Trang 9 của 9 Đầu tiênĐầu tiên ... 789
Kết quả 81 đến 89 của 89
  1. #81
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    Những ruộng đất tước đoạt từ tay những đại điền chủ thuộc loại cực lớn thân Pháp như vậy sẽ được dành cho những kẻ trung thành với chế độ: những phần tử tị nạn, quân đội, cảnh sát. Ngay cả đối với những thành phần này, sự tin cậy của chế độ cũng không phải hoàn toàn. Điều 14 của sắc kệnh quy định rõ: "Trong khi chờ đợi quyền sở hữu vĩnh viễn được ghi nhận, tạm thời sẽ ghi tên của người điền chủ mới, người này phải đóng những niên khoản để trả tiền cho số đất đã được cấp, trong một thời hạn tối đa là 6 năm. Trong thời gian 6 năm đó, quyền sở hữu vẫn thuộc về chính phủ."

    Điều 15 đòi hỏi các điền chủ mới phải có lòng trung thành và sự trung thực:

    "Họ phải tham gia chương tình phát triển nông nghiệp, hợp tác hóa và tất cả các công tình công ích."

    Nếu không "họ có thể bị tước quyền sở hữu và chính bản thân họ có thể phải chịu những biện pháp trừng phạt như đã quy định ở điều 4 của sắc lệnh" (tức là từ 5 tháng đến 2 năm tù, hoặc từ 15000 đến 120000 đồng tiền phạt).

    Một hec-ta ruộng được bán với giá từ 12000 đến 50000 đồng bạc tùy theo mức ruộng tốt hay xấu, và các khoản niên liễm phải đóng cho chính phủ. Như vậy, với một hec-ta ruộng tốt, trong thời hạn 6 năm, một người nông dân mỗi năm phải đóng 2000 đồng bạc, tức là 1000 kilo thóc theo giá chính thức (40 đồng một giạ, tức là 21500 kg). Không một người tá điền nào có đủ sức nộp 1000 kilo thóc mỗi năm.

    Trên nguyên tắc, 431687 hec-ta phải được bán cho nông dân theo quy định của sắc lệnh này. Nước Pháp, về phía mình, sẽ rót một khoản trợ cấp là 1495 triệu đồng frances (cũ) để bồi thường thiệt hại cho những thực dân Pháp bị tước đoạt tài sản. Tháng 7 năm 1960, các cơ quan của chính phủ công bố rằng, để thi hành sắc lệnh này, đã cấp 41547 giấy chứng chỉ quyền sở hữu 90546 hec-ta đất cho 18 đại điền chủ đã mua cổ phần công nghiệp với tổng giá tị là 7 triệu đồng bạc[79]. Ngay từ năm 1953, một tờ báo lớn của Mỹ đã viết:

    "Các chuyên gia Hoa Kỳ về vấn đề ruộng đất đã phát hiện được ở Việt Nam một điều thật kỳ lạ. Thông thường những nông dân nghèo là những người mong muốn nhất một cuộc cải cách ruộng đất, thế mà ở Việt Nam, chính là những người điền chủ, còn hơn cả nông dân, mong muốn một cuộc cách mạng nhanh chóng[80]."
    ________________________________________
    [79] Thành tích, sách đã dẫn, trang 822.

    [80] New York Times, ngày 4 tháng 4 năm 1955.

  2. #82
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Một sự đánh giá đã được hưởng ứng bằng lời bình luận sau đây của một tờ báo Anh: "Tuy nhiên, cần phải nhắc lại rằng ông Diệm đã rất bị cuốn hút bởi các vấn đề chính trị và dù sao chăng nữa, thật không phải là chuyện dễ dàng cho một chính phủ thuộc cánh hữu mà lại đề xướng một cuộc cải cách ruộng đất triệt để, đặc biệt là khi ông bộ trưởng Bộ Cải cách và nhiều bộ trưởng khác đều là những đại điền chủ[81]." Sau một cuộc điều tra được tiến hành ở cả hai miền của Việt Nam, Tibor Mende đã xác định rằng ở miền Nam, trong tất cả các cuộc tranh chấp giữa nông dân và điền chủ, các nhà chức trách và cảnh sát bao giờ cũng đứng về phe điền chủ. Những cuộc hành quân mà chúng tôi đã nói đến ở những trang trước đây đều nhằm mục đích tái lập một chế độ phong kiến đã lỗi thời, đương đầu với một khối nông dân cách mạng.

    "Diệm đã tăng cường vị trí của mình ở phía nam đường giới tuyến bằng những phương tiện quân sự. Từ khi các giáo phái bị tiêu diệt, hai chiến dịch quân sự kỳ lạ, một ở phái tây và một ở phía đông Sài Gòn đã được tiến hành. Mỗi chiến dịch do một viên tướng chỉ huy và được tung ra với một chương trình đồ sộ. Mục tiêu được nêu ra một cách chính thức và đáng hoan nghênh là bình định và xây dựng. Nhưng thực tế đó là những chiến dịch nhằm mục đích thủ tiêu tất cả mọi đối thủ chính trị của chế độ và làm cho dân chúng cảm thấy rằng, trên thực tế đây chính là quyền lực quân sự."[82]

    Đi đôi với trận chiến vì ruộng đất diễn ra ác liệt, còn có những cuộc báo thù cá nhân của những quan lại và hương lý đã từng phải chịu nhục với phong trào cách mạng trong những năm kháng chiến cũ, những đe dọa và tống tiền nhằm cả vào những đièn chủ mà một số đông có con cái đã tham gia kháng chiến và tập kết ra miền Bắc. Chống lại sự tàn bạo dã man của những phần tử phong kiến có vũ khí trong tay và được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, là tinh thần chiến đấu của một giai cấp nông dân đã được tôi luyện qua nhiều năm chiến đấu. Chẳng bao lâu, chỉ một mình quân đội tỏ ra không đủ cho công cuộc đàn áp, theo lời khuyên của những chuyên gia Hoa Kỳ, Diệm thành lập tổ chức dân vệ ở các làng xã, với số quân lên tới 100000 người. Thế nhưng, trong suốt thời gian trị vì của mình, chưa có lúc nào Diệm kiểm soát được hoàn toàn các vùng nông thôn. Trên báo France - Dimanche số ra ngày 16 tháng 5 năm 1956, Merry Bromberger cho rằng:

    "Ông ta (Diệm) chẳng nắm được xứ này hơn gì chúng ta đã nắm xứ Nam Kỳ trong thời kỳ chiến tranh du kích"; "So với những quan chức nhà nước cao cấp hống hách đến bằng xe hơi Mỹ và thường về với sự che chở của chiếc xe nhà binh mang súng liên thanh, người nông dân vẫn mến chuộng những con người mình trần lấm đầy bùn đất thỉnh thoảng vẫn lẻn vào dưới mái nhà tranh của họ với những tờ truyền đơn hơn."[83]
    _____________________________________
    [81] Báo The Economist ngày 8 tháng 9 năm 1956.

    [82] Tạp chí Esprit, tháng 6 năm 1957.

    [83] Báo Le Progrès de Lyon, ngày 14 đến ngày 16 tháng 6 năm 1956.

  3. #83
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Còn phải thêm vào con số trên 55800 công nhân của các loại đồn điền, đa số tập trung ở các đồn điền trồng cao su. Giai cấp công nhân này không ổn định như ở châu Âu; phần lớn trong số họ là những người phụ việc, công ăn việc làm ít ổn định. Một người công nhân được nhận vào một xí nghiệp thường không có một chứng chỉ nào về trình độ chuyên môn, bị đuổi việc cũng vô cớ, chịu thất nghiệp trong vài ba tháng, rồi lại tìm được một chỗ làm mới. Đến nỗi người ta tính cứ mỗi công nhân được đăng ký, thì lại có nhiều người không có việc làm; thường bị thất nghiệp, hàng trăm nghìn người làm những công việc lặt vặt trong các gia đình khá giả, lang thang trên các hè phố với nghề buôn thúng bán bưng, hoặc đi ăn xin. Phụ nữ, khốn khổ thay, nhiều khi chỉ còn mỗi con đường là bán mình. Làn sóng những người tị nạn ồ ạt tràn vào từ các vùng nông thôn, nơi mà các cuộc hành quân, từ năm 1945, đã hủy diệt rất nhiều xóm làng, và những người di cư từ miền Bắc, tất cả tràn ngập các đường phố của Sài Gòn, họp thành một đám đông rất lớn, bị chính quyền bỏ rơi. Bộ Lao động của Diệm năm 1956 đưa ra con số 413000 người thất nghiệp trên một tổng số cư dân đô thị là khoảng 2 triệu người.

    Ngay cả khi công nhân có thể làm việc đều đặn như ở các đồn điền cao su, điều kiện sống của họ cũng được miêu tả như sau:

    "Nơi ở của chúng tôi chật hẹp, không vệ sinh, trời mưa thì bị dột, không bao giờ được tu sửa. Những căn phòng rộng 3 mét 50, dài 5 mét đôi khi chứa từ 15 đến 25 người... Nhiều gia đình công nhân không có chỗ ở. Họ ở trong những "buồng ngủ công cộng" bốn bề trống hoác, không có giường, ban ngày thì nắng không sao chịu nổi, ban đêm thì lại rất lạnh, không có đèn, nước thì ít, cơm thì bằng gạo xấu trộn lẫn với những hạt sượng và trấu."[84]
    ___________________________________
    [84] Báo Công nhân, Sài Gòn ngày 3 tháng 9 năm 1957.

  4. #84
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Vậy là cùng với những yêu sách của công nhân trong các xí nghiệp, có hoặc không có bãi công tiếp theo, đã kèm theo như một tiếng vang của những tiểu thương và sô số những người nghèo, thất nghiệp, tị nạn. Ngay từ năm 1955 đã nổ ra những cuộc biểu tình của những người di cư đòi hồi hương. hành động lớn đầu tiên của công nhân đã được tiến hành ngay từ ngày 3 tháng 8 năm 1954 bởi 5000 công nhân của đồn điền cao su An Lộc bãi công đòi tăng lương 20%, đòi xóa bỏ chế độ phụ phí để đóng góp vào quỹ chiến tranh, và để chào mừng hòa bình được lập lại. Giai cấp công nhân Việt Nam, đã từ nhiều năm tôi luyện trong cuộc đấu tranh chống chế độ thuộc địa, vốn sẵn có một ý thức chính tị rất sáng suốt. Từ năm 1954 đến 1956, công nhân đường sắt, công nhân các nhà máy điện, công nhân các xe buýt chở khách, công nhân các công xưởng, các đồn điền cao su, các công ty xăng dầu Shell và Caltex, các hãng bia và nước đá... sẽ bãi công. Để chống lại công nhân, Diệm huy động cảnh sát đàn áp, nhưng đồng thời theo lời cố vấn của những cán bộ công đoàn công giáo người Pháp, ông ta cũng biết cả thủ đoạn gây chia rẽ trong hàng ngũ công đoàn. Ba công đoàn đã được phép hoạt động nhằm tìm cách làm chệch hướng sự công phẫn của công nhân, đặc biệt nhằm chĩa vào những chủ doanh nghiệp người Pháp hoặc những thương nhân Hoa kiều. Nhưng các cuộc bãi công đã không vì thế mà chấm dứt: đặc biệt phải kể đến cuộc bãi công tháng 10 năm 1955 của 3000 công nhân xưởng đóng tàu Bason, cuộc bãi công tháng 11 năm 1955 của 40000 công nhân các đồn điền, các cuộc bãi công tháng 2 năm 1956 lan ra rất nhiều xí nghiệp, cuộc bãi công tháng 3 năm 1956 kéo dài gần một tháng của công nhân ngành điện đã được tờ báo Dân chủ bình luận như sau:

    "Cuộc bãi công này đồng thời chứng tỏ sự kiên quyết và tinh thần kỷ luật của giai cấp công nhân Việt Nam đã đến độ trưởng thành."

    Tháng 4, 6000 công nhân đồn điền Lộc Vinh bãi công để phản đối đàn áp, tháng 5, 4000 công nhân đồn điền Dầu Tiếng lãn công để phản đối việc bị phân phối gạo xấu, 5000 công nhân bốc vác và thợ thuyền, người phụ việc ở các bến tàu Sài Gòn nghỉ việc trong hai ngày đòi cải thiện các điều kiện sinh hoạt, tiếp đó ngày 15 tháng 5, đến lượt 15000 công nhân đồn điền cao su Quảng Lợi. Ngày 1 tháng 7, 300 đại biểu công đoàn họp đại hội, đòi quyền tự do nghiệp đoàn, đòi phải có những biện pháp để chống nạn thất nghiệp, đòi thống nhất đất nước.

  5. #85
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Cần phải nhắc lại rằng chúng ta phải hình dung những cuộc bãi công và biểu tình này diễn ra trong một thành phố đang bị bao vây xiết chặt và bị khoanh vùng bởi một lực lượng cảnh sát đàn áp thẳng tay, khiến cho mỗi người công nhân bãi công không những có nguy cơ vị mất việc làm, mà mất cả mạng sống của mình. Trong những năm 1954-1956, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn, còn hơn cả mục đích đòi tăng lương, đã phối hợp chặt chẽ với các tầng lớp xã hội khác, tiến hành một cuộc đấu tranh quyết liệt để đòi hòa bình và sự tôn trọng các Hiệp định Genève. Khó có thể tách rời hành động của công nhân với hành động của các phong trào đòi hòa bình, thống nhất đất nước, bảo vệ các quyền tự do dân chủ. Tuy nhiên, phải kể ra đây những cuộc bãi công thuần túy mang tính chất chính trị: cuộc bãi công lớn ở đại đa số các xí nghiệp tại Sài Gòn ngày 10 tháng 7 năm 1955 đòi họp hội nghị hiệp thương giữa các chính phủ hai miền Bắc và Nam nhằm chuẩn bị tổng tuyển cử. Cuộc bãi công ở các đồn điền cao su ngày 20 tháng 7 cũng cùng với những khẩu hiệu như trên, cuộc bãi công ngày 2 tháng 8 năm 1955 của công nhân thành phố Tourane (tức Đà Nẵng), nhiều xí nghiệp ở Sài Gòn cũng đã lãn công hồi tháng 3 năm 1956 để phản đôi các cuộc bầu cử riêng lẻ ở miền Nam nhằm mục đích thông qua sự chia cắt đất nước. Nhiều phong trào cũng đã đánh dấu thời gian cận kề, ngày 20 tháng 7 năm 1956 là thời điểm được quy định cho cuộc tổng tuyển cử.

    Ngày 1 tháng 5 năm 1955, định chơi trò mị dân đối với giai cấp công nhân, chính quyền Diệm đã kêu gọi dân chúng biểu tình; nhưng dân chúng đã tẩy chay cuộc biểu tình chính thức do chính quyền bày trò. Ngược lại, ngày 1 tháng 5 năm 1956, 150000 người đã diễu hành trong thành phố Sài Gòn, long trọng cử hành Ngày lễ Lao động. Tất cả các cuộc biểu tình chính trị của giai cấp công nhân đều được tiến hành phối hợp nhịp nhàng với phong trào rộng lớn đòi giữ vững hòa bình và thống nhất đất nước, dưới khẩu hiệu thi hành nghiêm chỉnh các Hiệp định Genève.

    Ngày 1 tháng 8 năm 1954, nhiều nhà trí thức có tiếng ở Sài Gòn, trong số đó có luật sư Nguyễn Hữu Thọ và Trình Đình Thảo, kỹ sư Lưu Văn Lang, những giáo sư, những nhà tư sản, phát động Phong trào vì hòa bình của Sài Gòn - Chợ Lớn. Ngày đó, 50000 người đã diễu hành ở Sài Gòn, 25000 người ở Tourane (Đà Nẵng), 15000 người ở Huế để hoan nghênh các hiệp định này. Trước đó, dư luận đã rất bất bình trước cử chỉ của chính phủ Ngô Đình Diệm, trong ngày đình chiến, đã cho treo cờ rủ tại các công sở trong khi cả nước đang chào mừng hòa bình được lập lại. Chúng ta đã được thấy chính phủ này đáp trả như thế nào những cuộc biểu tình này, bằng những loạt súng và sự đàn áp cực kỳ man rợ. Những người đứng đầu Phong trào vì Hòa bình ở Sài Gòn đã bị bắt, sau đó bị phát vãng. Một số người trong đó, như Giáo sư Nguyễn Văn Dương ở trường Đại học Luật chết vì bị hành hạ. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ sẽ được phong trào nhân dân giải thoát năm 1961, để được bầu làm Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

  6. #86
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Các tuyên bố của chính phủ miền Bắc đề nghị tái lập những sự trao đổi bình thường giữa hai miền, đã được sự hưởng ứng sâu sắc của dân chúng miền Nam. Tất cả các tầng lớp xã hội, kể cả trong số những phần tử được ưu đãi, đều đáp trả một cách thuận lợi, bởi vì trong tất cả những biện pháp do chính quyền Diệm đưa ra, cái làm mất lòng dân nhất là việc cấm giao lưu bằng thư tín, cấm buôn bán, cấm duy trì những trao đổi về tri thức, nghệ thuật, thể thao với miền Bắc. Ngay từ tháng 2 năm 1955, hưởng ứng lời kêu gọi của chính phủ miền Bắc, chính quyền Diệm đã đáp trả bằng cách tăng cường đàn áp và cũng bằng một cách lập luận hết sức lúng túng trên đài, trên báo chí nhằm biện hộ cho việc đóng chặt tuyệt đối đường giới tuyến. Có những công chức, những sĩ quan, nhiều giáo sĩ, nhà sư đã tham gia phong trào; nhiều nghi lễ đã được cử hành trong các đền, chùa, nhà thờ để cầu nguyện cho sự duy trì hòa bình và sự tái thống nhất.

    Trong các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị đang thiếu gạo. năm 1955, song song với phong trào đòi hòa bình, đã hình thành một phong trào đấu tranh chống nạn đói. Tại Sài Gòn, sau nhữg trận đánh tháng 3 năm 1955, một Ủy ban rất rộng, tập hợp nhiều người trong các giới thương nghiệp, công nghiệp, trí thức, sinh viên đã được thành lập để cứu trợ người bị nạn. Diệm cho bắt những người cầm đầu ủy ban này, trong số đó có dược sĩ Nguyễn Chí Nhiêu và giáo sư Lê văn tha. ngay từ năm 1955, Sài Gòn cũng đã trải qua một phong trào đấu tranh chống "kế hoạch giải tỏa"thành phố nhằm mục đích xóa sổ những khu phố nghèo; những cư dân ở các khu phố này tự tổ chức nhau lại để can thiệp với các nhà chức trách, và để tự vệ chống lại bọn tay chân của Diệm được phái đến đốt nhà cửa của họ. Các báo, vào thời kỳ đó, còn có được ít nhiều quyền tự chủ, chế độ vừa mới được dựng lên chưa có đủ thời gian để kiểm soát được tất cả. Những tờ báo như Tiếng Chuông, Dân Chủ, Trời Nam, Sài Gòn mới, Buổi sáng đã hưởng ứng những yêu sách của giới tiểu thương chống lại mức thuế đánh quá cao.

  7. #87
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Chiến dịch "Tố cộng" đã vấp phải sự chống đối rất mạnh. Tại các cuộc họp, tay chân của chính phủ bị chất vấn tơi bời và khi cảnh sát đàn áp quá tay thì những hình thức đấu tranh mới lại xuất hiện: các cụ già bỗng nhiên cất tiếng ho không ngớt, các bà mẹ làm cho con mình khóc ré lên, giữa buổi họp trong khi các nhà chức trách đang diến thuyết. Ngay cả rong giới côgn chức, sự chống trả cũng không vừa vào các buổi họp tố cộng, xuất hiện những ngày nghỉ việc. Tình trạng này làm cho bọn tay chân của Diệm nói rằng giới công chức "ăn cơm quốc gia, nhưng thờ ma Cộng sản". Tờ Cách mạng Quốc gia chỉ trích kịch liệt giới trí thức:

    "Không thể tha thứ cho bọn nằm mơ thiên đường Côgnj sản... những phần tử dở trí thức này, dù sao cũng được trang bị một chút vốn học thuyết và tin tưởng ở chủ nghĩa Cộng sản, coi những đảng viên Cộng sản như những vị thần, kính trọng họ hơn cả kính trọng ông nội của mình."

    Ngày 6 tháng 6 năm 1956
    "Chủ nghĩa nhân vị" của Diệm chẳng ăn nhằm gì. Tuy nhiên, vẫn phải lưu ý rằng một bộ phận trí thức, gắn bó với giai cấp tư sản thương nghiệp và công nghiệp, trong những năm 1954-1956, đã giữ một thái độ có phần mang tính chất chờ thời, họ chờ đợi để xem chế độ hoạt động như thế nào, vẫn còn nuôi dưỡng ít nhiều hy vọng nó sẽ khá lên. Những hy vọng này sẽ nhanh chóng bị tiêu tan và Diệm sẽ không bao giờ có được giới trí thức đứng về phe mình. Đó là lý do giải thích vì sao chế độ Diệm là một chế độ hoàn toàn cằn cỗi trên bình diện văn hóa. Ngược lại, những phần tử "tiểu trí thức", những con người, chủ yếu vì lý do không có đủ tiền ăn học, đã không sao kiếm được một mảnh bằng đại học, khi rời khỏi trường trở thành những viên chức bàn giấy, những giáo viên dạy trường tư, trường làng, những con người đó, nagy từ đầu, đã đứng về phe chống đối. Chính tầng lớp người này ở Việt Nam vân luôn luôn là nguồn cung cấp cán bộ ưu tú nhất cho phong trào cách mạng.

  8. #88
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Có những phạm trù xã hội khác cũng chống lại Diệm. Thiểu số giới công giáo nắm quyền đã nhân cuộc nội chiến chống các giáo phái để đàn áp các nhóm Cao Đài và Hòa Hảo. Chính phủ của Diệm đã không sao dập tắt được hoàn toàn sự chống đối của các giáo phái này.

    Măck dù "giáo hoàng" Cao Đài là Phạm Công Tắc đã chạy trốn sang Campuchia và sẽ chết tại đấy, mặc dù những chức sắc của giáo phái này như Lê Thiên Phước, Trịnh Phung Cương đã bị bắt, các nhóm vũ trang của Cao Đài và Hòa Hảo bị giải tán, các tín đồ của những giáo phái này vẫn là một lực lượng quan trọng ở miền Nam. Từ năm 1956 đến 1958, 3400 chức sắc của phái Tây Ninh, trung tâm quan trọng nhất của giáo phái Cao Đài, đã bị bắt, phái Minhchon ở Cà Mau, các phái ở Bến Tre, Rạch Giá, Bạc Liêu đã chống lại và giành thắng lợi. Ngày 8 tháng giêng năm 1956, ngày Tây Ninh đang bị quân của Diệm chiếm đóng, một đại lễ tôn giáo đã biến thành một cuộc biểu tình khổng lồ phản đối phái đoàn của chính phủ và đội quay phim Hoa Kỳ. Đầu năm 1957, Diệm phái một đại diện sang Pnôm Pênh để thương lượn việc đầu hàng của Phạm Công Tắc, nhân vật này đòi hỏi phải thả hết những tín đồ Cao Đài bị bắt, chấm dứt chiến dịch "Tố cộng" những cũng đã không tha những tín đồ của các tôn giáo, đòi ban bố các quyền tự do báo chí, ngôn luận, chấm dứt đàn áp các giáo phái, thành lập một chính phủ đoàn kết dân tộc. Việc Diệm từ chối chỉ càng đẩy mạnh thêm sự chống trả của các tín đồ Cao Đài. Sự đàn áp các giáo phái Hòa Hảo và các phật tử ở miền tây đồng bằng sông Cửu Long cũng vấp phải sự chống cự như thế. Mẹ của Ba Cụt, bà Tư Tâm, sau khi con mình bị hành hình, vẫn tiếp tục giảng đạo. Bà đã nhiều lần bị bắt và cuối cùng bị bắn chết. Sự đàn áp chống đạo Phật trong những năm tiếp theo sẽ trở nên phức tạp thêm vì một vấn đề khác, vấn đề quan hệ với Campuchia mà chúng tôi sẽ nghiên cứu ở chương sau, bởi đa số, nếu không nói là tất cả, những người Campuchia sinh sống ở Nam Việt Nam đều là tín đồ Phật giáo.[87]
    ___________________________________
    [87] Sự chống cự của tín đồ các giáo phái và phong trào nông dân là những nguyên nhân giải thích vì sao những nhóm vũ trang của các giáp phái đã cầm cự được lâu dài, mặc dù họ không còn nhận được sự giúp đỡ của bộ chỉ huy Pháp.

  9. #89
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    9
    Ngay cả trong các giới công giáo cũng không phải ai nấy đều nhất nhất tuân theo lời của Diệm. Cú va chạm đầu tiên là giữa những tín đồ công giáo ở Sài Gòn, tức là những tín đồ công giáo thị dân có xu hướng khoan dung và cởi mở đối với những tư tưởng hiện đại, xung khắc với một hệ thống tôn ti, trật tự và một chính quyền đượm tính chất công giáo nông thôn đến từ miền Bắc sặc mùi trung cổ. Sự chống đối này đã trở nên gay gắt đến mức ngày 10 tháng 2 năm 1957, cha xứ Sài gòn là linh mục Hồ Văn Vui, trong lời nhận xét của mình, đã nói:

    "Người công giáo Việt Nam đang bị đàn áp như ở thời kỳ đầu của kỷ nguyên thiên chúa giáo, dù họ có tội hay không có tội. Các trường tư thục công giáo đều bị áp đặt và kiểm soát. Cầu xin Đức Chúa Trời hãy nhổ sạch những giống cỏ dại đang tràn ngập chúng ta này."

    Rồi ông yêu cầu các tín đồ công giáo đừng tham gia các cuộc tuyển cử. Viên Chủ tịch Quốc hội liền gửi ngay cho giám mục địa phận Sài Gòn một bức thư "kiên quyết phản đối những lời nhục mạ và những luận điệu dối trá đã được cha xứ Sài Gòn nói ngay từ trên ghế giảng đạo của mình." Ông linh mục chẳng bao lâu bị thuyên chuyển, rồi bị truy tố trước tòa án... Nhũng sự kình địch chẳng bao lâu đã nổ ra giữa Đức Cha Thục, anh trai của Diệm và các giám mục khác là Phạm Ngọc Chi, Nguyễn Văn Hiền, Lê Hữu Từ[88]. Nghiêm trọng hơn, những cuộc biểu tình vì bất bình của những người tị nạn, những nông dân nghèo, những cuộc biểu tình với quy mô ngày càng lớn cùng với việc lộ dần chân tướng của biết bao lời hứa hẹn cuộc sống hạnh phúc hóa ra đều là những lời hứa hão, và cùng với những điều kiện sống ngày càng cơ cực của đám đông khốn khổ bị bỏ mặc trong cảnh bần cùng.
    ______________________________________
    [88] Báo France - Soir ngày 29 tháng 11 năm 1955 kể lại như sau việc Đức cha Nguyễn Văn Hiền được tấn phong Tổng giám mục địa phận Sài Gòn, nẫng mất chiếc ghế của ông anh trai của Diệm: "Người ta đã làm tất cả nhằm hủy bỏ quyết định của tòa thánh Vatican: Đức cha Thục lập tức bay [bị mất] giảng của mình. Ông Hiền, khi nói về Diệm, thậm chí đã dùng đến từ "rút phép thông công"."

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •