Kết quả 1 đến 3 của 3
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4

    Người việt cao quý

    undefinedLời giới thiệu (NewGod) : mong các bạn bỏ ra vài phút đọc những dòng này để cảm nhận được sâu sắc hơn ý nghĩa của tác phẩm rất đáng đọc cho mỗi người Việt Nam.

    Trong cuộc sống xô bồ ngày nay, chúng ta dễ gặp đâu đó những cá nhân ti tiện , nhỏ nhen mang những tính xấu xa mà thật sự là làm buồn lòng những ai có tâm huyết cùng xã hội. Báo chí cũng tràn ngập những tin tiêu cực, những tin buồn nản lòng người.

    Nước mình thì vẫn nghèo , nghèo lắm ! Bạn hãy thử tưởng tượng xem , căn cứ trên GDP . Từ 10 năm trước , năm 1999, cả dân cả nước ta còng lưng ra làm việc, trải qua bao nhiêu vui buồn cay đắng . Đến năm 2009 , chúng ta tích cóp được , thì tổng số của cải quy đổi ra giá trị GDP đó chỉ ngang với giá trị GDP của nước Hàn Quốc làm trong năm 2009 thôi . (gấp khoảng 10 lần). Vậy nhưng mấy ai hiểu thấu sự khó khăn của nước nghèo như thế . Đôi khi dễ gặp ai đó cho rằng Việt Nam mình làm gì thiếu tiền để làm việc này việc kia , ngầm ý so với nước ngoài , mà lại là so với những nước giàu có hùng mạnh trên thế giới nữa là khác .

    Để rồi từ sự thiếu thông cảm mà nảy sinh ra thái độ bất mãn , rồi bất mãn nhưng không thể trả lời thì sinh ra tự ti . Âu cũng là dễ hiểu vì đã mấy trăm năm nay rồi , chiến tranh , bị trị , bị dân nước khác đè nén đến mức cả dân tộc phải vùng dậy liều chết chống trả . Suốt thời gian ấy , ta đã có gì đâu ngoài nền độc lập và thống nhất giành được !? Có gì chứ ngoài những giá trị thiêng liêng đó , phải chăng đã đánh đổi bởi không chỉ của cải , tài nguyên , mà còn cả máu và mạng sống hàng triệu người Việt Nam ?

    Cái cùng khổ của người Việt trong lịch sử hiện đại là đó . Nghĩ mà sao không xót xa đau lòng ? Cái gì ta cũng thua thiệt , cái gì ta cũng đi sau . Kém may mắn , muộn màng lắm chứ Việt Nam ơi !

    Nhưng có hiểu như vậy , thì mới thấy rằng những gì ta kém cỏi hôm nay không phải bắt nguồn từ bản chất kém cỏi của người Việt . Người Việt không phải la giống dân tiểu nhược . Mà người Việt là ai ? Là bạn đang đọc những lời này , là tôi đang viết những lời này . Chúng ta không phải là giống dân nhược tiểu nếu ta hiểu hơn về chính bản thân chúng ta . Chúng ta thực ra rất đặc biệt , rất to lớn nhưng hoặc giả ta chưa khám phá , bộc lộ hết ra đó , hoặc giả vì hoàn cảnh chưa cho phép đó .

    Có người Việt cao quý , và cũng có người Việt xấu xí . Chứ không phải là đánh đồng cứ Việt Nam thì là cao quý và cứ Việt Nam thì là xấ xí cả . Nhưng vấn đề không chỉ nên hiểu theo nghĩa đen đại khái thế được .

    Bạn tự tin , bạn ngẩng cao đầu . Bạn sẽ dám ước mơ . Bạn có ước mơ thì bạn sẽ yêu con đường mà bạn làm , tin tưởng điều bạn làm , khao khát biến điều bạn mơ ước thành hiện thực . Rồi từ đó trong từng ý nghĩ , trong từng hành động , cái động lực thầm kín đó sẽ dạy bạn sự khôn ngoan và những cảm hứng của một kẻ chiến thắng .

    Tôi không dám so ta với Nhật Bản , vì người Nhật đã đi trước chúng ta vài trăm năm từ thời Minh Trị . Nhưng tôi mạnh dạn so sánh chúng ta với người Hàn Quốc (miền Nam) hoặc thậm chí kể cả người Triều Tiên (miền Bắc ). So sánh để thấy rằng , bản chất chúng ta không hề thua kém họ trong suốt chiều dài lịch sử cho đến tận thời hiện đại . Nhưng cái ta thiếu rõ ràng mà chúng ta không nhìn thấy , đó là đại đa số người Hàn Quốc luôn dõng dạc và tự tin sống cho khẩu hiệu "Chúng ta là Đại Hàn Dân Quốc" ngay cả khi họ nghèo khổ , còn người Việt Nam ta , thường sinh mặc cảm rồi bĩu môi cười cho rằng mình chỉ là "Việt Nam mà !" . Ai đó còn hô hào "yêu nước thì hãy biết nhục" , rồi người ta bảo "Nhật Bản dạy con cháu họ biết nhục" . Sao mà ngu dốt và thiển cận đến thế chứ ! Chưa đủ để thấy cái tâm cảnh tiểu nhược , hèn nhát đã khiến Việt Nam thua thiệt như thế nào sao ?

    Đừng kém cỏi như thế chứ Việt Nam ơi !

    Vì thế , tác phẩm Người Việt Cao Quý vẫn còn nguyên tính thời sự. Người Việt Cao Quý là một tác phẩm có tính tuyên truyền để phấn khích toàn dân Việt Nam nhỏ bé dám hiên ngang bất khuất dũng cảm đánh trả bọn xâm lược đế quốc thực dân cách đây vài thập kỷ . Nó đã từng là nước mắt hạnh phúc của người nông dân Việt Nam nào đó bỗng ngày kia hiểu rằng mình sinh ra không phải để làm nô lệ hay cúi đầu khuất phục chịu thua kém mà sinh ra để khao khát vươn lên mà chiến thắng , mà đấu tranh với nghịch cảnh . Nó đã từng là nụ cười của một anh bộ đội nào đó trước khi nằm lại đất mẹ tin rằng sự hy sinh của mình là chiến thắng của dân tộc . Có câu chuyện còn kể rằng , cuốn sách này từng là sức mạnh khiến một người tù cách mạng ngạo nghễ cười nhạo vào những đòn tra tấn man rợ của Mỹ Ngụy .

    Họ đã tin , và đã sống như những Người Việt Cao Quý .

    Vậy đó , bây giờ xin mời các bạn đọc tác phẩm này , đăng trên trang Giao Điểm Online.

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    NGƯỜI VIỆT CAO QUÝ


    Tác Giả: A. Pazzi

    Nguyên Tác: Per Comprendere Il Vietnam e Vietnamita

    Người Dịch: Hồng Cúc

    Tủ Sách Kiến Thức Thời Đại “Cảo Thơm” Saigon, 1972
    I.Đôi Mắt Và Nụ Cười Của Người Việt.

    Trên 20 năm sống trên đất nước Việt Nam, tôi tưởng có đủ thì giờ tìm hiểu người dân khả ái, cùng cái xứ sở khá kỳ diệu này. Tôi tin chắc mình sẽ nói lên được ít nhiều sự thực, do cái tầm mắt khách quan của người ngoại địa, và niềm thiết tha của kẻ biết mình không thể dửng dưng.

    Tôi cần thưa trước với các bạn rằng, khi rời nước Ý là quê hương tôi sang nước Việt Nam, tôi không có ý định lưu cư dài hạn ở đây. Không khí nhiệt đới ẩm thấp, oi nồng, không làm cho sức khỏe tôi hoan hỉ. Truyền thống văn hóa Đông Phương không giúp cho sinh hoạt tôi được mọi dễ dàng. Đặt chân lên mảnh đất này, tôi phải giữ kỹ chiếc mũ trên đầu vì sợ say nắng, ngộ cảm như lời một người bạn Pháp đã nhắn nhủ tôi trong một lá thư thân tình: “Nắng ở Việt Nam không có cường độ như ở Châu Phi nhưng lại có sức giết người nhanh chóng gấp một trăm lần ánh lửa của sức mặt trời xích đới. Chúng ta không thể bắt chước những người bản xứ mà phơi đầu trần, trừ phi ta muốn sớm về hỏa ngục..”

    Như thế, tôi đến Việt Nam với một thái độ hết sức e dè. Nhưng trong cái nắng chói chang của ngày đầu tiên hôm ấy, tôi đã có dịp thấy người Việt Nam, không phải qua các tranh ảnh, qua các sách báo, mà thấy hiển nhiên trước mắt mình. Có thể nói rằng ý nghĩ đầu tiên đế trong trí óc của tôi là “người Việt Nam thật đẹp”. Sau này nhiều lần tôi có đem ý nghĩ này nói với nhiều bạn Việt Nam, nhưng tôi chỉ gặp nơi họ những cái mỉm cười hoài nghi hoặc là gượng gạo, như tuồng họ tưởng tôi có một ẩn ý gì trong lời nói đó, hoặc cho là một cách nói xã giao để lấy cảm tình. Không, tôi không co cái ý định như th61. Tôi đã tiếp xúc khá nhiều dân tộc và tôi có dịp để quan sát họ hẳn hoi và so sánh họ với nhau. Ở Á Đông này, người Tàu cũng có những nét khả ái riêng biệt của họ như là người Nhật, nhưng cả người Tàu, người Nhật đều không có cái linh hoạt đặc biệt của người Việt Nam. Đôi mắt, cái miệng của người Việt Nam có một sức sống kỳ lạ, cái duyên kỳ lạ.

    Về đôi mắt họ, tôi nghĩ đó là một sức thông minh tiềm tảng trải qua nhiều đời dồn chứa thành một cái nhìn vừa mau, vừa sâu như cố nắm lấy sự việc rồi thoát ly liền, như sau mũi tên bắn mạnh người thiện xạ kia đã mất dạng rồi. Tất nhiên con mắt người Việt có nhiều hình dạng nhưng vẻ tinh anh của họ gần như chia xẻ đồng đều. Từ đứa bé con đến người tuổi tác, từ kẻ nghèo khổ đến kẻ sang giàu đều có được cái ánh sáng mài nhọn cắt bén như thế. Hầu như đa số mắt của người Việt đều có hai mí, và đó cũng là một cách cấu tạo làm cho con mắt thêm phần linh động hơn nhiều. Phải nói là người Việt Nam không biết giữ gìn con mắt và đa số bị khá nhiều bệnh mắt, tuy thế cái vẻ nhìn độc đáo trong cách họ nhìn vẫn không biến đổi. Họ nhìn hiền từ khoan dung, nhưng có vẻ gì không chịu phục tòng. Tôi nghĩ khó lòng mà nói cho hết về những ý nghĩa phóng tỏa từ đôi mắt ấy và cũng không sao mà vẽ truyền thần cho được y nguyên những vẻ sắc sảo tinh anh mà đôi mắt họ có thừa. Lần đầu tiên thấy cái nhìn của họ, tôi tự nhủ rằng: “Đây không phải là dân tộc tầm thường” và sau tôi phải kết luận: “Người Việt là một dân tộc ưu hạng có nền văn minh riêng biệt, có lẽ không giống với bất cứ nền văn minh nào trên thế giới này.”

    Tôi sẽ có dịp phân tích nền văn minh ấy về sau, tuy vẫn tiếc rằng không đủ phương tiện tìm hiểu sâu xa hơn nữa. Khi biết khá rõ đôi mắt người Việt tôi mới nhận biết đầy đủ hơn rằng còn những dân tộc có những cặp mắt lờ đờ hay là thô bạo, hoặc là sỗ sàng hoặc cũng hời hợt, dễ dãi. Đa số con mắt Việt Nam không có những tính xấu ấy. Con mắt là gương phản chiếu tâm hồn, và tâm hồn căn bản của người Việt là sự thuần thục của một dân tộc ý thức rõ rệt hoặc là ngấm ngầm về cái sức năng văn hóa của giống nòi mình. Nhiều dịp tôi đã thấy kẻ bất lương hung hăng ném những tia nhình hằn học đục ngầu sát khí, nhưng khi ý nghị bạo ác tàn rồi, cặp mắt của họ dịu xuống, lại trở về với cái vẻ dịu hiền sắc sảo của dân tộc mình. Dù cho đôi mắt ấy không bình thường, hay bị thương tật, cái nhìn của người Việt Nam vẫn là cái nhìn thông minh, trong đó có chiều sâu thẳm của nền văn minh riêng biệt.

    Nhưng đôi mắt của người Việt phải được gắn liền với cái miệng họ, hay nói đúng hơn là cái nụ cười của họ. Ở trên khuôn mặt con người, chỉ có đôi mắt, đôi môi là đáng lưu ý hơn cả, vì nó phản chiếu một cái thực tại linh động về tâm hồn người, nói lên trình độ cảm nghĩ, khả năng đạo đức một cách cụ thể. Cái mũi là vật trung tâm và lộ hiện ấy, hầu như không có khả năng phát biểu được gì cá biệt cho thật rõ ràng. Nhưng nụ cười Việt, cũng như hầu hết nụ cười dân tộc Đông Phương, có một vẻ gì bí hiểm khó mà đoán hiểu dễ dàng. Riêng người Việt Nam, khi vành môi họ nhếch lên hay mím nhẹ lại, họ đã qui tụ cái nhìn, đôi mắt theo về hướng ấy, và trong phần tư, phần sáu nụ cười lửng lơ của họ, người ta đoán thấy một sự nhạy cảm lạ lùng đi đôi với một khiếu năng phê phán linh hoạt.

    Có khi ý tưởng mà họ nói ra không có giá trị bằng cái ánh mắt và nụ cười ấy. Điều ấy có thể cắt nghĩa như sau: trí tuệ của họ chưa có điều kiện để được phát triển, trong khi con người họ thừa hưởng một sự đào luyện lâu dài về giống nòi mình biểu hiện ở trong tiềm thức cộng đồng. Chính cái tiềm thức cộng đồng của một dân tộc là cái di sản vô cùng lớn lao, không có cách gì tạo lấy dễ dàng hay thay đổi được. Nó là kết quả của bao đời sinh hoạt, của bao nhiêu nỗi thăng trầm, vinh quang, tủi nhục thảy đều dồn tụ để chung đúc lại thành những phản ứng sâu xa trong mỗi người dân, khiến lúc họ đi, họ đứng, họ nói, họ cười, cái vốn liếng ấy vẫn chi phối họ, vẫn được hiện diện cách này hay là cách khác. Phải nói rằng người Việt Nam có cái tiềm thức cộng đồng khá lớn, khá sâu, chỉ có ở trong những dân tộc có nền văn minh phong phú riêng biệt.Người ta có thể trách cứ một số người Việt hay thích làm dáng, hay học uốn môi, trẹo lưỡi theo người ngoại quốc làm cho cái duyên tự nhiên của dân tộc họ dễ mai một đi. Nhưng tôi dám chắc là chưa có giống người nào có một nụ cười ý nghĩa như là nụ cười của dân tộc họ. Phải nói rõ hơn là người Việt ít có nụ cười thật vui, cũng như trên thế giới này vẫn chưa có dân tộc nào thật sự có nụ cười tươi mười phần hoan hỉ. Nhân loại đang đi tìm nụ cười kia như một giải thoát cho mình. Riêng người Việt Nam không biết họ có tìm thấy được nhiều khuây lãng hay không, khi nhếch mép cười, nhưng tôi tin rằng họ phải bận tâm suy nghĩ nhiều hơn trong những nụ cười như vậy. Người Việt dung hòa được sự hướng nội và sự hướng ngoại khi cười, nên đã tạo được một sự quân bình đặc biệt. Nói theo quan niệm y học thì chỉ có sự quân bình mới có sự sống, và mất quân bình là sự bệnh hoạn.

    Suy từ nụ cười, chúng ta thấy người Việt Nam có được một sự quân bình đặc biệt suốt trong mọi ngành sinh hoạt khiến họ chấp nhận hợp lý được mọi quan niệm, dung hòa được mọi ý kiến dị đồng. Đời sống của dân tộc họ dù có chiến thắng vẫn không có những hân hoan tột độ, và dù chiến bại vẫn không có những bi đát tột cùng.Sau này nghiên cứu lịch sử Việt Nam tôi càng thấy rõ rệt hơn điều ấy. Những lúc dẹp xong kẻ thù họ vẫn ngoan ngoãn làm người triều cống và khi bị kìm kẹp giữa gông cùm nô lệ họ vẫn thản nhiên tìm cách vươn lên. Chưa có một dân tộc nào chiến đấu oai hùng như họ trải qua lịch sử, mà họ có bản anh hùng ca nào đâu? Cũng chưa có dân tộc nào lầm than đến thế, mà họ có lời kêu khóc nào đâu? Văn chương Việt Nam không hề có sự bi thảm, tuyệt vọng, bởi vì dân tộc của họ không thể bi thảm đến mức tuyệt vọng, dù phải sống vào bất cứ trường hợp nào.

    Nụ cười của người Việt Nam, nếu không phải đem lại niềm tự tin thì cũng bày tỏ một ý khoan dung rõ rệt. Điều ấy không phải là không có lý, khi nhiều lúc ta bắt gặp nụ cười vào lúc mà ta không hề chờ đợi. Nếu không tự tạo một vẻ bề trên thì nụ cười ấy cũng nói lên sức chống đối gần như thường trực. Nhiều người Việt Nam vẫn không nghĩ rằng mình cười như thế, và không ngờ rằng mình lại muốn cười như thế bao giờ. Chính sức tự vệ âm thầm bên trong của giống nòi họ đã tạo nên cách thế ấy, ngoài vòng kiểm soát ý thức.
    Những người Việt mất gốc, quá chịu ảnh hưởng Tây phương không thể nào hiểu những nét độc đáo của dân tộc họ.

    Tôi đã có đọc một bài của một dịch giả có tài là Nguyễn Văn Vĩnh nói về nụ cười của dân tộc mình và ông đã nói một cách vội vàng nên không tránh được nhiều sự sai lầm quan trọng. Ông đã lên án cái giọng cười ấy bằng một lối nhìn khinh bỉ và quan niệm người Việt Nam đã cười một cách xấu xa, với những ẩn tình độc ác, đó là nụ cười phá hoại, nụ cười vu cáo, nụ cười kiêu ngạo rất vô lối. Rất tiếc ông Vĩnh đã đứng trên cái quan điểm Tây phương để mà quan sát đồng bào của mình, và trong quan điểm của ông có cái thái độ hời hợt, nghi hoặc của một tên quan thuộc địa nhình dân bản xứ như bọn hèn kém xấu xa. Cho đến ngày nay (thập niên 1960 ở miền Nam) hình như ở trong các trường học người ta vẫn dạy các bài như thế và chừng như các giáo sư cũng không mấy người cho rằng ông Vĩnh nói sai. Tôi nghĩ nếu quả sự thực là vậy thì người ta đã bôi nhọ dân tộc của mình rõ rệt. Và phải nhận rằng một số trí thức Việt Nam có bằng cấp cao, có kiến thức rộng, nhưng lại không có căn bản dân tộc bao nhiêu. Họ vẫn hãnh diện vì biết nói tiếng nước ngoài, coi sự đi ra khỏi nước, dù là đi vào rừng rú Châu Phi, Châu Mỹ, là một vinh dự hiếm có. Những người trí thức ấy quên vun xới vườn nhà như quên linh hồn đích thực của mình và giống hệt như anh chàng trong cổ kịch La Mã mua được một cái mặt nạ rẻ tiền đã vội chối từ khuôn mặt vốn có thật đẹp của mình. Bởi thế chưa có một dân tộc nào mà người trí thức lại nói pha trộn nhiều tiếng ngoại ngữ như vậy, thích dùng đồ ngoài như vậy. Nhưng may mắn thay, nếu lớp bọt bèo ở trên có những thành phần không bám được rễ xuống dưới đáy sâu thì chính đông đảo quần chúng của họ biết quí dân tộc của mình một cách rõ rệt.

    Có lẽ bàn về nụ cười, tôi đã cho phép mình đi quá xa, khỏi cái giới hạn cần thiết mất rồi. Nhưng dừng quá lâu ở trên hình thức, diện mạo, chúng ta khó lòng phát hiện được những giá trị thật sự lớn lao về một dân tộc. Người Việt đáng lẽ phải tự hào về khuôn mặt của họ. Tôi không nói đến khuôn mặt của những con người no đủ, béo tròn, trắng phốp, hồng hào nằm trên nhung lụa và trong bóng mát của những tiện nghi. Ở bất cứ một xứ nào, những hạng người ấy đều có thể giống nhau, và không có gì đáng nói nhiều hơn là cái bằng phẳng nhạt nhẽo của lòng tự mãn ích kỷ, trong đó mỗi thái độ tự thưởng thức lấy là được biểu hiện vẹn toàn. Hơn nữa, cái thời chỉ nheo một mắt để nhìn vào các giá trị bên ngoài đã qua lâu rồi. Nhân loại đã mất cả mấy ngàn năm mới rời khỏi được mảnh đất hình thức để đi vào trong lãnh vực nội dung, lẽ nào trong sự phê phán, tìm tòi cái đẹp, người ta còn đồ đi, vẽ lại một kiểu cánh nhìn hình thức đã lỗi thời rồi? Do đó, vẻ đẹp trên khuôn mặt người Việt Nam là do quá trình gian khổ của dân tộc họ làm thành và sức quật cường lớn lao của dân tộc họ tạo nên. Cặp mắt họ biết quắc nhìn, giận dữ mà không tàn bạo, đôi môi họ biết mím chặt, căm hờn mà không ác tâm. Tiếng nói của họ, vốn là ngôn ngữ riêng của âm nhạc vì có nhiều dấu, nhiều giọng khác nhau, không phải là tiếng nói của hỗn loạn và của cay nghiệt. Trên khuôn mặt người Việt Nam có cả vết hằn lịch sử của họ. Các vết hằn đó ở nơi khóe môi, ở nơi vùng trán, ở trong ánh mắt, nụ cười, ở trên màu da và tiếng nói.

    Thật là khó lòng quan niệm người dân của một xứ nắng, của những núi rừng trùng điệp và của đầm lầy mênh mông mà lại có một màu da trắng như vỏ trứng. Cái vẻ trắng, hồng hào không nên đòi hỏi nơi người Việt Nam, vì nó phản lại địa lý, phản lại sinh hoạt, phản lại lịch sử họ. Nói thế, không phải là một quan điểm của bọn thực dân muốn cho người bản xứ chịu khổ suốt đời. Trái lại, trừ phi người ta thích ngồi trong nhà nghỉ mát mà lo trau giồi sắc đẹp, thì người ta không cần biết gì thêm ngoài khuôn mặt mình. Và các loại khuôn mặt này, như trên đã nói, chỉ đọc thấy sự phè phỡn no nê đầy nét hời hợt của lòng toại nguyện dễ dãi, và rất nhiều khi vẻ rực rỡ ấy lại phản chiếu thật hoàn toàn thái độ ích kỷ đến mức tồi tàn. Không, tôi không thuộc về lớp người chỉ thích ca ngợi vẻ đẹp cao sang lộng lẫy kiểu các ông Hoàng, bà Chúa. Bởi lẽ ca ngợi như thế tức là tự tố cáo sự hèn mọn trong cách cúi đầu khuất phục trước cái thế lực đã lỗi thời đó. Người Việt Nam nào biết quan tâm đến sinh hoạt của đồng bào mình, biết sống một cách hẳn hoi, thực sự cũng không thể nào không đem mình ra dang trải nắng gió, không cùng chung những đau khổ, và những cố gắng mà dân tộc mình phải chịu. Phải nhìn nhận rằng do những biến cố lịch sử liên tiếp, do những ảnh hưởng bên ngoài đối với xứ sở, người Việt bị lâm vào cảnh nghèo khó, và phải cố gắng lâu dài họ mới hoàn toàn sung sướng. Những kẻ sớm vội hưởng lạc bây giờ có lẽ đã bỏ dân tộc của mình mà đi. Do đó khuôn mặt đẹp nhất của người Việt Nam hiện tại vẫn là khuôn mặt rám nắng, khuôn mặt khắc khổ, khuôn mặt của những lo âu và hi vọng, khuôn mặt linh động, phong phú của những con người đang viết những trang sử lớn lao.

    (còn tiếp)

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Phần II. Một Căn Bản Tinh Thần Quí Giá Của Người Việt Nam: Óc Thiết Thực

    Nếu rời cái phần diện mạo, chúng ta bước vào sinh hoạt tinh thần, có lẽ giá trị căn bản mà ta cần phải đề cập trước nhất trong những giá trị truyền thống của người Việt Nam, là óc thiết thực. Người ta có thể bắt gặp tinh thần thiết thực của họ ở khắp mọi nơi, trong mọi hoạt động. Tôi nghĩ đến cái áo dài màu đen thích hợp với những sinh hoạt ruộng đồng cũng như không khí trang nghiêm của cái xã hội nông nghiệp phong kiến thuở xưa. Cái áo dài đó thật là giản tiện một cách bi đát, che dấu một các tài tình kể từ miếng thịt giữa làng cho đến cái áo lót rách nát và chịu đựng khá oanh liệt bốn mùa mưa nắng phôi pha. Cái áo dài ấy, bây giờ không có mấy người Việt Nam dùng đến vì không còn phù hợp nữa, nhưng nó có một vai trò lịch sử trong cách ăn ở, đối đãi, của một giai đoạn xã hội lâu dài.

    Trong cách ăn mặc của người Việt Nam chúng ta đều nhìn thấy vẻ thiết thực khá đặc biệt ấy. Người Việt, xét trên đa số, không có thói quen làm dáng bằng màu sặc sỡ như các thổ dân bộ lạc và cũng không cần khoác lấy áo quần kiểu các nặng nề của những lớp người tự nhận văn minh. Nói về ăn mặc, người Việt là một dân tộc ít ưa mau sắc, ngoại trừ một số trường hợp đối với trẻ con. Hầu như họ cảm thấy rõ được cái nhu cầu ăn mặc sao cho thích ứng với những điều kiện sinh hoạt khó khăn và cũng nhìn thấy được cái tính trang nghiêm, mực thước của giá trị mình trong cách ăn mặc. Nói một cách khác, ngay trong quần áo, người Việt cũng mang khá rõ lịch sử chiến đấu gian nan, oanh liệt của dân tộc mình.

    Mãi về sau này họ có đua đòi Tây Phương trong đôi kiểu cách trang phục cũng như làm duyên, làm dáng nhưng đua đòi ấy cũng trên căn bản thiết thực mà thôi. Chỉ có thiểu số rất nhỏ, và là lớp trẻ ở chốn thị thành là còn ưa những quần áo dễ dãi, hoặc nhiều sắc màu và lớp trẻ này vẫn bị người lớn nhìn bằng cặp mắt lo ngại mất gốc. Bởi thế, ít khi thấy một người Việt, nhất là đàn bà, mặc một chiếc quần nhiều màu hay có màu sắc thắm tươi ngoài đường. Nhưng cô thiếu nữ ở tuổi trưởng thành trở lên, nếu họ mặc cả quần áo một màu – trừ màu đen và màu trắng – mà đi ra đường, đều bị nhìn ngắm bởi những cặp mắt không lấy gì làm hoan hỉ. Bởi vì người Việt xem đó là cái dấu hiệu kém sút nhân phẩm. Người Việt tôn trọng truyền thống ăn mặc nghiêm chỉnh của mình và họ không thể tự nhiên như là các dân tộc khác trong cách ăn mặc. Người ta thường nói Việt Nam chịuc ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nhưng ảnh hưởng ấy nhất định không có ở nơi chiếc quần đàn bà. Bởi vì nếu người đàn bà Việt Nam mặc chiếc quần đỏ hay quần xanh như người đàn bà Trung Hoa vẫn mặc một cách tự nhiên để đi lại ở ngoài đường, lập tức họ bị đánh giá một cách khác hẳn. Nhất định sự đánh giá ấy không làm vẻ vang, hãnh diện chút nào.

    Sự nghiêm chỉnh ấy của người Việt Nam còn được thể hiện trong nhiều điểm khác nơi áo quần. Thật là đáng nên suy nghĩ khi người dân ở xứ nóng như họ mà không hề có kiểu áo hở cổ của người đàn bà xứ lạnh Tây Phương, hoặc không có lối áo ngắn, áo dài lộ cánh tay trền và bắp chân hở như người Trung Hoa, là dân miền lạnh. Nếu suy từ áo quần ấy rộng ra đến những thể cách sinh hoạt khác nữa, người ta còn nhìn thấy được tinh thần thiết thực (và cả ý thức luân lý của họ) biểu lộ trên nhiều phương diện khác nhau.

    Một đôi nhà khảo cứu người Việt cũng đã chứng minh rằng các câu thơ nhịp chẵn của họ không hề giống những nhịp lẻ lửng lơ của người Trung Quốc, và các mái Chùa Đình, Lăng Miếu của họ dầu có mượn kiểu Trung Hoa vẫn không có nét cong vắt lửng lơ như người Tàu. Nói thế, để xác nhận rằng bản tính người Việt không thích mơ mộng, phiêu lưu, và họ vẫn biết nơi nào là điểm cần thiết để mà bảo toàn lấy mình và dân tộc mình. Cái trực giác ấy, cái lương tri ấy là một phản xạ tinh diệu ở nơi người họ, phát sinh từ một năng khiếu thích ứng với các điều kiện thực tế khó khăn để duy trì sự trường tồn. Có lần nghe câu tục ngữ: “Không ăn cái, dại húp nước” tôi đã có ý ngờ vực, cho rằng đây là câu nói của kẻ tham ăn muốn lừa gạt những người khác. Bởi vì tôi quan niệm những gì béo bổ đã biến thành “nước”, phần “cái” đâu còn béo bổ gì nữa? Tôi cảm nghĩ với tư cách của người Tây Phương quen ăn món “xúp” nên không hiểu được người Việt. Mãi về sau này nghiên cứu tục ngữ của họ, tôi gặp được câu: “Ăn lấy đặc, mặc lấy bền” và chợt hiểu rõ một cái ý niệm thiết thực trong cách ăn uống thường ngày của họ.

    Người Việt - ở đây nói người bình dân đông đảo làm nền tảng cho giống nòi – thích những cái gì vững chắc, có thể chịu đựng lâu dài để sống, và họ vẫn muốn no bụng, chặt bụng hơn là ăn đồ lỏng lẻo, nhẹ nhàng dầu nó béo bổ, ngọt ngào. Tiếng CÁI mà họ chỉ định chất đặc hay là cái xác của các đồ ăn, là một tiếng dùng rất có ý nghĩa, nếu ta biết rằng ở trong nguồn gốc ngôn ngữ tiếng ấy có nghĩa là “mẹ”, là những cái gì chính đáng, quan trọng. Người Việt vẫn nói “con dại Cái mang”, vẫn gọi con đường lớn nhất là con đường Cái, dòng sông to nhất là con sông Cái. Khi nói “khôn ăn Cái” rõ ràng là họ muốn dành cho món ăn đó một sự đề cao trọng thể hẳn hoi.

    Tất nhiên óc thiết thực ấy có đủ hai mặt của nó: Người Việt vẫn không bám vào những công trình nào chỉ có bề ngoài vững chắc hoặc không phù hợp các điều kiện sống. Người ta sẽ không ngạc nhiên trước những công trình kiến trúc thô sơ của người Việt Nam. Đình Chùa của họ không có gì là thật sự quy mô, thật sự vững chãi, bởi vì họ vẫn thấy sự thờ phụng trong lòng là chính, và không dại gì đem chất đá gạch mong manh để chọi với sức tàn phá vô tận của dòng thời gian. Họ dành sinh lực, vật lực của mình cho những nhu cầu thiết thực, cấp bách. Nói thế, cũng không phải ta không nhìn thấy được tài năng kiến trúc của giống nòi Việt. Lịch sử của họ vẫn nhắc lại thành Cổ Loa như một kỳ công xây dựng ở một vùng đất luôn luôn xao động vì những địa chấn, và thành Thăng Long, và Chùa Một Cột của họ đều là di tích của một tài năng độc sáng về các công trình kiến trúc. Tòa Cửu Trùng Đài của đời Hậu Lê quy mô, vĩ đại, bị dân phá hủy tan tành, nói lên khả năng xây cất của họ, vừa chứng tỏ được tinh thần thiết thực, thiên về nội dung hơn là hình thức của họ.

    Dân tộc Việt Nam có cái khả năng chế hóa đặc biệt cũng như có một tính cách uyển chuyển khác thường, nên cái tài nghề kiến trúc của họ mới thật tinh diệu, nếu có điều kiện phát triển. Người ta có thể kết luận là người Việt Nam không hề có óc viển vông và đó là thế quân bình làm nên sức mạnh của giống nòi họ. Nếu người ta hiểu rằng dân ChiêmThành sống trên mảnh đất nghèo nàn hơn nhiều,lại có những ngôi tháp cổ công phu ngày nay vẫn còn cố đứng rầu rĩ trên các sườn đồi miền Trung, thì ta hiểu được vì sao người Việt lại là những kẻ chiến thắng. Tôi đã có dịp quan sát nhà cửa người Việt và tôi thấy rằng những nơi trú ngụ của họ đầu rất phù hợp với các điều kiện thực tế, ngoại trừ những ngôi nhà tranh ở một đôi miền trong vùng Bình Định có một kiến trúc quy mô, vững chãi, ảnh hưởng sót lại của dân tộc Chàm. Chính sự vững chãi phi lý làm cho sinh lực mong manh, nên ta có thể nói rằng người Chàm đã bị suy vong vì óc xa rời thực tế của mình.

    Ở một đoạn trên, chúng tôi có nói đến cái tinh thần thiết thực của người Việt Nam biểu lộ qua cái ngôn nhữ thi ca nhịp chẵn của họ, như thơ bốn tiếng, thơ lục bát và cả điệu thơ sau này gọi là thơ mới cũng lại tám tiếng. Cái nhịp chẵn ấy bao giờ cũng có đôi cặp, cũng được vuông tròn, không có chia rẽ lẻ loi, nói lên một cái tâm trạng không ưa phiêu lưu và cái bản chất chung thủy, đôn hậu vốn có trong tâm hồn họ. Nhưng cái đặc biệt không chỉ dừng lại ở nơi nhịp chẵn cố hữu mà còn biểu lộ ở một điểm nữa thật là đặc biệt: đó là lối vần gieo ở lưng câu, trong điệu lục bát, một thể thơ rất tiêu biểu cho người Việt Nam. (Cũng có một đôi người Việt cho rằng thơ lục bát này vốn có ở các dân tộc lân cận như Chàm, như Thái, nhưng họ vẫn không chứng minh được rõ ràng về mối tương quan, ảnh hưởng của các nước ấy đối với Việt Nam, và hầu như họ không nhìn thấy cái giá trị tiêu biểu của thể thơ ấy cùng với tính cách quen thuộc của nó ở trong đời sống hàng ngày của dân tộc họ. Vì vậy, điều mà ai cũng có thể nhận thấy là thể lục bát, dù có tìm thấy ở vài dân tộc láng giềng của dân tộc Việt, vẫn là điệu thơ thuần túy Việt Nam, tiêu biểu Việt Nam). Trong điệu lục bát chúng ta có thể tìm thấy tinh thần thiết thực Việt Nam ở chỗ YÊU VẬN: tiếng cuối câu Lục, vần với tiếng sáu câu Bát, nói lên một sự bám víu thật là chắc chắn. Hầu như người Việt cần phải nghỉ ngơi cho thật vững tâm rồi mới dám bước tới thêm. Trên con đường dài gồm tám chữ ấy, người Việt đã có một trạm nghỉ ngơi, để mà đổi ngựa, kiếm nước, chuẩn bị lại hành trang để tiếp tục lên đường. Và có lẽ cũng nhờ vậy thể thơ lục bát có thể kéo dài vô tận như trong quyển Kiều là một tác phẩm bất hủ của dân tộc họ, và cũng như người Việt Nam có thể đi mãi không ngừng, vươn tới không thôi, như dân tộc họ trải qua lịch sử tiến về phương Nam suốt mấy ngàn năm.

    Chính tinh thần thiết thực ấy còn thể hiện trong kiểu nhà vừa thấp lại vừa nhiều cột thường gặp trong kiến trúc xưa. Hai mái to lớn như sà xuống mặt đất liền với những cột chống là những ngón tay chắc chắn bám vào một cách quyết liệt. Sau này những kiểu nhà ngói xưa ấy đã được thay thế bằng những kiến trúc Tây phương cao vút, thoáng khí hơn nhiều, nhưng người Việt Nam vẫn cảm thấy những liên lạc ấm cúng trong ngôi nhà cổ của mình. Trong cái bóng mát tỏa xuống khá dày với những hàng cột vững chắc, người Việt còn tìm gặp lại tấm lòng thành kính đối với những gì xa xưavà dễ bắt gặp một vài cánh dơi kỷ niệm chập chờn bay trên đầu mình, đưa họ trở về quá khứ lịch sử.

    (còn tiếp)

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •