Kết quả 1 đến 9 của 9
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0

    Nguồn gốc Chiến tranh Việt Nam

    Lưu ý: Đây là một cuốn sách đã đăng kí tác quyền. Người dịch ra và đưa lên ở đây chỉ nhằm mục đích chia sẻ hạn chế trong nội bộ diễn đàn, theo tinh thần fair use. Vui lòng không truyền bá và phát hành rộng rãi.






    ĐÔI DÒNG VỀ TÁC GIẢ VÀ CUỐN SÁCH

    Fredrik Logevall là giáo sư dạy sử ở trường Đại học Cornell, New York, Hoa Kì. Ông là một tác giả có uy tín về chiến tranh Việt Nam và Chiến tranh Lạnh, đã từng xuất bản nhiều cuốn sách giá trị như Choosing War: The Lost Chance for Peace and the Escalation of War in Vietnam, America's Cold War: The Politics of InsecurityThe First Vietnam War: Colonial Conflict And Cold War Crisis. Cuốn The Origins of Vietnam War được xuất bản lần đầu tiên năm 2001, nghiên cứu về tình hình lịch sử và nguồn gốc của cuộc chiến tranh Việt Nam từ những năm 1954 đến 1964. Tại sao Hoa Kì lại kiên quyết theo đuổi một cuộc chiến ở Việt Nam? Liệu cuộc chiến này có thể tránh được hay không? Cuốn sách cung cấp một câu trả lời tương đối đầy đủ cho những câu hỏi như thế.
    ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

    CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG CUỐN SÁCH

    NLF: National Front for the Liberation of Vietnam, Mặt trận dân tộc giải phóng Việt Nam
    ARVN/ QLVNCH: Army of the Republic of Vietnam, Quân lực Việt Nam Cộng hoà (Nam Việt)
    PAVN/ QDNDVN: People’s Army of Vietnam, Quân đội Nhân dân Việt Nam (Bắc Việt)
    CIA: Central Intelligence Agency, Cục tình báo Trung ương Mỹ
    DRV/ VNDCCH: Democratic Republic of Vietnam, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Bắc Việt)
    RVN/ VNCH: Republic of Vietnam, Việt Nam Cộng hoà (Nam Việt)
    FDR: Franklin D. Roosevelt
    JFK: John F. Kennedy
    LBJ: Lyndon B. Johnson
    NSC: National Security Council, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ
    JCS: Joint Chiefs of Staff, Hội đồng Bộ trưởng
    ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

    <font size="4">MỤC LỤC



    Chương I: Giới thiệu vấn đề
    Chương II: Chiến tranh Việt Pháp
    Chương III: Thử nghiệm Diệm
    Chương IV: Khủng hoảng trầm trọng thêm
    Chương V: Một cuộc chiến lớn đang đến gần
    Chương VI: Liệu cuộc chiến có thể tránh được?

    Nhận định của người dịch</font>

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    6
    SỰ XÂM LĂNG CỦA NGƯỜI PHÁP
    Người Việt Nam đã chiến đấu chống lại những kẻ ngoại xâm trong phần lớn lịch sử của họ. Kẻ thù truyền thống của họ là người Trung Quốc, những người đã từng đô hộ Việt Nam trong hơn một ngàn năm. Để đáp lại, người Việt Nam đã phát triển một tinh thần chiến đấu và niềm tự hào dân tộc cao độ. Đến thế kỉ 15, sau khi giành lại quyền tự trị từ Trung Quốc, người Việt Nam bắt đầu tiến về phương Nam, để rồi cuối cùng giành lấy chủ quyền vùng đồng bằng Mekong màu mỡ, vùng đất từng một thời thuộc Campuchia. Đến 1802, với sự thành lập của nhà Nguyễn, họ đã chiếm lấy toàn bộ vùng lãnh thổ hiện nay của Việt Nam.
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    Tuy nhiên, trong những thập kỉ sau đó, Việt Nam đã bị xé nát bởi những đấu tranh giành quyền lực giữa các vua chúa trong nước. Trong một cuộc đối đầu, một nhà lãnh đạo phe phái nằm ở phương Nam đã thống nhất đất nước với sự giúp đỡ của lính đánh thuê Pháp. Sự dựa dẫm vào Pháp của ông ta đã làm cho sự hiện diện của Pháp trong nước ngày một nhiều hơn. Năm 1850, lấy cớ bảo vệ những người Công giáo Việt Nam (những nhà truyền giáo Pháp đã đưa Công giáo vào Việt Nam hàng thế kỉ trước), người Pháp bắt đầu công cuộc xâm lược đất nước này. Đến năm 1884, Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Pháp.
    Chính quyền Paris cũng đã thiết lập chủ quyền trên các quốc gia lân cận là Lào và Campuchia, và đến cuối thế kỉ thì cả 3 chính thức trở thành Liên hiệp Pháp – Đông Dương, được điều khiển bởi một vị tướng-chỉ huy chỉ định bởi Pháp. Sau 1893, Pháp Đông Dương bao gồm 5 đơn vị hành chính: Nam Kì, một thuộc địa ở miền Nam Việt Nam, và 4 vùng bảo hộ ở Campuchia, Lào, An Nam (Trung Kì) và Bắc Kì.
    Có nhiều mục tiêu khác nhau ảnh hưởng đến chính sách thực dân của Pháp ở Đông Dương. Một vài quý tộc thời đó cho rằng những thế lực Âu Châu khác, bao gồm ngay cả Vương quốc Bỉ nhỏ bé, cũng đang tiến nhanh hơn Pháp trên toàn thế giới trong vấn đề thuộc địa, và rằng rất cần thiết phải làm một điều gì đó để sức mạnh và niềm kiêu hãnh của Pháp không tụt dốc thêm nữa. Cụ thể hơn, việc chiến được Đông Dương sẽ cho phép Pháp cạnh tranh với Vương quốc Anh, quốc gia đã lập nên một đế chế thuộc địa rộng lớn ở châu Á, trải từ Ấn Độ đến nửa đông New Guinea. Quân đội Pháp, những kẻ đã bị bẽ mặt bởi thất bại của Pháp dưới tay Prussia năm 1870, không từ chối cơ hội chữa lành lòng tự hào đã bị tổn thương của họ bằng một công cuộc mới ở nước ngoài, trong khi các nhà băng và công xưởng tìm cách bóc lột nguồn tài nguyên tự nhiên của Đông Dương và mở ra một thị trường mới cho hàng hóa Pháp. Đối với nhiều quan chức chính phủ, những mục đích này củng cố lẫn nhau và chỉ càng chứng minh thêm cho hành động can thiệp.
    Chính sách này không phải là không bị chỉ trích ở Pháp. Những nhà nhân đạo tranh luận rằng một chính sách đế chế sẽ mang lại nhiều đau khổ và ít lợi ít cho người Đông Dương, trong khi những đối thủ khác thì cho rằng tài nguyên quốc gia (của Pháp) đang bị rút cạn cho những phần thưởng đáng nghi ngờ; những người này cho rằng tốt hơn hết là nên ưu tiên cho việc củng cố vị thế của Pháp ở châu Âu.Tuy nhiên, dư luận chính ở Pháp vẫn ủng hộ cho việc đầu tư vào Đông Dương, một phần bởi vì những nhà lãnh đạo đã cho thấy tài thuyết phục dân chúng bằng việc nhấn mạnh vào khía cạnh nhân đạo của chủ nghĩa thực dân. Đó là cái vẫn thường được gọi bằng mỹ từ “khai hóa” – trách nhiệm của những con người tiên tiến trên thế giới phải mang lại những lợi ích của nền văn minh Tây phương đến cho những người “man di” ở châu Á và châu Phi. Cái “trách nhiệm của người da trắng”, như Rudyard Kipling đã gọi. Từ đó, họ lại tranh luận rằng Pháp không chỉ mang đến sự phát triển kinh tế mà còn tạo ra một xã hội hiện đại dựa trên chính quyền cộng hòa, luật pháp và tự do cá nhân đến cho Đông Dương.
    Tất nhiên, việc Pháp tuyên bố sứ mạng khai hóa của họ là một chuyện, còn việc họ làm nó như thế nào lại là một chuyện khác. Những người Đông Dương nên được khuyến khích theo những giá trị và định chế nào của người Pháp? Họ có cần được giữ lại bản sắc dân tộc đặc trưng của họ hay không? Những người châu Á có nhất thiết phải đi lặp lại con đường phát triển công nghiệp và dân chủ hiện đang thịnh hành thời bấy giờ ở Âu châu hay không? Hay là những khác biệt giữa Đông và Tây là quá lớn để có thể vượt qua?
    Chẳng bao lâu sau, sự mâu thuẫn giữa mục tiêu khai công khai – khai hóa – và mục tiêu thực dụng hơn – bóc lột tài nguyên thuộc địa cho sự phát triển của mẫu quốc – trở nên rõ ràng. Người Pháp đã quyết tâm biến Đông Dương thành một thị trường tiêu thụ những sản phẩm sản xuất bởi các công xưởng của họ, do đó họ tìm cách ngăn cản sự ra đời của một nền công nghiệp thực thụ và một phân khúc thương mại có thể cạnh tranh với các mặt hàng nhập khẩu của Pháp. Họ cũng thờ ơ trong việc khuyến khích một thể chế chính trị có thể đại diện cho nguyện vọng của những người Đông Dương. Lí do rất rõ ràng: người Pháp đã quá rành rằng sự thành lập của một chính phủ hợp pháp, phổ thông sẽ dẫn đến sức ép cho những quyền tự chủ lớn hơn và cuối cùng là sự khôi phục tự chủ. Ngay từ đầu, chính sách thuộc địa của Pháp đã là hai mặt, và một mục tiêu chính trị và xã hội rõ ràng ở Đông Dương chưa bao giờ được biến thành hiện thực.
    Lí do vì sao người Pháp lại chia Việt Nam ra 3 vùng không thực sự rõ ràng. Tất nhiên, một phần là do chiến thuật “chia để trị” của thực dân, và phần khác là do các quan chức hi vọng rằng chia ra thì việc quản lí sẽ dễ dàng hơn. Dù lí do là gì, thì quyết định này cũng đã định hình tương lai cai trị của Pháp ở vùng này, và cuối cùng sẽ có một ảnh hưởng to lớn đến Chiến tranh Việt Nam. Ở Bắc Kì và An Nam, người Pháp muốn có một sự cai trị gián tiếp thông qua bộ máy cai trị của nhà Nguyễn như là tầng lớp trung gian giữa Pháp và người bản địa. Sự điều khiển này càng ngày càng tập trung và độc đoán hơn, nhưng cuối cùng An Nam và Bắc Kì vẫn luôn thuộc vùng “ngoại biên” với bộ máy cai trị của Pháp. Do nghèo tài nguyên tự nhiên, hai vùng bảo hộ này ít được quan tâm hơn và ít bị nền kinh tế Pháp xâm nhập.
    Ngược lại, ở Nam kì, người Pháp tự lập nên cấu trúc chính quyền của họ và cai trị trực tiếp – những người Việt Nam phục vụ cho hệ thống này phải theo sát luật pháp của Pháp. Thuộc địa này cũng chịu sự bóc lột kinh tế và thay đổi văn hóa sâu sắc. Với nhiều đất nông nghiệp hơn Bắc Kì và Trung Kì, Nam Kì trở thành điểm đến của người Pháp nhập cư vào Việt Nam. Nhiều người lập nghiệp ở vùng đồng bằng Mekong trù phú, và chẳng bao lâu sau những đầm lầy ở vùng đồng bằng được rút cạn và biến thành đất nông nghiệp. Sài Gòn, thủ đô và trung tâm thương mại của thuộc địa, được biết đến như là “Paris của Phương Đông”. Dọc theo biên giới với Campuchia, những đồn điền cao su được thành lập. Nam Kì trở thành mảnh đất lợi nhuận nhất, quan trọng nhất của đế quốc Pháp ở Đông Nam Á.
    Một kết quả của việc phát triển này là sự ra đời của một tầng lớp tư sản Việt Nam giàu có tập trung ở Sài Gòn, với tài sản có được từ thương mại và địa chủ ruộng đất. Nhiều người thuộc tầng lớp này được giáo dục từ những ngôi trường được Pháp xây. Thông thường thì những người này ngưỡng mộ văn hóa Pháp, ăn thức ăn của người Pháp, mặc quần áo của người Pháp. Mặc dù không chống lại sự tăng cường ảnh hưởng chính trị và kinh tế của người Pháp, họ chỉ được làm như thế trong phạm vi giới hạn của hệ thống thuộc địa Pháp. Tuy nhiên, họ thường bị xem thường bởi chính những quan thầy này, và nhiều người còn căm ghét sự thống trị thuộc địa của người Tây phương. Kết quả, như William J. Duiker đã lưu ý, là một sự pha trộn giữa sự yêu mẫu quốc (Pháp) và bản năng bài ngoại, gây ra một sự dùng dằng về “lợi ích” của sự cai trị của Pháp.
    Tình thế này ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của phong trào yêu nước Việt Nam, vốn được ra đời từ những trí thức Việt Nam trong một phần tư đầu của thế kỉ 20. Nhóm những người “yêu mẫu quốc” hơn thì chủ trương thay đổi bất bạo động và tập trung ở Nam Kì. Ví dụ như Đảng Hiến pháp (Constitutionalist Party), được thành lập bởi một nhóm nhỏ những trí thức Pháp ở Sài Gòn, nói lên mối quan tâm của tầng lớp thượng lưu người Việt trong việc cải cách chính sách thuộc địa mà không loại người Pháp ra. Việt Nam, theo những người này, vẫn sẽ nằm trong Liên hiệp Pháp. Trong những năm 1920 đảng Hiến pháp gây áp lực cho những cải cách chính trị và kinh tế khiêm tốn, nhưng chỉ được những câu trả lời lạnh lùng. Đến đầu những nằm 1930, đảng này biến mất nhanh chóng.
    Sự thất bại của những nỗ lực cải cách ôn hòa đã hối thúc những phương pháp tiếp cận “cách mạng” hơn, đặc biệt là ở Bắc Kì và Trung Kì. Ở Hà Nội và Huế, và những vùng quận huyện rải rác khắp Việt Nam, phong trào chống thực dân đã cho ra đời những tổ chức chính trị bí mật nhằm mục đích trục xuất người pháp và giành lại quyền tự chủ dân tộc. Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDD) là một trong những nhóm quan trọng nhất trong số này, và đến năm 1929 nó đã có khoảng 1,500 thành viên, đa số tổ chức thành những nhóm nhỏ ở đồng bằng sông Hồng. Thành lập theo mô hình của đảng Quốc dân của Tôn Dật Tiên ở Trung Quốc, VNQDD xem cách mạng vũ trang là biện pháp duy nhất để giành lại độc lập cho Việt Nam, và đến 1930 cố gắng hâm nóng một cuộc nổi loạn bởi những người Việt phục vụ trong quân đội Pháp. Nỗ lực này đã thất bại, làm cho VNQDD không thể hoạt động công khai được nữa.
    </div>
    </div>
    </div>

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    HỒ CHÍ MINH
    Dưới môi trường này, Đảng Cộng sản Đông Dương (ICP) đã ra đời. Chủ nghĩa Mác đã được một số người Việt yêu nước học ở Paris theo từ trong và sau thế chiến thứ II. Họ ít quan tâm đến khía cạnh đại chuyển biến xã hội (social millenarianism) của nó, thay vào đó, họ quan tâm đến thông điệp chống thực dân, lời hứa giải phóng khỏi ách thống trị của châu Âu cho tất cả những người dân thuộc địa. Đó là trường hợp của người thành lập ICP, Hồ Chí Minh. Sinh ra dưới tên Nguyễn Sinh Cung vào năm 1890, Hồ Chí Minh đã sớm căm ghét chế độ thực dân Pháp, và ông lập lời thề cống hiến cuộc đời mình cho sứ mệnh cao cả là giành lại nước Việt Nam cho người Việt Nam. Từ những năm 20 tuổi ông đã rời Việt Nam, đánh dấu sự bắt đầu của một cuộc lưu vong kéo dài gần 30 năm.
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    Cuộc hành trình bắt đầu khiêm tốn với Hồ Chí Minh làm việc trên một con tàu vận tải. Sau vài năm làm việc trên tàu và thăm vài quốc gia, bao gồm Vương quốc Anh và Hoa Kì (sau này ông có viết về sự phân biệt nặng nề với người da trắng ở miền Nam Hoa Kì), ông quay trở lại Paris vào giai đoạn kết của Thế chiến thứ I. Ông bắt đầu tham gia vào các hoạt động chính trị của những người yêu nước chống thực dân sống ở Paris và nhanh chóng trở thành một trong những thủ lĩnh của họ. Năm 1920, lấy biệt danh Nguyễn Ái Quốc, ông trở thành một thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp sau khi đọc “Về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lenin, một tài liệu mà, theo lời ông, hấp dẫn ông bởi vì nó là phương tiện để giải phóng Việt Nam và những quốc gia bị áp bức khác khỏi ách thuộc địa. Trước đó, ông đã bị làm ngơ khi ông yêu cầu những nhà lãnh đạo Đồng Minh tụ họp tại Versailles trao trả độc lập tự chủ cho người dân thuộc địa, theo tinh thần của bản Mười Bốn Điều nổi tiếng của tổng thống Mỹ Wilson Woodrow.
    Nhiều năm sau, ông hồi tưởng về lần đầu đọc Luận cương của Lenin: “Ôi những cảm xúc, sự háo hức, sự rõ ràng và sự tự tin nó đã cho tôi! Tôi đã quá vui sướng. Mặc dù ngồi một mình trong phòng, tôi la lớn lên như thể nói với đám đông: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đâu là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng của chúng ta!”
    Cuối năm 1923, sau nhiều lần đề nghị Đảng Cộng sản Pháp nhúng tay vào vấn đề thuộc địa thất bại, Hồ Chí Minh chuyển đến Matxcơva. Tuy nhiên, lãnh đạo Xôviết lúc đó đang bận tay với các vấn đề đối nội; một số quan chức, điển hình là Xtalin, cũng nghi ngờ sự cống hiến của ông (với chủ nghĩa cộng sản). Ông phải mất đến gần cả năm để thuyết phục các quan chức Xôviết gửi ông xuống vùng phía nam Trung Quốc – nơi ông hi vọng có thể tổ chức người Việt Nam lại để chống lại thực dân Pháp – và đến khi ông đi, Xtalin vẫn chưa chấp thuận cho. Ở Quảng Châu, ông chính thức phục vụ như là một phái viên tham vấn của Quốc tế III cho chính phủ Tôn Dật Tiên. Tuy nhiên, ông có một nhiệm vụ quan trọng hơn: tổ chức đơn vị cách mạng Mác xít đầu tiên ở Đông Dương. Cho đến cuối thập kỉ, ông làm việc cật lực để gom góp những trí thức khuynh tả trên toàn Việt Nam thành một tổ chức chuyển tiếp mang tên là Thanh niên Cách Mạng Đồng Chí Hội. Ông cũng ra một tờ báo chính trị tên là Thanh Niên, và viết một cuốn sách là “Con đường Cách mệnh”, quyển sách này đã trở thành “kinh thánh” của phong trào cách mạng. Sau đó, đầu những năm 1930, Hồ Chí Minh chủ trì việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hồng Kông. Tám tháng sau, tháng Mười, với sự hướng dẫn của Matxcơva, đảng này được đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương (ICP), với trách nhiệm khơi mào cách mạng trên toàn cõi Đông Dương.
    Ngay từ đầu, ICP đã là một lực lượng dẫn đầu trong phong trào yêu nước Việt Nam. Cảnh sát Pháp nhanh chóng xem nó như là mối đe dọa hàng đầu đối với nhà cầm quyền thuộc địa, và tốn nhiều công sức để nhận diện những thành viên của đảng này. Đâu là bí mật đằng sau sự thống trị của ICP trong phong trào yêu nước? Một phần là nhờ vào điểm yếu của những đối thủ cạnh tranh, những nhóm yêu nước phi cộng sản. Mặc dù người Việt có tinh thần dân tộc rất cao, có thể là cao nhất trong các xã hội Đông Nam Á, những đảng chống thực dân khác ở Việt Nam đã gần như thất bại ngay từ đầu với sự chia rẽ bè phái và không có sự ủng hộ của đông đảo quần chúng.
    Phải nói thế này, sự chia rẽ nội bộ là một điều thường thấy trong nhiều phong trào chống thực dân ở Thế giới thứ Ba và có nhiều nguyên nhân, bao gồm sự va chạm các tính cách và tranh cãi về chiến lược. Ở một số nơi, như Ấn Độ và Malaya, sự khác biệt được vượt qua và những nhà lãnh đạo có thể tập họp được một lực lượng đồng minh đông đảo chống lại sức mạnh của thực dân. Ở Việt Nam, điều tương tự đã không xảy ra. Ở đây, sự khác biệt vùng miền và chiến lược đã quá sâu sắc, hoặc là sự va chạm cá tính quá mạnh, khiến những đảng yêu nước đã không thể tập họp lại. Hơn thế nữa, những đảng chính trị chống Cộng sản không bao giờ lập được một mối liên kết chặt chẽ với quần chúng.Với nòng cốt ở thành thị và những mối quan tâm của giai cấp trung lưu, những người lãnh đạo các đảng này thường có một thái độ lạnh nhạt với những vấn đề sống còn đối với nông dân Việt Nam, như là đói đất, thuế má cắt cổ và sự tham nhũng của chính quyền.
    Tất cả những điều này đã tạo điều kiện cho Hồ Chí Minh và ICP. Ông và những vị tướng hàng đầu của ông thoát khỏi tất cả những đợt truy lùng của người Pháp, và đến giữa năm 1930 đảng này đã hưởng lợi từ những thay đổi trên trường quốc tế. Từ 1936 đến 1939, áp lực từ chính quyền Pháp đã dịu bớt khi chính phủ Mặt trận nhân dân ở Paris cho các đảng cộng sản ở thuộc địa nhiều tự do hoạt động hơn – đây là kết quả của sự tăng cường cộng tác giữa Liên Bang Xôviết và các chính phủ phương Tây nhằm chống lại sự đe dọa chung toàn cầu của chủ nghĩa phát xít. Tuy nhiên đến năm 1939, sau khi Matxcơva kí hiệp ước hòa ước tạm với Phát xít Đức, chính quyền Pháp đã đặt ICP ra ngoài vòng pháp luật và khiến các nhà lãnh đạo ICP phải trốn tránh.
    Nhiều nhà lãnh đạo ICP trốn lên tỉnh Cao Bằng, gần biên giới Trung Quốc. Ở đó, trong một hang động gần làng Pác Bó, vào tháng 5 và 6 năm 1941, Hội nghị thứ 8 của ICP đã họp lại và bàn bạc về tình hình ở Việt Nam, cũng như xây dựng các chiến lược. Pháp đã đầu hàng Đức vào tháng 6-1940; người Nhật, đồng minh của Đức, đã đoạt lấy toàn bộ quyền điều khiển các thuộc địa. Các nhà lãnh đạo ngồi trên một khối gỗ đơn giản, xung quanh một chiếc bàn tre, và một đảng mới đã được hình thành từ đó. Cái tên chính thức của nó là Việt Nam Độc lập Đồng Minh hội, hay như lịch sử vẫn gọi, Việt Minh. Đa số các nhà lãnh đạo này là những nhà cộng sản nhiệt huyết, nhưng họ cũng dồng thời là những nhà yêu nước chính gốc, được lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh. Họ đã đặt ra những chính sách cơ bản nhất nhằm thâu tóm phong trào yêu nước đang phát triển trong nước. Kết quả của điều này là thảm họa cho hai cường quốc lớn mạnh của thế giới: Pháp và Hoa Kì.
    Hồ Chí Minh muốn Việt Minh theo đuổi một mục tiêu kép: độc lập dân tộc và cải cách xã hội toàn diện. Tuy nhiên, ông đặt nặng mục tiêu đầu tiên hơn. Ông tin rằng, giải phóng dân tộc là vấn nạn lớn nhất đối với người Việt Nam, và ông thấy Việt Minh cần phải là một phong trào quần chúng, yêu nước. Sự nhấn mạnh này có thể thấy trong cái tên của tổ chức: nó không chỉ nhấn mạnh vấn đề độc lập, mà còn thay từ “Đông Dương” bằng một từ nhiều cảm xúc hơn, “Việt Nam.”
    Điều này rất quan trọng: Hồ Chí Minh là một người Cộng sản, nhưng trước hết, đầu tiên hết, ông là một người yêu nước. Độc lập cho đất nước là một ý tưởng chưa bao giờ rời khỏi tâm trí ông trong tất cả những năm lưu vong, tù đày. Nguồn lực lớn mạnh nhất ở Việt Nam: sự khao khát được tự do khỏi ách đô hộ ngoại quốc, được độc lập tự chủ một lần nữa, nguồn lực ấy đã trở thành tài sản của Việt Minh. Sự nhấn mạnh vào giải phóng dân tộc đã hấp dẫn những trí thức yêu nước, và trực tiếp chống lại cả ách đô hộ thuộc địa của người Pháp cũng như sự hiện diện ngày một nhiều hơn của Nhật Bản. Tháng 6-1941, một lá thư viết bởi Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào nền móng yêu nước của phong trào do ông lãnh đạo đã được phát tán rộng rãi.
    Và thế là, phong trào Việt Minh đã được phát động. Thời điểm phát động phong trào này trùng hợp với những diễn biến có lợi trong Thế chiến thứ II. Người Nhật đã cho phép các quan chức Pháp giữ một quyền lực nhất định ở Việt Nam trong hầu hết thời gian chiến tranh, tuy nhiên sự nhanh chóng mà Nhật đánh bại Pháp đã làm mất mặt người Pháp trong mắt nhiều người Việt Nam. Các chính sách hà khắc của Nhật và con rối Pháp, cùng với một trận đói khủng khiếp đầu năm 1945, đã thổi bùng lên sự bất mãn chung. Ở miền bắc Việt Nam, sức mạnh của Việt Minh đã tăng lên, khi Hồ Chí Minh và người cộng sự thân tín Võ Nguyên Giáp, trước đây là một giáo sư lịch sử, xây dựng một quân đội gần 5,000 người.
    Quân đội này nhanh chóng được sử dụng. Vào ngày 9-3-1945, người Nhật bất ngờ đoạt lấy quyền điều khiển Đông Dương, kết thúc 5 năm hợp tác với người Pháp. Việt Minh, với sự giúp đỡ hạn chế từ các đơn vị tình báo Mỹ, bắt đầu quấy rối ông chủ thuộc địa mới này một cách có hệ thống ngay sau đó. Khi Nhật dầu hàng sau vụ ném bom nguyên tử vào Hiroshima và Nagasaki trong tháng 8, Việt Minh hành động ngay lập tức nhằm lấp khoảng trống quyền lực, chiếm lấy trụ sở chính quyền ở Hà Nội. Các sự kiện diễn ra rất nhanh. Việt Nam đi vào một cuộc cách mạng yêu nước, thường được gọi là Cách mạng Tháng Tám, khi mà Việt Minh chiếm lấy quyền điều khiển của các chính quyền các cấp trên toàn quốc. Ở Sài Gòn, một hội đồng địa phương, bao gồm các tu sĩ, các nhóm cộng sản khác nhau, cũng như các nhóm yêu nước phi cộng sản, đã thông báo sự hậu thuẫn của họ đối với Việt Minh. Từ ngày 18 đến 28 tháng 8, những người ủng hộ Việt Minh đã nắm lấy quyền điều khiển ở 60 tỉnh và địa phương, và đến ngày 29 Việt Minh thành lập một chính quyền toàn quốc với tên gọi Chính quyền lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (DRV – Democratic Republic of Vietnam), với thủ đô là Hà Nội.
    Đó là hai tuần rực rỡ đối với các lãnh đạo của Việt Minh, và vào ngày 2 tháng 9, Hồ Chí Minh, mang một bộ kaki bạc màu và săn-đan cao su đã trở thành hình tượng, đứng trước một đám đông vui mừng ở quảng trường Ba Đình, Hà Nội và tuyên bố độc lập cho quốc gia của ông. Ông tuyên bố rằng: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc.”
    Liệu đây có phải là một sự vinh danh chân thành đối với bản tuyên ngôn độc lập dân tộc đầu tiên của thế giới hiện đại, hay đây là một sự ám chỉ sự ủng hộ của Mỹ đối với tham vọng của Hồ Chí Minh? Cả hai. Và Hồ Chí Minh có cơ sở khi tin rằng sự cộng tác Mỹ-Việt Minh có thể được tiếp tục trong cả thời bình. Trong thời gian ăn mừng ngày hôm đó, một số máy bay Mỹ đã bay ngang quảng trường Ba Đình, và một số quan chức quân đội Mỹ đã đứng cùng Võ Nguyên Giáp và các lãnh đạo Việt Minh khác trên khán đài, khi mà lực lượng vũ trang của Việt Minh diễu hành ngang qua. Một ban nhạc Việt đã chơi bài The Star Spangled Banner (quốc ca Mỹ). Đến tháng 10, một Hiệp hội Bằng hữu Việt Mỹ đã được thành lập công khai ở Hà Nội. Hơn nữa, Hồ Chí Minh còn biết rằng trong những năm đầu, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt (FDR) đã cho thấy sự ủng hộ đối với độc lập của Đông Dương khi ông cho rằng sự cai trị của Pháp là bóc lột và vô trách nhiệm. Cái nhìn của Roosevelt đến từ cái nhìn khinh thường đối với Pháp trong cuộc chiến chống lại phe Trục, cũng như do ông không thích de Gaulle, lãnh đạo của Pháp Tự do trong suốt cuộc chiến và tổng thống đầu tiên của chế độ Đệ tứ Cộng hòa. FDR cho rằng de Gaulle kiêu căng và ngạo mạn, và không thích cách mà người Pháp tìm cách khôi phục lại sự vĩ đại của họ sau chiến tranh. Sau cùng thì, lãnh đạo Việt Minh có vài lí do để mong sự ủng hộ từ Mỹ khi họ tìm cách củng cố quyền lực.
    Tuy nhiên, có một vài vấn đề sau phông màn. Ngay khi những quan chức Mỹ đang tham dự lễ ăn mừng ở Hà Nội ngày 2 tháng 9, những thượng cấp của họ ở Washington đã bắt đầu dọn đường cho sự trở lại của Pháp ở Việt Nam. Roosevelt đã chết vào tháng 4 năm đó, và trong những tháng cuói cùng, chính kiến của ông về vấn đề thuộc địa của Pháp đã thay đổi, một phần vì ông cho rằng người Việt Nam vẫn chưa chuẩn bị đủ để tự trị và, do đó, sẽ cần một khoảng thời gian bảo hộ bởi nước ngoài, một phần khác vì sự quan tâm ngày một tăng ở Washington, đặc biệt là từ những người theo chủ nghĩa châu Âu, cho rằng muốn có một sự cộng tác với Pháp và Anh tại châu Âu thì Mỹ cần phải ít can dự vào vấn đề thuộc địa của họ hơn. Roosevelt, khi sắp xếp vấn đề rắc rối ở Đông Dương vào những tháng cuối đời của ông, đã dọn dẹp đường cho Pháp quay lại sau chiến tranh. Tổng thống mới, Harry S. Truman, ủng hộ không mấy nhiệt tình những nỗ lực của Pháp trong việc giành lại quyền tự chủ ở Đông Dương. Tuy nhiên ông ta không có cùng mối quan tâm như người tiền nhiệm của ông về vấn đề thuộc địa, cũng như không hứng thú mấy về Đông Nam Á.
    Kết quả là, khi các nhà lãnh đạo Pháp tiến vào đoạt lấy quyền quản lí ở Đông Dương vào mùa thu 1945 – tin tưởng rằng tương lai tươi sáng của họ đang đến gần – các quan chức Mỹ đã không hề cản đường. Với kế hoạch của phe Đồng Minh, quân đội Anh tiến vào phần phía nam của Việt Nam để giải giới Nhật, trong khi lực lượng Dân tộc Trung Quốc tiến vào từ phía bắc để làm điều tương tự. Người Anh, quan ngại về việc mất thuộc địa của chính họ và không muốn Việt Nam trở thành một tiền lệ đáng ngại, đã thả và tái vũ trang cho những binh lính Pháp bị giam cầm, những người này ngay lập tức đụng độ với lực lượng vũ trang Việt Minh. Những đơn vị Pháp mới cũng đổ bộ vào miền Nam để đoạt lại quyền cai trị của Pháp.
    Hồ Chí Minh nhận ra ngay lập tức sự cô thế của chính quyền của ông. Người Mỹ, những người ủng hộ Cách mạng Tháng Tám, đã rời khỏi, và những yêu cầu giúp đỡ của ông gửi đến Hoa Kì đã không được hồi đáp. Vương quốc Anh cũng sẽ không giúp đỡ gì, ông biết như thế. Lực lượng Dân tộc Trung Quốc, lúc ấy đang chuẩn bị rời khỏi Việt Nam, cũng đã đồng ý để lực lượng Pháp tiến vào miền bắc, và Pháp đã bắt đầu có một đơn vị tiến công ngay ngoài bờ biển Hải Phòng. Ngay cả Liên bang Xôviết, lực lượng dẫn đầu của phe cộng sản, có vẻ như cũng không hứng thú gì với nguyện vọng của Việt Minh. Khi ông biết tin chính quyền Paris đã lên kế hoạch gửi quân đội vào miền Nam Việt Nam, ông biết ràng Việt Minh đang phải đối mặt với một cuộc chiến chống lại một quân đội Pháp được vũ trang tốt hơn, và rõ ràng là không có chút sự giúp đỡ bên ngoài nào.
    Tuyệt vọng trong nỗ lực tránh chiến tranh, Hồ Chí Minh đã đề nghị kí tạm ước với Pháp mùa xuân năm 1946. Ông đồng ý cho phép Pháp quay lại miền bắc để thay thế Trung Quốc. Ông cũng đồng ý một Việt Nam tự chủ thuộc Liên hiệp Pháp, một liên bang gắn kết với Pháp. Đổi lại, nhà thương thuyết Pháp Jean Sainteny hứa rằng sẽ có một cuộc họp quốc hội để quyết định rằng liệu Nam Kì sẽ gia nhập lại Trung Kì và Bắc Kì thành một Việt Nam thống nhất hay là vẫn sẽ là một lãnh thổ riêng biệt của Pháp. Hai phe cũng đồng ý rằng một đại diện của Việt Minh sẽ đến Paris vào cuối năm nhằm dàn xếp những vấn đề liên quan đến bản chất của một Việt Nam độc lập và thời gian diễn ra tổng tuyển cử ở Bắc Kì.
    Thế là, vào mùa hè 1946, các đại diện của Pháp và Việt nam đã gặp gỡ cho một loạt buổi nói chuyện ở Fontainebleau gần Paris. Kết quả là một tai họa. Đối với đa số người Pháp, chiến tranh thật là khó tưởng tượng ra, nhưng phương án còn lại, trao trả độc lập cho “những kẻ da vàng bé nhỏ” (les jaunes) có thể dễ dàng bị khuất phục, lại còn khó tưởng tượng hơn. Chính quyền Pháp không hề nhượng bộ trong cuộc thương lượng. Những vấn đề cũ vẫn không thay đổi: người Việt Nam muốn độc lập và một sự liên kết yếu ớt với Liên hiệp Pháp; trong khi Paris tìm kiếm một chính quyền Việt Nam nhưng dưới sự hướng dẫn của Pháp, và quyền lực tuyệt đối vẫn là của người Pháp – nói cách khác, người Pháp vẫn sẽ nắm quyền điều khiển những bộ quan trọng. Ngày qua ngày, tuần qua tuần, khoảng cách giữa Hồ Chí Minh và người Pháp vẫn không hề hẹp lại một chút nào. David Ben Gurion, lãnh đạo lớn của Israel, mô tả nó như thế này:
    Người Pháp cho Hồ một cái thảm đỏ rất lớn khi ông vừa đến (nghi thức đối với một người đứng đầu nhà nước đến thăm). Nhưng sự may mắn của ông trong đàm phán có thể đo được bằng sự co rút dần của tấm thảm. Khi ông vừa đến, nó kéo dài từ sảnh ngoài cho đến tận phòng. Khi mùa hè qua dần, nó rút dần vào sảnh trong, rồi đến cầu thang, và cuối cùng chỉ còn một mảnh bé tí ngay trước cửa phòng.
    Một nhà báo Mỹ, David Schoenbrun, hỏi Hồ Chí Minh rằng ông có thể làm gì nếu người Pháp không cho ông một chút độc lập nào.
    “Hồ Chủ tịch, ông sẽ làm gì?”
    “Sao chứ, tất nhiên là chúng tôi sẽ chiến đấu rồi.” Hồ Chủ tịch trả lời.
    “Nhưng Hồ Chủ tịch,” Schoenbrun tiếp tục, “Pháp là một quốc gia hùng mạnh. Họ có máy bay và xe tăng và vũ khí hiện đại. Ông không có vũ khí hiện đại, không xe tăng, không máy bay. Không có cả đồng phục. Ông sẽ chiến đấu như thế nào?”
    “Chúng tôi sẽ giống như con voi và con hổ”, Hồ Chí Minh trả lời. “Khi con voi mạnh và nằm gần ổ của nó, chúng tôi sẽ rút lui. Và nếu như con hổ dừng lại, con voi sẽ đâm con hổ với cái ngà khỏe mạnh của nó. Nhưng con hổ sẽ không dừng lại, và con voi sẽ chết vì kiệt sức và mất máu.”
    Tháng 9 năm 1946, hai phe cũng đã kí một hiệp ước, nhưng cơ bản nó là một hiệp ước về sự bất đồng, một quyết định chẳng giải quyết cái gì. Cái thảm đỏ của ông biến mất, và Hồ Chí Minh rời Paris, biết chắc rằng chiến tranh đang đến gần. Ông nhận ra rằng, người Pháp không cho ông độc lập; ông phải chiến đấu cho nó.
    </div>
    </div>
    </div>

  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    HỘI NGHỊ GENEVA
    Điện Biên Phủ là một thất bại ê chề với Pháp, với hơn 7 năm chiến tranh đẫm máu và những lời hứa liên tục từ các tướng Pháp rằng thắng lợi đang đến rất gần. Tuy nhiên, các quan chức ở Paris đã chấp nhận kết quả này một cách điềm tĩnh hơn nhiều so với đồng nhiệm của họ ở bên kia Đại Tây Dương. Khi các nhà hoạch định chính sách của Paris bắt đầu nói đến một sự dàn xếp sớm vào giữa 1953, các quan chức Mỹ đã bị sốc. Ngay đến khi hội nghị Geneva bắt đầu, chính quyền Mỹ vẫn tìm cách lên gân Pháp, khi mà Dulles nói với bộ trưởng ngoại giao Pháp Georges Bidault vào tháng 7-1953 rằng không có một đàm phán nào sẽ xảy ra cho đến khi họ đã lật ngược được thế cờ - tức là, cho đến khi Pháp có tư cách để ra điều kiện.
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    Việc không chịu ngồi vào bàn đàm phán cho đến khi họ có thể dùng vũ lực buộc đối phương nghe lời vốn là một chiêu thức ngoại giao từ lâu của Mỹ, nhưng nó trở nên quan trọng hơn sau Thế chiến thứ II, khi mà Mỹ sở hữu nhiều quyền lực hơn bao giờ hết trong những sự vụ thế giới (những cường quốc mạnh nhất thường thích thỏa hiệp), và khi chính sách “Containment” trở thành kinh chỉ nam của chính sách đối ngoại Hoa Kì. Có thể nói “Containment” đã đánh dấu sự chiến thắng của chiến thuật đối với ngoại giao, khi mà sự phát triển căn cứ quân sự và vũ khí quan trọng hơn là thương lượng, đàm phán, thay đổi. Những người cộng sản là “những đứa con của bóng tối”, “nguồn gốc của sự xấu xa trên thế giới”; thương lượng với họ là điều không tưởng tượng nổi. Như Henry Kissinger đã viết, Containment “ngoại giao chẳng đóng vai trò nào cho đến tận cảnh cuối cùng, khi mà những người đàn ông đội mũ trắng chấp nhận sự chuyển hóa của những người đàn ông đội mũ đen”. Mỹ muốn kẻ thù của mình đầu hàng vô điều kiện; thế nên họ đã phản ứng mạnh khi hội nghị Geneva đến gần. John Foster Dulles đã miễn cưỡng đến hội nghị và ông ta thậm chí còn nói rằng ông ta chỉ gặp bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai nếu như xe của họ đâm vào nhau. Thế là, đến lúc 2 người phải bắt tay nhau, Dulles đã từ chối.
    Tuy nhiên, hội nghị đã không diễn ra quá tồi như Washington đã lo sợ. Có một câu danh ngôn về chiến lược quân sự thường được người Mỹ nhắc đến thế này: nếu anh không chứng tỏ được bản lĩnh của anh trên chiến trường, anh không thể nào thắng được trên bàn thương thảo cả. Câu danh ngôn này, cũng như nhiều câu danh ngôn khác, vốn không nhất thiết là đúng. Chỉ cần liếc sơ qua những cuộc chiến ở thế kỉ 20, người ta dễ thấy rằng những thỏa thuận ngoại giao cuối cùng thường không phản ánh hoàn toàn cán cân kinh tế-chính trị trên chiến trường. Tại Geneva năm 1954, Việt Minh đã ở một vị trí ưu thế tuyệt đối dưới mọi góc độ. Nó đã đạt được được một chiến thắng quyết định với Pháp tại Điện Biên Phủ, và họ lấn áp về kinh tế và quân sự trên toàn cõi Việt Nam. Ở quốc gia láng giềng Lào, chính phủ thân Việt Minh Pathet Lào cũng kiểm soát 50% lãnh thổ. Hơn nữa, Pháp cũng đã nói rõ rằng nó không thể tiếp tục cuộc chiến – kể cả công chúng Pháp lẫn những nhà cầm quyền đều không có ý chí đi tiếp.
    Thế nhưng, bản nghị định cuối cùng ở Geneva đã không phản ánh được sự vượt trội này của Việt Minh. Bản Hiệp định, kí vào tháng 7-1954, đã tạm thời chia Việt Nam ra làm 2 phần dọc theo vĩ tuyến 17 – đường phân cách này đã được nhấn mạnh là “tuyệt đối không được diễn giải là đường phân cách chính trị hay biên giới” – và một vùng phi quân sự (DMZ) 10 kilomet dọc theo đường phân cách. Lực lượng Việt Minh sẽ tập trung về miền Bắc DMZ và lực lượng PHáp tập trung về miền Nam. Một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước sẽ được tổ chức vào tháng 7-1956, sau một năm thương thuyết giữa đại diện của 2 miền. Ngoài ra, không một sự tăng cường quân đội, tái vũ trang, căn cứ quân sự hay quân đội nước ngoài nào được diễn ra trên cả 2 miền. Một Hội đồng Kiểm soát Quốc tế (ICC) bao gồm đại diện của Canada, Ấn Độ và Ba Lan sẽ giám sát những điều khoản của hiệp định và rà soát bất cứ phàn nàn nào. Lào và Campuchia sẽ được tuyên bố là những quốc gia độc lập, với Pathet Lào – vốn bị cấm tham dự hội nghị - chỉ được giao quyền quản lí 2 vùng nhỏ và thưa dân cư.
    Thế là, Hồ Chí Minh chỉ giải quyết được một nửa quốc gia, trong khi quân đội của ông đã chiếm ưu thế trên toàn quốc gia. Tại sao ông lại làm như vậy? Nói đơn giản là, bởi vì những “người chơi” chính ở Geneva đã không cho ông bất cứ một phương án thay thế thực sự nào. Quan chức Mỹ đã có một quan ngại sâu sắc về việc đến Geneva, nhưng khi đến nơi, họ đã chơi một trò chơi ngoại giao khôn ngoan. Họ tham dự vào cái mà John Foster Dulles gọi là ngoại giao kiểu “hành động níu giữ” nhằm ngăn chặn một sự sắp xếp “dâng Đông Dương cho Việt Minh”. Cụ thể là, Washington tiếp tục nửa úp nửa mở đe dọa can thiệp quân sự nếu như họ không hài lòng về những điều khoản của hiệp định, và nhìn chung là bắt những nhà đại biểu khác phải đoán mãi về kế hoạch thực sự của họ. Hai cường quốc Tây phương khác, Pháp và Anh, không muốn Mỹ can thiệp quân sự vào Đông Dương, và cũng không muốn cô lập Mỹ quá đáng vào Việt Nam – sẽ có quá nhiều vấn đề song phương Anh-Mỹ và Pháp-Mỹ bị ảnh hưởng. Pháp cũng muốn giữ lại một chút ảnh hưởng ở Đông Dương qua việc chia Việt Nam ra làm 2 phần.
    Trong khi đó, Liên bang Xôviết cũng hồi hộp muốn giữ Pháp ở ngoài Cộng đồng Phòng thủ Châu Âu (EDC) do Mỹ tài trợ, chấp thuận một vài mong muốn của Pháp ở Đông Dương như là một cách để giảm sự tận tụy của Pháp đối với các đồng minh Tây phương. Cũng như chính phủ London và Paris, Matxcơva cũng muốn tránh sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, và họ nhìn Đông Dương – một khu vực mà những người lãnh đạo Xôviết từ lâu chỉ xem như mối quan tâm thứ yếu – một cơ hội để minh chứng cho sự “chung sống hòa bình” qua việc thỏa hiệp với phương Tây.
    Quan trọng nhất, Trung Quốc cũng đặt sức nặng của họ vào Hiệp định. Ngườiđại diện chính của Trung Quốc tại Geneva, bộ trưởng ngoại giao Chu Ân Lai, tạo sức ép lên đại biểu của Việt Minh, dẫn đầu bởi Phạm Văn Đồng, để họ chấp nhận những điều khoản. Mục đích của Bắc Kinh vốn phức tạp, nhưng sự quan tâm chính của họ cũng hệt như Xôviết, Pháp và Anh: nhằm tránh cho Hoa Kì một cái cớ để can thiệp vào Việt Nam. Do đó họ muốn có một sự dàn xếp nào mà Hoa Kì ít nhất có thể ủng hộ, mặc dù miễn cưỡng. Thêm vào đó, Trung Quốc cũng tìm kiếm một thời gian hòa bình trong khu vực, để họ có thể tập trung vào phát triển kinh tế - hai thập kỉ chiến tranh và nội chiến liên miên đã có ảnh hưởng nặng nề.
    Áp lực của Trung Quốc và Xôviết lên VNDCCH đã khiến họ chấp nhận sự giải quyết thỏa hiệp khi kí Hiệp định. Nhưng Hà Nội cũng thấy những lợi ích từ cuộc thỏa thuận này. Phạm Văn Đồng, cũng như các quốc gia khác tại Geneva, luôn muốn tránh sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, đồng thời ông cũng tự tin rằng sự tái thống nhất đất nước có thể đạt được bằng phương pháp hòa bình, nên ông đã đồng ý chấp thuận các điều khoản của hiệp định. Dù sao, đó cũng là một điều bực mình cho ông và Việt Minh. Đó là một sự thật không thể chối cãi: họ đã rời Geneva với ít hơn nhiều so với những gì họ mang đến.
    Có vẻ như các nhà lãnh đạo Hoa Kì hoàn toàn có thể hài lòng với kết quả của hội nghị này; thế nhưng họ lại không hề hài lòng chút nào. Họ hiểu rằng họ đã có một kết quả tốt nhất có thể, khi nghĩ đến sự kiệt sức của Pháp và tình hình chiến trường ở Việt Nam, nhưng họ vẫn không muốn kí bản Hiệp định. Anh, Pháp, Trung Quốc, Xôviết và CHDCND Việt Nam đã làm như thế, nhưng Hoa Kì và Bang Việt Nam (State of Vietnam) đã từ chối. Thay vào đó, Washington ra một tuyên bố riêng rằng họ đồng ý với những nguyên tắc chung và hứa hẹn sẽ không “làm phiền” bằng “sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực”. Eisenhower tuyên bố rằng “tự thân Hoa Kì không thuộc về hoặc bị giới hạn bởi những quyết định đưa ra trong hội nghị (Geneva)”.
    Rõ ràng rằng nhóm của Eisenhower muốn giữ sự tự do hành động của Mỹ. Tổng thống và những cố vấn hàng đầu nhận thức rằng nếu Hiệp định được thực hiện đúng và đầy đủ thì chỉ có lợi cho Hồ Chí Minh và chính quyền của ông mà thôi. Hà Nội có thể bị ép buộc rút quân khỏi Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, và chấp nhận một sự chia cắt đất nước tạm thơi, nhưng nhìn chung họ vẫn rời Geneva trong một tư thế vững vàng. Bang Việt Nam (chính quyền thuộc Pháp ở Nam Việt – State of Vietnam) ở miền Nam là một thực thể yếu, với người lãnh đạo là Bảo Đại vốn có rất ít sự ủng hộ. Trong khi đó VNDCCH lại có sự ủng hộ quốc tế và một sự lãnh đạo tiên tiến, mạnh mẽ đã đánh bại người Pháp. Nếu Hiệp định Geneva được tiến hành và cuộc bầu cử 1956 được tổ chức, người Cộng sản sẽ có quyền hành điều khiển toàn đất nước.
    Nhằm ngăn chặn kết cuộc ấy, Washington nhanh chân xây dựng một hệ thống phòng thủ khu vực khi Hội nghị Geneva vừa kết thúc. Ngày 12/08/1954, NSC (Hội đồng An ninh Quốc gia của Hoa Kì) đã họp và quyết định rằng sự ủng hộ của Mỹ với cuộc chiến của Pháp đã làm họ mất “thể diện” nghiêm trọng. Nhằm lấy lại thể diện ấy, họ phải ngăn ngừa những sự thua thiệt hơn nữa ở Đông Nam Á. Nhiệm vụ ngay tức thời là thay thế Pháp như là người viện trợ tài chính và quân sự trực tiếp cho miền Nam Việt Nam. Tài liệu rút ra từ buổi họp đó, NSC 5429/2 (phê duyệt bởi Eisenhower ngày 20/08), đã đặt vấn đề đơn giản: “Mỹ phải bảo vệ vị trí và khôi phục lại thể diện của nó ở vùng Viễn Đông bằng một khởi đầu mới ở Đông Nam Á, phải ổn định tình hình ở đó nhanh nhất có thể nhằm phòng ngừa những mất mát hơn nữa về tay Cộng sản qua (1) mở rộng và bành trướng từ từ hoặc (2) xâm lược mở.” Tài liệu này kết luận với một khuyến nghị thành lập một hội đồng an ninh chung của Đông Nam Á và ủng hộ “hoạt động ngầm trên một quy mô lớn và có hiệu quả nhằm thực hiện các chính sách hiện thời”.
    John Foster Dulles đã nghĩ đến những điều tương tự. Vào tháng 9/1954, dưới sự hướng dẫn của ông ta, một tổ chức phòng thủ khu vực lỏng lẻo đã được thành lập với cái tên Tổ chức quân sự Đông Nam Á (SEATO). Tổ chức này có sự kết nạp thành viên lạ lùng: Mỹ, Anh, Pháp, Úc và New Zealand. Chỉ có 3 quốc gia châu Á chọn tham gia: Thái Lan, Phillipines và Pakistan (quốc gia sau cùng tham gia chủ yếu vì nó mong rằng SEATO có thể giúp nó chống lại kẻ thù lâu năm, Ấn Độ). Mỗi quốc gia hứa hẹn rằng trong trường hợp có một quốc gia hay lãnh thổ Đông Nam Á bị tấn công, nó sẽ đáp trả “tùy theo quy trình quy định trong Hiến pháp”. Nói cách khác, không có thành viên nào bị buộc phải làm gì quá nhiều. Trong thực tế, SEATO hầu như chẳng liên quan gì, vì không có thành viên nào của nó có chung nỗi sự hãi với Washington về cái gọi là “sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản” trong khu vực. Hầu như không liên quan, chứ không phải là tuyệt đối không: trong 12 năm tới đây, “quan chức Hoa Kì sẽ dùng cái có vẻ như là hiệp ước an ninh chung này để giải thích cho hành động can thiệp đơn phương của nó vào Việt Nam”, một sử gia đã nhận định.

    KẺ THẦN BÍ TẬP YOGA
    Đội ngũ của Eisenhower cũng đã di chuyển tích cực trong miền Nam Việt Nam trong những tháng đầu sau khi hội nghị Geneva kết thúc. Một trong những chỉ trích của chính phủ Hoa Kì đối với Pháp trong cuộc chiến là Paris chẳng bao giờ ủng hộ những nhà yêu nước chống cộng sản hồi đó, những người có thể trở thành một thử thách thật sự cho sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Bây giờ thì Mỹ đã có cơ hội sửa cái sai đó. Vào tháng 6, giữa lúc hội nghị Geneva đang họp, Hoàng đế Bảo Đại, với mong muốn có được sự ủng hộ của Mỹ đối với Bang Việt Nam, đã chỉ định Ngô Đình Diệm làm thủ tướng chính phủ. Bảo Đại xem Diệm như là một kẻ “khó khăn” bởi vì khuynh hướng cuồng tín của ông ta, nhưng Bảo Đại vẫn mong Washington ủng họ sự chống Cộng sản điên cuồng của Diệm. Một vài nhà quan sát đã xem Diệm như là “trong túi của Hoa Kì”. Đấy là một sự phóng đại, nhưng chắc chắn là các quan chức Mỹ đã mong rằng với Diệm, họ có thể thành lập được một pháo đài phi cộng sản ở miền Nam.
    Diệm là một kẻ khổ hạnh, được sinh trong một gia đình Công giáo ở cố đô Huế năm 1901. Ông ta vào học trường Quốc học danh tiếng và sau đó lấy bằng luật ở Đại học Hà Nội. Sau khi đi lính, ông ta đi nghĩa vụ và thăng tiến nhanh chóng, trở thành người đứng đầu nội các cho chính quyền Bảo Đại năm 1933. Ông ta xin từ chức một vài tháng sau đó, nhằm phản đối việc Pháp từ chối cho Việt nam nhiều tự chủ hơn.
    Trong hai thập kỉ sau đó, Diệm không hề hoạt động chính trị. Vốn là một người Công giáo nòi, ông ta hoàn toàn chống lại chủ nghĩa Cộng sản, và đến cuối 1945, ông ta từ chối lời đề nghị của Hồ Chí Minh nhằm cộng tác với Việt Minh. Đến năm 1950, Diệm từ chối lời mời của Bảo Đại làm thủ tướng chính phủ cho Bang Việt Nam, và ông ta du hành đến Nhật, châu Âu và Hoa Kì, và ông ta ở 2 năm ở Maryknoll Seminary, New Jersey. Sự vắng mặt lâu dài đối với quần chúng cũng như lối sống khổ hạnh và kín đáo của ông ta làm cho ông ta khó có thể trở thành nhà lãnh đạo một quốc gia. Tuy nhiên, cái tên của ông ta vẫn có một ảnh hưởng nhất định ở Việt Nam, và ông ta đã liên hệ với nhiều người Mỹ có ảnh hưởng khi còn ở Hoa Kì: Francis Cardinal Spellman, thẩm phán William O. Douglas, và nghị sĩ Mike Mansfield và John F. Kennedy. Vào giữa năm 1954, khi mà Việt Nam sắp bị chia cắt thành 2 miền bởi hiệp định Geneva, Diệm nhanh chóng quay về Sài Gòn. Lần này ông ta đã chấp thuận lời đề nghị của Bảo Đại.
    Những quan chức Mỹ không hào hứng mấy về quyền lực của Diệm, vì họ biết rõ bản chất kín đáo, kiêu hãnh của ông ta cũng như ông ta có rất ít sự ủng hộ của công chúng. Một nhà ngoại giao Mỹ gọi ông ta là “một nhà tiên tri mà chẳng có lời tiên tri nào” (a messiah without a message). Một người khác quan sát rằng Diệm “chẳng làm được gì ngoài việc lặp lại rằng giải pháp cho vấn đề Việt nam phụ thuộc vào trách nhiệm ngày càng nặng của Mỹ”. Một hồ sơ tâm thần của Diệm mô tả ông ta là nghi ngờ tất cả những lời khuyên của mọi người, trừ gia đình của ông ta. Ông ta hay dùng nhiều giờ để ngồi thiền một mình. Ông ta chẳng bao giờ thoải mái bên cạnh phụ nữ, và những nhà phân tích tình báo thậm chí còn nói rằng họ chẳng có bằng cớ nào cho thấy ông ta có một mối quan hệ tình dục nào.
    Tuy nhiên, mặc cho những điểm yếu đó, Diệm vẫn là ứng viên tốt nhất cho nhà lãnh đạo Nam Việt Nam dưới mắt các quan chức Mỹ, và thế là họ đặt cược vào ông ta. Một nhà phân tích của Mỹ tổng kết sự khó xử của Washington: “Chúng ta đã chuẩn bị chấp nhận một lời đề nghị nực cười rằng kẻ thần bí tập yoga kia có thể lãnh hết tất cả những trọng trách sắp tới, chỉ vì tiêu chuẩn những kẻ tiền nhiệm của ông ta quá thấp.”
    Ngay từ đầu, chính quyền đã đưa ra sự ưu tiên hàng đầu là xây dựng quân đội cho Nam Việt Nam. John Foster Dulles gọi nó là bước đi tất yếu đầu tiên trong việc xây dựng một chính quyền bền vững. Với sự rút lui của Pháp, sự hiện diện của một đội quân đầy kinh nghiệm và lớn mạnh ở miền Bắc, và sự bất ổn liên miên ở miền Nam, tất cả đều cần đến một đội quân hùng mạnh. Từ giữa 1955 đến 1961, viện trợ quân sự chiếm hơn 78% tổng số viện trợ của Mỹ đến miền Nam Việt nam.
    </div>
    </div>
    </div>

  5. #5
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    SỰ XÍCH MÍCH Ở PHƯƠNG TÂY
    Những dấu hiệu cho thấy vai trò ngày càng lớn của Mỹ trong chiến tranh, được làm rõ bởi sự viện trợ cho Diệm, đã gây ra những sự xích mích với Pháp vào những tháng cuối 1954 và năm 1955. Sự hợp tác Pháp-Mỹ ở Đông Dương đã luôn đầy những căng thẳng và không tin tưởng lẫn nhau, và sự xích mích này không dừng lại ở Geneva. Thủ tướng Pháp Mendes France muốn hợp tác với Washington càng nhiều càng tốt, và khi hội nghị Geneva kết thúc hai quốc gia nỗ lực hợp tác để xây dựng một chính quyền khả dĩ ở Sài Gòn, nhưng sự khác biệt mục tiêu đường dài và phương pháp hành động đã làm hỏng nỗ lực này. Cả hai phía đều thấy những điểm yếu của Ngô Đình Diệm, nhưng trong khi Mỹ vẫn tiếp tục hợp tác với ông ta, thì Paris lại muốn thay ông ta bằng ai khác ít chống Pháp hơn, cũng như có khả năng lãnh đạo một chính quyền hơn. Khi người Pháp trì trệ việc chuyển giao quyền lực cho Diệm cho đến tháng 12, những nhà hoạch định chính sách Hoa Kì cho rằng Paris đang cố gắng giữ lại quyền hành của họ ở miền Nam cũng như bắc cầu cho Hà Nội. Các quan chức Mỹ cũng biết rằng, Pháp đang trợ giúp cho các đối thủ chính trị của Diệm và cố gắng lật đổ ông ta. Như thế còn chưa đủ, sự xích mích Pháp-Mỹ còn bị đào sâu thêm bởi việc Pháp từ chối tham gia EDC (Cộng đồng Phòng thủ Châu Âu) một tháng sau hội nghị Geneva.
    Mà không phải chỉ có mỗi Pháp bất đồng với Mỹ về kết quả tốt nhất cho Đông Dương vào giữa 1954, và trên một phương diện rộng hơn, sự thỏa hiệp với Cộng sản. Chính quyền Anh, cũng tương tự thế, ngồi vào bàn hội nghị với một ý tưởng khác với Mỹ về những gì đáng lẽ nên diễn ra. London và Washington cùng đồng ý với nhau về việc nên kiểm soát sự bành trướng của Cộng sản ở Đông Nam Á, nhưng bất đồng về phương pháp hành động. Với người Anh, cuộc tổng bầu cử năm 1956 quy định bởi hiệp định Geneva cần phải xảy ra, ngay cả khi nó có nghĩa là một chiến thắng cho Hồ Chí Minh. Dưới con mắt của người Anh, một quốc gia Việt Nam Titoist (chủ nghĩa Cộng sản kiểu Josip Broz Tito) thống nhất là một kết quả vừa ý, nếu như phải chọn lựa với giải pháp thay thế là sự bất ổn liên miên và cuối cùng là chiến tranh. Khi Washington chuẩn bị phá hỏng hiệp định Geneva ngay sau khi hội nghị vừa kết thúc – thay ảnh hưởng của Pháp bằng ảnh hưởng của Mỹ và tìm cách biến đường ngưng chiến thành một biên giới vĩnh viễn – các quan chức Anh đã bực mình, và sự tức tối của họ đã tăng lên khi Diệm quyết định từ chối tổng tuyển cử 1956. Những sự liên tưởng của người Mỹ về “bài học Munich” đã không thuyết phục được người Anh; sự liên hệ này đơn giản là không thể áp dụng đối với Đông Nam Á những năm 50 được. Họ cũng không đồng ý với sự lưu ý của nhà Trắng về lí thuyết đôminô, rằng sự “mất” Việt Nam sẽ dẫn đến sự sụp đổ của toàn Đông Nam Á. Người Anh không nghĩ rằng kết quả của cuộc phiêu lưu của chính họ ở Malaya phụ thuộc vào những gì xảy ra ở Việt Nam.
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    Ngay từ giữa năm 1950, chúng ta đã thấy nhưng dấu hiệu đầu tiên cho những gì một thập kỉ sau trở thành đặc trưng của ý kiến quốc tế về vấn đề Việt Nam: sự cô lập của Mỹ bởi các thành viên khác của phương Tây. Cũng như trong trường hợp sau này, sự khác biệt không phải lúc nào cũng thấy được – trong cả hai thời kì, Anh đều cố gắng tránh đối đầu trực tiếp với Mỹ về vấn đề này – nhưng chúng (sự khác biệt) là có thật. Khi đó, ngay cả các quốc gia châu Á cũng nghi ngờ các mục tiêu của Mỹ. Nhớ lại rằng SEATO, thành lập vào năm 1954, chỉ gồm có 2 quốc gia Đông Nam Á, Thái Lan và Philippines. Ấn Độ và Indonesia, những quốc gia quan trọng nhất ở Nam và Đông Nam Á, đã từ chối gia nhập, cũng như là Burma.
    Geneva và kết cuộc của nó đã cho thấy rõ ràng những chính sách của Mỹ bị ảnh hưởng rất lớn từ những vấn đề chính trị trong nước của nó. Ở đây cũng có một sự liên hệ với thời kì 1963-65. Rõ ràng, một lí do mà chính quyền Mỹ cố hết sức để không phải dính vào hiệp ước Geneva chính là họ sợ rằng họ sẽ phải đối mặt với những phản ứng dữ dội từ những người chống Cộng công khai trong Nghị viện. Vừa mới 4 năm trước thôi, Truman đã bị chỉ trích nặng nề bởi vì “để mất” Trung Quốc, và sự lo sợ lặp lại vấn đề ấy nhất định là một gánh nặng to lớn đối với Eisenhower. Cái bóng của Joseph McCarthy vẫn còn quá lớn.
    Khi Hội nghị Geneva kết thúc, sự phản ứng trong nước có vẻ khá nhẹ. Nghị sĩ Cộng hòa William Knowland của California đã tuyên bố sự dàn xếp này là “chiến thắng to lớn nhất của những tên Cộng sản trong vòng 20 năm”, và Cardinal Spellman nói đến “hàng triệu người Đông Dương vừa mới bị phản bội”, những người mà “phải học đến sự nô lệ khủng khiếp từ những ông chủ Cộng sản của họ”. Tuy nhiên, nhìn chung thì sự phản ứng đối với hiệp định là không có mấy, tức là chính sách của Nhà Trắng đã có hiệu quả, hoặc là, vấn đề Việt Nam chưa làm bận tâm mấy những nhà chính trị, hoặc là cả hai.
    Ít nhất thì, những mối quan tâm chính trị ở trong nước đã làm cho những quan chức chính phủ viện đến viễn cảnh tận thế để biện hộ cho chính sách của họ, rồi chính điều này đã làm cho họ “ngây thơ” hơn thực sự.

    CHỦ NGHĨA THỰC TẾ CỦA MỸ ?
    Điều này mang chúng ta đến một điểm giống nhau nữa của thời kì 1954-55 và 1964-65: chủ nghĩa thực tế thống trị trong những nhà hoạch định chính sách hàng đầu cũa Mỹ. Những quan chức lâu năm biết rằng họ đang đối mặt với nhiều chướng ngại lớn trong việc xây dựng một quốc gia Nam Việt nam. Họ biết rằng Việt Minh là một đối thủ đáng gờm. Họ tin tưởng vào Diệm hơn là họ tin Pháp và Anh, nhưng không nhiều hơn là mấy; Eisenhower, như chúng ta đã thấy, đã nghi ngờ khả năng của ông ta (Diệm) ngay từ đầu: sự thiếu thực tế trong chính trị, sự cứng nhắc trong suy nghĩ, tôn giáo Công giáo trong một quốc gia mà đa số là Phật giáo. Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) , nơi có những bản phân tích tình huống chính trị và quân sự hết sức chính xác trong giai đoạn này, đã thường xuyên cảnh báo về những chướng ngại phía trước; tất nhiên không phải tất cả mọi cảnh báo này đều được nghe thấy, nhưng ít ra một số cảnh báo cũng đã lọt đến tai những quan chức cao cấp nhất.
    Trong một lúc nhất thời, John Foster Dulles đã cho rằng khả năng thành công của canh bạc Nam Việt là chừng 10% - chẳng phải là một dấu hiệu lạc quan gì. William J. Duiker, một người nghiên cứu cẩn thận về thời kì này, đã nói chính xác rằng chính quyền Eisenhower “bước vào cuộc thử nghiệm Diệm với con mắt mở to dè chừng”. Cũng hệt như tình huống một thập kỉ sau này, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ có những khác biệt với những người hoài nghi không phải ở việc chẩn đoán bệnh, cũng không phải ở việc tiên đoán bệnh, mà là ở việc kê đơn chữa bệnh. Trong cả 2 giai đoạn kê đơn chữa bệnh, họ (những nhà hoạch định chính sách) tỏ ra hết sức cứng nhắc, thiếu tưởng tượng và thiển cận.
    Tuy nhiên, mối liên hệ giữa cách suy nghĩ của các quan chức Mỹ ở Việt Nam thời kì đầu và giữa thập kỉ 50 với thời kì giữa 60, cũng như những hằng số quan trọng luôn hiện diện ở cả 2 thời kì, không thật sự quá rõ ràng. Những việc mà Truman và Eisenhower làm ở Việt Nam không phải là những việc hay ho gì, và họ có kha khá trách nhiệm cho cuộc chiến xảy ra vào những năm 1960-70 đã lấy đi hàng trăm ngàn mạng sống và tàn phá phần lớn Đông Dương. Các quyết định chính sách của họ đã đặt nền móng quan trọng cho những gì xảy ra sau đó. Tuy nhiên, sự đánh giá sai và thất bại chính sách trong giai đoạn sớm này có thể dễ dàng thông cảm và có lí hơn những chính sách sai lầm đưa ra trong những tháng quyết định 1963, 1964 và 1965. Những sự đánh giá căn bản – tầm quan trọng của Việt Nam, những chướng ngại phía trước, cái giá của việc rút quân – là giống nhau ở cả 2 giai đoạn, nhưng nếu như ở nửa đầu 1950 nó còn có lí phần nào, thì một thập kỉ sau nó hoàn toàn không còn là như vậy nữa (không có lí nữa). Nhìn lại mà nói thì, chính quyền Truman đã ở sai phía của lịch sử khi theo phe Pháp chống lại Việt Minh, nhưng quyết định viện trợ năm 1950 vẫn rất có lí khi mà người ta nghĩ về “cú sốc kép” năm 1949 – việc Xôviết nổ thử bom nguyên tử và chiến thắng của phe Cộng sản ở Trung Quốc – khi mà sự cộng tác của Pháp ở châu Âu vẫn còn quan trọng.
    Tương tự như thế, mặc dù các nhà chính sách Mỹ trong giai đoạn hậu Geneva đã sai lầm khi từ chối ý tưởng về một nước Việt nam Titô thống nhất, nhưng những lí do để họ làm vậy không hoàn toàn là sai lầm. Những thành công trong các chiến dịch chống Cộng ở Hy Lạp năm 1947, Iran năm 1953, Guatemala năm 1954 và Phillipines cũng trong cùng năm đó, lẽ tự nhiên, đã làm cho các quan chức Mỹ tin rằng họ sẽ thành công thêm lần nữa, rằng họ có thể dùng cách đó để tìm một điều gì tốt hơn là Titô-ít; nhưng vào những năm 1960s thì điều này rõ ràng đáng ngờ hơn nhiều. Eisenhower và Dulles đã quá vội bỏ quên bài học từ thất bại của Pháp, nhưng điều này vẫn dễ thông cảm hơn trong trường hợp của họ hơn là trường hợp của Kennedy và Johnson.
    Ngay cả quyết định hoàn toàn ủng hộ Diệm, điều gặp phải sự phản đối từ London, Paris và ngay cả một số quan chức Mỹ cao cấp (đáng kể nhất là Tướng J. Lawton Collins, đại diện đặc biệt của Mỹ tại Việt Nam với tư cách Đại sứ), cũng có thể hiểu được với những gì đang diễn ra lúc bấy giờ. Eisenhower và Dulles có thể trnah luận rằng, mặc dù có nhiều yếu điểm, sự cố chấp chống thực dân và đơn giản của Diệm có thể là tất cả những gì Nam Việt cần cho một người lãnh đạo. Hơn nữa, cả Pháp lẫn Anh hay bất cứ ai khác cũng không thể nghĩ ra được một thay thế nào cho Diệm, điều này làm chỉ trích của họ ít gay gắt hơn nhiều. Sau rốt, quyết định giữ một chân ở Nam Việt không phải là một quyết định vô lí vào năm 1954, nếu xét đến sự toàn cầu hóa của Chiến tranh Lạnh, thực tế nội bộ Mỹ, và cái giá có vẻ khá nhẹ nhàng – vài trăm cố vấn Mỹ, vài trăm triệu đô la viện trợ.
    </div>
    </div>
    </div>

  6. #6
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    41
    HÀ NỘI VÀ NHỮNG THỦ ĐÔ ĐỒNG MINH CỦA HỌ TÁI ĐÁNH GIÁ LẠI TÌNH HÌNH

    Hà Nội nhận thức đuợc rằng Johnson cũng kiên quyết chiến thắng ở Việt Nam hệt như nguời tiền nhiệm của ông ta. Hồ Chí Minh và các cộng sự đã từng có hi vọng sau khi chính phủ Diệm bị lật đổ và sau cái chết của Kennedy. Có lẽ họ hi vọng vào việc những tuần sau đó sẽ chứng kiến sự nổi dậy tức thời ở miền Nam nhằm ủng hộ tái hòa hợp với miền Bắc, hoặc là một sự lui quân của tổng thống Mỹ mới, hoặc cả hai.
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    Nhưng chẳng có điều nào xảy ra cả, và tại Đại hội thứ 9 của Đảng Lao động Việt Nam vào tháng 12/1963, các lãnh đạo phía bắc đã phân tích tình hình và tranh luận huớng đi vào thời điểm đó. Cuộc tranh luận xảy ra nảy lửa và quyết liệt. Một vài thành viên rõ ràng tán thành việc đưa quân đội chính quy Bắc Việt vào miền Nam để nhanh chóng khuất phục chính quyền miền Nam, trong khi số khác lại do dự làm bất cứ điều gì có thể gây căng thẳng đến mối quan hệ giữa Hà Nội và những đồng minh chính là Trung Quốc và Liên Xô, cũng như những điều có thể tăng thêm nguy cơ can thiệp sâu hơn từ phía Mỹ. Cuối cùng, Hội đồng Trung uơng đã chấp thuận một kế họach nhanh chóng củng cố sức mạnh của Việt Cộng với hi vọng đạt đuợc một buớc tiến triển quyết định trong thế cân bằng lực luợng và đưa đến thắng lợi trong một thời gian ngắn.
    Các nhà lãnh đạo Hà Nội đưa ra những quyết định này không bởi vì họ thấy rằng một cuộc đối đầu trực diện và toàn diện là không thể tránh đuợc, mà bởi vì họ hi vọng rằng một câu trả lời quyết liệt có thể ngăn chặn đuợc một cuộc đối đầu như thế xảy ra. Họ vẫn mong tránh leo thang chiến tranh mà có thể dẫn đến việc đưa lính lục quân Mỹ vào. Theo đó, họ tiếp tục, trong cuối năm 1963 và vào năm 1964, nghiêng về phuơng án giải quyết bằng thuơng luợng trong đó Mỹ sẽ rút quân khỏi Nam Việt Nam. Giải pháp đưa ra tại Đại hội 9 nói về khả năng cuộc cách mạng có thể phải trải qua một thời kì dài những “hình dạng và phuơng pháp đấu tranh phức tạp” truớc khi đạt đuợc chiến thắng chung cuộc, như một sử gia đã nói “là một phép ẩn dụ đến một giải pháp thuơng luợng”. Chiến thắng chung cuộc sẽ đạt đuợc qua một quá trình từng buớc tăng dần, một “quá trình chuyển tiếp” với thời gian dài không xác định.
    Các lãnh đạo đồng minh phuơng Tây của Mỹ cũng nhìn thấy sự quyết tâm của Mỹ vào cuộc chiến, và điều này làm họ lo lắng. Dù đồng cảm với Washington ở một vài điểm trong những mục tiêu rộng lớn của họ đối với cuộc chiến, đa số các chính phủ đều không cho rằng những mục tiêu đó có thể thực hiện đuợc với một cái giá phải chăng – và họ cũng không cho rằng nên cần thiết phải thử. Kết quả là, vào năm 1964 sự ủng hộ của thế giới với chính sách của Mỹ ở Việt Nam giảm mạnh, đến mức mà vào mùa xuân năm đó Mỹ đã bị gần như cô lập trong vấn đề Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế.
    Vì sao sự ủng hộ lại giảm trong năm đó? Điều quan trong nhất có lẽ là những tiến triển ở trong Nam Việt Nam. Năm đó đánh dấu một điểm thấp lịch sử trong 10 năm của VNCH, khi mà cả gia tài của VNCH và tinh thần chiến đấu của QLVNCH (ARVN) đều giảm thảm hại. Sự chán ghét chiến tranh và ý tuởng “trung lập” (trong tình huống này, từ này có nghĩa là một sự kết thúc chiến tranh nhanh chóng với bất cứ điều kiện nào) trong nông dân và nhiều cư dân thành thị trở nên phổ biến cực kì. Vào tháng 1 và 2, nguời ta có thể nhận thấy nhiều bằng chứng cho thấy những nhà quyết định chính sách Washington muốn chiến tranh hơn là đa số dân Nam Việt mà họ muốn giúp; và từ đó đến cuối năm, những bằng chứng lại còn rõ ràng hơn. Ngay cả Nguyễn Khánh, nguời chiếm lấy quyền lãnh đạo ở Sài Gòn sau một vụ đảo chính không đẫm máu vào cuối tháng 1, cũng dần dần mất điểm với nguời Mỹ vì không đủ lửa để thực hiện chiến tranh. Giống như chính quyền Diệm và chính quyền quân đội của Minh truớc đó, Khánh cũng biết đuợc rằng khả năng giành lấy sự ủng hộ trong nuớc của ông ta có liên hệ trực tiếp đến khả năng giữ lấy một khoảng cách, một sự tự do nhất định đối với Hoa Kì.
    Những thay đổi ở bên ngoài Nam Việt cũng ảnh huởng đến cách suy nghĩ cua các đồng minh về Đông Duơng và những gì nên xảy ra ở đó. Sự chia rẽ Trung-Xô đã trở nên rộng hơn và sâu hơn vào năm 1963, và trong tâm trí nhiều nguời quan sát thì buớc phát triển này mở ra nhiều cơ hội dẫn đến một giải pháp chính trị cho cuộc xung đột ở Việt Nam. Sự căng thẳng Xô-Mỹ giảm cũng gợi ý cho một vài nguời, bao gồm Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc U Thant, rằng xung đột ở các quốc gia thế giới thứ 3 không cần phải quá quan trọng trong chính sách của các siêu cuờng như chúng đã từng. Thế là, các lãnh đạo phuơng Tây đã phản ứng khá bình thản khi mà chính quyền Pháp quyết định công nhận CHND Trung Hoa vào tháng 1/1964. Trong khi các quan chức Mỹ cố làm Paris nản chí đối với kế họach (công nhận CHND Trung Hoa) thì các quan chức Canada và Anh lại trấn an Pháp rằng họ không có phản đối gì đối với chuyện này – thủ tuớng Canada, Lester Pearson, thậm chí còn nói với Charles de Gaulle rằng ông ta hi vọng Ottawa cũng có thể công nhận Bắc Kinh sớm.
    Việc Pháp tiếp tục chống đối chính sách của Mỹ ở Đông Nam Á làm một số quan chức Mỹ lo ngại – nhất là trong khi Pháp vẫn còn giữ một sự ảnh huởng văn hóa và xã hội đáng kể ở Việt Nam – nhưng họ lo lắng hơn về việc chia rẽ với Anh trong cuộc chiến. Trong những tháng đầu 1964, chính quyền London càng thêm lo lắng khi mà họ biết rằng Mỹ đang nghiêm túc cân nhắc khả năng buớc vào cuộc chiến với Bắc Việt nhằm nỗ lực xoay chuyển cục diện. Các quan chức Anh từ trên xuống duới đều tin rằng những hành động như thế sẽ chẳng ảnh huởng gì đến cuộc bạo loạn ở miền Nam, và rằng nó chỉ cho Trung Quốc và Liên Xô cái cớ để tăng cuờng sự trợ giúp với Hà Nội. Một cuộc điều tra bởi Hội đồng Tình báo Vuơng quốc Anh vào cuối tháng 2 kết luận rằng ngay cả khi tất cả các mối liên hệ giữa miền Bắc và Việt Cộng ở miền Nam bị cắt đứt (điều mà bản báo cáo gọi là “bất khả thi”) cũng sẽ chẳng làm đuợc gì nhiều để đánh bại vụ nổi loạn, do khả năng tự cung cấp, tự sống sót của họ. Hơn nữa, một cuộc tấn công vào miền Bắc sẽ làm cho mối quan hệ Bắc Kinh – Hà Nội trở nên khắng khít hơn, tăng cuờng sự trợ giúp từ Trung Quốc và Xôviết cho VNDCCH, và sẽ làm cho cộng đồng quốc tế buộc tội rộng rãi hơn.
    Hơn nữa, nguời Anh bực mình rằng nguời Mỹ đã hầu như chẳng làm gì để ngăn chặn vụ đảo chính đối với chính quyền quân đội của Minh – trong con mắt của London, Minh là một nhà lãnh đạo tốt hơn Khánh nhiều, và hai cuộc đảo chính liên tiếp như thế chỉ làm tăng thêm sự gián đoạn chính quyền và sự hỗn loạn ở cấp hành chính khu vực. Mặc dùng vậy chính quyền London vẫn không hề sẵn sàng đối đầu với Mỹ về vấn đề Việt Nam, y như hồi 1963 – sự mất mát là quá lớn, nhất là khi Mỹ có vai trò quan trọng trong việc dựng dậy đồng bảng Anh đang trầy trật – dù sao, chính quyền Johnson cũng không thể tin tuởng vào Vuơng quốc Anh quá nhiều khi mà nó chỉ ủng hộ một cách chiếu lệ cho chính sách của Mỹ. Gần như chắc chắn, sự chống đối của London đối với việc ném bom miền Bắc có một vai trò quan trọng trong quyết định của Johnson vào đầu tháng 3, hoãn lại những hành động như thế (ném bom miền Bắc) trong thời gian gần.




    TÌM KIẾM “NHIỀU LÁ CỜ” HƠN NỮA
    Với việc chiến tranh sớm mở rộng ra khỏi bàn đàm phán, các quan chức Mỹ tìm kiếm những cách khác để chống lưng chính quyền Sài Gòn và thể hiện quyết tâm của họ cho Hà Nội xem. Một trong những cách họ làm thế là bằng chiến dịch “Thêm nhiều lá cờ”, một nỗ lực đuợc thực hiện bởi Bộ Ngoại giao vào tháng 4/ 1964 nhằm tăng sự đóng góp của các đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến.
    Chiến dịch này là một thất bại ngay từ đầu. Khi Dean Rusk đề nghị các thành viên NATO cho ít nhất là một ít tài liệu và sức người biểu tuợng cho cuộc xung đột vào cuộc gặp gỡ của các đồng mih tại The Hague tháng 5/1964, ông ta tìm thấy một câu trả lời hoàn toàn kém hào hứng. Vài thành viên đồng ý cung cấp một luợng tiếp viện phi quân sự vô cùng khiêm tốn cho chính quyền Nam Việt, nhưng tất cả đều từ chối cung cấp bất kì một đội quân nào. Khi cuộc họp sắp kết thúc, Rusk ra lệnh cho đội ngũ đại sứ quán ở các thủ đô chính thúc ép các chính quyền tham gia nhiều hơn vào cuộc xung đột. Ví dụ, đại sứ quán ở Bonn huớng dẫn các nhân viên thông báo với chính quyền Tây Đức rằng sự đóng góp của họ vào cuộc chiến là không đủ; rằng một đại sứ quán Tây Đức ở Sài Gòn cần được xây dựng ngay lập tức và “với sự ủng hộ hợp lí”; và rằng Bonn cần phải thực hiện một “sự tham gia công khai với nhiều hơn nữa tiếp viện đến GVN (Nam Việt Nam)”. Nguời Đức loại ngay một gói tiếp viện lớn và không hề tham gia dù chỉ là một phần rất nhỏ. Ở London, các quan chức, tuơng tự thế, cũng chống lại một sức ép mạnh của Mỹ lên việc Anh phải tham gia nhiều hơn vào cuộc chiến.
    Canada cũng thế, họ đưa ra những mối quan tâm về chiều huớng mà chính sách của Mỹ đang đi theo. Khi các quan chức Mỹ và Canada gặp nhau ở Ottawa vào cuối tháng 5 để đưa ra một thông điệp (thông điệp này nhà ngoại giao Canada là J. Blair Seaborn sẽ chuyển tải đến những nguời Bắc Việt trong một cuộc thăm Hà Nội vài tuần sau đó), bộ truởng Bộ Ngoại giao Canada là Paul Martin đã bày tỏ những mối quan ngại sâu sắc. Nguời Canada sẽ không xem nhẹ việc để xảy ra một cuộc chiến toàn diện, Martin đã nói với William Sullivan của Bộ Ngoại giao Mỹ như thế, và ông ta kiên quyết rằng Seaborn không đuợc “đồng ý với hay là gắn liền chính quyền Canada với những thông điệp” mà ông ta sẽ gửi đi. Martin nói thêm rằng ông đồng ý với bài báo mới nhất nhà báo Mỹ Walter Lippmann, trong đó Lippmann nói rằng ngay cả một cuộc dàn xếp chính trị không hoàn hảo, thông qua hội nghị, cũng nên đuợc chuộng hơn là theo đuổi một cuộc chiến đắt đỏ và không thể chiến thắng đuợc. Martin hỏi Sullivan: làm thế nào mà LBJ có thể tránh đuợc một cuộc hội nghị, khi mà giải pháp thay thế duy nhất còn lại là can thiệp quân sự trực tiếp? Câu trả lời của Sullivan: đó là những giải pháp cực đoan, và chính quyền của ông ta đang hy vọng tìm ra một giải pháp trung gian. Nhưng ông ta cũng biết rằng việc can thiệp quân sự có lẽ là phuơng án dễ xảy ra hơn tại thời điểm đó. Martin vẫn không bị thuyết phục. Ông lặp lại sự bất đồng của Canada đối với việc can thiệp trực tiếp và lặp lại quan điểm của ông rằng một hội nghị, có thể bao gồm cả Đông Duơng, là giải pháp tốt nhất.
    Để chắc chắn, sự thiếu nhiệt tình của các đồng minh trong việc tham gia vào ủng hộ chính quyền Sài Gòn không phải là đồng nhất. Úc tăng cuờng sự tham gia về kinh tế và sức nguời một cách đáng kể vào đầu tháng 6 và hối thúc Washington tiếp tục vững tiến trong cuộc chiến. Nhưng nguời Úc là đặc biệt. Những chính quyền khác đều từ chối cung cấp sự trợ giúp, hoặc là hứa hẹn mơ hồ về những sự trợ giúp có hạn trong tuơng lai, những sự trợ giúp này thường mang tính biểu tuợng và cuối cùng không đuợc giữ. Các nhà phân tích của Washington hiểu quá rõ rằng những thái độ này cho thấy thêm nhiều bằng chứng nữa về sự nghi ngờ của quốc tế về sự quan trọng của Đông Duơng đối với an ninh của phuơng Tây, cũng như những mối quan tâm về mối nguy của một cuộc chiến leo thang, và rằng bất cứ sự mở rộng cuộc chiến nào của Mỹ cũng sẽ là một sự đề nghị liều lĩnh.
    Ngay cả ở Châu Á, Washington cũng không thể trông chờ vào sự ủng hộ mạnh mẽ. Nhật thì bi quan về VNCH và chống lại sự leo thang chiến tranh, cũng như Pakistan, một thành viên SEATO. Burma và Ấn Độ cũng thích những cuộc thuơng luợng dẫn đến trung lập hoá hơn, trong khi ở Campuchia, hoàng từ Sihanouk tuyên bố từ cuối năm 1963 kêu gọi trung lập hoá cho đất nuớc của ông ta và phần còn lại của Đông Duơng.

    VỊNH BẮC BỘ
    Những vấn đề trong chiến dịch “Nhiều lá cờ hơn nữa” trong mùa hè 1964 càng củng cố thêm ý muốn hoãn lại bất cứ sự leo thang chiến tranh nào của chính quyền Johnson. Nhưng nó không phải là nhân tố chính trong quyết định đó – quan trọng hơn là do ý muốn mãnh liệt của Johnson nhằm tránh bất cứ một biện pháp cực đoan nào ở Việt Nam (dù là theo bất cứ huớng nào) truớc cuộc bầu cử mùa thu, cũng như do mối quan tâm của Hoa Kì rằng chính quyền Khánh ở Sài Gòn quá yếu để có thể chịu đựng một cuộc chiến rộng rãi hơn. Khánh, từ khi nhận quyền lực hồi cuối tháng 1, đã luôn phải vật lộn với việc hợp pháp hoá chính quyền của ông ta và mang lại sự kết dính và động lực cho QLVNCH. Vào tháng 6 và 7 ông ta bắt đầu hối thúc Hoa Kì mở rộng chiến tranh ra miền Bắc; nguời Mỹ, dẫn đầu bởi lãnh sự mới ở Sài Gòn, Tuớng Maxwell Taylor, đã phản đối những điều này. Họ làm thế không phải vì họ đổi cách suy nghĩ của họ về sự cần thiết mở rộng chiến tranh. Nguợc lại, một cuộc thăm dò giữa những chính trị gia kì cựu cho thấy rằng một hành động quân sự sẽ cần thiết vào một thời điểm nào đó. Nhưng thời điểm đó vẫn chưa tới.
    Đến cuối tháng 7, Khánh tuyệt vọng. Ông ta bắt đầu cảnh báo rằng ông ta có thể từ chức nếu ông ta không thể khiến Washington nhảy vào tham chiến ở miền Bắc. Những nhà quan sát khác cũng thấy các sự kiện vào cuối tháng 7 đang đến cực điểm. Một vài nguời chỉ vào một bài báo trên tờ Saigon Daily News vào ngày 26 tháng 7 trong đó nói rằng, nếu không có một cuộc chiến vào miền Bắc, sự trung lập hoá sẽ chiến thắng. “Ai có thể trách họ (nguời dân), nếu như họ sụp đổ truớc sức thu hút của lời hứa của de Gaulle?”, tờ báo hỏi như thế. Vào ngày 30/7, tờ báo Saigon Daily News nói rằng nguời Nam Việt Nam đã mệt mỏi phải chết vì những lí do rõ ràng là vô vọng. Các quan chức Canada và Anh ở Sài Gòn quan sát rằng, vào cuối tháng 7, Khánh đã nhận ra ông ta thiếu sự uy quyền và kinh nghiệm để có thể lãnh đạo nguời của ông ta qua một cuộc chiến dài và vì thế, tìm kiếm một giải pháp cực đoan: hoặc tấn công miền Bắc, hoặc dàn xếp thuơng luợng với NLF.
    Một điều gì đó phải xảy ra, tất cả mọi quan sát viên đều đồng ý như thế. Trong vòng vài ngày, điều đó xảy ra. Vào những ngày đầu tiên của tháng 8/1964, một cuộc khủng hoảng ở Vịnh Bắc Bộ ngoài bờ biển miền Bắc Việt Nam đã mang lại sự sử dụng quân sự trực tiếp dầu tiên của thuỷ quân và không quân Mỹ chống lại Bắc Việt. Vào ngày thứ 2 và 4 của tháng 8, 2 tàu khu trục Mỹ ở vịnh đã báo cáo lại những đợt tấn công của tàu tuần tra Việt Nam. Cuộc tấn công đầu tiên – vào tàu Maddox – đến sau một vụ đánh càn của quân Nam Việt trên hải phận của VNDCCH, vốn là một phần của chuơng trình OPLAN 34-A nhằm mục đích ép Hà Nội ngừng tiếp tế cho quân NLF. Các quan chức Bắc Việt có vẻ như đã cho rằng thuỷ quân Mỹ cũng đã tham gia vào cuộc càn quét. Ba quả thuỷ lôi đuợc bắn vào Maddox, nhưng không chiếc nào trúng mục tiêu. Để trả lời, Maddox đã bắn trả, làm hư hại 2 tàu và đánh chìm tàu thứ 3.
    Khi mà tin về vụ đụng độ đến Nhà Trắng, Johnson gửi ngay một thông điệp cảnh báo đến Hà Nội nói về những “hậu quả nặng nề” có thể xảy ra nếu như những vụ tấn công “vô cớ” như thế tiếp tục. Ông ta cũng gửi một chiếc tàu khu trục thứ 2, chiếc C. Turner Joy, đến gia nhập với Maddox tuần tiễu vịnh Bắc Bộ. Hai ngày sau, vào ngày 4/8, thuyền truởng chiếc C. Turner Joy nghĩ rằng tàu của ông ta đang bị bắn và ra lệnh cho thuỷ thủ bắn trả. Họ chẳng bắn trúng gì cả, có lẽ bởi vì chẳng có ai tấn công họ cả. Thuyền truởng tàu Maddox hối thúc nhanh chóng xem xét lại vụ tấn công truớc khi đưa ra quyết định trả đũa.
    Johnson không thèm nghe theo. Với gần như không có chút số liệu thực tế nào, tổng thống ra lệnh cho hai vụ không kích vào một số căn cứ tàu tuần tra và một kho chứa dầu của Bắc Việt, và tuyên bố trên truyền hình rằng: “Sự hung hăng mà không bị đáp trả là một sự hung hăng ngoài kiểm soát”. Vụ không kích, mô tả như là “giới hạn về quy mô”, bao gồm 64 luợt ném bom phá huỷ hoặc làm hư hại 25 tàu tuần tra. Thêm vào đó, Johnson ra lệnh cho các trợ lí của ông ta bắt đầu chuẩn bị đưa vào một quyết định để trình ra truớc quốc hội về việc sử dụng vũ lực. Vào ngày 7/8, sau một cuộc tranh luận ngắn, Quốc hội đã cho phép tổng thống quyền rộng rãi để “thực hiện bất kì biện pháp nào cần thiết” để bảo vệ lực luợng Mỹ ở Đông Nam Á và ngăn chặn sự hiếu chiến. Chỉ có 2 nhà làm luật bỏ phiếu chống: Wayne Morse của Oregon và Ernest Gruening của Alaska, cả 2 đều là Dân chủ.
    Johnson hài lòng với quyền hạn rộng rãi mà ông ta đuợc cấp cho. “Giống như áo ngủ của bà hồi còn nhỏ vậy”, Johnson so sánh, “nó che chắn mọi thứ”. Điều hài lòng hơn nữa là công chúng cũng đồng ý với sự chấp thuận của Quốc hội – qua đêm hôm sau, tỉ lệ ủng hộ của ông ta qua thống kê Louis Harris tăng thêm 30 phần trăm. Đối với đa số quần chúng, những nguời không nắm rõ tình hình những gì đang xảy ra ở Nam Việt Nam, vụ tấn công của Bắc Việt và sự trả đũa quy mô lớn của Hoa Kì rõ ràng là đáng thoả mãn. Tất nhiên, cũng như những thành viên khác của Quốc hội, họ không đuợc kể toàn bộ câu chuyện – họ không biết rằng kế hoạch OPLAN 34-A lúc đó đang đuợc thực hiện chống lại Bắc Việt, cũng như không biết đến những kế hoạch leo thang chiến tranh đang nằm chờ sẵn. Ít nguời hiểu đuợc ngầm ý của những hành động của chính phủ. Và đó chính là điều mà tổng thống và những trợ lí của ông ta mong muốn. Trong cái nhìn của họ, họ không thể nào làm tốt hơn thế đuợc nữa: Johnson bây giờ không những đang nắm giữ một quyền hạn không thể vuợt qua để có thể gây chiến trên một vùng biển ngoại lai xa xôi, mà sự ủng hộ dành cho ông ta cũng tăng vọt nốt. “Tôi chẳng những chỉ gây phiền phức cho Hồ Chí Minh, mà tôi còn cắt luôn mỏ ông ta nữa”, Johnson nói với một nhà báo như thế vào ngày sau vụ không kích.
    Không hẳn là như thế. Nguời Bắc Việt tất nhiên là bị đánh động bới việc Hoa Kì khoe sức mạnh cơ bắp ở vùng Vịnh Bắc Bộ, và họ tin rằng đó là buớc đầu tiên của một kế hoạch leo thang chiến tranh của Mỹ. Họ trả lời bằng cách tăng cuờng hơn nữa viện trợ nguời và của vào cuộc xung đột ở miền Nam. Trung đoàn đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (PAVN – People’s Army of Vietnam) đã bắt đầu hành quân trên đuờng mòn Hồ Chí Minh vào tháng 9, và trung đoàn thứ 2 cũng đã theo sau một tháng sau đó. Hà Nội cũng bắt đầu nâng cấp đuờng mòn để có thể cho phép nguời và của di chuyển xuống phía nam dễ dàng hơn, và tăng cuờng phòng thủ đất đối không ở miền Bắc. Nguời Trung Quốc, trong lúc đó, trả lời vụ tai nạn bằng cách bắt đầu mở rộng tuyến đuờng sắt ở phía Bắc biên giới với Việt Nam; kết quả là quân Bắc Việt có thể dễ dàng nhận lấy tiếp viện hơn trong truờng hợp cảng Hải Phòng không thể sử dụng đuợc nữa. Sau rốt thì, như sử gia Edwin E. Moise đã tranh luận, khi mà chính quyền Johnson thật sự bắt đầu leo thang chiến tranh vào tháng 2 và 3/1965, thì quân địch đã “mạnh hơn, chuẩn bị kĩ càng hơn, đuợc trang bị tốt hơn so với chính họ nếu như vụ Vịnh Bắc Bộ không bao giờ xảy ra”.
    Chẳng những thế, ném bom trả đũa cũng không có đuợc tác dụng mong muốn lên thái độ của quân Nam Việt. Nguời Mỹ từng hi vọng rằng một sự trả lời mạnh mẽ từ phía họ có thể giúp củng cố lòng tin chính quyền Nguyễn Khánh cũng như nâng cao sĩ khí ở miền Nam, nhưng chẳng có điều gì tuơng tự thế xảy ra cả. Trong nửa cuối tháng 8 và tháng 9, các quan chức Mỹ ở Sài Gòn và Washington tiếp tục lo lắng về sự thiếu ủng hộ từ công chúng của Nguyễn Khánh, cũng như sự chán ghét chiến tranh tiếp tục tăng từ cả vùng thành thị và nông thôn của Nam Việt. Trong một khoảng thời gian cuối tháng 8, có vẻ như VNCH chỉ đơn giản là ngừng tồn tại: Khánh từ chức, rồi sau đó hứng lấy một vụ suy sụp tinh thần và thể chất chỉ vài ngày sau đó, sau đó chịu thua sức ép từ Mỹ và nhận lại quyền lực sau đó. Trong khi đó, những sự căm ghét và nghi ngờ vốn đuợc hâm nóng từ lâu giữa cộng đồng Thiên Chúa giáo và Phật giáo bắt đầu diễn ra trên đuờng phố ở một số thành phố, và sinh viên thì xuống đuờng biểu tình với số luợng lớn, ném đá, chai lọ và hô to “Nguyễn Khánh xuống đi”. Trên chiến truờng, quân Việt Cộng lại có thêm vài chiến thắng dễ dàng truớc một QLVNCH mất hết nhuệ khí.
    Ít ra, Nhà Trắng cũng có thể đuợc an ủi bở 1 điều: sự trả lời quyết liệt của Mỹ ở Vịnh Bắc Bộ đã loại vấn đề Việt nam ra khỏi cuộc đua tổng thống vào mùa thu đó một cách hiệu quả. Nguời chạy đua hàng đầu của phe Cộng hoà, Barry Goldwater, đã dùng mấy tháng hè để ủng hộ một sự biểu diễn sức mạnh Mỹ mạnh mẽ hơn nữa trong cuộc chiến; và bây giờ khi Johnson đã thực hiện điều đó, dù chỉ là ngắn hạn, Goldwater cũng khó có thể đem điều đó ra bắt bẻ đuợc nữa. Trong những tuần dẫn đến cuộc bầu cử, Johnson đã hứa tiếp tục ủng hộ Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh nhưng không gửi các chàng trai Mỹ đến một cuộc chiến châu Á. Đó là một thông điệp trấn an, và nó đã giúp Johnson có một chiến tháng áp đảo – ông đã thắng 44 bang và 61% phiếu bầu, và luợng ủng hộ của ông là đông nhất trong lịch sử Hoa Kì. Đảng Dân Chủ thêm vào đuợc 2 ghế ở Thuợng Viện, tổng cộng là 68 (trong khi Cộng hoà có 32), và ở Hạ Viện có thêm 37 ghế, tổng cộng là 297 (trong khi Cộng hoà có 140).
    </div>
    </div>
    </div>

  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Đây sẽ là nơi tập họp các nhận định cá nhân người dịch về cuốn sách, cũng như ghi lại một số quote tiêu biểu trong cuốn sách để mọi người có thể tham khảo nhanh mà không phải đọc toàn bộ cuốn sách


    Nhận định cá nhân

    Đây là một cuốn sách hay về nguồn gốc chiến tranh Việt Nam, được viết bởi một người Mỹ, cho sinh viên Mỹ đọc. Quyển sách nhận định khá trung thực và khách quan về tất cả các phía: VNDCCH, VNCH, Mỹ và cộng đồng quốc tế. Ngoài ra, quyển sách còn cung cấp cũng như xác nhận một vài thông tin đáng giá về cuộc chiến Việt Nam mà có thể nhiều người còn chưa biết.

    Một số đoạn trích tiêu biểu

    Về Hồ Chí Minh


    Hồ Chí Minh muốn Việt Minh theo đuổi một mục tiêu kép: độc lập dân tộc và cải cách xã hội toàn diện. Tuy nhiên, ông đặt nặng mục tiêu đầu tiên hơn. Ông tin rằng, giải phóng dân tộc là vấn nạn lớn nhất đối với người Việt Nam, và ông thấy Việt Minh cần phải là một phong trào quần chúng, yêu nước. Sự nhấn mạnh này có thể thấy trong cái tên của tổ chức: nó không chỉ nhấn mạnh vấn đề độc lập, mà còn thay từ “Đông Dương” bằng một từ nhiều cảm xúc hơn, “Việt Nam.”

    Và Hồ Chí Minh có cơ sở khi tin rằng sự cộng tác Mỹ-Việt Minh có thể được tiếp tục trong cả thời bình. Trong thời gian ăn mừng ngày hôm đó, một số máy bay Mỹ đã bay ngang quảng trường Ba Đình, và một số quan chức quân đội Mỹ đã đứng cùng Võ Nguyên Giáp và các lãnh đạo Việt Minh khác trên khán đài, khi mà lực lượng vũ trang của Việt Minh diễu hành ngang qua. Một ban nhạc Việt đã chơi bài The Star Spangled Banner (quốc ca Mỹ). Đến tháng 10, một Hiệp hội Bằng hữu Việt Mỹ đã được thành lập công khai ở Hà Nội. Hơn nữa, Hồ Chí Minh còn biết rằng trong những năm đầu, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt (FDR) đã cho thấy sự ủng hộ đối với độc lập của Đông Dương khi ông cho rằng sự cai trị của Pháp là bóc lột và vô trách nhiệm. Cái nhìn của Roosevelt đến từ cái nhìn khinh thường đối với Pháp trong cuộc chiến chống lại phe Trục, cũng như do ông không thích de Gaulle, lãnh đạo của Pháp Tự do trong suốt cuộc chiến và tổng thống đầu tiên của chế độ Đệ tứ Cộng hòa. FDR cho rằng de Gaulle kiêu căng và ngạo mạn, và không thích cách mà người Pháp tìm cách khôi phục lại sự vĩ đại của họ sau chiến tranh. Sau cùng thì, lãnh đạo Việt Minh có vài lí do để mong sự ủng hộ từ Mỹ khi họ tìm cách củng cố quyền lực.
    Về thái độ của Pháp đối với VN trước chiến tranh 1945-1954


    Đối với đa số người Pháp, chiến tranh thật là khó tưởng tượng ra, nhưng phương án còn lại, trao trả độc lập cho “những kẻ da vàng bé nhỏ” (les jaunes) có thể dễ dàng bị khuất phục, lại còn khó tưởng tượng hơn. Chính quyền Pháp không hề nhượng bộ trong cuộc thương lượng. Những vấn đề cũ vẫn không thay đổi: người Việt Nam muốn độc lập và một sự liên kết yếu ớt với Liên hiệp Pháp; trong khi Paris tìm kiếm một chính quyền Việt Nam nhưng dưới sự hướng dẫn của Pháp, và quyền lực tuyệt đối vẫn là của người Pháp – nói cách khác, người Pháp vẫn sẽ nắm quyền điều khiển những bộ quan trọng. Ngày qua ngày, tuần qua tuần, khoảng cách giữa Hồ Chí Minh và người Pháp vẫn không hề hẹp lại một chút nào.
    Về quan hệ giữa VNDCCH và quốc tế trong thời kì 1945-54


    Chẳng ngạc nhiên mấy khi mà chính quyền Truman bấy giờ đã làm ngơ không ít hơn 8 lời yêu cầu trợ giúp từ Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh và các tướng lãnh chính của ông ta là những người cộng sản, và có những mối quan hệ từ trước với Xôviết. Họ cũng là những nhà yêu nước thực thụ, những người đã chiến đấu trước tiên để đẩy lui người Nhật, và sau đó, khi Tokyo đầu hàng vào giữa năm 1945, đã ngăn Pháp thành lập lại sự cai trị của nó trên đất nước; tuy nhiên điều này chẳng hề làm những thế lực ở Washington bận tâm.
    Thái độ của Mỹ tại Geneva


    Tuy nhiên, chính quyền Eisenhower không cảm thấy như vậy. Đại diện của Mỹ ở Geneva, thư kí liên bang John Foster Dulles, có một mối dự cảm nặng nề về cuộc thương thuyết, và ông ta khuyến khích Pháp tiếp tục cuộc chiến ở Đông Dương vì một “thế giới tự do”. Người Pháp, dưới triều thủ tướng mới Pierre Mendes France, từ chối, và vào tháng 7 một hiệp ước hòa bình đã được kí. Nhưng, vị trí của Hoa Kì trong cuộc nói chuyện đã ảnh hưởng mạnh đến các điều khoản trong hiệp định, và đặt nền móng cho một cuộc chiến mới. Hiệp định Geneva đã mang đến dấu chấm hết cho cuộc chiến Việt – Pháp, nhưng một sức mạnh phương Tây mới đã sẵn sàng nhảy vào.

    Hà Nội có thể bị ép buộc rút quân khỏi Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, và chấp nhận một sự chia cắt đất nước tạm thơi, nhưng nhìn chung họ vẫn rời Geneva trong một tư thế vững vàng. Bang Việt Nam (chính quyền thuộc Pháp ở Nam Việt – State of Vietnam) ở miền Nam là một thực thể yếu, với người lãnh đạo là Bảo Đại vốn có rất ít sự ủng hộ. Trong khi đó VNDCCH lại có sự ủng hộ quốc tế và một sự lãnh đạo tiên tiến, mạnh mẽ đã đánh bại người Pháp. Nếu Hiệp định Geneva được tiến hành và cuộc bầu cử 1956 được tổ chức, người Cộng sản sẽ có quyền hành điều khiển toàn đất nước.

    Thế là, Hồ Chí Minh chỉ giải quyết được một nửa quốc gia, trong khi quân đội của ông đã chiếm ưu thế trên toàn quốc gia. Tại sao ông lại làm như vậy? Nói đơn giản là, bởi vì những “người chơi” chính ở Geneva đã không cho ông bất cứ một phương án thay thế thực sự nào. Quan chức Mỹ đã có một quan ngại sâu sắc về việc đến Geneva, nhưng khi đến nơi, họ đã chơi một trò chơi ngoại giao khôn ngoan. Họ tham dự vào cái mà John Foster Dulles gọi là ngoại giao kiểu “hành động níu giữ” nhằm ngăn chặn một sự sắp xếp “dâng Đông Dương cho Việt Minh”. Cụ thể là, Washington tiếp tục nửa úp nửa mở đe dọa can thiệp quân sự nếu như họ không hài lòng về những điều khoản của hiệp định, và nhìn chung là bắt những nhà đại biểu khác phải đoán mãi về kế hoạch thực sự của họ. Hai cường quốc Tây phương khác, Pháp và Anh, không muốn Mỹ can thiệp quân sự vào Đông Dương, và cũng không muốn cô lập Mỹ quá đáng vào Việt Nam – sẽ có quá nhiều vấn đề song phương Anh-Mỹ và Pháp-Mỹ bị ảnh hưởng. Pháp cũng muốn giữ lại một chút ảnh hưởng ở Đông Dương qua việc chia Việt Nam ra làm 2 phần.

    Nếu Hiệp định Geneva được tiến hành và cuộc bầu cử 1956 được tổ chức, người Cộng sản sẽ có quyền hành điều khiển toàn đất nước.
    Nhằm ngăn chặn kết cuộc ấy, Washington nhanh chân xây dựng một hệ thống phòng thủ khu vực khi Hội nghị Geneva vừa kết thúc. Ngày 12/08/1954, NSC (Hội đồng An ninh Quốc gia của Hoa Kì) đã họp và quyết định rằng sự ủng hộ của Mỹ với cuộc chiến của Pháp đã làm họ mất “thể diện” nghiêm trọng. Nhằm lấy lại thể diện ấy, họ phải ngăn ngừa những sự thua thiệt hơn nữa ở Đông Nam Á. Nhiệm vụ ngay tức thời là thay thế Pháp như là người viện trợ tài chính và quân sự trực tiếp cho miền Nam Việt Nam. Tài liệu rút ra từ buổi họp đó, NSC 5429/2 (phê duyệt bởi Eisenhower ngày 20/08), đã đặt vấn đề đơn giản: “Mỹ phải bảo vệ vị trí và khôi phục lại thể diện của nó ở vùng Viễn Đông bằng một khởi đầu mới ở Đông Nam Á, phải ổn định tình hình ở đó nhanh nhất có thể nhằm phòng ngừa những mất mát hơn nữa về tay Cộng sản qua (1) mở rộng và bành trướng từ từ hoặc (2) xâm lược mở.” Tài liệu này kết luận với một khuyến nghị thành lập một hội đồng an ninh chung của Đông Nam Á và ủng hộ “hoạt động ngầm trên một quy mô lớn và có hiệu quả nhằm thực hiện các chính sách hiện thời”.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Về Diệm


    Những quan chức Mỹ không hào hứng mấy về quyền lực của Diệm, vì họ biết rõ bản chất kín đáo, kiêu hãnh của ông ta cũng như ông ta có rất ít sự ủng hộ của công chúng. Một nhà ngoại giao Mỹ gọi ông ta là “một nhà tiên tri mà chẳng có lời tiên tri nào” (a messiah without a message). Một người khác quan sát rằng Diệm “chẳng làm được gì ngoài việc lặp lại rằng giải pháp cho vấn đề Việt nam phụ thuộc vào trách nhiệm ngày càng nặng của Mỹ”. Một hồ sơ tâm thần của Diệm mô tả ông ta là nghi ngờ tất cả những lời khuyên của mọi người, trừ gia đình của ông ta. Ông ta hay dùng nhiều giờ để ngồi thiền một mình. Ông ta chẳng bao giờ thoải mái bên cạnh phụ nữ, và những nhà phân tích tình báo thậm chí còn nói rằng họ chẳng có bằng cớ nào cho thấy ông ta có một mối quan hệ tình dục nào.
    Thái độ của Mỹ đối với Diệm


    Tuy nhiên, mặc cho những điểm yếu đó, Diệm vẫn là ứng viên tốt nhất cho nhà lãnh đạo Nam Việt Nam dưới mắt các quan chức Mỹ, và thế là họ đặt cược vào ông ta. Một nhà phân tích của Mỹ tổng kết sự khó xử của Washington: “Chúng ta đã chuẩn bị chấp nhận một lời đề nghị nực cười rằng kẻ thần bí tập yoga kia có thể lãnh hết tất cả những trọng trách sắp tới, chỉ vì tiêu chuẩn những kẻ tiền nhiệm của ông ta quá thấp.”
    Thái độ của các bên trước CTVN


    Trong một lúc nhất thời, John Foster Dulles đã cho rằng khả năng thành công của canh bạc Nam Việt là chừng 10% - chẳng phải là một dấu hiệu lạc quan gì.

    London và Washington cùng đồng ý với nhau về việc nên kiểm soát sự bành trướng của Cộng sản ở Đông Nam Á, nhưng bất đồng về phương pháp hành động. Với người Anh, cuộc tổng bầu cử năm 1956 quy định bởi hiệp định Geneva cần phải xảy ra, ngay cả khi nó có nghĩa là một chiến thắng cho Hồ Chí Minh. Dưới con mắt của người Anh, một quốc gia Việt Nam Titoist (chủ nghĩa Cộng sản kiểu Josip Broz Tito) thống nhất là một kết quả vừa ý, nếu như phải chọn lựa với giải pháp thay thế là sự bất ổn liên miên và cuối cùng là chiến tranh.

    Rõ ràng, một lí do mà chính quyền Mỹ cố hết sức để không phải dính vào hiệp ước Geneva chính là họ sợ rằng họ sẽ phải đối mặt với những phản ứng dữ dội từ những người chống Cộng công khai trong Nghị viện. Vừa mới 4 năm trước thôi, Truman đã bị chỉ trích nặng nề bởi vì “để mất” Trung Quốc, và sự lo sợ lặp lại vấn đề ấy nhất định là một gánh nặng to lớn đối với Eisenhower. Cái bóng của Joseph McCarthy vẫn còn quá lớn.
    Về việc di tản 1 triệu người xuống miền Nam


    Được khuyến khích bởi chức sắc Công giáo và tổ chức bởi nhóm cố vấn Edward Lansdale của Diệm, toàn bộ một vùng đã di chuyển xuống phía Nam, nhiều người đi bằng tàu thủy của Mỹ. Các thầy tu thuyết phục những người còn lưỡng lự bằng cách nói với họ rằng “Chúa đã vào Nam”, trong khi Lansdale hứa hẹn phần thưởng là 5 mẫu đất và 1 con bò cho những người chịu đi. Các đại diện của ông ta cũng phát tán những câu chuyện về các “trại tập trung” của Việt Minh và khả năng đánh bom nguyên tử miền Bắc của Mỹ.
    Về cải cách ruộng đất


    Năm 1955, chính quyền Hà Nội phát động một cuộc cải cách ruộng đất lớn dưới sự kiểm soát của các cán bộ gửi đến bởi hội đồng cải cách ruộng đất trung ương. Những hướng dẫn cẩn thận được đảng cung cấp nhằm phân biệt giữa những người tư sản nhưng yêu nước hay phản bội, giữa những địa chủ sản xuất hiệu quả hay kém hiệu quả, nhưng những sự phân biệt này dần dần bị làm ngơ khi mà chiến dịch trở nên ngày càng cực đoan và đạt được quán tính riêng của nó. Nhưng người nông dân sợ bị truy tố nên đã đấu tố những người hàng xóm của họ, trong khi những người khác thì vu cáo địch thủ của họ những tội ác tưởng tượng. Bất cứ ai bị nghi ngờ làm việc cho Pháp đều có thể bị xử tử bởi tội “phản bội”, và có những người bị đấu tố vì đã không thể hiện đủ sự ủng hộ với Việt Minh.

    Hàng ngàn người sống sót đã được thả về với làng của họ giữa những lời hô hào “quên đi và tha thứ”. Nhưng điều đó thật khó khăn. Sự căng thẳng vẫn tiếp tục. Những nạn nhân trả thù những người đã truy tố họ. Ở một vài vùng, nông dân từ chối tuân theo mệnh lệnh, và miền Bắc sa vào một bầu không khí nghi ngờ và e dè.

    Với sự kết thúc của Chiến dịch Cải cách ruộng đất, đời sống chính trị miền Bắc cũng đã lắng xuống. Nó lắng xuống để đợi cuộc tổng bầu cử toàn quốc trong Hiệp định Geneva, được sắp xếp vào năm 1956. Các quan chức Hà Nội định rằng họ sẽ tái thống nhất đất nước dưới quyền của họ, nhưng họ hi vọng rằng không phải làm vậy bằng những viên đạn mà bằng những lá phiếu, bằng con đường thắng lợi bầu cử.

    Thái độ các bên khi Ngô Đình Diệm từ chối tổng tuyển cử 1956



    Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông đang làm việc hết mình cho việc xây dựng đất nước ở miền Bắc và không có mong muốn chọc giận Hoa Kì, nhất là khi Xôviết và Trung Quốc đã cho thấy họ không ủng hộ mấy với chuyện tái thống nhất đất nước một cách nhanh chóng. Chính quyền Matxcơva dưới thời Nikita Khrushchev ủng hộ “song song tồn tại hòa bình” với các nước phương Tây; trong khi Trung Quốc đang phải dành hết tâm trí cho việc phát triển quốc gia và không mong muốn có thêm một cuộc chiến “kiểu Hàn” chống lại Mỹ nữa. Xôviết thậm chí còn đề nghị vào năm 1957 rằng cả 2 quốc gia Nam và Bắc Việt Nam đều được gia nhập vào Liên Hiệp Quốc, tức là thừa nhận phần nào sự chia cắt vĩnh viễn 2 miền đất nước.

    Tuy nhiên, sau một thời gian thì các nhà lãnh đạo Hà Nội đã thay đổi chính kiến của họ và chọn cách khuyến khích và tiếp tế cho phong trào cách mạng đang lên ở miền Nam. Quyết định chính đến vào năm 1959. Sau khi nhận thấy rằng những nhà cách mạng ở miền Nam đang tuyệt vọng chờ giúp đỡ, cũng như sự áp bức của Diệm đã tạo ra một bầu không khí tốt cho cuộc khởi nghĩa, vào mùa xuân 1959 Đảng đã cho phép quay trở lại phương pháp đấu tranh vũ trang và có những hành động chủ động để giúp đỡ đấu tranh.
    Bản chất của Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam


    Hà Nội, rõ ràng, có một vai trò tích cực trong việc gia tăng xung đột ở miền Nam; nếu không có sự can thiệp của miền Bắc, rõ ràng những người khởi nghĩa ở miền Nam đã chẳng thể đánh bại một chính quyền Sài Gòn có sự viện trợ của Mỹ. Tuy nhiên, không nghi ngờ gì rằng sự chống đối ở miền Nam đối với chính quyền Sài Gòn là rất sâu sắc, và nếu không có sự chống đối này thì dù chính quyền VNDCCH có gây áp lực đến đâu đi nữa thì cũng sẽ chẳng có cuộc khởi nghĩa nào xảy ra. Nhưng một học giả đã tổng kết rằng, “nó là một cuộc khởi nghĩa được truyền lửa bởi những tình hình địa phương ở miền Nam, nhưng lãnh đạo và chỉ hướng bởi miền Bắc”.
    Tính chính thống của VNCH


    Đối với một số người, tranh cãi về vai trò của miền Bắc trong cuộc chiến này là vô nghĩa, bởi vì Hiệp định Geneva bằng giấy trắng mực đen đã xác nhận rằng Việt Nam là một quốc gia duy nhất, mặc dù có bị tạm thời chia cắt bở vĩ tuyết 17. Thế nên, khi chiến quyền Diệm từ chối tổ chức họp bàn về bầu cử tái thống nhất, Hà Nội không có trách nhiệm phải tuân theo những điều khoản của hiệp định nữa. Đối với những nhà lãnh đạo VNDCCH, Việt Nam luôn luôn là một quốc gia duy nhất, và bất cứ phương pháp nào có thể mang lại sự thống nhất đất nước sẽ là phương pháp đúng đắn chung cuộc.

  9. #9
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    75
    Rất hay, rất giá trị. Cảm ơn chủ thớt rất nhiều. Chỉ còn thiếu đôi dòng về tiểu sử tác giả. Thỏ định gõ nhưng để bác Omina làm luôn cho trọn bộ bản quyền.

    Viết khách quan về chiến tranh VN còn có tác giả David Marr, 1 giáo sư người Úc. Ông có một vài cuốn về VN trước 1945 rất có giá trị tư liệu.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •