Trang 2 của 24 Đầu tiênĐầu tiên 123412 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 238
  1. #11
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Chúng tôi đi tầu gần 8 giờ trên đất Việt Nam và đến mờ sáng thì đến điểm dân cư có tên gọi là Trại Cau. Lúc đó trời nóng, ẩm ướt, mưa nhẹ. Tại nhà ga, các quân nhân Việt Nam đang chờ đón chúng tôi. Họ đã lập tức bắt tay vào bốc dỡ hàng trên tầu xuống. Và ở đây chúng tôi đã phải giúp họ vì các hòm đựng ZIP (bộ linh kiện dự trữ và dụng cụ chuyên dùng) của các bệ phóng quá nặng đối với các binh sĩ Việt Nam.

    Khoảng 9 giờ đã có lệnh báo động đầu tiên đối với chúng tôi: trên bầu trời Việt Nam đã xuất hiện 1 máy bay trinh sát của Mỹ. Mọi công việc lập tức ngừng lại. Phải nói là tất cả những chuyên gia Liên Xô chúng tôi trong ba ngày cuối cùng ấy đã bị mệt nhoài bởi lao động chân tay và ngồi tàu căng thẳng. Do mệt mỏi, mọi người đã thật sự không đứng vững, khát nước và muốn ngủ kinh khủng.

    Toàn bộ số khí tài vừa bốc dỡ khỏi đoàn tầu đã được bố trí phân tán từng phần quanh khu vực nhà ga và được ngụy trang. Chỉ đến tối người ta mới chuyển các khí tài ấy vào rừng là nơi dự định triển khai Trung tâm huấn luyện. Sau khi kết thúc công việc bốc dỡ, tất cả chúng tôi được chuyển đến địa điểm cư trú sau này và được đưa đến nhà ăn.

    Sự mệt mỏi tích tụ trong suốt thời gian đi qua một quãng đường dài, cũng như khí hậu nóng bức đã có tác động: sau vài ngày, trong số các chuyên gia chúng tôi đã bắt đầu phát sinh bệnh tật. Trên thực tế, tất cả chúng tôi trong ít nhất ba ngày liền đã bị sốt cao và bị nhức đầu ghê gớm. Đấy có phải là bệnh sốt nóng hay là sốt rét - về chuyện này tốt hơn hãy để các bác sĩ phát biểu, vì họ chữa chạy và chăm sóc cho chúng tôi. Bệnh tật đã làm chậm lại đôi chút việc triển khai các khí tài và việc chuẩn bị khí tài để huấn luyện cho các khẩu đội Việt Nam.

    Trong vòng một tuần lễ, tất cả chúng tôi đã được bố trí về các phòng. Tôi đã được sắp xếp nơi ở cùng với các sĩ quan chỉ huy của các trung đội - Dakhmưlốp và Miacuscô. Nhưng về đêm những con muỗi và những con thạch sùng bò trên trần nhà không để chúng tôi yên. Sau cùng: theo chỉ thị của ban chỉ huy Việt Nam, tất cả các giường nằm của chúng tôi đều có màn chống muỗi. Bấy giờ chúng tôi có thể ngủ yên giấc.

    Trong nhà ăn có quầy giải khát, tại đấy có bán nước khoáng nhãn hiệu "Boócgiômi", nhưng chúng tôi không có tiền Việt Nam để mua. Chẳng bao lâu sau đó mỗi người chúng tôi được phát các biđông quân đội. Thế là mỗi buổi sáng chúng tôi đổ đầy nước sôi vào đấy hoặc đổ nước trà vào đấy và uống cả ngày

    Hàng ngày, sau bữa điểm tâm buổi sáng toàn đoàn tập hợp để nhận các nhiệm vụ trong ngày. Ít lâu sau chúng tôi đến địa điểm triển khai Trung tâm huấn luyện tương lai. Địa điểm ấy nằm sâu trong rừng, cách điểm dân cư Trại Cau 20 phút đi xe. Đến thời điểm ấy tất cả số khí tài đã được tập trung ở đây và được bọc kín. Chúng tôi có nhiệm vụ cùng với các khẩu đội Việt Nam chuẩn bị địa điểm để triển khai tổ hợp tên lửa với quân số hạn chế. nhằm đảm bảo khâu huấn luyện lý thuyết và thực hành cho các khẩu đội với điều kiện giữ lại tối đa số lượng cây cối và đảm bảo ngụy trang.

    Khi mọi việc đã chuẩn bị xong, chúng tôi đã bắt tay vào huấn luyện các khẩu đội Việt Nam. Trong mỗi nhóm có hai khẩu đội chiến đấu, với đầy đủ quân số theo biên chế thời chiến, được huấn luyện. Những buổi lên lớp về lý thuyết được tiến hành trong các nhà lán đơn sơ bằng tre, còn những buổi tập thực hành thì được tiến hành trên các khí tài chiến đấu. Mỗi chuyên gia - huấn luyện viên đều có một phiên dịch viên. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng để thiết lập được sự hiểu biết lẫn nhau một cách nhanh chóng. Thoạt đầu các phiên dịch viên gặp khó khăn rất nhiều trong việc dịch văn bản tài liệu của chúng tôi, đành phải vài lần nhắc lại cùng một vấn đề, và phải thay đổi một số cách diễn đạt.

    Có một lần, trong những bài giảng lý thuyết trong nhóm của tôi đã xảy ra một trường hợp rất buồn cười. Trong lúc nghe giảng, các học viên của tôi bỗng nhiên kêu ầm lên, một số nhảy ra khỏi phòng học, nhiều người giơ cao chân lên và nhảy lên bàn. Sau đấy có một số người nhảy bổ về phía tường, lao xuống đất và trong nháy mắt, họ đã long trọng giơ lên cho mọi người thấy một con rắn to vừa bị tóm! Đến hôm sau người phiên dịch cho tôi biết rằng con rắn bắt được hôm qua là loại rắn ăn được và thịt nó rất ngon?

    Trên quãng đường từ Trại Cau đến Trung tâm huấn luyện có một nhánh sông đã bị cạn của một con suối nào đó. Trong trận mưa rào nhiệt đới, nhánh nước cạn ấy đã lập tức tràn đầy nước, thế là con suối ấy lập tức tỏ rõ sự hung dữ của mình, trong dòng thác ào ào nó cuốn trôi không những cây cối, mà đôi khi còn cuốn trôi cả những con trâu. Đối với chúng tôi đây là lần đầu tiên, khi trở về từ Trung tâm huấn luyện, cảnh tượng không đơn giản ấy trở thành một tình huống hoàn toàn bất ngờ. Tất cả chúng tôi đã phải cởi quần áo, chỉ mặc quần đùi, để quần áo trên nóc xe buýt, đóng chặt các cửa xe và hò nhau đẩy xe buýt sang bờ suối bên kia.

  2. #12
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Vào thời điểm đó, theo hiệu lệnh bằng cờ của viên chỉ huy trung đội, các khẩu đội súng máy phòng không 4 nòng đã khai hoả. Sau vài giây chiếc máy bay đã bốc cháy, kéo theo một vệt khói đen. Bay thêm 500 mét nó đâm vào núi, cách chỗ chúng tôi không xa. Mọi người trong trung đội súng máy đã reo hò.

    Vào thời điểm ấy, bỗng nhiên từ hướng khác - hướng tây có một âm thanh giống như tiếng sấm rền, cứ mỗi lúc một to. Sau vài giây có ba tiếng nổ mạnh ở phía sau cabin điều khiển. Tôi nhìn về hướng đó và trông thấy hai đám khói đen do vụ nổ, đúng chỗ các lều bạt của chúng tôi, một quả tên lửa từ bệ phóng số 1 tung lên trời và vỡ ra thành nhiều mảnh, và tôi nhìn thấy 3 chiếc máy bay Mỹ đang vòng sang hướng trái. Sau vài giây lại vang lên loạt đạn súng máy và vài tiếng nổ. Ngay lập tức tiếng động cơ các máy điêden của chúng tôi đã im bặt. Tôi nhìn thấy bóng các binh sĩ nhảy ra khỏi các cabin điều khiển và các sĩ quan chạy theo hướng vào các hầm trú ẩn gần nhất. Có ai đó đẩy tôi theo hướng ấy. Chẳng mấy chốc Chuẩn úy Nicôlencô bế trên tay anh thợ máy điêden người Việt bị thương vào ngực và đưa anh ta vào hầm trú ẩn. Sau đó binh nhất Máctưnsúc bị thương vào vai cũng chạy tới.

    Đột nhiên mọi chuyện im bặt, và tôi đã nhảy ra khỏi hầm trú ẩn. Điều tôi nhìn thấy trước tiên là lưới ngụy trang trên các ca bin điều khiển đang bốc cháy, trên bệ phóng số 6 lửa đang bốc cháy ở khoang chứa nhiên liệu của tên lửa. Sức nổ đã làm văng quả tên lửa ra khỏi bệ phóng số 1 và bệ phóng này ở trong vị trí xuất phát ban đầu. Còn 5 bệ phóng có các quả tên lửa thì nằm im theo cùng một hướng. Tất cả mọi người lao vào dập tắt lửa cho các tấm lưới ngụy trang. Trong lúc đó chỉ huy của tiểu đoàn, Trung tá Liakisép kêu gào mọi người hãy vào hầm trú ẩn ngay lập tức, vì bộ phận nổ (gồm 3600 mảnh) của quả tên lửa đang cháy ở bệ phóng số 6 có thể phát nổ bất cứ lúc nào.

    Tôi không chui vào hầm trú ẩn mà chỉ ngồi tránh ở một phía và đau xót nhìn quả tên lửa đang bốc cháy. Thật uất quá vì tiểu đoàn chúng tôi đã không kịp giáng trả các máy bay Mỹ và đã bị ném bom. Thật không thể tin được rằng cảnh tượng ấy đã có thể diễn ra: tên lửa của chúng tôi đang bốc cháy, còn những chiếc máy bay ấy đã bay đi mà không bị trừng phạt, nếu không kể chiếc máy bay đã bị các chiến sĩ súng máy Việt Nam bắn rơi.

    Khoang nhiên liệu của quả tên lửa trên bệ phóng số 6 vẫn tiếp tục cháy, nhiên liệu chảy xuống đất. Sau vài giây đã vang lên một tiếng nổ rất mạnh mà cường độ của nó to hơn hẳn những tiếng nổ do bom gây ra. Những mảnh của đầu đạn tên lửa đã chọc thủng vỏ các cabin. Trên bệ phóng chỉ còn lại các mảnh tên lửa được giữ lại nhờ các ốc chốt và các bánh xích ở phía sau. Quả tên lửa này không gây nổ được nữa, nhưng để chắc ăn hơn, tôi đã ra lệnh tách phần khớp nối điện, tách bộ phận vận hành ra khỏi bệ phóng.

    Bệ phóng bị cháy mất một nửa, đa số các nắp khoang bị bong ra, trên thực tế hệ thống dây điện và các cụm linh kiện khí tài trên bệ phóng đã bị cháy trụi. Các đường dây cáp điện và cáp tín hiệu dẫn từ bệ phóng đến các động cơ điêden và dẫn đến cabin "P" đã bị vỡ đứt do một loạt đạn pháo từ máy bay Mỹ phóng xuống. Đó cũng là nguyên nhân khiến các động cơ điêden bị hư hỏng ngay từ đầu.

    Không đụng chạm thêm vào bất cứ thứ gì, mọi người tiến đến bệ phóng số 1. Sức nổ đã làm cho tên lửa trên bệ phóng này bị hất tung ra. Bệ phóng đã không bị hỏng. Một số quả bom rơi cạnh lều bạt. Trong một cái hố bom người ta thấy phần đầu đạn của tên lửa, còn cạnh đó, trong ruộng lúa, là những thỏi thuốc cháy của động cơ phản lực nhiên liệu rắn của tên lửa. Những thỏi nhiên liệu ấy nằm tung toé trong ruộng lúa nước. Còn thân động cơ tên lửa thì bị vỡ toang ra, bị xé nát như tờ giấy bị rách không còn dấu vết gì của khoang chứa nhiên liệu tên lửa và khoang chứa máy móc trong tên lửa.

    Trung úy Iu. Dakhmưlốp tiến đến đầu đạn của tên lửa, rút ống kíp nổ ra rồi đem nó ra xa, thận trọng đặt nó xuống đất. Đầu đạn của tên lửa không nguy hiểm nữa. Sau đấy tôi tới chỗ trước kia là những lều bạt. Như lúc đầu tôi đã nói, tôi đã nhìn thấy hai đám khói den do bom nổ, nghĩa là đó là tất cả những gì còn lại của các lều bạt. Ở đấy tôi còn tìm thấy chiếc thắt lưng quần mà sau khi giặt tôi đã phơi trên dây phơi bên cạnh lều bạt.

    Nơi mà anh thợ cạo đã cắt tóc cho các chiến sĩ Việt Nam đã đọng lại một vũng máu lớn - anh ấy đã hy sinh.

  3. #13
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Từ trong một hầm trú ẩn ở giữa trận địa vọng ra những tiếng rên. Tôi tiến đến chỗ ấy. Có mấy đồng chí Việt Nam đang đỡ trên tay anh Vitali Xmiếcnốp bị thương nặng. Anh ấy rên rất to. Người phiên dịch cho tôi biết rằng vào phút chót, khi nửa người đã vào được hầm trú ẩn, đồng chí Xmiếcnốp lại bị hai vết thương do mảnh bom - vào sườn và vào chân.

    Tại nơi trước đó là lều bạt với các tài liệu mật, tôi trông thấy một cánh tay trái nằm lại, trên ngón tay đeo nhẫn vẫn còn chiếc nhẫn vàng. Cách đó không lâu khẩu đội của tôi tiếp nhận trung sĩ Côbưncô đến từ Quân khu phòng không Mátxcơva. Đồng chí ấy đã có vợ và cũng đeo nhẫn. Nhưng, những lo lắng của tôi không đúng. Trung sĩ Côbưncô vẫn còn sống. Người bị mất cánh tay là nhân viên người Việt Nam.

    Lúc đó một chiếc máy bay lên thẳng xuất hiện trên bầu trời và đã nhanh chóng hạ cánh cạnh trận địa chúng tôi. Có vài người bước ra từ máy bay, đem theo cáng thương và đi về phía trận địa. Tất cả những người bị thương và hy sinh đã được chuyển đi ngay.

    Sau đó tôi đã xem xét 4 bệ phóng còn lại với các quả tên lửa. Có hai tên lửa bị hư hại vì mảnh bom - các cánh ổn định hướng bay, và các cánh ổn định phía trước đã bị uốn cong queo. Trên 2 bệ phóng, những nắp đậy các khoang đã bị hất tung. Như vậy, trong 6 bệ phóng chỉ còn 2 bệ phóng và chỉ còn 2 quả tên lửa còn có khả năng chiến đấu.

    Tôi kiểm tra quân số của khẩu đội và thấy rằng trong thời gian bị máy bay tập kích đã có 3 chiến sĩ trẻ vì hốt hoảng do tiếng bom và tên lửa nổ, họ đã bỏ chạy khỏi trận địa và bị dân quân địa phương "bắt làm tù binh", vì họ bị nhận lầm là các phi công Mỹ nhảy dù. Người ta đã thông báo chuyện này cho chỉ huy tiểu đoàn là Trung tá Liakisép. Ông đã khẩn trương đi xe commăngca đến hiện trường để "giải thoát cho các tù binh" ấy. Viên chỉ huy khẩu đội 1 là Đại úy Iu. C. Pêtơrốp tạm thay ông chỉ huy tại trận địa. Tôi đã báo cáo tình hình với đồng chí Pêtơrốp và đề nghị khẩn trương chuyển những quả tên lửa còn nguyên vẹn sang các bệ phóng chưa bị hư hỏng.

    Sau khi được "duyệt", tôi đã lập tức cùng với các khẩu đội bắt đầu chuyển dịch các tên lửa. Mất gần một giờ để làm việc này. Sau đó chúng tôi tháo dỡ tất cả các dây cáp và các dây điện bị dứt. Sau cùng đã khởi động được toàn bộ máy móc và bắt đầu khâu kiểm tra.

    Vào khoảng 12 giờ trưa người ta bắt đầu thông báo tọa độ của một tốp mục tiêu tiến đến từ hướng bắc ở độ cao trung bình, không gây nhiễu. Tốp mục tiêu này đã nhanh chóng tiến đến gần trận địa của tiểu đoàn tên lửa. Tất cả đã sẵn sàng chiến đấu. Theo lệnh của Đại úy Pêtơrốp, 2 quả tên lửa cuối cùng đã sẵn sàng xuất phát theo hướng có mục tiêu. Mọi chuyện diễn ra thuận lợi, có 2 máy bay bị bắn rơi, những chiếc khác không dám tấn công vào trận địa của tiểu đoàn, hạ độ cao, chuyển hướng và bay đi mất.

    Cách trận địa không xa, trong một tòa nhà lớn, chắc là một kho hàng cũ, còn có 12 quả tên lửa chưa nạp nhiên liệu được để trên các giá đỡ: Tôi lưu ý Đại úy Pêtơrốp rằng tại trận địa của chúng tôi không còn một quả tên lửa nào cả và chúng tôi cần gấp rút nạp nhiên liệu vào 12 quả tên lửa ấy và chở chúng đến trận địa. Đại úy Pêtơrốp ra lệnh cho tôi trực tiếp tới kho tên lửa ấy và đảm bảo nạp nhiên liệu rồi chuyển các tên lửa tới trận địa. Sau khi đưa ra những chỉ dẫn và ủy nhiệm cho Trung úy Dakhmưlốp thay mình chỉ huy, tôi đã đem theo trắc thủ số 1 thuộc khẩu đội bệ phóng, hai thiết bị chống hơi độc, sau đó đi trên xe kéo pháo loại ZIL-157 để đến địa điểm bảo quản các tên lửa.

    Sau khi tới nơi, chúng tôi tháo dỡ các tấm bạt che phủ các giá đỡ tên lửa, đeo thiết bị phòng hơi độc vào và lập tức tiến hành nạp nhiên liệu vào các quả tên lửa. Để tranh thủ thời gian, chúng tôi thực hiện công việc nạp nhiên liệu mà không sử dụng các quần áo bảo vệ, xem thường sự nguy hiểm. Sau hai giờ, tất cả các quả tên lửa đã được chuyển đến trận địa. Đến lúc này Trung tá Liakisép đã trở về cùng với mấy vị đào binh. Tiện đây xin nói rằng sau này những binh sĩ ấy không bao giờ tỏ thái độ nhát gan nữa và trong những trận bị tập kích sau này họ đã tỏ ra xứng đáng.


    Logged

  4. #14
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Vào thời điểm công việc diễn ra sôi nổi nhất thì Đại tá N. V. Bagienốp và Đại úy A. B. Daica đã đến thăm trận địa. Tôi báo cáo vắn tắt tình hình cho họ biết. Khi quan sát trận địa, Đại tá Bagienốp bắt đầu trao đổi về những việc làm của tôi ngày 17-10. Tôi đã cảm nhận được ngay lập tức thái độ thân mật đối với tôi, thân mật hơn bất kỳ những cuộc gặp gỡ nào trước kia.

    Công việc chuẩn bị trận địa đã nhanh chóng được hoàn tất: Tiểu đoàn đã tiếp nhận trận địa. Sau khi triển khai khí tài, khẩu đội chiến đấu đã kiểm tra, hiệu chỉnh khí tài khả năng hoạt động của nó. Đến sáng thì tất cả đã sẵn sàng chiến đấu. Tất cả mọi người, trừ những người trực chiến, đều lên xe buýt đi về nơi đóng quân của chúng tôi. Tôi và Trung tá I. A. Liakisép đi cùng với Đại tá N. V. Bagienốp trên chiếc xe có nhãn hiệu "Vácsava" (trước kia có tên gọi là "Pôbêđa"). Trên đường đi chúng tôi trông thấy cạnh một thửa ruộng có một khẩu pháo cao xạ 57 ly không hiểu lý do gì lại nằm ở đáy một hố sâu mà nông dân vẫn lấy nước từ đó lên để tưới ruộng. Quay thẳng về phía tôi, Đại tá Bagienốp nói:

    - Đồng chí Đemsencô. Hãy đem theo các binh sĩ, một xe kéo ATL và thử kéo nó lên nhé.

    Sau khi đến nơi đóng quân, tôi đã đem theo hai chiến sĩ trong khẩu đội của mình và sau nửa giờ đã đưa xe kéo hạng nhẹ ATL đến sát khẩu pháo bị mắc kẹt. Một chiến sĩ sau khi buộc dây thừng vào xe kéo, đã bám vào dây rồi tụt xuống đáy hố nước, cột dây cáp vào khẩu pháo. Chúng tôi đã dùng tời của xe kéo đưa khẩu pháo ấy lên phía trên. Khẩu đội pháo phòng không được chỉ định yểm trợ tiểu đoàn chúng tôi và được bố trí cách đó không xa trên một điểm cao. Chúng tôi chuyển khẩu pháo tới đó và chuyển giao nó cho khẩu đội pháo trực chiến ở đó. Đến chiều một trung úy chỉ huy khẩu đội pháo phòng không ấy đã đến nơi đóng quân của chúng tôi và nồng nhiệt cảm ơn đồng chí chỉ huy, Trung tá I. A. Liakisép, về việc đã chuyển giao khẩu pháo đó cho họ.

    Sang ngày hôm sau, ngày 30-10-1965 (thứ bảy), ngay từ sáng sớm đã có báo động: đã phát hiện một mục tiêu bay chậm ở tầm cao. Xét theo mọi thông số thì chúng tôi xác định đây là máy bay trinh sát không có người lái. Độ cao của mục tiêu là 22 nghìn mét. Khi bệ phóng vừa kịp khởi động đồng bộ thì Trung tá Liakisép phát lệnh.

    - Tiêu diệt mục tiêu bằng một quả tên lửa! Điều này khiến tất cả chúng tôi ngạc nhiên.

    Theo "quy tắc xạ kích" thì trong trường hợp này được ấn định phóng 3 tên lửa và bắn theo loạt, mỗi lần phóng cách nhau 6 giây. Chỉ vài giây sau mục tiêu đã rơi vào rìa vùng bị tiêu diệt. Đến khi tên lửa bay đến điểm đã được tính toán thì mục tiêu đã ra khỏi vùng bị tiêu diệt, và ở độ cao lớn tên lửa đã tự nổ tung. Việc phóng tiếp tên lửa nữa là vô ích, bởi vì xét theo các thông số của mục tiêu thì thậm chí cũng không thể bắn đuổi theo được.

    Máy bay trinh sát đã bay đi, giờ đây có thể máy bay sẽ đến oanh tạc Nhưng trong ngày hôm đó đã không xảy ra một cuộc bắn phá nào. Một thời gian sau Đại úy Daica đến gặp tiểu đoàn chúng tôi. Thế là đã diễn ra một cuộc phân tích không thú vị về lần phóng tên lửa không thành công. Trung tá Liakisép đã công khai thừa nhận sai sót của mình, nhưng đã tuyên bố ngay rằng ông sẽ không bắn 3 quả tên lửa vào một mục tiêu như vậy! Trung tá Liakisép ở lại chỉ huy tiểu đoàn tên lửa này cho đến lúc đồng chí ấy trở về Liên Xô.

    Không rõ vì lý do gì mà lần này tiểu đoàn đã không thay đổi trận địa.

    Chúng tôi được lệnh trao quyền tự chủ nhiều hơn nữa cho các khẩu đội Việt Nam, bởi vì sẽ đến một lúc nào đó chúng tôi sẽ trao mọi thứ cho họ và trở về nước. Ngoài ra, bản thân các đồng chí Việt Nam cũng hết sức mong mỏi được tự chủ tiến hành tác chiến. Chấp hành mệnh lệnh nói trên, chúng tôi đã để cho các khẩu đội tên lửa và những chuyên viên Việt Nam đảm nhiệm độc lập khâu trực chiến. Trên thực tế, trong tác chiến tại chỗ, khẩu đội hỗn hợp đã cùng tác chiến.

  5. #15
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Do rút ra những bài học từ trận địch đánh trúng trận địa lần trước và do phía Mỹ sử dụng các tên lửa tự tìm mục tiêu kiểu "Sraicơ", cho nên bộ chỉ huy của Việt Nam đã áp dụng một loạt cách nghi binh mới: xây các trận địa giả, làm giả hoạt động của các phương tiện trinh sát, v.v. . Giờ đây các đường hào để ẩn nấp dành cho đơn vị đã được xây dựng hầu như chung quanh trận địa và có hình ngoằn ngoèo chứ không thẳng, để ngăn cản không cho các mảnh bom văng theo đường hào ẩn nấp. Các dây cáp dẫn đến bệ phóng tên lửa được vùi xuống những đường hào nông, đường hào cho người thì được che phủ bằng các cành tre. Trung tâm của tiểu đoàn cũng được bao quanh bằng một bức tường đất.

    Vì theo lời khai của các phi công Mỹ bị bắt làm tù binh thì thấy rằng những quả tên lửa mầu trắng bạc của chúng ta rất dễ trông thấy từ xa. Do vậy chúng tôi đã bức xúc nêu lên vấn đề cần sơn các quả tên lửa thành mầu ngụy trang và nhất thiết cần phải ngụy trang bệ phóng tên lửa và ăngten thu - phát của ca bin "P". Đáng tiếc là chúng tôi đã được các đại diện của ngành công nghiệp quốc phòng đưa ra câu trả lời không hoàn toàn có sức thuyết phục. Nội dung câu trả lời ấy là: nếu các quả tên lửa được sơn thì sẽ làm giảm tính năng khí động học của tên lửa. Chẳng bao lâu sau lại xảy ra một sự việc liên quan trực tiếp đến vấn đề ngụy trang? tiểu đoàn phụ trách kỹ thuật bị oanh tạc (chỉ huy tiểu đoàn này là Thiếu tá N. I. Ivanốp). Tiểu đoàn này bị phát hiện trước hết do không được ngụy trang khi tiến hành kiểm tra các quả tên lửa.
    Việc tranh luận về vấn đề sơn ngụy trang cho khí tài và các quả tên lửa đã kéo dài gần nửa năm. Chỉ mãi đến cuối năm 1965 vấn đề này mới được giải quyết ổn thoả. Điều đó đã cản trở nhiều đối với việc quan sát bằng mắt thường của các tiểu đoàn, nhất là khi khởi động các hoạt động đồng bộ và khi tất cả các bệ phóng được đặt vào tư thế phóng.

    Sang ngày hôm sau, chủ nhật 31-10-1965, vào khoảng 12 giờ trưa, chúng tôi nhận được thông báo có vài tốp mục tiêu đang hoạt động ở hướng tây và tây - nam. Nếu ở hướng tây - nam có núi thì ở hướng tây có đồng bằng. Ở phía đó, cách chúng tôi khoảng 8 - 10 kilômét, có sân bay Kép, là căn cứ của các máy bay tiêm kích MIG-17. Các khí tài hoạt động không ngơi nghỉ, các quả tên lửa đã sẵn sàng, các máy móc đã được đưa vào tư thế hoạt động đồng bộ. Chúng tôi liên tục tìm kiếm và theo dõi các mục tiêu ở hướng tây. Các quả tên lửa đã nhiều lần được đưa vào tư thế chuẩn bị phóng.

    Sau này, theo lời kể của những người có mặt tại trận địa, người ta đã khôi phục lại toàn bộ sơ đồ vụ oanh tạc vào tiểu đoàn. Một tốp máy bay gồm khoảng 30 chiếc đã bao vây sân bay Kép và ném một số bom và bắn một số tên lửa nhằm không để cho các máy bay tiêm kích có thể cất cánh. Tốp thứ hai gồm 3 chiếc bay ở phía trên dãy núi từ hướng tây - nam về phía tiểu đoàn chúng tôi. Khi những chiếc máy bay này hướng về phía tiểu đoàn chúng tôi thì khẩu đội pháo yểm hộ chúng tôi - và được chúng tôi trao cho khẩu pháo vớt được từ dưới hố sâu - đã khai hỏa từ tất cả các khẩu pháo và tạo một lưới lửa phía bên trên tiểu đoàn chúng tôi. Các máy bay này vòng sang phía trái, lợi dụng dãy núi để bay đi.

    Vào thời điểm ấy có vài tốp, mỗi tốp có 2-3 máy bay, đã tách khỏi nhóm hoạt động ở hướng tây. Chúng bay hết sức thấp và lao vào trận địa của tiểu đoàn. Chúng tôi kịp phát hiện mục tiêu đi đầu và phóng 2 quả tên lửa vào nó. Khi tên lửa bay tới gần mục tiêu đi đầu thì có 2 chiếc tiêm kích ném bom được nghi trang đã lộn nhào để tránh tên lửa rồi bay về hướng cũ. Các quả tên lửa bay tới tốp mục tiêu rồi nổ, tiêu diệt được 2 máy bay.

    Vào lúc ấy từ hướng đông ngày càng nghe rõ những loạt đạn pháo cao xạ. Điều này chứng tỏ máy bay đang tới gần. Nhờ những hoạt động hữu hiệu của pháo cao xạ yểm hộ, cho nên chỉ có một máy bay địch lao được vào trận địa của tiểu đoàn để oanh tạc và cũng phóng được một vài loạt rốc két. Vào thời khắc ấy bỗng nhiên tất cả các máy móc đều bị tắt.

    Sau khi bước ra khỏi ca bin điều khiển, tôi phát hiện thấy từ trong khoang chứa nhiên liệu của một tên lửa có luồng khói vàng tỏa ra. Sau khi xem xét tên lửa, tôi nhận ra rằng khoang chứa nhiên liệu không bị hỏng, chỉ có thùng chứa chất ôxy hóa bị một lỗ thủng nhỏ ở sườn. Nhưng trong tình trạng này không thể sử dụng được tên lửa. Nó liền được một khẩu đội Việt Nam dỡ khỏi bệ phóng và đưa tới tiểu đoàn kỹ thuật.

  6. #16
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    1
    Khi đi kiểm tra số khí tài còn lại, tôi nghe thấy từ hầm trú ẩn vọng ra những câu chửi thề rất to và không biết bao nhiêu lời nguyền rủa bọn Mỹ bằng tiếng Nga. Khi đến gần, tôi nhìn thấy một trắc thủ của khẩu đội bệ phóng. Người anh ta bị nhiều vết thương do mảnh quả rốc két nổ bên cạnh. Binh sĩ này được đưa lên cáng và đem đi khỏi trận địa. Hóa ra, trong lúc máy bay đang oanh tạc anh lính này chộp lấy khẩu tiểu liên và quát:

    - Lũ khốn! Tao sẽ cho chúng mày thấy”. Rồi anh ta xả súng bắn vào chiếc "Con ma" lúc ấy đang bổ nhào sát đất.

    Rất tiếc là tôi không nhớ họ tên của binh sĩ ấy, vì anh ta được đưa ngay về Liên Xô để chữa trị các vết thương. Sau đấy tôi không gặp lại anh ta nữa.

    Ngay cạnh hầm trú ẩn còn một quả rốc két nữa không nổ. Nó không có ngòi nổ. Cách bệ phóng 3 mét có một hố bom sâu. Ở gần sát nơi này đã không có các mục tiêu không kích.

    Ngày đã hết, cần phải đưa ra quyết định chuyển trận địa. Lần này đã lập tức nhận được lệnh di chuyển tiểu đoàn. Về cơ bản, khẩu đội Việt Nam và một số chuyên gia của chúng tôi đã kết thúc chuyến hành quân đến khu vực đã ấn định. Sau khi cho đơn vị xuất phát, chúng tôi đã thu dọn đồ đạc và lên xe buýt đến trận địa mới. Trên đường đi chúng tôi ghé thăm các chiến sĩ pháo cao xạ Việt Nam. Trung tá Liakisép đã nồng nhiệt cảm ơn họ đã yểm trợ bằng hỏa lực.

    Sau khi đến khu vực mới, tiểu đoàn đã triển khai khí tài bên cạnh một điểm dân cư nào đó, dưới tán lá những hàng cây. Khi chỉ còn cách địa điểm này khoảng 1 kilômét thì chúng tôi nhìn thấy một tốp 3 chiếc máy bay đang đến gần tiểu đoàn. Do thời tiết xấu, trời âm u, những chiếc máy bay ấy trông đen ngòm và hùng dữ. Chúng tôi dừng lại và bước ra khỏi xe buýt, chờ đợi những hậu quả nghiêm trọng. Nhưng những máy bay ấy đã bay qua phía trên tiểu đoàn, không phát hiện ra tiểu đoàn và không gây hại gì cho tiểu đoàn nhờ được ngụy trang tốt.

    Đã kết thúc những ngày chủ nhật nặng nề ấy đối với nhiều chuyên gia quân sự Liên Xô và các chiến sĩ Việt Nam. Mặt khác, những sự kiện xảy ra trong hai ngày ấy đã buộc chúng tôi phải xem xét nhiều vấn đề về lý thuyết và thực tiễn các hoạt động tác chiến của binh chủng phòng không. Chính vào thời gian ấy chúng tôi đã bắt đầu hiểu chiến thuật tác chiến của không quân Mỹ nhắm vào các phương tiện phòng không. Trong chiến đấu đã bộc lộ những thiếu sót và phát hiện ra những mặt yếu của khí tài.

    Mọi người đã biết, vào thời kỳ ấy bộ đội chúng ta đã được trang bị những bộ khí tài tên lửa phòng không và những hệ thống điều khiển tối tân nhất. Khoa học quân sự đã làm thay đổi hẳn những quan điểm của chúng ta về lý thuyết và thực hành trong tác chiến. Trong vấn đề này có sự cống hiến không nhỏ của những người đã tham gia vào những sự kiện ấy.

    Sau khi di chuyển trận địa, tiểu đoàn đã không triển khai trong mấy ngày liền. Chúng tôi được phép nghỉ ngơi đôi chút. Không để uổng phí thời gian, nhiều người trong chúng tôi đã giúp bà con nông dân địa phương gặt lúa bằng liềm .

  7. #17
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Tổ quốc không quên chúng tôi

    Khi mới đến Việt Nam tất cả chúng tôi đều trải qua cùng một khó khăn: sự nóng bức và độ ẩm cao, khát nước liên tục, thời gian dài vắng bóng thư từ của gia đình. Chỉ mãi tháng 8-1965 mới nhận được những bức thư đầu tiên. Khí hậu ẩm ướt, tình trạng thiếu thốn các phương tiện cần thiết bảo đảm vệ sinh cá nhân, trước hết là thiếu vòi tắm và bồn tắm, - đó là nguyên nhân đầu tiên khiến cho nhiều chuyên gia chúng tôi bị ngã bệnh. Thông thường, những căn bệnh ấy không chữa trị được ở đây và bệnh nhân được đưa về Liên Xô chữa trị.

    Ngoài ra, những khoản tiền cấp phát thời gian đầu là quá ít ỏi hầu như chật vật lắm mới đủ chi dùng cho ăn uống và thuốc lá. Mọi người bắt đầu công khai phàn nàn. Ban chỉ huy Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô đã thông báo vấn đề này với Cục trưởng hữu quan trong Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô. Đến cuối tháng 8-1965 có một đại diện Tổng cục Tài chính Bộ Quốc phòng Liên Xô đến Hà Nội để giải quyết tất cả những vấn đề đã chín muồi. Chẳng bao lâu sau quả thật tất cả các sĩ quan đã được tăng lương, các gia đình chúng tôi ở Liên Xô được trích 70% - chứ không phải 30% - số lương của chúng tôi theo chức vụ khi còn ở Liên Xô. Việc nhận thư từ cũng được cải thiện. Giờ đây đã có thể mua sắm đôi chút cho bản thân và cho gia đình.

    Ngày 6-11-1965, nhân kỷ niệm Quốc khánh Liên Xô, Bộ tư lệnh phòng không - không quân Quân đội nhân dân Việt Nam đã tổ chức tại Hà Nội buổi chiêu đãi trọng thể tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô. Trong buổi lễ này Thượng tá Đdưda đã công bố lệnh phong quân hàm như thường lệ! quân hàm thiếu tướng cho Đại tá N. V. Bagienốp; quân hàm thiếu tá cho Đại úy A. B. Daica. Cuối cùng mỗi chuyên gia được phát một bao thuốc lá Liên Xô. Sau buổi tiếp đón long trọng, đoàn ca múa của Binh chủng phòng không - không quân Việt Nam đã có buổi biểu diễn văn nghệ ngắn.

    Vào giữa tháng 11 đã bắt đầu việc rút về Liên Xô các chuyên gia quân sự đã đến Việt Nam hồi tháng 4-1965, trong nhóm chuyên gia quân sự đầu tiên của Liên Xô. Những người về nước chủ yếu là những chuyên gia mà vai trò giúp đỡ của họ không còn cần thiết nữa, vì đa số các chuyên viên Việt Nam đã tự mình đảm đương được công việc hoặc là những người bị đau ốm hoặc do hoàn cảnh gia đình. Dĩ nhiên, những người còn ở lại cũng mong được như họ. Trong số những chuyên gia về nước có viên chỉ huy trung đoàn, Tướng N. V. Bagienốp, các viên chỉ huy các tiểu đoàn là Trung tá I. A. Liakisép, Thiếu tá Iu. G. Têrêsencô và những chuyên gia khác.

    Ngay trước Tết, Thiếu tá Daica đã thông báo cho chúng tôi về chuyến thăm Hà Nội sắp tới của đoàn đại biểu cao cấp của Đảng và Chính phủ Liên Xô. Hơn nữa, chúng tôi sẽ được gặp gỡ với những vị lãnh đạo của phái đoàn ấy, vì họ sẽ trao cho chúng tôi các phần thưởng của Chính phủ.

    Chúng tôi, mặc lễ phục, xếp hàng theo đội hình. Thiếu tá Daica kiểm tra từng người, nhắc nhở về phong cách bề ngoài và ấn định thời hạn sửa chữa các khiếm khuyết.

    Đây là Đoàn đại biểu quan trọng và có thẩm quyền. Đứng đầu phái đoàn này là ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô A. N. Sêlêpin. Các đoàn viên gồm có Đ. Ph. Uxtinốp là nhân vật hồi ấy phụ trách các vấn đề quốc phòng, Đại tướng pháo binh Tôlúpcô và những nhân vật quan trọng khác. Tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô đã tập hợp tại Sứ quán Liên Xô. Tôi ngồi cạnh Thiếu tá A. B. Daica, ở ghế thứ hai, cách bục phát biểu khoảng 5 mét. Ngay sau đó, tất cả các thành viên của phái đoàn đã xuất hiện trong hội trường. Ông A. N. Sêlêpin phát biểu đầu tiên. Ông đánh giá cao công việc của chúng tôi và tuyên bố rằng Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô chăm chú theo dõi tình hình diễn biến tại Việt Nam. Cuối cùng, A. N. Sêlêpin chúc tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô đạt được nhiều thành tích hơn nữa trong nhiệm vụ quan trọng của mình.

    Sau đó Đại tá A. M. Đdưda công bố danh sách những người lưu lại hội trường và những người rời sang hội trường khác. Trong hội trường của chúng tôi có Đ. Ph. Uxtinốp, một cán bộ công bố Sắc lệnh khen thưởng và một nhân viên nhiếp ảnh.

  8. #18
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Đứng đầu danh sách những người được khen thưởng là Tướng G. A. Bêlốp - Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam. Người thứ hai trong danh sách này là tôi. Tôi bước lên giơ tay chào Uxtinốp theo điều lệnh. Uxtinốp đã trao cho tôi Huân chương Cờ đỏ và chúc mừng tôi đã được nhận phần thưởng cao quý. Sau khi quay người với câu đáp lễ thông thường: "Nguyện phục vụ Liên bang Xôviết?", tôi trở về chỗ ngồi. Thiếu tá Daica cũng chân thành chúc mừng tôi đã được nhận phần thưởng. Sau 2 người nứa đã đến lượt thiếu tá Daica được nhận phần thưởng như vậy. Sau buổi trao thưởng mọi người đã tập hợp ở hội trường. Tướng G. A. Bêlốp tiến lại chỗ ông A. N. Sêlépin và nghiêng đầu nói nhỏ gì đó với ông Sêlêpin. Ông Sêlêpin lập tức lớn tiếng tuyên bố. "Dĩ nhiên là có thể!". Tướng Bê lốp nhìn xuống hội trường và hỏi: "Ai biết cách mở rượu sâm banh nào?"

    Không hẹn nhau, tựa hồ như theo mệnh lệnh, tôi và 3 anh bạn ngồi cạnh - V. Sennhicốp, V. Lưsaghin và A Nikitin đã giơ tay. Ngay lập tức Tướng Bêlốp chỉ thị cho chúng tôi sang phòng bên cạnh, mở tất cả các chai sâm banh và rót vào cốc Chúng tôi đã nhanh chóng bước sang phòng bên và rất tích cực thực hiện tất cả mọi việc theo yêu cầu. Một lúc sau ông A. N. Sêlêpin và các thành viên phái đoàn đã có mặt trong hội trường. Mọi người đã nâng cốc, sau câu chúc mừng vắn tắt, đã cạn chén.

    Cùng với phái đoàn Đảng và Chính phủ đến Hà Nội còn có một máy bay nữa chở quà tặng cho chúng tôi. Mỗi người được nhận một gói quà: các sĩ quan cấp trên thì nhận được gói số 1, các sĩ quan cấp dưới nhận được gói quà số 2, những chuyên gia được gia hạn phục vụ, các hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ theo thời hạn nghĩa vụ thì nhận được gói quà số 3.

    Nội dung trong các gói quà đều giống nhau, nhưng chỉ có sự khác nhau về độ giá trị của loại rượu: các sĩ quan cấp trên nhận được rượu sâm banh và 2 chai cô- nhắc, các sĩ quan cấp dưới thì nhận được rượu sâm banh, 1 chai vốt ca "Thủ đô", 1 chai rượu trắng "Mátxcơva", những chuyên gia khác thì nhận được 1 chai sâm banh, 2 chai rượu trắng "Mátxcơva':.

    Ngoài ra, trong mỗi gói quà đều có tấm thiệp của Bộ trưởng Quốc phòng đích thân chúc mừng, có cả giò, trứng cá, bánh bích quy, thuốc lá nhãn hiệu "Nôvốt", đôi dép đi trong nhà, đôi giầy cao cổ theo .. kiểu giầy mà bộ binh Mỹ vẫn sử dụng ở Nam Việt Nam, áo đi mưa, quần dài, áo len. Cũng còn có thêm một túi đựng 4kg bánh mì đen cho mỗi người! Bánh mì đen, cá trích muối và nước ướp lạnh - đó là mơ ước của mỗi chúng tôi. Cuối cùng thì một phần ước mơ ấy đã thành sự thật! Ai ai cũng có bánh mì đen, chỉ ăn mọi thứ với bánh mì đen, nhắm rượu cũng với bánh mì đen:

    Những túi quà được trao vào ngày 31-12 tại nơi ở của chúng tôi, ngay sau khi nhận phần thưởng. Vẫn còn lâu mới tới nửa đêm. Mọi người long trọng xử lý các phần thưởng vừa nhận được. Để đón đêm giao thừa Năm mới 1966, vào đúng nửa đêm tất cả mọi người tập hợp tại nhà ăn. Tại đây A. B. Daica đã tổ chức các hình thức vui chơi có thưởng, thi hát, thi khiêu vũ và thi độc tấu văn nghệ nghiệp dư. Mọi người đều hồ hởi tham gia vào các tiết mục ấy.

    Chúng tôi cũng không quên các đồng chí Việt Nam. Tôi đã tặng chiếc áo choàng và đôi giầy cao cổ cho anh phiên dịch. Hầu hết các chuyên gia chúng tôi đều làm như vậy. Những ngày vui đã kết thúc như thế. Nhưng chiến tranh thì vẫn tiếp tục. Thế là chúng tôi lại ra trận địa để thi hành nhiệm vụ.

  9. #19
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    GLADUNỐP ÉPGHÊNHI PAVLÔVÍCH

    Ông là Phó tiến sĩ kinh tế, cố vấn ngoại giao cấp 1, viện sĩ Viện Hàn lâm quốc tếcác công trình nghiên cứu hệ thống.

    Ông sinh ngày 4-4-1931 tại thành phố Bixcơ thuộc miền An tai. Bắt đầu cuộc đời lao động, ông làm công nhân từ năm 1943.

    Năm 1963 ông tốt nghiệp Học viện quan hệ quốc tế Mátxcơva thuộc Bộ Ngoại giao Liên Xô.

    Từ năm 1963 đến năm 1965 là tuỳ viên, sau đó là Bí thư thứ ba, và từ năm 1974 đến năm 1978 là Tham tán công sứ của Sứ quán Liên Xô tại Việt Nam.

    Trong những năm 1965 - 1974 là chuyên viên của Ban đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Đã nhiều lần có mặt tại Việt Nam trong những chuyến công tác.

    Từ năm 1978 đến năm 1991 là Vụ trưởng Vụ các nước Đông Dương thuộc Ban đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.

    Từ năm 1991 là Chủ tịch Hội hữu nghị Xô - Việt. Năm 2004 được bầu làm Chủ tịch Hội liên hiệp hợp tác quốc tế của Liên bang Nga.

    Ông đã được tặng thưởng Huân chương Hữu nghị giữa các dân tộc, Huy hiệu Vẻ vang, các Huy chương Vì lao động xuất sắc trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại 1941 - 1945; 50 năm Chiến thắng trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại 1941 - 1945; Lao động lão thành. Ông được tặng thưởng Huân chương Hữu nghị, Huân chương Lao động hạng 1 và hạng II và các Huy chương của Việt Nam

  10. #20
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Đó là đầu năm 1965, khi bầu trời Bắc Việt Nam chỉ mới bị vẩn đục ở ngưỡng cửa của một nguy cơ chiến tranh sẽ nổ ra trong tương lai. Thời điểm ấy Sứ quán chúng tôi đang tích cực chuẩn bị cho chuyến viếng thăm sắp tới của Đoàn đại biểu Liên Xô, do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A. N. Côxưghin dẫn đầu.

    Cuộc viếng thăm ấy diễn ra đầu tháng 2-1965. Những cuộc gặp gỡ trước đó của các nhà lãnh đạo hai nước, hoạt động tích cực của tất cả các đơn vị thuộc các cơ quan ngoại giao, kinh tế, khoa học - kỹ thuật và văn hóa của Liên Xô và của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tạo mọi tiền đề cần thiết cho cuộc viếng thăm ấy, là cuộc viếng thăm sẽ mở ra giai đoạn mới trong mối quan hệ Việt - Xô.

    Tôi còn nhớ rõ chuyến viếng thăm ấy của phái đoàn Liên Xô, cuộc đón tiếp phái đoàn tại sân bay Gia Lâm. Trên thực tế tại đó đã có mặt toàn bộ ban lãnh đạo của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, (lúc đó sân bay Gia Lâm là sân bay quốc tế duy nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng sân bay này chỉ có khả năng tiếp nhận những máy bay không lớn như loại IL-14. Vì vậy, đoàn đại biểu Liên Xô do bay từ Mátxcơva trên loại máy bay IL-18, nên đã phải hạ cánh xuống sân bay quân sự Nội Bài, từ đó lại bay trên máy bay IL-14 hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm).

    Tôi sẽ không nói về những cuộc hội đàm, vì trước kia đã có nhiều bài viết về những cuộc hội đàm ấy rồi. Tôi chỉ nói rằng những hiệp định được ký kết nhờ kết quả cuộc viếng thăm ấy đã tạo các tiền đề cần thiết để mở rộng sự hợp tác kinh tế và quân sự - kỹ thuật giữa Liên Xô và Việt Nam. Sự hợp tác ấy đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng nhất cho thắng lợi trong tương lai của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam Việt Nam và thống nhất đất nước.

    Nhân tiện tôi cũng kể lại rằng gần sáng hôm sau, sau khi phái đoàn Liên Xô tới Việt Nam, giữa đêm tôi đã bị cán bộ trực ban của nhà nghỉ đánh thức dậy và yêu cầu đi ngay. Sau khi tới nơi, tôi được biết có một bức điện từ miền Nam Việt Nam gửi cho ông A. N. Côxưghin và cần dịch ngay bức điện ấy sang tiếng Nga. Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ chào mừng phái đoàn Liên Xô đã đến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nêu rõ rằng nhân dân miền Nam Việt Nam đánh giá cao sự giúp đỡ của Liên Xô, coi sự giúp đỡ ấy là "nguồn khích lệ hết sức mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình", đồng thời bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Chính phủ Liên Xô và nhân dân Liên Xô đã dành sự ủng hộ cho nhân dân Việt Nam.

    Trở lại cuộc viếng thăm của ông A. N. Côxưghin tại Hà Nội, tôi muốn kể về một sự việc mà hồi ấy các nhà báo không để ý tới nhưng, theo tôi, sự việc ấy đã có vai trò không nhỏ trong sự hình thành những quan hệ thân hữu giữa cá nhân hai nhà hoạt động nhà nước nổi tiếng của Liên Xô và Việt Nam - giữa ông Phạm Văn Đồng và ông A. N. Côxưghin.

    Câu chuyện xảy ra vào một trong những ngày diễn ra cuộc viếng thăm đáng ghi nhớ ấy. Buổi trưa đã diễn cuộc hội đàm với các nhà lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhưng buổi chiều thì không có hoạt động nào trong chương trình làm việc. Hồi ấy vị đứng đầu Chính phủ Liên Xô và những nhân vật tháp tùng ông đã nghỉ tại Phủ Chủ tịch ở trung tâm thành phố Hà Nội. Hôm ấy tôi là đại diện của Sứ quán ngồi trực tại đó. Sau bữa trưa mọi người đi nghỉ. Tôi bước ra ngoài hành lang và suy nghĩ xem lấp chỗ trống trong chương trình như thế nào. Bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng chân phía sau lưng, tôi ngoảnh lại và trông thấy ông A. N. Côxưghin. Ông cho biết không muốn ngồi trong phòng, tỏ ý muốn đi dạo quanh vườn bao quanh Phủ Chủ tịch.

    Vì Thủ tướng Liên Xô sau bữa trưa muốn nghỉ ngơi, cho nên tất cả các nhân vật Liên Xô tháp tùng ông và các đồng chí Việt Nam cũng tỏa về các phòng của mình hoặc đi làm việc Tôi tìm cách can ngăn ông A. N. Côxưghin không đi dạo hoặc chí ít cho phép tôi gọi ai đó trong đội bảo vệ đến. Ông trả lời rằng không nên làm phiền mọi người, rồi bảo tôi đi dạo cùng ông. Dĩ nhiên, tôi không thể tranh cãi với Thủ tướng. Thế là chúng tôi đi tham quan khu vườn.

    Ở cổng ra của khuôn viên, tại cái gọi là Cổng Đỏ, nơi có trụ sở của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chúng tôi trông thấy xe ôtô của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, lúc ấy ông trở về làm việc sau bữa trưa. Khi vừa trông thấy chúng tôi, ông bước ra khỏi xe và lấy làm ngạc nhiên hỏi vị đồng nhiệm Liên Xô: "Tại sao đồng chí vi phạm chế độ nghỉ ngơi? Cuối buổi hội đàm đồng chí có nói rằng sau bữa trưa đồng chí sẽ nghỉ trưa cơ mà”

    A. N. Côxưghin đáp lại rằng ông muốn nghỉ ngơi một cách tích cực và tìm hiểu đôi chút về Hà Nội. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề nghị cùng trò chuyện với ông. Thế là cả hai vị Thủ tướng đã đi về phía Hồ Tây. Trên đường đi, tất cả các nhân vật được gọi là các nhân vật hữu quan của phía Liên Xô và Việt Nam đều đuổi kịp chúng tôi.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •