Trang 7 của 7 Đầu tiênĐầu tiên ... 567
Kết quả 61 đến 66 của 66
  1. #61
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    83
    Để hậu thuẫn cho qui kết này, chúng ta biết rằng các viên chức INS đã nhận những chỉ thị ưu tiên hàng đầu từ Washington yêu cầu chặn bắt một công dân Pháp tại Dallas ngay sau vụ ám sát JFK(307) [(Hurt)]. Một chỉ thị kỳ lạ như thế sẽ xuất phát từ đâu? Ai ở trong Bộ tư pháp Mỹ có khả năng bảo đảm rằng một chỉ thị phi chính qui như thế sẽ được thi hành?

    Có lẽ đó không phải cậu bé đưa thư rồi.

    Cũng không kỳ lạ sao khi ngay sau đám tang Kennedy, tổng thống Pháp DeGaulle bắt đầu nói với báo chí cũng như các cố vấn rằng ông ta tin JFK bị giết do một âm mưu về phía Sở cảnh sát Dallas? Đúng vậy, và nó cũng được nói rõ ràng trong một hồ sơ FBI mà mãi đến 1993 mới được giải mật(308) [(Hồ sơ lưu trữ 180-10022-10291; Hồ sơ CIA 62-109060-5819; Tựa: “DeGaulle Viewed Death of JFK as a Conspiracy; 20.10.1967)].

    Điều này có vẻ trái khoáy một cách kỳ lạ nếu không muốn nói là kỳ quái.

    Trong những ngày kế tiếp sau một biến cố bi thảm làm chấn động thế giới, và khi hầu hết các nguyên thủ quốc gia đang ngỏ lời chia buồn với chính phủ và nhân dân Mỹ, thì Charles DeGaulle – một người bạn và đồng minh lâu năm – lại đóng một dấu bôi bác lên cái chết của Kennedy bằng việc tung ra lời đồn không cơ sở và đột ngột này.

    Có vẻ như DeGaulle muốn mò tìm một phương cách để phân tán tư tưởng ngay trong giờ phút mà các bộ phận phân tích của Mỹ đang nỗ lực tập trung vào công tác khổng lồ nhằm điều tra cái chết của JFK. Rồi đột nhiên nguyên thủ của một trong những quốc gia đồng minh sâu sắc nhất lại tung ra một nhận định về cảnh sát Dallas?

    Tại sao DeGaulle làm thế?

    Hơn nữa, tại sao Robert Kennedy ra lệnh cho trục xuất một kẻ có khả năng ám sát anh ông ta, thay vì ra lệnh bắt giữ?

    Hai sự kiện đó là những cú đánh hoàn toàn không thể tin được vào lý luận… trừ phi ta nghĩ tới một động cơ ngấm ngầm cực kỳ hữu lý, và chúng tôi cho rằng động cơ này có thể truy nguyên về tận Sài Gòn và dinh Tổng thống của Diệm.

  2. #62
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    SÀI GÒN


    FBI, trong nhiều hồ sơ, đã đánh dấu bà Nhu và Chính phủ Nam Việt Nam là những tình nghi ám sát JFK(310) [(a) Tài liệu FBI – Số lưu trữ 124-10054-10045, Hồ sơ CIA 62-109060-4257, 22.6.1966 (phiếu phân loại của hồ sơ, mục Chủ Đề, ghi “JFK, SUSPECT, MADAME NHU”). Tài liệu này có nói tới những lá thư từ một người Đức có bí danh KG3 gửi cho FBI; các lá thư khẳng định rằng bà Nhu dự phần trong âm mưu giết JFK; (b) Tài liệu FBI – Số lưu trữ 124-10052-10263, Hồ sơ CIA 62-109060-4257, 14.11.1966 (phiếu phân loại của hồ sơ, mục Chủ Đề, ghi “JFK, SUSPECT, MADAME NHU”); đây là một trong vài tài liệu kể lại lời khai của thuỷ thủ chuyên nghiệp Eric Lintrop, người đã nhiều lần thông báo cho FBI rằng ông ta nghe được các sĩ quan Thổ Nhĩ Kỳ nói chuyện về việc bà Nhu dính líu đến vụ ám sát JFK; (c) Bản dịch của FBI ngày 6.12.1963 các lá thư nặc danh từ Hà Lan gửi cho FBI, trong đó người viết thư khẳng định rằng bà Nhu có dính líu đến vụ ám sát JFK (xem Phụ lục F, G và H)]

    JFK và nhóm cố vấn trong bộ ngoại giao đã làm rất hoàn hảo việc che kín dấu vết của họ trong vụ xâm nhập Vịnh Con Heo và những kế hoạch sau đó của Nhà Trắng nhằm ám sát Castro, cũng như rất nhiều chuyện khác. Người ta phải thấy dân Mỹ đã bị Nhà Trắng nhồi nhét những lời dối trá hữu hiệu đến thế nào suốt bao thập niên qua. Hãy tập trung chú ý vào Cuba một chút để diễn đạt luận điểm của chúng tôi. Trong nhiều thập niên, các sách sử rõ ràng đã tạo ấn tượng rằng vụ xâm nhập Vịnh Con Heo là sản phẩm của tổng thống Eisenhower, và Tổng thống trẻ tuổi vị tha John F. Kennedy đã thừa kế cái kế hoạch xấu xa này do một thất bại không tránh được. Chúng ta được dạy bảo rằng Kennedy chẳng muốn dính dáng gì tới chuyện đó nhưng bị buộc phải chấp nhận chiến dịch này vì quá nhiều công phu dàn xếp của chính phủ đã đâu vào đó. Chúng ta được lý giải rằng Vịnh Con Heo là một cỗ máy đã chạy sẵn trước khi JFK đắc cử, và cái máy đó không thể tắt đi được, và chính John Kennedy là người phải nhận cái kế hoạch tai hại của Eisenhower/Nixon thuộc đảng Cộng hoà ngay ngưỡng cửa Nhà Trắng khi JFK nhậm chức tổng thống. Dĩ nhiên, qua thời gian, chúng ta biết được những điều ngược lại – và sách vở cũng như báo chí cho đến tận cuối năm 1998 vẫn tiếp tục lan tràn, chứng tỏ JFK đã dính líu sâu đậm thế nào trong vụ này.

    Nhưng trở lại năm 1963 thì sao?

    Dân Mỹ không biết chút xíu nào về việc Kennedy, ngay sau lễ nhậm chức, đã hăng hái ủng hộ một đề xuất nhằm lật đổ Castro, họ cũng không hề biết rằng Kennedy hăng hái cho phép CIA duy trì hoạt động chính trị và phá hoại chống Castro tại Cuba(311) [(Kornbluh, Peter (ed.), Bay of Pigs Declassified, (the New Press, New York, 1998)]. Người dân Mỹ không biết chút gì, rằng ngay cả sau khi thất bại trong vụ Vịnh Con Heo, chính phủ Kennedy đã sốt sắng kêu gọi lập thêm những kế hoạch lật đổ Cuba và dàn dựng những biến cố có thể hợp pháp hoá trước công chúng một cuộc xâm lược qui mô lớn của Mỹ(312) [(Tài liệu của Hội đồng an ninh quốc gia (qua Uỷ ban Rockefeller); số lưu trữ 1781000210406; Hồ sơ CIA: ASSASSINATION MATERIALS MISC.ROCK/ CIA (2); Biên bản của Nhóm đặc vụ chiến dịch Mongoose, 4.10.1962; Posner, “Cracks in the Wall of Silence”)], họ cũng không hề biết rằng chính phủ Kennedy đã đồng ý kế hoạch của CIA nhằm tuyển mộ những tay Mafia Mỹ như Sam Giancana và John Roselli để ám sát Castro(313) [(Tài liệu có tựa COMMISSION ON CIA ACTIVITIES WITHIN THE UNITED STATES; phỏng vấn đại tá CIA Sheffield Edwards (qua Uỷ ban Rockefeller); Hồ sơ lưu trữ 178-10002-10352; Hồ sơ CIA A-II (A) CHRON – ASSASSINATIONS, ngày 9.4.1975. Đây là một tài liệu li kì không chỉ chứng minh rằng CIA tuyển mộ dân Mafia để mưu ám sát Castro bằng thuốc độc mà còn chứng tỏ rằng Robert Kennedy đã biết rõ chiến dịch này, rằng ông ta đã không phản đối gì cảm và ông ta đã ra lệnh cho Đại tá Shieffield tường trình cho mình mọi kế hoạch ám sát Castro khác)]. Xem ra, Kennedy hình như có một chính sách và tư tưởng duy nhất một chiều đối với những chính phủ nước ngoài bất đồng với ông ta: giấu mặt lật đổ. Thứ nhất là Castro của Cuba, rồi Diệm ở Nam Việt Nam. Không, công chúng Mỹ năm 1963 không hề nghe nói về điều đó.

    Một điều khác họ không hề – và chẳng bao giờ – được nghe nói tới, đó là 17 ngày sau khi JFK bị ám sát, FBI nhận được thư từ một nguồn tin vô danh ở Hà Lan trong đó khẳng định rằng bà Nhu và chính phủ Nam Việt Nam chịu trách nhiệm về vụ ám sát JFK(314) [(Bản dịch của FBI ngày 6.12.1963 cho lá thư nặc danh gửi FBI từ Hà Lan, trong đó người viết thư khẳng định rằng bà Nhu có dính líu đến vụ ám sát JFK (xem Phụ lục F-2)].

    Rồi FBI nhận được thư của một thuỷ thủ chuyên nghiệp tên là Eric Lintrop khẳng định rằng ông ta đã chặn được một thông tin từ quân đội Thổ Nhĩ Kỳ nói rằng kẻ giết John F. Kennedy đã được thuê mướn bởi bà Nhu và chính phủ Nam Việt Nam(315) [(Tài liệu FBI – Số lưu trữ 124-10052-10263, Hồ sơ CIA 62-109060-4257, 14.11.1966)].

    Và còn nữa: FBI nhận được thư từ một người Đức tự xưng mình là KG3 khẳng định rằng kẻ giết JFK đã được chính phủ Nam Việt Nam thuê mướn(316) [(Tài liệu FBI – Số lưu trữ 124-10054-10045, Hồ sơ CIA 62-109060-4257, 22.6.1966 (phiếu phân loại của hồ sơ, mục Chủ Đề, ghi “JFK, SUSPECT, MADAME NHU”). Tài liệu này có nói tới những lá thư từ một người Đức có bí danh KG3 gửi cho FBI; các lá thư khẳng định rằng bà Nhu dự phần trong âm mưu giết JFK)].

    FBI đã điều tra kỹ lưỡng tất cả ba đầu mối này, tất cả ngay sau cái chết của JFK, nhưng không bao giờ công bố thông tin lạ lùng này.

    Tại sao?

  3. #63
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Dĩ nhiên, những nhà phê bình sẽ gào lên rằng ba báo cáo có nguồn khác nhau nhưng không có gì cụ thể đáng tin cậy gửi cho FBI nói về việc chính phủ Nam Việt Nam dính líu vào vụ ám sát Kennedy về lâu dài thì chẳng có chút giá trị gì.

    Chúng tôi đồng ý.

    Nhưng cái món chẳng chút giá trị ấy bắt đầu trông như một trái núi nghi ngờ khi ta bắt đầu khảo sát nhiều yếu tố bao hàm khác. Hãy nhìn vào thời điểm. Ba tuần sau khi Diệm và Nhu bị ám sát, JFK bị giết ở Dallas. Như đã đề cập ở các chương trước, bà Nhu đang làm một vòng diễn thuyết tại Mỹ khi vụ đảo chính Diệm nổ ra. Lúc đó bà ta đang ở Los Angeles, và khi biết rằng một vụ đảo chính đang manh nha ở Sài Gòn, bà ta lập tức tổ chức họp báo và lớn tiếng phê phán chính phủ Mỹ. Trong cuộc họp báo, bà ta nói:

    “Một sự bất công tàn bạo như vậy đối với một đồng minh trung thành thì không thể bỏ qua, và những người thuận theo nó thì sẽ phải trả giá. Tôi không tin nhưng nếu các tin tức đúng là sự thực, nếu quả tình gia đình tôi đã bị hạ sát một cách phản trắc với sự đồng tình chính thức hoặc không chính thức của chính phủ Mỹ, tôi có thể nói trước với tất cả quí vị rằng câu chuyện tại Việt Nam mới chỉ là màn mở đầu”(317) [(Trần Lệ Xuân, còn gọi là bà Ngô Đình Nhu, “Statement by Madame Nhu on the Death of South Vietnam’s President”, The New York Times (2.11.1063) (Chuyện JFK bị giết 20 ngày sau khi bà Nhu lớn tiếng đưa ra lời đe doạ này không phải là chuyện đáng chú ý sao?)].

    Nghe như một lời đe doạ, phải không? Và thật lạ lùng. Người phụ nữ này, sau cùng, sang Mỹ để vận động sự ủng hộ cần thiết đến tuyệt vọng của công chúng đối với chính phủ của mình, và rồi lại tung những lời lẽ tạc đạn vào báo chí Mỹ. Quá lố cho việc vận động Mỹ ủng hộ.

    Những điều bà ta nói không chỉ khẳng định một mối nghi ngờ của bà ta rằng chính phủ của bà đã biết trước một cuộc đảo chính do Mỹ đỡ đầu, nó còn hàm ý một đe doạ trả thù đối với thủ phạm: chính phủ Mỹ.

    Ba tuần sau khi bà Nhu đưa ra lời đe doạ này, JFK bị bắn chết.

    Thôi được. Đó là một sự trùng hợp lạ lùng. Nhưng về thực tế, có thể nào bà Nhu, bây giờ chỉ còn một mình – vì chồng và tổng thống anh chồng đã bị giết – có thể nào bà ta, cùng với mấy thành viên gia đình và vài người trung thành với Diệm còn lại ở Sài Gòn, lại có thể dàn xếp một cú rửa hận nhắm vào Kennedy? Trong ba tuần?

    Điều đó là không thể được. Chiến dịch mờ ám dẫn đến vụ ám sát JFK hẳn phải cần, ít nhất, nhiều tháng để tiến hành và thực thi. Tổ chức một cú trả thù nhắm vào Kennedy trong ba tuần sẽ gần như là không thể được khi ta xét tới việc tuyển chọn người, bố trí hậu cần, vận chuyển người và trang bị, và tất cả việc hoạch định chiến lược và chiến thuật. Chắc chắn, nó có thể thực hiện trong ba tuần, nhưng chúng tôi cảm thấy khó có thể được.

    Thay vì thế, hoàn toàn có thể tin được khi giả định rằng không chỉ có bà Nhu, mà cả ông chồng Nhu nắm cảnh sát chìm và ông anh chồng tổng thống đã biết trước từ lâu rằng Kennedy và các đầu não Bộ ngoại giao Mỹ đang có kế hoạch và chuẩn y vụ đảo chính Diệm.

    Nếu điều này không đúng, làm sao Nhu tích trữ vũ khí và đạn dược tại những địa điểm “bí mật” từ trước khi đảo chính thực sự xảy ra?
    Chúng ta đã thấy rõ ràng các nỗ lực của CIA đã thông báo được vị trí của những địa điểm này cho tướng Minh và các đồng sự của ông ta nhưng đó chưa phải điểm chủ yếu. Tất cả những gì mà điều đó muốn chứng minh là, CIA là một tổ chức tình báo hữu hiệu hơn tổ chức cảnh sát chìm của Nhu. Sau cùng, tại sao Nhu cho tích trữ vũ khí đạn dược ở các địa điểm bí mật nếu ông ta không nghi ngờ trước về một vụ lật đổ đang manh nha?

    Chúng tôi chứng tỏ rằng không có nghi ngờ gì trong vụ này cả. Nhu và Diệm đã biết trước rất rõ rằng Dương Văn Minh và các tướng lĩnh đang lập kế hoạch lật đổ. Sự thực, ý kiến này là không tranh cãi được…

  4. #64
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    Ai đã giết Diệm và JFK?


    “Ông ta {JFK} đã giết Diệm, và rồi
    chính ông ta cũng lĩnh chuyện đó”
    - TỔNG THỐNG LYNDON JOHNSON


    Vậy chúng ta có cái gì? Chúng ta có bằng chứng rằng chính phủ JFK đã ủng hộ cuộc đảo chính lật đổ Diệm ở Nam Việt Nam trong một nỗ lực mà họ đã công phu cực khổ để giấu nhẹm không cho công chúng Mỹ biết. Kennedy và ban chỉ huy của ông ta đã làm hết sức để hỗ trợ việc giết hại những lãnh đạo của một nước đồng minh. Thuần tuý, đơn giản, và đã được chứng tỏ.

    Chúng ta có bằng chứng rằng Diệm và Nhu đã biết trước âm mưu của Kennedy chống lại họ, và thêm những bằng chứng cho thấy cái chết của Diệm và Nhu có khả năng tiêu diệt tập đoàn bạch phiến quốc tế.

    Kế đó, chúng ta có ba khảo sát các hồ sơ còn bảo mật của FBI nêu đích danh bà Nhu và chính phủ Nam Việt Nam là những kẻ tình nghi trong vụ ám sát JFK.

    Chúng ta có bà Nhu công khai tuyên bố với tờ New York Times:

    “…nếu quả tình gia đình tôi đã bị hạ sát một cách phản trắc với sự đồng tình chính thức hoặc không chính thức của chính phủ Mỹ, tôi có thể nói trước với tất cả quí vị rằng câu chuyện tại Việt Nam mới chỉ là màn mở đầu”.

    Hơn nữa, còn có một sự kiện ít được biết tới nhưng vẫn là một sự kiện. Các bạn có biết rằng người kế nhiệm JFK, Lyndon Baines Johnson, đã nhiều lần khẳng định rằng những người Nam Việt Nam đã tham gia vào âm mưu giết hại Kennedy không? Một nguồn thông tin là từ chính miệng Phó tổng thống của Johnson, Hubert Humphrey. Humphrey kể với chúng ta trong tự truyện của ông rằng Tổng thống Johnson có nói: “Chúng ta có nhúng tay vào việc giết ông ấy {Diệm}. Bây giờ chuyện đó xảy ra ở đây”(321) [(Humphrey, Hubert H., The Education of a Public Man (University of Minesota Press, 1991)].

    Chúng ta cũng có rất nhiều tác phẩm đã xuất bản nói những điều tương tự: rằng Tổng thống Johnson nghi ngờ Diệm và Nhu – trục quyền lực chính trị của chính phủ Nam Việt Nam năm 1963 – có can dự trực tiếp vào vụ ám sát Kennedy(322, 323, 324, 325) [(Nechiporenko;;; Power, Thomas, The Man Who Kept Secrets: Richard Helms and the CIA (Alfred A. Knopf, 1979);;; Shesal, Jeff, Mutual Contempt (Norton, 1997);;; Summers, Anthony, Conspiracy (Paragon House, 1989)]. Gần đây hơn, trong tác phẩm Sons and Brothers (“Các con trai và anh em trai”) in năm 1999, học giả giữ Thư viện Kennedy Richard D. Mahoney tiết lộ rằng Johnson đã nói điều tương tự – nhưng còn cụ thể hơn – với phụ tá của JFK là Ralph Dungan vài ngày sau khi chôn cất JFK. Johnson kéo Dungan vào Phòng Bầu dục và nói: “Tôi muốn nói cho ông nghe tại sao Kennedy chết. Trừng phạt của thần thánh thôi. Ông ta đã giết Diệm, và rồi chính ông ta cũng liõnh chuyện đo”(326) [(Mahoney, Richard D., Son’s & Brothers (Arcade, 1999)].

    Để tóm gọn lại, ta có một cái nhìn khái quát về xúc cảm này, từ cuốn The Assassination of John F. Kennedy (“Vụ ám sát John F. Kennedy”) của James P. Duffy và Vincent L. Ricci:

    “Trong những năm ở Nhà Trắng, Johnson được ghi nhận là đã nhiều lần bày tỏ ý kiến rằng trách nhiệm cho vụ ám sát là thuộc về… những người ủng hộ Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam…”(327) [(Duffy)].

    Hãy thêm vào điều này: chúng tôi đã trình bày tài liệu cho thấy KGB của Liên Xô đã lập tức được Khruschev chỉ thị phải tiến hành điều tra riêng về chuyện ai đã giết John F. Kennedy(328) [(Tài liệu FBI – Số lưu trữ 124-10144-10086, Hồ sơ CIA 52-109060-4321, 1.12.1966, giải mật ngày 15.8.1995)].

  5. #65
    Ngày tham gia
    Jan 2016
    Bài viết
    10
    Hãy nhớ, Khruschev và Liên Xô rất kinh hoàng khi biết tin về vụ ám sát JFK. Tại sao? Vì ở vị trí đối thủ chính trị ý thức hệ với Mỹ (và về mặt kỹ thuật, cũng là kẻ thù của Mỹ trong cuộc chạy đua sản xuất đầu đạn hạt nhân) Khruschev và KGB đều biết rõ rằng Oswald – người được định tội ám sát JFK – đã cố gắng vượt tuyến, và mặc dù KGB đã hoàn toàn loại bỏ không tuyển hắn ta làm mật viên cho bất kỳ công việc nào của KGB, thì chuyến du lịch của Oswald sang Liên Xô cũng có thể bị các cơ quan tình báo Mỹ ghi nhận. Khruschev đã làm hết sức để chứng tỏ cho Mỹ thấy rằng Liên Xô không tuyển dụng Oswald cho KGB và Liên Xô không dính líu theo bất kỳ kiểu nào vào vụ ám sát JFK. Nếu không phải như thế, thì tại sao Khruschev đích thân trao toàn bộ hồ sơ KGB về Oswald cho Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Dean Rusk vào ngày an táng JFK? Chúng ta biết điều này là đúng vì nó được ghi trong hồ sơ 62-109060-4321 của FBI(329) [(Tài liệu dẫn trên)]. Hơn nữa, chúng ta biết, cuộc điều tra riêng của KGB cho phép họ kết luận rằng Lee Harvey Oswald không hề có được những gì cần thiết để thực hiện một vụ ám sát.

    Trong một cuộc phỏng vấn cuối năm 1998, tướng Nikolai Leonov, sĩ quan cấp chỉ huy của KGB, người đã gặp Oswald tại Toà đại sứ Liên Xô tại Mexico (người sau này trở thành Trưởng ban chiến dịch KGB và trưởng đơn vị phân tích của KGB) cũng khẳng định dứt khoát rằng Oswald thiếu các năng lực cần thiết. Cho đến hôm nay ông ta vẫn còn nghi vấn không chỉ về sự ổn định tình cảm của Oswald mà cả về khả năng tác xạ của hắn nữa, và trong buổi phỏng vấn nói trên, ông ta đã nói rằng thật là “cực kỳ vô lý” khi nghĩ rằng Oswald có thể giết Kennedy.

    “Khi tôi gặp hắn, vào tháng 9 {năm 1963} hắn ta đã hoàn toàn không thích hợp với loại công việc như thế”, Leonov bảo đảm với chúng tôi, nhấn mạnh rằng triển vọng Oswald giết được Kennedy là “Tuyệt đối không thể có được!(330) [(Phỏng vấn Tướng KGB Nikolai Leonov, trong phim video The Secret KGB/ JFK Assassination Files (1998), Associated Television)].

    Một người Nga nổi tiếng khác cũng có ý kiến về chuyện này là cựu chủ tịch Liên Xô và người đoạt giải Nobel: Mikhail Gorbachev.
    Gorbachev, người có tên tuổi sẽ đi vào lịch sử vì đã dân chủ hoá – và làm tan rã – Liên Xô cũng như tiến hành chính sách “công khai”; chưa bao giờ công khai phát biểu về vụ ám sát JFK, cho đến mãi sau này. Sau đây là những gì Gorbachev nói trong một cuộc phỏng vấn năm 1998 trong bộ phim tài liệu The Secret KGB/ JFK Assassination Files (“Bí mật các hồ sơ ám sát JFK của KGB”) của hãng Associated Television đã phát sóng toàn quốc năm 1999.

    Khi được hỏi cụ thể rằng ông có tin điều khẳng định của Uỷ ban Warren rằng Lee Harvey Oswald là tay súng duy nhất không, Gorbachev trả lời:

    “Ông muốn tôi trả lời câu hỏi này, một câu hỏi mà cả nước Mỹ không trả lời được sau bao nhiêu năm tiến hành điều tra sâu rộng. Được rồi, tôi nghĩ tôi rất nghi ngờ chuyện nó phản ảnh được những gì đã xảy ra vào thời điểm đó… Tôi thực sự không tin rằng Uỷ ban Warren đã trình ra một bức tranh thực tế về những gì đã xảy ra. Tôi không tin vào bức tranh đó…”(331) [(Phỏng vấn cựu Chủ tịch Liên Xô Mikhail Gorbachev, trong phim video The Secret KGB/ JFK Assassination Files (1998), Associated Television)].

    Gần đây hơn, Đại tá Ilya Semyonovitch Pavlotsky, sĩ quan cao cấp nhất của đơn vị điều tra KGB, đồng ý với Leonov, và tung thêm một quả bom nữa, “Nhóm của tôi, chuyên ban phân tích, đã kết luận rằng Tổng thống Kennedy không bị giết bởi Oswald. Có rất nhiều khác biệt ý kiến trong KGB nhưng có một điều chúng tôi đồng ý là, khả năng của Oswald quá kém, anh ta không thể tiến hành việc đó được”.
    Nhưng rồi Pavlotsky nói với chúng ta một điều còn chấn động hơn, phần lớn những điều đó lại hậu thuẫn cho chủ điểm của cuốn sách này.
    “Kennedy bị bắn chết bởi một tay sát nhân chuyên nghiệp được thuê mướn bởi các mật viên Pháp và Nam Việt Nam. Đơn vị của chúng tôi biết rằng người Mỹ đã tiếp tay lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam, người mà họ đã đưa lên nắm quyền để chống lại cộng sản. Người em Diệm là Ngô Đình Nhu cũng bị giết, và việc này cắt đứt nguồn cung thuốc phiện mà Nhu đã giúp bọn mafia người Corse buôn lậu sang Marseille. Những người Corse đã chế biến thuốc phiện thành bạch phiến và chở qua Mỹ, tại đây bọn Mafia Mỹ lo việc phân phối. Nhóm chúng tôi tìm ra rằng bọn người Corse đã thuê tay bắn tỉa Michael Mertz, đôi khi còn có tên là Jean Rene Souetre, để tiến hành vụ ám sát với sự cộng tác của các ông trùm Mafia Mỹ”(332) [(Phỏng vấn Đại tá KGB Ilya Semyonovitch Pavlotsky, trong phim video The Secret KGB/ JFK Assassination Files (1998), Associated Television)].

  6. #66
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    PHẦN KẾT


    “…chúng ta phải chịu phần lớn trách nhiệm
    cho vụ này {cuộc đảo chính}. Tôi lẽ ra không
    bao giờ được phép chấp thuận việc đó…”
    - TỔNG THỐNG JOHN F. KENNEDY(333) [(Dodds, paisley, “37 JFK Tapes Made Public” (Associated Press, 25.11.1998)]


    Động cơ. Phương tiện. Cơ hội. Trong gần 40 năm ba chữ đó đã là những mấu then chốt điều tra trong nỗ lực giải thích vụ nghi án ai giết tổng thống Kennedy, và tại sao. Một điều tương tự ở bất kỳ vụ điều tra sát nhân thông thường nào; sau khi thu được bằng chứng cụ thể, kiểm chứng và đánh giá chúng, những người điều tra sẽ đi tới ước đoán về những kẻ đáng tình nghi nhất, cân nhắc động cơ, phương tiện vàcơ hội cho chúng thực hiện tội ác.

    Chúng tôi cảm thấy rằng những nỗ lực chung của ba phía (giới giang hồ Marseille của Guerini, đầu não của Mafia Mỹ, và Diệm – Nhu) đã cho thấy đủ cả động cơ, phương tiện và cơ hội để hạ sát JFK hơn các giả thuyết từng được công bố.

    Nhưng đã nói, ba thành phần trên có các động cơ tương tự nhau và/ hoặc cùng chia sẻ với nhau để muốn thấy JFK bị giết. Em trai Kennedy đang tiến hành cuộc chiến qui mô chống Mafia Mỹ, và nếu những nỗ lực của Kennedy nhằm loại bỏ Diệm và Nhu thành công, thì Mafia Mỹ sẽ chịu thiệt hại gấp đôi vì nguồn cung bạch phiến ổn định của chúng sẽ bị cắt và có khả năng bị tiêu diệt. Tương tự, cái chết hoặc việc truất phế Diệm và Nhu sẽ không chỉ đe doạ tiêu diệt quyền kiểm soát của giới băng đảng Corse/Marseille đối với tập đoàn bạch phiến toàn cầu, mà nó còn làm rối tung hệ thống và làm phân hoá hoàn toàn một trong những guồng máy tội phạm có tổ chức mạnh nhất thế giới. Thứ ba, nguồn lợi nhuận thuốc phiện của Diệm và Nhu sẽ bị chấm dứt, và quan trọng hơn, họ đã biết rằng một vụ đảo chính do Mỹ hậu thuẫn sẽ kết liễu luôn mạng sống của họ. Và cũng đừng quên những hệ quả rối rắm của thất bại trong vụ Vịnh Con Heo: không riêng Mafia Mỹ mất đi sự nghiệp sòng bạc ở Cuba, mà cả băng đảng Marseille cũng mất nữa(334) [(Benson)].

    Diệm và Nhu với nguồn thuốc phiện dễ kiếm đã cho họ phương tiện đầu tiên để phát động một vụ ám sát. Khả năng của Mafia Mỹ trong việc tìm ra một nạn nhân tế thần và chuyên chở những sát thủ nước ngoài vào và ra khỏi Mỹ một cách trót lọt chứng tỏ họ có phương tiện tốt, và đó là chưa nói tới hàng chục sĩ quan cảnh sát Dallas đã lĩnh lương hoặc chịu sự khống chế nào đó của Mafia. Sau cùng, Antoine Guerini và giới giang hồ Marseille đã có được phương tiện tuyệt hảo để cung cấp những sát thủ được huấn luyện kỹ cho việc này. Và sự gắn bó đã ghi trong hồ sơ giữa Michael Victor Mertz với Guerini là một yếu tố quan trọng không thể phủ nhận.
    Xét vì thế, ba thành phần này, với tất cả các bộ phận tổ chức vận hành đã sẵn sàng, rõ ràng đã có cơ hội để giết JFK, và chúng ta tin rằng họ đã chụp cơ hội và đã thành công.

    Sau cùng, dĩ nhiên, mọi cuốn sách từng được viết về vụ ám sát Kennedy sẽ vĩnh viễn chỉ là một giả thuyết của người viết. Có quá nhiều nhân chứng đã chết. Quá nhiều bằng chứng đã bị tiêu huỷ, sữa đổi hoặc biến cải. Quá nhiều lời dối trá và quá nhiều thông tin sai lạc, ngay cả từ phía chính phủ Mỹ, đã được bịa ra và nhồi nhét cho công chúng bao lâu nay. Và cũng có quá nhiều sự thật đã bị ém nhẹm vĩnh viễn.

    Tình trạng này khiến tác giả chỉ còn lại giả thuyết của mình, và dựa trên đó họ xây dựng lại các dữ kiện khách quan và những chuỗi diễn biến của lý luận và lịch sử.

    Chúng tôi hy vọng rằng độc giả nhận thấy chuỗi diễn biến của lý luận và lịch sử của chúng tôi ở đây là có đủ tính thuyết phục, và chúng tôi hy vọng rằng chúng tôi đã cung cấp được những dữ kiện khách quan (một số trong đó chưa từng có ai viết ra, một số khác chúng tôi tin rằng đã bị bỏ qua hoặc cố tình gạt sang một bên vì nội dung của chúng có thể rọi ánh sáng khác vào vấn đề này) đủ để hậu thuẫn cho những nghi ngờ của chúng tôi. Ngoài ra, chúng tôi hy vọng rằng độc giả nhận thấy cuốn sách này lý thú và gợi suy nghĩ. Chúng tôi hy vọng rằng nó sẽ thúc đẩy quí vị suy nghĩ thêm về bi kịch của ngày 22.11.1963, vượt ra ngoài báo cáo của Uỷ ban Warren thối nát và vượt ra ngoài những điều mà chính phủ Mỹ vẫn còn một mực quả quyết sau bao nhiêu đó năm trời.


    ----- Hết -----

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •