Kết quả 1 đến 10 của 10

Chủ đề: Nippon Kobudō

  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2

    Nippon Kobudō

    Tập hợp các bài về võ thuật Nhật Bản cổ, di Như Thị Duyên viết và dịch. Các bài viết không tuân theo quy tắc tuyến tính nào, hôm nào hứng thứ gì thì viết thứ ấy [IMG]images/smilies/108.gif[/IMG]


    Phái song kiếm

    Nitō-ryū (二刀流, âm Hán Việt: nhị đao lưu) là danh từ tổng hợp để chỉ kỹ thuật dụng kiếm, tấn công và phòng thủ hợp nhất bằng cách vận dụng hai thanh kiếm trên hai tay tả hữu. Kỹ thuật này còn được gọi là Nitō Kempō (二刀剣法, nhị đao kiếm pháp) trong võ học Nhật Bản. Danh từ này còn được dùng để chỉ kỹ thuật vận dụng hai loại vũ khí khác bằng ở hai tay tả hữu. Danh từ này đối lập với Ittō-ryū (nhất đao lưu), kỹ thuật dụng một thanh kiếm bằng cả hai tay, vốn là thường thức trong kiếm thuật Nhật Bản.




    Song kiếm Nhật Bản

    Hình thức cơ bản nhất của các phái song kiếm Nhật Bản là cầm kiếm chính (kiếm dài, Honzashi) bằng tay thuận và kiếm phụ (kiếm ngắn, Wakizashi) ở tay còn lại. Kiếm Nhật vốn dài và nặng, được chế tạo với mục đích cầm bằng hai tay nên kỹ thuật đánh song kiếm bằng kiếm Nhật rất khó hội đắc. Vì vậy có rất ít lưu phái tập trung chủ yếu vào lối đánh song kiếm. Trong cả nghìn phái kiếm Nhật tự cổ chí kim, chỉ có vài lưu phái là truyền thụ kỹ thuật này. Trong Kendō, môn thể thao phát sinh từ kiếm thuật Nhật Bản cổ cũng thấy có nhiều Kendōka sử dụng song kiếm. Cũng có phái kiếm Ittō-ryū ban đầu tập luyện song kiếm cho quen tay rồi sau trở lại cầm một kiếm bằng hai tay.
    Kỹ thuật đánh song kiếm chủ yếu được truyền dạy trong các phái võ nghệ cổ, có phái dạy cầm kiếm chính bằng tay thuận và cũng có phái cầm kiếm chính bằng tay nghịch. Cũng có một số ít lưu phái sử dụng cả hai kiếm phụ (Wakizashi) ở cả hai tay. Ngoài ra còn thấy có thuật đánh Jitte ở cả hai tay như song kiếm hoặc dùng hai lưỡi hái cùng lúc. Trong Shurikenjutsu cũng tồn tại một loại kỹ thuật cầm kiếm ở một tay và tay nghịch cầm Shuriken.
    Trong các lưu phái lấy kỹ thuật đánh song kiếm làm trọng tâm thì có phái Niten Ichi-ryū do Miyamoto Musashi sáng lập là nổi tiếng nhất. Ngoài ra, lịch sử còn ghi nhận Nitta Yoshisada, một võ tướng sống vào thời Kamakura cũng là một đại cao thủ sử dụng song kiếm. Trong Taiheiki (Thái bình ký) có những đoạn miêu tả Nitta hai tay cầm hai đại kiếm chém rơi tên bắn về phía mình. Trong các phái võ cổ ở Okinawa, nơi chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa và Đông Nam Á, còn thấy có những kỹ thuật đánh Sai và Tonfa ở cả hai tay.


    Song kiếm các nước

    Tương tự Nhật Bản, người Châu Âu cũng có kỹ thuật đánh hai kiếm, tay phải cầm kiếm Rapier và tay trái cầm đoản kiếm Main-gauche. Nhìn từ góc độ của kiếm Tây (Fencing) và Kendō thì kỹ thuật này khá kỳ dị, nhưng sự kết hợp giữa Rapier và Main-gauche lại cực kỳ phổ biến ở phương Tây. Kỹ thuật này thường thấy ở Ý trong thời kỳ phục hưng. Nguyên lai, kỹ thuật đánh kiếm của phương Tây coi thanh kiếm ở tay phải để tấn công, còn tay trái cầm khiên để phòng thủ nên kỹ thuật song kiếm với kiếm ngắn ở tay trái cũng không trái với lối suy nghĩ của người Tây. Hơn nữa, lối đánh này chủ yếu dùng đòn đâm nên có ưu điểm dễ phòng ngự hơn đòn chém. Đoản kiếm Main-gauche thường có đốc kiếm lớn hoặc đốc kiếm dạng móc như Jitte nên khi đỡ kiếm của đối phương thì không còn linh hoạt được nữa. Lợi điểm của lối đánh song kiếm với một tay cầm kiếm ngắn là có thể kiểm soát tình huống ở khoảng cách xa và gần, nhất là khi hai đấu thủ đang ở khoảng cách xa, bất ngờ tăng tốc tiếp cận nhau thì dù nhát đánh thứ nhất bằng kiếm dài không thành công cũng có thể ra đòn tiếp theo bằng kiếm ngắn.
    Trung Hoa cũng có kỹ thuật đánh song kiếm, song đao, ở Đông Nam Á cũng thấy có những kỹ thuật đánh hai gậy, hai đoản kiếm hay hai trường kiếm trong các môn võ Sillat và Eskrima.

    Song kiếm Nhật Bản trong thể thao

    Trong Kendō, Nitō-ryū được thừa nhận trong các giải đấu chính thức, và nó cũng được gỡ bỏ lệnh cấm từ năm 1992 trong các giải đấu học sinh. Trong thi đấu, kiếm ngắn Kodachi chủ yếu được dùng để đỡ và gạt kiếm của đối phương và kiếm dài Tachi dùng để đánh vào người đối phương, ghi điểm. Về cơ bản thì đòn đánh vào người đối phương bằng kiếm ngắn Kodachi không được xem là đòn đánh hiệu lực. Nói một cách kỹ càng thì đòn đánh bằng Kodachi vẫn được xem là đòn đánh hiệu lực, nhưng vì phạm vi tấn công hẹp nên rất khó để ra đòn hoàn hảo bằng Kodachi nên không được xem là đòn đánh hiệu lực. Mặt khác, kiếm dài Tachi của các đấu sĩ Nitō-ryū cũng ngắn hơn kiếm bình thường nên đòn đâm ngực đối với đấu sĩ Nitō-ryū không được thừa nhận từ năm Heisei thứ 7 (1995) theo luật sửa đổi.

    <font size="4">Nitō-ryū trong tiếng Nhật


    Nitō-ryū, ngoài nghĩa là phái song kiếm, lối đánh hai kiếm thì từ này còn mang ý nghĩa "lưỡng thê", "lưỡng cư", "xăng pha nhớt" trong cảm giác của người Nhật. Nitō-ryū còn là ẩn ngữ, tiếng lóng chỉ người đồng tính (nhất là nam). Nitō-ryū cũng dùng để chỉ người thích uống rượu và ăn đồ ngọt, vì phần đông người thích uống rượu thì ngán đồ ngọt.
    Trong bóng chày, người ta cũng gọi các tuyển thủ đánh bóng được cả hai tay (Switch hitter), tuyển thủ làm nhiệm vụ ném bóng kiêm bắt bóng là Nitō-ryū.

    <font color="#FF0000">Các phái song kiếm tồn tại đến ngày nay


    * Niten Ichi-ryū (dạy chính là song kiếm)
    * Musashi Enmei-ryū
    * Tenshin Shōden Katori Shintō-ryū
    * Shinkage-ryū
    * Shingyōtō-ryū
    * Ryūgō-ryū
    * Kageyama-ryū
    * Ōishi Shinkage-ryū
    * Tokuei Sō-ryū
    * Shibukawa-ryū
    * Shindō Musō-ryū Jōjutsu
    * Komagawa Kaishin-ryū
    * Daitō-ryū (phái này chủ yếu dạy Hiệp khí Nhu thuật)
    * Yagyū Shingan-ryū
    * Tendō-ryū
    * Ikkaku-ryū
    * Asayama Ichiden-ryū</font></font>

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Oguri-ryū (小栗流) là một môn phái võ thuật Nhật Bản do Oguri Masanobu sáng lập, bề ngoài lấy kiếm thuật (Kenjutsu) làm trọng, bên trong lấy Hòa thuật (Nhu thuật) làm trọng. Ngoài việc dạy kiếm, phái này còn dạy thuật đánh vật và lấy cực ý của Nhu thuật làm tâm điểm truyền dạy. Lúc mới sáng lập, ngoài việc dạy kiếm thuật và Hòa thuật thì môn phái còn dạy thuật rút kiếm nhanh (Battōjutsu), thương thuật, thuật dụng Naginata, bơi lặn và cưỡi ngựa bắn cung. Nhưng đến cuối thời Edo thì phái này không truyền dạy môn gì khác ngoài kiếm thuật và Hòa thuật.

    Oguri Masanobu vốn là một Hatamoto của họ Tokugawa, thời trẻ theo Yagyū Sekishūsai học kiếm pháp của phái Shinkage-ryū, sau trong trận Ōsaka, dùng thuật đánh vật mà lấy được thủ cấp của tướng địch, lập được công lớn. Trong thời gian nhậm chức Bugyō ở Nagazaki, Masanobu cùng một bạn đồng môn họ Suruga nghiên cứu thêm thuật đánh vật để lập ra võ phái Oguri-ryū.

    Một đệ tử của Masanobu là gia thần của chúa phiên Yamanouchi, phiên chủ phiên trấn Tosa nên võ phái Oguri-ryū rất được coi trọng. Mãi cho đến cuối thời Mạc Phủ Tokugawa thì phái Oguri-ryū vẫn là võ phái duy nhất dạy võ nghệ cho cả phiên trấn Tosa.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    Chūjō-ryū là một cổ phái (koryū) võ thuật Nhật Bản do Chūjō Nagahide
    sáng lập vào đầu thời Muromachi (1336~1573). Chūjō-ryū còn là tên một
    phái y học chuyên về sản phụ khoa do một cận thần của Toyotomi Hideyoshi
    khai sáng, nhưng bài này chỉ bàn về phái võ Chūjō-ryū mà thôi.

    Khái yếu

    Chūjō-ryū là một phái võ tổng hợp, ngoài kiếm thuật còn truyền dạy
    thương thuật và đoản đao. Họ Chūjō đến đời cháu của Nagahide là
    Mitsuhide thì đoạn tuyệt, nhưng lưu phái Chūjō được Nagahide truyền thụ
    cho Kai Buzen-nokami Hirokage, rồi từ đó truyền lại cho môn đồ của Hirokage
    là Ōhashi Kage Yuzaemon, Yuzaemon truyền lại cho Yamazaki Ukyō.
    Sau đó Yamazaki Ukyō chết trận nên môn đồ của ông ta là Toda Kurōzaemon Nagaie
    truyền lại phái kiếm này cho hai con trai của Yamazaki Ukyō.
    Về phía họ Toda thì Nagaie cũng truyền thụ phái kiếm này cho
    con trai là Jibu Saemon Kageie, Kageie lại truyền cho đích tử là
    Toda Seigen và Toda Kagemasa. Họ Toda đã phát triển thêm so với
    phái Chūjō-ryū ban đầu nên gọi môn phái của mình là Toda-ryū, trong
    khi đó họ Yamazaki vẫn gọi môn phái của mình là Chūjō-ryū.
    Vì vậy, Chūjō-ryū và Toda-ryū là hai phái kiếm tách bạch nhưng
    đều có chung một nguồn gốc.
    Phái kiếm Chūjō-ryū của họ Yamazaki vẫn còn truyền dạy ở Nhật
    cho đến đầu thời kỳ Shōwa nhưng hiện nay đã thất truyền. Đây là
    môn phái để lại nhiều ảnh hưởng lớn cho phái kiếm Toda-ryū và
    Ittō-ryū.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    Thương thuật Hōzō-in (宝蔵院流槍術, Hōzō-in-ryū Sōjutsu) là một phái thương
    thuật Nhật Bản sử dụng ngọn thương chữ thập do Hōzō-in Kakuzenbō In-ei, một tăng binh của chùa Kōfuku-ji (Hưng phúc tự) ở Nara khai sáng. Ngoài thương pháp, phái này còn truyền dạy thuật đánh Naginata, một võ khí đặc trưng của Nhật Bản với cán dài như cán thương nhưng đầu kia gắn một lưỡi đao sắc.
    Khai tổ của phái là Kakuzenbō In-ei, đệ tử đời thứ hai là Inshun, đời thứ ba là Insei và đời thứ tư là Infū.
    Võ khí đặc trưng của phái này là thương chữ thập (Jūmoji yari). Khác với các loại thương thông thường, tại phần mũi thương của nó có gắn thêm lưỡi dao sắc hình trăng lưỡi liềm nên có thể vừa đâm như giáo, vừa chém gạt như Naginata. So với các loại thương thông thường thì nó có nhiều ưu điểm hơn về mặt tấn công và phòng thủ nên đương thời, phong trào theo học thương pháp Hōzō-in nở rộ một thời.



    Tương truyền rằng Kakuzenbō In-ei trong một đêm tập võ nhìn thấy bóng trăng lưỡi liềm in trên mặt ao Saruzawa và bị ấn tượng với hình ảnh đó nên đã chế ra mũi thương chữ thập.
    Hiện tại chỉ còn nhánh Takada của Hōzō-in-ryū là còn truyền dạy nhưng không thành hệ thống và cũng thất truyền các kỹ thuật đánh Naginata.

    Khai tổ Hōzō-in In-ei
    In-ei sinh năm đầu của niên hiệu Daiei (1521) và mất năm Keichō thứ 12 (1607) là một tăng binh, một võ thuật gia trong chùa Kōfuku-ji, hiệu là Kakuzenbō và là viện chủ của Hōzō-in (Bảo tàng viện), một tự viện con của Kōfuku-ji.
    Hōzō-in In-ei vốn là chỗ thâm giao với Yagyū Muneyoshi, theo lời khuyên của ông này đã đến học võ nghệ với Kamiizumi Nobutsuna, khai tổ của phái kiếm Shikage-ryū. Ngoài ra ông còn theo học với rất nhiều thầy khác, nhưng trong đó chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ võ phái Tenshin Shōden Katori Shintō-ryū, một trong ba tông phái khởi nguyên của võ nghệ Nhật Bản.
    Vào những năm cuối đời, In-ei thấy thương pháp của mình mâu thuẫn với giới cấm sát sinh nên không động đến giáo mác nữa, truyền giao toàn bộ võ cụ cho cao đồ Nakamura Naomasa và sống như một tăng lữ bình thường. Người kế thừa thương thuật của ông là viện chủ Hōzō-in đời thứ hai Inshun. Trong các môn đồ của ông có nhiều danh tướng dưới trướng của các sứ quân, tiêu biểu là Kani Saizō, một dũng tướng của Fukushima Masanori.

    Hōzō-in Inshun
    Inshun sinh năm Tenshō thứ 17 (1589), mất năm Shōhō thứ 5 (1648), là một nhà sư và một võ đạo gia đầu thời Edo. Ông là viện chủ Hōzō-in, một tự viện con của chùa Kōfuku-ji ở Nara.
    Inshun xuất thân từ gia đình hào sĩ ở xứ Yamashiro và là người thừa kế thương thuật Hōzō-in do Kakuzenbō In-ei sáng lập. Inshun là người hoàn thiện hệ thống thương thuật Hōzō-in trong thời Edo.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Yagyū Muneyoshi</font></font>

    Yagyū Muneyoshi (Yagyū Munetoshi, 柳生 宗厳) là một kiếm hào lừng danh thuộc phái kiếm Shinkage-ryū. Ông sinh vào Daiei thứ 7 (1527) và mất vào ngày 19 tháng 4 năm Keichō thứ 11 (1606). Tước vị của ông là Tajima-nokami (quan đầu xứ Tajima), hiệu là Sekishūsai (sekishū, thạch chu, tức thuyền đá). Tên thường gọi của ông là Shin-nosuke, Shinjirō, Shinzaemon, Uemon. Con cháu của ông có nhiều nhân vật lừng lẫy như Yagyū Munenori (con trai, sau giữ chức Chỉ nam dạy kiếm cho họ Tokugawa), Yagyū Muneaki (con trai), Yagyū To****oshi (cháu nội), Yagyū Jūbei (cháu nội)...


    Thời trai trẻ

    Yagyū Muneyoshi là con trai của Yagyū Ieyoshi, một võ tướng thời Chiến quốc Nhật Bản và là thành chủ thành Yamato, trưởng làng Yagyū ở xứ Yamato. Ban đầu Muneyoshi theo học phái kiếm Toda-ryū với Toda Ittōsai (Kanemaki Jisai), sau theo Katori Shinjūrō học phái kiếm Shintō-ryū và nổi danh từ đấy. Năm Eiroku thứ 6 (1563), Muneyoshi gặp gỡ kiếm sư Kami Izumi Nobutsuna thuộc phái Shinkage-ryū và thách đấu với vị này. Muneyoshi đấu cả 3 lần đều bại và cũng không thắng nổi đệ tử của Nobutsuna là Hikita Kagetomo. Nhận thấy sự non kém của mình, Muneyoshi lập tức quỳ lạy và xin làm đệ tử của Nobutsuna. Đến tháng 8 năm Eiroku thứ 6 thì Muneyoshi được Nobutsuna trao cho ấn chứng và đến năm Genki thứ 2 (1571) thì được truyền thụ lại hết mọi yếu quyết cùng phái kiếm Shinkage-ryū. Vì vậy phái kiếm Shinkage-ryū của Yagyū Muneyoshi được cho là chánh lưu và gọi là Yagyū Shinkage-ryū còn phái kiếm của Hikita Kagetomo là phụ lưu, gọi là Hikita Shinkage-ryū.

    Thời trai trẻ Muneyoshi theo thờ Tsutsui Junkei, sau theo Matsunaga Hisahide, đều là những võ tướng Chiến quốc xứ Yamato và là thuộc hạ của Oda Nobunaga. Trong khoảng thời gian này ông gặp nhiều chuyện không may như bị trúng tên ở tay trong một trận chiến khi theo họ Matsunaga, một lần khác bị ngã ngựa nặng trên đường trở về cốc Yagyū vào năm Eiroku thứ 11. Năm Genki thứ 2 (1571), con trưởng của ông là Yoshikatsu bị đạn bắn trọng thương đến nỗi không cầm được kiếm. Sau đó ít lâu thì bản thân Muneyoshi cũng quay về làng Yagyū ẩn dật, chẳng màng sự đời. Đến khi Matsunaga Hisahide mưu phản Oda Nobunaga thì ông cũng chính thức thoát khỏi quan hệ chủ tớ với họ Matsunaga, sau có Tsutsui Junkei thay Matsunaga cai quản xứ Yamato thì ông cũng không theo. Muneyoshi còn bắt tay với võ tướng Tōchi Tōnaga, cừu địch của họ Tsutsui để giữ thế độc lập. Nhưng đến năm Tenshō thứ 13, khi Toyotomi Hidenaga vào xứ Yamato đã phát giác ông ngầm che giấu ruộng đất trong cuộc kiểm tra ruộng đất của Hideyoshi. Vì vậy Muneyoshi bị tịch thu lãnh thổ và trở thành võ sĩ giang hồ, có lần còn đến ăn xin nhà Konoe Sakihisa. Năm Bunroku thứ 3, khi thiên hạ từ tay họ Toyotomi chuyển sang họ Tokugawa, có lần Muneyoshi được Tướng quân Tokugawa Ieyasu cho vời đến và biểu diễn tuyệt kỹ Mutō-dori trước mặt ngự tiền. Được Ieyasu hết sức tán thưởng tài nghệ và mời làm chức kiếm thuật chỉ nam (như chức giáo đầu) nhưng Muneyoshi viện cớ tuổi già và tiến cử con trai thứ 5 là Munenori nhận chức thay. Từ đó Muneyoshi giao hết mọi việc thế sự cho con trai, còn mình an hưởng tuổi già và mất tại cốc Yagyū, mộ ông vẫn còn tại chùa Hōtoku-ji ở Nara.

    <font size="5">Nhân sinh quan


    Vào những năm Genki, Yagyū Muneyoshi từ bỏ hết mọi ý định trở thành một võ tướng Chiến quốc cùng giấc mộng xuất thế lập thân và lui về cốc Yagyū ẩn dật. Lúc này ông chỉ khoảng trên 40 tuổi và không rõ vì sao Muneyoshi từ bỏ mộng công danh sớm như vậy, nhưng có lẽ cái chết của sư phụ Kami Izumi đã tác động mạnh đến tư tưởng của ông, cũng như sự sụp đổ của họ Tướng quân Ashikaga cùng cựu chủ Matsunaga. Trong những bài thơ ông trước tác trong khoảng thời gian này đều bộc lộ nổi hoài nghi của ông về mọi thứ ngoài phái kiếm Shinkage-ryū. Ngay cả thứ kiếm pháp này, ông cũng ví như con thuyền đá, chỉ chìm dưới đáy nước chứ không nổi lên trên mặt. Đương thời, hễ là kẻ cầm kiếm và có chút tài năng là có thể dùng võ nghệ để tiến thân, có thể làm đến chức quan to. Nhưng Muneyoshi không coi kiếm phái của mình là công cụ để tiến thân mà là một đường lối sống, một phương pháp rèn luyện thân, tâm. Vì thế về sau ông lấy hiệu là Sekishūsai, trong đó "sekishū" (thạch chu) nghĩa là "thuyền đá", con thuyền chỉ chìm dưới đáy nước chứ không nổi lên để vượt qua bể đời vốn đầy biến động thăng trầm như sóng đại dương. Nhân sinh quan của Yagyū Muneyoshi còn thể hiện qua khái niệm Vô đao do ông lập nên và là một đặc thù lớn của phái kiếm Yagyū Shinkage-ryū.


    <font color="SeaGreen">Thuyền đá


    "Ishi no fune wa tsuini ukabazu"
    (tạm dịch: cuối cùng thuyền đá cũng
    không chịu nổi lên)

    Đây là câu nói nổi tiếng của Yagyū Muneyoshi,
    hiệu là Sekishūsai (Sekishū là cách đọc khác của
    Ishi no fune, thuyền đá) và cũng là quan điểm sống thú vị của Sekishūsai.

    Xã hội Nhật Bản đương thời là một xã hội trọng võ nghệ.
    Phàm kẻ nào biết chút võ công, kiếm pháp đều có thể mở được đường công danh hiển hách, được các chư hầu lớn
    nhỏ mời gọi. Có người xuất thân với bàn tay trắng, dùng võ nghệ mà được hiển hách với bổng lộc trăm vạn hộc. Kẻ biết võ thời đó, có chí thì theo thờ các lãnh chúa (Daimyō), thất chí thì mở võ đường dạy con em các Samurai, lãnh chúa hay bá tánh trong vùng để kiếm cơm qua ngày. Tựu trung, những kẻ cầm kiếm đương thời và biết chút "nghệ" thì không phải lo đến cái ăn. Và được một vị lãnh chúa, Tướng quân nào đó mời gọi để nhận bổng lộc nghìn hộc cũng là mơ ước của lắm kẻ cầm kiếm đương thời.
    Nhưng đối với Yagyū Sekishūsai thì lại khác, từ lúc chỉ là một lãnh chúa nhỏ ở xứ Yamato, ông đã được lắm chư hầu chèo kéo nhưng đều từ chối hết.
    Họ Yagyū vốn là một hào tộc ở xứ Yamato nhỏ bé ở miền Tây nước Nhật. Từ thời Chiến quốc, đã có lắm thế lực nhòm ngó, muốn thôn tính vùng đất này nhưng nhờ vào tài lãnh đạo khéo léo của Sekishūsai mà xứ này chưa một lần trải qua nạn binh đao.
    Thời Chiến quốc, quần hùng cát cứ bốn phương và thôn tính lẫn nhau nên không ai nói trước được kẻ đứng vững sau cùng là người nào. Vì vậy Sekishūsai không chọn theo hầu một vị Daimyō nào cả là một điều hợp lý, dù nó đi ngược lại với lòng ham muốn công danh, sự nghiệp của phần đông kẻ võ nghệ thời đó. Nếu theo một chư hầu nào, đến khi chư hầu đó thất thế thì xứ sở tránh sao được cảnh bị cướp bóc, thiêu hủy làng mạc. Nhưng xứ Yamato trải qua mấy trăm năm, đến tận ngày nay vẫn còn xanh tốt với những cánh rừng nguyên thủy, âu cũng phần lớn nhờ vào sự sáng suốt của Sekishūsai vậy.
    Sau trận hợp chiến Sekigahara, thiên hạ rơi vào tay Tướng quân Tokugawa Ieyasu. Lúc bấy giờ loạn lạc đã không còn, đất nước quy về một mối nên Sekishūsai mới để con trai là Yagyū Munenori theo thờ họ Tokugawa, nhận chức Chỉ nam dạy kiếm cho con cháu Tướng quân, nhận bổng lộc hơn vạn hộc, con cháu đời đời hưởng phúc.
    Việc Yagyū Sekishūsai thờ ơ với thế cuộc, sớm lui về ở ẩn phần nào cũng nói lên ảnh hưởng của công án "vô đao" mà sư phụ Kami Izumi để lại cho ông. Vì vậy ông tự nhận mình là "thuyền đá", chỉ chìm ở đáy nước chứ không nổi lên mặt như thiên hạ. Ông cho rằng binh pháp (võ nghệ) của mình không dùng để xuất thế lập thân ở thế gian phù phiếm như nhiều người vẫn quan niệm. Nhân sinh quan này quả độc đáo và trái ngược với quan niệm của đa số con người thời đó lẫn đương đại. Phàm là kẻ có chút tài năng, hoặc giả là không có, người ta đều cố gắng để biến nó thành tiền tài vật chất, để được nổi danh. Nhưng Sekishūsai đã không chọn cách làm như vậy, nhưng con cháu ông vẫn đời đời được hưởng phúc. Âu cũng là cách nhìn nhận của bậc cao nhân đã đạt cảnh cực ý của binh pháp (võ nghệ) vậy. Hưởng được cái thực ở chỗ thiên hạ không hưởng được.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    "Vô đao" (無刀, âm Nhật đọc là Mutō) nghĩa là không đao kiếm, không mang đao kiếm, không dùng đao kiếm. Đây là một khái
    niệm quan trọng trong nền kiếm đạo Nhật Bản và có tầm ảnh hưởng quan trọng đến nhiều phái kiếm như Yagyū Shinkage-ryū, Mutō-ryū, Munen-ryū,... và có liên hệ mật thiết với khái niệm "hoạt nhân kiếm" (Katsujin-ken).
    Thanh kiếm vốn dĩ được xem là hung khí số một trong xã hội phong kiến Nhật Bản, nhưng từ khi Tướng quân Tokugawa Ieyasu thống nhất thiên hạ, mang lại nền thái bình kéo dài hơn 200 năm cho đất nước này thì vai trò của thanh kiếm ngày càng mờ nhạt đi. Để thích ứng với bối cảnh lịch sử này, tầng lớp võ sĩ đã đề xuất ra khái niệm "hoạt nhân kiếm", tức thanh kiếm dùng để cứu người, làm thăng hoa nhân sinh chứ không còn là công cụ để đoạt mạng như trước nữa. Trong thời đại này, người ta chú trọng về mặt tinh thần của kiếm thuật hơn là những chiêu thức hung hiểm vốn có của nó và nâng nó lên tầm một thứ triết học. Trong bối cảnh đó, xuất hiện kiếm sư Kami Izumi Ise-nokami Nobutsuna vốn xuất thân từ một thành chủ, nhưng sau từ bỏ địa vị của mình để theo đuổi một đời kiếm đạo. Càng luyện kiếm, ông càng nhận ra rằng sự tồn tại của thanh kiếm là không cần thiết, cũng như những chiêu thức của nó không nên dùng cho việc đoạt mạng nhau. Tinh thần bất bạo động này khá tương đồng với lý tưởng của môn võ Aikidō (Hiệp khí đạo) hiện đại.
    Một lần nọ, Kami Izumi cùng lão đệ Suzuki Ihaku cùng người cháu trai Hikita Bungorō ghé đến xứ Yamato, là địa bàn của họ Yagyū. Lúc này Kami Izumi đã nổi dang thiên hạ về kiếm nghệ nên đương chủ nhà Yagyū là Muneyoshi, vốn là một võ sĩ đương tuổi hùng mạnh, đã nổi máu con nhà võ và xin tỷ thí với Kami Izumi. Mặc cho Yagyū Muneyoshi đang thời trai trẻ hùng hổ xông vào, Kami Izumi
    chỉ đẩy nhẹ là khống chế được Muneyoshi. Sau mấy lần tái đấu, kết quả cũng đều không khác. Muneyoshi vô cùng ngạc nhiên và cảm phục tài nghệ Kami Izumi nên xin trở thành đệ tử.
    Nhận thấy Muneyoshi là người có tư chất nên Kami Izumi Ise-nokami Nobutsuna truyền lại mọi áo nghĩa của phái kiếm Shinkage-ryū do mình sáng lập cùng một công án Thiền là "vô đao", lý tưởng và suy tư cả đời của mình lại cho Muneyoshi rồi rời khỏi xứ Yamato.
    Nhận được công án, Muneyoshi ngày đêm nghiền ngẫm, cuối cùng cũng ngộ ra được chân ý của áo nghĩa "vô đao". "Vô" là một cảnh giới trong Thiền tông, và cũng là cảnh giới tối cao trong kiếm đạo. Kể từ khi ngộ được công án này, Yagyū Muneyoshi chẳng màn gì đến chuyện đao kiếm nữa mặc dù lúc này đã nổi danh là thiên hạ vô song. Từ công án này, ông sáng tạo ra chiêu thức "Mutō-dori" hay còn gọi là "Shinken Shiraha-dori", chiêu thức bắt kiếm bằng tay không trứ danh của phái Yagyū Shinkage-ryū.
    Về già, Muneyoshi lấy hiệu là Sekishūsai và truyền lại hết áo nghĩa của tông phái cho cháu trai là Hyōgo-nosuke. Dòng họ Yagyū trải qua nhiều đời vẫn luôn giữ vững gia phong, chuộng võ nghệ và là một trong số hiếm hoi các dòng họ luôn sản sinh ra nhân tài qua nhiều thế hệ. Họ Yagyū vẫn tự xem kiếm pháp của mình không phải là kiếm pháp của thích khách. Ấy cũng là nhờ tinh thần "vô đao" do Kami Izumi Nobutsuna truyền lại vậy.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Kusari-gama


    Khái yếu

    Kusari-gama (鎖鎌) là một món vũ khí trong võ thuật Nhật Bản cổ và được phát triển từ nông cụ, một đầu là lưỡi hái để cắt cỏ được nối với đầu kia là một quả chùy bằng một đoạn dây xích sắt. Trong tiếng Nhật, "kusari" nghĩa là dây xích, còn "kama" hay "gama" (tiếp vĩ ngữ) nghĩa là lưỡi hái. Món vũ khí này phát triển trong tầng lớp nông dân, thương nhân và thợ thủ công vốn mang thân phận thấp hèn, bị chính quyền phong kiến cấm mang kiếm trong người. Nó cũng được các lưu phái võ nghệ ở Nhật sử dụng như một món võ khí ẩn và được xem là một trong "võ nghệ thập bát ban". Món vũ khí này được biết đến nhiều qua nhân vật Shishido Baiken xuất hiện trong tiểu thuyết "Miyamoto Musashi" của văn hào Yoshikawa Eiji.
    Hình dạng

    Về hình dạng thì Kusari-gama chủ yếu có hai loại, một loại có quả chùy xích sắt nối vào phần đầu của lưỡi hái và một loại có quả chình xích sắt nối vào phần chuôi của lưỡi hái. Ngoài ra, hình dạng Kusari-gama cũng biến đổi thiên hình vạn trạng tùy thuộc vào từng môn phái sử dụng và công phu ra nó.




    Có thể kể ra một vài loại như: Ōkusari-gama (大鎖鎌) hay còn gọi là Nagi Kusari-gama thì có phần cán dài 4 thước Tàu (120cm), loại cán dài 7 thước gọi là Yae Kusari-gama (Nagi-gama), loại này gắn thêm xích sắt thì gọi là Yae Kusari-gama, lại có loại gắn thêm mũi giáo ở đầu lưỡi hái, vân vân. Loại có quả chùy xích sắt gắn ở đầu lưỡi hái được chế tạo để sử dụng một tay, phân tán lực vào phần cổ tay nên lưỡi hái nhỏ và dây xích cũng ngắn nên có thể vung từng nhát nhỏ. Loại có quả chùy xích sắt gắn vào cái lưỡi hái được chế tạo với mục đích sử dụng hai tay, phần lưỡi hái to và dây xích cũng rất dài (2~4m). Loại này thường được gắn thêm phần bảo vệ tay giống như đốc kiếm ở cán để tránh bị lưỡi hái làm bị thương khi bị địch thủ bắt được dây xích hay khi ném dây xích. Tại Nhật Bản, các loại Kusari-gama thường được các lò rèn đồ gia dụng chế tạo, chỉ có một số rất ít được các lò rèn kiếm chế tạo.


    Cách sử dụng

    Cách dùng cơ bản của loại võ khí này là ném quả chùy bằng dây xích vào phần đầu, mặt, ống chân và cổ tay của đối thủ. Nếu quả chùy không sát thương được thì dây xích cũng sẽ quấn chặt vào tay địch, chế ngự chuyển động của địch và cuối cùng dùng lưỡi hái ở tay trái kết liễu đối thủ. Đối với loại nhỏ có gắn quả chùy ở đầu lưỡi hái thì dùng một tay múa dây xích, vừa tính toán khoảng cánh với địch mà ném quả chùy. Đối với loại lớn có quả chùy gắn ở phần cán lưỡi hái thì tay phải nắm đoạn xích gần quả chùy vài chục cm mà múa vòng, khi thấy đã đủ lực thì ném thẳng quả chùy vào địch, giống như nguyên lý của ná bắn đá. Một khi đã ném chùy ra thì phải mất thời gian mới thu hồi và quấn lại phần xích sắt nên nhiều môn phái có thêm phần luyện tập đánh cận chiến nhỡ khi địch tránh được quả chùy. Kusari-gama là món vũ khí lợi hại, vào tay cao thủ có thể biến ảo khôn lường như rồng lượn rắn trườn nhưng rất khó sử dụng. Phần lớn những người mới sử dụng đều bị chính quả chình của mình đập vào người. Món vũ khí này cũng gần như không có tính phòng vệ, trong phát ném đầu tiên mà đối thủ tránh được thì xem như đã bước chân vào tử địa nên sử dụng vũ khí này phải có tâm lý "nhất kích tất sát".


    Phiên bản Việt Nam

    Trong truyện ngắn "Ném bút chì" (in trong tập "Vang bóng một thời"), nhà văn Nguyễn Tuân cũng viết về một loại võ khí gọi là "bút chì" tương tợ Kusari-gama, chỉ khác là lưỡi mai thay cho lưỡi hái và không có quả chùy sắt và dây xích được thay bằng dây thừng. Theo mô tả qua ngòi bút Nguyễn Tuân, người dụng võ khí này tay phải cầm đốc ngọn mai, tay trái quấn chặt đoạn dây thừng buộc chặt vào một đầu cán mai. Cách sử dụng cũng có khác Kusari-gama ở chỗ ném lưỡi mai vào người đối thủ, đoạn dùng tay trái giật về bằng đoạn dây thừng quấn quanh tay trái.



    Văn kiện tham khảo

    BAB Japan "Mọi điều về vũ khí mật" (秘武器の全てがわかる本), Iwai Kohaku biên soạn, xuất bản tháng 1 năm 1999, trang 94~110.


    Liên kết ngoài

    Truyện ngắn "Ném bút chì"

  8. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Kanemaki Jisai

    Kanemaki Jisai (鐘捲 自斎) là một kiếm hào thời Chiến quốc, khai tổ của phái kiếm Kanemaki-ryū, một phân nhánh của Chūjō-ryū. Ông được cho là sư phụ của Itō Ittōsai và cho đến nay người ta vẫn chưa xác định chính xác năm sinh và năm mất của ông.
    Kanemaki Jisai có thông gia họ Toda (外他), sau theo học kiếm pháp với Toda (富田) Jibusaemon (Toda Kagemasa), một cao thủ phái kiếm Toda-ryū và cũng là thầy dạy kiếm cho họ Asakura, một hào tộc ở xứ Echizen. Người ta cho rằng trong thời gian này ông xưng danh là Toda Ittōsai và được gọi là tam kiệt của họ Toda cùng với Yamazaki Sakon Shōgen, Hasegawa Munenobu.
    Đệ tử của Jisai thì có Maebara Yagorō, người này được sư phụ trao cho danh hiệu "Ittōsai" và kể từ đó, Yagorō xưng danh là Itō Ittōsai và sau này gây dựng nên phái kiếm Ittō-ryū. Nhiều tài liệu cho thấy Jisai đã truyền lại cực ý của môn phái là "Cao thượng cực ý ngũ điểm" cho học trò Itō Ittōsai. Và cũng vì có thời gian Jisai xưng danh là Toda Ittōsai nên cũng có thuyết cho rằng hai nhân vật Ittōsai này cùng là một người. Itō Ittōsai có một cao đồ tên là Kotōda Kageyuzaemon, tự xưng môn phái của mình là Toda Ittō-ryū và cũng có thời gian Jisai xưng môn phái của mình là Kanemaki Toda-ryū nên mới dẫn đến thuyết hai sư đồ Kanemaki Jisai và Itō Ittōsai cùng là một người. Ngoài ra Kanemaki Jisai còn có một người đệ tử nổi danh khác là Sasaki Kojirō.
    Toàn bộ đạo học của Kanemaki Jisai được Nakamura Ujike kế thừa. Người này sau làm hộ vệ cho một phiên chúa ở Sendai.

  9. #9
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    76
    Ittō Ittōsai</font></font>

    Ittō Ittōsai (伊東 一刀斎, năm sinh năm mất không rõ) là một kiếm khách Nhật Bản sống thời Chiến quốc cho đến đầu thời Edo. Ông họ là Itō, hiệu là Kagehisa, tục danh là Maebara Yagorō. Itō Ittōsai được cho là khai tổ của phái kiếm Ittō-ryū (Nhất đao lưu) cực thịnh vào thời Edo nhưng bản thân ông chưa bao giờ xưng lưu phái của mình là Ittō-ryū. Các đệ tử của ông có những người nổi tiếng như Ono Zenki, Kotōda Toshinao và Ono Tadaaki.



    Ittō Ittōsai trong Manga "Vagabond" dưới nét vẽ của họa sĩ Inoue Takehiko


    Lai lịch

    Về lai lịch của Ittōsai thì có nhiều thuyết khác nhau và đến giờ vẫn chưa thể đánh giá được đâu là đúng. Về năm sinh thì có thuyết nói Ittōsai sinh năm 1550 (niên hiệu Tenmon thứ 5), có thuyết nói sinh năm 1560 (Eiroku thứ 3), mất năm 1628 (Kan-ei thứ 5), lại có thuyết nói ông mất vào năm 1632 khi đã 90 tuổi. Nhưng tựu trung đều thống nhất rằng Ittōsai là người quận Itō thuộc xứ Izu ngày xưa, lấy nơi xuất thân làm họ. Tuy nhiên tại Itō, địa phương được cho là nơi xuất thân của Ittōsai thì lại hoàn toàn không lưu truyền một huyền thoại, giai thoại nào về nhân vật Itō Ittōsai này. Tuy nhiên, nếu dựa theo giai thoại về thanh kiếm Kamewari-tō (kiếm chém bình) thì thấy Ittōsai xuất thân từ Izu Ōshima, một hòn đảo phía Bắc quần đảo Izu. Năm 14 tuổi, Itō bám theo một tấm khung cửa bơi đến Mishima, tỷ thí với viên tư tế quản đền thờ ở đó là Toda Ippō. Itō thắng trận tỷ thí và được tư tế ban cho bảo kiếm. Một lần khác Itō dùng kiếm này chém chết 7 tên đạo tặc, tên cuối cùng trốn vào trong chiếc bình to và Itō dùng kiếm chém đứt đôi cái bình lẫn người bên trong. Vì thế thanh kiếm có tên là Kamewari-tō.
    Tuy nhiên, theo sách "Ittō-ryū densho" thì Itō ra đời ở miền Tây Nhật Bản và theo Yamada Jirōkichi, một kiếm thuật gia nổi danh thời Meiji thì trong truyền thư của phái kiếm Kotōda-ryū có ghi chép chuyện Ittōsai ra đời ở Katata thuộc xứ Ōmi. Lại theo sách "Ehon Eiyū Bidan" thì Ittōsai là người vùng Kanazawa xứ Kaga hay vùng Tsuruga xứ Echizen, là kiếm sư của võ tướng Ōtani Yo****sugu, thành chủ Tsuruga. Vị võ tướng này sau tử chiến trong trận Sekigahara nên Ittōsai trở thành võ sĩ vô chủ, sau về ở ẩn ở xứ Shimōsa đến cuối đời. Về nơi chết của Ittōsai, cũng có thuyết cho rằng ông chết ở thành phố Sasayama thuộc xứ Tamba.


    Sư phụ của Ittōsai và cực ý kiếm thuật

    Theo sách "Ittō-ryū no Gokui" (cực ý của phái kiếm Ittō-ryū, tác giả Sasamori Junzō) thì Itō đến Edo theo học đoản kiếm Kodachi và Chūdachi với Kanemaki Jisai, cao thủ phái Chūjō-ryū nổi danh với cực ý "Cao thượng kim cang đao". Yagorō (Ittōsai) ngày đêm luyện tập không ngừng nghỉ khiến Kanemaki Jisai cảm tâm mà trao lại hết 5 điểm cực ý, tuyệt học của môn phái gồm các áo nghĩa bí kiếm là "Diệu kiếm" (Myōken), "Tuyệt diệu kiếm" (Zetsumyōken), "Chân kiếm" (Shinken), "Kim sí điểu vương kiếm" (Konjichō Ōken) và "Độc diệu kiếm" (Dokumyōken). Một lần nọ Yagorō bị người thiếp yêu lừa gạt, dẫn thích khách đến ám sát trong lúc ngủ. Trong lúc nguy cấp, Yagorō xuất kỳ bất ý đánh ra chiêu thức "Phất xả đao" (Hossha-tō), sau trở thành một trong các chiêu kiếm cực ý của mình. Một lần khác, trong lúc viếng thăm đền thờ Tsuruga-oka, Yagorō ngộ ra bí kiếm "Mộng tưởng kiếm" (Musōken) chém chết giặc trong cơn vô thức. Theo sách này thì Yagorō Ittōsai phiêu du khắp các xứ trên toàn cõi Nhật Bản, tỷ thí 33 trận và không bại trận nào.

    Trong một cuốn sách ghi chép khác của Sanada Shigenobu, một võ tướng sống dưới thời Azuchi đến đầu thời Edo, sách vẫn còn lưu lại đến ngày nay, có mục "Mộng tưởng kiếm tâm pháp thư" chép vào tháng 7 năm Bunroku thứ 4 (1595), rằng có đến hai nhân vật xưng danh Toda Ittōsai. Toda Ittōsai là tên khác của Kanemaki Jisai, sư phụ của Ittōsai và đây cũng là nhân vật không rõ lai lịch nên có khả năng sự tích, xuất thân của hai thầy trò này trùng lặp với nhau. Lại theo sách "Ngọc Anh thập di" của họ Yagyū thì sư phụ của Ittōsai là Yamazaki Seigen. Thực tế có nhân vật Yamazaki Sakon Shōgen Kagenari là em trai của Toda Shigemasa, cao thủ phái kiếm Toda-ryū lừng danh ở xứ Echigo. Nhân vật Yamazaki Kagenari này cũng là một tay hào kiếm trong phái Toda-ryū nên giới nghiên cứu cũng suy đoán rằng có lẽ nhân vật Yamazaki Seigen này chính là Yamazaki Kagenari.


    Tỷ thí với người đại lục

    Trong những năm Tenshō, Toda Ittōsai có phiêu bạc giang hồ đến xứ Sagami và được rất nhiều người kéo đến xin nhập môn. Khoảng thời gian này Toda Ittōsai nhận Kotōda Toshinao (khai tổ của phái kiếm Kotōda Ittō-ryū, gia thần của họ Hōjō) làm cao đồ. Từ ghi chép này có thể suy đoán rằng Toda Ittōsai chính là Itō Ittōsai. Năm Tenshō thứ 6 (1578), có một người Hoa tên Thập Quan, cao thủ đao thuật Trung Quốc cập bến Sagami, tỷ thí với Ittōsai. Ittōsai tay mang cầm một chiếc quạt đã đánh bại Thập Quan dùng mộc đao.
    Hoa kiều đến định cư tại Nhật Bản, khi lấy tên Nhật thì thường thêm từ "Quan" trong tên để không quên nguồn gốc. Do vậy trong tâm thức người Nhật, những cái tên "~ Quan" là để chỉ Hoa kiều định cư tại nước này. Đương thời người Nhật chưa biết nhiều về tên họ người Hoa nên "~ Quan" chỉ là những cái tên chung chung dùng để chỉ người Hoa tại Nhật. Do đó rất có thể Thập Quan chỉ là cái tên chung vì không xác định được danh tính của nhân vật đó mà thôi.
    Trong tùy bút "Mimibukuro" vào cuối thời Edo có ghi lại chuyện đệ tử của Ittōsai là Ono Tadaaki dùng quạt sắt đánh bại đối thủ mang mộc kiếm. Về nội dung thì hoàn toàn giống với câu chuyện của Ittōsai và đến nay vẫn chưa xác minh được câu chuyện này có thật hay chỉ vì hậu nhân yêu thích câu chuyện của Ittōsai mà chép lại, hoặc giả là dựng nên để tuyên truyền cho thuật đánh quạt sắt (Tessen) vốn là một loại võ thuật hộ thân thời bấy giờ.

    <font size="4">Hệ thống lưu phái Ittō-ryū


    Theo hai tập sách cổ "Ittō-ryū Kōdensho" và "Gekken Sōdan", Ittōsai cho hai cao đồ là Ono Zenki và Mikogami Tenzen tỷ thí với nhau ở xứ Shimōsai. Người thắng cuộc là Tenzen được Ittōsai truyền thụ lại hết bí kỹ của môn phái. Bản thân Tenzen sau này cũng được Ittōsai tiến cử với Tướng quân Tokugawa Ieyasu, đến năm Bunroku thứ 2 (1593) thì được trọng dụng với bổng lộc 200 hộc. Tenzen sau này đổi sang họ mẹ là Ono, xưng danh là Tadaaki. Con trai của Tadaaki là Ono Tadatsune sau dựng nên Onoha Ittō-ryū (phái Ittō-ryū, nhánh Ono), trong khi đó em trai của Tadaaki là Itō Tenzen Tadanari cũng gây dựng nên Itōha Ittō-ryū (phái Ittō-ryū, nhánh Itō).
    Về sau, các nhánh này còn phân thêm nhiều nhánh nhỏ khác nữa, nhưng tựu trung là đều bắt nguồn từ Ittō-ryū của Ittōsai và có ảnh hưởng nhiều đến Kendō hiện đại.

    <font color="#008000">Tiểu thuyết


    Nhân vật Itō Ittōsai còn xuất hiện trong một số tiểu thuyết thời đại như

    + "Nihon kenkiden Itō Ittōsai" (Truyện quỷ kiếm Nhật Bản Itō Ittōsai), tác giả Mine Ryū Ichirō
    + "Kensei Itō Ittōsai" (Kiếm thánh Itō Ittōsai, bộ 5 tập), tác giả Nitta Yoshio.
    + "Itō Ittōsai" (bộ 3 cuốn thượng, trung, hạ), tác giả Tobe Shinjūrō
    + "Itō Ittōsai" (bộ 2 cuốn thượng, hạ), tác giả Yoshimura Ken-ichi
    + "Tenka ichi no ken" (thiên hạ đệ nhất kiếm), tác giả Kojima Hideki
    + "Kengō Ittōsai" (Kiếm hào Ittōsai), tác giả Shibata Tei.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    4
    Sasaki Kojirō</font></font>

    Sasaki Kojirō (佐々木 小次郎) là một kiếm khách Nhật Bản sống vào thời Azuchi Momoyama cho đến đầu thời Edo. Kiếm khách này không rõ năm sinh, mất vào ngày 13 tháng 4 năm Keichō thứ 17 (13-5-1612). Kojirō hiệu là Ganryū, chữ Hán viết là 巌流 (Nham Lưu), 岸流 (Ngạn Lưu), 岸柳 (Ngạn Liễu), 岩龍 (Nham Long)..... Những chữ này tuy viết khách nhau nhưng đều phát âm là Ganryū trong tiếng Nhật.
    Sasaki Kojirō trở nên nổi tiếng vì trận quyết đấu với kiếm hào Miyamoto Musashi trên đảo Ganryū (Ganryū-jima).


    Tượng đá Sasaki Kojirō và Miyamoto Musashi trên đảo Ganryū.

    Cuộc đời
    Về xuất thân của Sasaki Kojirō thì còn nhiều điểm không rõ ràng. Có thuyết cho rằng Kojirō ra đời trong một gia đình hào tộc có thế lực ở làng Fukuda, quận Tagawa thuộc xứ Buzen (nay là tỉnh Fukuoka). Trong cuốn "Nhị Thiên ký" (Nitenki) do Toyoda Kagehide ở phiên trấn Kumamoto biên tập vào năm An-ei thứ 5 (1776) thì ghi rằng Kojirō xuất thân từ làng Jōkyōji thuộc xứ Echizen (nay là tỉnh Fukui) và hội đắc được bí kiếm "Tsubame-gaeshi" tại thác nước Ichijō-taki thuộc địa phận Fukui. Trong tiểu thuyết "Miyamoto Musashi", tác giả Yoshikawa Eiji viết rằng Kojirō xuất thân từ xứ Suō. Năm sinh của Kojirō được cho là vào niên hiệu Tenshō hoặc Eiroku. Kojirō họ Sasaki, nhưng trong sách "Tanji Hōkin Hikki" thì ghi là họ Tsuta.

    Sasaki Kojirō được cho là theo học kiếm pháp với Toda Seigen, cao thủ phái Chūjō-ryū, lại có thuyết khác cho rằng Kojirō là đệ tử của Kanemaki Jisai, học trò của Toda Seigen. Đầu tiên Kojirō theo thờ họ Mōri ở xứ Aki, lang thang khắp các xứ để trau dồi võ công, sáng tạo ra thế kiếm "Tsubame-gaeshi" và gây dựng nên phái kiếm Gan-ryū. Sau Kojirō giữ chức Shihan dạy kiếm thuật cho chúa phiên Kokura. Năm Keichō thứ 17 (1612), Kojirō sử thanh trường kiếm Bizen Osafune Nagamitsu dài 3 thước 3 thốn (chừng 1 mét) quyết đấu với kiếm khách giang hồ Miyamoto Musashi trên đảo Ganryū và chết trong trận đấu đó. Vì thua trận nên hậu thế gọi thanh kiếm của Kojirō bằng tục danh "Monohoshi-zao", nghĩa là cây sào phơi đồ, với ý châm chọc là kiếm chỉ dài thôi chứ chẳng chém được ai.
    Rất nhiều sử liệu ghi chép rằng Kojirō thua chết trong trận quyết đấu trên đảo Ganryū với Miyamoto Musashi, nhưng theo Numata Nobumoto, quan Gia Lão của lãnh chúa Hosokawa phiên Kokura viết lại trong cuốn sách của ông là "Numata kaki" (ký ghi chép của họ Numata) thì Musashi đã không giết chết Kojirō trong trận đấu đó. Kojirō đấu thua, chặp sau tỉnh lại thì bị đám đệ tử của Musashi giết chết. Numata cũng viết rằng chúng đệ tử của Kojirō hận Musashi vì đấu thua, toan tập kích Musashi nhưng nhờ Numata giúp đỡ mà Musashi thoát được. Sách viết nguyên nhân dẫn đến trận quyết đấu trên đảo là do đám đệ tử quá khích của hai người tranh cãi hơn thua về sư phụ chúng.


    Năm mất

    Trong "Nitenki" (Nhị Thiên ký), cuốn truyện ký kể về Miyamoto Musashi do quan Gia lão của chúa Hosokawa là Toyoda Kagehide viết có đoạn chép rằng khi quyết đấu với Musashi trên đảo Ganryū thì Kojirō đã 18 tuổi. Nhưng trong cuốn "Bukōden" (Võ công truyện) vốn là nguyên bản của "Nitenki" thì không có đoạn chép trên nhưng có đoạn viết rằng Sasaki Kojirō sáng lập môn phái năm 18 tuổi. Nếu căn cứ vào việc Kojirō gặp gỡ Toda Seigen thì ít nhất cũng đã trên 50 tuổi, nếu là đệ tử chân truyền của Seigen thì Kojirō phải là một lão nhân. Do đó có nhiều thuyết cho rằng sách ghi sai số tuổi của Kojirō lúc quyết đấu trên đảo từ "thất bát" (78) thành "thập bát" (18) bởi Hán tự "thất" và "thập" có tự dạng gần giống nhau. Lại xem nếu Kojirō là đệ tử của Kanemaki Jisai thì rất nhiều khả năng Kojirō nhiều tuổi hơn Musashi.


    Tsuruta Kōji trong vai Sasaki Kojirō trong bộ 3 phim Miyamoto Musashi của đạo diễn Inagaki Hiroshi



    <font color="Red">Tính cách


    Nhân vật Sasaki Kojirō được đại đa số dân Nhật cho rằng là người ngạo mạn bất tôn, tuy có tài nhưng ba hoa lắm tật, lại xảo quyệt gian manh. Quan niệm này xuất phát từ cuốn tiểu thuyết "Miyamoto Musashi" của văn hào Yoshikawa Eiji, trong đó Kojirō là đối thủ chính của nhân vật chính là Musashi được mô tả với những đặc tính tốt đẹp của dân tộc Nhật còn Kojirō thì hoàn toàn ngược lại. Tác giả Yoshikawa còn miêu tả Kojirō như một kẻ đồng bóng, thích ăn mặc lòe loẹt, đỏm dáng. Trong "Kōdan Miyamoto Musashi" của diễn giả Itō Ryōchō cũng mô tả Sasaki Ganryū Kojirō như kẻ quỷ quyệt, láu cá. Một số truyện ký, ký sự cổ từ thời Edo cũng nhìn nhận Kojirō với những tính cách tiêu cực như vậy.
    Tuy nhiên cũng có những quan điểm ủng hộ Kojirō, phản bác lại cách nhìn nhận truyền thống đối với nhân vật này. Điển hình là nhà văn Murakami Genzō trong tiểu thuyết "Sasaki Kojirō" của mình cũng đã miêu tả nhân vật này với những tính cách tích cực và nhìn nhận tiêu cực về Miyamoto Musashi. Họa sĩ truyện tranh Inoue Takehiko thì miêu tả Kojirō trong tác phẩm Vagabond của mình là một kiếm khách thiên tài nhưng câm điếc bẩm sinh, mang nhiều nét thơ ngây và ít nhiều thể hiện thiện cảm đối với nhân vật này, dù nhân vật chính của tác phẩm vẫn là Musashi.


    Watanabe Ken trong vai Kojirō (phải) trong phim Ganryū-jima

    <font color="Red">Tuyệt kỹ Tsubame-gaeshi


    Tuyệt chiêu của Sasaki Kojirō thường được nhắc đến là "Tsubame-gaeshi" (én lượn) với đặc trưng là hai nhát chém chớp nhoáng theo hướng ngược nhau. Sở dĩ chiêu thức này có tên như vậy là vì nó mô phỏng động tác bay lượn của chim én, nhanh gọn và đảo hướng bất ngờ. Kojiō sáng tạo nên tuyệt kỹ này khi quan sát én bay trên cầu Kintai ở xứ Iwakuni. Tuy nhiên, trong một phim tài liệu trên đài Terebi Asahi vào năm 2007, có chứng cớ cho thấy rằng Tsubame-gaeshi chỉ là sản phẩm của hậu thế gán cho Kojirō vào khoảng 60 năm sau ngày quyết đấu trên đảo Ganryū. Theo phim tài liệu này thì nguyên bản của chiêu thức Tsubame-gaeshi chính là chiêu kiếm Torakiri.
    Trong "Kōdan Miyamoto Musashi", diễn giả Itō Ryōchō kể rằng Kojirō hội đắc được kiếm pháp này khi chém đứt cánh chim én bay vào nhà. Chim én là loài bay lượn vô địch trên trời, nhưng tuyệt kỹ Tsubame-gaeshi của Sasaki Kojirō có thể chém rụng cánh én nhờ tốc độ thần sầu và độ chính xác của nó. Nhiều phái kiếm cổ như Yagyū-ryū cũng có chiêu thức Tsubame-gaeshi với hai nhát chém thần tốc ngược hướng nhau, thường là nhát đầu tiên bổ thẳng từ trên xuống và ngay sau đó là nhát chém ngược từ dưới lên.

    Sasaki Kojirō trong văn hóa đại chúng

    Hình tượng Sasaki Kojirō rất phổ biến trong văn hóa đại chúng Nhật Bản, và thường xuất hiện trong vai trò đối lập với nhân vật Musashi.

    Phim ảnh
    + Sasaki Kojirō (1950, nguyên tác Murakami Genzō, đạo diễn Inagaki Hiroshi, tài tử Ōtani Tomoemon thủ diễn)
    + Zoku Sasaki Kojirō (1951, nguyên tác Murakami Genzō, đạo diễn Inagaki Hiroshi, tài tử Ōtani Tomoemon thủ diễn)
    + Kanketsu Sasaki Kojirō (1951, nguyên tác Murakami Genzō, đạo diễn Inagaki Hiroshi, tài tử Ōtani Tomoemon thủ diễn)
    + Kettō Ganryū-jima (1956, nguyên tác Yoshikawa Eiji, đạo diễn Inagaki Hiroshi, tài tử Tsuruta Kōji diễn)
    + Miyamoto Musashi Nitō-ryū Kaigan (1963, nguyên tác Yoshikawa Eiji, đạo diễn Uchida Tomu, tài tử Takakura Ken diễn)
    + Miyamoto Musashi Ichijō-ji no kettō (1964, nguyên tác Yoshikawa Eiji, đạo diễn Uchida Tomu, tài tử Takakura Ken diễn)
    + Miyamoto Musashi Ganryū-jima no kettō (1965, nguyên tác Yoshikawa Eiji, đạo diễn Uchida Tomu, tài tử Takakura Ken diễn)
    + Sasaki Kojirō (1967, Murakami Genzō, đạo diễn Inagaki Hiroshi, tài tử Onoue Kikunosuke)
    + Miyamoto Musashi (1973, nguyên tác Yoshikawa Eiji, đạo diễn Katō Tai, Tamiya Jirō diễn)
    + Makai Tenshō (1981, nguyên tác Yamada Fūtarō, Shirai Jirō diễn)
    + Ganryū-jima GANRYUJIMA (2003, đạo diễn Chiba Seiji, Nishimura Masahiko diễn)

    Phim truyền hình

    + Miyamoto Musashi (1961, Fuji Terebi, Nakaya Noboru diễn)
    + Sorekara no Musashi (1964, 1965, Mainichi Hōsō, Utsui Ken diễn)
    + Miyamoto Musashi (1965, Nihon Terebi, Nakatani Ichirō diễn)
    + Miyamoto Musashi (1970, NET, Yamazaki Tsutomu diễn)
    + Miyamoto Musashi (1975, Kansai Terebi, Hamahata Kenkichi diễn)
    + Miyamoto Musashi (1984, NHK Taiga Drama, Naka Kōji diễn)
    + Miyamoto Musashi (1990, Terebi Tōkyō, Murakami Hiroaki diễn)
    + Ganryū-jima (1992, NHK, Watanabe Ken diễn)
    + Tokugawa Kengōden Sorekara no Musashi (1996, Terebi Tōkyō, Takuma Shin diễn)
    + Miyamoto Musashi (2001, Terebi Tōkyō, Yoshida Eisaku diễn)
    + Musashi MUSASHI (2003, NHK Taiga Drama, Matsuoka Masahiro diễn)

    Manga

    + Vagabond (nguyên tác Yoshikawa Eiji, vẽ tranh Inoue Takehiko)
    + GANRYU
    + YAIBA
    + Gag Manga Biyori
    + Fate/stay_night

    Video Game

    + Series Kengō (Genki phát hành)
    + Series Nobunaga no Yabō (Koei phát hành)
    + Series Taikō Risshiden (Koei phát hành)
    + Sengoku Musō 2 Mōshōden (Koei phát hành)
    + Musō OROCHI Maō sairin (Koei phát hành)
    + THE Kassen Sekigahara (3D Publisher)
    + Aku daikan 2 (GAE)
    + Edo mono (GAE)
    + Ryū ga gotoku kenzan (Sega)
    + Fate/stay_night
    + LORD of VERMILION Re:2(SQUARE ENIX)

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •