Trang 3 của 12 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 119
  1. #21
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    16
    NHỮNG HÌNH THỨC TRANG PHỤC, MÀU SẮC
    MŨ, KHĂN, VÁY, ÁO, KHỐ THỜI HÙNG VƯƠNG
    Trong gần một thế kỉ qua, ngành khảo cổ học đã tìm được nhiều di vật của người Việt cổ để chúng ta có thể hình dung được diện mạo và hình ảnh tương đối đầy đủ về trang phục của người Việt trong khoảng 6, 7 thế kỉ TCN. Các văn tự cổ xưa, các tư liệu hình ảnh trên những chạm khắc và tượng điêu khắc từ nhỏ đến lớn được liên kết trong một thời gian dài khoảng 7 thế kỉ trước công nguyên đến những thế kỉ sau công nguyên đã phản ánh được nhiều giá trị nghệ thuật đích thực của văn hóa Đông Sơn. Những đồ vải lụa dễ bị hủy hoại cũng đã được tìm thấy, kết hợp với trang phục trên các bức tượng cổ. Từ kiểu dáng váy áo, mũ miện… đến các họa tiết trang trí đã bổ sung cho nhau đầy sức thuyết phục để làm hiện dần lên lối trang phục cổ của người Việt. Riêng đồ trang sức bằng vàng, ngọc và một số đồ dùng sinh hoạt, vũ khí đặc biệt cho thấy nước Việt xưa cũng có một tầng lớp quý tộc rõ nét.

  2. #22
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    NHỮNG HÌNH THỨC TRANG PHỤC, MÀU SẮC
    MŨ, KHĂN, VÁY, ÁO, KHỐ THỜI HÙNG VƯƠNG


    1. TRANG PHỤC MŨ, KHĂN
    Ngoài các kiểu đầu tóc ra, phụ nữ quý tộc còn đội khăn, có vòng đai đầu đội mũ ống thấp hoặc cao. Có loại mũ hình chóp hoặc loe rộng, trang trí như hình dáng vương miệng (tượng núi Nưa). Tượng ở Bỉ có chóp mũ nhọn hoặc hình trái đào. Cấu tạo của mũ có trước, có sau, thân mũ, vành mũ (trang trí rõ nét). Phía sau mũ có đệm vải che gáy. Loại mũ thấp sau vành mũ được được xòe ra như những cánh hoa cúc bịt kín tóc trên đầu (tượng Làng Vạc).

    2. TRANG PHỤC ÁO
    Trang phục áo cho thấy phụ nữ quý tộc dùng phổ biến ba loại áo sau:

    a. Loại ngắn tay chéo vạt bó chẽn, hở ngực.
    b. Loại áo tay dài bó sát thân, vạt buông kéo dài, sau đó thắt bao lưng trang trí quấn phủ ra ngoài ở gần hông.
    c. Loại áo kín ngực để cổ đeo hạt chuỗi, vải trang trí quấn ngang ngực để nâng cao ngực và thắt eo lớn, vải trang trí dệt hình kỉ hà, ta có thể thấy kiểu mặc này gần gũi với trang phục của người dân tộc Mường.

  3. #23
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    59
    NHỮNG HÌNH THỨC TRANG PHỤC, MÀU SẮC
    MŨ, KHĂN, VÁY, ÁO, KHỐ THỜI HÙNG VƯƠNG


    3. VÁY VÀ ĐỆM VÁY
    Váy và đệm váy đều thuộc loại váy quây, có nhiều lớp váy, trang trí cầu kì. Vải có nhiều loại đã được dệt trang trí sẵn. Vải thường để quấn hoặc được may thành váy.

    a. Loại váy trang trí hoa văn hình học đối xứng như vải hoa, phần gấu viền váy để thoáng ít trang trí.
    b. Loại váy có trang trí ở phía gấu váy, dần trở lên phía trên để thoáng hơn. Hai loại váy kiểu này đều dài che kín chân.
    c. Có loại váy ngắn đến giữa vần đùi, không trang trí hoặc ít (vẫn có đệm váy). Đệm váy được phủ rộng từ thân xuống nhỏ dần, có dệt trang trí thả xuống chiều dài phần trên gấu váy, có loại như hình quả bông, đè lên nhau hai lớp. Đệm váy đều được mặc cả phía trước lẫn phía sau. Nếu váy ngắn, đệm váy cũng ngắn theo. Cách trang phục này ta còn tìm thấy ở người Mèo, người Dao khu vực miền Bắc nước ta ngày nay.

    Các loại vải dệt sẵn để may váy vẫn còn tồn lưu trong các dân tộc ít người ở nước ta từ Bắc tới Tây Nguyên. Trong những ngôi mộ ở Châu Can (Hà Tây), mộ Động Xá (Kim Động, Hưng Yên) và một số mộ khác người ta tìm được tới gần chục loại vải khác nhau, nhiều loại sợi màu là những băng dệt bằng sợi lanh để cải màu. Các kĩ thuật diềm tua, diềm khâu và kĩ thuật thêu đã tìm thấy, lối dệt con thoi cho ta hiểu rằng còn nhiều vấn đề của thời kì này chưa được biết rõ vì lớp bụi thời gian đã tiêu hủy các vật chứng mỏng manh. Trong số này có nhiều chất liệu tới hiện nay vẫn là đồ cao cấp như vải lanh, vải gai, lụa, da, không loại trừ cả sợi bông trong thiên nhiên, cũng như các loại vải ngoại do sự giao thương từ Âu sang Á hoặc ngược lại.

    Giao thương trên đất nước ta đã có từ lâu đời bởi còn lưu giữ tiền từ thời La Mã (Antonius), tiền này được tìm thấy ở nền chùa văn hóa Óc Eo; trên mặt tiền đúc hình người nghiêng, sống mũi cao thẳng, ở mặt phải là chân dung Demitrius (con trai của Antigonous – một tướng lĩnh của Alexandre) là vị vua có hình bán thân trên đồng tiền. Một đồng tiền là nữ thần Athena (thần Trí tuệ và tri thức, chiến thắng). Athen là thủ đô của Hi Lạp. Theo đoán định hai đồng tiền này thuộc loại tiền Indo – Greek Coin, phát hành thời kì xâm lăng của Alexandre Đại Đế ( khoảng 327 – 323 TCN). Thời gian này là giai đoạn nhà nước Hùng vương và Âu Lạc. Ở Ấn Độ khi đó là giai đoạn hoàng đế Asoka, ông đã truyền giáo đi các nước Đông Nam Á. Sử Trung Hoa đã nói vua Asoka cho xây dựng tại thành Nê-lê bảo tháp Giao Châu Việt Nam (Đồ Sơn ngày nay). Sách Thủy Kinh chú viết: vua Asoka 271 – 231 là một đại anh hùng Ấn Độ đã cho xây nhiều tháp Phật ở Đồ Sơn (Kiến An). Những sự giao lưu trên của đạo Phật truyền giáo cũng như việc các thương nhân qua lại đổi các hương liệu là điều có thể diễn ra, tạo cho xã hội phong phú về vải lụa trang phục. Ngoài ra nhiều đồ trang sức thủy tinh ở nước ta đã được thẩm định có nguồn gốc từ Ấn Độ và bản địa, chủ yếu từ trung tâm Arikamedu (Pondichery ngày nay) (Francis P.1980), niên đại thuộc thế kỉ I TCN. Các hạt chuỗi đá mã não đỏ, trong suốt, màu lục nhạt, lục sẫm, màu đỏ đục và thủy tinh cũng được giao thương tới Đông Sơn, bắc Việt Nam và thượng Lào ở Cánh đồng Chum (Hà Văn Tấn 1995; Colani. M. 1935). Trong lịch sử cổ đại vùng Đông Nam Á và châu Á luôn hình thành những đường giao thương xuyên đại dương, xuyên lục địa như con đường trao đổi đá ngọc từ miền núi cao của Mianma, đường tơ lụa qua Giao Châu đến Ấn Độ và Trung Cận Đông theo dòng hải lưu đến vịnh Thái Lan và Indonesia. Theo đường lan tỏa của văn minh đồ đồng (trống Đông Sơn) suy ra bức tranh phong phú của xã hội Văn Lang về trang phục tôn giáo của người Việt cổ.

  4. #24
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    7
    NHỮNG HÌNH THỨC TRANG PHỤC, MÀU SẮC
    MŨ, KHĂN, VÁY, ÁO, KHỐ THỜI HÙNG VƯƠNG


    4. TRANG PHỤC Ở CÁC TƯỢNG NAM
    Người Việt cổ ở xứ sông nước nhiệt đới nên nam giới về trang phục có phần đơn giản hơn nhiều, họ có tục xăm mình, cởi trần, cắt tóc ngắn. Theo sách Việt Tuyệt thư: “Người Văn Lang biết đóng gạch, nung vôi… Họ làm nhà bên bờ lau. Giỏi bơi lội, ở dưới nước mà như đi trên cạn, lấy thuyền làm ngựa, lấy bơi chèo làm roi. Họ thờ Giao Long làm thần…”. Chính cuộc sống xã hội sông nước này có ảnh hưởng tới trang phục của người Việt cổ ở tầng lớp bình dân, họ thường chỉ đóng khố đơn hoặc khố kép, có lá phủ trước sau. Trong các pho tượng nam ở các chuôi kiếm, chuôi dao găm trang phục thường ở trần, đóng khố, một số tượng đầu quấn khăn buộc bỏ giọt ra phía sau, thắt lưng bản rộng, đệm khố thường rất lớn, che ngang gần hết phần mông và đùi nếu đứng khép hai chân. Đệm khố thường được trang trí, thả dài có tết tua. Các tượng nam thấy hai tay có đeo vòng ống vòng tay dài cao tới ½ ống tay. Đặc biệt có một pho tượng nam còn diễn tả sau lưng đeo một đầu người, đầu tóc rũ xuống, che cả thắt lưng. Từ bức tượng này chứng tỏ văn hóa thời kì Đông Sơn còn có tục săn đầu người. Khu vực văn hóa Điền ở Vân Nam cũng rất phổ biến tục lệ này. Pho tượng này là nam giới nên phần chân bị thu hẹp tuy vẫn có cả vòng ống chân lộ ra. Thay cho phần váy xòe ra của tượng nữ Đông Sơn, tượng nam Đông Sơn đã tạo thêm hai vòng tròn xoáy ốc từ phía đốc dao thẳng lên gắn với hai chân ngang và đệm khố tạo cho tay cầm chuôi kiếm được vững chắc. Mô típ hình xoáy ốc là điển hình phong cách trang trí Đông Sơn.

    Lối trang phục này, ta có thể tìm được những lời tả trong sử thi Ê đê nhu sau: “Đam San tháo khố cũ, quấn khố mới, áo này chưa vừa lòng, chàng lấy áo khác. Chàng quấn một khố sọc rằn gập bỏ múi[1], mặc một áo dày nút[2]”. Loại khố này có hoa văn và tua ở hai đầu, đủ dài để quấn nhiều vòng hông, một đầu thả xuống phía trước che gần hết chân, đầu còn lại gập thành múi giắt ở bên hông trái. Áo dày nút là một kiểu áo cổ chui tay dài, vạt che gần kín mông. Vạt trước ngắn hơn vạt sau, ngực đính nhiều dải khuy đồng và khuyết đỏ đơm sít nhau thành một mảng hình thang trước ngực, các nút đồng làm thành một hàng dài thẳng đứng trước mỏ ác. Mảng khuy và khuyết đó trong như miếng giáp, tạo dáng khỏe mạnh cho toàn bộ chiếc áo.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    Hoặc ở một đoạn khác: “Chàng quấn một khố sọc điểm hoa kơ u, chít một khăn đen điểm hoa êmiê, mặc cái áo ông trời ở trên cao đã ban cho, từ trên cao ông trời đã thả xuống. Quanh hông, chàng quấn thêm một dải thắt lưng đen, đầu bịt thêm một vành khăn láng đỏ. Chàng hiện rõ ràng là một trang tù trường đẹp, tài ba”.

    Cách trang phục của người Tây Nguyên mà sử thi cổ Khan Đăm San và Khan Đam Kteh Mlan kể cho ta thấy hoàn toàn tương đồng với trang phục trên tượng chuôi kiếm Đông Sơn. Kể cả các trang phục giáp của nam và giáp của nữ thời xưa cũng có điểm tương đồng. Giáp lưới được đúc thủng theo trang trí cũng được nhắc tới “Y Đhing – Vậy thì Y Kuăt người anh mặc giáp sắt, người em mặc giáp lưới, hai dũng sĩ cuộn chạc ngựa, chạc trâu không rối (ý nói tung dây kéo được con vật về phía mình, tỏ sự dũng mãnh), em có ưng, có thương không?”. Vậy sử thi Ê đê đã kể về trang phục, cách thức trang trí, kiểu áo, khố quấn thắt lưng rất gần gũi với các tượng chuôi kiếm.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    --------------------
    [1] Khố sọc rằn gập bỏ múi (kpin riung kk’ ut) và áo dày nút (aokier boh anut) là hai bộ phận chính của bộ lễ phục đàn ông Ê đê.
    [2] Mặc một áo dày nút: chỉ tầng lớp quý tộc nhà giàu, đẹp trai – hình ảnh lý tưởng của xã hội. Sử thi Ê đê tập II trang 12/13/102 NXB CTQG 2003.

    (còn tiếp)

  5. #25
    Ngày tham gia
    Oct 2015
    Bài viết
    12
    NHỮNG HÌNH THỨC TRANG PHỤC, MÀU SẮC
    MŨ, KHĂN, VÁY, ÁO, KHỐ THỜI HÙNG VƯƠNG


    4. TRANG PHỤC Ở CÁC TƯỢNG NAM

    (phần tiếp)
    Trang phục một chuôi đoản kiếm khác của BTLSVN mang kí hiệu số 26617 có đầu quấn khăn, đai đồng bao quanh đầu, mặc áo cộc tay hở ngực, tóc tết dài song đôi thả xuống lưng, có bao lưng vòng quanh người bên ngoài, hai bên hông đeo bao kiếm, một tay co, một tay duỗi thẳng cầm đốc kiếm (tay phải), tay có đeo vòng lớn. Đệm xiêm rộng che kín mông, trang trí có đường biên chạy hai bên và gấu, phía trong trang trí hình kỉ hà gấp khúc, đệm khố có tua dài. Kiểu cách trang phục mạnh mẽ, trang trí cầu kì chứng tỏ là một thủ lĩnh hoặc quý tộc. Đây là một tượng có nhiều thông tin về trang phục chiến binh hoặc võ tướng, tù trưởng.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    Trang phục tượng cầm đèn ở Lạch Trường BTLSVN phần đầu đội mũ tròn có ngù và đai vòng quanh trang trí, nét mặt hài hước, râu ngắn, cổ đeo vòng trang trí rộng bản tỏa rộng che cả phía ngực vòng qua vai và lưng, ở trần, tay đeo hai chiếc vòng.

    Tượng đóng khố, phủ vải ngắn quanh hông và đùi. Thắt lưng rộng bản, có hai dải mái chèo tỏa xuống đùi ngang đầu gối, tượng ở tư thế quỳ (kiểu váy tua này còn thấy ở phổ biến ở trang phục vũ nữ triều Lý, Trần và múa cung đình Huế ngày nay).

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    Tượng người cầm đèn ở Bảo tàng Quốc gia về Nghệ thuật châu Á Guimet, Paris là pho tượng đầu tiên tìm được ở Đông Tác – Thanh Hóa. Đèn cao 19,5 cm, rộng 7cm, dày 6cm, phong cách tạo hình có nét mặt giống phong cách ở tượng Lạch Trường nhưng đơn giản hơn. Đặc biệt tượng đội trống đồng. Phong cách của pho tượng này còn lặp lại ở nhiều tượng nhỏ đặt trên các vòng trang trí quai đèn của loại đèn treo tường thời Đông Sơn.

    Tượng cởi trần đóng khố, tay cầm gậy dài, có niên đại từ thế kỉ I – III TCN – kí hiệu MG 23138.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    Trong hơn 80 năm qua, văn hóa Đông Sơn thời Hùng vương đã được các nhà khảo cổ nghiên cứu, phát hiện ra nhiều hiện vật vô cùng quý giá, làm hiện rõ một nền văn hóa xã hội người Việt cổ trước khi nhà Hán xâm lược. Nét sinh hoạt trong xã hội thời Hùng vương, Âu Lạc hiện diện trong nhiều lĩnh vực như kiến trúc thành quách, âm nhạc, vũ khí, đặc biệt về trang phục từ quý tộc, nam nữ, chiến binh đến trang phục lễ hội, tôn giáo, cúng tế thần linh…

    Văn hóa Đông Sơn đã tỏa rộng lên phía bắc Vân Nam và phía Nam vùng Đông Nam Á tới Indonesia, Phi-líp-pin v.v… đỉnh cao là trống đồng Đông Sơn. Hiện nay chúng ta đã phát hiện tới khoảng 300 chiếc trống đồng. Những năm gần đây chúng ta đã phát hiện được gần 30 trống ở miền trung và bắc nam bộ, trong khu cư trú của người Việt cổ thời kì TCN – vùng văn hóa sa Huỳnh. Trống đồng đầu tiên được tìm thấy từ năm 1921 ở lòng sông Du Kgiao, trống có trang trí 10 cánh sao, hoa văn người, chim lạc và tượng cóc, đường kính 34cm. 75 năm sau đã phát hiện thêm được số lượng trống đồng như sau:

    - Phát hiện tại vườn nhà xã Ea Riêng huyện Mdak (Đắk Lắk) một trồng đồng đường kính 62cm, 12 cánh sao, 9 vành hoa văn.
    - Ngày 25 tháng 2 năm 1966 tại nông trường 719A cách Buôn Ma Thuộc 95km về phía bắc tìm thấy một trống đồng đường kính 61cm, 12 cánh sao. Một trống Đông Sơn ở Ea Kênh huyện Krông Pắc, đường kính 76cm, cao 46cm, có 4 tượng cóc.
    - Năm 1997, anh Nguyễn Trọng Ân ở thôn Mỹ Thuận Trung, xã Hòa Đồng, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên phát hiện khi rà đồng nát tại Hòa Lễ, huyện Krông Pông một trống đồng đường kính 55cm, 4 tượng cóc.
    - Tại 3 tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Gia Lai phát hiện 6 trống đồng trong những năm 1996 đến 1999.
    - Tại Bình Định tìm được 9 trống đồng. Ở Bình Dương và Bình Phước mỗi tỉnh phát hiện được hai trống.
    - Năm 2003 ở huyện Krông Nô (Đắk Lắk) – Đắc Nông ngày nay, anh Lê Đức Thống tìm được một trống đồng 10 cánh sao, đường kính 40cm, cao 37cm.

    Những phát hiện khảo cổ học quan trọng ở miền trung cho thấy: nơi văn hóa Sa Huỳnh đã tồn tại thì văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ cũng có mặt ở đây từ xa xưa, trước khi xuất hiện vương quốc Chăm Pa và Phù Nam thời kì thiên niên kỉ thứ nhất TCN. Những dân tộc trên dãy Trường Sơn cũng là những hậu duệ của văn hóa Đông Sơn, họ còn bảo lưu nhiều lối trang phục xa xưa. Trang phục kiểu đầu tóc, đeo răng thú, đeo trang sức vòng ống, váy chui, váy quấn, đàn ông đóng khố, tất cả đều là hình ảnh tương đồng của trang phục Đông Sơn với các họa tiết hình học. Người Mnông ở Tây Nguyên thích đeo vòng ống và đồ trang sức hạt chuỗi, khuyên tai, vòng cổ có sắc thái Đông Sơn. Người Mạ ở Tây Nguyên ngày nay cũng còn đeo trang sức vòng ống tay xoắn trôn ốc như người Mnông, vòng ống chân xoắn trôn ốc hình chóp cụt, hai đầu loe ra và có mối hở với chiều cao 20cm[1].

    --------------------
    [1] Trang sức người Việt cổ - NXBDT Hà Nội 2001

  6. #26
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    8
    NHỮNG HÌNH THỨC TRANG PHỤC, MÀU SẮC
    MŨ, KHĂN, VÁY, ÁO, KHỐ THỜI HÙNG VƯƠNG


    5. TRANG PHỤC ĐÔNG SƠN Ở VÙNG TÂY NGUYÊN
    Các dân tộc có địa bàn cư trú thuộc dãy Trường Sơn, từ miền tây Quảng Bình đến miền Đông Nam Bộ, trang phục của họ còn mang đậm nét trang phục người Việt cổ bởi những nét chung sau: phụ nữ dùng váy quấn, nửa thân trên mặc áo chui đầu cộc tay hoặc dài tay hoặc ở trần tự nhiên, váy dài có trang trí các vạch và đường hình học.

    Trang phục nam giới chủ yếu là đóng khố có lá phủ (đệm khố), áo cộc tay xẻ ngực, trên đầu cả nam lẫn nữ có đai đầu bằng vải. Vào mùa lạnh có tấm vải choàng “áo ôm” được dùng phổ biến cho cả nam lẫn nữ.

    Kĩ thuật dệt của họ có kiểu cài hoa văn theo truyền thống, tương tự một số loại vải được tìm thấy ở mộ Châu Can. Mục đích dệt vải có kĩ thuật như một thành tố tạo nên trang phục, khổ vải chú yếu là hình chữ nhật để tạo ra váy, khố, áo ôm địu trẻ em. Khi liên kết hai ba tấm vải chữ nhật có kích thước nhỏ dệt dẵn đã tạo ra áo của nam hoặc nữ, với kĩ thuật, kiểu cách may ghép đơn giản, chủ yếu là những đường thẳng.

    Trang trí hoa văn dệt được bố cục thành những dải băng chạy dọc đường biên của khổ vải, có thể sử dụng kĩ thuật đính hạt cườm hoặc chỉ màu như các dân tộc Cơ Tư, Ba Na, Xê Đăng (thường ở cổ áo). Nói chung lối trang trí còn rất nguyên sơ vẫn giống thời cổ xưa. Ở các mộ chum Bàu Hòe (Bình Thuận) cũng phát hiện rìu xéo, nhạc đồng, giáo Đông Sơn. Mộ chum ở Dung Quất cũng tìm thấy giáo, dao găm cán hình chữ T có tay chắn hình sừng trâu rất đặc trưng đồ đồng Đông Sơn. Một chiếc môi có cán trang trí hoa văn hình sừng trâu ở tay cầm. Mộ Vò ở Phú Hòa, Quảng Nam cũng tìm tìm thấy một giáo, một dao găm, một đục, ba rìu Đông Sơn. Văn hóa Sa Huỳnh có giao lưu với văn hóa Đông Sơn về nhiều mặt. Đặc biệt rất phong phú về trang sức bằng đá, mã não, thủy tinh, khuyên tai hai đầu thú và khuyên tai vấu, rất tiêu biểu cho văn hóa Sa Huỳnh. Trang sức bằng mã não và thủy tinh phong phú, đa dạng, chủ yếu là hạt chuỗi. Hạt chuỗi có nhiều loại hình đa giác, hình thoi, hình ống. Hạt cườm nhiều nhất là ở di chỉ Giồng Cá Vồ có tới 1406 hạt chuỗi, 28 khuyên tai, 32 vòng tay đá ngọc và mã não. Đồ trang sức thủy tinh 732 hạt chuỗi, 284 vòng, 24 khuyên tai. Sức sống mạnh mẽ của người Việt cở giao lưu trên toàn cõi đất nước khắp bắc, trung, nam. Nhiều đồ trang sức ở Sa Huỳnh đều có mặt tại Đông Sơn, Làng Vạc (Nghệ An), Đồng Mõm, Hoằng Lý. Khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai ba vấu còn được tìm thấy ở Phi-líp-pin, Indonesia, Đài Loan và Hồng Kông, những vùng ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

  7. #27
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    NHỮNG HÌNH THỨC TRANG PHỤC, MÀU SẮC
    MŨ, KHĂN, VÁY, ÁO, KHỐ THỜI HÙNG VƯƠNG


    6. ĐỒ TRANG SỨC THỜI HÙNG VƯƠNG QUA CHẤT LIỆU
    ĐÁ, ĐỒNG, VÀNG, NGỌC, MÃ NÃO, THỦY TINH

    Thời Hùng vương phát triển trong giai đoạn mấy thế kỉ đã có những bước tiến trong sản xuất kinh tế và tạo được sự phồn thịnh của nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Xã hội người Việt cổ đã có nhiều nhu cầu cao, một số nghề thủ công đã phát triển như nghể đúc, nghề dệt, nghề chài lưới, gốm sứ… Nghề làm trang sức đã được hình thành như một sự phân công của xã hội và tách khỏi nông nghiệp. Từ các di chỉ khảo cổ đã thống kê được ở phía bắc Việt Nam có tới 12 làng nghề làm đồ trang sức, phần lớn tập trung ở vùng đồng bằng cao thuộc Phú Thọ ngày nay như: dọc theo sông Hồng huyện Tam Thanh, sông Đà đoạn thượng ở xã Đồng Luân, Ô Rô ở xã La Phù, Gò Chon ở xã Đậu Dương, Gò Chè, Gò Chùa ở xã Hương Nôn, Thọ Sơn ở xã Thọ Vân, Gò Cháy ở xã Sơn Thủy, Đồng Ba ở xã Quang Húc, Hồng Đà ở xã Hồng Đà. Những làng này có quy mô gần như một làng hiện đại ngày nay, thường ở ven bờ sông để thuận tiện cho giao thông vận chuyển. Những dấu tích còn tồn tại đến ngày nay cho thấy nơi đây là những công xưởng thực sự chế tác đồ trang sức, các loại vòng tay. Công xưởng Hồng Đà năm ở vị trí hợp lưu của sông Hồng chảy từ Lào Cai và sông Đà chảy từ Lai Châu ra, vì vậy có tên ghép là Hồng Đà. Từ công xưởng chế tác này tỏa đi khắp các làng bản xa xôi vùng đồi núi. Ở Hồng Đà còn có thể tìm nhặt được nhiều phôi, phác vật đang chết tác dở dang, vòng đeo tay và những nguyên liệu đá trong quá trình chế tác.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    Vùng Sơn La nằm ven sông Đà còn có xưởng chế tác đá ngọc Thọc Kim, ở xã Chiềng Lại, huyện Yên Châu. Cách chế tác ở xưởng Thọc Kim tương tự ở xưởng Hồng Đà.

    Khu vực làng nghề Bãi Tự ở vùng đất Việt cổ thuộc huyện Luy Lâu xưa hiện nay là làng Tiêu Thượng, xã Tương Giang, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Đây là địa bàn cư trú của người Việt cổ, họ có một khu công xưởng rộng lớn khoảng một vạn mét vuông, ở đó có thể tìm thấy nhiều chế tác trang sức đá ngọc, khuyên tai, hạt chuỗi dở dang. Nơi đây còn sản xuất cả những công cụ như rìu đá, đục đá v.v…[1].

    Đồ trang sức được phát hiện trong các di chỉ khảo cổ cư trú, mô địa thời Hùng vương và các di chỉ chế tác, trong đó có những di chỉ công xưởng rộng, trình độ kĩ thuật cao như di tích Tràng Kênh (Hải Phòng), Bãi Tự Nhiên (Hà Bắc), di tích Cồn Cấu, Gò Mả Hờ, Bái Tê (Thanh Hóa)… Những khuyên tai được sản xuất trong các di chỉ - xưởng sản xuất ở vùng này rất đa dạng, riêng loại khuyên tai hình vành khăn tương tự như trong di tích ở Đại Lãnh thấy khá nhiều trong giai đoạn văn hóa Gò Mun có niên đại cách ngày nay khoảng 3000 năm (Phong Châu – Vĩnh Phú đã phát hiện hơn 100 chiếc). Những khuyên tai này đều làm bằng đá ngọc, dáng nhỏ, đường kính vòng ngoài từ 2 đến 3cm theo Hà Văn Tấn – 1995, trong các di tích muộn, giai đoạn văn hóa Đông Sơn có niên đại khoảng 6, 7 thế kỉ TCN, bên cạnh những khuyên tai bằng đá ngọc hình vành khăn còn phát hiện hơn khoảng 40 chiếc trong 11 di tích văn hóa Đông Sơn là khuyên tai bằng thủy tinh.

    Khi đưa phân tích khuyên tai bằng thủy tinh Đông Sơn, đáng chú ý là kết quả phân tích có phần gần gũi với truyền thống chế tạo thủy tinh Ấn Độ khác với thủy tinh Trung Quốc.

    Đồ trang sức thời Đông Sơn rất đa dạng, phong phú về mẫu mã, chủng loại, kích thước, chất liệu, có thể chia làm 5 loại: trang sức hoa tai, trang sức vòng cổ, trang sức trâm cài và trang sức nhẫn đeo tay.

    - Nhẫn đeo tay có nhiều loại to hoặc nhỏ. Nhẫn to có trang trí vặn thừng, 2 chạc chuông gắn theo và đeo nhiều ngón của bàn tay.

    - Loại nhẫn nhỏ, vòng tròn đơn, mặt hình vuông trám phẳng. Hiện nay Bảo tàng Lịch sử Nghệ thuật Hoàng gia Bỉ (BT Brussel) đang lưu giữ một trong 4 chiếc nhẫn vàng tìm thấy ở Đông Sơn. Nhẫn có đường kính 2cm, niên đại từ thế kỉ II TCN, mặt hình quả trám tìm được ở huyện Nông Cống trong bộ sưu tập của Huet.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    --------------------
    [1] Nguồn tư liệu từ TS khảo cổ Trịnh Sinh

  8. #28
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    NHỮNG HÌNH THỨC TRANG PHỤC, MÀU SẮC
    MŨ, KHĂN, VÁY, ÁO, KHỐ THỜI HÙNG VƯƠNG


    6. ĐỒ TRANG SỨC THỜI HÙNG VƯƠNG QUA CHẤT LIỆU
    ĐÁ, ĐỒNG, VÀNG, NGỌC, MÃ NÃO, THỦY TINH
    6.1. Trang sức đeo hoa tai


    Số lượng hoa tai và vòng trang sức được tìm thấy ở trong một ngôi mộ Thiệu Dương (Thanh Hóa), số lượng vòng đeo tai nằm ở hốc xương tai tìm được 31 vòng. Vòng đeo ở cổ tay uốn hình lò xo còn nguyên cả xương tay di tồn. Đặc biệt là hoa tai to đùng cho cả nam lẫn nữ. Những chiếc vòng này có kiểu có khóa hoặc không khóa, có kiểu trang trí xoắn bện hoặc rãnh khía hay làm nổi múi lên nữa, có những vòng tiết diện tròn (chất lượng bằng đồng thau). Khuyên tai hình 4 vấu nhọn thấy ở các xưởng thủ công Đông Sơn như ở Nghĩa Lập, Đồng Đậu, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hải Phòng. Có những tiêu bản liên quan đến công đoạn chế tác loại khuyên tai này. Riêng các loại khuyên tai hai đầu thú ở Nghi Xuân – Hà Tĩnh, bên bờ sông Lam bằng đá, sừng màu đen cùng với một số vũ khí Đông Sơn bằng đồng thau (Văn Tấn – Trịnh Dương 1977). Khuyên tai 3 vấu nhọn tìm thấy ở Làng Vạc (Nghệ An) trong ngôi mộ thời Đông Sơn ở Hà Tĩnh, Quảng Bình. Khuyên tai hình con đỉa hiện nay ở nông thôn Việt Nam người ta vẫn còn đeo.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

  9. #29
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    NHỮNG HÌNH THỨC TRANG PHỤC, MÀU SẮC
    MŨ, KHĂN, VÁY, ÁO, KHỐ THỜI HÙNG VƯƠNG


    6. ĐỒ TRANG SỨC THỜI HÙNG VƯƠNG QUA CHẤT LIỆU
    ĐÁ, ĐỒNG, VÀNG, NGỌC, MÃ NÃO, THỦY TINH
    6.2. Trang sức hạt chuỗi, nhẫn


    Những hạt chuỗi được xâu lại bằng đá hình tròn, hoặc hình ống dài, hình quả trám và hình hạt na. Trang sức nhẫn, chất liệu chủ yếu là đá và đồng. Buổi đầu văn hóa Phùng Nguyên, các hạt chuỗi và nhẫn hoàn toàn bằng đá hay ngọc. Đến văn hóa Đông Sơn, đồng thau được dùng như một chất liệu bổ sung thêm cho phong phú. Nhiều mẫu được chế tác bằng đồng, có cả những trang sức du nhập bằng thủy tinh. Các loại chuỗi cũng được tìm thấy nhiều ở văn hóa Sa Huỳnh – miền Nam Trung Bộ nhưng phần đông là các chuỗi nhập ngoại, có xuất xứ ban đầu từ những lò ven biển miền Nam Ấn Độ khoảng từ thế kỉ V đến I TCN.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    Hạt chuỗi được làm từ nhiều loại mã não, đá ngọc màu, thủy tinh đục, thủy tinh mờ và trong suốt với nhiều màu sắc đen, lam, trắng, vàng, đỏ, tím nhạt… Các loại hạt chuỗi làm bằng đá ngọc (nesphirite) màu trắng, dân gọi là “đá Lạt Ma”. Những hạt chuỗi mã não đỏ có số lượng nhiều, hạt chuỗi đơn sắc mã não và thủy tinh, có loại hình cam đục kiểu dáng phong phú, nhiều nhất là hình quả trám, mặt cắt ngang có hình 6 cạnh, 7 cạnh, 8 cạnh, 9 cạnh, hình thoi dài có mặt cắt hình cầu, trình tròn, hình lục giác hẹp ở hai đầu. Hạt chuỗi có số lượng nhiều nhất là thủy tinh có độ trong, đục (loại bán thấu quang đục mờ)… Loại hạt chuỗi trang sức này được phủ rộng dọc theo bán đảo Malaysia, quần đảo Indonesia (ở Bali), ở Philipin trong di tích Tabon, đặc biệt địa bàn phân bố đồ trang sức trên trải rộng khắp miền Bắc nước ta. Các loại hạt chuỗi bằng mã mão, thủy tinh trong một số di tích văn hóa Đông Sơn còn thấy ở cả thượng Lào – cánh đồng Chum (Hà Văn Tấn 1995 – Colani M. 1935). Những trang sức chuỗi bằng mã não thủy tinh bằng những thế kỉ đầu công nguyên có thể nói tràn ngập nhiều vùng dân cư. Những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và qua phân tích cho kết quả: phần lớn loại trang sức này được du nhập từ trung tâm các trung tâm chế tác xuất khẩu chuỗi hạt ở ven biển Đông Nam Ấn Độ, chủ yếu ở trung tâm Arikamedu (Pondichery ngày nay) (Francis P. 1980).

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    </div>
    </div>
    </div>

    Niên đại của những chuỗi hạt khoảng nửa sau thiên thiên niên kỉ thứ nhất TCN chứng tỏ sự giao thương trên vùng ven biển Đông Nam Á. Hạt chuỗi vàng tìm thấy ở Đại Lãnh (Quảng Nam – Đà Nẵng) và trong di tích Mộ Chum Phú Hòa, Suối Đá (Xuân Lộc), Giồng Phệt, Giồng Cá Vồ (Cần Thơ – Thành phố Hồ Chí Minh) (1993 – 1994 Nguyễn Kim Dung và cộng sự). Những đồ bạc, vàng ở Óc Eo châu thổ sông Cửu Long là khuyên tai con đỉa, khuyên tai chốt xoay (thành phần bán thành phẩm còn có mặt trên đảo Java – Indonesia, Chăm Pa). Nghệ thuật kim hoàn có từ kĩ nghệ chế tác Ấn Độ, Óc Eo sáng tạo nên trang sức Chăm độc đáo. Trong thư tịch cổ Trung Quốc, cuốn “Cựu Đường thư” đã ghi cụ thể trang phục của vua Chăm Pha: “Vua mặc áo cổ bối bạch diệp, trên đeo trân châu, dây chuyền vàng kết thành chuỗi. Hoàng hậu mặc vải cổ bối tiêu hà, mình trang sức dây chuyền vàng, chuỗi ngọc trai”. Khoảng nửa đầu thế kỉ IX SCN còn cho biết rõ vua Vincơna Ta Vác Man IV: “người đeo những dây vàng có đính ngọc trai, ngọc bích giống như mặt trăng tròn đầy đặn, che một chiếc lọng trắng bao cả bốn phương trời bởi lòng còn sâu lớn hơn cả đại dương, trên thân trang trí kín tất cả bởi vương miện, đai, vòng, hoa tai bằng vàng, những chuỗi hạt hồng ngọc”. Trong bia đá dựng tượng ở tháp Pongana (Nha Trang) niên đại 1170 cho biết: “Các ngón tay vua đeo nhẫn với những hạt đá quý lấp lánh” (Parmentierh 1919). Ngoài ra trên rất nhiều pho tượng Chăm bằng đá, bằng đồng, phù điêu đều có diễn tả nhân vật đeo đồ trang sức trên yếm, cổ, vòng ngực, đai lưng, vòng đùi, vòng cổ…

  10. #30
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    NHỮNG HÌNH THỨC TRANG PHỤC, MÀU SẮC
    MŨ, KHĂN, VÁY, ÁO, KHỐ THỜI HÙNG VƯƠNG


    6. ĐỒ TRANG SỨC THỜI HÙNG VƯƠNG QUA CHẤT LIỆU
    ĐÁ, ĐỒNG, VÀNG, NGỌC, MÃ NÃO, THỦY TINH
    6.3. Trang sức trâm cài đầu


    Trâm cài đầu có nhiều loại to nhỏ và kiểu cách khác nhau. Có loại to, hình tròn, ba chân cài hoặc hai chân cài, có loại hình trái tim có gắn chim, hoa, ở giữa có hình người nhảy múa. Năm 1977 đã tìm được một trâm bằng vàng ở Đông Sơn – Thanh Hóa. Trâm là loại trang sức rất phổ biến ở Đông Sơn.

    6.4. Trang sức vòng tay

    Theo các nhà nghiên cứu khảo cổ, vòng đồng trang sức người Việt cổ tìm thấy ở Thiệu Dương, Đông Sơn có bản sắc riêng. Nếu so với loại vòng ở Mlu Prây thì vòng ở Campuchia gồm nhiều dây đồng xoắn hoặc vòng tay ở Non Nóc Thà (Thái Lan) lại là những vòng đồng đơn giản. Ở hai loại vòng ngoại vừa nêu không có những loại hoa văn trang trí điển hình như ở Đông Sơn. Từ những vòng đồng có mặt cắt hình tam giác cân đến những hình vòng ống Đông Sơn đã xuất hiện các hoa văn tạo dáng đẹp. Trang sức vòng tay có nhiều loại tiết diện vá cách chế tác khác nhau, có loại hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật, lòng máng sống trâu… Tất cả thường có trang trí hoa văn hình lông chim và hình học.

    Ngày nay những loại vòng trang sức của người dân tộc Tây Nguyên nói chung hoặc người Gia Rai nói riêng còn cho thấy nhiều tín hiệu cội nguồn cổ xưa của các loại vòng Đông Sơn. Chế tác vòng tay thường bằng đá màu vàng, màu xanh hoặc màu đồng thau, cũng có loại vòng bằng thủy tinh, bằng ngọc nhưng hiếm.

    Trang sức nhẫn đeo tay cổ xưa có nhiều loại tiết diện rộng, có đường trang trí tiếp tuyến, hình học, được chế tác bằng đồng, đặc biệt có gắn lục lạc nhỏ xinh hình quả chuông như kiểu bao vòng ống tay.

    Trang sức vòng đồng được mô phỏng từ những vòng đá của thời kì Gò Mun rồi từ đó sinh ra những kiểu vòng đồng có kiểu dáng phong phú, đa dạng do có sự phát triển của nghệ thuật đúc đồng.

    Trang sức vòng tay, trâm cài đầu số lượng phong phú không kám các loại hạt chuỗi và hoa tai, nhiều loại vòng thanh mảnh, hình vặn thừng; có vòng đặc, trang trí tiết diện tròn nhỏ để đeo nhiều vòng; có loại hình cong sống trâu trang trí khắc nổi; có loại vòng hình ống hở cạnh, cách khoảng 1,5cm có 5 vấu nhọn quấn xoắn ốc, trang trí vặn thừng nổi trên vòng ống chạy đuổi nhau độc đáo, vòng có kích thước 15,5cm, cao 5,5cm thuộc thế kỉ I, II, III TCN. Một số loại vòng tay thường được tạo tác là vòng tròn hoặc liên kết hình vòng tròn kiểu lò xo, to ở hai đầu, nhỏ ở giữa. Trang sức các loại trâm cài tóc hình vòng cung có các chẽ loại hai chân, loại ba chân tròn nhọn nối với vòng tâm dẹt, vòng cung có những chân chẽ ra để cắm giữ tóc. Loại trâm được chế tác cầu kì, đúc bằng đồng thau có thể là sản phẩm dùng cho tầng lớp trên, như trâm gài tóc trong ngôi mộ Phú Lương, Thanh Oai (Hà Tây). Những loại trang sức bằng kim loại quý như vàng, bạc cũng được tìm thấy ở giai đoạn này, có nhiều kiểu mẫu chế tác cho thấy sự kế thừa của đồ trang sức thời Hùng vương.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •