Trang 3 của 24 Đầu tiênĐầu tiên 1234513 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 238
  1. #21
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    6
    QUÃNG ĐỜI KHÔNG THỂ NÀO QUÊN CỦA TÔI

    Theo tôi, viết hồi ký là công việc khá khó khăn. Không chỉ vì phải lục lọi các tài liệu lưu trữ trong lớp bụi, tìm kiếm những ghi chép cũ, khẳng định và làm rõ thêm những sự việc nào đó, những ngày tháng, những tình tiết. Mà còn vì trong những tìm kiếm ấy ta cảm nhận được một cách đặc biệt rõ rằng thời gian trôi đi rất nhanh. Thật vậy, khi ta nhìn vào những bức ảnh cũ, những trang ghi chép ngày xưa trong các cuốn nhật ký, bỗng nhiên ký ức buộc ta quay trở về quá khứ, ta bắt đầu nghĩ về nhiều dự định đã không được thực hiện. Những suy nghĩ ấy đã xuất hiện trong tôi khi tôi bắt đầu viết các bài báo kể về những ngày công tác xa xưa của tôi tại Việt Nam.

    Rõ ràng mỗi con người đều trải qua con đường đời của riêng mình. Con đường ấy không giống đường đời của người khác. Đúng như vậy, nhưng rõ ràng điều chủ yếu lại ở chỗ khác: con đường đời ấy sẽ để lại dấu tích gì trong ký ức của người thân, trong ký ức của mọi người. Đó có phải là một luống cày sâu hay chỉ là một vết xước khó nhận biết mà bụi thời gian sẽ che phủ mất rất nhanh.

    Vào những năm 60 của thế kỷ XX chúng tôi còn là những nhà ngoại giao trẻ tuổi, hôm qua vừa mới tốt nghiệp Viện quan hệ đối ngoại Mátxcơva và cũng vừa mới tới Hà Nội công tác. Chúng tôi vẫn còn có thói quen trình diễn các tiết mục văn nghệ nghiệp dư và diễn những tiết mục của Câu lạc bộ những người vui tính và tháo vát, các vở kịch ngắn trong câu lạc bộ của Sứ quán chúng tôi. Dĩ nhiên, tất cả những tiết mục văn nghệ nghiệp dư và những buổi trình diễn các tiết mục của Câu lạc bộ những người vui tính và tháo vát ấy đã phai mờ trong ký ức; ngoại trừ một số tình tiết. Chỉ còn nhớ lại sự hài hước bất tận của những vở kịch thời thanh niên ấy và khẩu hiệu chính của những vở diễn ấy là: "Những ai tháo vát thì làm việc ở Pa ri, còn tất cả những ai vui tính thì làm việc ở Hà Nội".

    Tại thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày ấy bao trùm bầu không khí tỉnh lẻ, ngoại giao đoàn không đông đảo, chủ yếu gồm sứ quán các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu và châu Á. Thành viên của các đoàn ngoại giao ấy còn trẻ tuổi, do vậy chúng tôi đã sớm làm quen với nhau.

    Tôi đã đến Hà Nội sau lần làm việc với đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu, thăm chính thức Liên Xô vào hồi tháng 7-1961. Do vậy tôi đã có được khá nhiều người quen trong Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngoài việc đọc và tìm hiểu qua báo chí địa phương, tất cả những điều đó đã giúp tôi nhanh chóng tìm hiểu đất nước Việt Nam, có thêm những người bạn mới và những người quen mới.

    Vào đầu năm 1965 các cán bộ trẻ của Sứ quán Liên Xô, cùng với các đồng chí lớp trên trong Sứ quán và cùng với những bạn Việt Nam cũng trẻ tuổi như chúng tôi và mới hôm qua còn là những bạn đồng môn với chúng tôi, đã tiến hành Lễ kỷ niệm 15 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Liên Xô. Chúng tôi hồi tưởng những lần chúng tôi đi xe lửa từ Mátxcơva đến Hà Nội, xuyên qua toàn bộ đất nước Liên Xô và Trung Quốc, thay đổi chỗ ngồi trên các toa xe tại biên giới Xô - Trung và biên giới Việt - Trung. Chúng tôi đã mơ ước đến ngày mở đường bay sắp tới Mátxcơva - Hà Nội sẽ tạo điều kiện cho chúng tôi đi lại bằng máy bay và không phải nghe suốt hai tuần lễ những tiếng lách cách của các bánh xe lửa. Cảnh vật thường xuyên thay đổi, thấp thoáng sau các ô cửa sổ. Thoạt đầu đó là cảnh tượng thú vị, nhưng sau đấy làm cho người ta nhanh chóng mệt mỏi.

    Bắt đầu viết hồi ký từ đâu? Cần nêu bật những giây phút nào trong quãng đời "Việt Nam" của tôi trong vô vàn những sự kiện lớn nhỏ, những cuộc gặp gỡ và những công việc đan kết chặt với nhau và tạo nên thực chất cuộc sống của chúng tôi?

    Số là, chuyến công tác đầu tiên của tôi đến Việt Nam năm 1962 đã liên quan đến một vài sự việc còn lưu lại trong ký ức tôi trong nhiều năm. Sự việc thứ nhất là chuyến du ngoạn cùng với một người bạn Việt Nam. Trong lần làm quen đó anh ấy cho tôi biết rằng anh ấy làm nghề luật sư và đang trở về nước sau chuyến công tác đến một số nước châu Âu. Anh ấy nói chuyện rất hay và là một con người rất thú vị. Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ ấy lẽ ra chỉ là một câu chuyện nhỏ trên đường, nếu không có một chi tiết thú vị: sau nhiều năm tôi gặp lại người bạn đường xa xưa ấy. Anh ấy hỏi về tình hình công việc của tôi, làm tôi kinh ngạc về trí nhớ của anh ấy Anh ấy gọi tên vợ tôi, tên con gái tôi mà anh ấy đã cùng trò chuyện ngày xửa ngày xưa trên xe lửa. Tôi kể ra điều này vì trong những năm tôi công tác ở Việt Nam tôi đã nhiều lần lấy làm kinh ngạc về trí nhớ kỳ lạ của nhiều bạn Việt Nam của tôi. Họ kể chi tiết về những sự việc đã qua từ lâu và đôi khi lại là những sự việc không có ý nghĩa gì lắm.

  2. #22
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Sự việc thứ hai là thời gian dừng chân ngắn ngủi tại Thiên Tân. Tại đó tôi đã gặp lại anh bạn đồng môn với tôi. Anh ấy đến Trung Quốc sớm hơn một chút để thực tập. Tôi đã cùng với anh ấy, và được anh ấy hướng dẫn nếm thử lần đầu tiên các món ăn Trung Quốc, trong dó có món ăn được nấu từ những con cầu gai. Chúng tôi đã cùng nhau đến Bắc Kinh và đã lưu lại Bắc Kinh mấy ngày đi dạo quanh thành phố, chúng tôi đã đến tham quan các ngôi mộ thời Minh vừa được phát hiện trước đó ít lâu. Sau đó lại lên đường tới Hà Nội. Tôi còn nhớ chuyến đi xe lửa của chúng tôi trên nền đường sắt và qua cây cầu mới xây tạm, vì những nền đường và cây cầu cố định trước đó đã bị phá huỷ nặng nề bởi nước sông Hoàng Hà tràn mạnh vào. Trận lụt năm ấy đã phá huỷ nhiều chục kilômét đường bộ và đường sắt, hàng trăm ngôi làng. Trong nhiều năm tôi vẫn còn lưu giữ những ấn tượng về chuyến xe lửa đi qua khu vực bị ngập lụt ấy. Ở đó lần đầu tiên tôi đã chứng kiến tác động phá hủy dữ dội của sức mạnh thiên nhiên.

    Sự việc thứ ba: những bước chân đầu tiên trên đất Việt Nam và những ấn tượng đầu tiên tại ga biên giới Đồng Đăng đã gặp phải một sự cố buồn: con gái của tôi lúc ấy ở tuổi mẫu giáo, đã chạy băng qua đường sắt, bị vấp ngã và bị gãy tay. Tiếng kêu thét của cháu đã làm tất cả mọi người chung quanh đó nhớn nhác - chỉ có bà con Việt Nam chạy tới giúp chúng tôi, khiến vợ chồng tôi lại càng lúng túng hơn, không biết phải làm gì. Nhưng các cán bộ của nhà ga đã nhanh chóng tìm được các bác sĩ. Các bác sĩ đã bôi một loại thuốc nước mầu đỏ lên tay con gái tôi và băng bó chặt chỗ đó. Giữa những lời động viên, chúng tôi bước vào toa xe và xe lửa chuyển bánh về Hà Nội.

    Cho đến tận cuối năm 1964 công việc tại Sứ quán vẫn diễn ra bình thường. Đã có nhiều cuộc gặp gỡ, những chuyến công vụ ở trên đất nước này cùng với vị Đại sứ và những cán bộ khác của Sứ quán. Ngày ấy ngay ở Hà Nội - chưa kể ở đâu đó nơi tỉnh lẻ - mọi sự xuất hiện của người châu Âu trên đường phố đều làm xuất hiện một tốp những cậu bé tò mò và hết sức hồn nhiên. Chúng nhất thiết chăm chú liếc ngắm, còn những cậu bé bạo dạn nhất thì sờ mó những ông Tây "mũi dài" ấy. Cuộc làm quen ấy thường hay kèm theo những tiếng hô: "Liên Xô! Liên Xô!", mặc dù những câu hô ấy có thể không liên quan đến những công dân Liên Xô. Nhưng đó không phải là điều chủ yếu trong lúc này. Điều chủ yếu là ở chỗ khác: tại Việt Nam thời hiện đại, một Việt Nam đang tiến nhanh trên con đường tiến bộ, có thể chưa nhanh lắm, nhưng đã không còn nữa những nét hồn nhiên đáng yêu, không còn sự giao tiếp cởi mở giữa mọi người, đó cũng đã từng là những nét vốn có trước đây ở các tỉnh lẻ của nước Nga.

    Chúng tôi đi ôtô đến khu vực phi quân sự ở Vĩ tuyến 17. Từ những rặng cây chúng tôi nhìn thấy lá cờ có các vạch sọc vàng của chế độ Sài Gòn bay trên bò bên kia sông Bến Hải. Năm 1963 chúng tôi đã cùng Đại sứ đến dự lễ khai mạc đợt một của Nhà máy thuỷ điện Thác Bà. Báo chí Việt Nam đã đưa tin về buổi lễ khai mạc ấy. Báo "Nhân Dân" đã đăng bức ảnh chụp buổi lễ khai mạc. Tóm lại, cuộc sống trôi đi một cách bình thản và đều đều.

    Tình hình này kéo dài đến tháng 8-1964, khi nổ ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ mà ngày nay toàn thế giới đã biết đến. Các tuần dương hạm của Mỹ đã bắn phá vùng duyên hải Việt Nam, sau đó là những trận ném bom đầu tiên của không quân Mỹ vào vùng mỏ than Hòn Gai. Những sự kiện ấy không chỉ làm chấn động thế giới và Việt Nam, mà còn làm thay đổi hẳn phong cách sống của chúng tôi ở Hà Nội. Ngày ấy người ta thường nói: trên bầu trời Hà Nội đã sực mùi chiến tranh. Trước đó, đối với chúng tôi chiến tranh chỉ tồn tại trong những câu chuyện kể của các thành viên trong ủy ban quốc tế giám sát việc thi hành Hiệp định Giơnevơ.

  3. #23
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Việc xây dựng hầm tránh bom trong khuôn viên Sứ quán, với công sức tập thể của chúng tôi sau giờ làm việc, đã kết thúc một cách hoàn toàn ngoài mong đợi. Cuối cùng thì chúng tôi đã rất vất vả đào được hầm trú ẩn (tại địa điểm vốn là công trường với đống gạch và rác thải xây dựng) sâu bằng chiều cao của người. Nhưng đêm hôm ấy có trận mưa rào như trút nước và trận mưa đã hoàn toàn làm ngập công trình của chúng tôi. Tất cả mọi người, kể cả vị Đại sứ đều đi đến kết luận cho rằng thật vô nghĩa nếu cứ làm theo kiểu nghiệp dư như vậy.

    Mãi sau này, sau khi tôi trở về nước, tại địa điểm ấy đã được xây dựng lên một hầm trú ẩn vững chắc thật sự. Tôi đã từng trú ẩn trong hầm tránh bom ấy cùng với anh chị em nhân viên Sứ quán Liên Xô để tránh máy bay Mỹ trong những lần tôi sang Hà Nội sau đấy.

    Chẳng bao lâu sau đó đã diễn ra những cuộc oanh kích liên tiếp nhau vào ban đêm. Đó không chỉ là tiếng còi báo động khó chịu giữa đêm, mà còn có tiếng súng nổ dữ dội xé toạc bầu trời về đêm thành hàng nghìn hình vuông và những hình đa cạnh chói loà. Trong một trận oanh kích như vậy, tôi đã không thuyết phục được vợ xuống nơi trú ẩn ở tầng một, còn bản thân tôi lại trèo lên mái nhà để ngắm "vở kịch ban đêm". Tôi lặng người theo dõi những loạt đạn bắn lên xé toạc màn đêm, ánh sáng chói lòa của các loạt đạn ấy hòa lẫn với ánh sáng của các vì sao, trên cao lần lượt loé lên những chùm sáng của đạn pháo cao xạ nổ và ngay trên đầu tôi có những loạt rốc két nổ do máy bay Mỹ bắn xuống.

    Bỗng nhiên tôi nghe thấy cách không xa có những tiếng động xào xạc trong những cành lá của những cây cao phía trên mái nhà. Một tiếng "bịch" khô khốc vang lên ngay bên cạnh, có cái gì đó rơi gần chân tôi. Tôi cúi xuống, bò một đoạn và dùng tay lần theo mái nhà. Đột nhiên tay tôi bị bỏng. Hóa ra, đây là mảnh rốc két. Tôi nghĩ, mảnh rốc két này cũng có thể không rơi trúng mái nhà, mà rơi đúng vào đầu tôi. Tâm trạng của tôi liền thay đổi. Tôi đã quyết định từ bỏ trò trình diễn nghiệp dư ấy và lập tức tụt xuống phía dưới, nấp dưới mái nhà mình. Nhưng tôi vẫn lưu giữ mảnh đạn rốc két ấy rất lâu, về sau nó bị thất lạc mất.

    Sau những lần oanh tạc ấy không lâu, Bộ Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị sơ tán tất cả phụ nữ và trẻ em thuộc đoàn ngoại giao ra khỏi Hà Nội, trừ những người ở lại vì nhiệm vụ. Trong quyển sổ nhật ký cũ tôi đọc thấy dòng chữ sau đây, được ghi vào tháng 4-1965: "Vợ và con gái đi sơ tán vì lý do máy bay Mỹ bắt đầu bay quá gần bầu trời Hà Nội".

    Đoàn tầu chở phụ nữ và trẻ em "dưới sự hướng dẫn" của một người đàn ông châu Âu duy nhất - đó là một cán bộ của Sứ quán Bungari đã hết hạn công tác tại Việt Nam và cùng gia đình về nước - đã từ từ chuyển bánh rời sân ga Hà Nội. Còn chúng.tôi tiễn đưa họ, nghẹn ngào trong họng, vẫy tay tiễn đưa đoàn tầu khuất dần. Đa số những người đi tiễn đưa đều hiểu rõ cụm từ "sơ tán" với tất cả những hậu quả của nó. Vì nhiều người trong số đó, đặc biệt là trong số các cán bộ Liên Xô, đã từng tham gia cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Vài tháng sau cuộc tiễn đưa ấy tôi về nước nghỉ phép, nhưng được giữ lại làm việc ở Mátxcơva.

    Trong những năm tháng chiến tranh ấy, trên thực tế, hàng ngày - đôi khi vài lần trong ngày, có khi cả ban đêm - ở một khu vực nào đó của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những tiếng còi vang lên báo động cho người dân Việt Nam về những cuộc oanh kích của không quân Mỹ. Sau những cuộc oanh tạc ấy là những ngôi nhà, những trường học, những con đường, những công trình thuỷ lợi và bệnh viện bị phá huỷ. Tiện thể tôi cũng nói thêm rằng hồi ấy báo chí Mỹ nhiều lần đưa tin cho biết các máy bay Mỹ chỉ ném bom vào các cơ sở quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng theo các số liệu của ủy ban điều tra tội ác của Mỹ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì: tính đến tháng 10-1966 các cuộc ném bom của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam đã phá huỷ 294 trường học, 74 bệnh viện, 80 nhà thờ và 30 ngôi chùa. Nếu đó là những cơ sở có ý nghĩa quân sự chiến lược, vậy thì liệt những gì vào danh sách các công trình dân sự?

  4. #24
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Trong những năm chiến tranh, mãi đến tận năm 1974, khi tôi trở lại làm việc tại Sứ quán Liên Xô ở Hà Nội, tôi đã có dịp mỗi năm vài lần đáp máy bay đến Việt Nam trong những lần tháp tùng các phái đoàn và đi công tác một mình. Trong những chuyến công tác như vậy có nhiều chuyện xảy ra. Nhưng tôi chỉ kể về một chuyến đi như thế. Tháng 3-1967 phái đoàn của chúng tôi, đứng đầu là Chủ tịch ủy ban quan hệ văn hóa của Liên Xô X. C. Rômanốpxki, đã đáp máy bay quá cảnh Trung Quốc để sang Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồi đó ở Trung Quốc "cách mạng văn hoá" đã đạt đến đỉnh điểm.

    Nói chung, tôi ghi nhớ chuyến đi này vì nhiều nguyên nhân: vì rằng ở mọi nơi phái đoàn chúng tôi luôn được các cảnh binh đeo súng tiểu liên đón tiếp... Và cũng còn vì lẽ trên đường bay trở về Mátxcơva, cùng với trên chuyến bay ấy có một họa sĩ mới mở đầu con đường sáng tác của mình, nhưng nay đã nổi tiếng trên toàn thế giới - đó là người trùng họ với tôi - họa sĩ Ilia Gladunốp. Do nghề nghiệp, họa sĩ ấy mang một số lượng khổng lồ giấy vẽ và đến đâu cũng thực hiện các bức ký họa bằng bút chì, trong đó có cả những bức ký họa các nghệ sĩ nghiệp dư đã từng trình diễn cho chúng tôi xem và ca ngợi Mao Trạch Đông giữa tiếng reo hò thán phục của người Trung Quốc.

    Tại mỗi sân bay mà chúng tôi được cung cấp đồ ăn thì họa sĩ Ilia Xécghêêvích đều tranh cãi với các nhân viên chạy bàn người Trung Quốc đem món ăn đến cho chúng tôi theo yêu cầu. Tôi yêu cầu các món Trung Quốc, còn họa sĩ Ilia Xécghêêvích thì gọi các món châu Âu. Nhưng các nhân viên chạy bàn Trung Quốc không rõ vì sao cứ luôn luôn nhầm lẫn tôi với họa sĩ: họ mang món ăn do tôi gọi đến chỗ họa sĩ Ilia Gladunốp. Ông ấy lập tức lớn tiếng phản đối rằng ông sẽ không ăn món đó. Họ lại đem món do ông ấy đặt đến chỗ tôi sau đấy, giữa tiếng cười của mọi người, các nhân viên chạy bàn đã ngượng nghịu chuyển đổi các món ăn.

    Thời tiết buộc chúng tôi lưu lại Nam Ninh thêm một ngày nữa. Trong thời gian cực chẳng đã phải ngồi không ở Nam Ninh, tôi đã nhờ các cán bộ của Lãnh sự quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sở tại cung cấp một số tờ báo Việt Nam và tôi chăm chú đọc những số báo ấy, tường thuật lại nội dung chủ yếu những gì đã đọc cho các đồng chí của tôi trong phái đoàn. Ví dụ, báo "Nhân Dân" số ra ngày 5-3-1967 đã viết như sau về tỉnh Hà Tĩnh. Tờ báo nêu lên rằng tỉnh này rất nghèo và thường xuyên phải chịu thiên tai (lũ lụt, hạn hán) và viết tiếp: "Ngoài ra, năm 1966 tỉnh này còn gánh chịu những trận đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Trong 6 tháng đầu năm 1966 số lượng lần đánh phá đã tăng hơn 3 lần so với 6 tháng cuối năm 1965. Ngoài những trận bắn phá các bệnh viện, trường học, nhà thờ và chùa chiền, máy bay Mỹ đã ném bom 166 lần vào các công trình thuỷ lợi của tỉnh này, gây ra thiệt hại đáng kể về vật chất và những hy sinh về nhân mạng".

    Chuyến đi này còn được ghi nhớ, vì khi bay đến gần biên giới Việt Nam máy bay của chúng tôi rơi vào một cơn dông cường độ rất mạnh. Vào thời kỳ ấy chúng tôi đi máy bay đến Việt Nam chủ yếu vào ban đêm, tắt các đèn trên thân sườn máy bay, vì ban ngày các phi công Mỹ hết sức đeo bám quấy rầy các máy bay của chúng tôi trên đường bay, thật sự nhòm thẳng vào các máy bay này. Trong những chuyến bay sau này đến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôi đã nhiều lần nhìn qua cửa sổ và thấy rõ mặt các phi công Mỹ bay quanh máy bay chúng tôi.

    Khi máy bay chúng tôi bay gần đến biên giới Việt Nam trên bầu trời tối đen bỗng vang lên một tiếng ầm hết sức mạnh, làm im bặt tiếng động cơ máy bay. Một ánh chớp loé lên sáng chói, làm đau cả mắt. Nó như một thanh kiếm lửa xé toang bầu trời ban đêm. Ghế ngồi của tôi không rõ biến đi đâu mất. Máy bay bị hạ độ cao rất nhiều và đột ngột. Sau cùng là những tiếng kêu hoảng hốt của các cô gái tiếp viên Trung Quốc mà trước đó một giờ đã "chiêu đãi" chúng tôi bằng những đoạn trích trước tác của Mao Trạch Đông. Tất cả tình cảnh ấy đã buộc chúng tôi quên đi những điều nhỏ nhặt hàng ngày trong cuộc sống, chúng tôi bắt đầu vĩnh biệt nhau. Tình hình lúc ấy thật hoàn toàn bi đát. Rồi đột nhiên chúng tôi nghe thấy tiếng động cơ, nghe hết sức phấn chấn! Hoan hô! Thế là máy bay của chúng ta vẫn bay

    Trong nhật ký của tôi có đoạn ghi rất ngắn về sự cố này: "Khoảng 30 phút trước lúc hạ cánh, thiên nhiên đã đón chào chúng tôi nồng nhiệt. Thoạt đầu ở mạn bên phải máy bay, bầu trời như bị vỡ làm đôi, còn tia lửa ngoằn ngoèo của sét đã ngước nhìn chúng tôi với vẻ hung dữ. Sau đấy, người đẹp ấy thấp thoáng phía bên trái với tiếng nổ hết sức mạnh mà tiếng vang rền của nó còn theo đuổi chúng tôi mãi".

    Sau cuộc thử thách ấy chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Hà Nội trong tình trạng hoàn toàn kiệt quệ. Cũng khó nhận ra tổ lái Trung Quốc - họ cũng rất khó nhọc bước ra khỏi máy bay.

  5. #25
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Sau khi ổn định nơi nghỉ tại khách sạn, chúng tôi đã quyết định đi dạo quanh Hà Nội vào buổi tối. Tôi lại trở lại đọc cuốn nhật ký cũ nát. Trong đó có đoạn ghi: "ở đây tôi phải thú thật rằng sau Nam Ninh tôi đã đến Hà Nội như trở lại nhà mình. Tôi cho rằng nguyên nhân chủ yếu của cảm nhận này là: tại đây tôi được gặp lại nhiều người quen. Cảm tưởng trước hết về buổi tối ở Hà Nội là tựa hồ như không có chiến tranh và hòa bình đang ngự trị trên đất nước Việt Nam. Chỉ có một cảnh đập vào mắt là trên đường phố có rất ít người, có ít thanh niên mà trước kia thường sóng đôi bên nhau đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm. Có một dấu hiệu nữa của chiến tranh - chung quanh hồ này có nhiều hầm tránh bom, những tường nhô cao của những hầm này luôn đập vào mắt. Một sự sắp xếp lại cho phù hợp với hoàn cảnh.

    Tình hình ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quả thật rất phức tạp. Đại sứ Liên Xô I. X. Sécbacốp cũng cho chúng tôi biết tình hình này trong buổi gặp gỡ với phái đoàn chúng tôi. Các đồng chí Việt Nam cũng nói đến điều đó. Những cuộc bắn phá của không quân Mỹ vẫn tiếp diễn - mỗi ngày có 150 - 250 lần chiếc máy bay. Mặc dù những chiến sĩ bảo vệ Việt Nam có tinh thần chiến đấu cao, nhưng sự mỏi mệt về tâm lý, tình trạng thiếu ngủ thường xuyên, khó khăn về lương thực - tất cả những yếu tố ấy đã tác động đến tâm trạng của dân chúng. Có nhiều người bắt đầu bộc lộ hoài nghi về khả năng chiến thắng trong cuộc chiến tranh này. Điều này cũng được những người trò chuyện với chúng tôi không giấu giếm nói ra tại Hà Nội, cả trong lần về Nam Định.

    Nhân tiện xin nói, ngay vào thời gian ấy trong cuộc trò chuyện với tôi, giáo sư Chung (TЮHR), chuyên gia nổi tiếng về khoa thần kinh hồi ấy tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã nêu ý kiến cho rằng những cuộc ném bom thường xuyên cả ngày lẫn đêm đã làm cho mọi người kiệt quệ, thời gian gần đây đã gia tăng mạnh số người mắc các bệnh thần kinh, đặc biệt trong các trẻ em. Vì thiếu lương thực, tình trạng suy dinh dưỡng cũng khá phổ biến.

    Ban lãnh đạo của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa biết rõ những vấn đề ấy và đã có nhiều nỗ lực trong việc tổ chức đời sống và lao động của mọi người trong những điều kiện thời chiến hết sức khó khăn. Đầu năm 1967, trong bài phát biểu tại tỉnh Thái Bình, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đã nói như sau: "Việc phòng không nhân dân phải làm tốt hơn nữa. Địch càng thua càng liều lĩnh. Chiến tranh có thể còn gay go hơn. Cho nên phải đào nhiều hầm hào để bảo về tính mạng và tài sản của nhân dân". Tại từng gia đình, tại nơi sản xuất, hễ ở đâu có người thì đều phải có hầm trú ẩn. Cần tổ chức ở khắp mọi nơi các đội cấp cứu, các đội cứu hoả, đảm bảo kịp thời chuyển những người bị thương vào bệnh viện. Các đội dân quân tự vệ phải trở thành nòng cốt và người khởi xướng toàn bộ công tác này.

    Bài phát biểu này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đăng trên báo "Nhân Dân", số ra ngày 17-1-1967. Tôi dẫn ra bài phát biểu này vì tôi đã đọc nó trên đường từ Hà Nội đến Nam Định. Nội dung bài phát biểu này hoàn toàn khớp với những gì tôi đã nhìn thấy và nghe thấy. Do vậy, nó gây cho tôi một ấn tượng đặc biệt.

    Ngày 26-3 tôi ghi những dòng dưới đây trong nhật ký: Vào lúc 15 giờ đã bắt đầu cuộc hội đàm chính thức tại trụ sở ủy ban liên lạc văn hóa. Sau đó ít phút người ta loan báo máy bay Mỹ cách Hà Nội 20 km. Còi báo động rú lên. Các đồng chí Việt Nam khẩn thiết đề nghị chúng tôi xuống hầm trú ẩn. Cuộc bắn phá kéo dài 40 phút. Chúng tôi không muốn ngồi trong hầm trú ẩn theo yêu cầu của các đồng chí Việt Nam và chỉ đứng cạnh đó thôi. Chúng tôi nhìn thấy những chiếc máy bay bay qua và nghe thấy tiếng bom và đạn rốc két nổ, cũng như những loạt súng máy phòng không và pháo cao xạ nổ chát chúa. Chúng tôi đã đội những chiếc mũ sắt do phía Việt Nam phát và thậm chí đã chụp ảnh.

    Sau khi báo yên, Chủ tịch ủy ban liên lạc văn hóa là ông Thuần (Txyah) đã nói đùa: "Ngài Giônxơn đã thu thuế 40 phút của chúng ta, là khoản thuế trả về bước mở đầu cuộc hội đàm".

    Dù gì đi nữa, nhưng cuộc hội đàm về hợp tác văn hóa giữa hai nước Việt Nam và Liên Xô đã mở đầu từ cuộc tránh bom. Đối với tôi, tất cả những cái đó như có ý nghĩa biểu tượng: chiến tranh đang diễn ra. Vậy mà chúng tôi lại tiến hành hội đàm về hợp tác văn hóa và khoa học. Chắc chắn điều này chứng tỏ chúng tôi đã tin vào thắng lợi chung của chúng tôi. Nhân tiện xin nói, sang ngày hôm sau tôi ghi những dòng sau đây: "Cả ngày hôm qua chúng tôi đã có cuộc hội đàm khó khăn, kéo dài tới tận đêm. Trên bầu trời Hà Nội đã có 3 máy bay bị bắn hạ".

  6. #26
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    0
    Chúng tôi đã bắt đầu thấm mệt, trong xe mọi người không còn chuyện trò nữa. Khi đến gần Nam Định, một đồng chí Việt Nam ngồi cạnh tôi hỏi xem trước kia tôi đã có lần nào đến thành phố này chưa? Tôi trả lời rằng đã đến đó vài lần, đã đến thăm Nhà máy dệt Nam Định nổi tiếng trên toàn Việt Nam. Đáp lại, đồng chí ấy bảo: Vậy thì anh đã biết khách sạn lớn của thành phố này. Khách sạn này được xây dựng từ những năm 30 của thế kỷ XX. Chúng ta sẽ nghỉ tại đó, tắm rửa, ăn sáng và sẽ nghỉ ngơi. Sau bữa trưa chúng ta sẽ tham quan nhà máy dệt.

    Tôi nhớ lại khách sạn cổ duy nhất và khá tiện nghi của thành phố này. Quả thật ở khách sạn này có thể nghỉ ngơi tốt.
    Đến rạng sáng chúng tôi tới thành phố Nam Định. Chỉ còn cách thành phố ấy khoảng 3 - 5 km thì bỗng nhiên nghe thấy còi báo động rú lên và một đội tuần tra của thanh niên bước ra từ bụi cây và dừng xe chúng tôi lại. Trong khoảnh khắc xe của chúng tôi đã ngoặt vào bóng cây chúng tôi được đưa đến một căn nhà tranh tuềnh toàng. Đấy là nhà khách địa phương ở nơi sơ tán. Bên trong là một căn phòng lớn có chiếc bàn lớn đặt ở giữa. Dọc theo tường là những chiếc giường được sắp đặt gọn gàng.

    Bất giác tôi muốn trở lại những dòng nhật ký cũ. Những dòng ấy ghi như sau: "... tôi viết những dòng này nhờ ánh sáng đèn dầu của nhà khách ở nơi sơ tán. Nhà khách này tọa lạc trong một hợp tác xã nông nghiệp". Chúng tôi đã ngạc nhiên không ít khi nhìn thấy dưới bàn có một đường hào khá sâu. Có thể đi theo cái hào ấy để nhanh chóng rút ra khỏi đó và chạy đến một hầm trú ẩn cách đó không xa.

    Nhân thể xin nói thêm rằng cả phía bên dưới chiếc giường mà người ta dành cho tôi để nghỉ ngơi cũng có một cái hầm cá nhân. (Theo lời của người cán bộ đại diện cho tỉnh ủy đón tiếp chúng tôi thì một người phải mất nửa ngày mới đào xong chiếc hầm cá nhân có ống thông hơi. Nói cách khác, trong một ngày lao động một người có thể đào được hai cái hầm trú ẩn cá nhân. Theo lời người cán bộ ấy, năm 1966 đã có hơn 100 héc ta được dùng vào các công trình quốc phòng. Việc đó được thực hiện trong điều kiện diện tích ruộng đất cày cấy rất có hạn ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa!) Chung quanh nhà khách ngẫu nhiên ấy của chúng tôi có những cây anh đào Nhật Bản, với thân cây mảnh mai vươn lên cao. Mùi hương thoang thoảng của hoa anh đào gợi cho tôi nhớ đến ngôi nhà của chúng tôi ở Xibiri. Tại đó hồi còn thơ ấu tôi đã cùng mẹ tôi trồng vài bụi tử đinh hương.

    Khi chúng tôi ngồi vào bàn ăn, mỗi người đều được phát một hộp nhỏ chứa những thức ăn đơn giản - gà rán, khoai tây luộc cả vỏ và mấy quả trứng. Giống như thể chúng tôi đang ngồi không phải cạnh thành phố bị tàn phá, đến đó thật nguy hiểm, mà giống như là một cuộc du ngoạn dã ngoại ra ngoại thành. Nhưng chúng tôi không muốn ngồi lỳ trong căn nhà tranh ấy. Chúng tôi bước ra ngoài, bất chấp những lời can ngăn của các vị chủ nhà và ngồi dưới tán lá cây quan sát cuộc oanh tạc của không quân Mỹ vào thành phố này (về sau người ta cho chúng tôi biết rằng đến thời điểm ấy thành phố Nam Định đã bị đánh phá 68 lần và gần một nửa thành phố này đã bị phá huỷ. Còn các công trình thuỷ lợi của tỉnh Nam Định thì bị đánh phá gần 170 lần).

    Khi quan sát cuộc bắn phá, tôi bỗng nhớ lại cuộc trò chuyện trước đó không lâu tại Hà Nội rằng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề ra những biện pháp bảo vệ sức khoẻ của bà mẹ và trẻ sơ sinh. Báo "Nhân Dân" số ra ngày 5-3-1967 đã đăng tin cho biết tỉnh Quảng Bình đã được ủy ban bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh Trung ương thưởng Cờ đỏ luân lưu và bằng khen về hoạt động tốt trong lĩnh vực này. Vâng... tình hình là như thế đó. Có những người tìm mọi cách tiêu diệt cuộc sống, nhưng có những người khác lại tìm cách bảo vệ và duy trì cuộc sống.

    Cuộc oanh tạc thành phố Nam Định đã nhanh chóng kết thúc. Máy bay Mỹ đã bay đi. Thế là chúng tôi lại lên xe và đi tiếp. Dưới ánh sáng ban ngày, những khuôn mặt của các đồng chí Việt Nam tháp tùng chúng tôi như thể được tạc từ loại cẩm thạch xám, không còn những dấu vết của những nụ cười ngày hôm qua. Họ chỉ nhìn vào con đường, và có cảm giác là họ không nhìn thấy chúng tôi. Tâm trạng của chúng tôi cũng u sầu hết chỗ nói.

    Chúng tôi vào thành phố giữa làn khói. Chung quanh hai bên đường các ngôi nhà vẫn cháy, đâu đâu cũng nghe thấy những tiếng la hét và nước mắt. Về sau chúng tôi được biết là do cuộc oanh tạc xảy ra vào sáng sớm, khi mọi người sửa soạn đến nơi làm việc, cho nên có nhiều thương vong. Khi chúng tôi tới gần nhà khách thì thật ra chúng tôi chỉ thấy đống đổ nát - khách sạn ấy đã bị phá huỷ nghiêm trọng. Anh bạn Việt Nam mới hồi tối hôm trước còn mơ mộng nói đến khả năng chúng tôi nghỉ tại khách sạn ấy thì nay đã bước ra khỏi xe, lánh sang một bên và hoàn toàn im lặng hồi lâu. Anh bạn ấy nghĩ gì thì chỉ có Thượng đế mới biết. Nhưng khi quay trở lại xe, anh ấy đã trở nên già đi rõ rệt.

  7. #27
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Tôi không thể không dẫn ra đây một đoạn ghi chép nữa trong cuốn nhật ký: "Chu Thị Hoa - cô gái thuộc một gia đình theo đạo Thiên Chúa. Trước kia cô vẫn đều đặn đến nhà thờ và là một giáo dân mẫu mực. Giờ đây cô ấy là chỉ huy phó của đội dân quân, đã nhiều lần tham gia chiến đấu chống không quân Mỹ.

    Sau khi trở về Hà Nội chúng tôi được mời tới dự buổi trình diễn văn nghệ. Buổi văn nghệ này diễn ra tại Nhà hát thành phố và giữa những hồi còi báo động phòng không và tiếng máy bay từ xa vọng lại. Nhưng hội trường vẫn đông nghịt người và không một khán giả nào muốn xuống hầm tránh bom ở bên cạnh. Trong cuốn nhật ký có ghi lại một số tiết mục mà tôi thích. Ví dụ, ca khúc hát về người nữ anh hùng dân tộc của Việt Nam Võ Thị Sáu, do nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn sáng tác. "Phải nghe giai điệu của bài hát này mới hình dung được đầy đủ tinh thần bất khuất của người nữ anh hùng, nỗi đau mất mát và lòng khâm phục trước chiến công của người nữ anh hùng ấy". Đã có nhiều bài ca và điệu múa được trình diễn trong buổi văn nghệ ấy. Tất cả những tiết mục ấy đều ngợi ca tinh thần dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng của nhân dân trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược ngoại bang, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên của Việt Nam.

    Buổi biểu diễn văn nghệ hôm ấy phục vụ những đại biểu tham dự hội nghị cán bộ ngành vận tải của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 29-3-1967 tờ báo thanh niên "Tiền Phong" đã viết như sau: "Ngày 27-3 đã có hơn 600 đại biểu của đội quân 100 nghìn nam nữ thanh niên công tác trong ngành vận tải về Hà Nội tụ hội để kỷ niệm 36 năm ngày thành lập Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam".) Trong quyển nhật ký có đoạn viết: "Tôi không biết tại sao, nhưng tôi ví buổi biểu diễn văn nghệ ngày hôm nay với cuộc trình diễn lần đầu bản giao hưởng số 7 hoặc số 9 của Sôxtacôvích tại thành phố Lêningrát lúc ấy đang bị bao vây.

    Có thể sự so sánh ấy là không đạt cho lắm, nhưng trong lúc diễn ra buổi biểu diễn văn nghệ trong tôi đã xuất hiện một cảm giác đúng là như vậy. Nên nhớ rằng một nửa miền Bắc Việt Nam đã bị phá huỷ một cách căn bản, vẫn đang diễn ra cuộc chiến tranh ác liệt. Vậy mà tại đây, tại Hà Nội, lại đang diễn ra buổi biểu diễn văn nghệ tràn đầy tinh thần lạc quan. Chúng tôi xem vở vũ ba lê của Thuý Quỳnh - phiên bản Việt Nam của vở "Hồ Thiên nga". Sau đó nam ca sĩ nổi tiếng của Việt Nam Trần Hiếu đã hát bài hát Liên Xô mà chúng ta đã quen thuộc "Đất nước tôi bao la" đã có thời được nam ca sĩ Mỹ nổi tiếng Pôn Rốpxơn trình bày. Giai điệu Nga êm đềm ấy đã vang lên dưới bầu trời nhiệt đới của Hà Nội".

    Sau đấy lại diễn ra những cuộc hội đàm, thường bị cắt ngang do những cuộc báo động phòng không và do phải xuống hầm trú ẩn. Tiện đây xin nói rằng trong hầm trú ẩn không khí thật nóng bức và ngột ngạt. Vì vậy, tuy có sự phản đối của các đồng chí Việt Nam, chúng tôi vẫn đứng ở cửa hầm thôi. Chúng tôi không nhịn cười được khi thấy anh chàng phóng viên Nhật Bản, với chiếc micrô giơ xa ra phía trước, cứ chạy quanh chiếc hầm trú ẩn để ghi lại toàn bộ "cuộc trình diễn" trận chiến đấu trên bầu trời Hà Nội.

    Ngày 30-3-1967 đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã tiếp phái đoàn chúng tôi. Trong cuộc trao đổi với phái đoàn chúng tôi, đồng chí Lê Duẩn cho biết: Báo chí Việt Nam đưa tin rộng rãi về các chuyến viếng thăm của các đoàn Việt Nam sang Liên Xô và các đoàn Liên Xô sang thăm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng chí nói: "Chúng tôi cố gắng làm sao để nhân dân chúng tôi biết rõ về sự giúp đỡ mà Liên Xô dành cho chúng tôi trong cuộc đấu tranh chống cuộc xâm lược của ngoại bang. Hiện nay, khi đất nước chúng tôi đang trải qua thời kỳ rất khó khăn, ở đất nước chúng tôi đã phổ biến rộng rãi các sách báo của Liên Xô kể về cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, về Cách mạng tháng Mười. Chúng tôi giáo dục nhân dân, đặc biệt giáo dục thanh niên, thông qua những truyền thống anh hùng của nhân dân Liên Xô và của các lực lượng vũ trang Liên Xô. Chúng tôi biết rằng trong những năm Chiến tranh vệ quốc, Liên Xô đã chịu những tổn thất lớn lao. Vì vậy chúng tôi nói với nhân dân nước mình rằng nền độc lập của chúng tôi giành được có sự đóng góp, khích lệ bởi những hy sinh và chiến công của nhân dân Liên Xô".

    Tôi thiết nghĩ, hồi đó đồng chí Lê Duẩn đã trình bày một suy nghĩ thú vị. Đồng chí nói rằng các sinh viên Việt Nam, khi theo học ở Liên Xô, không những thu nhận kiến thức, mà còn hấp thụ nền văn hóa Xôviết mà họ có nhiệm vụ phải truyền lại cho nhân dân nước mình và qua đó góp phần phát triển các quan hệ văn hóa giữa hai nước chúng ta.

    Ngày hôm sau chúng tôi rời Hà Nội. Sau khi trở về Mátxcơva, đã có không những báo cáo chính thức, mà đã diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ, nhiều buổi trao đổi kể về cuộc chiến tranh tại Việt Nam, về hoạt động của các chuyên gia quân sự và dân sự Liên Xô ở đó.

    Vào những năm tiếp theo đã có nhiều chuyến công tác đến Việt Nam trong thời chiến. Những chuyến công tác ấy đã để lại những kỷ niệm sâu sắc trong ký ức tôi. Tôi sẽ không viết về tất cả những chuyến công tác ấy. Nhưng tôi cần phải kể về một chuyến công tác. Tôi muốn nói về chuyến công tác hồi tháng 9-1969 của phái đoàn Liên Xô, do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A. N. Côxưghin dẫn đẩu, đến Hà Nội dự tang lễ của người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ quốc tế xuất sắc - Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồi đó các đoàn đại biểu từ khắp thế giới đã đến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau này tôi đã không có dịp nào được chứng kiến một sự hội tụ các vị khách cao cấp ngoại quốc đông như vậy. Tôi cũng không có dịp nào được nhìn thấy một sự tập trung đông đảo như thế của dân chúng trong thời gian tang lễ. Tưởng chừng như cả nước đã về Quảng trường Ba Đình lịch sử để vĩnh biệt lãnh tụ của mình. Sau này cũng tại quảng trường này và cũng với một số lượng người rất đông đã tiến hành buổi lễ khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Cơ duyên là như vậy đó: tôi cũng có cơ hội chứng kiến tại Hà Nội ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam vào mùa Xuân năm 1975. Nhưng đó là một mùa Xuân khác biệt - mùa Xuân Đại thắng, chiến thắng đó đã thật sự hiện diện trước ngưỡng cửa của mỗi gia đình Việt Nam. Chiến thắng ấy đã rọi ánh sáng rực rỡ lên tất cả những sự kiện trong cuộc sống của chúng tôi ở Hà Nội, trong đó ngày kỷ niệm đầy ý nghĩa đối với quan hệ song phương của hai nước chúng ta - đó là Lễ kỷ niệm 25 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (tháng 1-1975). Chiến thắng ấy đã đem lại sắc thái đặc biệt, tràn đầy không khí ngày hội cho những sự kiện ấy.

    Người Hà Nội yêu mến thành phố của mình (cũng giống như chúng tôi yêu mến thành phố Mátxcơva của chúng tôi). Ngay cả vào thời kỳ ấy, vào thời kỳ chiến tranh gian khổ, người ta đã cố gắng tô điểm cho Hà Nội đẹp hơn và sạch hơn. Đó là lý do tại sao tôi muốn kết thúc những dòng ghi chép về quãng đời của tôi sống ở Hà Nội ngày xưa bằng những câu thơ của nhà thơ trứ danh Tế Hanh được đăng từ lâu lắm trên báo "Nhân Dân".


    Hà Nội ơi! Trong trái tim mỗi người chúng ta
    Người bừng lên ngọn lửa không bao giờ tắt.


    Mátxcơva, năm 2003

  8. #28
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    ĐẠI TÁ
    CÔNXTANTINỐP VLAĐIXLÁP MIKHAILÔVÍCH


    Ông sinh ngày 14-11-1939 tại thành phố Upha.

    Năm 1958 ông vào học trường Kỹ thuật quân sự mang tên Ăng ghen, thuộc binh chủng phòng không, và tốt nghiệp trường này vào năm 1961. Cuộc đời binh nghiệp của ông được tiếp tục với các chức vụ: kỹ thuật viên trưởng, phó chỉ huy khẩu đội số 1 của tiểu đoàn tên lửa phòng không.

    Từ tháng 4-1955 đến tháng 4-1965 ông là sĩ quan điều khiển tên lửa của Tiểu đoàn tên lửa số 63 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 263 (Trung đoàn đầu tiên) của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đã tham gia trận chiến đấu đầu tiên của Tiểu đoàn tên lửa phòng không ở ngoại ô Hà Nội diễn ra vào ngày 24-7-1965.

    Sau khi từ Việt Nam trở về nước, ông là sĩ quan chỉ huy khẩu đội số 1 của tiểu đoàn tên lửa phòng không, là học viên của Học viện sĩ quan chỉ huy thuộc binh chủng phòng không mang tên Giucốp ở Calinin. Sau khi tốt nghiệp Học viện này vào năm 1972 ông được bổ nhiệm làm tham mưu trưởng của tiểu đoàn, chỉ huy trưởng của tiểu đoàn, trưởng khóa học cán bộ chính trị pháo binh bộ đội phòng không. Năm 1990 ông kết thúc thời gian phục vụ trong quân đội.

    Ông đã được tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ, Huân chương Sao đỏ, Huy hiệu vẻ vang, 12 Huy chương của Liên Xô và Huy chương Hữu nghị của Việt Nam.

  9. #29
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    HỒI ỨC VỀ NHỮNG NGƯỜI BẠN CHIẾN ĐẤU

    Thời gian càng lùi sâu vào lịch sử thì ta càng hiếm sâu sắc hơn và càng thấy ý nghĩa quan trọng của những sự kiện lịch sử mà chúng tôi đã tham gia vào những năm 60 của thế kỷ XX, nhưng vào thời kỳ ấy thậm chí đã không ngờ đến điều đó.

    Trước thời điểm đó chúng tôi - các binh sĩ và sĩ quan đã tập trung tại thành phố Xvéclốp. Tại đấy trên cơ sở Quân đoàn độc lập số 4, thuộc binh chủng phòng không, đã hình thành đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô đầu tiên để thực hiện chuyến công tác biệt phái. Người ta đã kiểm tra kỹ càng những người được dự tuyển, người ta đã nghiên cứu và trao đổi hỏi han nhiều với chúng tôi. Cùng lúc chúng tôi đã có nhiều buổi tập luyện với bộ khí tài tên lửa phòng không X-75. Bản thân chúng tôi cũng tìm hiểu nhau cũng như tìm hiểu những binh sĩ và các hạ sĩ quan có thể sẽ là những người dưới quyền của mình.

    Không một ai được biết cụ thể về mục đích chuyến công tác về đất nước chúng tôi đến và về vai trò của mình trong chuyến đi này. Chỉ đến đầu tháng 2 - là khi mỗi người chúng tôi được trực tiếp triệu tập đến gặp một trong số các ủy viên hội đồng quân sự của quân đoàn - thì chúng tôi mới được biết đất nước sẽ đến là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được biết rất đại thể về nhiệm vụ và mục đích của chuyến công tác. Sau đó hình thành một nhóm sĩ quan với nhiệm vụ đặt ra là: đến thành phố Ba cu để tiếp nhận tại đó tại kho vũ khí", một bộ khí tài tên lửa phòng không huấn luyện kiểu có 6 cabin điều khiển. Sau đó có kế hoạch bắn thử loại tên lửa này tại bãi bắn thử Capuxtin Iarơ. Chỉ sau đó bộ khí tài này mới hoàn toàn thuộc quyền chi phối của chúng tôi.

    Nhóm sĩ quan ấy gồm:

    1. Thiếu tá N. A. Mêscốp - trưởng nhóm. Đồng chí ấy là kỹ sư trưởng của Trung đoàn Magnhitôgo.

    2. Đại úy Ruđônphơ Nicôlaiêvích Ivanốp - chỉ huy đại đội kỹ thuật vô tuyến.

    3. Thượng úy Vlađimia Sêlêxtốp - kỹ thuật viên hệ thống định vị.

    4. Thượng úy Bôrít Ivanôvích Côlêxnhích - kỹ thuật viên hệ thống phát lệnh.

    5. Thượng úy Valentin Tôđôrascô - kỹ thuật viên máy phát lệnh vô tuyến.

    6. Thượng úy Valentin Puxtôvôitốp - kỹ thuật viên cabin thu - phát vô tuyến.

    7. Thượng úy Vlađixláp Mikhailôvích Cônxtantinốp - sĩ quan điều khiển tên lửa.

    Cùng với các sĩ quan của "kho vũ khí", chúng tôi đã tham gia lắp ráp và kiểm tra bộ khí tài, chuyển và bốc xếp nó lên xe lửa và chuyển đến bãi thử ở Capuxtin Iarơ. Tại đó đã có các đại diện đến từ Mátxcơva. Bộ khí tài tên lửa được kiểm tra thêm và cuối cùng chúng tôi đã thực hiện hai lần bắn theo các thiết bị phản chiếu góc. Cả hai lần bắn ấy đều đạt kết quả. Bộ khí tài đã được chuyển giao cho chúng tôi. Việc này đã được thực hiện vào cuối tháng 2- 1 965.

    Sau khi bốc xếp bộ khí tài tên lửa lên các toa xe lửa chuyên dụng, chúng tôi đã lên đường đến thành phố Sêliabinxcơ. Tại đó các thành viên khác trong nhóm chuyên gia đã nhập vào đoàn chúng tôi. Một số đoàn xe lửa chuyên dụng khác cũng đã hình thành thêm.

    Thoạt đầu đoàn tầu chuyên dụng của chúng tôi đã đến Bắc Dabaican, và sau đấy đi băng qua lãnh thổ Trung Quốc đến biên giới Việt - Trung. Đến hạ tuần tháng 4 chúng tôi đã tới biên giới. Chúng tôi chuyển khí tài sang các toa xe chuyên dụng khác và đến ngày 16-4-1965 thì tới Hà Nội. Sau đó chúng tôi bắt tay vào thành lập Trung tâm huấn luyện đầu tiên. Chỉ huy Trung tâm này là Đại tá Mikhain Nicôlaiêvích Xưgancốp. Phó chỉ huy, phụ trách công tác chính trị là Trung tá Mikhaỉn Phêđôrôvích Bácxusencô, Thiếu tá Êgôrốp được bổ nhiệm làm quyền tham mưu trưởng, Thiếu tá N. A. Mêscốp được bổ nhiệm làm kỹ sư trưởng. Từ cuối tháng 4 Trung tâm huấn luyện này bắt đầu công việc huấn luyện.

  10. #30
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Theo nghiệp vụ chuyên ngành của mình, mỗi chuyên gia Liên Xô nhận nhiệm vụ huấn luyện cho một tốp các đồng chí Việt Nam. Chúng tôi soạn các chương trình huấn luyện, đề cương kế hoạch từng buổi lên lớp. Công việc khó khăn nhất là đào tạo phiên dịch cho các buổi lên lớp. Thời gian biểu trong ngày rất kín: dậy vào 5 giờ sáng, sau đó ăn sáng và lên lớp từ 6 giờ đến 12 giờ; sau 16 giờ: là lúc bớt oi bức, lại lên lớp cho đến 19 giờ. Buổi tối: từ 20 giờ, theo lịch làm việc, chúng tôi đến khu vực tự huấn luyện cho đến 22 giờ thì kết thúc.

    Các bạn Việt Nam của chúng tôi đã phải chịu một cường độ làm việc lớn. Chương trình đào tạo huấn luyện được dự tính trong 4 tháng. Nhưng cuộc sống thực tế và tình hình trên bầu trời đã buộc phải có những thay đổi bổ sung. Thời gian đào tạo bị cắt giảm xuống còn 2,5 tháng. Tôi nghĩ, nguyên nhân của điều này là phải nhanh chóng trừng phạt những hành động của không quân Mỹ. Cần phải ngăn chặn các hành động ấy.

    Kết quả là vào thượng tuần tháng 7-1965 chỉ huy của Trung tâm huấn luyện đã triệu tập hội nghị sĩ quan và công bố quyết định tập thể của ban chỉ huy là chuẩn bị 2 tiểu đoàn để đưa ra trận địa chiến đấu. Nhiệm vụ này trở nên phức tạp chủ yếu vì các bộ khí tài tên lửa đều là những bộ khí tài dùng cho huấn luyện. Chúng đã được sử dụng trong thời gian dài với mục đích huấn luyện. Nhiều thông số đã rất không phù hợp với những tiêu chuẩn quy định. Thêm vào đó, cùng thời gian này, phía Trung Quốc đã cắt giảm mạnh số lượng các đoàn tầu chuyên dụng của chúng tôi chạy qua lãnh thổ của họ. Chúng tôi chỉ còn biết trông cậy vào bộ ZIP (bộ linh kiện dự trữ và dụng cụ chuyên dùng) tồn tại duy nhất vào lúc đó ở Việt Nam.

    Nhưng quyết định đã được thông qua. Hai tiểu đoàn (tiểu đoàn 63 và Tiểu đoàn 64) của Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 đã được thành lập và có đầy đủ quân số Chúng tôi bắt tay vào chuẩn bị khí tài. Tất cả các chuyên gia của trung tâm huấn luyện đều tham gia vào công việc này. Nhiệm vụ quả là rất phức tạp. Chúng tôi đã thực hiện những loại công việc mà trong điều kiện ở nhà thì chỉ có thể thực hiện được trong các xưởng đặc biệt hoặc với sự tham gia của ngành công nghiệp. Ví dụ, trong cabin tín hiệu chúng tôi đã thay thế một số cụm cơ khí trong phần theo dõi mục tiêu bằng tay. Cả thảy đã phải mất một tuần lễ cho việc chuẩn bị các bộ khí tài. Chúng tôi đã làm việc không kể ngày đêm. Làm việc vào ban đêm thậm chí thuận tiện hơn vì không bị máy bay Mỹ quấy rầy, và cũng bớt nóng bức.

    Vậy là trong những ngày 20 của tháng 7, cả hai tiểu đoàn đã sẵn sàng ra trận địa chiến đấu.

    Chỉ huy tiểu đoàn thứ nhất là Trung tá Bô rít Ivanôvích Môgiaép.

    Chỉ huy tiểu đoàn thứ hai là Trung tá Phêđo Pavlôvích Ilinức.

    Thành phần tiểu đoàn thứ nhất gồm có:

    1. Chỉ huy khẩu đội kỹ thuật vô tuyến là Đại úy Valentin Xécghêêvích Bruxnhikin.

    2. Chỉ huy khẩu đội bệ phóng là Đại úy Êđua Ivanôvích Vôrônin.

    3. Kỹ thuật viên cabin "P" là Valentin Puxtôvôitốp.

    4. Kỹ thuật viên của hệ thống định vị là Thượng úy Vlađimia Sêlêxtốp.

    5. Kỹ thuật viên của hệ thống phát lệnh là Thượng úy Bô rít Ivanôvích Côlêxnhích.

    6. Kỹ thuật viên máy phát lệnh vô tuyến là Thượng úy Valentin Tôđôrascô.

    7. Kỹ thuật viên cabin tín hiệu là Thượng úy Vlađixláp Mikhailôvích Cônxtantinốp.

    Các trắc thủ vận hành máy bằng tay gồm có: binh nhất Iuri Papusốp, hạ sĩ Anatôh Bônđarencô, binh nhất Vlađimia Tinsencô, nhân viên vận hành đài trinh sát và chỉ thị mục tiêu là binh nhất Víchto Cubusép.

    Chỉ huy đại đội kỹ thuật vô tuyến trong tiểu đoàn thứ hai là Đại úy Ruđônphơ Nicôlaiêvích Ivanốp. Thượng úy Anatôli Bônđarép chỉ huy khâu điều khiển tên lửa.

    Đêm ngày 22 rạng ngày 23 tháng 7 chúng tôi bắt đầu hành quân. Chúng tôi di chuyển phần nhiều vào ban đêm. Đến rạng sáng ngày 24-7 chúng tôi đã lập xong trận địa. Trận địa này chưa hoàn chỉnh đầy đủ. Các cabin điều khiển được bố trí lộ thiên. Trong 6 bệ phóng chỉ triển khai được 3 bệ. Cách trận địa của chúng tôi khoảng 10 - 15 kilômét là trận địa của tiểu đoàn thứ hai. Đại tá M. N. Xưgancốp chốt tại sở chỉ huy của trung đoàn.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •