Trang 2 của 9 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 89
  1. #11
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Tại Hoa Kỳ, tin đình chiến được tiếp nhận một cách đắng cay. Ngay ngày hôm sau, anh em Alsop viết trên tờ New York Herald Trubue (Diến đàn thông tin New York):

    "Đây là một thảm họa làm lung lay toàn bộ thế cân bằng lực lượng mong manh ở châu Á. Một mất mát to lớn khó bù đắp nổi bằng những món lợi kêism được từ châu Âu. Và đây là một sự bất hạn mà chính phủ Hoa Kỳ không thể nào được coi là người ngoài cuộc."

    Tuần báo New Statesman and Nation của Đảng Lao động ANh khẳng định rằng Mỹ là kẻ duy nhất bị nếm mùi thất bại, còn một số Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ thì nói đến một vụ đầu hàng Minich mới. Ngày 20 tháng 8, Eisenhower tuyên bố trước Quốc hội:

    "QUân đội Việt Minh được người Trung Quốc yểm trợ đã giành được những thắng lợi trong khu vực Đông Dương, mặc dù quân đội của Liên hiệp Pháp và các Quốc gia liên hiệp đã mất gần tám nămchieens đấu, bất chấp những vũ khí và thiết bị hiện đại mà Hoa Kỳ đã cung cấp cho họ."

    Không đưa được quân của mình vào Đông Dương, Chính phủ Hoa Kỳ sau khi đình chiến, liền nhanh chóng bắt tay vào việc thực hiện dự án mà họ đã ôm ấp từ lâu: Thiết lập một hệ thống quân sự của phương Tây trong khu vực Đông Nam châu Á và dựng nên một đội quân hùng mạnh của miền Nam Việt Nam mà Hoa Kỳ sẽ giành lấy từ tay người Pháp quyền tổ chức và huấn luyện.

    Mục tiêu trước mắt của Hoa Kỳ trong mùa xuân 1954 là khuyến khích người Pháp cứ tiếp tục cuộc chiến tranh và can ngăn họ chớ có điều đình. Nột cuộc đình chiến, đối với ông ta (tức Foster Dulles) chỉ là một thủ đoạn để trnah thủ thời gian cần thiết cho việc huấn luyện một đội quân Nam Việt Nam hùng mạnh và để dựng nên một hệ thống phòng thủ Đông Nam châu Á lần này sẽ xuyên qua Sài Gòn chứ không phải Hà Nội như trước nữa."[11]
    ____________________________________
    [11] Lacouture - Duvillier, sách đã dẫn trang 104.

  2. #12
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    83
    Vấn đề là phải nhanh chóng hàn gắn lại khối liên minh phương Tây đã bị phương hại ở châu Á bởi hội nghị Genève năm 1954 về đông Dương. Ngay từ ngày 6 tháng 9 năm 1954, tại Manille đã tổ chức hội nghị bàn về hiệp ước quân sự Đông Nam Á, được gọi là SEATO (South East Asia Treaty Organisation - Tổ chức Hiệo ước Đông Nam Á).Điều 4 của tổ chức này ghi rõ: "Trong trường hợp xảy ra cuộc xâm lược hay tấn công vũ trang chống lại những bên hay những vùng được chỉ rõ trong hiệp ước, thì các bên ký kết sẽ hành động."

    Thuật ngữ xâm lược, bản hiệp ước vạch rõ, bao hàm hết cả mọi hình thức xâm lược, kể cả sự "lật đổ". Nếu một phong trào nào đó phát sinh tại một trong những nước ở Đông Nam Á bị các bên ký kết coi là một cuộc lật đổ, thì tổ chức SEATO có thể tính đến một hành động quân sự chung. Tường thuật về một cuộc họp sau đó của tổ chức này, nhà báo André Fontaine của báo Pháp Le Monde viết: "Lật đổ là một từ rất tiện để chỉ toàn bộ những hoạt động hợp pháp hay không hợp pháp nhằm mục đích đấu tranh trong nội địa của những quốc gia là thành viên của hiệp ước này chống lại các chính quyền liên hiệp với Hoa Kỳ."[12]

    Một nghị định thư kèm theo nói rõ thêm rằng:

    "Hoa Kỳ, thành viên của hiệp ước này, thừa nhận rằng Lào, Campuchia, Nam Việt Nam sẽ được hưởng những điều lợi được đề ra trong Điều 4."

    Đây rõ ràng đi ngược với các Hiệp định Genève: "Hai bên ký kết sẽ chú ý giữ gìn để các khu vực giao cho mình không tham gia bất cứ một liên minh quân sự nào."

    Khối liên minh mang danh của Đông Nam châu Á bao gồm: Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Úc - tức chủ yếu là những nước cường quốc phương Tây. Trong số các nước châu Á, chỉ có Thái Lan, Philippine và Pakistan, là những nước mà chính phủ của họ đèu gắn bó chặt chẽ với Hoa Kỳ. Những nước quan tọng nhất của Đông Nam Á như: Ấn Độ, Miến Điện, Ceylan, Indonesia đều đã từ chối tham gia, vì họ cảnh giác với cái khối liên minh đang tập hợp lại với nhau cả ba cường quốc thực dân có thành tích bất hảo nhất. Ngày 29 tháng 9 năm 1954, Nehra tuyên bố trước Quốc hội Ấn Độ:

    "cần phải tự hỏi liệu Hiệp ước Manille đã làm dịu đi hay làm tăng thêm sự căng thẳng ở Đông Nam châu Á ? Hiệp ước ấy có góp phần làm cho Đông Nam Á hay một bộ phận khác của thế giới nhích gần thêm dù chỉ một bước, tới hòa bình và an ninh hay không. Thực ra, tôi chẳng thấy sự căng thẳng giảm bớt hay hòa bình nhích gần thêm. Trái lại, bầu không khí thuận lợi được Hội nghị Genève tạo nên đã bị làm xấu đi một phần. Đây đúng là một chuyện bất lợi."

    Ngày 6 tháng 4 năm 1956, hoàng thân Sihanouk nói trước Đại hội Sangkum:

    "Hoa Kỳ trách Campuchia đã không gia nhập khối SEATO. Nhân dân Campuchia coi SEATO là một khối quân sự và gia nhập khối này là vi phạm Hiệp định Genève ."

    Khái niệm xâm lược bị đáng đồng với "lật đổ" khiến cho tất cả các dân tộc châu Á cảnh giác, nhất là khi nó được khua lên bởi các cường quốc thực dân.

    "Cốt lõi của vấn đề, Walter Lippman viêt, Đông Dương không hề bị một đội quân của Trung Quốc hay Liên Xô xâm lược, mà chính là những người cách mạnh Đông Dương đang thâm nhập từ làng này sang làng khác."[13]

    Ngay từ năm 1949, trước Hội các tổng biên tập báo chí Mỹ (American Society of Newspaper Editors), Acheson đã nói:

    "Xâm lược không chỉ có nghĩa là tiến công bằng quân sự, mà còn là chiến tranh bằng tuyên truyền và phá hoại ngầm từ bên trong các nước tự do."[14]
    __________________________________
    [12] Le Monde, ngày 6 tháng 3 năm 1956.

    [13] Trích dẫn của báo Tribune des Nation ngày 7 tháng 1 năm 1955.

    [14] Aragon trích dẫn Histore parallèle tập II, trang 193.

  3. #13
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Song song với việc dựng lên Khối quân sự Đông Nam Á, Hoa Kỳ ngay lập tức sau khi đình chiến, đã ráo riết thiết lập những cơ quan quân sự, kinh tế, hành chính của mình ở Nam Việt Nam, bất chấp các điều khoản của các Hiệp định Genève. Ngay từ ngày 21 tháng 7, Eisenhower công bố rằng Hoa Kỳ không hề bị ràng buộc bởi các hiệp định này. Phái đoàn quân sự MAAG, đáng lẽ phải rút về nước, lại được tăng cường. Phái đoàn USOM (US Organization Mission), có nhiệm vụ phân phối tiền của Mỹ, đặt các cơ quan của mình trong khách sạn lớn nhất ở Sài Gòn và các cố vấn của mình trong các bộ của Diệm. Một phái đoàn của trường Đại học Michigan lo vấn đề giáo dục và phụ trách luôn các cơ quan an ninh. để cho đại tá Lansdale có đất thi thố tài năng. một chuyên gia Hoa Kỳ khác điều khiển các cơ quan "cải cách điền địa". Nào chính khách, nào tướng lĩnh, nào giáo chủ Hoa Kỳ qua qua lại lại như mắc cửi giữa Washington và Sài Gòn, nơi mà rất nhiều giáo đoàn thuộc đủ các laọi của công giáo Hoa Kỳ, dưới bàn tay thúc đẩy mạnh mẽ của hồng y giáo chủ Spellman, đến để khởi động lại các tổ chức công giáo Việt Nam, làm cho các cha cố người Pháp bực tức và nắm luôn vấn đề người tị nạn. Tương O'Daniel chỉ huy phái đoàn MAAG, Le Land Barrows chỉ huy phái đoàn USOM, còn Tướng Collins thì ngày 4 tháng 11 năm 1954 được chỉ định làm đại diện đặc biệt của Eisenhower bên cạnh Ngô Đình Diệm với hàm đại sứ. Đó chính là những ông chủ thật sự của Nam Việt Nam. Tướng Collins đã từng chỉ huy ở Triều Tiên, và sau đó từng cầm đầu nhóm thường trực của khối Bắc Đại Tây Dương. Về việc bổ nhiệm ông ta ở Sài Gòn, báo New York Herald Truleme bình luận:

    "Việc bổ nhiệm Tướng Collins là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy tầm quan tọng của đất nước này đối với Washington, cũng như nỗi lo lắng mà đất nước này gây ra cho Hoa Kỳ. Nguyên tổn tham mưu trưởng quân đội Hoa Kỳ sẽ có nhiệm vụ phối hợp tất cả mọi hoạt động của tất cả các cơ quan Hoa Kỳ ở Việt Nam, một trách nhiệm thật đặc biệt quan trọng."

  4. #14
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Sau một chuyến đi nghiên cứu ở Việt Nam, Nghị sĩ công đảng Anh William Warbey miêu tả một cách chi tiết sự có mặt của Hoa Kỳ ở đây như sau:

    "Mục tiêu chủ yếu của sự viện trợ này (tức viện trợ của Hoa Kỳ) là củng cố uy quyền của Diệm bằng cách cung cấp cho ông ta những lực lượng vũ trang được trang bị tốt và nhưng đơn vị cảnh sát quân đội cơ động. Viện trợ quân sự của Mỹ năm 1955 đã lên đến 234800000 đô la, năm 1956 là 102200000 đô la và đến năm 1957 sẽ lên đến khoảng 200 triệu đô la. Khoảng 2000 sĩ quan của quân đội Hoa Kỳ hiện có mặt ở Việt Nam, núp dưới cái vỏ của khoảng nửa tá tổ chức mang những tên khác nhau: MAAG, TRIM (Phái đoàn thanh tra và tổ chức lại việc huấn luyện), CATO (Tổ chức huấn luyện các nhóm chiến đấu), TERM... Chỉ riêng phái đoàn TERM trong tháng 6 năm 1956 đã đưa sang 400 sĩ quan, trong đó 80 người là sĩ quan cao cấp, bất chấp Ủy ban kiểm soát quốc tế nhiều lần phản đối. Bất chấp danh nghĩa tạm thời trong tên gọi, phái đoàn TERM đến lúc đó vẫn tồn tại. Nó rất có ích cho người Mỹ dùng danh nghĩa đó để vứt bỏ những trang thiết bị của thời kỳ chiến tranh Đông Dương nay không còn dùng được nữa, để thay bằng trang thiết bị hiện đại. Đó là thủ đoạn của họ để né tránh những điều khoản của Hiệp định Genève cấm nhập thiết bị chiến tranh, trừ khi để thay thế thiết bị cũ.

    Quân đội của Diệm lúc này gồm có 150000 người được trang bị và huấn luyện từ trên xuống dưới bởi những sĩ quan Hoa Kỳ.Cảnh sát quân sự gồm 45000 người, được các sĩ quan Hoa Kỳ huấn luyện chiến đấu, hành quân ngang dọc khắp xứ sở này, tay lăm lăm súng trường và súng tiểu liên, đầu đội mũ sắt của quân đội Hoa Kỳ. Do người Mỹ đã làm lại tất cả mọi con đường lớn, đội quân cảnh sát này có thể cơ động một cách nhanh chóng. Ngược lại các tuyến đường sắt vì không có ích gì về phương diện quân sự, đều bị bỏ mặc không được khôi phục."[16]

    Cả các quan chức Hoa Kỳ lẫn chính quyền Diệm đều không hề giấu giếm ý đồ xây dựng cho xong bộ máy quân sự đồ sộ này. Ngay từ ngày 13 tháng 2 năm 1955, khi mà vị trí quyền lực của ông ta vẫn chưa lấy gì làm vững chắc, Diệm đã tuyên bố trong một cuộc họp báo:

    "Vấn đề phái đoàn quân sự Hoa Kỳ tổ chức và huấn luyện quân đội quốc gia Việt Nam đã được bàn cãi nhiều lần, ngay từ trước khi kết thúc chiến sự ở Đông Dương. Một chương trình do chính phủ Việt Nam đề ra đã được tất cả các nước liên quan chấp nhận và bắt đầu được thực hiện từ hôm nay."

    Trong bản tin của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 11 tháng 6 năm 1956, chúng ta đọc được lời tuyên bố sau đây của W.Robertson, Thứ trưởng phụ trách các vấn đề Viễn Đông, tại hội nghị "Những người bạn Mỹ của Việt Nam" ngày 1 tháng 6 năm 1956:

    "Những cố gắng đầu tiên của chúng ta nhằm giúp Việt Nam duy trì các lực lượng an ninh gồm một đội quân chính quy 150000 người, một đội cận vệ cơ động 45000 người và những đơn vị địa phương chống lật đổ trong cac làng xã. Chúng ta đang cung cấp cho các lực lượng này tiền, thiết bị và chúng ta có nhiệm vụ huấn luyện quân đội Việt Nam. Chúng ta cũng giúp tổ chức, huấn luyện và trang bị cho cảnh sát Việt Nam."

    Cần nói rõ rằng người đứng đầu các cơ quan cảnh sát của thành phố New York là người đã được mời sang để đào tạo các nhân viên cảnh sát của Nam Việt Nam. Quân đội của Bảo Đại chỉ gồm những tiểu đoàn để đảm đương những nhiệm vụ thứ yếu, vấn đề là phải xây dựng những sư đoàn có đủ sức cho những chiến dịch lớn. Ngày 22 tháng 3 năm 1955, Tướng O'Daniel tiết lộ với các nhà báo:

    "Điều cần phải làm bây giờ và khó khăn nhất, là xây dựng những đơn vị lớn xuất phát từ cấp tiểu đoàn. Rất nhiều các đơn vị này đã chiến đấu tốt với tư cách là những tiểu đoàn riêng lẻ. Thế nhưng bây giờ phải tiến tới đơn vị đặc chủng, tức là đơn vị sư đoàn, bởi chỉ có sư đoàn mới đáp ứng được những đòi hỏi của chiến lược hiện đại, dù trong chiến đấu tập trung hay trong chiến đấu với những tiểu đoàn phân tán."[17]
    __________________________________
    [16] Báo France - Observateur, ngày 8 tháng 8 năm 1957.

    [17] Việt Nam Presse (Thông tấn Việt Nam) cơ quan thông tấn chính quyền Nam Việt Nam ngày 23 tháng 3 năm 1955.

  5. #15
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Hàng trăm sĩ quan Nam Việt Nam được gửi sang các căn cứ quân sự của Mỹ ở Philippine, Nhật Bản, Nam Triều Tiên và Hoa Kỳ để được đào tạo và tập luyện. Nhiều trường quân sự được mở hoặc mở rộng thêm ở ngay trên đất Nam Việt Nam, Thủ Đức, Đà Lạt, Nha Trang, ở trung tâm huấn luyện Quang Trung không xa Sài Gòn. Tháng 7 năm 1956, quân đoàn đầu tiên ra đời, cuối năm 1957 đến lượt quân đoàn thứ hai. Đây cũng là thời điểm quân đội chính quy Nam Việt Nam có thể được coi là đã hoàn thành thời kỳ chuẩn bị.

    "Năm 1956, tổng số quân 150000 được gom lại từ những thành phần chiến đấu của trung đoàn bộ binh, lính dù và lính thủy đánh bộ.

    Ngày nay, sự thành lập mới đây của hai quân đoàn đã biến quân đội của Cộng hòa Việt Nam thành một đội quân hiện đại, đủ sức đáp ứng những yêu cầu của chiến tranh hiện đại."[18]

    "Được hỏi về những tiến bộ của quân đội Việt Nam kể từ ngày ông ta có mặt tạu đây với dnah nghĩa là trưởng phái đoàn MAAG, Tướng O'Daniel nói rằng đã thực hiện được những tiến bộ quan trọng, đặc biệt ở trung tâm huấn luyện Quang Trung, được tổ chức một cách tuyệt hảo và hoạt động rất tốt, Tướng O'Daniel nêu bật nhiều mặt của sự tiến bộ này, như là các cuộc hành quân tập trận của các sư đoàn, những thành tích về bắn súng, phương pháp huấn luyện hoàn hảo, chất lượng chỉ huy và tinh thần của các tân binh."[19]

    Không quân, năm 1954 hầu như là con số không, đã phát triển khá mạnh, song song với việc phát triển mạng lưới các căn cứ không quân. Cần phải có những nguồn dự trữ, những lực lượng bổ sung cho các lực lượng chính quy này. Một đội dân quân mang tên Bảo An Đoàn, đã được tổ chức, mỗi tỉnh một tiểu đoàn và một hoặc hai đại đội ở cấp quận, trang bị đúng như của bọ binh, gồm cả pháo binh hạng nhẹ. Trong mỗi làng thành lập một đội phòng vệ dân sự, gọi là Dân vệ, tổ chức thành từng tiểu đội từ 10 đến 15 người được trang bị vũ khí hạng nhẹ, và được huấn luyện đều đặn theo từng thời kỳ. Vào năm 1958, có thể ước lượng số quân như sau:

    Quân chính quy: 150000 người.

    Dân binh (Bảo An Đoàn): 60000 người.

    Cảnh sát: 45000 người.

    Dân vệ: 100000 người.

    Năm 1958 chưa hề có một trường đào tạo sĩ quan nào, những trường quân sự Thủ Đức thì huênh hoang tuyên bố đã đào tạo được, tính cho đến tháng 3 năm đó, tới 3296 sĩ quan. Thậm chí chương trình đào tạo còn nhằm rất xa;

    "Có những giới người Mỹ có thẩm quyền cũng đã tiết lộ rằng, một số sĩ quan Việt Nam có thể được huấn luyện sử dụng những tên lửa kiểu Wake-Corporal, súng đại bác nguyên tử 280 ly, những rốc-két kiểu Honest-John có sẵn trong các kho ở Okinawa, thậm chí cả những tên lửa đất đối không kiểu Nike."[20]
    _________________________________________
    [18] Times of Vietnam (Thời báo VIệt Nam - tuần báo xuất bản ở Sài Gòn, ngày 1 tháng 3 năm 1958).

    [19] Times of Vietnam (Thời báo VIệt Nam ngày 14 tháng 6 năm 1958).

    [20] Times of Vietnam (Thời báo VIệt Nam ngày 19 tháng Giêng năm 1957).

  6. #16
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    4
    Như Nghị sĩ công đảng Warbey đã cho biết, việc di chuyển những lực lượng vũ trang này đòi hỏi phải có một mạng lưới đường chiến lược lớn. Lại cần phải có một mạng lưới căn cứ không quân hiện đại. Tất cả đã được thực hiện, theo kiểu Mỹ, tức là đại quy mô. Hai công ty Hoa Kỳ, hãng Capital Engineering và Johnson Drake Piper được giao thầu các công trình này. Xin chớ có chút ảo tưởng nào về những khoản tín dụng được cấp dưới danh nghĩa viện trợ kinh tế trong ngân sách của Hoa Kỳ, đại đa số những khoản tiền này đều đổ vào những công trình chiến lược. Chẳng bao lâu, trong khi nền kinh tế nói chung lâm vào cảnh hoàn toàn trì trệ, người ta thấy Nam Việt Nam tự trang bị cho mình một loạt những công trình cầu cống có thể chịu đựng những xe hơi vận tải nặng 30 tấn. Điều kỳ lạ hơn nữa, những con đường này chủ yếu đều quy về hướng một vùng thưa dân cư nhất, kinh tế kém phát triển nhất trong nước, tức là vùng Tây Nguyên. Đường số 9 chạy từ Đong hà đến biên giới Lào được gia cos; tất cả các con đường chạy từ bờ biển đến Tây Nguyên đêu được mở rộng, đường 19 và 19 bis từ Quy Nhơn đi Pleiku, được kéo dài thêm đến tận biên giới Lào và Campuchia, đường số 21 từ Nha Trang đi Buôn Ma Thuật và nhất là đường Sài gòn-Biên Hòa đến tận Buôn Ma Thuật, rồi từ Buôn Ma Thuật đến Pleiku, Đà Nẵng, Huế, chạy song song trong nội địa với đường số 1 chạy dọc ven biển. Chỉ nhìn qua trên bản đồ đủ thấy hệ thống đường sá này được gắn với hệ thống đường ở Thái Lan đã được Hoa Kỳ xây dựng. Người Nhật Bản trước đó đã từng ôm ấp dự định sử dụng Tây Nguyên như một trung tâm chiến lược chung cho cả khu vự Nam Đông Dương, nhưng họ đã lực bất tòng tâm.

    Ngày 19 tháng 8 năm 1957, Công báo của chính quyền Nam Việt Nam đăng nghị định ra lệnh truy thu, để xây dựng một xa lộ từ Sài Gòn đi Biên Hòa, dài 32km:

    Một dải đất rộng 100m dành cho xa lộ.

    Hai dải đất rộng 950m dọc theo hai bên lòng đường.

    Chi phí cho xa lộ này ước tính 70 triệu đô la[21]. Chính phủ Diệm khẳng định con đường này có tầm quan tọng sống còn đối với nền kinh tế quốc dân, nhưng không ai không thấy rằng giao thông bằng xe hơi ở Nam Việt Nam chưa phát triển đến mức đòi hỏi phải ưu tiên xây dựng một xa lộ lớn đến như thế. Ngay trước khi nghị định này được công bố, một tờ báo ở Sài Gòn viết:

    "Theo các Hiệp định Genève, Hoa Kỳ không có quyền đặt căn cứ không quân ở Việt Nam. Chính vì vậy mà họ sắp xây dựng xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa để có thể khi cần sử dụng mặt đường ấy làm đường băng, cho máy bay hạ cánh và cất cánh, kể cả máy bay phản lực[22]. Căn cứ không quân kiểu đặc biệt này nhằm hoàn thiện cả một mạng lưới sân bay mà bộ chỉ huy Hoa Kỳ đã có sẵn ở Nam Việt Nam. Những sân bay chính Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Cap Saint-Jacques, Đà Nẵng, Phủ Bài, Nha Trang đều được mở rộng, với những trang thiết bị tối hiện đại (ra đa, thiết bị điện tử, nhà để máy bay) nhằm tiếp nhận hạ cánh và cho cất cánh những phi cơ phản lực thuộc loại lớn nhất. Báo chí Sài Gòn không ngớt lời say sưa ca ngợi những trang thiết bị của Tân Sơn Nhất, sân bay hiện đại nhất ở châu Á, với hai đường băng được đúc bê tông, một đường dài đến 2700m và một đường 1800m. Không kém phần hiện đại là sân bay Ban mê Thuột, ở trung tâm của Tây Nguyên là nơi chẳng tiếp thu bất cứ luồng hành khách hay hàng hóa nào. Hàng chục sân bay khác, với quy mô nhỏ hơn, được xây dựng trên khắp miền Nam.

    Những căn cứ hải quân ở Đà Nẵng, Nhà Bè được mở rộng, trang bị hiện đại. Theo báo Gazette de Saigon số ra ngày 1 tháng 6 năm 1958, các công trình đang được tiến hành sẽ biến Đà Nẵng thành "một trong những căn cứ quân sự hiện đại nhất."
    _______________________________________
    [21] Cách mạng Quốc gia, ngày 4 tháng 5 năm 1958.

    [22] Thời Luận, ngày 4 tháng 8 năm 1957.

  7. #17
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Dư luận nhất trí nêu bật tính chất quân sự của viện trợ Hoa Kỳ cho Nam Việt Nam. Nhận định này càng được khẳng định chính xác bởi tỷ lệ áp đảo của những khoản tín dụng dành cho các quân chủng, mà chúng tôi sẽ cung cấp đầy đủ, chi tiết trong một chương sau. Trên tờ tuần báo Mỹ The Reporter, David Hotham đã miêu tả không khí hoạt động của các phái đoàn Hoa Kỳ tại Sài Gòn như sau:

    "Các thành viên phái đoàn Mỹ USOM làm công việc của họ vừa với tinh thần của một đoàn truyền giáo vừa là của một cơ quan phụ trách hành quân. Trong tổng hành dinh khổng lồ của họ chi chít ngang dọc không biết cơ man nào là bàn giấy, trên đó ngồn ngộn những đóng giấy tờ và bản kế hoạch, hàng mấy trăm người Mỹ, đàn ông có, đàn bà có, làm việc liên miên hết giờ này sang giờ khác trong điều kiện khí hậu hết sức mệt mỏi, để giúp đỡ nhân dân một nước mà có lẽ chỉ cách đây mấy tháng, rất nhiều người Mỹ trong số đang làm việc đó chưa từng nghe nói đến bao giờ.

    Rõ ràng, sự lo toan chiến lược đã cắm rễ rất sâu trong cách nhìn của nhà cầm quyền Hoa Kỳ đối với khu vực Đông Nam Á. Mới đây, tôi đã rất kinh ngạc khi nghe một người đứng đầu cơ quan phụ trách về viện trợ của Hoa Kỳ trong khu vực này nóiL: "Nếu muốn hoàn thành tốt một dự án, thì tôi đặt tên cho nó là "hỗ trợ phòng thủ" chứ không gọi là viện trợ kinh tế, như thế công việc của tôi có nhiều cơ may được Washington chấp nhận hơn." (19 tháng 9 năm 1957)

    Thật sai lầm khi nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ lao vào công cuộc chinh phục miền Nam Việt Nam về phương diện kinh tế ngay từ bây giờ. Người ta đã dùng tiền của dân Hoa Kỳ đóng thuế để mua của công ty Hoa Kỳ một số hàng hóa nào đó nhằm trợ giúp cho ngân sách của Diệm. Tạm thời trước mắt, người Mỹ đủ thỏa mãn với việc hất cảng người Pháp khỏi vị trí đứng đầu trong nền ngoại thương của xứ này, nhưng các khoản đầu tư thì người Mỹ chưa bỏ ra, mặc dù đã có hiệp định giữa chính quyền Diệm và Washington ký ngạy 5 tháng 11 năm 1957 đảm bảo cho đầu tư Hoa Kỳ khỏi bị sung công và khỏi bị đe dọa bởi các nguy cơ chiến tranh. Tháng Chạp năm 1957, Tướng O'Daniel, với danh nghĩa Chủ tịch hội "Những người bạn Mỹ của Việt Nam" ra lời kêu gọi người Mỹ đầu tư nhưng vô hiệu. Thời điểm chưa chín muồi cho các khoản dầu tư, những đồng vốn của tư nhân sẽ chỉ được bỏ ra khi công cuộc "bình định" đã hoàn thành. Cũng nên nhắc lại rằng tư bản tư nhân của Pháp cũng chỉ được đầu tư ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 19, khi đất nước này đã được hoàn toàn bình định.

    Thêm vào các phái đoàn quân sự, hành chính và kinh tế, còn nhung nhúc không biết cơ man nào là tổ chức tư nhân, điệu nhạc đệm không thể thiếu cho sự "có mặt của Hoa Kỳ"; lại còn phải nhắc đến sự tràn ngập trên màn ảnh những bộ phim Mỹ và chiếm đến 85% thị phần điện ảnh. Bầu không khí ở Sài Gòn vào thời điểm Hoa Kỳ ngự trị đã được ngòi bút của Tibor Mende dựng thành một bức tranh khá phong phú màu sắc: "Nằm ở góc các con đường Cộng hòa và Thành Thái ở Sài Gòn, là trụ sở của trường dạy tiếng Anh English Language Laboratory lần đầu tiên được mở ở châu Á. Được phái đoàn Hoa kỳ thành lập mùa xuân vừa qua, trường học này sử dụng một phương pháp hoàn toàn mới để dạy tiếng Anh. Nhiều lớp học được trang bị máy ghi âm đặt trong những cabin cách âm, và người học vừa có thể nghe được tiếng đọc của chính mình vừa đồng thời lặp lại bài học được ghi âm ở đường đọc phía trên. Mục tiêu của trường này là đào tạo những thầy dạy tiếng Anh, chuẩn bị cho những sinh viên có khả năng du học ở Mỹ, hoặc những người làm công cho các cơ quan của Hoa Kỳ ở Việt Nam... Cùng với các trường này, tiếng Anh còn có những nhà truyền giáo tình nguyện ở Việt Nam, rất nhiều bà vợ của những người Mỹ đóng tại Việt Nam tập hợp quanh họ những nhóm nhỏ bạn bè và dạy tiếng Anh cho họ...
    Nhưng ngoài những nhà truyền giáo tiếng Anh, ở Việt Nam còn có rất nhiều nhân viên của hơn 20 cơ quan của Hoa Kỳ (mà một trong số đó bí hiểm đến mức người ta không thể biết thực chất đó là cơ quan gì). Những viên chứac này lại được đi kèm bởi một đám lúc nhúc rất nhiều đại diện của những tổ chức tư nhân bao gồm từ những hệ thống giáo dục và tổ chức từ thiện đến những hệ thống kỹ thuật và tổ chức mang tính thuần túy tôn giáo. Có các bà đầm già quen thuộc chuyên nhân danh các trường đại học tư nhân săn lùng những sinh viên đáng được hưởng học bổng, có những quý ông đi xe cơ giới phân phát tiền của Ủy ban cứu trợ khẩn cấp (International Rescue Committee) hoặc của quỹ cứu trợ khẩn cấp dành cho trẻ em (Emergency Fund for Children), làn sóng những chiếc xe hơi của nhiều tổ chức công giáo đi cứu giúp những người tị nạn hay nhóm của trường Đại học Michigan, đặt dưới quyền điều khiển của giáo sư Fishel, chuyên lo việc đào tạo một đội ngũ công chức người Việt Nam cho các ngành hành chính, tài chính và cảnh sát.

    Phái đoàn quân sự chỉ riêng mình nó đã đông đến hơn 650 người Mỹ lo đào tạo lực lượng vũ trang của Nam Việt Nam. Cơ quan thông tấn Hoa Kỳ USIS (US Information Service) điều khiển các trung tâm thông tấn, các thư viện và các hoạt động tuyên truyền khác. Phái đoàn điều hành Hoa Kỳ USOM (US Operation Mission) gồm khoảng 400 nhân viên. Đây chính là lá phổi nhân tạo của Nam Việt Nam. Nó cung cấp khối dưỡng khí không thể thiếu cho sự sống còn, điều tiết mức hô hấp nhân tạo cần thiết, và đồng thời vừa cầm tù vừa giữ cho con bệnh được sống. Nói một cách ít hình ảnh hơn, phái đoàn USOM cấp cho Nam Việt Nam mỗi năm 320 triệu đô la, tức là hơn ba phần tư khối dưỡng khí mà người bệnh thở."[25]
    __________________________________
    [25] Báo La Gazette de Lausanne, ngày 23 tháng 4 năm 1957.

  8. #18
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Mỹ vốn là đất nước của Thanh giáo rất khắt khe về đạo đức; rèn vũ khí, xây dựng những căn cứ quân sự, nắm lấy quyền điều khiển về chính trị và kinh tế của nước ngoài, một việc làm như thế đòi hỏi phải được biện minh về phương diện ý thức hệ, nhất là sau khi người ta đã, trong bao nhiêu năm trời, lên án chủ nghĩa thực dân Pháp là tham tàn và vô nhân đạo. Bảo vệ châu Á chống lại con quỷ Cộng sản sẽ là chủ đề lớn của các bài diễn văn và các xuất bản phẩm. Sau một chuyến đi dài ngày ở châu Á, Foster Dulles ngày 23 tháng 3 năm 1956, tuyên bố trên vô tuyến truyền hình như sau:

    "Những nhà lãnh đạo các nước châu Á mà tôi đã tiếp chuyện đều bày tỏ mong muốn rằng Hoa Kỳ phải mạnh, và sức mạnh đó, như một chiếc ô được tiếp tục giương lên để che chở các dân tộc khác... Người ta thường hay hỏi tôi, liệu Hoa Kỳ có ý định duy trì sự bảo vệ đó hay không, và câu trả lời của tôi bao giờ cũng là một sự khẳng định mạnh mẽ. Câu trả lời đó đã được đón nhận với một sự toại nguyện sâu sắc."

    Tiếp đó, vị Ngoại trưởng Hoa Kỳ tung ra một lời kêu gọi nhằm vào những người Mỹ có thiện chí:

    "Trong quá khứ, đã có những nhà truyền giáo, những thầy thuốc, những nhà giáo dục đông đảo ra đi để mang đến cho các dân tộc khác niềm tin của chúng ta, khoa học của chúng ta, họ đã ra đi trong những điều kiện đòi hỏi một cuộc sống gian khổ và những hy sinh. Ước muốn cháy bỏng của tôi là ngày nay sẽ có nhiều hơn nữa những thanh niên nam nữ của chúng ta dấn thân vào cuộc phiêu lưu vĩ đại."[26]

    Trong một cuốn sách rất nổi tiếng có nhan đề Le Vilain Américain[27], mà nhà xuất bản khẳng định đã được Tổng thống Kennedy coi là sách đầu giường của mình và được gần 5 triệu người Mỹ mua đọc, các tác giả Lederer và Burdick đã chỉ ra cho một số người Mỹ phải biết cách cư xử như thế nào ở Nam Việt Nam mà các tác giả, do tình thế, tạm thời gọi là nước Sarkhan để chiến thắng bọn m quỷ Cộng sản. Cũng như Chính phủ thực dân cũ trước đây đã có những nhà truyền giáo, nhà thám hiểm, nhà khoa học tận tụy vì các dân tộc da màu, Hoa Kỳ ngày nay cũng có những anh hùng của mình ở đất nước Sarkhan.

    "Trước hết có John Colvin, trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã từng được thả dù xuống đất Sarkhan, nay trở về Mỹ, điều hành một xí nghiệp thu mua sữa bò. Nhưng ngay khi được tin nội tình nước Sarkhan đang gặp khó khăn với chủ nghĩa Cộng sản, ông ta đã yêu cầu được quay trở lại đất nước này. Ý định lớn của ông ta là dạy cho người Sarkhan biết cách nuôi bò lấy sữa, như thể sẽ làm cho họ tách khỏi chủ nghĩa Cộng sản và khuyến khích họ bảo vệ thế giới tự do. Còn cha Finian thì là một tu sĩ dồng Tên - chuyên gia về khoa đấu tranh chống Cộng sản. Ông ta sẽ sang đây để cùng sẻ chia cuộc sống với những người cùng khổ của đất nước này, sẽ thành lập những nhóm tín đồ công giáo người bản xứ quyết liệt chống Cộng sản. Để thực hiện sứ mệnh này, ông ta sẽ dấn thân với lòng kiên nhẫn vô cùng tận và sự am hiểu tâm lý sâu sắc mà chỉ các tu sĩ dòng Tên mới có.
    ______________________________________
    [26] Diễn văn trên vô tuyến truyền hình của Foster Dulles được đăng lại trên báo New York Times (Thời báo New York).

    [27] Nguyên văn tiếng Pháp, tạm dịch là Người Mỹ bình dân (ND).

  9. #19
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    168
    Đại tá Ragtime lại có cách độc đáo riêng của mình để chinh phục cảm tình của người dân Sarkhan. Ông ta thổi kèn ác-mô-ni-ca trên đường phố, để tranh thủ cảm tình của nhân dân. Ông ta giành được lòng tin của các ông hoàng và các sứ thần của đất nước này bằng thuật xem tướng tay. Trung ta Wolchek thì có kinh nghiệm về chiếng tranh cách mạng ở triều Tiên, đã đọc kỹ các tác phẩm của Mao Trạch Đông; viên quan tư người Pháp Monet chính là nhờ ông ta mách nước cho mà đã đánh thắng được trận thắng duy nhất của người Pháp trong suốt cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tom Knox, người bang Iowa, có tính mê nuôi gà con. Tham vọng to lớn của cuộc đời ông ta là gây được giống gà mái đẻ quanh năm suốt 365 ngày. Sau một năm sống ở Campuchia, ông ta đã dạy cho người bản xứ biiets chăm sóc gà con bằng cách cho chúng ăn thức ăn có chất canxi và biết làm đồ hộp trái cây. Tom đã trở thành thần tượng của người Campuchia.Nhà hoạt động công đoàn Asch lại có tài ngoại giao hơn nhiều so với tất cả các nhân viên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ; đơn thương độc mã trong một hội nghị về châu Á, thế mà ông ta đã biết cách vớt vát được thể diện cho các đại biểu của châu Á. Homer Atkinh và vợ là Emma đến ở trong một ngôi làng của người Sarkhan, cùng với một người thợ máy bản xứ, họ đã lắp ráp được một cái máy bơm đơn sơ nhưng thích hợp với trình độ sử dụng của người bản xứ, giúp cho việc đưa nước vào ruộng được dễ dàng hơn. Emma đã nảy ra ý tưởng tuyệt vời là bày cho các bà già người Sarkhan biết nối thêm một cái cán vào chiếc chổi cổ truyền của họ, giúp cho họ có thể đứng thẳng lưng mà quét, còn Emma được từ toàn thể phụ nữ nước này lòng biết ơn vĩnh cửu. Cầm đầu những người Mỹ tốt bụng này là ông đại sứ kiểu mới Gilbert Mac White chuyên cần, kiên nhẫn, thực tế.

    Tất cả các nhân vật của cuốn Người Mỹ bình dân đều đã trải qua tập sự trong đại chiến thứ hai hoặc cuộc chiến tranh triều Tiên. Là những anh chàng to con "thân thể rắn chắc và cuồn cuộn bắp thịt", họ đã từng thực hiện những chiến công và đã trở về nhà lo công việc của riêng mình. Đương nhiên, những công việc kinh doanh phát đạt, vì họ biết cách làm ăn. Và họ cho rằng nếu công việc kinh doanh của Hoa Kỳ ở Việt Nam không suôn sẻ thì chính là do các viên đại sứ và những cố vấn của họ không biết cách làm ăn, để cho bọn Cộng sản đánh lừa như lừa những doanh nhân không có kinh nghiệm.

    Tất cả mọi hành vi của họ, kể cả của ông cố đạo dòng Tên, đều mang dấu ấn của chủ nghĩa thực dụng rất đặc thù của người Mỹ. Chính với cung cách thực dụng đó mà cha Finian đã học tiếng Miến một cách đơn giản nhất trần đời: "... Ông ta hỏi tên của mỗi một đồ vật mà ông ta trông thấy, bằng cách dùng ngón tay để chỉ. Lá, cây, nước, lớn, nhỏ, đi, nhảy, mây, bàn chân, mũi, miệng... Và ông ta đã kinh ngạc khi nhận ra rằng số từ thiết yêu của một ngôn ngữ không nhiều cho lắm. Ngữ pháp tiếng Miến nhập vào ông ta lúc nào ông ta cũng không biết, và chỉ sau bốn tuần, ông đã nói được những câu đơn giản. Ông ta muốn rằng những câu phức tạp được nói ra bằng những câu đơn giản và ông tin chắc rằng việc đó là có thể làm được. Ông cha dòng Tên chưa bao giờ nghĩ đến chuyện sắm một cuốn từ điển song ngữ Miến-Anh mặc dù người Anh trước đó đã kịp phát hành, và ông ta cũng chưa hề nghĩ rằng một ngôn ngữ biểu đạt những nhu cầu của một nền văn minh già cỗi lại nhất thiết phải phức tạp. Đại sứ Mac White chẳng hề quan tâm đến người đồng sự của mình là đại tá Ragtime chinh phục được lòng tin của các nhà ngoại giao châu Á bằng thuật xem bói tay, điều thiết yếu là đạt cho được kết quả, bởi vì ai cũng biết rằng tất cả mọi người châu Á đều mê tín. Tất cả mọi người châu Á đều không kiếm tìm điều gì khác hơn là việc giữ thể diện cho mình. Giá như người đại diện của Hoa Kỳ trước đây đã biết cách để không làm mất lòng người đại diện của Ấn Độ, thì hẳn từ lâu rồi nước Ấn Độ đã chấp nhận các căn cứ nguyên tử trên lãnh thổ của mình. Đương đầu với Hoa Kỳ là bọn Cộng sản, xảo quyệt và độc ác. Chúng kích động dân chúng chống lại người da trắng, cài người của chúng vào trong đám đông nông dân, dùng súng lục và súng tiều liên để bắt mọi người theo chúng. Bọn Việt Minh móc mắt những binh lính người Phi bị chúng bắt làm tù binh, cắt đứt thanh quản cua những người lính Bảo Đại mà chúng tóm được. Làm sao có thể bỏ mặc các đám đông dân chúng tay không trước sự đe dọa của Cộng sản ? Người Pháp đến trước người Mỹ, đã làm hỏng tất cả."

    Giáo hội Thiên chúa giáo đương nhiên sẽ giúp một tay vào công cuộc vĩ đại này. Ngày 16 tháng 1 năm 1955, một buổi lễ trọng thể đã được cử hành tại nhà thờ lớn Saint Patrick ở New York, để đón chào Hồng y giáo chủ Spellman vừa trở về từ châu Á sau một chuyến đi kéo dàu 36 ngày; bài rao giảng trong buổi lễ nói:

    "Chúng ta hãy cầu xin Đức Chúa Trời hãy cho tất cả các dân tộc thấy rằng con đường duy nhất để đảm bảo một nền hòa bình lâu dài, giữa họ với nhau và giữa các quốc gia là sự liên hiệp với Bà Mẹ của tất cả các Giáo hội dưới quyền của vị giáo chủ duy nhất là Đức Giáo hoàng. Người kế vị của thánh tông đồ Phao-lồ, đại diện của Đấng Kito trên trái đất này."

    Hồng y giáo chủ Spellman đã đặt Nam Việt Nam và Ngô Đình Diệm dưới đôi cánh che chở của mình, và nhân vật sáng giá nhất trong cuốn Người Mỹ bình dân là ông cố đạo dòng Tên Finian, mà những người noi gương và thi đua với ông ta đã tản đi khắp hang cùng ngõ hẻm xứ Tây Nguyên của Nam Việt Nam, tìm cách dụ dỗ các bộ lạc ở những vùng này theo về với Diệm. Cũng như chủ nghĩa thực dân cũ, chủ nghĩa thực dân mới cũng tìm cách tự tạo cho mình một hệ tư tưởng. Chắc chắn rằng có một số người Mỹ ít nhiều ngây thơ tin theo cho rằng mình đến Việt Nam là để phân phát cái nền văn minh hay ho tốt đẹp của đạo Cơ đốc và phương Tây.

    Thế là chưa đầy hai năm sau ngày đình chiến, Hoa Kỳ đã hất cẳng cường quốc thực dân cũ; quả là chính sách của Pháp trong những năm 1954-1956 đã tạo cho người Mỹ rất nhiều thuận lợi.

  10. #20
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    NƯỚC PHÁP BỎ CUỘC


    Ngay từ trước đình chiến, ngày 28 tháng 5 năm 1954, tuần báo Pháp Tribune des Nations đã đặt vấn đề về chính sách của nước Pháp ở thời hậu chiến như sau:

    "Cho dù một cuộc ngừng bắn cuối cùng được ghi vào các hiệp định ký kết ở Genève, mối nguy cơ thật sự sẽ không vì thế mà tránh được. Nước Pháp vẫn sẽ phải đương đầu với vấn đề về sự độc lập chính trị của mình cũng tức là vấn đề vai trò của nước Pháp trong công cuộc thiết lập hòa bình. Đó là vinh dự duy nhất sẽ còn được nói tới trong vòng vài ba năm tới giữa các quốc gia với nhau."

    Các cuộc hành quân tập kết sau đình chiến đã được hoàn thành mà không gặp sự cố nào đáng kể. Thật tồi tệ cho một sĩ quan Pháp chuyên nghiệp khi phải rút khỏi những lãnh thổ mà trước đó y vẫn luôn luôn coi là "lãnh thổ Pháp". nhưng chỉ cần nhớ lại những gì đã xảy ra ở Điện Biên Phủ đủ để nản lòng những ai muốn giở trò khiêu khích. Còn đối với các chiến sĩ của quân đội nhân dân Việt Nam, trao lại vào tay quân đội Pháp những dải đất mà cho đến tận lúc bấy giờ họ đã bảo vệ bằng xương máu của mình, thì quả là một hy sinh đau đớn đến xé lòng, nhưng tinh thần kỷ luật gương mẫu và sự am hiểu ý nghĩa chính trị của các sự kiện vốn luôn luôn là đặc điểm của các chiến sĩ Việt Nam.

    Như vậy, sua đình chiến, ở miền Nam Việt Nam, cả sức mạnh và luật pháp đều nằm trong tay nước Pháp. Quân chiếm đóng của họ không phải đối mặt với một đội quân nào khác, và các Hiệp định Genève trao cho họ trách nhiệm phải thi hành những điều đã ký trên phạm vi lãnh thổ miền Nam. Vấn đề là nước Pháp phải lựa chọn cho mình một chính sách. Liệu nước Pháp sẽ làm cho những hiệp định đã ký kết được tôn trọng, đề cao danh dự chữ ký của mình, tạo thuận lợi cho việc thiết lập một nền hòa bình lâu dài và sự tái thống nhất của nước Việt Nam ? Làm như vậy, nước Pháp sẽ gắn bó với một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, một Chính phủ nhất định sẽ duy trì những mối quan hệ kinh tế, văn hóa bền vững lâu dài với nước Pháp. Nhưng một chính phủ Việt Nam như thế nhất thiết phải do Hồ Chí Minh đứng đầu, và như vậy Pháp sẽ có nguy cơ phải cắt đứt với Hoa Kỳ, chí ít là trong lĩnh vực châu Á.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •