Trang 2 của 3 Đầu tiênĐầu tiên 123 CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 24
  1. #11
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    '..Người Nam từ chối không thi hành hiệp định(khoản 9),họ vi phạm hiệp ước ngay cả bằng cách dùng biện pháp trái với điều đã thỏa hiệp.
    "..Họ chỉ muốn dung thứ chúng tôi ở đây,xa nơi nhòm ngó ,không được ai biết đến ,không được nhìn thấy quốc kì.
    ".. Sau cùng ,người ta mạ lị chúng tôi trong các văn kiện chính thức ,nay thì chính nhà vua đã làm gương , và mạ lị thậm tệ nhất.
    "..Đối với tôi,tôi xin tuyên bố, là tuyệt đối không còn giải pháp nào khác ngoài việc dùng võ lực .
    '..Mọi liên minh với chính phủ này đều không thể được ;nhà vua đã trị vì hai mươi tám năm nay , nhất định ông không chịu thay đổi thói quen ,chúng ta phải tìm kiếm một người đồng minh khác .Trước đây tôi đã đặt nhiều hi vọng vào nhà vua , mới cách đây một tháng ,tôi còn cho mọi khó khăn của chúng ta đều tự Nội các mà ra .Tôi đã ước mơ gạt bằng cách gạt bỏ Nội các , đến thẳng với ông khi ấy;nhưng bản hiệp định đã đè nặng lên ông .Không thể,sau hai mươi tám năm trên ngôi, sống giữa 300 bà vợ ,tai chỉ nghe những lời lừa dối và phỉnh nịnh .Hiệp định nào kí đối với Tự Đức cũng đều là hão huyền ;vì quyền lợi của tất cả mọi người ,chúng ta phải tìm kiếm một kẻ liên minh khác để thay thế ông , rốt cuộc rất chắc chắn đó là sự thúc ép chúng ta.
    ".. Nếu trong trường hợp chẳng may,người ta phải nhân nhượng trước một tối hậu thư ,thì phải đưa vào hiệp định những điều khoản mới ,và phải thiết lập một nề bảo hộ thực sự với một trại quân Pháp đóng ở Huế bằng kinh phí của chính phủ Nam triều; phải để tàu thuyền cho nhà vua sử dụng ,nhưng thủy thủ đoàn phải do ta cung cấp ,họ phải chịu mọi phí tổn,và sau cùng phải lập tức trang trải hết mọi bối thường
    Tuy nhiên, giữa những năm 1875 bà 1878 ,tuy các đại diện tại chỗ như Rheinatrt vẫn nài nỉ cần thiết phải lập lên một nền bảo hộ ,chính phủ Pháp vẫn không hề tỏ ý thay đổi chính sách .Chỉ từ khi đô đốc Jaure'guiberry vào chức bộ trưởng Hải quân hồi 1879, thì hoàn cảnh ở Pari mới thay đổi dần .Jaure'guiberry lượng định là tình thế đã đến lúc phải thoát ra khỏi cảnh xa lầy do hiệp định 1874 gây ra. Trước mắt , các đại diện Pháp ,tình hình Việt nam ngày càng tồi tệ -sông Hồng còn bị đóng kín bởi quân Cờ đen ,triều đình Huế lại cử một phái đoàn đi Bắc kinhv.v...-những xác tín của những người như Rheinart do đó được củng cố thêm , và mỗi khi có dịp , ông này luôn nhắc lại lập trường của mình với viên thống đốc .Thư sau đây đề ngày 18 tháng 7 năm 1880 ,chứng tỏ ông ta vẫn theo đuổi lập trường ấy như thế nào;
    "..Người Nam tỏ ra cương quyết , thiên lệch, không chịu quan tâm đến những cam kết đã hứa với chúng ta trong khi lại rất khắt khe đối với những cam kết mà ta đã hứa với họ, thí dụ như muốn được vào của Thuận an, thì phải xin phép và có phép trước của họ .
    '.. từ năm 1975 đến 1876 đã hơn mười lần tôi trình bày về sự cần thiết của chúng ta phải thiết lập nền bảo hộ ; tôi đã khẩn khoản nhắc lại điều ấy nhân dịp người Nam vị phạm ;Điều 2 của hòa ước hồi tháng giêng năm 1876, khi họ viết cho thống đốc Anh ở Hương cảng để xin phái lãnh sự An nam tới bến cảng này.Khi ấy người ta còn hi vọng tiến tới thi hành thành thật các thỏa hiệp : nhưng ngày nay thì không còn có thể giữ chút ảo tưởng nào, tình hình đã xấu hơn trước đây mấy năm , vì lúc đầu người ta chưa hoàn toàn khinh thường các hiệp định đến thế .Thiết lập nền bảo hộ đã trở thành việc cần thiết nghiêm trọng, và cũng là một nhiệm vụ không kém phần khẩn trương ,vì đây thuộc phạm vi danh dự của nền Cộng hòa Pháp là không nên nâng đỡ một chính phủ mà chính phủ ấy đang bần cùng hóa và áp bức dân chúng "
    Rheinart cung hợp tác với Kergaradec,lãnh sự tại Hà nội nghiên cứu tình hình quân đội và dân chúng Việt nam , rồi cố phân tích,trong báo cáo ngày 30 tháng 11 năm 1881 gởi thống đốc , về tình hình chính trị và quân sự xem xét trong giả thiết mà nước Pháp đem thực hiện dự án Bảo hộ
    ".. Tôi tin rằng , nếu chúng ta muốn áp đặt nền bao hộ, thì chúng ra có thể làm được không khó khăn lắm . Có thể tiên đoán được là sẽ không gây sáo trộn gì ,và nếu có một vài biến động xuất hiện thì chắc cũng không quan trọng và dễ bị đập tan, mà khỏi cần đến sự hỗ trợ của quân đội Âu tây chúng ta.Theo ý kiến tôi thì an ninh công cộng sẽ không bị đảo lộn và sự kiện này sẽ qua đi mà không ai hay biết .Một hành động sẽ chỉ ảnh hưởng tới chính phủ mà không động chạm gì tới thương nghiệp , không thay đổi bất cứ gì trong quan hệ của họ với chính phủ,hành động ấy sẽ để họ đứng ngoài thời cuộc
    "..Con số những người muốn chống đối vì mất độc lập công nhiên của đất nước Việt nam sẽ rất nhỏ không thể lôi quấn nhân dân.Dân chúng biết là chẳng còn gì có thể mất thêm được nữa , sẽ chỉ có thể được lợi trong sự đổi thay , bất kể thay đổi thế nào khỏi tình trạng hiện tại .
    '.. Chỉ một số rất nhỏ người có ảnh hưởng đủ khả năng vực dậy một phần đất nước ,tôi không biết ai ngoài Hoàng kế Viêm mà ảnh hưởng dựa trên một đạo quân nhưng ảnh hưởng này chỉ thể hiện trên vùng thượng nguồn sông Cái"
    Dựa trên báo cáo vừa kể và những báo cáo của cùng tác giả .Le Myre de Vilers,thống đốc Sài gòn ,đã đề nghị chiếm đóng Bắc kì bằng quân sự trong thư đề ngày 21 tháng 12 năm 1881;
    "..Trái đã chín, nay là lúc hái được .Nếu chúng ta không hái , kẻ khắc sẽ tới lượm hoặc xứ sở này sẽ rơi vào tan rã (..) ".. Triều đình Huế sẽ phản kháng , nhưng triều đình ấy quá bất lực.Chính phủ Trung hoa sẽ tránh né , chúng ta sẽ không cho họ lý do để can thiệp vì chúng ta không tuyên bố chiến tranh và chúng ta sẽ nai hiệp ước 1874 để biện minh cho sự hiện diện của chúng ta (..0

  2. #12
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    hic hôm nay mới tiếp tục được , mấy hôm vừa rồi em bị cái trò worl ò tank nó hút hồn xin lỗi nhìu nhìu nha

    "Tôi tiên liệu là, chỉ ít lâu nữa chúng ta sẽ buộc phải chiếm giữ thành Hà nội và việc giữ cái thành phố cùng vùng ngoại ô .(...)
    ".. chỉ cần ba đại đội lính thủy đánh bộ , mà chúng ta có thể dễ dàng trích ra từ Sài gòn, cùng với ba đại đội có sẵn ở Bắc kì , đu để chúng ta bảo vệ cho việc chiếm cứ khỏi bị một bất chắc nào.."
    Như thế đó, tới cuối năm 1881 , những người chủ xướng cuộc can thiệp , ở mỗi cấp bậc hành chính, nghĩa là Rheinart ở Huế ,Le Myre de Vilers ở Sài gòn và Jaure'guiberry ở Pari ,đã trở nên đồng quan điểm .Trung tá Rivi`ere được phái ra Bắc kì vào tháng 3 năm 1882 ,thế là công cuộc can thiệp được thực hiện.Nhờ có những quan sát sắc bén -đôi khi vô liêm sỉ ,nhờ thái độ luôn gây hấn với triều đình Huế ,nhờ có hoạt động cương quyết nên mặc dầu hay bị bệnh tê thấp hành hạ .Rheinanrt đã tạo được ảnh hưởng chính trong quyết định đó.
    ALEXANDRE. LE. JUMEAU, BÁ TƯỚC .DE.KARGARADEC(1841-1894). Alexandre le Jumeau , bá tước De Kergaradec tới Hà nội năm 1875 với tư cách là lãnh sự đầu tiên của Pháp tại thành phố này .Ông ở nhiệm sở đó tới cuối năm 1883 .Vói chức vị ấy , đôi khi ông được nói chuyện với tổng đốc Hà ninh(Hà nội -Bắc ninh)và tiếp xúc qua thư với các quan đầu tỉnh khác ở Bắc kì .Ông đã cố thu lượm tin tức chính xác đặc biệt liên quan đến tình hình chính trị và kinh tế ở Bắc kì.Để làm điều đó ,ông đã đích thân tiến hành điều tra tại chỗ và tiếp xúc trực tiếp với các giáo sĩ thừa sai , cùng người Hoa.Năm 1877,ông đã ngược dòng sông Hồng lên tới Vân nam ,không chỉ để chắc nghiệm lại khả năng chuyên trở đường sông ,mà còn để tìm cách hoạt động ngầm đồng lõa với quân Cờ đen.Năm 1881 ông đi Hương cảng qua ngã Hải nam.Ông cũng quan tâm đến những vấn đề của tín đồ Kito ;năm 1876 ,ông tới thăm giáo phận Đông đang ngoài do cá tu sĩ dòng Đa Minh Tây ban nha điều khiển , ngoài ra ông vẫn tiếp xúc thường xuyên với giám mục Puginier.
    Một trong nhưng sứ mạng chính của Kergaradec là cung cấp những thông tin chi tiết về thời cuộc ở Bắc kì .Ông đã khảo sát nhiều sự việc ,trong đó có chế độ khảo hạch và thi cử của các nhà Nho ,và cả tình trạng lực lượng Việt nam sẵn sàng chiến đấu ở Bắc kì ,và từ những quan sát ấy ông đã làm hai báo cáo quan trọng có nhan đề: "..Ghi chép về thi cử của sĩ nhân trong vương quốc An nam " (dài 12 trang ) đệ trình ngày 17-11-1876 và "Báo cáo về các lực lượng An nam có thể dùng khi hữu sự tại Bắc kì "(dài 25 trang),đệ trình ngày 18-10-1880.
    Noi đây, chúng tôi chỉ kiểm điểm và tóm tắt báo cáo thứ 2 , trong đó Kergaradec đã phân tích tỉ mỉ tính chất và quân số thực sư,tổ chức , tuyển quân và huấn luyện ,vũ khí , thành lũy , đồn trại và vị tổng chỉ huy quân đội Việt nam.
    Quân đội.Những lực lượng quân đội Việt nam ứng trực tại Bắc kì không chia ra kị binh hay pháo binh, mà chỉ gồm toàn bộ binh .Trong thành Hà nội , chỉ thấy có hai trung đội đại bác .Các lực lượng ấy được chia làm hai loại
    a) Binh lính ở Kinh đô Huế .Số lính này được coi như là ưu tú nhất nước .Hai tiểu đoàn được đặt dưới quyền của Hoàng kế Viêm đống trong tỉnh Sơn tây.Một nghìn năm trăm lính khác được phân cho các tỉnh Nghệ an, Thanh hóa, Hà nội và Hải dương .Lính từ kinh đô tới phục vụ Bắc kì lên đến 2500 người
    b) Lính cảu các tỉnh , trên giấy tờ , ước trừng khoảng 60.000 ; trên thực tế nhiều lắm chỉ có được một phần tư( 15.000) là cùng .Ngoài ra còn có 5000 lính lệ của phủ huyện , và 5000 lính phu trạm .Như vậy trong thời chiến ,lính địa phương có thể tổng cộng là 70.000 người .Mới nhìn qua con số ấy đối với ta có vẻ quá lớn ,nhưng nếu đem so với dân số Bắc kì khi ấy có ít nhất là 8 hay 9 triệu dân thì số bộ đội của các tỉnh không phải là một lực lượng mạnh và đáng sợ cho lắm .
    Cũng lên ghi nhận thêm là con những lực lượng quân sự khác đồn trú tại Bắc kì ; thí dụ quân Cờ đen có từ 1500 tới 1600 tên , dũng cảm và có vũ trang tốt hơn bộ đội trong nước .
    Võ khí . Hai phần ba lính không có súng , mà chỉ được trang bị một cây giáo hoặc gươm.Còn một phần ba thì có súng;nhưng phần nhiều là những khẩu hoa mai cũ kĩ ; người ta thấy có một trăm khẩu súng nhồi thuốc trong thành Hà nội
    Tình hình phòng thủ Thành Hà nội
    a) tổng số lính ghi trong sổ quân
    - Số linh chính quy = 7.496
    -mười tiểu đoàn chính quy = 5.922
    -thủy binh =541
    -hai trung đội thu thuế thương chính = 108
    -pháo binh giữ tường thành =151
    Số lính phụ binh =1.574
    -một tiểu đoàn lính vệ ( tình nguyện) =442
    -lính giám thành = 500
    -lính chạy trạm =632
    b0 thành Hà nội được xây dựng theo hình mẫu Âu tây từ thế kỉ trước , bản vẽ do các sĩ quan Pháp từng phục vụ vua Gia Long thực hiện .mỗi cạnh tường thành dài ít nhất là 1200 mét . Tường thành đắp bằng đất , bên ngoài phủ một lớp gạch lớn rất chắc .Trên mặt thành có 49 khẩu đại bác .Nhưng tất cả đều bị gỉ sét và chắc là không phát pháo được
    Để kết luận cho báo cao ,Kergaradec cũng như Rheinart là người chủ trương can thiệp .Đối với ông, Bắc kì coi như dễ chinh phục và đặt dưới quyền bảo hộ.Tuy nhiên , theo ý chúng tôi ,phán đoán của ông chỉ đặt trên một kiến thức hời hợt về nền văn minh Việt nam.Ông chỉ xem xét những biến cố đã chứng kiến bằng độc nhất một quan điểm chiến lược ngõ hầu chiếm đoạt được một mối lợi ngắn hạn.Tuy vây, các báo cáo của ông đã gây được ảnh hưởng lớn tới Sài gòn chỉ vì chung xuất phát từ Hà nội.
    PAUL PHILASTRE(1837-1902) .Pilastre được biết đến trước hết là nhà Hán học lớn .Rất có khiếu về nghiên cứu ngữ học và ngôn ngữ học ,là một nhà bác học về tiếng Việt nam và chữ Nho,ông đã dịch bộ hoàng việt luật lệ ra tiêng Pháp và xuất bản năm 1874 thành 2 tập
    Tai Nam kì ,ông là một trong những sĩ quan Hải quân đầu tiên gia nhập ngành Bản xứ sự vụ.Ông được bổ nhiệm làm trưởng phòng Tòa án bản xứ vào thánh 6 năm 1868, rồi làm niên trưởng các tham biện Bản xứ sự vụ
    Vào tháng chạp năm 1873, khi Sài gòn được tin Garnier công kích thành Hà nôi,đô đốc Dupre' liền phái Philastre ra ngay Huế đê thu xếp mọi sự
    Từ Huế ,ông theo các sứ thần của Tự Đức phái đi Hà nội .Khi tới cửa sông Hồng thì Garnier đã chết được ba ngày ,ông tới Hà nội ngày 3 tháng Giêng năm 1874.Philastre nhận lấy việc đích thân thanh toán vụ "Garnier"bởi vì , đúng với chỉ thị của đô đốc Dupre',cần tái lập giao hảo với triều đình Huế .Vào những ngày 7thangs Giêng và 6 tháng Hai năm 1874,ông đã kí với các sứ giả Việt nam hai thỏa ước rút quân đồng thời ông cho thi hành lập tức việc rut quân . Trên cơ sở hai thỏa ước đó, một hiệp định mới sẽ được kí kết tại Sài gòn vào ngày 15 tháng 3 năm 1874 .Như vậy Philastre đã làm đầy đủ và trung thực những chỉ thị của đô đốc.'.. Trung thành với mọi ý tưởng và kế hoạch " của đô đốc Dupre' ,Philastre đã được trao Bắc đẩu Bội tinh vào tháng 8 năm 1874 vì '.. những cống hiến phi thường tại Bắc kì và Nam kì
    Trái lại ,những người thân với Garnier như các sĩ quan trẻ từng phục vụ dưới quyền y , hay như giám mục Puginier và những kẻ theo phe can thiệp , đánh giá hoạt động của Philastre là một sự phản bội.Danh tiếng học giả ngôn ngữ Việt nam của ông chỉ làm tăng thêm những lời trách ông.Thí du, người ta đã khắc nghiệt phê phán ông là "mất cả tính chất Âu tây , là An nam hóa hơn cả sĩ phu "
    Khi làm đại diện lâm thời tại Huế giữa những năm 1878 và 1879, những kiến thức về ngôn ngữ và thiện cảm với nền văn minh Việt nam đã làm cho nhiệm vụ của ông được dễ dàng ; những yếu tố trên đã giải thích được mối quan tâm của ông luôn giữ được giao hảo với triều đình.Mặc dù người Pháp phỉ báng ông , đã cho ông danh hiệu là " bạn thân của Tự Đức " ,ông vẫn không đánh mất cái nhìn vô tư và thản nhiên xứng hợp với một nhà ngoại giao , và trước hết ông vẫn luôn là một người từ tốn không ngoan'
    Những nhân xét của ông về Tự Đức , về quan trường về tình hình chính trị về chế độ kinh tế của Việt nam , có thể coi là sáng suốt và sâu sắc.Càng quan sát tại chỗ thấy những thực trạng của Việt nam,ông càng bi quan với tiền đồ của xứ sở , mặc dầu ông vẫn kính trọng
    nền văn minh , và tin tưởng ở khả năng con người việt nam
    Đâu đâu ông cũng nhận được những bằng chứng của sự bất lực và bảo thủ của Tự Đức , cua sự thiếu tinh thần canh tân nơi quan lại ,của sự tê liệt trong tổ chức chính tị đã ngăn cản công cuộc đổi mới cơ cấu .Philastre đẽ diễn tả trạng thái tinh thần của Tự Đức như sau.:".. nhà vua không có khả năng như mọi ông hoàng độc tôn khác ,Tự Đức đặt niềm vinh dự của ông ở chỗ không đổi mới xứ sở gì hết , và lí tưởng của ông là để lại cho kẻ kế thừa một đất nước y như tình trạng khi ông lên ngôi"
    "..nhà vua rất cương nghị, rất thất thường, rất dễ giận như bao kẻ bất lực khác ( không có con),không hề biết kìm hãm quyền bính của mình , lại thường làm những điều liều lĩnh dại dột.."
    Còn về khuyết điểm của cơ cấu điều hành quan lại, Philastre viết : ".. Đất nước này hết sức nghèo nàn , chính phủ bị ràng buộc trong tất cả mọi hoài bão có thể có và trong tất cả ý muốn cải cách , bởi những sợi dây không thể cắt đứt nổi mà không làm đổ vỡ hết hàng loạt.Triều đình bị kìm hãm bởi những điều mê tín cảu một xã hội đã được cấu tạo rất chặt chẽ;đối với kẻ cầm đầu, mê tín đó là những cớ viện dẫn để bảo vệ những quyền lợi đã có , đối với mọi người thì đó là vũ khí phòng thu chống lại mọi sự thay đổi .Mọi người đều biết mình có lợi gì khi thay đổi , nhưng lại chú ý nhiều nhất đến những gì sẽ mất và đều không muốn bắt đầu từ đấy"
    "..lí do của tình huống ấy cũng đơn giản :những quan chức cấp cao muốn làm tốt một số nỗ lực,nhưng vì ít kiên nghị nên trở nên bất lực trước tập đoàn quan lại cấp thấp luôn dùng sức mạnh kháng cự tiêu cực chống lại họ , giới quan lại cấp thấp đó không muốn ai động tới bất cứ cái gì ; họ tự biết mình không có khả năng để làm bất cứ việc gì , nên không muốn tạo ra so sánh giữa cái bất lực của họ với cách hoạt động hay khả năng của người ngoại quốc ; điều ấy xâm phạm vào chính " li do tồn tại " của họ và họ thích thú hơn là được dùng mãi mãi lính tráng và thợ thuyền của nhà nước để làm việc riêng , nào là bổ củi hay làm bếp,hoặc kiếm thêm thu nhập bằng cách bán cho những người ấy giấy phép được trở về nhà .Họ sẽ được hai cái lợi, bắt cá hai tay , một tay lấy tiền chuộc của lính , một tay lại lấy cái khẩu phần hay tiền lương mà chính phủ trả cho họ.Chính phủ An nam đã nhận được 2.000 khẩu súng , có là thứ khí giới tạm dùng được nếu người ta chịu chăm sóc nó .Ngay bây giờ hoặc một năm sau nữa là cùng , có lẽ không một khẩu súng nào trong số ấy còn dùng được bình thường .Các tàu thủy cũng thế ,cái gì cũng vậy cả

  3. #13
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    " Còn việc chúng ta tính nhận lấy trách nhiệm làm cho xứ sở đó được hạnh phúc ,thì tôi mong là nước Pháp đừng làm ,bởi vì tôi không hề yên tâm với giả thiết ấy
    "..tôi nghe nói nhiều người sẽ rất sung sướng khi thấy ta gây chiến tranh ở Bắc kì ,họ cho là có thể chiếm lấy xứ sở này với vài trung đội ;tôi tin rằng không thể giữ nổi với 10.000 binh lính và rằng , người Bắc kì sẽ không chịu phục quyền ta hơn chính phủ của bản thân họ"
    Tuy nhiên , sự đối lập của ông với hành động quân sự và lời kêu gọi đừng nóng vội của ông đều đi ngược dòng.Đó là một lập trường quá thiểu số và lửng lơ để có thể khẳng định , dù nó tỏ ra là đúng đắn trong một viễn tượng lịch sử .Sau cùng ,các thống đốc ở Sài gòn đã ngả về những đề án của Rheinart và De Kergaradec,nghĩa là thiên về các giải pháp can thiệp quân sự của Pháp vào Bắc kì ,và gạt bỏ những đề nghị của Philastre. Ông này thất vọng vì không thể chống đối hữu hiệu với luồng dư luận hiếu chiến, nên sức khỏe bị sa sút và về nghỉ hưu năm 1879,tuổi mới 42
    Khi ra đi,trong bản báo cáo cuối cùng mà ông gửi cho thống đốc Sài gòn ,ông đã bộc lộ cảm tưởng vừa buồn nản vừa hi vọng : buông nản đối với Tự Đức , hi vọng đối với xứ sở này
    ''.. Tôi tiếc rằng không thể ở lại Huế trong lúc này , tuy nhiên tôi phải thừa nhận là những hi vọng của tôi đã bị phía nhà vua làm hỏng
    " Tôi đã làm cho nhà vua lo sợ ,ông tỏ ra dễ dàng hơn , ít kiêu căng với chúng ta hơn ,nhưng tôi e rằng trong thâm tâm và đầu óc ông chỉ còn có sự lo sợ và mối oán ghét thù hận điên cuồng .Ông cũng quá dễ dãi ,quá thất thường nên không thực sự đáng sợ ; ông dễ nổi giận ,nhưng ông luôn nhượng bộ mỗi khi sợ hãi;không bao giờ ông biết đặt sang một bên lòng oán hận và tính kiêu căng để có được lợi thế từ địa vị của mình
    Ông chỉ quan tâm đến việc giữ nguyên tình thế hiện tại ,ông không thể làm bất cứ việc gì cho thần dân .Thưa ngài thống đốc ,những suy nghĩ đó của tôi không phát sinh từ nỗi chán nản thất vọng.Dù tính khí nhà vua ra sao,chúng ta vẫn có thể làm được một điều gì đó ở chốn này ; vả lại nhà vua chẳng thể sống được mãi mãi .Không phải ình trạng sức khỏe của tôi dẫn tôi tới kết luận đáng buồn ấy "
    Philastre về Pháp và biến hẳn khỏi sân khấu Việt nam. Những kết luận mà chúng tôi đưa ra cho tới những trang này thực ra không có gì là mới mẻ ; nó chỉ củng cố thêm những quan điểm đã được thừa nhận .Các giáo sĩ của Hội Thừa Sai đã hoạt động trong nước để thiết lập một thuộc địa và các sĩ quan hải quân thì thực hiện từ bên ngoài .Những người Pháp biện minh cho hành động của họ bằng những nguyên nhân kinh tế , nhưng khi ở trên thực địa , họ lại không thực sự cạnh tranh nổi với người Hoa về mặt thương nghiệp .Sự thật là , quyết định nhất là những lí do chính trị , đó là sự cần thiết phải có một căn cứ tác chiến để tiến về Trung Hoa và để cân bằng lực lượng với người Anh
    Tuy nhiên chúng tôi hy vọng là đã chứng minh được rõ ràng cái cơ chế của luồng thông tin giữ những kẻ thừa hành tại địa phương và chính quốc ,và ngược lại .Nếu người ta tin vào những thủ bản lịch sử của Pháp thì Jules Ferry đã đưa quyết định tối hậu vào tháng 5 năm 1883 nhân " vụ Bắc kì";,nhưng quyết định ấy chỉ là điểm kết thúc của một chuỗi quá trình đánh dấu từng giai đoan bằng các báo cáo ,áp lực ,thảo luận của những kẻ thừa hành tại chỗ ,từ cá thống đốc Sài gòn , tới các trù sứ tại Huế , các lãnh sự tại Hà nội, Hải phòng .Trong quá trình đó thật hiển nhiên , các sĩ quan trẻ của Hải quân từng gia nhập những vĩ trí ngoại giao , trú sứ hay lãnh sự đã giữ một vai trò quyết định

    CHƯƠNG 3
    TRUNG HOA VÀ NGƯỜI HOA VÀO THỜI KÌ ĐỘC LẬP DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
    Chúng tôi không trở lại những quan hệ lịch sử sóng gió giữa Trung hoa và Việt nam : là thuộc địa Trung hoa cho đến năm 966, khi quân Trung hoa bị đuổi khỏi Việt nam và Đinh bộ lĩnh (?979) lần đầu tiên thống nhất dân tộc Việt nam .Từ đó nước Việt nam coi Trung hoa là nguy cơ thường xuyên đe dọa nền độc lập của mình .Họ nghĩ vậy không phải không có lí do ,bởi vì mỗi triều đại cầm quyền ở Trung hoa - dù là gốc chủng tộc Hán (Tống- Minh ),Mông cổ ( Nguyên)hay Mãn châu ( Thanh) -đều đem quân đi chinh phục Việt nam ,nhà Tống vào năm 981 và năm 1076,Nguyên năm 1284 và 1287 , Minh năm 1406 và Thanh năm 1789.Như vậy lịch sử Việt nam hằn sâu dấu ấn của cuộc chiến chống đế quốc Trung hoa .Tuy nhiên , thời bình ,Việt nam không quyên triều cống thiên triều để giữ hòa hiếu với nước lớn : ba hay bốn năm một lần, mỗi phái bộ được cử đi sứ ở triều đình Trung hoa .Như vậy,"nhân tố" Trung hoa có ảnh hưởng đến chính sách của vua Việt nam cả trên bình diện quốc gia và quốc tế.
    Thật vậy quan hệ giữa Việt nam và Trung hoa không chỉ giới hạn ở " tiếp xúc" giữa hai nhà nước .Từ nhiều thế kỉ ,người Hoa đã định cư tại xứ này với địa vị là thương nhân ,đặc biệt là ở Bắc kì và Nam kì .Thêm vào đó , giặc Tàu ô thường tấn công tàu bè Việt nam chở gạo , nhất là từ tháng Năm đến tháng Bảy , trước mùa gặt , hoặc cập bến Việt nam để cướp lương thực ,bắt cóc phụ nữ trẻ em .Cuối cùng , cá vùng biên giới Việt -Trung đầy rẫy bon phỉ Trung hoa thu tiền mãi lộ các thuyền bè xuôi ngược sông Hồng hoặc cướp tiền tài ,lương thực của dân chúng .Nhà cầm quyền Việt nam càng suy yếu , bọn sống ngoài vòng pháp luật càng phá rối trật tự công cộng .Đặc biệt là sau những năm 1850 , rối loạn xã hội và nạn cướp bóc ngày càng thêm trầm trọng .
    Tóm lại , dân tộc Việt nam thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với người Hoa .Vì vậy, cần xem xét quan hệ Việt nam -Trung hoa ít nhất ở ba cấp ; cấp nhà nước ,hay là quan hệ ngoại giao ; cấp đời sống thường nhật , hay là cấp hoạt động của những người Hoa là thương nhân ; cấp tội phạm ,hay là cấp hoạt đọng của bọn phỉ và giặc cướp

    1. CÁC QUAN HỆ GIỮA HAI NHÀ NƯỚC
    -THẾ GIỚI QUAN CỦA VIỆT NAM
    Triều Nguyễn có thế giới quan rất đặc biệt.
    Thể chế Việt nam , giống như Trung hoa-" trung quốc. nghĩa là nắm ở trung tâm thế giới , tự coi mình là nước anh em bình đẳng với Trung hoa .Vả lại trong hệ thuật ngữ của Việt nam ,người ta gọi Trung hoa là Bắc triều và Việt nam là Nam triều .
    Các vua Việt nam tự xưng là Hoàng đế , là thiên tử , y như các hoàng đế của thiên triều Trung hoa .Trong các cuộc tiếp kiến sứ bộ các nước khác ngoài Trung hoa, trong các văn kiện ngoại giao dành cho các nước , chẳng hạn như Pháp , Anh hay Xiêm , hay là trong các chiếu chỉ ban cho thần dân , vua tự xưng là " Đại nam quốc đại hoàng đế ". Tuy vậy ,các sứ thần của triều đình Huế quỳ gối trước mặt hoang đe Trung hoa ở Bắc kinh , với tư cách bề tôi của Việt nam quốc vương.
    Trong các tài liêu nội bộ, triều đình Huế dùng thuật ngữ " bang giao"."quan hệ cùng cấp ". Để chỉ quan hệ ngoại giao với Trung hoa , có nghĩa họ không coi quan hệ giữa hai nhà nước là quan hệ thượng quốc và chư hầu.Việt nam còn dựa vào sự nhỏ bé của lãnh thổ mình để đòi quan hệ bình đẳng ; nước Chu - nước Trung hoa thời xưa được coi là lí tưởng trong sách vở Khỏng giáo - có lãnh thổ nhỏ bé và Việt nam , tuy nhỏ so với Trung quốc nhưng theo Nho giáo một cách thuần khiết nhất , không thể bị coi là không đáng kể hay là thấp kém hơn. Lập luận này không chỉ mang tính hình thức ; so với triều Mãn thanh đang thống trị ở Bắc kinh lúc bấy giờ , triều Nguyễn có ít nhiều tư tưởng tự tôn về mặt văn hóa ,đặc biệt họ tự xem là người bảo vệ truyền thống và đạo lí Nho giáo một cách chính thống hơn.
    Tuy nhiên để chứng tỏ mình cũng là " trung quốc",ít nhất Việt nam cũng phải được các nước chư hầu xung quanh nhìn nhận giá trị đạo lí và sự vĩ đại của vương triều .Các chư hầu ấy , đương nhiên Việt nam tìm thấy ở Đông nam á ,vùng mà Trung hoa ít có quan hệ .Do đó trong nửa đầu thế kỉ 19 triều đình Huế coi .Cao miên, Lào ,Xiêm,Miên điện chẳng hạn là chư hầu của mình mặc dù các nước này không thường xuyên gửi sứ bộ của mình đến Huế .Khi các triều đình Cao miên, Lào ,Miến điện chẳng hạn , gửi sứ bộ thỉnh cầu các hỗ trợ quân sự ,Huế coi đó là cử chỉ thần phục , cũng như thuật ngữ " nhu viễn" ( thu phục các nước ở xa)mà họ dùng trong quan hệ với triều đình các nước Đông nam á có một ý nghĩa tự tôn thượng quốc rất mạnh ,ăn khớp với sác tín của giai cấp thông trị rằng , nếu triều đình Bắc kinh vừa là đối thủ song vừa là đồng đẳng trên bình diện văn hóa , thì triều đình các nước Đông nam á ở một vị trí thấp hơn
    Năm 1815 ,Gia Long công bố danh sách 13 nước mà vua coi là chư hầu ; trong đó có Cao miên( Cao man),Xiêm (Xiêm la),Miến điện, triều đình Luang Prabang ( Nam chưởng ), triều đình Vạn tượng , triều đình Xiêng khoang ( Trấn ninh) Thủy xá quốc , Hỏa xá quốc -hai tên sau cùng chỉ bộ tộc Gia rai,nước Pháp ,nước Anh .. trên thực tế , từ năm 1802 đến 1858 chỉ có 4 nước Luang prabang , Vạn tượng ,Cao miên ,và Thủy xá quốc -từ năm 1841 , sứ bộ Thủy xá quốc đi cùng sứ bộ Hỏa xá quốc -là có thể xét riêng là chư hầu ,trong chừng mực họ có gửi sứ bộ đến Huế .Tuy nhiên, mặc dù năm 1805 đã có quy định bốn nước này phải cử sứ bộ định kì ba năm 1 lần , việc triều cống vẫn không đúng định kì chút nào ; triều đình Vạn tượng cho sứ sang năm 1805 và 1809 ;Cao miên năm 1815 ,1818,1821,1847,1851; triều đình Luang prabang năm 1824 và 1829 ,Thủy xá quốc năm 1831,1841vaf 1848
    Như vậy , triều đình Huế tự coi mình là " trung quốc ở phía Nam "; ở trung tâm thế giới phía Nam ,xung quanh có các chư hầu và bình đẳng với người láng giềng phía Bắc
    Thế giới quan này thể hiện cụ thể trên bình diện quốc phòng chẳng hạn.Đối với triều Nguyễn ,chỉ có một biên giới quan trọng mà họ phải bảo vệ bằng mọi giá : đường ranh giới giữa lãnh thổ Việt nam và lãnh thổ Trung hoa.
    Các biên giới phía Nam mơ hồ hơn, được coi là vùng bành trướng ảnh hưởng .Người ta tất nhiên cũng phải quan tâm và quan tâm chăm chú nữa ,nhưng không phải theo quan niệm thống trị lãnh thổ mà là thống tị dân chúng ;cùng ảnh hưởng dường như được như các nước Đông nam á ,trong đó có cả Việt nam ,quan niệm như là sự xác định một không gian xã hội trong đó người ta thống trị các dân tộc hơn là những đất đai tự nhiên.Trong bán đảo Đông dương ,người ta tiến hành chiến tranh với nhau là để có thêm nhân công hay để có uy thế về mặt quốc gia mà không tìm cách mở rộng bờ cõi như mục đích hàng đầu .Theo định nghĩa này , khái niệm của châu Âu về chủ quyền lãnh thổ không hiện hữu ở Đông nam á ,khái niệm này trên thực tế chỉ được đưa vào với chế độ thực dân phương Tây vào thế kỉ 19
    Tuy nhiên, nếu triều đình Huế không so đo , câu chấp lắm về việc xác định biên giói giữa Cao miên và Lào ,đó cũng bởi vì , ngoại trừ ở châu thổ sông Cửu long , biên giới thường năm đâu đó trong vùng núi non hiểm trở ,nên sự sác định nhân tạo có vẻ thừa .Tình hình này cho phép các bộ tộc thiểu số sống yên trên các vung trung du hay rừng núi ấy hưởng được ít nhiều tự do, yên ổn ,ở xa các trung tâm quyền lực chính trị .Điều này không có nghĩa là không có quan hệ trao đổi giữa các bộ tộc ấy và cư dân đồng bằng .Chẳng hạn , chúng ta đã thấy triều đình Huế thích thú việc ngươi Gia rai tỏ ra thần phục, vì điều này cung cấp cơ sở cho thế giới quan của họ và có lẽ cũng vì sự thần phục của những người mà họ gọi là " bọn mọi" ( từ mọi co nghĩa là Mọi rợ) giúp họ bù đắp mặc cảm đối với Trung hoa .Về sự trao đổi kinh tế , có những trao đổi khá sinh động : người miền núi đổi nhiều lâm sản , trong đó có những thứ được coi là rất quý -mây, sáp ong, quế , ngà voi, nhung nai , mật gấu , gỗ cây lô hội( để nhuộm hay là thuốc).. để đổi lấy muối , đối với họ là sản vật thiết yếu bậc nhất , các lâm sản quý lại được Huế dùng làm cống phẩm trong các chuyến đi sứ Bắc kinh
    - CÁC QUAN HỆ CHÍNH THỨC ( BANG GIAO SỨ)
    Thật vậy , triều đình Huế tiếp tục định kì gửi cống phẩm ( bang giao sứ) sang Bắc kinh .Từ năm 1803 đến năm 1853 , họ đã bốn năm một lần cà sau khi có vị vua băng hà hay vua mới đăng quang , ở Trung hoa hay ở Việt nam .Từ năm , 1853 đến 1867 do cuộc nổi loạn Thái bình thiên quốc ở Trung hoa , con đường đi sứ thông thường của các sứ bộ Việt nam bị cắt.

  4. #14
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    -Cống phẩm và sự phong vương
    Mặc dù đòi bình đẳng trong quan hệ với Trung hoa - chủ yếu với mục đích nội bộ - nhà nước Việt nam vẫn có nhu cầu duy trì quan hệ chư hầu với thượng quốc bằng phương cách gửi cống phẩm .Đó là vì:
    -Cử chỉ này khẳng định cho mong muốn có một quan hệ hòa hiếu và do đó đảm bảo an ninh quốc gia cho Việt nam
    -Đây là cách đảm bảo giá trị sự phong vương mà hoàng đế thiên triều đã ban cho vua Việt nam và những người kế vị .Sự đảm bảo này là cần thiết để hợp thức hóa tính chính thống của nhà vua : tầng lớp sĩ phu và quan lại chỉ coi vua là chính thống khi nhà vua đã được Trung hoa phong vương
    -Đây là dịp để trao đổi tặng vật,mặc dù tặng vật ngày càng giảm ,triều đình Huế vẫn có cơ hội nhân được nhiều vật phẩm quý giá, kể cả thương phẩm và sản phẩm "tinh thần":luạ, thuốc bắc ,nhân sâm, và cả sách kinh điển .. với giá rẻ bởi vì tặng vật của Trung hoa có giá trị lớn hơn cống phẩm của Việt nam
    Trong ba lí do trên , việc được phong vương có lẽ có ý nghĩa quyết định nhất .Từ khi được độc lập ,mỗi triều đại đã nhận từ Trung hoa sắc phong và ấn tín "An nam quốc vương " .Sắc phong và ấn tín này là dấu hiệu của sự chính thống .Dưới mắt người Việt nam ,lễ thụ phong là cử chỉ tiếp nhận sự thừa nhận chính thức của Trung hoa , qua đó ,Trung hoa ban sự chính thống cho triều đại và vị vua ngự trị .Hơn nữa , sự thừa nhận này về phía Trung hoa còn là sự bảo đảm không xâm lược .L Cadi`ere giải thích ."Lễ thụ phong , dưới mắt người Trung hoa là cái đem lại toàn quyền cho vua An nam .Trước khi nhận sắc phong của hoang đế, vua An nam chi được gọi là quốc trưởng ," lãnh tụ của vương quốc " hay đúng hơn , là " người đứng đầu vương quốc " vua chỉ nhận tước vương , hay gọi là vua cũng được ,cùng lúc với việc nhận sắc phong .Nhưng cũng như các vua ở Huế đã tự ban cho mình danh vị hoàng đế ,chúng tôi cho rằng họ đã luồn lách để tìm cách không tuân theo dúng các nghi thức do Trung hoa áp đặt , nhất là trong nghi thức lên ngôi và lễ đăng quang long trọng để té cáo với tổ tiên ở đàn Nam giao hay Xã tắc ..
    Một cách cụ thể hơn , một chuyến đi sứ diễn ra như thế nào? sứ bộ bắt đầu việc trình các thư viết tay của vua Việt nam lên vua Trung hoa .Nội dung thay đổi tùy theo hoàn cảnh : chào hỏi thông thường , chúc mừng lễ tấn phong hoàng đế mới , chia buồn khi có hoàng đế băng hà ,báo tin vua Việt nam từ trần , xin gửi sứ bộ đặc biệt sang Việt nam để dự lễ tấn phong , xin giúp đỡ
    Sau đó ,các sứ giả Việt nam kính cẩn dâng các cống phẩm cho hoàng đế Trung quốc , chẳng hạn như ngà voi, sừng tê, quế , lụa .. Đáp lại , hoang đế ban nhiều tặng vật hơn nữa cho vua Việt nam chư hầu của ngài ,và cho các sứ giả nữa
    Như vậy , sứ bộ thực hiện một số công việc theo nghi thức nhưng , đồng thời , họ cũng giải quyết một số vấn đề với các đại thần Trung hoa thuộc bộ Lễ . Chẳng hạn , năm 1803 , có nhưng cuộc thương thảo rất quan trọng về quốc hiệu dưới triều Nguyễn: Nam việt hay Việt nam
    Cuối cùng sứ bộ nhất thiết còn phải
    -Làm bản tường trình về tình hình kinh tế, chính trị , xã hội của Trung hoa theo sứ giả quan sát trong suốt chuyến đi sứ .
    -Trình báo những thể chế mới của triều đình Trung hoa
    -Mua sách của Trung hoa
    -Các tiếp xúc ngoại giao khác
    Ngoài việc gửi sứ bộ sang Bắc kinh , còn có những việc tiếp xúc ngoại giao khác thường uyên và tiện lợi hơn, nhất là với nhà cầm quyền ba tỉnh Quảng đông , Quảng tây , và Vân nam
    Các vấn đề giải quyết trong các trong các cuộc thương thuyết áy không thay đổi
    -Trấn áp các vụ vi phạm biên giới trái phép:"thân nghiêm cương sách". chính quyền Tự Đức lợi dụng điều này để bằng con đường ngoại giao , năm 1869, yêu cầu triều đình Bắc kinh gởi quân đội chính quy sang các vùng đồi núi Bắc kì để đánh đuổi bon phỉ Trung hoa
    -Cho hồi hương những người bị đắm thuyền : " chủng tuất" ngày 18 thang 9 năm 1877 , chẳng hạn , một thuyền chiến Việt nam bị đắm ngoài khỏi đảo Hải nam ,người trên thuyền được quan lại trên đảo cứu ; mười ngày sau 27 thủy thủ Việt nam được hồi hương
    -Dẫn giải phạm nhân :" giải phạm"
    Bề ngoài , khi tiếp tục triều cống ,Việt nam tiếp tục tỏ ra trung thành và phục tùng hoàng đế thiên triều ,nhưng trên thực tế phúc tạp hơn nhiều .Nhất là lý do vì Việt nam ở cách Bắc kinh rất xa , kiểm soát tương đối lỏng lẻo : chẳng hạn, so với Triều tiên , Việt nam có nhiều tự do hành động hơn , như sự phát triển của cái thế giới quan riêng biệt mà chúng tôi nói ở trên đủ chứng minh.Ngày 28thangs 9 nam 1883 ,trong cuộc chiến tranh Pháp - Hoa , Lý hồng chương (1823-1901),một trong những đại thần cấp cao nhất của triều đình Bắc kinh , nói rằng " Bắc kì là một mảnh đất vô dụng không đáng cho Trung hoa phải đánh nhau với Pháp khi Trung hoa còn chưa củng cố xong sức mạnh của mình ." đối với ông ta tình hình Triều tiên mới có tính chất then chốt đối với việc bảo vệ thủ đô Bắc kinh
    Như vậy , Trung hoa ít chú ý đến Việt nam , trừ khi có chuyện xảy ra liên quan tới quốc phòng của Trung hoa,trong lúc đó .Việt nam luôn luôn quan tâm đến thái độ của Trung hoa đối với mình
    Tuy nhiên , việc triều đình Huế áp dụng quy chế thượng quốc đối với các nước khác ở Đông nam á khiến họ không thể có quan hệ chật chẽ hơn với triều đình Bắc kinh ;chẳng hạn việc dùng các thuật ngữ " thiên tử"(con trời) và hoàng đế chắc chắn sẽ gây tranh cãi lớn nếu Trung hoa biết điều này .Do đó triều đình Huế không dám chủ động có những tiếp xúc có thực chất hơn những gì được quy định cho nghi thức hay thông lệ ngoại giao , nếu không phải là để cầu viện triều đình Bắc kinh trong trường hợp nguy cấp
    -TÌNH HÌNH CÁC QUAN HỆ CHÍNH THỨC DƯỚI TRIỀU TỰ ĐỨC
    Đầu triều Tự Đức , vua cử ba sứ bộ đến Bắc kinh . Năm 1847,năm 1848 và năm 1849 : các sứ bộ này đến thủ đô Trung hoa lần lượt vào các năm 1848,1848 và 1853 ( đi và về từ Huế đến Bắc kinh mất một năm hay một năm rưỡi)
    -Sứ bộ thứ nhất có nhiệm vụ ,trình cho hoàng đế thiên triều biết việc Tự Đức lên ngôi và xin cư một sứ giả đặc biệt sang tiến hành lễ tấn phong .Sứ bộ thứ hai và thứ ba là những sứ bộ định kì để dâng các cống phẩm theo thông lệ
    Nhưng sứ bộ thứ 3 gặp khó khăn do quân Thái bình thiên quốc chiếm giữ các tỉnh Hoa nam . Sứ bộ này rời Huế tháng 10 năm 1852 , thế mà , ba năm sau vẫn chưa về .Tự Đức lo lắng chăm sóc gia đình những thành viên cảu sứ bộ bằng cách đặc biệt ban cấp cho họ tiền và gạo .Cuối cùng đến cuối năm 1885 sứ bộ mới về đến kinh đô Việt nam
    Từ 1853 đen 1857 , vì con đường chính thức của phái bộ Việt nam sang Bắc kinh vẫn bị quân Thái bình thiên quốc cắt mất , chính quyền Tự Đức không tìm được con đường khác nên không cử ai di sứ .Kế ra Tự Đức có thể nghĩ đến đường biển , Huế-Hải phòng - Hương cảng -Thượng hải -Thiên tân -Bắc kinh, nhưng ngoài việc tháng 5 năm 1856 chính quyền Trung hoa báo cho triều đình Huế biết họ đã hoãn việc triều cống cho đến khi dẹp yên các cuộc nổi dậy ở các tỉnh phía nam ,các tàu Pháp thuộc ham đội biển Đông thường đi lại tuần tra ngoài khơi bờ biển Việt nam và nếu phái sứ bộ đi có nguy cơ bị chặn lại .Và nhất là Tự Đức không có ý định cầu viện Trung hoa để chống lại cuộc xâm lăng của người Pháp .Theo kết quả chúng tôi khai thác trong chính sử ,"thực lục"và những tư liệu gốc từ bản thảo của lãnh sự quán Pháp tại Huế , thì Tự Đức có gắng tự giải quyết việc này cho đến năm 1882
    Năm 1868, Tự Đức lại cử sứ bộ sang Trung hoa để bình thường hóa quan hệ giữa hai nước .Sau đó, thông qua nhà cầm quyền địa phương ở hai tỉnh Quang đông -Quảng tây ,triều đình Huế xin Bắc kinh gởi gấp cho một đơn vị quân đội tới vùng thượng du Bắc kì để trấn áp những cuộc nổi dậy cuối cùng của tàn quân Thái bình thiên quốc .Bắc kinh đồng ý và tháng 4 năm 1869, tướng Phùng tử tài vào Lạng sơn với 31 doanh quân đội chính quy gồm 15.000 quân , để hợp tác với quân đội Trung hoa , Tự Đức cử Vũ trọng bình làm thống lĩnh quân tiễu phỉ.
    Một số quan lại cảu triều đình Huế chống lại việc cầu viện quân Thanh .Họ chủ yếu nêu các lí do sau:
    -Gánh nặng tài chính do việc chính quyền Việt nam phải đài thọ theo thông lệ các phí tổn của quân Thanh lưu trú dài hạn
    --Sự kém hiệu quả của quân đội triều đình Trung hoa , vì trước mặt họ , bon phỉ chỉ tỏ ra phục tùng ở vẻ bề ngoài để tránh đụng độ

  5. #15
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Về phần mình ,Tự Đức lập luận như sau
    "Trong quân đội nhà Thanh ,đến từ xứ xa , nếu nhiều người ngã bệnh"sốt rét'' cũng là chuyện bình thường .Nhưng trên thực tế họ hoạt động rất tích cực .Bọn phỉ người Tàu cũng không khó khăn gì khi định cư lâu trong vùng đất nổi tiếng là dễ mắc bệnh sốt rét .Thế mà người ta bảo rằng binh sĩ cua ta mắc bệnh nhiều đến nỗi không thê hăng hái chiến đấu chống bọn phỉ Tàu.Ai mới là người dân bản địa ở sứ này ?Như vậy liệu có hợp lí không ?Tại sao binh lính cua ta không biết xấu hổ mà lên tinh thần khi thấy binh sĩ nhà Thanh chiến đấu hăng hái , dũng cảm?
    "Không có quân mạnh hay yếu , mà chi có tướng tài hay tướng vụng.Cho nên người xưa nói :"chiến thắng luôn phụ thuộc vào tướng ,chứ không bao giờ phụ thuộc vào quân ."Nhà Tần , nhà Lê , đã lần lượt đây lui quân Nguyên và quân Minh.Quân đội ấy thuộc chung tộc nào ? Dưới triều Minh mạng ,quân đội tiều đình đã quet' sạch bọn phỉ ra khỏi các tỉnh Cao bằng , Tuyên quang, Lạng sơn.Tại sao binh sĩ Việt nam bây giờ không đủ sức chống bọn phỉ Tàu ?Nếu bây giờ các khanh cho rằng quân đội nhà Thanh sợ hãi , do dự tước bon phỉ, thì phải cử toàn binh sĩ của ta , không hi vọng sự giúp đỡ nào của người Thanh sao?
    Sự hợp tác quân sự giữa 2 nước được thực hiện và diễn a tốt đẹp lúc ban đầu ,Phùng tử Tài và Vũ trọng Bình dồn Ngô côn - một trong những lãnh tụ của Thái bình thiên quốc -đến đường cùng và giết hắn ở thành Bắc ninh tháng 8 năm 1869
    Nhưng sau chiến thắng ấy ,bọn phi người Tàu tránh giao chiến với quân Thanh và hứa phục tùng ít ra là ngoài miệng. Chính quyền Tự Đức yêu cầu Phùng tướng quân tống suất hết bọn phỉ Tàu về Tung hoa nhưng chỉ hoài công.Bọn phi phân tán khắc vùng thượng du Bắc kì ,chi đánh nhau để chiếm vị tí tốt hơn.Lưu vĩnh Phúc , thủ lĩnh Cờ đen , và Hoàng sùng Anh ,thủ lĩnh Cờ vàng , là hai tên nổi tiếng nhất lúc bấy giờ
    Trong điều kiện ấy , quân đội nhà Thanh ở Bắc kì ngày càng bất lực , và nhà cầm quyền Việt nam phải đảm đương chi phí cho họ .Tuy nhiên cũng cần ghi nhận hai thắng lợi khác của họ:quân Thanh giết được Hoàng sùng Anh, thu lĩnh Cờ vàng, năm 1875 và Lý dương Tài năm 1879.Lý dương Tài là một thu lĩnh người Tàu tự xưng là hậu duệ của dòng dõi nhà Lý ở Việt nam
    Như vậy , từ năm 1869, quân Thanh đồn trú ở vùng thượng du Bắc kì.Điều này là gia tăng khó khăn với Pháp , vì họ cho rằng sự có mặt của quân Thanh vi phạm quyền độc lập của Việt nam.Tuy nhiên với Tự Đức điều này là bình thường vì chính nhà vua đã cầu viện theo trật tự vốn có xưa nay tong quan hệ giữa hai nước
    Cũng để tôn trọng nề nếp tuyền thống , bắt đầu từ 1868, triều đình Huế cử sứ bộ đi triều cống theo thông lệ thường , bốn năm một lần , vào các năm 1872,1876 và 1880.Nhất là sứ bộ năm 1876 làm cho người Pháp rất nghi ngờ , song họ không có cách gì ngăn chặn.Dưới mắt họ,do các quan hệ với Trung hoa, Tự Đức đã vi phạm hiệp ước 1874; trên thực tế , người Pháp không hiểu nổi tính chất cau những sứ bộ như vậy, điều đó được chứng tỏ ở hai báo cáo viết về vấn đề này , một của Rheinart , đại diện Pháp ở Huế , và một của Kergaradec, lãnh sự Pháp ở Hà nội
    Ngày 19-7-1876, Rheinatr viết:"..Sứ bộ sắp đi Trung hoa năm nay sang bên đó không chỉ để chúc mừng thiên tử mới ,mà còn để dâng những cống phẩm mà quốc vương An nam phải nộp cho Trung hoa ba năm một lần , với tư cách là nước chư hầu .."
    Và ngày 27-9-1876, Kergaradec viết:"..Thưa đô đốc , ở Sài gòn tôi đã tình bày với ngài về một sứ bộ mà quốc vương An nam sắp cử sang Tung hoa .Chính sứ bộ này sắp rời Hà nội đúng vào lúc tôi về đến đây .Theo lời người ta nói với tôi , đây là sứ bộ mà triều đình Huế cử sang Trung hoa ba năm một lần , theo một thông lệ từ xưa , và không có tính chất đặc biệt nào.Có thể tin đó là sự thật ,vì những người được cử đi đều là quan chức thấp cấp .Sứ bộ đi ngày 6 tháng 9 , có bắn một loạt pháo đưa tiễn." trong khi nói truyện với Bùi văn Kỉ , tôi cố gắng tìm hiểu xem triều đình Huế muốn giữ thái độ như thế nào đối với chúng ta trước mắt người Trung hoa, và tôi hỏi ông ta xem khi đến nơi ,ông có đến thăm đại sứ quán Pháp không.Ông ta không giấu tôi mà rằng đã nhận chỉ thị về vấn đề này và sau khi hoàn thành nhiệm vụ , ông phai đến thâm đại sứ quán Pháp , nhưng ông ta chỉ đến sau khi được sự đồng ý cau quan chức Trung hoa được giao tiếp việc ông. Thưa đô đốc , chắc ngài cũng hiểu , bơi đây là sứ bộ đầu tiên mà người An nam cử sang Bắc kinh kể từ khi các hiệp ước năm 1874 được kí kết , thái độ cư sử , tốt hay xấu ,của sứ gia này sau này có thể được nhắc đến như những tiền lệ..".Tự Đức vẫn kiên trì và muốn tái diễn sự việc vào năm 1880 lúc quan hệ giữa Pháp và Trung hoa trở nên ngày càng căng thẳng .Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa bày tỏ sự không tán thành và mong muốn làm thất bại ý đồ của Tự Đức :".. tôi cho rằng chúng ta cần dồn nỗ lực để gián tiếp thúc đẩy chính quyền An nam từ bỏ ý định của họ. Vì mục đích ấy ,xin ông yêu cầu ông Rheinart trình bày cho triều đình Huế biết là, tuy không chính thức phản đối , nước Pháp sẽ nhìn với con mắt thiếu thiện cảm việc cử các sứ bộ sang Bắc kinh .Rất có thể là nếu viên đại biện của chúng ta phát biểu theo hướng đó sự kiên quyết và thận trọng cần thiết ,các thượng thư của Tự Đức sẽ suy nghĩ một cách chính chắn hơn công việc mà họ đang chuẩn bị và họ sẽ tiến hành với sự chậm chạp và trì hoãn , rốt cuộc sẽ chỉ có lợi cho chúng ta , vì nó sẽ cho phép chúng ta tranh thủ thời gian cho đến khi chúng ta có thể quan tâm một cách nghiêm túc đến việc xem xét lại các hiệp ước năm 1874.."

  6. #16
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Tuy nhiên, Rheinart cho rằng không thể tìm được cách làm gì và nên giả đò không nhận thấy điều gì hết: ".. với những cống phẩm ít giá trị ( 30 thanh quế, 3 cân gỗ trầm ,1 sừng tê , 1 cặp ngà voi, 100 xấp lụa ), sứ bộ phai dâng hai bức thư , một để dâng cống phẩm và một để tạ ơn về việc Trung hoa đã giúp Việt nam chống Lý dương Tài
    " .. theo tôi được biết sứ bộ không được giao thêm văn kiện gì nữa , tuy nhiên tôi không thể khẳng định chắc chắn điều này.
    ".. tôi hoàn toàn không thể vận động để ngăn chặn việc cử sứ bộ này ; nếu chúng ta coi việc này có chút ý nghĩa quan trọng nào đó, hay chỉ cần chúng ta chú ý đến thôi , người An nam sẽ tự hỏi nguyên nhân nào thúc đẩy chúng ta quan tâm đến một việc mà họ đã làm thường xuyên và định kì từ nhiều năm qua;sự canh giác của họ sẽ được kích thích cao độ và họ sẽ quyết định xin Trung hoa bảo vệ để thoát khỏi hành động của chúng ta .Dù sao mọi cố gắng vận động cuả tôi vẫn sẽ chẳng đạt kết quả gì ;người ta sẽ viện lẽ là việc định kì cử người đi sứ sang Trung hoa đã có từ rất lâu , trước khi có hiệp ước và nó không bị hiệp ước xóa bỏ .Nếu tôi nhắc rằng chúng ta thừa nhận An nam là một nước độc lập , và do đó chúng ta đánh giá xấu việc họ cư xử như một nước chư hầu , thì người ta sẽ tránh né vấn đề và tôi phải bỏ cuộc tranh luận mà không đạt kết quả .Trong tình hình ấy ,chẳng thà chúng ta tỏ a không biết , đến việc cử sứ bộ ,tôi thiết tưởng là mình phải làm như vậy.."
    Sau này chúng ta sẽ nghiên cứu kĩ hơn vấn đề "thần phục'' .Trước mắt , chúng ta ghi nhớ rằng Tự Đức bốn năm một lần cử sứ bộ sang Bắc kinh và, kể cả sau hiệp ước 1874, nhà vua vẫn thực hiện đúng như vậy .Người Pháp xem chính sách này, như một cố gắng thắt chặt quạn hệ giữa chư hầu và thương quốc trong khi trên thực tế ,Tự Đức tỏ ra xa cách với nước láng giềng : quan hệ giữ đúng ở mức các quy định cổ truyền đòi hỏi,thư từ trao đổi qua lại trong các dịp ấy chỉ có tính hình thức , gần như đơn thuần theo nghi lễ , đặc biệt là không hề đề cập đến các hoạt động của người Pháp.
    Tuy nhiên ,người ta có thể tự hỏi phải chăng việc cử sứ bộ sang Trung hoa cũng nhằm làm người Pháp bối rối lúng túng khó xử và phải chăng chính sách của Tự Đức trong lĩnh vực này nhằm mục đích lôi cuốn Pháp và Trung hoa đến chỗ xung đột với nhau .Nhưng rốt cuộc chính nhân dân Việt nam là nạn nhân của những tính toán ấy ,trong chừng mực quân đội hai nước đụng độ nhau trên đất Việt nam .Và, ngay khi phải nhờ đến Trung hoa , Tự Đức qua đó đã cho thấy ngay trong đất nước mình , ông không có một lực lượng nào đủ sức chống lại Pháp.
    Rốt cuộc ,Tự Đức quyết định cầu viện chính quyền Trung hoa để giúp Việt nam chống Pháp từ khi nào? Cho đến nay, các thuyết của người Pháp ,chẳng hạn- H.Cordier, cho rằng Tự Đức đã kêu gọi sự giúp đỡ của quân Trung hoa vào khoảng 1880, trước khi Rivi`ere tấn công Hà nội.Tuy nhiên cách giải thích ấy ,không dựa trên bằng chứng nào ,là một xảo thuật về sau này nhằm biện minh cho hành động quân sự của Pháp ở Bắc kì .Tất nhiên, có những đơn vị quân Thanh đồn trú ở thượng du Bắc kì từ 1869, như chúng ta thấy ,nhưng dù có khi họ bị xem là một nguy cớ đối với sự an toàn cuả người Pháp ở Bắc kì , chúng ta đã biết mục tiêu của họ là gì và thực sự họ không de dọa gì cả.Vả chăng , tháng 8 năm 1880, Rheinart hi vọng chính quyền Trung hoa lựa chọn chính sách không can thiệp trong trường hợp Pháp áp đặt chế độ bảo hộ cho Việt nam : ".. điều quan trọng cần biết là Trung hoa sẽ làm gì , khi sắp tới đây , như tôi hi vọng , chúng ta sẽ chiếu theo nhu cầu khẩn thiết buộc ta phải nắm lấy những quyền lợi cua nước An nam, nắm lấy sự quản lí nền hành chính của nó bằng cách áp đặt chế độ bảo hộ .Rất có thể là Trung hoa sẽ hoàn toàn không quan tâm đến công việc của xứ An nam nữa , nhất là nếu họ còn phải bận tâm về phía khác do nguy cơ xung đột với nước Nga .."
    Trên thực tế , và chính những báo cáo của Rheinart khẳng định điều này ,Tự Đức quyết định cầu cứu quân đội Trung hoa vào cuối tháng 5 năm 1882, tức là sau và nhằm đối phó với việc Rivi`ere tấn công thành Hà nội
    Theo yêu cầu của Tự Đức , khoảng 20.000 quân Thanh vượt biên giới vào mùa hè 1882 .Sau đó, ngày 6 tháng 9, toàn thể chính quyền Tự Đức nhất trí tuyên chiến với Pháp . Cho đến giờ phút cuối cùng , nhà vua đã cố gắng giữ sự độc lập chẳng những với Pháp mà còn đối với cả Tung hoa.
    Ở đây cần ghi nhận là , nếu Việt nam là chư hầu của Trung quốc và trên nguyên tắc, Trung hoa có quyền tự do đưa quân vào lãnh thổ nước chư hầu của mình , thì trên thực tế Trung hoa chỉ gởi quân sang khi Tự Đức yêu cầu ,.Điều này, chứng minh là ,mặc dù bề ngoài có quan hệ thượng quốc và chư hầu ,Việt nam vẫn thành công trong việc buộc láng giêng hùng mạnh phải tôn trọng chu quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của mình .Chính tiều Nguyễn, trong thực tiễn , đã cố gắng hành động phù hợp với thế giới quan của mình , cho đến khi nền độc lập của Việt nam bị đe dọa một cách nghiệt ngã bởi người Pháp
    - QUAN ĐIỂM CỦA CHÍNH QUYỀN TRUNG HOA
    Chính quyền Trung hoa nhìn các hoạt động của Pháp ở Việt nam như thế nào
    Cho đến 1870, triều đình Bắc kinh hoàn toàn không biết việc Pháp chiếm Việt nam.Theo truyền thống, tiều đình Bắc kinh không quan tâm đến việc sảy ra bên trong nước chư hầu .Hơn nữa từ cuộc chiến tranh Nha phiến , chính quyền Trung hoa liên tục phải bận tâm về những khó khăn không ngớt; xung đột với phương Tây, như cuộc chiến tranh Arrow(1856-1860); nội lọan-như loạn Thái bình thiên quốc (1858-1864); lọan Niệm quân khởi nghĩa (1851-1867;các cuộc nổi dậy của người Hồi giáo tỉnh Vân nam (1856-1873),và các tỉnh Tây bắc (1862-1877).Như vây,triều đình Bắc kinh không có lúc nào rảnh trí mà để quan tâm đến Việt nam .Cuối cùng ,còn một nguyên nhân khác khiến chính quyền Trung hoa không biết gì : họ không được thông tin gì từ Việt nam , vì đường liên lạc giữa hai nước bị quân Thái bình thiên quốc cắt đứt, và bởi vì chính quyền Tự Đức không hề có ý muốn cung cấp thông tin cho họ .Triều đình Bắc kinh bắt được thông tin này năm 1870 nhân vụ Thiên tân , khi Henri Fontanie ,lãnh sự Pháp ở Thiên tân ,hai giáo sĩ thừa sai và những người Pháp khác bị giết .Lúc đó quan hệ ngoại giao giữa Pháp và Trung hoa căng thẳng và theo đề nghị của Đinh nhật Xương , tuần phủ tỉnh Giang tô, chính quyền Trung hoa cử một xứ bộ sang Việt nam nhằm mục đích thăm dò khả năng hợp tác giữa hai nước cùng chống Pháp

  7. #17
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Từ diên Húc ,tri phủ Thái bình thuộc tỉnh Quảng tây -phủ này ráp ranh với tỉnh Lạng sơn của Việt nam-được cử phụ trách sứ bộ này , có nhiệm vụ thu thập tại chỗ ý kiến của quan lại Việt nam đối với người Pháp và nghiên cứu các hoạt động của Pháp tại Việt nam.Cuối năm 1870,Từ diên Húc cùng đoàn của mình đến thủ phủ của tỉnh Lạng sơn một cách không chính thức và gửi một báo cáo về Bắc kinh ,ngày 28-2-1871.Báo cáo này lần đầu tiên ,phát hiện cho quan lại Trung hoa biết là Pháp đã chiếm Nam kì lục tỉnh .Báo cáo còn cung cấp những thông tin về hệ thống đường bộ , đường thủy ,những tên làng và thành phó nằm giữa Huế và Hà nội .v.v
    Năm sau ,Từ diên Húc trở lại Việt nam và năm 1877 trên cơ sở những thông tin do chính ông thu thập taị chỗ , và tham khảo các sách cổ của Trung hoa , ông đã cho ra đời quyển sách về Việt nam nhan đề - Việt nam thực lục
    Quyển thực lục này đóng vai trò quan trọng trong chừng mực nó được xem như nguồn cung cấp cho quan lại Trung hoa những thông tin tương đối chính sác về Việt nam . Trong hia tập tác giả nói về địa lí - có kèm theo bản đồ , lịch sử, phong tục những đặc sản của đất nước Việt nam ,những di tích lịch sử đường sá ,quan hệ ngoại giao, văn học...v..v. Quyển sách không phải không có những lầm lẫn ,nhất là về các quan hệ lịch sử giữa Việt nam và các nước đông nam á .Chẳng hạn các chú thích kèm theo bản đồ Nam kì cho biết tỉnh Định tường trước thuộc các nước Malacca và Sumatra và gần đay bị quân Pháp -Tây ban nha chiếm đóng; còn tỉnh Bình thuận, "trước thuộc lãnh thổ Java , " tỉnh Biên hòa thì của Java sau này bị Việt nam thôn tính .Nhưng gần đây quân Pháp và Tây ban nha đã chiếm tỉnh này .Như vậy, Từ diên Húc giải thích là Việt nam đã chiếm đất của Java, Malacca,Sumatra ,điều này hoàn toàn là hoang tưởng lịch sử
    Dù còn nhiều lỗ hổng trong kiến thức ,ở Tung hoa Từ diên Húc vẫn được coi là một chuyên gia về Việt nam và Đông nam á.Ông sẽ được bổ nhiệm làm tuần phủ tỉnh Quảng tây và tổng chi huy đạo quân viễn chinh trong cuộc chiến Hoa Pháp năm 1883 . Chỉ sau 1875," vấn đề Bắc kì " mới can dự vào 1un hệ ngoại giao Pháp -hoa
    ngày 24-5-1875, đại biện Pháp ở Bắc kinh ,ông De .Rochechouart chuyển cho chính quyền Trung hoa bản hiệp ước Sài gòn năm 1874, triều đình Bắc kinh lập tức trả lời ;"từ lâu, Việt nam vẫn là nước thần phục Trung hoa.."tuy nhiên không rõ vô tình hay cố ý không ai kiểm tra cản thận lời khẳng định ấy và người phiên dịch của tòa lãnh sự Pháp tai Trung hoa đã dịch văn kiện ấy như sau :"..An nam là sứ cũng gọi là Việt nam ;xứ này đã từng là nước thần phục Trung hoa"
    Do sự khác biệt ấy, giữa hai bên không có tranh luận gì, Pháp hiểu câu trả lời của trung hoa như không có gì phản đối hiệp ước 1874, trong lúc Trung hoa nghĩ rằng mình đã phản đối một cách minh bạch .Sự hiểu lầm kéo dài cho đến tháng 11-1880, khi công sứ của Trung hoa tại Pháp -Tăng kì Trạch-lúc bấy giờ được gọi là ông hầu tước Tăng -khẳng định lại với chính phủ Pháp rằng Việt nam là chư hầu của Trung hoa.Tóm lại , chính quyền Trung hoa không có thông tin chính xác và cũng không thực sự quan tâm đến Việt nam trước khi có cuộc chiến tranh Pháp hoa nổ ra vào 1883
    2-CÁC QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
    THƯƠNG NHÂN VÀ MẠI BẢN NGƯỜI
    Từ nhiều thế kỉ , người Hoa đã làm ăn buôn bán ở Việt nam : trong lĩnh vực này họ còn mạnh hơn cả người Việt .Thật ra , hiên tương này không chỉ xảy ra riêng tại Việt nam ;Hoa kiều đã tương hoạt động và vẫn đang tiếp tục hoạt động tại tất cả các trung tâm thương mại khác ở châu Á.Ta hãy nhắc lại ở đây một sự kiện lịch sử liên quan tới Hoa kiều định cư tai Nam kì.Năm 1863, sau khi nhà Minh sụp đổ ,những người trung thành với triều đại này ,như Dương ngạn Đich,Trần thượng Xuyên ,Hoang tấn cùng 3000 người và 50 thuyền chạy đến ẩn náu ở Đà nẵng .Chúa nguyễn bấy giờ là Hiền vương đã đưa họ xuống phía nam .Thế là người Hoa đến Nam kì và họ chia ra: một số do Trần thượng Xuyên là lãnh đạo định cư lại Biên hòa , một số khác do Dương ngạn địch cầm đầu ,sinh sống ở Mĩ tho; như vậy họ đã góp phần khai thác lưu vực sông Cửu long cho các chúa Nguyễn .Những người Hoa ấy là tổ tiên những người sáng lập ra cộng đồng người Hoa gọi là Minh hương đã định cư trong các tỉnh Quảng nam, Biên hòa và Gia định trước 1802 để rồi từ sau 1802 , lan rộng về phía Bắc
    Bên cạnh cộng đồng Hoa kiều Minh hương , có những nhóm người Hoa khác đến Việt nam.Tùy theo tỉnh nguyên quán của họ ,họ tập hợp thành từng bang , đứng đầu là bang trưởng .Họ định cư chủ yếu ở Bắc kì tại Hà nôi , và ở Nam kì
    Năm 1872 (Minh mạng thứ 8) ,vua ra lệnh thay đổi chữ Hán ở giữa của từ Minh hương xã , như vậy vua đã gộp chung lại tất cả những người Hoa cư ngụ vĩnh viễn trên đất nước mình,dù họ là thành viên Minh hương xã cũ hay thành viên các bang của các cộng đồng mới ,tất cả đều tập hợp dưới một thực thể mới , gọi là MINH hương.Những người Minh hương mới này có quyền đi thi để ra làm quan,vì về mặt pháp lí họ được coi là người Việt nam, họ còn được hưởng đặc quyền là không phải đi lính.
    Những biện pháp chính trị này nhằm giải quyết mối ưu tư của chính quyền là phân biệt những Hoa kiều đã nhập tịch với các thương nhân người Hoa chỉ đi đi về về giữa Việt nam và Trung hoa.Người Việt nam bị nghiêm cấm không được vào buôn bán ở Trung hoa: như vậy , chỉ có những thương nhân người Hoa có thể đi lại giữa hai nước , bằng đường bộ và đường biển , với điều kiện được nhà cầm quyền hai nước cho phép buôn bán .Có thể đoán được rằng những biện pháp chuyên quyền ấy cho phép bọn buôn lậu và bọn sống ngoài vòng pháp luật có thể kiếm những món béo bở
    Nếu đi đường bộ, thương nhân người Hoa được phép qua biên giới 6 lần trong tháng ( vào các ngày mồng 5 , 10 , rằm , ngày hai lăm và 30.)và đóng thuế quan ở Bình nhi quan,Thủy khẩu quan hay Do thôn ải là ba đồn biên phòng nằm giữa Lạng sơn, và Quảng tây .Người Hoa đi qua Bình nhi quan và Thủy khẩu quan đến Cao bằng , còn Do thôn ải thì đến Lạng sơn.Trong các phiên chợ do nhà cầm quyền địa phương kiểm soát, trên nguyên tắc ,họ bán tơ lụa , giấy, trà , thuốc bắc ..v..v và mua tre, nứa , thự lang-một loại thuốc nhuộm, chì..v..v
    Buôn bán đường biển quan trọng hơn và cũng như buôn bán đương bộ, nó chỉ diễn ra đơn phương : hai lần Minh mạng xin phép cho người Việt nam vào buôn bán tại các cảng Trung hoa, năm 1820 và 1835,Bắc kinh từ chối yêu cầu này viện cớ do việc buôn bán giữa hai nước vẫn tiến hành bằng đường bộ và không cần thiết dùng đường biển .Thuyền bè Trung hoa thương đến thừ Quảng châu hay Hương cảng .Quảng châu là tung tâm thương mại lớn nhất ở Viễn đông cho đến năm 1842 khi Hương cảng được mở ra , cạnh tranh và nhanh chóng vượt qua nó.Chính quyền Việt nam cấm xuất khẩu gạo, muối , vàng , bạc , tơ lụa , trong lúc triều đình Bắc kinh cấm xuất khẩu những nguyên liệu chiến lược như sắt, thép, chì ,lưu huỳnh..v..vThế nhưng Trung hoa lại cần gạo và Việt nam cần sắt, thép ,than, chì . Trong tình hình đó hình thành một kiểu trao đổi sản phẩm : triều đình Huế đặc cách cho các tàu Trung hoa mang đến những thứ triều đình cần , được phép xuất khẩu gạo
    Trong lúc đó, nhà cầm quyền Quảng đông cũng ưu đãi các tàu nhập khẩu gạo của Việt nam tuy nhiên chế độ rất giới hạn này không đáp ứng nhu cầu thực sự của hai bên và mở đường cho buôn lậu .Vấn đề gạo đặc biệt tế nhị , vì gạo là sản phẩm thiết yếu hàng đầu đối với người Việt nam cũng như đối với người Trung quốc .Xuất khẩu gạo quá nhiều sẽ tạo ra thiếu hụt ngay tai chính Việt nam , làm tăng giá và cuối cùng gây bất ổn về xã hội do đó chính quyền Việt nam cần kìm hãm tệ nạn buôn lậu nếu họ muốn được lòng dân .Nhưng kìm hãm không dễ,vì người Hoa luôn có nhu cầu và việc xuất khẩu sang Trung hoa .Kể cả bất hợp pháp , có lời rất lớn :không phải chỉ Hoa kiều mà ngay ca ngư dân hay thương nhân Việt nam cũng thông đồng với thương nhân người Hoa để cung ứng cho việc thương mai song hành này
    Việc nhập khẩu lậu thuốc phiện gắn với việc xuất khẩu lậu gạo.Thật vậy, người ta thường trao đổi hai món này với nhau : một chiếc ghe Việt nam , chủ có thể là người Việt hay Hoa kiều ,ra khơi đến điểm hẹn ,đằng sau một đảo nhỏ nào đó với một tàu buôn Trung hoa đi về phía Java, đảo Hải nam hay về phía Quảng châu ...
    Từ đầu thế kỉ 19, thói quen hút thuốc phiện lan rộng hầu hết trong trước hết là giới Hoa kiều ở Nam kì , sau đó dần thâm nhập xã hội Việt nam.Triều đình Huế thường xuyên ra lệnh cấm dung thuốc phiện(1817;1820,1824,1832,1840,1852,1853 và 1856),nhưng không thành công; cả việc hút và buôn lậu đều không chấm dứt .Vì thế ,tháng 2 năm 1856,Tự Đức bỏ lệnh cấm-ngoại trừ đối với quan lại -và đánh thuế nhập khẩu rất nặng
    "Từ nhiều năm qua, luật pháp ta nghiệm cấm thuốc phiện .Nhưng ngu dân nhiều kẻ đã mắc thành nghiện,cấm cũng không chừa ,chỉ làm lợi cho kẻ buôn bán lén lút mà thôi .Nếu chúng ta không cấm dùng thuốc phiện được,chẳng thà đánh thuế thuốc phiện cho nặng .Với chính sách này ,số người bán và người hút thuốc sẽ giảm.Như vậy ,không cấm mà sẽ có hiệu quả như là cấm .Nhà nước sẽ ra lệnh cho các thương nhân người Hoa từ nước ngoài sang, khi họ đến cảng Việt nam ,nhân viên quan thuế sẽ bắt họ kê khai chính sác số thuốc phiện nhập khẩu và bắt họ đóng thuế theo quy định" .Được ưu đãi trên bình diện thương mại giữa Trung hoa và Việt nam ,người Hoa còn được đặc quyền trong đất nước Việt nam so với người Việt nam và phương tây .Vì họ được tự do đi lại.Thật vậy,người Việt nam muốn đi lại từ tỉnh này qua tỉnh khác phải có giấy thông hành do nhà cầm quyền cấp , còn đối với người Phương tây ,hiệp ước 1974 đã cho phép họ cư trú tại Việt nam ,nhưng họ phải ở trong những cảng theo quy định, và nếu muốn ra khỏi địa bàn ấy , họ phải xin giấy thông hành do nhà nước Việt nam cấp

  8. #18
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Như vậy , chỉ có người Hoa , với tư cách Hoa kiều đi lại tự do và mặt khác , vì về diện mạo không thể phân biệt họ với người Việt nam ,mại bản người Hoa có thể mua gạo trực tiếp ở người sản xuất với điều kiện có lợi nhất mà không cần phải quan tâm nhiều lắm về những hình thức hạn chế.Lãnh sự Pháp ở Hải phòng ,Turc , phản đối tình trạng thực tế ấy một báo cáo ngày 25-6-1876:"..Mỗi ngày ,mại bản người Hoa đi mua hàng ở người sản xuất và , nếu các quan cố ngăn cản họ mà không hoàn toàn có hiệu quả , người ta có quyền hi vọng xuất khẩu sẽ cho giá trị nào đó , nhưng than ôi, người châu âu , bị các hiệp ước giới hạn chỉ được hoạt động ở Hải phòng và Hà nội ,không thể đi mua trực tiếp ở người sản xuất.Người Hoa , được tự do đi lại trong cả nước , chẳng nhũng được phần họ đã có trong buôn bán xua nay mà sẽ còn chiếm giữ lấy tất cả những ngành mới khi chúng được tạo lập ra thêm.
    Và năm năm sau, ngày 27-9-1881 ,Rheinart vẫn còn nhận xét:"..Người hoa có vị trí đặc biệt : trong nước , họ được coi như người An nam ,họ được hưởng quyền tự do đi lại như người trong nước ,khác với thương nhân của tất cả các nước khác.."
    3-NGƯỜI HOA NGOÀI VÒNG PHÁP LUẬT
    Tai Trung hoa và Việt nam,nạn cướp bóc và hải tặc biểu hiện dưới vô số hình thức.Người ta thấy bọn phỉ và giặc cướp xuất hiện liên tục trong các bộ chính sử của mỗi triều đại hai nước. Trong nửa sau thế kỉ 19,các hoạt động này có vẻ đặc biệt mạnh mẽ.Bọn thổ phỉ chủ yếu đóng ở vùng miền núi sát biên giới ,tức các tỉnh Lạng sơn, Thái nguyên ,Cao bằng ,Hưng hóa ,Tuyên quang của Việt nam và các tỉnh Quảng đông, Quảng tây và Vân nam của Trung hoa .Trong những năm 1860 ,đến lượt tàn dư của Thái bình thiên quốc vượt biên giới Việt Hoa để đóng quân trong các tỉnh ấy :chúng tập hợp dưới những cờ hiệu khác nhau , từ đó có tên quân Cờ đen,Cờ vàng
    Bon hải tặc hoạt động chủ yếu ở ven bờ biển của hai nước giữa phía Bắc lưu vực sông Hồng và phía Nam lưu vực sông Tây giang ,dọc theo các tỉnh Quảng yên,Nam định và Ninh bình ở Việt nam và các tỉnh Quảng đông ,Phúc kiến và gần đảo Hải nam của Trung hoa .Thổ phỉ và hải tặc thường hoành hành trong các vung đấy vì ở đó có địa điểm lí tưởng cho chúng lập sào huyệt và hoạt động.Người lạ mặt không thể thâm nhập vào vùng thượng du , có những núi cao rừng sâu .Kể cả khi biền binh lên tiễu phỉ , bọn phỉ có thể dễ dàng ẩn trốn hoặc dùng chiến tranh du kích .Cũng như vậy , bờ biển đầy rẫy những đảo nhỏ rải rác , nơi mà người ta dễ ẩn nấp .Cách xa tung tâm quyền lực quốc gia và biên giới, những vùng này thoát khỏi ảnh hưởng của triều đình và nhà cầm quyền các địa phương cũng khó cai trị ,nhất là vì bọn giặc luôn luôn có thể thoát khỏi sự truy kích bằng cách vượt biên .Cuối cùng ,các vùng này cũng không phải không có những lợi ích kinh tế ; ngoài khơi ,nhiều tàu bè qua lại giữa Quảng đông rồi , sau năm 1842 ; giữa Hương cảng và các thương cảng Đông nam á -Batavia,Singapore,và sau năm 1862-Sài gòn ; và phần sông Hồng từ rất lâu trước khi Jean Dupuis thăm do tuyến thông thương này vào năm 1973,sông Hồng đã có ghe thuyền nhỏ lưu thông , và bằng đường này hoạt động buôn bán diễn ra rất sôi động giữa Vân nam và Quảng châu hay Hương cảng .Việc cướp các tàu buôn giúp bọn hải tặc sống và có khi còn làm giàu nữa
    chính sử thời tự đức phân biệt ba loại người sông ngoài vòng pháp luật :
    -Hải tặc người Hoa ,tức ( hải phỉ) -cướp biển , bọn này khác với bọn thủy phỉ ( giặc cướp trên sông )
    -Bon thổ phỉ người Hoa , Thanh địa cổ phi( giặc cướp từ Tung quốc đên) hay Thanh địa dật phỉ( giặc cướp tị nạn từ Trung quốc sang )
    -Bọn Cờ đen ( hắc kì quân) ,Cờ vàng ( hoàng kì quân) ,Cờ trắng ( bạch kì quân)
    -BỌN HẢI TẶC NGƯỜI HOA
    Như chúng tôi đã trình bày , bọn hải tặc người Hoa đóng căn cứ hoạt động ở một số cù lao ngoài khơi tỉnh Quảng đông hay gần đảo Hải nam . Chúng tấn công thuyền bè ngoài biển hoặc các làng chài duyên hải
    Ngoài biển , trước hết chúng tấn công các tàu vận tải của nhà nước ,giải vận thuyền ,tải hàng thuyền , rồi đến các tàu của dân như đại dịch thuyền được triều đình Huế giao vận chuyển gao, tiền hay của cải từ Kinh đô đến các cảng Bắc kì hoặc Nam kì : cuối cùng chúng tiến công các tàu buôn của người Hoa , Thanh thương thuyền
    Khi chúng hoạt động trên bờ , tấn công các làng xã , chúng cướp lương thực , của cải và có khi chúng bắt cóc phụ nữ và tẻ em - bởi vì phụ nữ Việt nam " những người phụ nữ nhuộm răng " nổi tiếng ở Trung hoa là dịu dàng , cần mẫn , cho nên người ta rất thích tìm họ để phục vụ hoặc như gái điếm ở Hương cảng và Singapoe , hoặc như người giúp việc nhà trong các gia đình người Hoa tại lục địa và ở đó có khi ông chủ nhà lấy họ làm vợ lẽ
    Phỉ tặc không phải chỉ có người Hoa : trong số đó cũng có người Việt .Và nếu tin lời giám mục Retord trong lá thư viết vào tháng 5 -1850,cả phụ nữ và trẻ em cũng tham dự tích cực trong các vụ cướp ;"..Sau các sứ thần , tới lượt bọn phỉ và hải tặc , chúng đã và đang gây rất nhiều tai họa ở đây .Năm ngoái (1849)toàn vùng duyên hải Đang trong và Đàng ngoài bị bọn giặc ấy cướp phá : chúng đi từng đoàn từ 50 đến 60 chiếc ghe , trong đó có những ghe nhỏ của phụ nữ , trẻ con để chở những vật đã cướp được cùng những ghe lớn , được vũ trang đầy đủ , có đông người để đánh nhau và tiếp tục cướp bóc nữa"
    Hình như nạn cướp biển đặc biệt dữ dội ở vùng duyên hải Việt nam trong những năm 1849-1851,khi cuộc nổi loạn Thái bình thiên quốc nổ ra ở Trung hoa và trong những năm 1864-1865 ,khi cuộc nổi loạn cuả những người tự xưng là con cháu nhà Lê tàn phá Bắc kì .Chính quyền Tự Đức không có biện pháp nào hữu hiệu dập tắt được nên phải nhờ đến sự giúp đỡ của thống đốc Nam kì ,Roze ,vàddaaauf năm 1865:"..Chính quyền ở Huế cho chúng tôi biết là vùng duyên hải của họ đầy rẫy bọn hải tặc ,họ không có cách nào đuổi chúng và họ yêu cầu tôi vui lòng gửi hai chiếc tàu trong vòng hai tháng ra Đà nẵng và cả vùng biển ngoài khơi đảo Hải nam để giúp họ thoát khỏi tai họa ấy .Vị thương thư còn nói thêm là họ sẽ trả chi phí .Tôi đã trả lời là tôi không chờ đến khi họ yêu cầu mà trước đó tôi đã gửi nhiều chiến thuyền của ta truy kích bọn hải tặc , rằng tàu tuần tra của ta không chỉ hoạt động ngòi khơi lãnh thổ của ta mà còn kéo đến tận mũi Padaran cách biên giới chúng ta hơn 60 dặm".Sau đó , điều hai của hiệp ước Sài gòn năm 1874 chính thức quyết định sự hợp tác của Pháp trong việc dẹp hải tặc ; " Tổng thống cộng hòa Pháp cam kết cung cấp theo yêu cầu,của nhà vua và không đòi hỏi thanh toán chi phí hỗ trợ cần thiết để tiêu diệt nạn hải tặc đang hoành hành ở một phần duyên hải của vương quốc"

  9. #19
    Ngày tham gia
    Feb 2016
    Bài viết
    6
    Tuy nhiên , nạn hải tặc vẫn khó dập tắt , đặc biệt bởi như Kergaradec viết năm 1877, tàu của quân cướp biển lẫn lộn với tàu buôn và ghe buồm của ngư dân , nếu không phải là có những tàu bè vừa đi buôn vừa đi cướp hay ngược lại:"..Tỉnh Hải dương , cách đây ba năm từng là địa bàn hoạt động nghiêm trọng nhất , lần này không bị rối loạn .Bù lại , Ninh bình bị bọn hải tặc tàn phá , chúng giết nhiều người và chiếm hai thuyền buồm chở gạo cho nhà nước .Cách đây vài ngày , cũng bọn cướp biển ấy đã cướp phá làng Đầu sơn, cách hải đăng không xa .Sự có mặt của tàu tuần tiễu ông định gửi ra Hải phòng trong tháng 6, như vậy sẽ không vô ích .Theo kinh nghiệm ,chúng tôi biết việc truy kích bọn hải tặc ven bờ biển này ,than ôi, đối với tàu tuần tra của ta là công việc tế nhị biết dường nào, trừ khi bắt được quả tang chúng.Thật vậy, phần lớn các thuyền buồm của người Hoa đều có vũ trang , tất cả đều hợp lệ : nếu chỉ nhìn vào giấy tờ càng khó phân biệt , bởi vì nhiều chiếc chỉ thỉnh thoảng gặp dịp mới cướp bóc .Thật ra các pháo hạm của vị phó vương ở Quảng châu không ngần ngại đánh đắm trước hết là các thuyền buồm đáng ngờ và đó chắc chắn là cách tốt nhất để diệt trừ bọn hải tặc.Nhưng các chiên truyền của ta không thể lao vào những cuộc thanh toán quy mô lớn như thế''. Năm 1879, lãnh sự Quy nhơn mô ta cách làm ăn của bọn hải tặc một cách chi tiết hơn nữa :'..Như mọi năm, cũng vào lúc này , miền duyên hải bị bon hải tặc người Hoa cướp phá .Vì gió mùa thổi yếu hơn, ghe thuyền của người An nam ở ven biển hoạt động tích cực và bọn hải tặc có cái để cướp bóc .Bởi vì người An nam vốn bị cấm mang vũ khí , nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt rất khắc nghiệt , nên chỉ càn vài khẩu súng cũng có thể dễ dàng khuất phục những người trên ghe và chiếm ghe.Bọn hải tặc có một thuyền buồm , y hệt những thuyền buồm bình thường của người Hoa .Chiếc thuyền này dùng làm kho chứa hàng , nó ngược xuôi ven bờ biển và phóng những chiếc ghe nhỏ , kiểu Việt nam đi khắp hướng , mỗi chiếc mang vài người có vũ khí .Nhìn từ xa , những chiếc ghe này không có gì đáng ngờ .Khi thấy một chiếc ghe có thể đánh cướp , chúng tới gần yêu cầu ghe kia dùng lại và nếu chủ ghe không nghe lời bọn cướp nổ súng , dù có người bị thương hay không , người trên ghe kinh hoàng , cảm thấy bị uy hiếp , đành phải từ bỏ mọi ý đồ kháng cự .Chiếc ghe bị chiếm lập tức được đưa đến chiếc thuyền buồm .Nghe tiếng súng nổ , chiếc thuyền cũng lập tức xáp lại gần nơi giao chiến .Hàng hóa có giá trị bị cướp lên thuyền , sau đó chiếc ghe được trả tự do..."
    -BỌN THỔ PHỈ NGƯỜI HOA
    (THANH ĐỊA CỔ PHỈ, THANH ĐỊA DẬT PHỈ)
    Từ nhiều thế kỉ , do những bất ổn xã hội , trong cả hai nước ,những toán giặc cướp người Hoa sống ngoài vòng pháp luật vượt biên giới Việt Hoa . Nhưng dưới triều Tự Đức , trong khi Trung hoa ngày càng bị xuy yếu , bị các cuộc chiến tranh Nha phiến và loạn Thái bình thiên quốc dày vò , hiên tượng này mang một tầm vóc bi thảm , một mặt lần này bọn phỉ tran sang đông hơn -hàng nghìn tên -và thành nhóm hẳn hoi , mặt khác chúng được trang bị tốt ; đặc biệt hỏa lực của chúng hơn hẳn biền binh Việt nam .Chẳng hạn, tháng 5-1851,7000 tên do Hoàng nhị Văn cầm đầu vượt biên giới tiến vào Lạng sơn , gây tổn thất khoảng 1000 người ; triều đình Huế lập tức gửi đến 4000 quân từ Hà nội , nhưng bọn phỉ tránh giao chiến và tản ra vùng rưng núi .Như chúng tôi đã lưu ý , vùng thượng du các tỉnh Lạng sơn ,Cao bằng ,Hưng yên là vùng rừng rậm ,bệnh sốt rét hoành hành ở đó và người ta không thể trồng lúa .Khi chính quyền Việt nam cử quân đến vùng ấy , phải mang lương thực và đạn dược từ đồng bằng sông Hồng .Trong những điều kiện ấy mặc dù Tự Đức luôn nuôi hi vọng trục xuất bọn phỉ , nhưng không thể nào đánh đuổi được chúng bằng những đòn nặng và truy kích chúng đến tận sào huyệt .Quân Việt nam chỉ có thể đẩy lùi chúng lên miền rùng núi khi chúng tràn xuống vùng trung du .Còn về việc bảo vệ xóm làng , chính quyền địa phương giao việc này cho dân binh
    Trong những năm 1850 và 1860, văn bản còn lưu tên của ba thủ lĩnh hoạt động đặc biệt tích cực là Hoàng nhị Văn , Lưu sĩ Anh và Lý đại Xương .Bọn này có sào huyệt trong vùng rừng núi các tỉnh Cao bằng và Thái nguyên
    QUÂN CỜ ĐEN , CỜ VÀNG
    Sau khi cuộc nổi loạn Thái bình thiên quốc thất bại, năm 1864 , tình hình thay đổi chút ít .Những đám tàn quân vũ trang mạnh vượt qua biên giới rồi đánh lẫn nhau để giành ưu thế .Những đám quân nổi tiếng nhất chắc hẳn là quân Cờ đen - của Lưu vĩnh Phúc ,Cờ vàng -của Hoàng sùng Anh và Cờ trắng do Bàn văn Nhị cầm đầu
    Quân Cờ trắng đóng ở tỉnh Tuyên quang , nhưng bị quân Cờ đen tiêu diệt vào khoảng 1868.Tháng 6-1868 quân Cờ đen và Cờ vàng hợp sức tấn công thành Lào cai .Nằm trên sông Hồng , giữa Hà nội và Vân nam phủ , Lào cai có vị trí là một trạm buôn trung chuyển .Tuy nhiên , ngay sau cuộc tấn công này ,quân Cờ đen một mình chiếm giữ thành phố , buộc Hoang sùng Anh , thủ lĩnh quân Cờ vàng phải chuyển xuống phía dưới ,đóng ở Hải dương , từ đó giữa hai toán quân này có sự xung đột nghiêm trọng
    Chính quyền Việt nam tìm cách dựa vào quân Cờ đen để đánh quân Cờ vàng , chính sách "dĩ di công di " vẫn là chính sách truyền thống trong thực tiễn nho giáo Nhưng quân Cờ đen lợi dụng sự bảo lãnh đó để mở rộng ảnh hưởng của chúng ở vùng thượng du.Trong vụ Dupuis năm 1873 , người ta thấy rất rõ sự phân chia một bên là quân Cờ đen và triều đình Tự Đức và bên kia là quân Cờ vàng và Jean Dupuis .Sau cuộc thám hiểm đầu tiên , khí Dupuis tìm cách ngược sông Hồng đi Vân nam bị Nguyên tri Phương ngăn lại, y đã bí mật đến thăm Hoàng sùng Anh , Hoàng đã cử quân Cờ vàng về tận trung tâm Hà nội ; Hoàng toan lợi dụng Dupuis để đánh quân Cờ đen
    Ngược lại, Lưu vĩnh Phúc và quân Cờ đen thắt chặt quân hệ với chính quyền Tự Đức hơn nữa , Lưu vĩnh Phúc tập hợp binh lính gần thành Hà nội và , như chúng ta đã thấy , chính đội quân này đã tấn công và giết chết Garnier sau khi hắn chiếm thành Hà nội .Tự Đức có vẻ phật ý vì sự sát hại này làm cho quan hệ giữa Pháp và Việt nam trở lên phức tạp nghiêm trọng
    ".. Việc ấy tâu lên vua, vua cho là đoàn quân của họ Lưu đã giết được An nghiệp (Garnier) chỉ do mưu kế nhất thời , nếu đương đường chính chính cùng nhau hơn thua tưởng cũng khó giữ được lâu.Hiện nay việc thương thuyết đã gần có đầu mối , nói chung là đã sử lí xong toàn cục , tất không phải chỉ dựa vào đoàn quân ấy có thể xong việc được , nên sai về chặn ở thượng du là ổn.."
    Tuy nhiên chiến công này làm Lưu vĩnh Phúc có uy tín rất lớn ở Bắc kì , chỗ dựa và ảnh hưởng của hắn ở đay được củng cố .Sau cái chết của Hoàng sùng Anh , năm 175, trong một cuộc chiến đấu chống quân đội của triều đình nhà Thanh ,Lưu vĩnh phúc đóng vai trò như một ông hoàng độc lập độc quyền thống tị vùng thượng du Bắc kì
    CHƯƠNG IV
    TỰ ĐỨC: MỘT QUYỀN THỪA KẾ CHÍNH THỐNG BỊ TRANH CÃI
    1 .VẤN ĐỀ KẾ VỊ
    Trong xã hội theo truyền thống Nho giáo - mà thực ra trong mọi xã hội đều như thế -nhà vua có nhiều vợ .Chẳng hạn , vào thế kỉ 19 , mỗi vị vua triều Nguyễn có nhiều vợ , trong lúc các vị quan không tiếc sức để cố gắng đưa con gái của mình vào cung cấm : người con gái này có thể hưởng ân sủng của vua , cha cô có thể được cả danh vọng lẫn lợi và kể cả khi cô chỉ là thứ phi , cô cũng có cơ may sinh cho vua một đứa con , đứa con ấy là hoàng tử
    Tương tự như vậy, trong các gia đình thường dân muốn gả con cho các quan .Trên thực tế , chế độ đa thê , có cơ sơ về mặt xã hội vì nhu cầu có ít nhất một người con trai để thờ phụng tổ tiên và làm lễ trước bàn thờ gia tiên , chế độ này thường tùy thuộc địa vị xã hội cảu mỗi người .Là biểu tượng của quyền lực và phú quý , đam bảo sự thừa kế ,chế độ này không lan rộng ra toàn xã hội Việt nam : có những gia nhân nghèo đến độ một người vợ cũng không kiếm ra

  10. #20
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    2
    Dù nó cho phép hoàng gia đảm bảo sự trường cửu , vào thời buổi mà tử xuất con cao do dịch bệnh và kinh nghiệm chứng minh có những cuộc nổi loạn có thể tiêu diệt cả một gia đình, chế độ đa thê cũng có mặt trái của nó : việc thiếu con làm cho việc thừa kế trở nên vô cùng phức tạp , nhất là trong một xã hội không có luật thừa kế thực sự .Đáng tiếc là người ta không biết số vợ của các hoàng đế Nguyễn , nhưng từ một số tài liệu của Việt nam và của Pháp , người ta có thể biết Gia long , vị vua đầu tiên cảu nhà Nguyễn , có 31 người con -13 trai và 18 gái ; Minh mạng có 142 con -78 trai và 64 gái ,Thiệu trị có 64 con-29 trai, và 35 con gái ; còn Tự Đức không có người con nào .Như vậy chế độ đa thê củng cố tương lai dòng họ trong những lúc xung đột không khỏi xảy ra giữa những người muốn dành ngôi báu ,làm cho triều đại suy yếu.
    Ở Việt nam ,phụ nữ không được phép dâng cúng trước bàn thờ ông bà, không có quyền thừa kế .Chỉ con trai mới có quyền ấy.Theo truyền thống, sự chỉ định được ghi vào di chúc của vị vua quá cố có giá trị quyết định hơn quyền thừa kế cảu người con trưởng .Tuy nhiên, dưới thời nhà Nguyễn , quyền con trưởng nói chung vẫn được coi trọng .Mặc dù bản thân thứ tự giữa các người con vua cũng rất khó xác định .Thật vậy , người được xem là trưởng nam là con đầu lòng của hoàng hậu , vợ bậc nhất và là người vợ dòng chính duy nhất cảu nhà vua , con của các bà thứ phi khác trong cung không được quyền kế vị .Thế nhưng trên thực tế , điều thường xảy ra là một trong những người vợ bậc nhất chỉ được vua phong là hoàng hậu khi vua chọn con cảu bà làm người kế vị .Hơn nữa , có những vị vua như ,Thiệu trị không hề phong hoàng hậu
    Vấn đề kế vị sau khi vua Thiệu trị băng hà năm 1847 là vấn đề rất lớn đè nặng lên nền chính trị Việt nam đối với trong cũng như ngoài nước .Thật vậy , tính chính thống của người kế vị nhà vua, tức Tự Đức,sẽ bị đặt ra thành vấn đề nghi vấn mỗi làn có khủng hoảng xảy ra ( trên bình diện chính trị và xã hội).Và vấn đề kế vị lại nổi lên một lần nữa sau khi Tự Đức băng hà vì nhà vua không có con ; điều này cho phép người Pháp can thiệp vào trong quá trình tấn phong vua mới
    Chúng tôi trình bày lại ở đây việc vua Tự Đức lên ngôi đã diễn ra như thế nào , dựa theo bài viết của Bùi quang Tung
    Hoàng đế Thiệu trị băng hà ngày 4-11-1847 sau thời gian trị vị không đầy 7 năm.Con trai thứ hai của nhà vua , ông hoàng Hồng nhậm , được chỉ định làm người kế vị lên ngôi và lấy niên hiệu là Tự Đức
    Thực lục của triều Nguyễn kể về cái chết của Thiệu trị và việc lên ngôi của Tự Đức như thế này :"..Ngày 25-10-1847,Thiệu trị cảm thấy cái chết gần kề , gọi 4 đại thần là Trương đăng Quế ,Lâm duy Thiệp ,Võ văn Giai và Nguyễn tri Phương đến bên giường và bảo cho họ biết ý định của mình về việc chỉ định con trai thứ hai là Hồng nhậm để kế vị thay vì con trưởng là Hồng bảo .."
    Nhà vua nêu lí do như sau :".. Các con ta , Hồng bảo tuy lớn , nhưng là con vợ thứ , mà lại ngu độn ít học, chỉ ham vui chơi, không thể để cho kế thừa nghiệp lớn .Hoàng tử thứ hai là Phước tuy Công thông minh nhanh nhẹn , chăm học , giống như ta , có thể nói ngôi hoàng đế .."
    Sau đó , Thiệu trị cử bốn phụ chính đại thần giúp đỡ vua mới .Tuy nhiên, bản chúc này vẫn là mật , và những người ngoài cung đình không được biết "( ngoại đình bất tri dã)"
    Tài liệu của Pháp không kể lại sự việc như vậy ,Nam tước Forth Rouen, công sứ ở Trung hoa , tương thuật cho bộ trưởng Ngoại giao ở Paris hoàn cảnh của vua Thiệu trị qua đời và vấn đề kế vị , trong hai bản báo cáo mà ông viết từ Quảng châu và Ma cao , sau đây , chúng tôi trích mấy đoạn chủ yếu:"..Quảng châu , ngày 15-5-1848-Vua Thiệu trị mất ngày 4-11 vừa qua sau khi đã chỉ định người kế vị là con trai thứ hai của mình .Vua mới lấy niên hiệu là Tự Đức .Ông hoàng này mới 19 tuổi , hình như có những đức tính sẽ khiến ông trở thành một ông hoang cao quý , và hành động đầu tiên đánh dấu việc lên ngôi vua nước Nam cho phép người ta tin rằng trong những đức tính của , ông có thêm lòng nhân đạo mà cha ông hoàn toàn không có..:"
    "..Ma cao , ngày 22-6-1848,
    '..Thật vậy , hình như đối lập với ông hoàng Tự Đức mới lên ngôi , người ta đã đua ra nhiều người tranh dành ngôi báu .Mặc dù đã bị gạt ra một lần , những người này sẽ tiếp tục tìm cách nêu cáo những ưu thế của mình để dành ngôi vua .Trong lúc có một phe tìm cách giao ngai vàng cho một trong những người con của Đông cung .Anh cả cuả Minh mệnh ,ông hoang đã đị cùng giám mục Adran sang thăm nước Pháp trong cuộc chiến tranh chống Tây sơn .Một phe thứ hai muốn đưa lên ngôi ông hoàng Kiến an, em trai cuả Minh mệnh , một người khoảng 50 tuổi rất được khen về tính ôn hòa và cởi mở .Mỗi phe đều có ứng cử viên của mình .Ông hoàng (Hoàng bào) ,con trai trưởng của nhà vua quá cố , là người được phe thứ ba ủng hộ , trong lúc phe thứ tư đưa ra một di chúc không biết có thực hay giả của Thiệu trị:bản di chúc này chỉ định người kế vị là con trai thứ hai của nhà vua , (Hoàng nhậm),người đã lấy niên hiệu là Tự Đức -nghĩa là sự thừa tự có đạo đức.Đứng đầu phe cuối cùng này là những ông quan đầy quyền lực và tham vọng , họ khao khát được trị vì dưới danh nghĩa một ông vua còn quá trẻ để có thể thực sự quan tâm đến công việc .Như tôi đã nói ở trên , phe cuối cùng này đã thắng tất cả nhưng phe khác ,nhưng thắng lợi của họ có thể chỉ là nhất thời.."

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •