Trang 1 của 9 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 89
  1. #1
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0

    Miền Nam Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ

    Tác giả: Nguyễn Khắc Viện

    "Nhiệm vụ của chúng ta là chứng minh cho toàn thế giới thấy rằng khát vọng không được thỏa mãn của con người hướng tới tiến bộ kinh tế và công bằng xã hội có nhiều cơ may được thực hiện hơn bởi những con người tự do lao động trong khuôn khổ những thể chế dân chủ."

    JOHN KENNEDY

    Do André Maurois trích dẫn trong tác phẩm

    Histoire Parallèle

    (Lịch sử song song, trang 365)
    LỜI GIỚI THIỆU


    Độc giả Việt Nam từng biết đến Nguyễn Khắc Viện với nhiều tác phẩm có giá trị như: Bàn về đạo Nho, Việt Nam một thiên lịch sử, Từ sinh lý đến dưỡng sinh, Tìm hiểu tâm lý trẻ con... trong đó, có nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Pháp giới thiệu đất nước, lịch sử, nền văn hóa truyền thống và con người Việt Nam đến bạn bè thế giới.

    Khi bác sĩ Nguyễn Khắc Viện qua đời, tôi có viết một bài báo nhỏ, trong đó tôi ví ông như một cây sậy dáng dấp nghiêng nghiêng nhưng không bao giờ rạp đổ. Ẩn chứa trong cái vẻ bề ngoài yếu ớt ấy lại là một bộ óc tư duy mạnh mẽ. Ngoài những hoạt động xã hội, ông còn nổi tiếng là một nhà báo, nhà văn hóa đa tài.

    Ngoài năng lực ngoại ngữ thông thạo, tri thức uyên bác, Nguyễn Khắc Viện còn có bút pháp sắc sảo của một nhà báo lão luyện, ông đã có công lớn giúp cho các bạn đọc nước ngoài hiểu biết sâu sắc về đất nước và con người Việt Nam.

    Miền Nam Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ là tác phẩm cuối cùng ông viết ở Pháp trước khi về định cư ở Việt Nam. Có lẽ vì thế mà nhiều bạn đọc trong nước, kể cả trong giới sử học vẫn chưa được biết đến.

    Miền Nam Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ viết về bối cảnh của miền Nam Việt Nam kể từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Đó là thời kỳ mà cuôc kháng chiến chống thực dân Pháp đã thắng lợi, Hiệp định Genève được ký kết với điều khoản nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền ngang vĩ tuyến 17 và cuộc Tổng tuyển cử hòa bình thống nhất nước Việt Nam sẽ diễn ra 2 năm sau đó.

    Điều đáng nói là sau gần nửa thế kỷ được đọc lại tác phẩm của Nguyễn Khắc Viện, chúng tôi, những nhà viết sử chuyên nghiệp phải ngả mũ khâm phục những điều ông viết. Tính hấp dẫn không chỉ thể hiện trong cách hành văn sinh động và sáng sủa (cho dù đã qua bản dịch) mà còn thể hiện ở lối tư duy rất biện chứng khi lựa chọn, sắp xếp các dữ kiện tạo cho người đọc sự tin cậy rằng "lịch sử đã diễn ra đúng như vậy".

    45 năm sau đọc lại cuốn sách này, chiêm nghiệm lại những gì đã diến ra tiếp sau những gì Nguyễn Khắc Viện đã viết, tôi càng thấy khâm phục ông. Điều đó cũng có nghĩa là càng thấy cuốn sách của ông có giá trị, cái giá trị lâu bền của một pho sử, cho dù chỉ là lịch sử của một thời kỳ ngắn ngủi.

    Tháng 4 năm 2008


    DƯƠNG TRUNG QUỐC

  2. #2
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    123
    LỜI MỞ ĐẦU


    Ngày 23 tháng 9 năm 1945, dưới sự che chở của quân đội Anh, người Pháp mở cuộc tiến công vũ trang đánh vào chính quyền cách mạng vừa mới thành lập. Cuộc chiến tranh Đông Dương bắt đầu.

    Ngày 7 tháng 5 năm 1954, tại Điện Biên Phủ, Tướng De Castries bị quân đội nhân dân Việt Nam bắt làm tù binh, sau một trận đánh kéo dài 55 ngày đêm, đạo quân viễn chinh Pháp bị mất 16000 người, đa số thuộc những đơn vị tinh nhuệ của quân đội Pháp.

    Ngày 20 tháng 7 năm 1954, các hiệp định đình chiến được ký kết tại Genève, theo đó nước Pháp công nhận độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và sự thống nhất của nước Việt Nam. Để cho việc tập kết của quân đội hai bên được thực hiện, nước Việt Nam tạm thời được chia thành hai miền, Bắc và Nam, ngăn đôi bởi dòng sông Bến Hải chạy dọc theo vĩ tuyến 17, miền Bắc được đặt dưới quyền của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn bộ chỉ huy quân đội Pháp chịu trách nhiệm thi hành các điều khoản của Hiệp định Genève tại miền Nam. Tổng tuyển cử phải được thực hiện chậm nhất vào tháng 7 năm 1956, để bầu ra một chính phủ thống nhất cho toàn nước Việt Nam.

    Trong khu vực miền Bắc,việc thi hành các hiệp định không thành vấn đề, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nắm chắc sự tín nhiệm của nhân dân Việt Nam, đã không ngừng tìm cách tạo mọi thuận lợi cho việc thi hành các hiệp định nhằm tiến tới tổng tuyển cử và đẩy nhanh sự tái thống nhất đất nước.

    Thế nhưng, mặc dù các hiệp định đã được ký kết giữa Pháp và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vẫn có một đối tác thứ ba sắp sửa nhúng tay can thiệp một cách quyết định vào hướng diễn biến của tình hình ở miền Nam Việt Nam.

    Thực ra, từ năm 1950, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã có mặt tại chỗ rồi đóng góp một phần lớn cho những chi phí của cuộc chiến tranh Đông Dương, và cuộc đình chiến đã được ký kết ngược với ý muốn của họ. Do không ngăn đuowjc việc ý kết này, Hoa Kỳ chuẩn bị huy động toàn bộ sức mạnh của mình nhằm làm cho các hiệp định đã được ký kết không thể thực hiện được.

    Ngày 7 tháng 7 năm 1954, viên cựu quan lại theo đạo Thiên CHúa là Ngô Đình Diệm (mà trong cuốn sách này chúng tôi gọi tắt là Diệm, theo kiểu người Việt Nam vẫn gọi), từ Mỹ trở về hất cẳng Bửu Lộc là người của Pháp, tự tay nắm lấy quyền điều khiển chính phủ Bảo Đại.

    Ngày 8 tháng 9 năm 1954, đúng 50 ngày sau khi đặt bút ký các Hiệp định Genève, nước Pháp ký với Mỹ và Anh, hiệp ước Đông Nam Á (OTASE) là vế thứ hai ở Viễn Đông song đôi với hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) ở phía tây.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Chiếc chìa khóa mở cửa vào Nam Việt Nam được chuyển từ tay của Pháp sang tay Hoa Kỳ, các Hiệp định Genève vừa được ký chưa ráo mực đã bị phủ nhận. Nhà nước Nam Việt Nam đã ra đời như thế, cái Nhà nước mà lịch sử tiếp theo sau đó sẽ mang dấu ấn không thể gột rửa của tất cả những nhân tố đã làm bà đỡ cho nó ra đời: sự chối bỏ trách nhiệm của nước Pháp, ý chí của Hoa Kỳ quyết ngăn chặn phong trào cách mạng Việt Nam, tập hợp lại tại miền Nam của các thế lực phong kiến Việt Nam.

    Trải dài từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, miền Nam Việt Nam có diện tích rộng 170000km2. Với số dân khoảng 14 triệu người (so với 160000km2 và 16 triệu dân ở miền Bắc[1]).

    Vê mặt địa lý, có thể phân biệt ba vùng chính sau đây:

    Nam Bộ, bao gồm chủ yếu vùng châu thổ sông Đồng Nai, là vùng đất của những cánh đồng lúa rộng và phì nhiêu, Nam Bộ là vựa lúa của Việt Nam. Chỉ riêng châu thổ sông Cửu Long đã có 2300000 héc-ta đất trồng trọt và Nam Bộ đã xuất khẩu 1500000 tấn gạo mỗi năm.

    Từ sông Bến Hải đến tận Nam bộ, dọc theo bờ biển, là một chuỗi dài những cánh đồng nhỏ, bị kẹp giữa biển và núi, đông dân nhưng nghèo, điều kiện kinh tế và dân cư ở đây gợi nhớ đến những điều kiện của miền Bắc. Đó là phần giữa và phía nam của Trung Bộ (tên cũ là An Nam). Tổng diện tích đất canh tác vào khoảng 300000 héc-ta.

    Cao Nguyên là một vùng rộng lớn trải dài từ thung lũng sông Đồng Nai ở phía nam đến vĩ tuyến 17 ở phía bắc. Phần lớn đó là những cao nguyên có độ cao từ 700m đến 800m so với mặt biển. Vùng đất đó được hình thành từ sự phân hủy của đá bazan, một loại đất rất tốt, phù hợp một cách kỳ lạ với các loại cây công nghiệp: cao su, chè, cà phê... vẫn còn những diện tích rộng mênh mông chưa khai phá.

    Trong số 14 triệu dân của miền Nam Việt Nam, phải tính đến khoảng 400000 người Khơ Me (hay Cao Miên), sống chủ yếu ở các tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ, 700000 người Trung Quốc sống tập trung chủ yếu ở Chợ Lớn và hơn 600000 người bao gồm những nhóm tộc người khác nhau sống trên các vùng cao nguyên. Trước đây, người ta gọi chung họ là "mọi", chúng tôi sẽ không dùng thuật ngữ này vì trong tiếng Việt nó bao hàm một ngụ ý không hay, và sẽ dùng các từ "cư dân" hay "nhóm tộc người" của Tây Nguyên.

    Ngay từ đầu. có thể lưu ý rằng, khác với phần lớn các nước chậm phát triển, Nam Việt Nam là một miền đất giàu nông sản, với một sản lượng lương thực rất dư thừa. Miền Nam sẽ không phải trải qua những khó khăn cực lớn về cung cấp lương thực như miền Bắc, chỉ cần bằng sự viện trợ của mình, Hoa Kỳ đã có thể dễ dàng khởi động việc công nghiệp hóa để biến Nam Việt Nam thành một cái "tủ kính" thật sự, một cực hấp dẫn đối với các nước khác ở Đông Nam Á. Thế nhưng, lịch sử lại đã quyết định một cách khác.
    ____________________________________________
    [1] Các cơ quan chính thức cung cấp những con số sau đây về dân số năm 1960:
    - Nam Bộ 63% tương đương với 8760933
    - Đồng bằng miền Trung 31% tương đương với 4329761
    - Tây Nguyên 6% tương đương 604823
    Không nên ảo tưởng về sự chính xác của những số liệu này. Không một cuộc điều tra dân số nào được tiến hành, lý do đơn giản vì chính quyền miền Nam chưa bao giờ kiểm soát được toàn bộ vùng nông thôn, nơi tập trung đến 85% dân số.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Dự định của chúng tôi là vạch lại tiến trình lịch sử của miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1963, một lịch sử đầy ắp sự kiện, bởi lịch sử của những chế độ bị khủng hoảng triền miên thu hút sự quan tâm của các sử gia và ký giả nhiều hơn là những nước được sống trong yên bình. CÓ thể phân biệt thành ba giai đoạn trong cái thời kỳ ngắn ngủi chỉ kéo dài được tám năm này:

    1. Từ ngày 21 tháng 7 năm 1954 đến ngày 28 tháng 4 năm 1956, quân đội Pháp vẫn còn đóng ở Nam Việt Nam. Trong khi Chính phủ Hoa Kỳ buộc nước Pháp phải từ bỏ xứ sở này để trao quyền điều khiển vào tay họ, chính quyền Diệm dần dần loại bỏ tất cả các nhóm thân Pháp, khi cần còn dùng cả vũ lực. Bộ máy quân sự của Mỹ và các thể chế của chính quyền Diệm được thiết lập.

    2. Sau khi quân đội Pháp rút, Hoa Kỳ lên ngôi ông chủ độc tôn, chính phủ Diệm từ chối không chịu tổ chức tổng tuyển cử như đã dự kiến trong các hiệp định đình chiến. Những hiệp định này bị lâm vào thế bất khả thi, một phần do sự chối bỏ trách nhiệm của một trong số những đối tác chủ yếu có trách nhiệm thi hành hiệp định là Pháp. Phía Pháp đã cẩn thận rút hết quân đội của mình trước thời hạn tổng tuyển cử tháng 7 năm 1956.

    Thế là bắt đầu "thời đại hoàng kim" của chính quyền Diệm có thể tha hồ thi thố các dự định của mình, dưới sự chỉ đạo của những cố vấn Hoa Kỳ. Nam Việt Nam trở thành tài sản riêng của gia đình Diệm và như chính miệng Diệm nói, biên giới của Hoa Kỳ trải rộng đến tận vĩ tuyến 17. "Thời đại hoàng kim" này kéo dài đến cuối năm 1960, là thời điểm được đánh dấu bằng sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng.

    3. Bởi vì nhân dân Việt Nam đã nhanh chóng phản ứng; và chế độ nào càng tự cảm thấy mình bị mất lòng dân thì lại càng ra tay đàn áp, mà càng ra tay đàn áp thì cường độ những cuộc đấu tranh của nhân dân lại càng lên cao.

    Ngày 11 tháng 11 năm 1960, một số quân nhân tổ chức một cuộc đảo chính không thành với ý định lật đổ Diệm, một bằng chứng cho thấy toàn thân chế độ này đang bị lung lay.

    Sau ngày đó, chính quyền Diệm chỉ còn là một cái bóng, duy nhất còn lại sự thống trị của Hoa Kỳ và dần dần biến thành một cuộc can thiệp vũ trang thật sự. Một cuộc chiến tranh không tuyên bố, theo cách nói của Thời báo New York, bắt đầu ở miền Nam Việt Nam. Cuộc chiến tranh này vả chăng đã được Chính phủ Kennedy chính thức hóa ngày 8 tháng 2 năm 1962, khi họ thành lập một bộ chỉ huy quân sự của Mỹ ở Sài Gòn.

    Về phía mình, nhân dân Việt Nam đứng trước nguy cơ có thể bị tiêu diệt, bắt đầu có những biện pháp tự vệ: đấu tranh vũ trang xuất hiện kết hợp với đấu tranh chính trị, và ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Cuộc chiến tranh không tuyên bố này vẫn đang tiếp diễn.

    Việc nghiên cứu những sự kiện xảy ra từ năm 1954 sẽ cung cấp cho chúng ta ý niệm về một lối thoát khả dĩ cho một tình hình nguy hiểm như ở miền Nam Việt Nam thời đó.

    Nam Việt Nam lúc đó là một trong những khu vực nhạy cảm của thế giới, tại đây cuộc đối đầu Đông-Tây, những cuộc xung đột nổ ra từ phong trào giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội đang diễn ra dưới những hình thức nghiêm trọng và nguy hiểm nhất, chứa đựng nguy cơ đe dọa nền hòa bình thế giới.

    Nghiên cứu một vấn đề mang tính thờ sự và nóng bỏng như thế là việc chẳng mấy dễ dàng. Tư liệu thì tản mạn và nằm trên mặt các báo chí hàng ngày nhiều hơn là trên các trang sách. Với những gì có thể tập hợp được từ trong các ấn phẩm của Việt Nam, Pháp và Mỹ, chúng tôi đã thử chỉ ra một số cột mốc, cố gắng thử cung cấp chút ánh sáng cho những ai đang phân vân tự hỏi về tương lai đất nước này.

    Bở vì đất nước này là đất nước của chúng tôi, nên xin bạn đọc đừng ngạc nhiên nếu những dòng dưới đây đôi khi ít nhiều nhuốm màu cảm xúc. Chúng tôi đã cố gắng hết sức khách quan càng nhiều càng tốt, nhưng lẽ tự nhiên, trái tim của một con người làm sao có thể không rung động khi phải kể lại những tai họa đang giáng xuống quê hương mình, hay khi mô tả lại những chiến tích anh hùng của đồng bào mình. Tính khách quan lịch sử đâu phải là sự bàng quan lạnh lùng trước bất hạnh của những con người.

    Paris, tháng 3 năm 1963.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    1
    TỪ CHẾ ĐỘ THỰC DÂN NÀY SANG

    CHẾ ĐỘ THỰC DÂN KHÁC

    (1954-1956)




    HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ Ở VIỆT NAM


    Theo lẽ tự nhiên, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không thích chân không. Năm 1945, khi chiến tranh thế giới kết thúc, nước Mỹ hùng cường với sức mạnh dồi dào của mình, đã ra công quyết trám cho kỳ hết tất cả những lỗ hổng toang hoác do sự sụp đổ mà các cường quốc thực dân để lại. Trong khu vực Thái Bình Dương, họ đã có thể đứng vững chắc ở Philippine, nắm trong tay tiềm lực công nghiệp của Nhật Bản, cùng với lãnh thổ của các nước, cũng như nhiều căn cứ khác rải khắp đại dương mênh mông này; Hà Lan, Pháp, Anh, đều đã mất chỗ đứng. Chỉ còn đại lục châu Á. Tướng Marshall được phái sang Trung Quốc, đội quân hùng hậu của Tưởng Giới Thạch được trang bị cẩn thận, nào có đáng gì mấy tỉ đô la so với giải đất Trung Hoa mênh mông.

    Ở Đông Dương, hoạt động của các phái viên Hòa Kỳ làm những nhà cầm quyền Pháp rất lo ngại. "Những phái viên đầu tiên của cường quốc lớn nhất trong "Tứ Cường" đã không hề giấu diếm rằng họ coi sự ra đi của chúng ta là một đi không trở lại... Trong viễn cảnh diễn biến tình hình ở khu vực này, ta thấy khá rõ là Anh và Mỹ hình như đã xóa tên nước Pháp khỏi bản đồ châu Á, chí ít là với danh nghĩa một cường quốc thực dân"[2].

    Nhưng các phái viên của Washington đã không tính đến một điều bất ngờ đang chờ đợi họ, tổ chức Việt Minh, trong suốt thời kỳ Việt Nam bị Nhật Bản chiếm đóng, họ đã duy trì những mối liên lạc với các sĩ quan của Mỹ, đã giúp đỡ và cứu những sĩ quan Hoa Kỳ được thả dù xuống sau lưng quân Nhật. Nhưng sau khi giành được chính quyền, với một triệu đồng bạc Đông Dương trong ngân khố và hai triệu người dân chết đói, trên một đất nước ở phía bắc thì bị quân đội của Tưởng Giới Thạch, ở phía nam thì quân đội Anh chiếm đóng, chính tổ chức Việt Minh đó đã khước từ những đề nghị viện trợ của Hoa Kỳ, để chọn con đường thương lượng với Pháp là cường quốc thực dân cũ đã từng thống trị Việt Nam.

    Cuộc chiến tranh Đông Dương đã bắt đầu như thế: từ năm 1945 đến năm 1950, Hoa Kỳ đã buộc phải bằng lòng về những âm mưu thủ đoạn ở hậu trường, nhưng họ đã uổng công vô ích. Năm 1947, đại sứ Hoa Kỳ William Bullit đã có những cuộc hội đàm với Bảo Đại, nhưng về hiệu quả trước mắt thì chẳng đi đến đâu. Nước Pháp cứ tưởng rằng chỉ một mình mình cũng đủ sức giải quyết vấn đề Đông Dương như giải quyết một cuộc chiến tranh thuộc địa như hồi thế kỷ 19.
    ______________________________________
    [2] Paul Mus: Le Vietnam, sociologie d'une guerre trang 34 (Việt Nam, một cuộc chiến tranh dưới góc độ xã hội học). Cũng nên tham khảo Sainteny: Histore d'une paix manguée (Lịch sử về một nền hòa bình bị đánh mất).

  6. #6
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Thế nhưng, cuộc kháng chiến của Việt Nam cứ lớn mạnh từng ngày và đến tháng 10 năm 1950, đạo quân viễn chinh Pháp bị giáng một đòn thất bại vang dội ở Cao Bằng. Cũng cvaof lúc đó, chính quyênf nhân dân Trung Quốc được thiết lập ở BẮc Kinh, biên giới phía bắc của VIệt Nam được mở rộng về phía phe xã hội chủ nghĩa. Ngày 19 tháng 10 và ngày 22 tháng 11 năm 1950, trước Quốc hội Pháp, Nghị sĩ Đảng cấp tiến Mandes - France đã trình bày rõ những khả năng lựa chọn của nước Pháp lúc bấy giờ.

    "Chỉ có hai giải pháp. Một là thực hiện những mục tiêu của chúng ta ở Đông Dương bằng sức mạnh quân sự. Giải pháp quân sự có nghĩa là thêm một cố gắng to lớn và ồ ạt nữa, một cố gắng đủ lớn và đủ nhanh chóng để vượt lên trước sự phát triển vốn đã rất lớn của những lực lượng đang đối đầu với chúng ta. Giải pháp thứ hia là tìm kiếm một thỏa ước chính trị, đương nhiên là với những kẻ đang chiến đấu chống lại chúng ta. Phải lựa chọn chọn thôi. Ngoài giải pháp quân sự, chỉ còn mỗi một khả năng đó là thương lượng..."[3]

    Chính phủ Pháp đã chọn một con đường thứ ba: quốc tế hóa cuộc xung đột. Nước Pháp sẽ tiếp tục chiến đấu ở Đông Dương, nhưng không còn chỉ vì những mục tiêu của riêng mình giống như quân Mỹ khi tham chiến từ tháng 6 năm 1950 ở Triều Tiên, đội quân viễn chinh Pháp chiến đấu nhân danh thế giới tự do, với mục tiêu gián tiếp là nhằm vào cách mạng Trung Hoa. ở Triều Tiên, Hoa Kỳ đã tung ra toàn bộ sức mạnh quân sự của mình; những thiệt hại của họ đã vượt qua tất cả những thiệt hại mà họ đã phải chịu trong cuộc Chiến tranh Thế giới thứ hai trên tất cả các mặt trận cộng lại. Lực lượng kháng chiến của Triều Tiên và của quân đội cách mạng Trung Quốc đã tỏ ra mạnh hơn dự kiến. Hiệp ước quân sự Trung-Xô tháng 2 năm 1950 làm mọi cuộc tiến công quân sự nhằm đánh trực tiếp vào "đất thánh" Trung Quốc là không thể. Cuộc chiến tranh triều Tiên đương nhiên đã làm chậm công cuộc xây dựng kinh tế của Trung Quốc, nhưng các cường quốc phương Tây đã thất bại trong mưu đồ đưa Tưởng Giới Thạch trở lại cầm quyền. Nam Triều Tiên tuy nhiên vẫn là một căn cứ quân sự của Mỹ, với một đội quân đông hơn 600000 người được trang bị dồi dào, và kẻ độc tài Lỹ Thừa Vãn vẫn không ngớt lên tiếng đe dọa sẽ lại "Bắc tiến".
    _____________________________
    [3] (Tư liệu: Các cuộc tranh luận ở Quốc hội 1950).

  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Tháng 4 năm 1954, Foster Dulles viết trên tạp chí Foreign Affairs.

    "Hệ thống căn cứ của thế giới tự do là bộ phận hợp tành của nền an ninh tập thế của thế giới đó."

    Cuộc đình chiến tháng 7 năm 1953 ở Triều Tiên càng làm cho Chính phủ Hoa Kỳ thấy cần phải giữ cho được toàn bộ Đông Dương trong hệ thống được gọi là phòng thủ của thế giới phương Tây.

    Tại Pháp, phe chủ trương quyết đánh tới cùng mà hiện thân là Bidault được sự ủng hộ của đảng MRP và phái cực hữu đang cầm quyền và hoàn toàn chấp nhận quan điểm của Hoa Kỳ. Ngày 29 tháng 11 năm 1953, tuần báo Thụy Điển Expressen đăng lời tuyên bố vang dội khắp thế giới của Chủ tịch hồ CHí Minh trong một cuộc phỏng vấn: "... Nếu Chính ohur Pháp đã rút đươhc bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn ký kết một cuộc đình chiến và giải quyết vấn đề Việt Nam bằng thương lượng thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng xem xét những đề nghị của phía Pháp... Việc thương lượng đình chiến chủ yếu là giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp."

    Trả lời phỏng vấn của tờ tuần báo Thụy Điển này, một người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Pháp nói rằng người ta "không làm chính trị bằng những mục rao vặt trên báo", và mãi đến tận tháng 3 năm 1954, khi Thượng Nghị sĩ Savary thuộc Đảng Xã hội là người đang có ý định tiếp xúc với Hồ Chí Minh, Bidault xòn nói với ông này:

    "Hồ Chí Minh sắp đầu hàng đến nơi rồi, chúng tôi sẽ đánh bại ông ta. Chớ tiếp sức cho ông ta bằng một tiếp xúc theo kiểu này."[5]

    Chính phủ Laniel-Bidault đang chuẩn bị giải pháp của mình cho vấn đề Đông Dương: Tổng tư lệnh mới, Tướng Navarre, đã trình với Washington một kế hoạch "bình định" nhất định sẽ đánh bại cuộc kháng chiến của Việt Nam trong vòng 18 tháng. Tháng 9 năm 1953, Hoa Kỳ cấp 385 triệu đô la để trang bị cho đội quân của Bảo Đai. Cuối tháng 9, Tướng Navarre tung ra chiến dịch Mouette ở phía nam vùng châu thổ Bắc Kỳ, theo hướng đánh vào Thanh Hóa. Ngày 20 tháng 11, sáu tiểu đoàn đã chiếm khu lòng chảo Điện Biên Phủ, cách Hà Nội 300km về hướng Tây Bắc: đó là chiến dịch Castor. Ngày 20 tháng Giêng năm 1954, quân Pháp đổ bộ ở Tuy Hòa thuộc miền Trung Việt Nam. Đó là dấu hiệu mở đầu chiến dịch Atlante, mà theo dự tính của bộ chỉ huy Pháp, sẽ bình định toàn bộ khu vực phía nam vĩ tuyến 18. Với viện trợ của Hoa Kỳ, quân số đội quân của Bảo Đại, ngày 1 tháng Giêng năm 1954, được tăng lên 210000 người. Theo dự án của Pháp và Mỹ, đội quân này sẽ tăng lên đến 400000 người ngày 1 tháng Giêng năm 1956.

    Thế nhưng quân đội nhân dân Việt Nam sẽ cho thấy sức chiến đấu và hiệu quả chiến đấu của mình cao hơn so với những gì mà kế hoạch Navarre đã dự tính. Các cuộc hành quân Mouette và Atlante kết thúc thất bại, và chiến tranh du kích, đặc biệt trong vùng châu thổ Bắc Kỳ, đã lớn lên ngang tầm vóc của một cuộc chiến tranh thật sự. Quân đội nhân dân Việt Nam phản công ở Lào, trên các cao nguyên ở miền Trung Việt Nam; Điện Biên Phủ vốn được dự định sẽ trở thành một cứ điểm, tại đó quân dù và quân lê dương của Pháp sẽ được dịp "xơi tái quân Việt"[6] lại trở thành một cái bẫy dành cho những đơn vị ưu tú nhất của đội quân viễn chinh Pháp.
    ______________________________________
    [5] Lacoutare và Devillers: La fin de la guerre (Sự kết thúc chiến tranh).

    [6] Casser du Viet.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Không thể cho quân đội Mỹ trực tiếp can thiệp vào Việt Nam, Chính phủ Hoa Kỳ sẽ ra sức ngăn cản các nước thương lượng. Cuộc chiến tranh kéo dài sẽ cho phép người ta tìm được một cơ hội khác để bộ máy chiến tranh của Hoa Kỳ vào cuộc. Tuy nhiên, 10 ngày sau khi hội nghị Genève khai mạc, ngày 7 tháng 5 năm 1954, Điện Biên Phủ thất thủ: Trận đánh lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thuộc địa đã kết thúc với phần thắng thuộc về kháng chiến Việt Nam. Đội quân viễn chinh Pháp đã bị thiệt hại ở Điện Biên Phủ đến 16000 quân, mà đa số thuộc những đơn vị tinh nhuệ: lính dù, lê dương, lính Ta-be[8].

    Những hậu quả của Điện Biên Phủ chẳng bao lâu đã phát triển đồng thời trên hai bình diện quân sự và chính trị. Tinh thần của đội quân viễn chinh Pháp, và đặc biệt của đội quân Bảo Đại, bị ảnh hưởng nặng nề. Ngày 24 tháng 6, vị trí An Khê thất thủ và toàn bộ khu vực Tây Nguyên ở miền Trung được giải phóng. Ngày 1 tháng 7, quân Pháp rút khỏi các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Phủ Lý, Ninh Bình, kể cả hai giáo phận Công giáo thuộc các tòa giám mục Phát Diệm và Bùi Chu ở phía nam châu thổ sông Hồng với hai triệu rưỡi dân. Tuy nhiên, dù tình hình quân sự xấu đi nhanh chóng cũng không thể vì thế mà jeets luận rằng chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng một đòn trí mạng vào đội quân viễn chinh Pháp còn đông đến 500000 người, với những phương tiện vật chất, không quân, thiết giáp, pháo binh, vẫn tải vẫn vượt xa so với quân đội nhân dân Việt Nam. Đành rằng quân đội Pháp không còn có thể tính đến việc đáng bại kháng chiến Việt Nam, nhưng một kế hoạch co cụm các mặt trận đã được dự trù cho trường hợp các cuộc xung đột còn kéo dài. Ở miền Bắc, người ta sẽ chỉ giữ trục Hà Nội-Hải Phòng, ở phía nam núp sau dãy núi chạy dọc theo vĩ tuyến 18, toàn bộ quân lực của Pháp sẽ được tập trung lại để giữ vững toàn bộ miền Nam Việt Nam trong khi chờ đợi sự can thiệp của các lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ sẽ lại tạo sức mạnh cho một cuộc tiến công mới đánh lên miền Bắc, lần này với sự phối hợp của quân đội Mỹ[9]. Đành rằng, bộ máy chiến tranh của Pháp đã bị sứt mẻ nhiều, nhưng các lực lượng vũ trang của nhân dân Việt Nam cũng chưa đủ sức để có thể giải phóng toàn bộ đất nước một cách nhanh chóng, mà một cuộc can thiệp của Hoa Kỳ, tuy rằng tạm thời đã được gạt đi, nhưng nguy cơ vẫn luôn luôn còn đó.

    Tại Genève, Bidault và Foster Dulles cố công cố sức làm hội nghị thất bại. Bidault nhất quyết không muốn nghe đến những điều kiện chính trị, ông ta không muốn thừa nhận nền độc lập của Việt Nam ngoại trừ thông qua vai trò của chính phủ Bảo Đại. Nguyễn Quốc Định, đại diện của Bảo Đại, chỉ đưa ra một đề nghị đơn giản là sáp nhập các lực lượng vũ trang kháng chiến vào quân đội của Bảo Đại, dưới một quyền hành chính trị duy nhất là chính phủ Bảo Đại.

    Tuy nhiên, chiến thắng Điện Biên Phủ đã có những hệ quả chính trị hết sức quan trọng: phong trào hòa bình trên thế giới và nhất là ở Pháp đã phát triển rất mạnh. Ngày 12 tháng 6, Chính phủ Laniel-Bidault bị lật đổ, ngày 18 tháng 6, Chính phủ Mendes-France được bầu vào ghế thủ tướng với 419 phiếu thuận, 47 phiếu chống, và 143 phiếu trắng. Con số này phản ánh quy mô và xu thế của dư luận ở Pháp.
    ___________________________________
    [8] Đơn vị lục quân gồm những chiến binh người Ma-rốc. ND

    [9] Tướng Navarre: Agonie de L'Indochine (Đông Dương hấp hối).

  9. #9
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    9
    Tình hình chính trị và quân sự vào tháng 7 năm 1954 mang những nét sau đây: Trong trường hợp chiến tranh kéo dài, quân đội Pháp rất có thể sẽ bị buộc phải rút hết khỏi toàn bộ khu vực phía bắc vĩ tuyến 18; ở phía nam Việt Nam, ở Campuchia và Lào chiến tranh du kích có thể sẽ cứ kéo dài. Nhưng vẫn chưa thể đưa đến một kết thúc nhanh chóng bằng quân sự. Chính phủ Mendes-France có thể sẽ bị lật đổ. Vậy chính phủ lên kế vị nó sẽ làm gì ? Các lực lượng phe cánh tả liệu đã đủ mạnh để ngăn không cho phe cánh hữu xin một cuộc can thiệp ồ ạt bằng quân sự của Mỹ và đặt toàn thể thế giới trước việc đã rồi ?

    Về phía Việt Nam, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, các nhà lãnh đạo nhận thức rất rõ về mối nguy hiểm từ phía Hoa Kỳ; các cuộc thương lượng vốn nhằm mục đích giành cho được từ tay người Pháp sự công nhận quyền độc lập, nhưng đồng thời, phái đoàn Việt Nam ở Genève còn cố gắng, bằng sự nhân nhượng với Pháp để có được một cuộc đình chiến, nhằm tránh không cho Hoa Kỳ gia nhập cuộc chiến và biến toàn thể đất nước Việt Nam thành một bãi chiến trường khổng lồ. Ngày 10 tháng 5, ba ngày sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, Phạm Văn Đồng tại Genève đưa ra 3 đề nghị.

    - Nước Pháp sẽ thừa nhận quyền độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

    - Việt Nam sẽ tôn trọng các lợi ích kinh tế và văn hóa của Pháp.

    - Việt Nam sẽ nghiên cứu khả năng gia nhập khối Liên hiệp Pháp.

    Tính chất ôn hòa của những yêu sách được đưa ra như trên sau một chiến thắng quân sự lẫy lừng đã làm kinh ngạc nhiều nhà quan sát, và tương phản với sự ngoan cố của Bidault. Dư luận Pháp đã không thể không nhận thấy sự ngoan cố đó. Bidault sẽ bị loại bỏ. Người ta đã không còn có thể tách rời các vấn đề quân sự với các vấn đề chính trị. Hẳn rằng, tương quan lực lượng trên bình diện quân sự, nguy cơ về một cuộc chiến tranh lan rộng lôi kéo nhiều bên vào cuộc đã không cho phép lực lượng kháng chiến Việt Nam đánh chiếm tất cả các mục tiêu của mình. Nhưnh Chính phủ Pháp đã buộc phải nhượng bộ:

    - Về mặt cụ thể, trao trả lại khu vực ở phía bắc vĩ tuyến 17 cho chính quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    - Về nguyên tắc, thừa nhận quyền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, những nguyên tắc sẽ phải được cụ thể hóa bằng tổ chức tổng tuyển cử bầu ra một Chính phủ thống nhất cho cả nước, chậm nhất vào ngày 20 tháng 7 năm 1956.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Thế là, nền độc lập dân tộc đã trở thành hiện thực trên nửa phía bắc của nước Việt Nam, Campuchia và Lào cũng trở thành những quốc gia độc lập thật sự. Một điều nữa không kém phần quan trọng, chúng ta đã tránh được nguy cơ một cuộc xung đột lan rộng ra toàn thể. Từ lâu, đây là lần đầu tiên, một vấn đề nóng bỏng giữa phương Đông và phương Tây đã được giải quyết bằng con đường thương lượng. Khác với vấn đề Triều Tiên, các cuộc thương lượng đã kết thúc với một hiệp ước không chỉ về quân sự mà cả về chính trị. Nước Việt Nam, trên nửa phần phía bắc của mình, sắp sửa có thể dồn tâm sức vào công cuộc xây dựng, tiến dần tới chủ nghĩa xã hội. Trung Quốc cũng sẽ thúc đẩy nền kinh tế của mình tiến bộ nhanh chóng, tạo nên cơ sở vững bền để dứt khoát trở thành một nước xã hội chủ nghĩa hùng cường. Như vậy, các Hiệp định Genève ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 là một thỏa hiệp, một thỏa hiệp có lợi cho hòa bình thế giới, các điều khoản của những hiệp ước này dẫn đến việc thiết lập ở Đông Dương một khu vực trung lập rộng lớn về phương diện quân sự. Đối với nhân dân Việt Nam, vấn đề còn lại là phải hoàn thành nền độc lập của mình bằng cách đấu tranh để thi hành những hiệp định này. Bằng cách gắn liền chính sách giải phóng dân tộc với công cuộc bảo vệ hòa bình thế giới, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã tránh được cho đất nước mình khỏi bị biến thành một bãi chiến trường giữa Đông và Tây, và cứu vãn được hòa bình thế giới. Nhưng sự chấp nhận đất nước bị chia cắt, cho dù có được ghi trong các hiệp định chỉ là tạm thời, cũng không vì thế mà không gây nên những xúc động lớn trong tâm tư tình cảm của người Việt Nam. Các nhà lãnh đạo Việt Nam, sau khi đã lèo lái cuộc chiến tranh với một bàn tay bậc thầy, đã biết tỏ rõ sự khôn ngoan về chính trị, chấp nhận những thỏa hiệp cần thiết. Lời phát biều của Hồ Chí Minh ở cuộc họp ngày 15 tháng 7 năm 1954 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, chứng tỏ rằng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có đánh giá hết sức khách quan về tình hình, không tự cho phép mình say sưa với những chiến thắng rực rỡ trên mặt trận quân sự.

    "Những thắng lợi của ta làm cho nhân dân ta và nhân dân thế giới phấn khởi, làm cho địa vị ngoại giao của ta ở Genève vững chắc, những thắng lợi của ta buộc địch phải nói chuyện với ta. So với những điều mà Bollaert đưa ra hồi năm 1947, thì thái độ của Pháp ngày nay thay đổi khá lớn. Từ ngày kháng chiến đến nay, thế ta ngày càng mạnh, thế địch ngày càng yếu... Nhwung chúng ta cần hết sức chú ý. thế mạnh và yếu ấy là tương đối, không phải tuyệt đối. Ta chớ chủ quan khinh địch. Thắng lợi của ta làm cho đế quốc Mỹ bừng tỉnh.

    Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, âm mưu và kế hoạch can thiệp của Mỹ cũng thay đổi để kéo dài chiến tranh Đông Dương, quốc tế hóa chiến tranh Đông Dương, phá hoại Hội nghị Genève, tìm mọi cách hất cẳng Pháp để chiếm ba nước Việt, Miên, Lào, biến nhân dân Việt, Miên, Lào thành nô lệ của Mỹ và gây thêm tình hình căng thẳng trên thế giới.

    Do đó, Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào... Qua hội nghị Genève, mâu thuẫn của các đế quốc càng rõ rệt. Pháp muốn nói chuyện, Anh nhập nhằng, Mỹ thì phá hoại. Đến nay Mỹ càng bị cô lập...

    Hiện nay, Chính phủ Pháp do phe chủ hòa nắm, việc chấm dứt chiến tranh Đông Dương có nhiều khả năng hơn...

    Cho đến này ta đã tập trung lực lượng để tiêu diệt lực lượng thực dân Pháp xâm lược. Bây giờ, Pháp đang nói chuyện với ta, đế quốc Mỹ thì đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp, mũi nhọn của ta phải chĩa vào đế quốc Mỹ...

    Trước kia, khẩu hiệu của ta: "Kháng chiến đến cung." Nay vì tình hình mới, ta cần nêu khẩu hiệu mới là "hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ."Để chống đế quốc Mỹ can thiệp, kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương, ta phải nắm vững lá cờ hòa bình, chính sách của ta có thay đổi: Trước ta tịch thu tài sản của đế quốc Pháp, nay đã đàm phán thì có thể theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, mà giữ lợi ích kinh tế và văn hóa của Pháp ở Đông Dương. Trong đàm phán thì phải nhân nhượng nhau đúng mực. Trước nói: đánh đuổi và tiêu diệt hết quân Pháp, nay đã đàm phán đưa ra yêu cầu và Pháp đã bằng lòng định kù rút quân. Trước kia, ta không đếm xỉa đến Liên hiệp Pháp, nay ta nhận bàn việc tham gia Liên hiệp Pháp một cách bình đẳng và tự nguyện. Trước kia ta chủ trương tiêu diệt ngụy quân, ngụy quyền để thống nhất, bây giờ ta dùng chính sách khoan đãi, dùng biện pháp toàn quốc tuyển cử để đi đến thực hiện thống nhất toàn quốc...

    Muốn ngừng bắn thì phải điều chỉnh khu vực, nghĩa là quân đội địch phải tạm tập trung vào một vùng để rút dần, quân đội ta cũng tập trung vào một vùng. Ta phải có vùng rộng lớn, đủ những phương tiện để xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng mà không ảnh hưởng đến các vùng khác... Khi điều chỉnh và trao đổi khu vực, vùng mà địch sẽ đến tạm đóng thì đồng bào vùng ấy sẽ thắc mắc, có người sẽ bi quan thất vọng, dễ bị địch lợi dụng. Ta phải nói cho đồng bào biết rõ: vì lợi ích toàn quốc, lợi ích lâu dài mà tạm thời phải chịu đựng, đó là một điều vẻ vang mà toàn quốc rất biết ơn...

    Giành lại hòa bình không phải là việc dễ, nó là cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ, phức tạp, nó có những điều kiện có lợi, cũng có những khó khăn... Mỹ ra sức phá hoại việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, phe chủ hòa Pháp thì vẫn chưa dứt khoát với ảnh hưởng của Mỹ. Tình hình đang ở thời kỳ biến chuyển lớn, lại nhiều khó khăn và phức tạp... Những tư tưởng sia lầm có thế nảy ra như sau: "tả" khuynh, có người thấy thắng, muốn đánh bừa, đánh đến cùng... chỉ thấy Pháp mà không thấy Mỹ, thiên về tác chiến... Họ đề ra những điều kiện quá cao, địch không chấp nhận được. Việc gì họ cũng muốn nhanh, không biết đấu tranh cho hòa bình là gian khổ và phức tạp. Tả khuynh thì sẽ bị cô lập, sẽ xa rời nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới... Hữu khuynh thì bi quan tiêu cực, nhân nhượng vô nguyên tắc, không tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, làm nhụt tinh thần phấn đấu của nhân dân, quên tác phong gian khổ, chỉ muốn một đời sống yên ổn và dễ dàng...

    Hiện nay, đế quốc là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ. Bất kỳ người nào, nước nào không thân Mỹ đều có thể làm mặt trận thống nhất (dù là tạm thời) với ta. Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt[10]".
    __________________________________
    [10] Hồ Chí Minh tuyển tập, tập II, trang 445.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •