Trang 1 của 24 12311 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 238
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0

    Chiến tranh Việt Nam là thế đó 1965 - 1973

    Tên sách: Chiến tranh Việt Nam là thế đó
    Người dịch: Đào Tấn Anh-Nguyễn Đăng Nguyên
    Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia
    Năm xuất bản: 2007
    Số hoá: ptlinh, Sao Vàng




    HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP


    E.P. GLADUNỐP, Phó tiến sĩ kinh tế, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga - Việt, Chủ tịch Hội đồng

    V P. BUIANỐP, Giáo sư, Tiến sĩ kinh tế, Hiệu trưởng Học viện Kinh tế và Pháp luật Mátxcơva, Phó chủ tịch Hội đồng

    M. I. VÔRÔBIÉP, Trung tướng, Phó tiến sĩ khoa học kỹ thuật, ủy viên Hội đồng

    N. N. CÔLÊXNHÍCH, Giáo sư danh dự, Chủ tịch Hội các cựu chiến binh Liên Xô từng công tác tại Việt Nam, Thư ký Hội đồng

    A. Ph. PÔDƠĐÊÉP, Thiếu tướng, ủy viên Hội đồng

    A.I. KHIUPÊNEN, Đại tướng, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học quân sự Cốvấn các vấn đề quân sự

    P. Iu. XVÉTTỐP, Phó tiến sĩ khoa học lịch sử, Cố vấn các vấn đề lịch sử .

    Nhà xuất bản ЄKЗAMEH Mátxcơva, 2005

    Nguồn quansuvn.net
    Dịch giả: ĐÀO TẤN ANH
    NGUYỄN ĐĂNG NGUYÊN



    CHÚ DẪN CỦA NHÀ XUẤT BẢN


    Năm 2005, nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng chủ nghĩa phát xít Nhà xuất bản "ЄKЗAMEH" Mátxcơva (Liên bang Nga) ấn hành cuốn sách “Chiến tranh Việt Nam là thế đó (1965-/973)" với lời đề tựa: “để tưởng nhớ các chuyên gia quân sự xôviêt - các cựu chiến binh tại Việt Nam. Có thể dùng làm sách giáo khoa về chiến tranh yêu nước cho sinh viên”. Đây là một tập hồi ký chân thực, sinh động và hấp dẫn của các chuyên gia Liên Xô - cả dân sự lẫn quân sự - từng công tác tại Việt Nam trong những năm 1965-1973.

    Được sự đồng ý của các tác giả, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia tổ chức dịch và xuất bản cuốn sách này vào dịp đất nước kỷ niệm 32 năm ngày toàn thắng. Thiết nghĩ, đây cũng là cách tỏ lòng tri ân đất nước và nhân dân Liên Xô đã gửi những người con thân yêu của mình sang giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

    Mặc dù đã tham vấn ý kiến của các chuyên gia và tham khảo thêm nhiều nguồn tư liệu, tuy nhiên một số địa danh, tên người được nhắc đến trong cuốn sách có thể chưa thật chuẩn xác, chúng tôi xin ghi thêm cả tiếng nguyên bản để bạn đọc tiện theo dõi. Nhà xuất bản rất mong được bạn đọc và người trong cuộc lượng thứ.

    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


    Tháng 6 năm 2007
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    19
    CÙNG BẠN ĐỌC

    Cuốn sách mà bạn đang mở ra là một cuốn sách độc đáo về mặt nội dung.

    Trong sách đã ghi lại những sự kiện, những công việc mà đẾn nay ở nước ta rất ít người biết đến...

    Lần đầu tiên trong sách đã tập hợp và công bố hồi ký của các chuyên gia quân sự Xôviêt đã từng công tác tại Việt Nam trong những năm 60 và 70 của thế kỷ XX khi còn chiến tranh và đã từng giúp đỡ trực tiếp cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ xâm lược.

    Rất tiếc rằng không phải tất cả các tác giả của tập hồi ký này đều còn sống trước khi cuốn sách ra đời.

    Hội đồng biên tập không có tham vọng gộp từng hồi ký lại và biến nó thành một sợi chỉ xuyên suốt như một cuốn tiểu thuyết, mà chỉ có ý định làm một việc là sắp xếp lại theo trình tự thời gian và giữ nguyên ở mức tối đa tính cá biệt của từng tác giả.

    Hội đồng biên tập hy vọng bạn đọc sẽ không quá nghiêm khắc đối với các tác giả do có sự trùng lặp trong hồi ký hoặc do có cách nhìn nhận không giống nhau về cùng một sự kiện.

    Chúng tôi cũng hy vọng rằng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc, nhất là giới trẻ, sẽ tìm được câu trả lời cho nhiều vấn đề của lịch sử hiện đại và đánh giá một cách khách quan các sự kiện của các năm đó.


    LỜI MỞ ĐẦU

    Cuốn sách này là để tưởng nhớ tới các chuyên gia quân sự và dân sự Liên Xô đã từng công tác tại Việt Nam trong những năm chiến tranh, những người bằng lao động quả cảm của mình, đã góp phần làm cho thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ xâm lược và tái thống nhất đất nước mau đến gần.

    Trong lịch sử hiện đại, cuộc xung đột vũ trang ở Việt Nam là cuộc chiến tranh kéo dài nhất, tiêu hao nhiều nhất về tiền của, vật chất và chiến cụ và dẫn tới những hy sinh tính mạng nhiều nhất nếu so sánh với các cuộc chiến tranh cục bộ khác ở thế kỷ XX.

    Cuộc can thiệp vũ trang của Mỹ vào công việc của Việt Nam bắt đầu từ năm 1961, sau đó đã biến thành cuộc chiến tranh kéo dài nhất trong lịch sử hiện đại và bao trùm lên cả Lào và Campuchia.

    Như đã rõ, Hoa Kỳ bắt đầu can thiệp vào công việc nội bộ các nước Đông Dương gần như ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và sau thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam năm 1945. Họ đã khước từ việc công nhận Hiệp định Giơnevơ ký kết năm 1945 quy định tạm thời chia cắt Việt Nam từ Vĩ tuyến 17. Chính quyền Mỹ đã tìm mọi cách để phá hoại việc thực hiện các ký kết đó. Năm 1955 tại miền Nam Việt Nam, trên đống đổ nát của thuộc địa Pháp đã lập ra cái gọi là Việt Nam Cộng hòa do Mỹ hoàn toàn kiểm soát.

    Nhưng nhân dân miền Nam đã không chấp nhận điều đó và kiên quyết đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định Giơnevơ. Sau khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời năm 1960, phong trào đó đã có quy mô đặc biệt rộng lớn.

    Về phần mình, năm 1961 Hoa Kỳ đã can thiệp mạnh hơn vào công việc của Nam Việt Nam. Thay vì phải tìm ra giải pháp chính trị, Oasinhtơn lại chuyển sang các hành động chiến tranh trực tiếp ở Nam Việt Nam, đưa quân vào Nam Việt Nam và năm 1968 số quân đó đã lên trên 500 ngàn. Nhưng sự giúp đỡ to lớn về quân sự và kinh tế của Mỹ cho chế độ Sài Gòn đã không mang lại kết quả như mong muốn. Không đàn áp nổi phong trào giải phóng dân tộc ở Nam Việt Nam, đồng thời cho rằng phong trào đó duy trì được chỉ là nhờ có sự ủng hộ của Bắc Việt Nam, nên Mỹ đã quyết định ném bom bắn phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để xóa bỏ nguyên nhân chủ yếu đã ngăn cản Mỹ "giải quyết" vấn đề Nam Việt Nam. Ngày 5-8-1964, sau khi nặn ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, Mỹ đã gây ra cuộc chiến tranh bằng không quân để chống lại miền Bắc Việt Nam.

    Quyết định đó đã làm cho Mỹ phải trả giá qua nhiều năm chiến tranh ác liệt, mất hàng trăm tỷ đô la, hàng trăm nghìn lính Mỹ bị chết và bị thương.

    Cuộc xâm lược của Mỹ chống Việt Nam, về thực chất, là sự tiếp tục cuộc chiến tranh được bắt đầu từ năm 1940 với việc quân Nhật đổ bộ vào Đông Dương. Nói cách khác, cuộc chiến tranh ở Việt Nam, với một vài gián đoạn, đã kéo dài gần 35 năm. Hàng chục năm gian khổ đó đã tác động đến không chỉ một thế hệ người Việt Nam, để lại dấu ấn trên mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội; kinh tế - xã hội của đất nước, làm cho hàng triệu người Việt Nam bị hy sinh và tàn phế.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    Phát biểu tại cuộc họp báo ngày 18-1-1971 Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Mỹ G. Mắchôven tuyên bố. "Nước Mỹ đã tiêu hao mồ hôi và máu của mình trong các rừng rậm Đông Nam Á, công khai phớt lờ lương tri của thế giới văn minh".

    Sau đó, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R. Mắcnamara trong cuốn hồi ký gây xôn xao dư luận có nhan đề "Nhìn lại quá khứ. Việt Nam - Tấn thảm kịch và bài học lịch sử " (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995) cũng thừa nhận rằng đất nước đó là rất khó hiểu đối với ông ta và cuộc chiến tranh đó là "một sai lầm bi thảm và người Mỹ không thể thắng trong cuộc chiến tranh đó".

    Những nhận định tương tự về cuộc xâm lược của Mỹ chống Việt Nam trước và sau đó đã nhiều lần được các đại diện chính quyền Mỹ, các nhân vật chính thức, các nhà hoạt động chính trị, xã hội nhiều nước phương Tây nhắc lại.

    Mọi người đã biết, Hoa Kỳ đã dùng Việt Nam làm nơi thử nghiệm các loại vũ khí và kỹ thuật quân sự, các cách thức sử dụng chúng trong điều kiện chiến tranh, là nơi vạch ra các nguyên tắc chủ yếu của cuộc chiến chống du kích, và nói chung là cuộc đấu tranh chống lại phong trào giải phóng dân tộc.

    Nhưng cả việc tham gia trực tiếp của quân Mỹ ở miền Nam, cả những cuộc ném bom khốc hệt ở miền Bắc đều không mang lại thắng lợi cho họ trong cuộc chiến tranh đó. Oasinhtơn buộc phải đi tới giải pháp chính trị và năm 1968, cuộc đàm phán Pari đã bắt đầu. Cuộc đàm phán ấy đã kéo dài và rất khó khăn, nhưng cuối cùng vào tháng Giêng 1973, Hiệp định Pari được ký kết và tháng Ba năm đó những đơn vị cuối cùng của quân đội Mỹ đã rời khỏi Việt Nam.

    Toàn thế giới đã hài lòng đón nhận việc ký kết Hiệp định Pari chấm dứt sự xâm lược của Mỹ chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và trên thực tế là ghi nhận sự thất bại hoàn toàn của Mỹ trong cuộc chiến tranh này.

    Chế độ Sài Gòn, mặc dù có số lượng lớn vũ khí khí tài do Mỹ để lại mặc dầu vẫn tiếp tục nhận được viện trợ kinh tế, chính trị từ Mỹ, vẫn không giữ nổi chính quyền và mùa xuân 1975 nó đã tan rã dưới đòn tấn công của những người yêu nước.

    Lịch sử của cuộc xung đột Mỹ - Việt Nam đã được mô tả trong các tài liệu nghiên cứu và hồi ký. Lịch sử của sự hợp tác quân sự - kỹ thuật giữa Liên Xô và Việt Nam thì ngược lại, được ít người biết. Sự hợp tác đó đã được bắt đầu từ những năm 50 sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng Giêng 1950, nhưng cho đến trước khi cuộc xâm lược của Mỹ bắt đầu, sự hợp tác đó chỉ mang tính chất thứ yếu.

    Sau khi Mỹ dùng không quân tấn công Việt .Nam thì tình hình đã thay đổi hẳn. Những phương hướng chính của sự hợp tác trong tình hình mới đã được xác định trong chuyến thăm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Côxưghin tháng Hai 1965 trong tiếng bom đạn của không quân Mỹ.

    Rõ ràng cuộc chiến tranh đã đặt dấu ấn ảm đạm lên tất cả các mặt của đời sống của Bắc Việt Nam. Các cơ sở công nghiệp trọng yếu, các trường học, nhiều cơ quan nhà nước, các cơ sở y tế đã phải sơ tán khỏi thành phố.

    Tuy vậy cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn. Sau các trận ném bom, nhiều xí nghiệp, cơ quan, trường học, bảo tàng, rạp hát lại được khôi phục và tiếp tục hoạt động. Chẳng hạn, tháng 3-1967, tại Nhà hát thành phố Hà Nội đã diễn ra buổi hòa nhạc cổ điển trong tiếng động cơ máy bay Mỹ gầm rú trên bầu trời Hà Nội và tiếng bom rền.

    Trong những năm chiến tranh khó khăn đó, ở Việt Nam không chỉ có các chuyên gia quân sự và dân sự Xôviết làm việc mà cả các chuyên gia đến từ các nước xã hội chủ nghĩa khác. Sự hợp tác quốc tế của đại diện các nước đó ở Việt Nam, cũng như sự ủng hộ vô cùng rộng lớn của quốc tế dành cho Việt Nam thời kỳ đó không chỉ đơn giản là lời nói, khẩu hiệu mà là công việc thực tế hàng ngày.

    Đầu năm 1973, tại Pari đã diễn ra Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Đại diện của tất cả các nước tham gia Hội nghị đã nồng nhiệt chào mừng việc ký kết Hiệp định Pa ri.

    Nhưng chiến tranh chỉ hoàn toàn chấm dứt vào tháng 4- 1975, khi các lực lượng dân tộc yêu nước hoàn toàn giải phóng Nam Việt Nam. Ước mơ hàng thế kỷ của nhân dân Việt Nam đã được thực hiện - Tổ quốc của họ đã được tự do và thống nhất.

    Tháng 4-1976 đã diễn ra cuộc bầu cử lịch sử Quốc hội thống nhất của cả nước, và trong không khí phấn chấn của toàn dân, Quốc hội đã tuyên bố việc thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tháng Bảy năm đó. Đó là thắng lợi của sự nghiệp chính nghĩa, thắng lợi của tất cả các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Các chuyên gia quân sự Xôviết, những người đã từng công tác tại Việt Nam trong những năm đó đã có đóng góp xứng đáng cho thắng lợi, họ đã dành sự giúp đỡ vô tư trên tinh thần quốc tế chủ nghĩa đối với nhân dân Việt Nam đang chiến đấu. Ngày nay, khi chủ nghĩa thực dụng mang tính thị trường đang chế ngự, thì nói về điều đó không hợp mốt, song đó là sự thật lịch sử và không thể bỏ nó ra khỏi lịch sử được.

    Cuốn sách này là một ý tưởng muốn chỉ rõ một phần không lớn, nhưng rất quan trọng của một giai đoạn lớn trong lịch sử quan hệ Xô - Việt. Chúng tôi hy vọng rằng những câu chuyện thật không hề kèm theo một yêu cầu nào của những người đã tham gia các sự kiện đó sẽ giúp những người đồng hương của chúng tôi hiểu rõ hơn sự thật lịch sử về cuộc đấu tranh của Việt Nam chống bọn xâm lược Mỹ, về hoạt động dũng cảm của các chuyên gia Liên Xô trong những điều kiện vô cùng khó khăn của cuộc chiến tranh bằng không quân.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    THIẾU TƯỚNG
    ĐEMSENCÔ IURI ALẾCHXÊÊVÍCH

    Ông sinh ngày 28-12-1938 tại làng Nô vô - Mưsatôp thuộc tỉnh Craxnôđa, là người Nga.

    Năm 1956 ông học xong lớp 10 phổ thông và vào học Trường sĩ quan Không quân Cadan và đã tốt nghiệp năm 1959. Ông tiếp tục phục vụ quân đội, là kỹ thuật viên phụ trách hỏa lực trên máy bay trong Trung đoàn không quân phóng ngư lôi số 49 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương, về sau chỉ huy trung đội, trở thành sĩ quan chỉ huy khẩu đội bệ phóng tên lửa, Tham mưu trưởng tiểu đoàn hỏa lực của Trung đoàn tên lửa phòng không số 345 thuộc Quân khu phòng không Ba cu.

    Năm 1971 ông tốt nghiệp Học viện đào tạo sĩ quan chỉ huy của Binh chủng phòng không và được cử làm Tham mưu trưởng, Phó chỉ huy Trung đoàn tên lửa phòng không số 708, sau đó được bổ nhiệm làm chỉ huy Trung đoàn tên lửa phòng không số 726. Năm 1976 ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy phòng tác chiến của Bộ tham mưu, Tham mưu trưởng - phó chỉ huy Lữ đoàn đặc nhiệm số 17 Quân khu phòng không Mátxcơva.

    Từ tháng 3-1965 đến tháng 2-1966 ông đã tham gia chiến đấu tại Việt Nam, với chức vụ chỉ huy khẩu đội bệ phóng Tiểu đoàn hỏa lực số 82 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không số 238 của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Ông đã được tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ,, Huân chương Vì phục vụ Tổ quốc trong các lực lượng vũ trang Liên Xô hạng III và được tặng thưởng 9 huy chương, trong đó có Huy chương Hữu nghị, do Chính phả Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Cuối cùng, sau khi tiểu đoàn đã nhận được đầy đủ các thiết bị kỹ thuật, sẽ còn nhiệm vụ kiểm tra hoạt động của các thiết bị ấy thông qua khâu bắn thử như trong chiến đấu. Để làm việc này chúng tôi đã triển khai khẩu đội kỹ thuật vô tuyến với đầy đủ quân số và vẻn vẹn chỉ một giàn tên lửa XM-63. Ngay khi mở máy lần đầu đã phát hiện thấy hiện tượng không ăn khớp trong hệ thống theo dõi mục tiêu: giàn phóng quay một đằng, cabin "P" quay một nẻo. Viên sĩ quan điều hành bãi phóng đã điều tiểu đoàn tên lửa phòng không bên cạnh đó - tiểu đoàn này đến từ nước Tiệp Khắc và đã nhận được sự đánh giá không tốt về lần bắn diễn tập, ông cũng đã triệu tập hai sĩ quan của giàn phóng, tuyên bố với họ rằng nếu đến sáng mai họ chuẩn bị tốt giàn phóng thì ông ấy sẽ thay đổi cách đánh giá họ. Các sĩ quan ấy (các thượng úy) đã hăng hái bắt tay và chuẩn bị giàn phóng và đến sáng thì họ đã báo cáo với sĩ quan điều hành bãi phóng rằng giàn phóng đã sẵn sàng.

    Cuộc bắn thử được ấn định vào lúc 10 giờ sáng. Sĩ quan chỉ huy lần bắn thử này là Đại tá Đêmiđốp. Còn chúng tôi có nhiệm vụ theo dõi và ghi nhận những thiếu sót. Tuy nhiên, vì sĩ quan trực ban tác chiến ra lệnh cấm tuyệt đối không được phát sóng, cho nên vào ngày hôm ấy cuộc bắn thử đã không được tiến hành.

    Mấy ngày sau lệnh cấm phát sóng đã được bãi bỏ, nhờ vậy đã tiến hành cuộc bắn thử. Khâu hướng dẫn đường bay cho tên lửa đã được thực hiện rất tốt, và tên lửa đã bắn trúng mục tiêu và tuyệt đối không sai sót.

    Giai đoạn đầu của cuộc chuẩn bị đã kết thúc. Các viên chỉ huy các khẩu đội đã có những báo cáo bằng văn bản, sau đó chỉ huy các tiểu đoàn đã báo cáo với ban chỉ huy trung đoàn về việc tiếp nhận các khí tài kỹ thuật và về tình hình các khí tài ấy đã sẵn sàng cho việc sử dụng. Sau đấy các khí tài đã được bốc xếp lên một đoàn tẩu, đến cuối tháng 2-1965 thì trung đoàn đã rời Capuxtin Iarơ đi xe lửa về hướng Sêliabinxcơ.

    Trước lúc lên tầu, Ban chỉ huy trung đoàn đã chỉ thị cho tất cả đội ngũ các sĩ quan và binh sĩ về sự cần thiết phải tuân thủ chế độ giữ bí mật hết sức nghiêm ngặt trên đường hành quân. Trên thực tế các trung sĩ và anh em binh sĩ đã bị cấm ra khỏi các toa tầu, không được phép tiếp xúc với dân thường. Trong những trường hợp hết sức đặc biệt chỉ cho phép trả lời tất cả các câu hỏi bằng một câu trả lời duy nhất: "Chúng tôi đi diễn tập". Trong phiếu ghi lộ trình, điểm đến cuối cùng của đoàn tầu là thành phố Khabarốpxcơ.

    Nhưng tại thành phố Sêliabinxcơ đoàn tầu chúng tôi lại quay về hướng đông, đến sáng hôm sau chúng tôi đã có mặt tại ga Cuốcgan, vào lúc 19 giờ chúng tôi đã có mặt tại Ômxcơ.

    Vì vợ tôi đang mang thai, nên tháng 8-1964 tôi đã đưa cô ấy về ở với mẹ vợ tại thành phố Angácxcơ. Để cô ấy lại một mình ở tiểu đoàn xa xôi trong tình trạng như vậy quả thật không yên tâm. Ngày 29-12-1964, con gái của chúng tôi đã chào đời. Tôi chỉ được ở bên cháu không quá một tuần, vào kỳ nghỉ phép. Tôi có ý định và hy vọng sẽ được gặp vợ và con gái một lần nữa. Chúng tôi được phép rời khỏi các toa tầu, nhưng chỉ được ở quanh gần đoàn tầu. Tôi và một số sĩ quan nữa đã đến nhà ga. Ở đó tôi gửi cho vợ bức điện, trong đó tôi thông báo một cách áng chừng thời điểm đoàn tầu của chúng tôi sẽ đi qua thành phố Angácxcơ và bảo vợ ra ga, đưa theo cả con gái nữa.

    Vào thời điểm tôi nêu trong bức điện, đoàn tầu đã đến Angácxcơ. Tôi mặc áo khoác và bước ra lối lên xuống của toa xe. Tôi thử mở cánh cửa toa xe, nhưng nó bị khoá. Đoàn tầu lúc ấy đang vào đoạn đường cua, từ xa tôi trông thấy tòa nhà ga có ánh đèn chiếu sáng, phía đối diện là ngôi nhà của mẹ vợ tôi. Nhà ga mỗi lúc một gần. Cuối cùng tôi đã nhìn thấy vợ tôi đứng cạnh cửa vào ga, em gái của vợ tôi và cả chiếc. xe nôi của con gái. Đoàn tầu chạy rất nhanh như cố tình. Vậy là đã không diễn ra cuộc gặp mặt của vợ chồng chúng tôi, mà cứ tưởng là hoàn toàn có khả năng gặp nhau được. Tôi đứng một mình hồi lâu ở lối ra vào toa xe với những suy nghĩ của mình. Đằng sau ô cửa sổ là bóng đêm.

    Trong toa chúng tôi chẳng có lúc nào cảm thấy buồn tẻ, đặc biệt vào các đêm. Trong nhóm chúng tôi có một chuẩn úy được gia hạn phục vụ trong quân đội. Anh ấy đến từ trung đoàn Pôtixki, là kỹ thuật viên của hệ thống vô tuyến thu - phát, là một người miên hành. Tuy anh này nằm ở giường tầng phía trên, nhưng anh ta hoàn toàn dễ dàng nhỏm dậy giữa đêm tối, mặc quân phục gọn gàng và đầy đủ mắt nhắm rồi đi đi lại lại suốt đêm trong toa xe đến sáng, đưa ra các chỉ thị khác nhau hoặc bình thản chuyện trò với người vợ tưởng tượng của mình. Nhưng không một ai trong ban chỉ huy trung đoàn biết hiện tượng này. Còn viên chuẩn úy miên hành ấy lại hoàn thành đầy đủ và xuất sắc mọi bổn phận của mình trong những tình huống bất thường và nhờ vậy đã được chính phủ khen thưởng ở mức cao.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Jan 2016
    Bài viết
    9
    Đoàn tầu chúng tôi lao nhanh về hướng đông. Khi đến sát thành phố Sita đoàn tầu dừng lại gần một ngày đêm. Sau này chúng tôi được biết, việc này được thực hiện nhằm mục đích đánh lạc hướng cơ quan tình báo của địch. Khoảng 22 giờ đoàn tầu đã đến ga Sita, đến sáng thì đến ga biên giới Dabaicanxcơ. Người ra đón đoàn tầu chúng tôi là Cục trưởng Cục tổ chức cơ động của Quân khu phòng không, Trung tướng V. Đ. Gôđun. Chỉ đến lúc ấy tất cả chúng tôi mới hay biết mình sẽ đến đâu?

    Toàn bộ đơn vị có mặt trên đoàn tầu này được đưa lên những chiếc ôtô có bạt che và được chuyển đến những doanh trại đã dành sẵn cho chúng tôi. Đại tá N. V. Bagienốp đã trao cho tôi nhiệm vụ: dẫn theo một số lượng bình sĩ cần thiết và tiến hành gia cố việc bảo quản các khí tài trên các toa tầu của đoàn tầu và ngụy trang thật tốt cho các khí tài ấy. Sau khi mang theo tất cả những gì cần thiết cho việc bảo quản khí tài trên đoàn tầu, chúng tôi đã lập tức bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ được giao. Một lúc sau Trung tướng Gôđun đến. Từ lúc ấy cho đến khi kết thúc mọi việc vị tướng này đã có mặt cạnh chúng tôi để kiểm tra chất lượng công việc của chúng tôi. Sau khi kết thúc việc chằng buộc khí tài, chúng tôi đã tiến hành ngụy trang khí tài. Tất cả các ca bin điều khiển khí tài đều được phủ lưới ngụy trang.

    Phải nói rằng đây là công việc cực nhọc, vì lúc ấy trời rất lạnh và gió thổi mạnh. Sau khi kết thúc công việc, người ta đưa chúng tôi lên ôtô mui trần và chở thẳng đến nhà tắm. Vì chúng tôi là những người cuối cùng đến nhà tắm, nên nước đã cạn kiệt, do vậy chúng tôi đành phải bằng lòng với những giọt nước vắt từ những chiếc khăn tắm, cốt để lau người mà thôi. Mặc dù phải "tắm" theo kiểu ấy, nhưng chúng tôi vẫn thấy thỏa mãn về mặt tinh thần: dù sao thì cũng trở nên sạch sẽ hơn.


    Hướng đến biên giới Việt Nam - quá cảnh qua Trung Quốc thân hữu

    Từ nhà tắm toàn bộ nhóm chúng tôi được đưa đến địa điểm tạm trú. Khi tôi bước vào trong doanh trại, tôi không thể hiểu được gì cả: tất cả các cán bộ chuyên môn chúng tôi đều mặc thường phục. Hầu như mọi người đều lao về phía chúng tôi, rối rít thúc giục chúng tôi khẩn trương, vì tất cả mọi người chỉ chờ đợi chúng tôi: thời gian đoàn tầu khởi hành để đi tiếp sẽ phụ thuộc vào chúng tôi. Khi tôi hỏi Trung tá Liakisép, chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi, rằng tại sao chúng tôi lại mặc "thường phục" thì được trả lời rằng Chính phủ Trung Quốc yêu cầu như vậy.

    Ngoài bộ quần áo vét, mỗi chúng tôi còn được phát 1 áo măng tô, 2 bộ quần áo, 1 mũ, đôi giầy đen kiểu Trung Quốc. Mỗi người chúng tôi đựng bộ quân phục của mình vào một chiếc túi đặc biệt; ghi trên đó địa chỉ đơn vị phục vụ trước kia. Mỗi người đều mang theo tiền. Chúng tôi được yêu cầu tiêu hết số tiền ấy ngay lúc đó để không mang theo qua biên giới. Trong số tiền 120 rúp có trong túi, sau khi mua mọi thứ tôi vẫn còn lại cả thảy 8 rúp.

    Khi đã kết thúc mọi công việc chuẩn bị, tất cả chúng tôi xếp thành đội hình, Trung tướng V. Đ. Gôđun đã dặn dò chúng tôi lần cuối trước lúc lên đường. Ông nhắc nhở chúng tôi rằng chúng tôi đại diện cho một quốc gia vĩ đại - Liên bang Xôviết, vì vậy mọi hành động của chúng tôi phải được cân nhắc và suy nghĩ kỹ càng; chúng tôi sẽ phải hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu cùng với các chiến sĩ Việt Nam, và chúng tôi phải hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ ấy.

    Trước khi ngừng lời, ông hỏi:

    - Có ai nhát gan không?

    Không một ai lên tiếng. Sau đó, các quân nhân thuộc diện trong hạn phục vụ và gia hạn phục vụ được đưa ra khỏi phòng họp, chỉ còn lại các sĩ quan. Một lần nữa vị tướng đã nhắc đến nghĩa vụ quân nhân, đến danh dự của người sĩ quan và đến sự cần thiết phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức trong cách hành xử tại một nước khác. Và vị tướng ấy đã khiến chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi tuyên bố rằng ở Việt Nam hầu hết các chị em phụ nữ đều mặc áo rộng cổ"! Cuối cùng ông hỏi lại:

    - Có ai không muốn đi tiếp không?

    Từ trong hàng quân có hai sĩ quan bước ra và tỏ ý không muốn sang Việt Nam, viện lý do sức khoẻ của các thành viên gia đình mình không được tốt. Người ta đã chấp nhận nguyện vọng của hai sĩ quan này.

    Mỗi chuyên gia được cấp phát 75 nhân dân tệ. Sau đó tất cả mọi người được bố trí vào các toa tầu. Ban chỉ huy trung đoàn và các sĩ quan cấp cao được bố trí trong các cupê, những người còn lại thì được bố trí trong các toa có giường nằm cứng. Các toa tầu có hình dáng dễ coi, tất cả các cửa sổ đều buông rèm kín mít. Chúng tôi được lệnh về chỗ của mình, không được ra ngoài và chờ giờ khởi hành. Sau đó ít lâu, các toa tầu của chúng tôi đã lăn bánh trên lãnh thổ Trung Quốc.

    Đêm buông xuống. Tất cả chúng tôi đã thấm mệt, tuy chưa có chăn gối, nhưng chúng tôi mặc nguyên quần áo rồi thiếp đi trên các giường nằm của mình. Vào thời gian đó, các cán bộ chuyên môn Trung Quốc tiến hành việc chuyển các toa trần với các khí tài quân sự của chúng tôi sang các toa tầu của họ, vì chiều rộng đường sắt Trung Quốc hẹp hơn đôi chút so với đường sắt ở nước chúng tôi.

    Công việc thay khung toa xe bị kéo dài và chúng tôi đã thấy buồn chán vì ngồi rỗi việc. Mọi người khẩn khoản đề nghị cho phép ra ngoài toa xe. Chúng tôi đã được phép ra ngoài, đến cửa hàng tại ga xe lửa, đi dạo quanh các toa tàu. Lần đầu trong đời được đến một đất nước khác là sự kiện lớn! Khi tôi bước ra ngoài toa xe và ngó nhìn chung quanh thì vật đầu tiên đập vào mắt là vô số những ống khói cao từ 3 đến 5 mét của những ngôi nhà nằm sát ga xe lửa. Tôi đã lập tức đoán ngay được thực chất của bức tranh này.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    Vào đầu những năm 60 Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thực hiện trên toàn quốc chính sách "đại nhảy vọt". Một trong những bộ phận cấu thành của chính sách ấy trong lĩnh vực kinh tế là nhiệm vụ chiến lược: đuổi kịp và vượt các nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến (Mỹ và Anh) về sản lượng gang và thép (gần 220 triệu tấn/năm). Đảng Cộng sản Trung Quốc đã huy động mọi sức lực và của cải để đạt cho được những cái mốc đã định. Nhằm thực hiện mục tiêu ấy đâu đâu người ta cũng xây dựng những lò cao loại nhỏ. Trung Quốc đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra, nhưng chất lượng của gang và thép đã đạt mức thấp đến nỗi không thể sử dụng chúng được. Tại các nhà ga xe lửa, cạnh các ngôi nhà, tại các lều cư trú của những người chăn thả súc vật, hầu như trên suốt chiều dài của tuyến đường sắt chạy từ biên giới đến Bắc Kinh đâu đâu cũng thấy la liệt những thỏi gang không được sử dụng, còn những lò cao thủ công thì đã ngừng hoạt động từ lâu.
    Sau khi dạo quanh các toa trần, chúng tôi bước vào các toa tầu. Cuối cùng đoàn tầu đã chuyển bánh.

    Kể từ thời điểm ấy các khí tài kỹ thuật của chúng tôi được các chiến sĩ Trung Quốc bảo vệ, công việc quản lý trong toa tầu do người Trung Quốc đảm nhiệm. Cùng với chúng tôi còn có các chuyên gia sửa chữa đi trên tầu, trong một khoang riêng, và có hai phiên dịch người Trung Quốc. Cuối cùng chúng tôi được phát chăn gối và đệm trải giường. Các chiếc gối được nhồi chặt bằng rơm. Những chiếc gối ấy rất cứng và nặng đến mức có thể dùng để làm cho một người nào đó bị thương! Đệm trải giường cũng không mềm hơn.

    Trong đoàn tầu này, trên một toa xe có trang bị đặc biệt, người ta đã bố trí một bếp nấu ăn và phòng ăn. Chúng tôi ăn uống tại đó. Kíp nấu ăn là một tổ gồm các đầu bếp Trung Quốc và một chuyên gia Liên Xô, đó là đầu bếp binh nhất Páckhômsúc. Mọi công việc phục vụ được thực hiện với chất lượng cao nhất. Các bàn ăn được trang bị đầy đủ những dụng cụ cần thiết, trên các bàn ăn có thừa thãi các bao thuốc lá Trung Quốc. Sau khi nếm thử những điếu thuốc rất thơm nhưng quá nhẹ ấy, tất cả chúng tôi đều kết luận rằng những sản phẩm thuốc lá của chúng tôi có ưu thế hơn.

    Trên đường đi dần dần đã hình thành những mối quan hệ giữa chúng tôi với các chuyên gia Trung Quốc. Chúng tôi bắt đầu tích cực tiếp xúc với họ thông qua những người phiên dịch. Cả họ và chúng tôi đều đưa ra cùng một câu hỏi: có điều gì chúng tôi đã không chia sẻ với nhau, vì chúng tôi là những con người bình thường?

    Những người Trung Quốc trên đoàn tầu có quyền tự do ra ngoài tại các nơi tầu dừng bánh. Lợi dụng quyền này, có một lần họ đưa vào toa những chai rượu cô nhắc Trung Quốc và bia. Đến chiều chúng tôi đã tổ chức một bữa nhậu nhỏ cùng nhau. Chúng tôi đã cùng hát bài hát nổi tiếng mà người Trung Quốc nào cũng biết: "Mátxcơva - Bắc Kinh. Các dân tộc tiến lên, vì nền hòa bình bền vững, vì con đường sán lạn, dưới ngọn cờ tự do! Xtalin và Mao Trạch Đông nghe thấy tiếng nói của chúng ta, nghe thấy tiếng nói của chúng ta?..." và v.v.. Chúng tôi đã dạy tất cả những người ấy biết chơi bài tây.

    Trong suốt lộ trình chạy qua lãnh thổ Trung Quốc, ở tất cả các ga xe lửa chúng tôi đều không thấy bóng một người nào khi đoàn tầu chúng tôi đi ngang qua. Tất cả các cửa sổ trong các toa tầu chở khách của Trung Quốc dừng đỗ tại một ga nào đó cùng lúc với đoàn tầu chúng tôi đều được che kín phía trong bằng tấm vải đen hoặc bằng mảnh nilông. Hành khách đi trên những đoàn tầu ấy cũng bị cấm ra khỏi các toa tầu tại những nơi tầu dừng lại. Không thấy bóng dáng con người thì mọi thứ chung quanh như không có sự sống.

    Đến ngày thứ mười đoàn tầu chúng tôi đã đến thủ đô Bắc Kinh của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Cách Bắc Kinh khoảng 30 kilômét, đoàn tầu đi vào đường cụt. Các đại diện phía Trung Quốc đã đến chỗ chúng tôi, xem xét tất cả các toa tầu của chúng tôi, sau đó họ triệu tập mọi người vào phòng ăn để nghe ý kiến phản ánh của phía chúng tôi. Chúng tôi không đưa ra ý kiến phàn nàn gì. Tuy nhiên, phía Trung Quốc lại có những ý kiến phàn nàn. Người đại diện của Trung Quốc chịu trách nhiệm lo việc ăn uống cho các chuyên gia Liên Xô đã bầy tỏ thái độ không hài lòng do trên đường đi chúng tôi đã trả tiền ăn uống. Ông ta cho biết, lẽ ra không nên làm như thế, vì vấn đề này đã được giải quyết trong cuộc viếng thăm gần đây của A. N. Côxưghin đến Trung Quốc và số tiền trả về khoản ăn uống đã được đưa vào tổng số tiền (50 triệu rúp) mà Liên Xô đã trả cho phía Cộng hòa nhân dân Trung Hoa để đảm bảo việc vận chuyển các đoàn tầu của chúng tôi quá cảnh qua lãnh thổ Trung Quốc. Dĩ nhiên, số tiền mà chúng tôi đã trả thì không được hoàn lại. Nhưng từ lúc ấy cho đến hết lộ trình chúng tôi đã không trả tiền ăn uống nữa.

    Sau khi đến Bắc Kinh chúng tôi được đưa lên xe buýt và được đi tham quan thành phố. Trước hết đập vào mắt là số lượng người đông đúc trên các đường phố Bắc Kinh, có nhiều cửa hàng và quầy hàng, có hàng nghìn chiếc xe đạp được sắp xếp cẩn thận ở các bãi để xe thuộc các xí nghiệp công nghiệp, cũng như ở bên ngoài các cửa hàng. Có nhiều xe xích lô.

    Các xe buýt dừng lại tại quảng trường chính của thành phố, và người ta đề nghị chúng tôi ra khỏi xe. Phía bên trái là dãy khán đài, cao hơn một chút, ở phía xa là tòa nhà, nơi làm việc của Mao Trạch Đông, phía bên phải là tòa nhà to lớn làm bằng kính. Đó là nơi diễn ra tất cả những cuộc hội họp chính trị quan trọng. Sau đó các xe buýt hướng đến Bảo tàng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Vào thời điểm đó rất nhiều đơn vị quân đội có mặt tại địa điểm này. Họ được trang bị các khẩu súng CKC do Trung Quốc sản xuất. Trong các đơn vị ấy có nhiều cô gái. Ngay trước lối vào Bảo tàng là bức tượng cao và lớn của Mao Trạch Đông được làm bằng đá cẩm thạch trắng. Trên một khoảng trống ngoài trời có những chiếc máy bay cánh quạt một động cơ tịch thu được của Tưởng Giới Thạch.

    Sau đó toàn thể nhóm chúng tôi đến công viên phía nam. Tại đó chúng tôi rất thích thú xem tất cả những gì được giới thiệu. Đặc biệt đáng ghi nhớ là các loài cây, hồ nước do các nô lệ ngày xưa đào, những hoa văn trên tường trong các tòa nhà, những hình rồng, ngôi nhà hai tầng bằng đá được xây dựng trên một cái cột. Loại vữa xây tòa nhà này được làm bằng nước cơm với lòng trứng; được sử dụng từ trước công nguyên.

    Sau khi đi thăm công viên đã diễn ra buổi chiêu đãi chung tại nhà hàng, do phía Trung Quốc tổ chức. Sau bữa tiệc chúng tôi trở lại đoàn tầu. Tháp tùng chúng tôi vẫn là những nhân vật đã đón tiếp chúng tôi. Phía trước vẫn còn 2 ngày đêm đi trên lãnh thổ Trung Quốc. Trên đường đi, sau cùng chúng tôi đã nhìn thấy một gia đình những nông dân lao động bình thường ở Trung Quốc: người chồng, người vợ và đứa con. Người chồng kéo cầy, người vợ cõng trên lưng đứa con nhỏ thì đi sau chiếc cầy để trợ giúp cho người chồng. Tôi muốn nêu rõ rằng trên suốt lộ trình chạy trên lãnh thổ Trung Quốc chúng tôi đã không nhìn thấy một máy cày nào hoặc một máy gặt đập liên hợp nào.

    Sang ngày hôm sau, vào khoảng 20 giờ, theo giờ địa phương, đoàn tầu của chúng tôi đã tới ga biên giới với Việt Nam.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Người "Liên Xô” trong rừng Việt Nam
    [/i]

    Mỗi khi có ai đó trong những người Việt Nam phát âm cụm từ này thì chúng tôi hiểu rằng đó là nói về chúng tôi. Sau khi đoàn tầu đến ga biên giới với Việt Nam, chúng tôi được các xe buýt chở đến nhà khách. Chưa kịp tắm rửa cẩn thận sau khi đi đường và chưa kịp ổn định chỗ ở thì tất cả chúng tôi đã được mời đi ăn tối. Sau đấy mọi người trở về các phòng ở của mình để chờ những chỉ dẫn tiếp theo. Nhà khách là một tòa nhà không lớn, đâu đâu cũng ngăn nắp trật tự. Tôi và viên sĩ quan chỉ huy trung đội là Trung úy Iu. Dakhmưlốp được bố trí vào một căn phòng có 2 giường với đầy đủ tiện nghi: 2 chiếc giường gỗ cao, những chiếc gối mềm, mỗi giường có 1 chiếc quạt làm bằng lông công, bên cạnh là phòng tắm và toa lét. Ý nghĩ trước tiên từ lâu đã theo đuổi tôi - đó là được tắm vòi sen. Tôi cởi quần áo và bắt đẩu đứng dưới vòi tắm. Tôi chưa kịp gội đầu xong thì nghe thấy tiếng gõ cửa. Một binh sĩ ở ban chỉ huy trung đoàn đến và thông báo rằng Đại tá Bagienốp triệu tập gấp tôi đến gặp ông. Tôi lập tức mặc quần áo và đến trình diện.

    Trong phòng, ngoài Đại tá Bagienốp, còn có tất cả các sĩ quan chỉ huy của trung đoàn, viên chỉ huy tiểu đoàn là Trung tá I. A. Liakisép và một nhân vật dân sự Liên Xô mà tôi chưa quen biết. Đại tá Bagienốp thông báo: vì khung đường sắt, cũng như tất cả các cây cầu và đường hầm trên lãnh thổ Việt Nam đều hẹp hơn nhiều so với của Liên Xô và Trung Quốc, cho nên cần chuyển tất cả các khí tài của chúng tôi từ các toa xe của chúng tôi sang các toa xe trần của Việt Nam, chằng buộc chặt các khí tài và ngụy trang. Tất cả công việc này được giao cho khẩu đội của tôi. Tôi phải chỉ huy công việc này và hoàn thành công việc trước lúc rạng đông. Để trợ giúp, một trung đội các binh sĩ Trung Quốc sẽ tới ngay sau đó, đến nơi tiến hành công việc này.

    Mọi vấn đề đều phải được giải quyết với nhân vật đại diện của Bộ Tổng tham mưu Liên Xô là người chịu trách nhiệm về việc vận chuyển các đoàn tẩu chở hàng của Liên Xô qua biên giới Việt - Trung. Vị này chính là nhân vật dân sự Liên Xô mà tôi chưa quen biết và đã có mặt trong cuộc họp.

    Tôi đã đem theo 6 chiến sĩ trong khẩu đội bệ phóng của mình: Súpsencô, Côsencô,. Xêmencô, Rê va, Máctưnsúc, Lítvinốp. Tôi đã cùng họ khẩn trương đi xe buýt đến đoàn tầu. Không chờ tới lúc có thêm bộ đội Trung Quốc tới giúp, chúng tôi đã bắt tay ngay vào việc tháo gỡ dây chằng khí tài ra khỏi khung toa xe. Ngay sau đó một đội binh sĩ Trung Quốc (gồm 15 binh sĩ) đã tới giúp, chỉ huy toán binh sĩ này là một trung sĩ. Theo lệnh của viên trung sĩ này, những binh sĩ Trung Quốc đã tiến đến một bệ phóng và tìm cách chuyển dịch nó ra khỏi bệ toa xe, nhưng tất cả mọi nỗ lực của họ đều vô hiệu. Họ hội ý, sau đó họ đem từ đâu đến một dây cáp lớn, buộc nó vào bệ phóng. Họ nắm chặt dây cáp và lại cố chuyển dịch bệ phóng xuống mặt đường nhưng không có kết quả. Sau đó, theo mệnh lệnh của viên chỉ huy, tất cả toán bộ đội Trung Quốc đã xếp hàng trên mặt đường nhựa và bắt đầu thực hiện những động tác thể dục thư giãn. Việc này diễn ra khoảng 15 phút. Tôi không còn thích thú xem cảnh đó nữa, vì trời sắp sáng rồi. Theo lệnh của tôi, 6 binh sĩ của chúng tôi tiến đến bệ phóng và theo hiệu lệnh "Một - hai, ba kéo nào” đã kéo bệ phóng ra khỏi sàn toa tầu xuống mặt đường nhựa, kéo thêm khoảng 30 mét nữa. Điều này tác động rất mạnh đến tất cả toán bộ đội Trung Quốc. Sau đó họ làm việc nhịp nhàng cùng với chúng tôi.

    Ngay sau đấy người ta đã chuyển những toa xe trần Việt Nam đến. Chúng quả thật hẹp hơn nhiều so với các toa xe lửa của chúng tôi. Chúng tôi bắt tay vào việc chuyển khí tài lên toa trần. Sự khác biệt về bề rộng của các toa xe trần đã gây khó khăn rất nhiều cho công việc. Mặc dù gặp những phức tạp, nhưng đến khi trời sáng chúng tôi đã kịp kết thúc công việc.

    Đến chiều tối người ta đưa chúng tôi lên các toa tầu có giường cứng, bây giờ là các toa giường cứng của Việt Nam. Chúng tôi cảm thấy những toa tầu ấy hẹp đến nỗi 2 người gặp nhau trong hành lang của toa tầu thì khó mà đi qua nổi. Các giường nằm thì ngắn đến nỗi nếu một người có chiều cao trung bình mà nằm xuống giường ở phía dưới thì đôi chân của anh ta sẽ thò ra ngoài chạm đến sàn.

    Trên đường đi, từ toa tầu có thể nhìn thấy nhiều điều thú vị. Tại một trong số các trạm dừng tầu, điều đập vào mắt là vô số những ôtô tải hạng nậng nhãn hiệu ZIL-157 do Trung Quốc sản xuất, được chất đầy hàng nghìn khẩu súng trường CKC.
    Cùng đi với chúng tôi có một Đại tá của Quân đội nhân dân Việt Nam, nói tiếng Nga khá tốt và kể tỉ mỉ cho chúng tôi biết về tình hình chính trị ở Đông Dương. Vị Đại tá này kiểm tra chặt chẽ việc tuân thủ tất cả các biện pháp ngụy trang. Ông này cũng hút thuốc như chúng tôi. Do vậy, lúc hút thuốc chúng tôi thường ra đầu toa xe và, thận trọng châm thuốc, lấy hai tay che điếu thuốc để hút. Vị Đại tá này đã nhiều lần nhắc chúng tôi rằng bất cứ lúc nào cũng có thể xuất hiện máy bay trinh sát của Mỹ. Chúng tôi không hiểu điều này: tại sao máy bay Mỹ lại có thể bay trên không phận Việt Nam mà không bị trừng phạt?

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Cũng như khi còn ở Liên Xô. chỗ chúng tôi cũng có tổ chức đảng hoạt động, các cuộc họp đảng vẫn được tiến hành. Trong cuộc họp tổ đảng, đầu tiên tôi được bầu làm phó bí thư chi bộ của nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô thuộc Trung tâm huấn luyện số 2. Có lần, trong cuộc trao đổi với tôi Đại tá I. I Xmiếcnốp, phó chỉ huy phụ trách công tác chính trị, vì đã nắm rõ các thành tích của tôi trong trung đoàn, nên đã khuyên tôi tổ chức hoạt động văn nghệ nghiệp dư.

    Sau khi nhận thêm việc này, tôi đã tích cực tìm kiếm các tài năng, lựa chọn những người biểu diễn. Trong hàng ngũ chuyên gia chúng tôi hóa ra có khá nhiều người có tài năng văn nghệ. Cần suy nghĩ và soạn thảo chương trình văn nghệ và tổ chức tập luyện cho những người tham gia hoạt động văn nghệ. Đối với tôi đó là công việc bình thường, vì trước kia tôi cũng đã tổ chức hoạt động văn nghệ nghiệp dư như vậy tại Tiểu đoàn số 2 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không số 345, Quân khu phòng không Ba cu. Tập thể của chúng tôi đã thành công trong những buổi biểu diễn văn nghệ trước toàn đội ngũ đơn vị và đã luôn luôn giữ những vị trí hàng đầu trong các cuộc thi văn nghệ.

    Sau một tháng, tổ văn nghệ nghiệp dư của Trung tâm huấn luyện số 2 đã sẵn sàng trình diễn. Một lần vào buổi sáng người ta đã cho một chiếc ôtô "Pôbêđa" đến Trung tâm huấn luyện đón tôi với lệnh của Đại tá N. V. Bagienốp yêu cầu đến gặp ông ngay lập tức. Người ta dẫn tôi vào nhà ăn. Khi tôi bước vào phòng ăn, tôi trông thấy có nhiều người Việt Nam, chủ yếu là các cô gái. Tất cả họ đều mặc quân phục, mỗi cô đều có hành lý để cạnh và có các phương tiện ngụy trang.

    Đại tá I. I. Xmiếcnốp giới thiệu tôi với những người có mặt rằng tôi là người chỉ đạo hoạt động văn nghệ. Tôi được mời ngồi vào bàn. Đối diện với tôi là một cô gái duyên dáng có nước da bánh mật. Cô lập tức tự giới thiệu tên cô là Vũ Thanh (By Tahь) và bắt đầu vồn vã rót trà và mời tôi ăn bánh. Mọi người đều có thái độ thoải mái: họ cùng nhau trò chuyện, uống trà, hút thuốc. Đó là Đoàn ca múa của lực lượng phòng không - không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đoàn ca múa này từ Hà Nội đã phải đi mất ba ngày mới đến được chỗ chúng tôi. Tại đây người ta đã quyết định tiến hành buổi biểu diễn văn nghệ chung để phục vụ các chuyên gia của Trung tâm và toàn thể đội ngũ của Trung đoàn tên lửa phòng không số 238 sau này của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng tôi đã thỏa thuận chi tiết các tiết mục biểu diễn, ấn định thời gian và địa điểm tiến hành buổi biểu diễn.

    Đến tối đã diễn ra buổi văn nghệ chung đẩu tiên và đã rất thành công. Đội văn nghệ nghiệp dư của tôi đã giành được quyền trình diễn. Chẳng bao lâu sau chúng tôi đã biểu diễn thành công trước dân chúng trong tỉnh. Đã có vài nghìn người Việt Nam tụ họp trong rừng để xem buổi biểu diễn văn nghệ ấy.

    Vào đầu tháng 8, vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Liên Xô tại Việt Nam - ông I. X. Sécbacốp - đã đến thăm Trung tâm huấn luyện của chúng tôi. Vị đại sứ đã tìm hiểu tiến trình đào tạo các khẩu đội Việt Nam, đã tham quan các khí tài chiến đấu và đứng trước đội ngũ các chuyên gia Liên Xô, ông đại sứ đã tuyên bố rằng thời gian sắp tới chúng tôi sẽ ra các trận địa để tác chiến.

    I. X. Sécbacốp đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết ở mỗi chuyên gia Xôviết phải có ý thức trách nhiệm cao, vì điều đó sẽ có ý nghĩa quyết định rất lớn đối với nhiều vấn đề trong quan hệ của chúng tôi với Việt Nam. Việc cung cấp các phương tiện kỹ thuật chiến đấu đã được Liên Xô đẩy nhanh. Một phần số phương tiện ấy đã được vận chuyển qua ngả Trung Quốc, cũng như bằng đường biển.

    Những phương tiện kỹ thuật được chở đến đã được tập trung trong rừng bên cạnh Trung tâm huấn luyện. Để trung đoàn chúng tôi xuất kích thì cần phải thành lập bốn tiểu đoàn hỏa lực, một khẩu đội điều khiển và một tiểu đoàn kỹ thuật của trung đoàn. Tất cả số chuyên gia quân sự Liên Xô của Trung tâm huấn luyện đã được phân bổ về các đơn vị ấy, với số chuyên gia còn lại người ta đã thành lập Tiểu đoàn tên lửa phòng không số 82 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không thứ hai (trung đoàn 238) của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Rõ ràng là phía Mỹ đã phát hiện được địa điểm đóng quân của Trung tâm chúng tôi, và chẳng bao lâu sau trên bầu trời Trại Cau đã có ba máy bay tiêm kích Mỹ bay qua rất thấp. Sang ngày hôm sau, vào khoảng 17 giờ các máy bay địch đã phóng xuống Trung tâm huấn luyện một số tên lửa không điều khiển, nhưng không gây ra tổn thất nào cả. Đến thời điểm ấy đã có ba máy bay Mỹ bị hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn tên lửa thứ nhất (Trung đoàn 236) bắn rơi. Tình hình luôn luôn trở nên phức tạp. Vậy là trung đoàn của chúng tôi nhận được lệnh tiến ra trận địa chiến đấu. Đó là vào giữa tháng 8 - 1965. Đã kết thúc thêm một giai đoạn bình yên trong đời sống của Tiểu đoàn 82 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không thứ hai (trung đoàn 238) của Quân đội nhân dân Việt Nam.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Những hoạt động chiến đấu của Tiểu đoàn tên lửa phòng không 82.
    Những thắng lợi và những sai sót

    Trận địa hỏa lực thứ nhất của tiểu đoàn nằm ở phía bắc Hà Nội, trên một cánh đồng bằng phẳng với nền đất mềm và những con đường đất dẫn vào trận địa. Bên cạnh là những đồng lúa và một rặng cây non nhỏ. Trận địa không phải là một công trình kỹ thuật được xây đắp hẳn hoi. Toàn bộ khí tài được bố trí lộ thiên. Chỉ được ngụy trang bằng lưới.

    Tiểu đoàn luôn được đặt trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Do vậy hàng ngày cả khí tài và con người đều hoạt động từ 12 giờ đến 16 giờ trong một chế độ căng thẳng và trong những điều kiện khác thường. Do bị quá hun nóng và do độ ẩm cao nên một số cụm linh kiện khí tài bắt đầu hư hỏng. Trước hết đó là những máy biến thế trong các bộ nguồn của các máy điện tử khuếch đại thuộc bệ phóng tên lửa. Những hỏng hóc ấy rất thường xảy ra. Vì trong kho linh kiện dự trữ (ZIP) không có các máy biến thế, nên chúng tôi đành phải tự sửa lại những biến thế đã hư hỏng. Một người gỡ máy biến thế ra, còn người kia thì quấn dây đồng lên một cái chai rỗng. Dây đồng có đường kính bằng sợi tóc. Cứ làm như vậy cho đến khi tìm ra chỗ dây bị đứt. Sau đấy hàn chỗ bị đứt, kiểm tra mạch điện, rồi quấn trở lại. Các sĩ quan thuộc khẩu đội kỹ thuật vô tuyến là V. Lưsaghin và V. Sennhicốp luôn giúp đỡ tôi trong việc khôi phục lại các máy biến thế và sửa chữa những hỏng hóc khác của những thiết bị phóng tên lửa.

    Việc thay đổi trận địa chiến đấu chỉ được tiến hành ban đêm, còn việc thu gom khí tài thì tiến hành vào khoảng 17 giờ. Thông thường thì tất cả những lần thay đổi trận địa đều diễn ra sau mỗi trận phóng tên lửa chiến đấu vào các mục tiêu. Trong suốt thời gian tội có mặt trong quân số của Tiểu đoàn tên lửa phòng không 82, đã có 17 lần thay đổi trận địa. Đôi khi các trận địa cũ được sử dụng trở lại. Dần dần các chuyên gia Việt Nam đã có được những kỹ năng thực hành, kinh nghiệm. Do vậy họ đã có thể độc lập thực hiện đa số các thao tác.

    Cần phải nói rằng tổ chức đảng trong các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam có những quyền hạn rất lớn. Khi đưa ra lệnh thay đổi trận địa, ban chỉ huy đã tính đến tình hình thực tế trên không và những khuyến nghị của tổ chức đảng. Trên tuyến đường di chuyển của đơn vị tên lửa khi thay đổi trận địa trong khu vực có các cây cầu, hoặc đường hẹp, thì chính quyền địa phương phái các đơn vị dò đường gồm các chiến sĩ tự vệ, phần lớn là các chị phụ nữ. Họ được trang bị khá thô sơ, bằng những khẩu súng cổ lỗ, những giáo mác tự làm.

    Hầu như luôn luôn có các quan sát viên Trung Quốc đi theo cùng đơn vị tên lửa của chúng tôi. Họ ở cách tiểu đoàn chúng tôi không xa. Có một lần, trên đường hành quân một bộ phận của đơn vị đã bị kẹt lại do lỗi của các sĩ quan Trung Quốc tại đoạn đường hẹp. Tôi đã phải can thiệp bằng cách giãn họ sang một bên để nối lại đội hình đơn vị chúng tôi. Điều đập vào mắt là nhiều sĩ quan Việt Nam nói thạo tiếng Trung Quốc.

    Tình hình diễn biến tiếp theo đã buộc phía Việt Nam phải có những biện pháp bổ sung để đảm bảo an toàn. Tất cả đều được phát mũ sắt, các tiểu đoàn tên lửa bắt đầu được sự yểm trợ bảo vệ của các đơn vị pháo cao xạ với số lượng ngày càng tăng. Tất cả các sĩ quan và binh sĩ Việt Nam đều được cấp vũ khí. Họ luôn mang vũ khí bên mình. Các trận địa của chúng tôi bắt đầu được ngụy trang bằng cách trồng thêm các bụi tre hoặc bụi chuối. Tại các trận địa có các buồng điều khiển và các bệ phóng người ta bắt đầu đào hầm trú ẩn, chung quanh các bệ phóng đôi khi người ta đắp những thành bằng đất không cao. Để xây đắp trận địa người ta ngày càng sử dụng dân chúng ở các khu dân cư kế cận.

    Vì trời nắng nóng và độ ẩm cao nên tại trận địa tất cả các chuyên gia Liên Xô đều mặc quần đùi, đầu đội mũ cối, tay cầm biđông đựng nước trà. Đề phòng bất trắc, những chiếc mũ sắt được để trong xe buýt.

    Theo thông lệ, buổi tối và đêm thứ bảy chúng tôi được đưa đến trụ sở của Bộ tư lệnh trung đoàn để nghỉ ngơi, nhận thư từ, nhận tiền chi tiêu và mua sắm. Lần nào cũng vậy các đồng chí Việt Nam đều gửi tiền và liệt kê tên hàng nhờ tôi mua đủ thứ. Tại Hà Nội có duy nhất một cửa hàng quốc tế. Tại đó có thể mua sắm vài thứ, nhưng người Việt Nam không được vào cửa hàng ấy. Tại cửa hàng này cũng quy định số hàng hóa được mua mỗi lần. Vì thế, tôi đành phải xếp hàng vài lần, bởi vì có một lần người ta nhờ tôi mua, chẳng hạn, 65 chiếc đèn pin, nhưng mỗi lần chỉ đươc mua 5 chiếc. Cuối cùng thì tôi đã xuất hiện quá nhiều trước mặt các nhân viên bán hàng, làm cho họ ngao ngán, đến nỗi họ để mặc tôi đến khi đóng cửa và bán hết các mặt hàng tôi mua. Chủ yếu người ta nhờ tôi mua đèn pin Trung Quốc, bật lửa, xăng dùng cho bật lửa, len đan ao.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •