng dân cư này phát triển từ chiếm hữu nô lệ đến xã hội có giai cấp sơ kì, mang đặc điểm hình thái châu Á, có phong tục tập quán văn hóa riêng, phát triển mỹ thuật riêng, tồn tại bền vững với tinh thần dân tộc, không bị đồng hóa trong một ngàn năm Bắc thuộc.

    Từ năm 43 đến năm 905 SCN là buổi đầu xâm lược của nhà Hán sang nước ta. Thời đó đạo quân xâm lược của Đông Hán rất lớn và rất mạnh, chúng gồm khoảng 20.000 quân lính ở khắp nơi kết hợp với 2002 gồm thuyền xe lớn nhỏ do các tướng có nhiều kinh nghiệm chỉ huy, đặc biệt chúng luôn đàn áp các cuộc khởi nghĩa. Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, mấy nghìn quân bị hy sinh và hơn một vạn quân bị bắt, hai bà đã rút quân vào vùng núi để kháng chiến. Theo Mã Viện truyện, ghi về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng như sau: trận Cửu Chân, Mã Viện đã “chém giết bắt bớ hơn 5000 nghìn người”. Trong trận Cẩm Khê, Mã Viện đã “đánh bại họ mấy lần, họ mới bỏ chạy tản đi” và đã “giết hơn ngàn, bắt hơn 2 vạn”[1]. Cuối năm 43, Mã Viện tâu về triều Hán rằng: “… Kẻ hạ thần đã cùng một vạn hai nghìn tinh binh hợp với đại binh thành 2 vạn, thuyền xe lớn nhỏ 2000 cỗ, tự vào đất Giao Chỉ đến nay đã thành công…”[2]. Thông qua tư liệu sử sách ta thấy cuộc chiến đấu diễn ra không cân sức và vô cùng ác liệt để bảo vệ đất nước của Hai Bà Trưng. Ngay từ buổi đầu xâm lược, nhà Hán với chủ trương Hán hóa nên chúng cố ý nhập cư ồ ạt theo con đường xâm lược. Hiện nay ở nước ta số lượng mộ cổ thời Đông Hán còn lại quá lớn, chứng tỏ sự có mặt của người Đông Hán thời kì này. Trong sách “Bắc kì thời cổ” của Ca. Madrole đã nói tới “con đường xâm lược” hồi đầu công nguyên của Đông Hán đi vào miền lưu vực sông Hồng nước ta. Khởi đầu từ ven biển Yên Hưng (Quảng Ninh), Thủy Nguyên, Uông Bí, Mạo Khê, Đông Triều, Chí Linh, Phả Lại qua sông về Giang Lương, Thuận Thành tới Văn Giang, thủ phủ là Luy Lâu. Ở những địa danh trên và Luy Lâu đều phân bố dày đặc mộ Đông Hán. Tại khu lò nung gốm xóm Chùa xã Đại Lai – Hà Bắc, năm 1982 tư liệu khai quật cho ra kết luận: trước kia ở đây có một khu vực gốm lớn hình thành phục vụ cho người Trung Hoa thống trị. Thành viên làm chủ nghề thủ công này đi từ Trung Hoa sang nên từ cấu trúc lò, kỹ thuật nung tới loại hình sản phẩm đều mang đậm dấu ấn văn hóa Hán nhằm mục đích đồng hóa dân ta. Mã Viện tổ chức cai trị, xây thành quách, phá văn hóa Việt bằng cách vơ vét trống đồng ở các địa phương và đồ vật tượng trưng uy quyền của tù trưởng thời Âu Lạc. Sử sách ghi lại, mỗi trống đồng tương đương một ngàn con bò thời bấy giờ. Việc phá hoại các báu vật nhằm thủ tiêu uy quyền của tầng lớp quý tộc Việt. Theo Hậu Hán Thư, Nam man truyện, việc đưa đi đày các thủ lĩnh xa khỏi đất nước, sang tận Hồ Nam, Trung Quốc nhằm xóa bỏ sức chiến đấu chống xâm lược của ta. Ngày ấy Mã Viện vơ vét trống đồng đúc thành hình con ngựa cao 3 thước 5 tấc, rộng 4 thước 4 tấc (cao khoảng 1m40, thân dài khoảng 1m80) để dâng vua Hán Quang Vũ. Riêng Mã Viện chở một xe châu báu cướp được của Âu Lạc vào năm Giáp Thìn 44 SCN. Ngay từ buổi đầu văn hóa Hán xâm nhập, chúng đã muốn thay thế và xóa bỏ văn hóa Lạc Việt. Luồng văn hóa Trung Hoa dày đặc tiếp tục lan truyền qua nhiều triều đại: Hán, Đường, Tống, đặc biệt thời Đường ráo riết hơn và ảnh hưởng tới đất nước ta nhiều hơn. Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và liên tục các cuộc nổi dậy trong những thế kỉ tiếp theo đã phá vỡ âm mưu bành trướng của người phương Bắc xuống nước ta – một vương quốc đã có nền văn minh bản địa, ý chí quật cường và vị trí cao trong vùng Đông Nam Á.

    --------------------
    [1] Theo Lưu Long truyện
    [2] Thủy kinh chú, quyển 14 dẫn theo Đào Duy Anh – Giai đoạn quá độ sang chế độ phong kiến

    (còn tiếp)

  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    VƯƠNG QUỐC VĂN LANG CỔ ĐẠI VÀ ÂU LẠC
    (tiếp theo)
    Những cuộc khai quật khảo cổ ở nhiều nơi đã tìm thấy nhiều di vật là vải và bánh xe quay sợi. Những mẫu vải dệt khá mịn, có màu và có hình dệt trang trí trên vải. Màu sắc nhuộm vải bằng các củ rừng bản địa. Ngoài ra ngành khảo cổ còn tìm thấy các đồ sơn, đồ da được vẽ trang trí bằng màu. Các loại trống đồng, thạp đồng được chạm khắc khá cầu kì. Hình ảnh trang trí trên các đồ vật chứng tỏ thời kì này nhiều nghề tồn tại như: chài lưới, chăn nuôi gia súc, làm gốm, nghề đúc, nghề làm muối, nghề đãi vàng, đặc biệt là nghề làm đồ trang sức và dệt. Nhiều sản phẩm của văn hóa Đông Sơn đã du nhập lan tỏa vào vùng đất phương Nam của Đông Nam Á và giao lưu trên một địa bàn rộng lớn như Mã Lai, Phi Líp Pin, Đài Loan v.v… Hàng chục các di chỉ là các đồ trang sức như vòng tay, nhẫn, chuỗi hạt có kĩ thuật cao được tìm thấy ở Tràng Kênh – Hải Phòng, Bãi Tự - Hà Bắc và Cồn Cấu, Bái Tê - Thanh Hóa. Tại di chỉ Văn Điển, ngành khảo cổ học đã tìm thấy một pho tượng người đàn ông được tạo tác khá kĩ bằng đá nhỏ, cao 3cm6 có niên đại cách đây 2000 năm TCN. Người ta cũng tìm thấy một pho tượng người nhỏ bằng đồng, tay dắt hai con chó ở Thanh Oai (Hà Sơn Bình) và một pho tượng đồng ở di chỉ Gò Mun. Kích cở hai bức tượng này cũng nhỏ tương tự như pho tượng đá ở Văn Điển.

    Tiếp theo, người ta tìm thấy ở Đông Sơn Thanh Hóa pho tượng bằng đồng lớn hơn vài lần tượng đá Văn Điển, đây là tượng người cõng nhau thổi khèn nhảy múa. Bức tượng người thổi khèn khác ở mộ Việt Khê – Hải Phòng là hình người đàn ông thổi khèn trên một cán gáo bằng đồng với tư thế thoải mái. Tượng người đàn ông đội đèn có bụng lớn, tròn tìm thấy ở Lạch Trường, Thanh Hóa và hơn 10 tượng người được tạo tác trên các đoản kiếm thời xưa cho ta nhiều thông tin về mỹ thuật tạo hình và trang phục xưa hơn.

    Năm 1961, ngành khảo cổ học đã đào được ở Việt Khê (Thủy Nguyên – Hải Phòng) một ngôi mộ có áo quan hình thuyền kiểu thân cây có khoét rỗng niên đại khoảng thế kỉ III đến IV TCN. Hiện vật gồm đồ gốm và đồ sơn, đặc biệt có một tráp gỗ hình hộp nhỏ (55cmx40cmx20cm), phía ngoài hộp sơn 2 lớp sơn đen và vẽ trang trí những đường hoa văn bằng sơn màu cánh gián hoặc nâu nhạt. Hoa văn vẽ khá tinh tế. Riêng 8 cán thương thì có 2 cái còn tương đối nguyên vẹn dài 2m37 và 2m35. Toàn bộ cán thương sơn màu vàng đen, trên đó vẽ trang trí những vòng tròn cách đều nhau như đốt trúc. Có ba đục bẹt cắm gỗ dài được sơn cẩn thận, vẽ trang trí vòng tròn như cán giáo, hai chiếc đục cán dài 55cm2, cán có móc đồng sơn then. Một miếng da thú có vẽ sơn trang trí đã bị tróc vỡ, rách, khi chắp lại có diện tích chừng 40x90cm. Trên mặt da được phủ hai lớp sơn, lớp trong phủ đen dày, ngoài đen bóng mỏng và có vẽ trang trí những vòng tròn đồng tâm bằng sơn màu đỏ gạch hoặc nâu xám. Giữa các cụm vòng tròn có nạm miếng kim loại màu trắng[1].

    Năm 1969 tại xã Vinh Quang – Hoài Đức – Hà Nội có một ngôi mộ cổ hơn ở Việt Khê cũng tìm thấy một đoạn gỗ sơn hai khoanh màu đỏ sẫm và màu đen.

    Đồ tùy táng trong một số mộ có cả đồ nghề làm sơn như bút vẽ, bát đựng sơn, bàn vặn sơn để lọc sơn trang trí…

    Thông qua những hiện vật di khảo cổ, tự thân chúng đã nói lên tiếng vọng của thời cổ đại xa xưa về đời sống sinh hoạt, nghi lễ nước Văn Lang xưa.

    Năm 1960 – 1961 trong cuộc khai quật ở Thiệu Dương – Thanh Hóa, người ta tìm thấy một hộ tâm phiến[2] có trang trí theo kiểu trống đồng đặc kín trên ngực một bộ xương, trên nó còn có dấu vết của các sợi vải. Hộ tâm phiến cho thấy rõ người chết được chôn theo tấm giáp là một thủ lĩnh hoặc võ tướng. Hộ tâm phiến hình vuông có trang trí các vòng tròn đồng tâm và hình móc câu. Tại Đông Sơn hồi trước cách mạng tìm được một bộ thắt lưng khóa bằng đồng có gắn lục lạc nhỏ. Những tượng đá, tượng đồng và những hiện vật trang trí tìm thấy ở trên là các tác phẩm mĩ thuật đầu tiên, phát triển đồng hành cùng xã hội xưa, và khắc họa lại đời sống văn hóa Việt cổ. Những trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Hoàng Hạ, trống đồng Điếu Môn… những đồ chế tác áo giáp đồng, khóa đồng, vũ khí, lưỡi qua, lưỡi giáo và hàng tạ tên đồng cổ ở Cổ Loa đã cho thấy một nền văn hóa Đông Sơn của nước Việt cổ thật rực rỡ, có bản sắc riêng.

    Nước Việt ở vị trí đất đai trù phú thuộc vùng trồng lúa sông Hồng, sông Mã nên đã sớm tổ chức lực lượng vũ trang. Vua đầu tiên của nước ta hiệu là Hùng Vương, tục cha truyền con nối có từ thời đó. Lực lượng chiến binh tồn tại dưới dạng thân binh tập hợp, bảo vệ thủ lĩnh nên trong tất cả các mộ táng đều thấy hiện tượng phổ biến là vũ khí đồng đều cho mọi lứa tuổi. Từ nhà nước Văn Lang này đã phát triển bền vững trong nhiều thế kỉ, mà đỉnh cao là Âu Lạc – thời An Dương Vương. Giai đoạn này thành Cổ Loa cho thấy rõ lực lượng quân sự gồm cả quân bộ có nhiều voi chiến, ngựa và quân thủy với nhiều thuyền thiện chiến chống ngoại xâm. Thủy chiến gồm thuyền độc mộc, thuyền thúng và thuyền có tầng (hình trên trống đồng), thuyền thúng hình bầu dục (hình trên rìu đồng vùng sông Mã). Một số thuyền thể hiện là thuyền có vũ trang (trống Miếu môn I và II), loại thuyền này có trang trí đầu mũi thuyền bao giờ cũng có hình linh thú kì dị. Đo theo luật tương quan thuyền có chiều dài khoảng 10 – 15 m, có bánh lái ở đuôi, có hệ thống nhiều mái chèo hoặc những cánh buồm. Đáy thuyền có ván rẽ nước. Trên thuyền có nhiều cọc phụ, người chèo thuyền trang phục quần áo tề chỉnh, người đầu thuyền cầm nhịp, có một vài chiếc trống da để ở giữa thuyền, thậm chí có cả sạp lầu thuyền. Loại chiến thuyền lớn nhất trang trí đẹp nhất, tiêu biểu có chèo lái ở đuôi thuyền. Trên hình thuyền của trống Hoàng Hạ có hai mái chèo lái đằng mũi, chèo lái ở đuôi dài, mũi ngắn nhưng rộng bản giống lái mũi trên chiếc thuyền của quốc gia Ki-ép cổ đại thế kỉ XIII. Hầu như các hình ảnh thuyền rất ít thể hiện người chèo thuyền khiến cho ta nghĩ thuyền chạy buồm. Ở đáy thuyền cả đuôi lẫn mũi đều có những tấm rẽ nước được trang trí đẹp. Trên thuyền có nhiều cọc ổn định. Trang trí đẹp nhất thường là các cọc phụ ở phía đuôi gần người điều khiển, có trống da ở giữa thuyền và một sạp lầu cao khoảng 1m5, vị trí lui về đuôi thuyền có xạ thủ bắn cung hoặc nỏ. Vũ khí nỏ là một loại đặc biệt của khu vực Đông Nam Á, thuyền độ dài khoảng 20 – 30 m. Vũ khí ngoài rìu, giáo, lao, dao găm, cung nỏ, giáp là loại sử dụng nhiều nhất để khi chiến binh khi tiếp giáp mũi thuyền là có thể sát thương, sau đó nhảy sang thuyền địch giáp lá cà. Thời kì này có Cao Lỗ là người chế ra máy nỏ với lẫy nỏ thần Kim Quy. Hiện ven bờ biển Malaysia người ta đã đào được một trống đồng Đông Sơn ở nguyên trạng thái trên ván, người ta nghĩ có thể đây là một tấm ván thuyền. Cách đây khoảng 4000 năm biển còn len lỏi vào sâu tận ven Hà Nội. Thời các vua Hùng còn tồn tại nhiều truyền thuyết về đánh giặc biển như Hồ Tăng phía nam cướp cả ven biển Hải Phòng, hang vua chống giặc biển ở Quỳnh Châu thời nữ trướng Lê Chân…, thần thoại Sơn Tinh – Thủy Tinh. Những huyền sử này đều xuất phát từ cốt lõi trong lịch sử người Việt cổ đại.

    --------------------
    [1] Những ngôi mộ tìm thấy ở Việt Khê, Hải Phòng – tạp chí NCLS số 49/4 – 1963, trang 18
    [2] Hộ tâm phiến: Miếng giáp kim loại che trước ngực của võ tướng thời xưa

  8. #8
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    NHỮNG DI VẬT KHẢO CỔ VỀ VẢI LỤA, ĐỒ THÊU
    THỜI KÌ HÙNG VƯƠNG QUA NHỮNG NGÔI MỘ CỔ

    (tiếp theo)
    Sau đây là những nghiên cứu về khả năng lụa bị phân hủy trong mộ thuyền ở Châu Can, Động Xá (Hà Tây và Hưng Yên) đã được khoa học làm sáng tỏ. Theo nghiên cứu của trung tâm tiền sử Đông Nam Á (Nguyễn Việt, Phạm Quốc Long) và nghiên cứu của Viện Hóa về các hợp chất thiên nhiên liên quan tới các miếng vải cổ (Chu Quang Truyền, Bạch Thị Lê) cho thấy:

    Nghiên cứu hơn 1300 mảnh vải và lụa khác nhau có tuổi khoảng 2100 đến 2300 năm, bước đầu biết chúng thuộc loại sợi thân cây gai (boehmira) và lanh (cannabis). Trên một số mảnh vải gai có hiện tượng sợi dọc mất đứt đoạn tạo ra như vải dệt kiểu đăng-ten (dental). Trong những công bố đầu tiên cho rằng do kĩ thuật dệt tạo nên vải như vậy, nhưng sau khi những mảnh vải này qua kính phóng đại cho thấy những vết lồi lõm, so le đều đặn ở phần sợi đăng-ten là dấu ấn tồn tại của những sợi dọc trước đây. Điều này cho thấy có hai khả năng sau:

    1. Mảnh vải được dệt hoàn chỉnh, sau đó được rút sợi, tạo ra những khoảng trống như đăng-ten. Do vải liệm được chôn còn mới chưa giặt nên nếp đè của sợi bị rút ra vẫn còn nhận thấy được.

    2. Mảnh vải đã được dệt bằng hai loại sợi khác nhau. Khi dệt, người ta đóng sợi trên khung dệt nhằm mục đích trang trí giống cách họ đã làm với miếng vải gai có băng nhuộm chàm bằng sợi lanh. Trong trường hợp này thì những sợi vải dọc đóng vào khung phải là sợi đã bị môi trường phân hủy.

    Các nhà khoa học đã tiến hành thực nghiệm kiểm chứng cả hai trường hợp nêu trên:

    1. Tiến hành dệt và rút sợi.

    2. Tiến hành với thí nghiệm dùng hóa chất đặc hiệu của môi trường đất của tầng chứ mộ tại Chân Can có chứa các đặc trưng động thực vật (bao tử phấn hoa và tảo) của vùng đầm lầy ven biển, có tuổi C14 vào khoảng 4500 BP[1], tương ứng với ngập biển Holocene giữa tại vùng này. Mẫu đất của tầng này đã được phân tích địa hóa, cho thấy độ pH rất thấp (trong khoảng 1-4), trái lại độ SO3 lại rất cao. Đây là môi trường bảo quản tốt các vật chất hữu cơ có nguồn gốc thực vật như gỗ, tre, nứa, vải sợi, thậm chí cả hạt quả. Một số có nguồn gốc động vật như xương, răng cũng được bảo quản rất tốt. Trong khi đó tóc, thịt, da lại bị phân hủy mạnh. Những đặc tính trên gợi ý cho sử dụng dung dịch SO3 với nồng độ khác nhau để khảo cứu độ phân hủy lụa (một sản phẩm chứa nhiều protein do con tằm tạo ra). Việc dự đoán lụa có cơ sở, do bằng chứng người Việt cổ Đông Sơn sử dụng lụa trong may y phục. Trong ngôi mộ Châu Can 2000 M1, nơi tìm được mảnh vải đăng-ten này, đã phát hiện dấu in của vải lụa trên một miếng đồng tùy tán.



    Những kết quả thử nghiệm:

    1. Rút các sợi vải tạo đăng-ten của vải gai và vải lanh tại hai xưởng thực nghiệm ở Quản Bạ (Hà Giang) và Vạn Phúc (Hà Tây). Sợi được rút theo chiều dọc tương ứng với chiều của những sợi bị mất trong hiện trạng khảo cổ. Kết quả cũng tạo ra những miếng vải tương tự. Thậm chí cả giặt vò thử cũng thấy độ lượn sóng ở khoảng sợi được rút như trong tiêu bản gốc.

    2. Thử nghiệm được tiến hành xem độ bảo tồn của các loại sợi thông qua việc ngâm vải dệt bằng những sợi tương ứng trong dung dịch SO3 có nồng độ và thời gian khác nhau. 12 mẫu vải được dùng cho 2 đợt thí nghiệm. Đợt 1: dùng lụa có tuổi từ 40 – 50 năm nay và hai mẫu lụa cổ từ thế kỉ XVII, XVIII của hoạn quan Nguyễn Bá Khang ở Khoái Châu, Hưng Yên.

    Kết luận:

    1. Trong môi trường chứa SO3, sợi tơ tằm có xu hướng bị phân hủy. Tuy nhiên chỉ với hàm lượng từ 10% trở lên, sợ tơ tằm mới bị phân hủy rõ, như vậy ta có thể quan sát trong thời gian vài tuần. Khi nồng độ SO3 cao tới 40% có thể thấy quá trình biến đổi của sợi tơ tằm. Sợi lanh Cannabis cũng bị SO3 phân hủy nhưng chậm hơn nhiều. Riêng sợi gai Boehmira hầu như không bị phân hủy.

    2. Việc dùng các loại sợi có nguồn gốc khác nhau để dóng sợi dọc trên khung dệt nhằm mục đích trang trí là đã thấy trên những miếng vải có nhuộm sợi chàm indigo tìm được trong vùng mộ Động Xá. Điều trên cho thấy khả năng dùng sợi có nguồn gốc tơ tằm xen lẫn sợi gai để dệt ra vải có chất lượng cao và mang tính chất trang trí là hoàn toàn có khả năng diễn ra ở thời kì Đông Sơn. Quan sát dân tộc học ở những tiêu bản cạp váy cổ của người Mường, chúng ta thấy họ cũng sử dụng phương pháp kĩ thuật này để dệt rang trên rang dưới cho cạp váy. Những người Mường bây giờ không còn dùng sợi gai nữa mà thay thế bằng sợi bông (cotton). Những miếng vải đăng-ten tìm được trong mộ Châu Can và Động Xá khoảng trên 40 tiêu bản là loại vải gai (Động Xá) và lanh (Châu Can), kiểu dệt phối hợp những sợi tơ tằm bằng cách dóng sợi ngang xem lẫn trong những sợi dọc. Các khoảng cách sợi dọc bằng gai có thể đếm được dễ dàng trên tiêu bản Động xá, thường là 3, 6, 10. Các khoảng sợi tơ tằm cũng khoảng 3, 6, 10, 20.

    Những phát hiện và khảo cứu đã cho phép khẳng định cụ thể thêm việc sử dụng phổ biến sợi tơ tằm ở thời kì Đông Sơn, đặc biệt sử dụng trong kĩ thuật trang trí dệt vải, cũng như lụa để dùng trong trang phục. Vậy có thể nói rằng, trong những thế kỉ trước công nguyên người Việt cổ đã biết dệt vả và quan tâm tới các trang phục.

    Bảng nghiên cứu kết quả trong 2 thí nghiệm ngâm vải lụa trong dung dịch SO3 và những niên đại tuyệt đối dựa trên phương pháp khoa học C14 ở một số di chỉ văn hóa Đông Sơn.

    Thí nghiệm 1:

    Tìm nồng độ môi trường SO3 mà hòa tan được các mẫu vải lụa 1 – 6 kết quả cho trên bảng 1:

    Mẫu số 1: lụa Hà Đông năm 1990 (silk 100%)
    Mẫu số 2: lụa vân Hà Đông năm 1970 (silk 100%)
    Mẫu số 3: lụa Hà Đông năm 2003 (silk 100%)
    Mẫu số 4: lụa Hà Đông năm 1950 (silk 100%)
    Mẫu số 5: lụa Việt Nam TK XVII (silk 100%)
    Mẫu số 6: gấm Trung Quốc TK XVII (silk 100%)

    Thí nghiệm 2:

    Kiểm chứng độ hòa tan các mẩu vải 1 – 6 ở nồng độ dung dịch SO3 40%, kết quả cho trên bảng 2.

    Về niên đại tuyệt đối dựa trên phương pháp khoa học C14 ở một số di tích văn hóa Đông Sơn cho kết quả giám định như sau:

    Chùa Thông: ZK[2] 309: 2655 +- 90 BP
    Việt Khê: 40pxChiền Vậy: B/n 983: 2350 +- 100 BP
    Quỳ Chữ: 40pxĐồng Ngầm: B/n 2448: 2675 +- 40 BP
    Gò Mun mộ ĐS: B/n 1287: 2385 +- 60 BP
    Châu Can: B/n 1435: 2325 +- 60 BP
    Châu Sơn: B/n 1874: 2285 +- 45 BP
    Làng Cả: B/n 1783: 2235 +- 40 BP
    Phú Lương: 40pxLàng Vạc: 1990 +- 85 BP
    Bái Tê: ZK 377: 1940 +- 80 BP
    Núi Nấp: ZK 378: 1670 +- 85 BP

    Qua các số liệu sai số cộng trừ dao động. Độ chính xác từ 50 đến 100 năm trên thời gian hàng ngàn năm, ta có thể thấy văn hóa Đông Sơn tồn tại khoảng thế kỉ VII hoặc VIII TCN đến thế kỉ III SCN. Niên đại này hoàn toàn phù hợp với nền văn hóa Đông Sơn của nước Văn Lang thời Hùng vương đã xuất hiện trong lịch sử người Việt cổ (trước và sau khi có cuộc tiếp xúc với văn hóa Hán – Trung Hoa). Những di tích khảo cổ đã tìm thấy góp phần nhận diện xã hội thời Hùng vương trên đất nước Việt Nam thời cổ đại, đây là những minh chứng rõ nét cho chính sử Việt Nam có một xã hội văn minh xã hội sông Hồng, nơi có nền nông nghiệp lúa nước phát triển và kinh tế đa dạng đã tồn tại ở khu vực Đông Nam Á từ thời xa xưa.

    Trong trang phục thời Đông Sơn không thể không nhắc đến các loại khuy cài, khuy móc. Có thể kể trên 10 chủng loại khuy cài từ to đến nhỏ. Loại to có thể dài khoảng 7cm, loại nhỏ 2cm, có nhiều hình dạng cài móc và có mũ khuy khác nhau. Có khuy mang hình dáng thuyền hoặc mỏ chim, một đầu dài ra và khoằm xuống vào khuy đồng bên kia mép áo. Thường ở giữa khuy có một đanh tán để ấn định vị trí khuy bám chắc vào vải hoặc đồ da. Hình dáng các khuy nói chung khỏe và thô. Có khuy được đúc trang trí hình đầu mỏ chim, có dạng hơi bẹt, thân hình bầu dục kéo dài và có mỏ quặp xuống. Có loại khuy móc hình tròn, thân như chiếc đĩa được uốn cong rồi quặp xuống. Căn cứ từ những khuy này cho thấy đồ trang phục phải là các loại phải dày hoặc đệm nhiều lớp, hoặc bằng da, lông thú mới không bị khuy làm rách trang phục. Trong những khuy được phát hiện còn thấy rõ một lớp mạ vàng ở phía ngoài, chứng tỏ đây là khuy dùng cho tầng lớp quý tộc, thủ lĩnh cấp cao, Lạc Hầu, Lạc Tướng. Thời Pháp khảo cổ học đã tìm thấy một lưỡi rìu xéo bằng đồng ở Quốc Oai, Hà Tây, được mạ vàng dài 14,5 cm – kí hiệu H723, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng nghệ thuật Bỉ ở Brussel. Tại bảo tàng nhân chủng học Áo Volkerkund ở thủ đô Vienna cũng lưu giữ một lưỡi rìu xéo bằng đồng thau mạ vàng 12cm x 11cm – kí hiệu 179.161. Cả hai lưỡi rìu này đều trang trí hình người chèo thuyền kèm hình ảnh chó săn và hươu trong khung khoa văn ô trám. Chiếc rìu xéo tìm được ở Vinh Quang – Hà Tây, dài 14cm tồn tại ở thế kỉ V TCN hiện lưu tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh, mã số 15857 cũng có những hoa văn tương tự. Những lưỡi rìu xéo ở thế kỉ V TCN của Đông Sơn cho ta nhiều điều suy nghĩ về một xã hội phát triển, phải chăng là tượng trưng cho một quyền uy cao quý, một báu vật để thờ nên mới được mạ vàng. Hai lưỡi rìu độc đáo này đều được người ngoại quốc sưu tầm lưu giữ mà chúng ta ít được biết tới.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    --------------------
    [1] BP: niên đại cách ngày nay
    [2] và [3]: phòng thí nghiệm

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    82
    TRANG PHỤC THỜI HÙNG VƯƠNG
    Trang phục của nhà nước Văn Lang cổ đại đã được đề cập và tìm hiểu qua nhiều nhà khoa học trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Dựa theo những thư tịch cổ của Trung Quốc và Việt Nam như: Sử Ký, Hán Thư, Thái bình Hoàn Vũ Kí đã phát họa ra những nét đầu tiên về người Việt cổ: búi tóc, chít khăn, mặc áo chui qua đầu và cài khuy bên trái… Trong nửa sau thế kỉ XX đã có một số nhà khoa học viết về con người và nếp sống văn hóa của người Việt, đó là H. Ma-xpe-rô với bài: Vương quốc Văn Lang trong tập san “Trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội”, 1919, tập XVIII; Đào Duy Anh qua cuốn “Sử cổ Đại Việt”, 1959 – Bắc Kinh. Đặc biệt trong “Lĩnh Nam chích quái” viết thời quốc sơ đã nói dân ta lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ gianh làm chiếu. Bên cạnh những tư liệu ít ỏi đó, khảo cổ học Việt Nam đã liên tục phát hiện được nhiều di vật cổ có chung một giai đoạn lịch sử trên cùng một địa bàn, chung một niên đại. Nhiều cổ vật khắc họa hình người, tượng người cổ, các đồ dùng canh tác như rìu, lưỡi cày, thạp đồng, trống đồng… Theo nhà sử học Lê Văn Lan, trong kỉ yếu Hùng vương dựng nước ông phỏng đoán về hình ảnh trang phục thời Hùng vương: “… thứ nhất chúng đều có niên đại tuyệt đối trong khoảng thiên niên kỉ thứ nhất trước công nguyên, nhiều mẫu có niên đại thế kỉ giữa của thiên niên kỉ ấy. Thứ hai chúng đều là sản phẩm của cư dân bản địa, những chủ nhân của văn hóa Phùng Nguyên và Đông Sơn cổ đại mà hậu duệ là người Việt Nam. Thứ ba chúng được sáng tạo theo một phương pháp nghệ thuật chủ yếu là hiện thực, phản ánh trung thành thực tế đương thời”. Ghi nhận này có thể làm một cơ sở để nghiên cứu trang phục thời Hùng vương. Đó là những dấu vết vật chất cụ thể của người xưa, những tư liệu khảo cổ học cho phép móc nối, đối chiếu, tập hợp giám định những tư liệu khác như vừa nói đến hoặc còn ít ỏi, sơ sài, hoặc thiếu đảm bảo chính xác theo phương pháp nghiên cứu tổng hợp khoa học.

    Khảo cổ học đã cho chúng ta biết rằng người Lạc Việt ở khu vực miền bắc Việt Nam là chủ nhân tạo dựng nên một nền văn hóa đồ đồng mà giai đoạn hình thành khoảng thế kỉ III, IV TCN. Những di tích này được phát hiện nhiều ở Thanh Hóa, đồng bằng Bắc bộ trên lưu vực sông Hồng, sông Đáy. Tại Phú Thọ, Yên Bái đã tìm được đồ đồng Lạc Việt. Thạp đồng Đào Thịnh phát hiện được ở phía bắc thị trấn Yên Bái thuộc tả ngạn sông Hồng, phía nam thuộc lưu vực sông Gianh, ở Quảng Bình là khu vực tương đồng cương giới nước Văn Lang xưa.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    Hùng Vương, Âu Lạc đã tạo dựng được nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ. Kể từ sau hội nghị đền Hùng mở đầu cho công trình nghiên cứu đồng bộ của nhiều ngành khoa học, trong vòng 10 năm đã tổng kết và đi đến nhiều kết luận giá trị về thông tin khoa học văn hóa thời Hùng vương. Qua khảo cứu các di khảo cổ thời Hùng vương như những công cụ canh tác, trồng trọt, bánh xe quay sợi, lưỡi câu, đồ chài lưới, đồ dùng sinh hoạt, vũ khí, vải lụa… đặc biệt phương thức sản xuất của nền văn minh lúa nước đã tạo ra những đặc trưng văn hóa trang phục Lạc Việt. Các hình ảnh lưu giữ trên các trang trí văn hóa nghi lễ, vũ hội, nhà cửa thuyền bè càng làm rõ nét hơn về nền văn hóa cổ Việt Nam. Tới năm 1985 tại thôn Vân Nội, xã Phú Lương, huyện Thanh Oai đã tìm thấy một tầng văn hóa dày dặc phủ đầy văn hóa Đông Sơn. Trong phạm vi hơn 1,5 vạn m2 đất màu đen chứa nhiều di vật như: dọi se sợi, đồ dùng, bát nồi, vò đất nung, lưỡi câu đồng. Trước đó cũng đào được ở đây trong một khu mộ táng khoảng 2000m, thu được 267 hiện vật bao gồm công cụ sản xuất, vũ khí, đồ trang trí, lưỡi cày, lưỡi hái, rìu, giáo lao, dao găm, thuổng cuốc, đặc biệt là trâm cài, khuyên tai, nhạc, thồ, thạp muôi, ấm, đĩa bằng đồng và bằng đá. Những đồ mới phát hiện trong áo quan khoét rỗng hình thuyền là những di vật Đông Sơn điển hình như rìu, giáo, lao, dao găm có trang trí tay chắn hình sừng trâu, khuyên tai bằng đồng, bằng đá, đĩa đồng, thạp đồng. Có mộ còn chôn theo cả tiền ngũ thù thời Tây Hán muộn, những pho tượng, trâm cài, và khuyên tai đồng càng làm rõ, phong phú thêm cho trang phục thời Hùng Vương, Âu Lạc.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">


    </div>
    </div>
    </div>

    Sách Lĩnh Nam chích quái đã nhiều lần nói đến việc cắt tóc ngắn của người thời Hùng vương, nguyên nhân vì điều kiện sinh sống cần phải cắt tóc để đi rừng cho khỏi vướng. Ở nhiều vùng dân tộc Mường Hòa Bình, kiểu cắt tóc này vẫn còn tồn tại rõ nét, đặc biệt là phụ nữ Việt đầu thế kỉ XX, cho đến sau giai đoạn cách mạng vẫn còn làm kiểu tóc này.

    Sách Giao Chỉ chí, Hán thư và Thái Bình Hoàn Vũ kí chép: “Trang phục Việt cổ búi tóc, chít khăn, mặc áo luồn qua đầu, cài khuy bên trái”. Kiểu áo có yếm ở trong với chiếc áo cánh ngắn xẻ ngực, dài tay không cài khuy. Phần cổ yếm cho thêu, vẽ hình chấm trang trí chạy vòng quanh một dải, hai vạt áo trước dắt vào trong thắt lưng, còn vạt áo ngoài phủ trùm ngoài thắt lưng. Người mặc váy dài và khăn trùm đầu được thấy rõ qua tượng một phụ nữ tìm được ở núi Nưa thuộc Thanh Hóa. Trang phục tượng này cho ta liên tưởng tới tài liệu sử cổ Trung Quốc đã nói ở trên viết về bà Triệu Thị Trinh cùng quê ở vùng Thanh Hóa như sau: “Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi dàu mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần”. Ở nước ta thời vua Lý Nam Đế khen bà Triệu là người trung dũng, sai lập miếu thời phong là: “Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân”[1].

    -------------------
    [1] VNSL, trang 53

  10. #10
    Ngày tham gia
    Jan 2016
    Bài viết
    9
    TRANG PHỤC THỜI HÙNG VƯƠNG

    1. KIỂU VÁY ÁO PHỤ NỮ
    Phụ nữ tầng lớp trên ngoài khăn vắt thành chóp nhọn trên đầu còn thấy trong áo cánh xẻ ngực là yếm, có thắt lưng trang trí quanh bụng, tiếp đến là váy chui (váy kín). Váy dài trùng tới chân có trang trí, ngoài váy có đệm váy được trang trí phía trước dài hình chữ nhật thả từ dưới thắt lưng trước bụng và sau mông. Hình ảnh này thấy rõ trên pho tượng bằng đồng ở núi Nưa – Thanh Hóa và tượng ở làng Vạc (Nghệ An).

    Kiểu váy có ít nhất hai loại:

    1.1. Váy chui (váy kín) có đặc điểm hai mép vải được khâu lại thành hình ống. Khi mặc chui qua đầu có phần cạp và thắt lưng. Những pho tượng tìm được ở Đào Thịnh (Yên Bái) đều mặc váy ngắn đến đầu gối, có thể lý giải rằng mặc váy này tiện cho thao tác trong lao động và là của lớp người bình dân. Một số váy ngắn có thêm đệm váy phủ ngoài ở trước bụng và sau lưng, có trang trí hình học ở tượng Bảo Vệ, Trành Kênh, Hà Tây, Thanh Hóa nay còn thấy ở váy của người dân tộc Hơ Mông. Váy ngắn chui là loại trang phục phổ biến của người Việt, còn được gọi trong dân gian là quần không đáy. Váy ngắn chui vẫn còn được mặc nhiều ở miền Bắc nước ta cho tới giữa thế kỉ XX. Ở vùng Ba Vì, Thanh Lũng, Quảng Oai những năm 1960 còn nhiều phụ nữ mặc loại vài này.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    1.2. Váy mở (váy quấn) có đặc điểm là một hình chữ nhật, khi mặc quấn quanh hông rồi giắt mép vải vào cạnh sườn hoặc ở hai đầu vải có dây buộc (thường gặp ở dân tộc Thái ngày nay). Kiểu váy này thấy ở tượng chuôi kiếm, tượng phụ nữ núi Nưa (Thanh Hóa) và tượng ở Làng Vạc (Nghệ An). Váy quấn dài xuống tận chân, trang trí hoa văn ở váy chạy dọc xuống gấu váy theo lối đăng đối. Phần gấu váy cũng có trang trí những chấm tròn hoặc kẻ sọc chạy xung quanh. Đệm váy ở cả phía trước và phía sau trên to, thuôn nhỏ dần xuống dưới. Trang trí gấu váy thường có tua hoặc quả bông, đệm váy được trang trí hình kỉ hà. Thắt lưng được quấn gọn, to bản, bao giữa cạp váy và áo nối liền với váy làm tăng thêm vẻ đẹp hình thể (thắt co) của phụ nữ. Nhiều dân tộc phương nam có kiểu váy này. Váy quấn dài thuộc tầng lớp quý tộc, mặc có kiểu cách cầu kì, trang trí hoa văn vải phức tạp, đa dạng chứng tỏ trang phục Đông Sơn phát triển.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    Người thời Hùng vương ngoài trang phục váy, khố, quần áo bình thường, trong lễ hội có đội mũ và mặc áo choàng chung kiểu dùng cho cả nam và nữ. Mũ làm bằng lông vũ, có lông cánh chim cài dựng đứng thành hình vòng tròn quanh đầu, đai mũ vòng quanh, phần trán lông cao hơn có ba điểm bông lau vượt cao lên. Lối áo choàng và mũ bằng lông chim tương tự thế này phổ biến nhiều ở các dân tộc châu Phi, châu Mỹ và văn hóa Maya. Váy áo còn được nhắc đến trong truyện áo lông ngỗng của Mỵ Châu, con gái An Dương Vương thời Âu Lạc của nước ta. Người Việt ngày nay vẫn còn dùng áo lá (áo tơi) rất tiện lợi cho việc làm nông nghiệp. Áo tơi được làm bằng lá cọ, loại cây phổ biến trên đất Phú Thọ nơi đất tổ vua Hùng. Trong một số ngôi mộ khai quật được đều có những đồ đan, dệt bằng lá cây hoặc cói.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •