Trang 12 của 12 Đầu tiênĐầu tiên ... 2101112
Kết quả 111 đến 119 của 119
  1. #111
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    VI. MỘT SỐ LOẠI NÓN THỜI LÝ, TRẦN
    1. Nón thủy ma: quân túc vệ thường đội.
    2. Nón sơn đỏ: thân quân đội.
    3. Nón sơn son gài lông đỏ: trấn điện tướng quân, lực sĩ hiệu úy, thiên hộ và quân lành đội.
    4. Nón tu lờ: chóp như thường, còn thêm cái vành rộng ra đến 1 mét rưỡi, thao nau sư cụ đội.
    5. Nón mặt lờ: người tu hành, nhà sư đội.
    6. Nón cổ châu: ông già kinh kỳ, họ hàng nhà quan đội.
    7. Nón ba tầm: các bà đi lễ, hát quan họ đội. Phía trong có cái “khua” sâu để đội đầu cho chắc.
    8. Nón Ma Lôi: làm bằng trúc thanh bì ở làng Ma Lôi, Hải Dương, thời Trần gia nhân của Trần Khánh Dư đã buôn loại nón này, thu lãi hàng ngàn tấm vải.
    9. Nón xuân lôi tiểu lạp: (nón sọ nhỏ) người thôn quê đội.
    10. Nón xuân lôi đại: nón cạp người có tang đội.
    11. Nón chéo vành: lính tráng đội.
    12. Nón viêng cơ: Thanh nghệ đội, rộng 1m cao từ 12cm đến 15cm.
    13. Nón khùa: vợ con lính đội, người ngoại trấn đội.
    14. Nón thúng: vành rộng phổ biến ở Sơn Tây đội.
    15. Nón vỏ bứa: dân tộc đội.
    16. Nón Tiêm quang đẩu nhược: làm bằng vỏ măng, nứa người Mán, người Mường đội.

    Ngoài ra còn phổ biến đội khăn quấn một vòng hoặc nhiều vòng, một đầu bỏ ra đằng sau v.v…

  2. #112
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    VII. CHẾ PHỤC MŨ ÁO HOÀNG ĐẾ, BÁCH QUAN LÝ, TRẦN
    Sách An Nam chí lược thế kỷ XIII viết về mũ áo hoàng đế, bách quan Lý, Trần như sau:

    - Hoàng đế đội mũ Bình Thiên, mũ Quyển Vân ,mũ Phù Dung, mặc Cổn y (tay thụng, tràng áo cong), cổ áo đính là trắng hay bông trắng kết lại, khăn kết tua vàng và ngọc châu phủ tấm vuông, tay cầm ngọc khuê, đeo đai lưng kim long.

    - Mũ tước vương (chia 3 bậc là vương, tự vương, thân vương): Mũ có đính con ong, con bướm vàng, lớn nhỏ thưa dày tùy theo cấp bậc; áo thân vương: mặc tiêu kim tử phục (áo có màu tía thêu kim tuyến).

    - Tước hầu chia hai bậc: minh tự một bậc gọi là mũ Củng Thần, ở trên có đính ong và bướm vàng. Tước hầu, minh tự mặc áo phượng ngư tứ phục (áo thêu chim phượng cá).

    - Từ đại liêu ban trở xuống mặc áo long cổn, đội Mũ Miện đều có cấp bậc (ban văn thêu con cá vàng). Viên ngoại lang, lang tướng đội mũ Miện kim ngân gián đạo (vàng bạc xen nhau). Lệnh thư xá đến văn hiệu thư lang (thượng chế, thị cấm) đều đội mũ bằng bạc). Mũ Miện đại lễ mới dùng đến, thường lễ chỉ đội khăn và mặc áo tía, các chức cung hầu, thư xá không được dùng. Đai lưng bằng vàng da tê hay bằng vàng tùy theo phẩm trật, hốt đều bằng ngà voi. Bọn chức quan, tá chức đều đội khăn, mặc áo tía thắt đai xéo, không cầm hốt, chắp tay lạy quốc chủ (hoàng đế). Bình thường ở nhà đội khăn Tàu, thường phục chuộng màu trắng, người trong nước ai mặc đồ trắng cho là tiếm chế, duy phụ nữ thì không cấm về trang sức. Từ vương hầu đến thứ dân thường hay mặc xiêm màu huyền, cổ tròn, quấn bằng lụa trắng, thích đi giày da. Vương hầu lúc vào vào yết kiến vua không bịt khăn tỏ ý thân quý, thứ dân thì không được như vậy. Các nội quan hầu cận, thượng phẩm đội mũ Dương Thường, đính ong bướm vàng hoặc thưa, hoặc nhặt mặc áo phẩm phục.

    - Trung phẩm thì mặc áo sắc chế hơi giảm. Hạ phẩm thì đội mũ Dương Thường, mặc áo tía, tất cả đều chắp tay lạy.

    Vua không cầm hốt. Khăn thường đội của quan thượng phẩm là nhung màu tía xen màu biếc có sáu tua kết sau khăn, đai thắt ngang để tỏ ý quan quý. Trung phẩm kết tua tía, hạ phẩm kết tua đen, khảm quanh bằng ngọc, vàng, đồi mồi cho ra vẻ lạ vậy.

  3. #113
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    1
    * Chú giải

    Phủ phất, đại phấn hoa trùng: những thẻ như côn trùng kết trên mũ.
    Tổ thọ: lụa thắt lưng.
    Thùy bộ: những viên ngọc đeo lòng thòng.
    Phương tâm: tấm phụ vuông đính trước ngực áo.
    Khúc lĩnh: áo cổ tràng.
    Miễn lưu: dải tua đính ở mũ đều hơi giống Trung Quốc.
    Áo Long Cổn: áo Long Cổn thường dùng để vua mặc những khi tế lễ trời đất, các nghi lễ lớn và đi với Miện, đó là hàng quý nhất trong Long Bào. Trang trí của áo Cổn nói chung thêu dệt chữ thọ, con dơi, mây “tượng trưng cho vạn thọ hồng phúc”. Trên Long Cổn mặt trước, sau 2 ống tay đều có hình 12 con rồng bố cục tròn. Hai bên rồng thêu hoa văn “bát cát cường” họa tiết gồm 8 đề án: luân, la, tản cái, hoa, quán, ngư và bàn trường, ngoài ra còn họa tiết hoa văn 12 chương chỉ dùng riêng cho áo vua, 12 đồ họa là: nhật tinh, nguyệt tinh, thần, sơn, long, hoa trùng, tông di, hỏa, tảo, phấn mễ, phất, phủ.

    - Đến triều Trần năm 1300 bỏ áo phủ ngoài, vua Việt Nam từ thế kỷ XIV đều mặc Long Bào, tay thụng, hoa văn hình rồng lớn, 5 vuốt ở vạt áo trước và sau. Tay áo, vai áo đều có rồng, gấu, Long Bào có sóng thủy ba, núi san hô ở giữa 3 tầng sóng (đối xứng); áo được dệt bằng chỉ kim tuyến nổi được gọi là Long Bào (gấm chân chim).

    - Áo Long Bào triều Nguyễn không dệt mà thêu. Các triều vua Nguyễn sau này áo Long Bào xuất hiện thêm cột sóng ở phía dưới sóng thủy ba, hình rồng dữ dội khác thời Lê Trịnh và Lý Trần.

    Từ thời vua Lê Thánh Tông năm 1471, áo bách quan có bố tử: áo quan văn hình chim tiên hạc, công nhạn; quan võ hình thú hổ, báo, voi v.v… Từ thời vua Lê Hiến Tông năm 1499, thường triều từ tháng 10 trở đi mặc áo tơ gai, từ tháng 2 mới mặc áo sa, nếu ngày mưa gió thì mặc áo bông vải để hợp với thời tiết, ngày quốc kỵ thì không được mặc áo vải sa, là hoặc vóc sặc sỡ (nhà Minh có hình bố tử 1368). Triều đình quy định:

    - 1 thước ta = 0.4m
    - Bố tử dệt màu tối không được dùng ngũ sắc.
    - Các quan văn võ từ tam phẩm trở lên, công, hầu, bá, phò mã đội mũ Phốc đầu hai cánh hơi dài bằng sa đen và to hơn các quan văn võ khác, cấp dưới không được dùng kiểu mũ Dương Thường.

    Triều vua Hiến Tông có thay đổi về một số trang trí trên trang phục như sau:

    + Cánh mũ của hoàng thân dài hơn, to hơn được trang sức bằng vàng.
    + Cánh mũ quan nhất phẩm, nhị phẩm được trang sức bằng bạc.
    + Cánh mũ của quan tứ, ngũ phẩm không trang sức, ở quan văn và quan võ thì dùng nón sơn trắng.
    + Quan võ lục phẩm đội nón sơn đỏ.

    Các vệ binh mặc trang phục áo đa la, nẹp viền theo mầu trắng đỏ vàng xanh (mũ áo đa la đều được làm bằng dạ hoặc bằng nỉ).

  4. #114
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    * Trang phục tiến sĩ – tạo sĩ và sứ thần

    Triều Lý Trần, theo Lê Quý Đôn: “Định ân điển ban trang phục cho tạo sĩ chứng tỏ rất chú trọng võ bị”. Áo dùng sắc xanh, đai dùng tơ dệt dát sừng trâu, mũ dùng sắc xanh hoặc nón sơn đỏ, thể lệ như người đỗ đồng tiến sĩ[1], triều Lý ban áo gấm cho bầy tội ngũ phẩm trở lên.

    * Tượng cổ Chu Văn An (1292-1370)

    Chu Văn An là danh nhân văn hóa kiệt xuất và là người thầy mẫu mực của muôn đời ở nước ta. Ông quê ở thôn Văn, xã Quang Liệt (Thanh Trì, Hà Nội), sinh ngày 25 tháng 8 năm Nhâm Thìn (1292). Năm 12 tuổi Chu Văn An đỗ Thái Học sinh, năm 16 tuổi đỗ Đình Thí. Ngoài 20 tuổi, vua Trần Minh Tông mời ông làm quan Tư nghiệp Quốc Tử Giám – người có ảnh hưởng quan trọng đến nền giáo dục đương thời. Chu Văn An dạy Thái tử Vương (vua Hiến Tông sau này). Thời dạy học, ông soạn bộ “Tứ thư thuyết ước”, “Tiều ẩn thi tập”, “Tiều ẩn quốc ngữ thi tập” cho các sĩ tử. Chu Văn An là người có tiết tháo, đã từng dâng “Thất trảm sớ” (sớ chém bẩy quan lớn nịnh thần trong triều). Năm 1357, Thượng Hoàng Minh Tông mất, triều Dụ Tông suy đồi, bạc nhược, ông xin về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, Chí Linh, Hải Dương.

    Khi Chu Văn An mất, vua sai quan đến dự tế và tặng ông là Văn Trịnh Công Thụy tức Khang Tiết và đưa vào thờ tại Văn Miếu như một thánh hiền. Đền thờ ông được xây dựng tại núi Phượng Hoàng, quê ông và nhiều nơi khác. Bảy thế kỷ đã trôi qua ,đền thờ ông ở núi Phượng Hoàng đã bị đổ nát. Vào cuối những năm 90, đền thờ ông được xây dựng lại. Khi tiến hành đào móng trên nền thờ cũ đã phát hiện ra tượng thờ Chu Văn An. Tượng cao khoảng 0.8 m đã bị vùi lấp bào mòn bởi mưa nắng, dù đã trải qua nhiều thế kỷ nhưng nhìn tượng chúng ta vẫn nhận rõ được mũ áo và trang phục thời Trần.

    Tượng Chu Văn An đội mũ chữ Đinh, mắt sáng, mũi cao, da trắng hồng, mặc áo tay thụng, có áo phủ trước ngực, có các lớp dải tua và đệm xiêm hình tua mái chèo. Trang phục tượng Chu Văn An có những nét tương đồng với bức phù điêu đá Ngô Gia Thị Bi (1358-1369). Tượng Chu Văn An mới tìm được có giá trị văn hóa lịch sử và là tư liệu về trang phục quý giá ở giai đoạn vương triều Trần ở nước nước ta.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    --------------------
    [1] KVTL 107/2

  5. #115
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    NGHỀ DỆT Ở KINH ĐÔ THĂNG LONG THỜI LÝ, TRẦN

    Thời kỳ tiền Thăng Long là thành Đại La thời Bắc thuộc, đã là nơi tập trung dân cư lớn của người Việt. Khu vực dân nội ngoại của thành là 11 vạn với con số hơn 40 vạn gian nhà đã cho thấy sự phát triển lớn cách đây mười mấy thế kỷ[1]. Vào thế kỷ VII và VIII trở thành “An Nam đô hộ phủ” là khu vực thành thị của người Việt, thời kỳ Bắc thuộc với truyền thống đã sớm phát triển nghề dệt vải lụa, từ thời Đông Sơn đã nổi tiếng với thứ lụa Giao Chỉ dệt bằng tơ chuối nõn nà, vải hoa “bạch diệp” độc đáo. Lúc bấy giờ có người phương Bắc họ Thái đến Đại La làm ăn. Ông đem nghề dệt lĩnh truyền dạy cho dân dệt được lĩnh trơn, sau đó truyền rộng sang các làng lân cận ở hai bên sông Thiên Phù, sông Tô Lịch như làng Tiên Thượng, làng Trung Nha, làng Vạn Long thuộc về vùng Kẻ Bưởi.

    Năm 1010 khi vua Lý Công Uẩn về thành Đại La định đô là Thăng Long còn lưu truyền câu truyện dân gian sau: năm 1010 vua ngự thuyền rồng trên sông Tô Lịch ra chời vùng Bưởi ở phía Tây bắc Hoàng Thành. Nhân dân nô nức đến đón nhà vua ở bến Giang Tân, dân các xóm làng nơi đây cặng một tấm lĩnh lớn có hình rồng uốn khúc chờ đón vua.

    Khi vua ngự thuyền đến nơi dừng lại hỏi ra mới biết tấm lĩnh đó là do dân xóm Bãi, xóm Tân, xóm Dâu dệt với tấm lòng yêu mến kính trọng nhà vua. Cảm động về dân các xóm làng thật có nghĩa tình nên truyền lệnh đổi tên các xóm Tân, xóm Nghè, xóm Dâu thành Nghĩa Đô (dân có nghĩa với Kinh đô), xóm Bãi thành Bái Ân từ đó đến nay.

    Các vua Lý đã rất chú trọng đến phát triển trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, coi như một nghề kinh tế quan trọng. Năm 1040 vua Lý Thái Tông tổ chức dạy cung nữ dệt gấm vóc phục vụ cho triều đình để tỏ ý tự cường dân tộc không dùng gấm vóc nhà Tống nữa, lập Quyến khổ ty (ty coi việc kho lụa). Tên vải Quyến cũng bắt nguồn từ đây. Quyến khố ty ở Thăng Long đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của nhà vua. Tháng 11 năm 1044 vua Lý Thái Tông xuống chiếu: “Cho Quyến khố ty, ai nhận riêng một thước lụa của người xử 100 trượng, từ 1 tấm đến 10 tấm trở lên thì phạt trượng theo số tấm, gia thêm 10 năm khổ sai”[2]. Thời kỳ này đã dệt được loại gấm đoạn cao cấp dệt hoa rồng cuộn mà Chu Khứ Phi đã ca ngợi, đây là loại gấm dùng để may Long Bào (gấm rồng cuộn hoa vàng ).

    Thăng Long và vùng phụ cận thời Lý Trần trở thành trung tâm dệt gấm, lụa lớn nhất trong cả nước phục vụ cung đình và dân chúng kinh đô trong suốt gần 4 thế kỷ. Nghề dệt vải, lụa được Nguyên Phi Ỷ Lan vốn xuất thân từ cô gái hái dâu chăn tằm ở Hương Thổ Lỗi (Gia Lâm, Hà Nội), công chúa Từ Hoa chỉ huy cung nữ dệt ở Nghi Tàm bên Hồ Tây, du nhập kỹ thuật dệt của Chàm do công chúa Thu La ở phía tây Kinh Thành phường Nhược Công (Thành Công – Ba Đình – Hà Nội) tạo ra những yếu tố phát triển nhảy vọt Thời kỳ này sản phẩm gấm lụa phong phú về chủng loại, không chỉ nhiều về số lượng mà còn có nhiều hàng dệt quý hiếm đạt tới trình độ kỹ thuật và thẩm mỹ cao phục vụ cho việc triều nghi khi may các loại áo mũ, phẩm phục, mầu sắc của 9 cấp phẩm quan lại. Mỗi làng nghề trở thành có những chuyên phẩm dệt độc đáo như Lĩnh Bưởi là loại hàng độc đáo dệt từ lĩnh trơn phát triển dệt thành lĩnh hoa chanh. Loại vải này có đặc điểm: mặt lĩnh láng bóng điểm hoa trang trí tinh tế mịn màng. Dệt lĩnh cải hoa là một bước tiến dài về công nghệ phức tạp, ngoài việc phải có sợi tơ được hồ đúng cách có pha sáp ong, số sợi dọc của tấm lĩnh lên tới 5100 sợi dặm mắc (sợi tơ vừa phải), sợi dặm mảnh (sợi tơ nhỏ), săm mốt (sợi tơ to). Khi mắc tơ lên khung dệt lĩnh hoa, còn phải mắc thêm go hoa lên khung dệt và một người thợ cài hoa. Lĩnh hoa nổi tiếng nhất là làng Giấy (Cầu Giấy – Hà Nội), tổ nghề là bà Ngọc Đô.

    Những hàng gấm dệt ở thế kỷ XIII thời Lý Trần đã làm cho các sứ thần nhà Nguyên là Trần Phu phải ca ngợi những bãi dâu xanh tốt, còn sứ Từ Minh Thiện không khỏi ngạc nhiên khi nhìn thấy Đại Việt có lụa sợi nhỏ ngũ sắc, có chiếu dệt gấm màu, có lĩnh ngũ sắc mềm mại bóng đẹp ở kinh đô ven Hồ Tây[3].

    Thời Trần nhà vua cũng rất quan tâm đến nghề dệt. Vua Trần Nhân Tông – người anh hùng đã lãnh đạo quân dân hai lần chiến thắng quân Nguyên Mông mà vẫn có những câu thơ khuyến khích các cung nữ dệt vải. Trong những thời kỳ thanh bình rộn tiếng thoi đưa, tiếng chàng đập vải ngày đêm vang động nơi cung cấm khiến nhà vua xúc động làm thơ

    Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ
    Mộc tế hoa thượng nguyệt lai xơ


    Dịch là:

    Thức dậy tiếng chày đã vắng ngắt
    Trên chùm hoa mộc nguyệt lồng gương


    Năm 1280 vua Trần Nhân Tông đã quy định thống nhất về thước đo gỗ và thước đo lụa cùng một kiểu, làm cơ sở trong việc tính toán lưu thông, sản xuất trao đổi các mặt hàng vải lụa.

    Đầu thế kỷ XV Nguyễn Trãi viết trong “Dư Địa Chí” rằng: Ở nước ta ít nhất cũng có tới gần 20 làng ,phường huyện, hộ có nghề dệt các loại sản phẩm cao cấp như gấm, vóc, trừu, lụa, lĩnh, lượt, là, the, sa. Có những loại vải sợi nhỏ đẹp hơn cả lụa. Lê Quý Đôn còn cho biết các xã thuộc trấn Sơn Tây gọi là xứ Tam Giang, huyện Từ Liêm, Đan Phượng có nhiều bãi trồng dâu, nhân dân chăn tằm dệt lụa ở xã Hạ Hồi, Thiên Mỗ, Ỷ La, Trọng Thụy nổi tiếng dêt lụa, trừu, lĩnh, là, lụa dày gọi là lĩnh vả hoặc láng. Xã Mật Cầu còn dệt được thứ Nụy đoạn (gọi là thung thúc) gấm dầy đủ các màu xanh, tím, biếc, vàng không kém gì của Trung Quốc.

    Thung thúc là một tên hàng dệt có từ thời xa xưa, sợi min, trông hình thức như dạ hoặc nỷ nhưng không nhẵn bóng. Thứ hàng này được dùng loại vải trên cắt chữ nho để làm đối trướng, dán vào câu đối. Các hàng sản xuất đồ tế khí, dùng làm lần bọc ngoài các đôi hia đẹp, phục vụ người giàu cấp cao của triều đình.

    -----------------------
    [1] Thăng Long Hà Nội; TS Lưu Minh Trị và Hoàng Tùng chủ biên – NXBCTQG 2000
    [2] Toàn thư tập I, trang 267
    [3] An Nam tức sự - Thiên Nam hành lý Từ Minh Thiện 1289

  6. #116
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    141
    BẢNG TÓM LƯỢC VỀ MÀU SẮC PHẨM PHỤC, MŨ ÁO BÁCH QUAN CÁC TRIỀU PHONG KIẾN VIỆT NAM THẾ KỈ IX - XVIII


    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

  7. #117
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Đôi lời kết

    Tập I của bộ sách Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam được trình bày dựa vào tư liệu dân tộc học, khảo cổ học, sử học. Đặc biệt là các thư tịch được đối chiếu dựa trên những thông tin khoa học của nhiều học giả trong và ngoài nước. Nội dung và các hình ảnh minh họa trong sách bước đầu giúp chúng ta có thể hình dung được diện mạo ,xuất xứ đặc điểm trang phục bản địa của người Việt xưa.

    Từ nguồn gốc dân tộc học đến môi trường địa lý, ảnh hưởng tôn giáo kết hợp với thể chế biến đổi qua các triều đại: từ Đinh đến Tiền Lê, Lý, Trần là một chuỗi tiếp nối phát triển trang phục, từ đó nêu ra được những đặc điểm cơ bản về trang phục từng thời kỳ vua quan với những thay đổi kiểu cách mũ, áo, họa tiết, hoa văn, màu sắc… trong các vương triều.

    Tác giả sẽ cho ra mắt bạn đọc tập II với nội dung trang phục thời kỳ Lê Sơ, Mạc, Lê Trịnh, Nguyễn thuộc năm thế kỷ cận đại còn lưu trữ được nhiều hiện vật, kiểu cách trang phục phong phú. Nhiều tư liệu hình vẽ, tranh ảnh và đặc biệt là những trang phục trong nhiều ngôi mộ cổ từ vua chúa, hoàng hậu, quận chúa, quan lại, tầng lớp quý tộc đến thứ dân sẽ làm sáng tỏ thêm quá khứ. Những tư liệu hiện vật thật sẽ giúp chúng ta có nhiều cơ sở khoa học để khám phá và phát huy đặc điểm trang phục của người Việt Nam ta.

  8. #118
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    PHỤ LỤC

    Một vài hình ảnh màu

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">










    </div>
    </div>
    </div>

  9. #119
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    6
    PHỤ LỤC

    Một vài hình ảnh màu

    (tiếp theo và hết)
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">










    </div>
    </div>
    </div>

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •