Kết quả 1 đến 10 của 10
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3

    Ai giết anh em Ngô Đình Diệm

    Quốc Đại

    Ngô Đình Diệm



    Chương 1

    ĐỊNH MỆNH ĐÃ AN BÀI



    Sáng sớm ngày 2-11-1963, sau một đêm dài không ngủ, trong lúc tiếng súng vẫn còn nổ lẻ tẻ đâu đây với nhiều đám khói tại trung tâm Sài Gòn, từ các máy thu thanh phát ra lời loan báo của phe đảo chính, đã hạ được dinh Gia Long thủ phủ cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng anh em ông Diệm đã trốn thoát. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Đài phát thanh Sài Gòn loan một tin vắn tắt: "Anh em ông Diệm bị bắt tại Chợ Lớn, và đã tự tử"? Dư luận bàn tán xôn xao, phần đông nghi ngờ: Không tin anh em ông Diệm đã chết và nhất là không tin anh em ông Diệm tự sát. Vì ai cũng biết: Tổng thống Diệm là một trong những người ngoan đạo, mà Thiên Chúa cấm tự sát. Trong khi ấy phe đảo chínhkhông cho biết thêm tin tức nào về cái chết của Diệm, Nhu. Và báo chí không dám nói rằng anh em ông Diệm bị giết. Ngày 6-11- 1963, nhật báo New York Time in hình xác Tổng thống Diệm bị còng tay với lời chú thích "suicide with no hand" (tự sát không có tay) Có ý mỉa mai lời thông báo của phe đảo chính rằng anh em ông Diệm đã tự sát. Về sau, người ta đã có thể công khai nói rằng anh em cố Tổng thống bị giết. Nhưng ai giết? Và ai ra lệnh giết? Đó là một nghi vấn cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn phơi bày ra trước ánh sáng. Người viết không dám làm công việc của một sử gia, mà chỉ muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc soi sáng cho một giai đoạn gay go của lịch sử, một giai đoạn đầy những biến chuyển và bí mật.

    GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG
    Trước khi nhận định toàn bộ về con người Ngô Đình Diệm và chế độ của ông ta chúng tôi xin ghi lại những giây phút cuối cùng của cuộc đời một Tổng thống "Việt Nam Cộng hoà". Nhân dịp tiếp các phái đoàn quân chính trong ngày 26-10-1963, Tổng thống Diệm, bằng một giọng ai oán, thoáng buồn ông nói: " Chế độ này tuy còn nhiều khuyết điểm, cũng còn hơn nhiều chế độ khác… Người ta chê là độc tài nhưng chỉ ngại còn những thứ độc tài khủng khiếp hơn. Tôi tiến thì theo tôi, tôi lui thì bắn tôi, tôi chết thì trả thù cho tôi". Trong thời gian này tinh thần của Tổng thống Diệm đang trải qua cơn dao động cực độ. Những nhân vật gần ông đều nhận thấy ông trở nên nóng nảy bất thường, hay thở dài, nét mặt đăm chiêu thoáng buồn. Có lẽ Tổng thống Diệm đã linh cảm được tai hoạ sắp đến với ông ta, gia đình và chế độ. Ông Ngô Đình Nhu lại càng biểu hiện một cách mau chóng. Ông Nhu già hẳn đi, nét mặt chảy dài. Bức hình của ông Nhu đăng trên tuần báo Express số 909 - (15-12-1968) chính là mấy bức hình chụp vào những ngày cuồi cùng trong đời ông. Khuôn mặt ông Nhu càng in một vẻ căm giận cùng với vẻ đẹp của đường nét điêu khắc.Tuy nhiên ông Nhu vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh và sẵn sàng đối phó… Sáng sớm ngày 30-10-1963 ông Diệm lững thững đi xuống vườn hoa trước cửa dinh Gia Long, ngắm mấy chậu non bộ nhỏ mới đắp xong và đặt dưới gốc cây. Ông bận bộ đồ xám nhạt, đội mũ len chống chiếc ba toong như khi đi thăm địa điểm dinh điền. Ông ngắm vài phút ngó lên bức ảnh lớn của ông treo cao đằng sau bàn giấy của ông Đổng Lý Bộ phủ Tổng thống rồi mỉm cười lên lầu.

    TIẾP KHÁCH LẦN CUỐI
    Ngày 31-10, hầm trú ẩn xây trong dinh Gia Long đã hoàn tất, để có thể chịu đựng được loại bom 500 kilôgam. Cũng vào ngày đó, ông Ngô Đình Nhu tiếp kiến các đại diện Uỷ ban Liên hiệp Bảo vệ Phật giáo. Cùng ngày phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ Phật giáo miền Nam đáp máy bay ra Huế để tiếp tục cuộc điều tra. Đại sứ Cabot Lodge đã nhận được đầy đủ tin tức về kết quả và thái độ của Phái đoàn này tại Sài Gòn và thấy rằng sẽ bất lợi cho những toan tính âm mưu của ông. Vụ đàn áp Phật giáo phải được duy trì để lấy cớ lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm như ông Lodge mong muốn. Sáng 1 nhằm vào ngày lễ các Thánh, côngsở đều được nghỉ, Tổng thống Diệm đã tiếp người bạn "đồng minh" Hoa Kỳ cuối cùng trong đời ông. Đó là Đô đốc Harry D.Felt, Tổng Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình dương. Đô đốc Harry D.Felt chắc hẳn biết rõ những gì xảy tới, trong mấy giờ nữa sẽ kết thúc chế độ của Tổng thống Diệm mà ông ta theo lễ nghi vẫn xưng tụng như một nhà lãnh đạo anh minh của miền Nam. Hồi 13 giờ 30 súng bắt đầu nổ từ nhiều nơi trong đô thành… Ai gây nên tiếng súng đó? Bắt đầu từ một thế lực nào? Tướng lãnh? Quần chúng? Mỹ? Thực ra, những âm mưu lật đổ Tổng thống Diệm đã sắp đặt từ tháng 5-1963, rồi được âm thầm tiến hành… Buổi tối ngày 28-10, do sự sắp xếp từ trước Trung tướng Trần Văn Đôn đã tiếp xúc bí mật với giới chức Mỹ tại nhà một nha sĩ([i]). Tướng Đôn luôn luôn nhắc nhở người Mỹ giữ bí mật hoàn toàn và không thảo luận vấn đề này với bất cứ một ai, ông ta đã cố gắng thuyết phục Đại sứ Cabot Lodge chấp nhận chương trình hành động của nhóm ông và làm như thế nào để Hoa Kỳ đồng ý cho bật đèn xanh càng sớm càng tốt.

    Lúc đầu nhóm đảo chính dự định khai hoả vào ngày 31-10 (theo sự Trước nữa, nhóm đảo chính cùng với sự đạo diễn của mấy chuyên gia CIA đã dự định đảo chính nhân ngày kỷ niệm 26-10. Nhưng đêm 25-10 ông Nhu đã nhận được báo cáo đầy đủ: Nhóm đảo chính với các tướng Đôn, Minh ra tay hành động trong cuộc duyệt binh tại đường Thống Nhất vào sáng 25-10. Dịp này sẽ bắt sống Tổng thống Diệm và ông Nhu sau đó sẽ thanh toán dinh GiaLong và thành Cộng hoà. Vào phút chót, ông Sinh Trưởng phòng CIA toà Đại sứ Mỹ (người thay thế Đại tá Rieharson) đã thông báo kịp thời cho Lu Conein biết là chưa thể bật đèn xanh bởi có kẻ trong toà Đại sứ Mỹ tiết lộ cho ông Nhu. Hiển nhiên là Cabot Lodge đã đóng vai trò một nhà "lãnh đạo" đứng bật đèn cho cuộc đảo chính 1-11-1963. Cabot Lodge được coi như tiếng nói có thẩm quyền của phe "Tự do" Harriman. Những nguyên nhân nào khiến cho Mỹ phải gấp rút tìm mọi cách lật đổ chế độ Tổng thống Diêm? Hẳn nhiên, về phía Mỹ không phải là nguyên nhân Phật giáo. Đơn giản vì quyền lợi nước Mỹ trước hết. Cái gai chính yếu của Đại sứ Cabot Lodge cũng như Smith Conein và nhóm đảo chính là tướng Tôn Thất Đính. Làm sao nhổ được cái gai này? Tuy nhiên, cho đến ngày 28-11 tướng Đôn có thể đã tạm yên tâm về mặt tướng Đính. Điều mà phe đảo chính lo ngại nhất là lực lượng đặc biệt của Đại tá Lê Quang Tung. Lực lượng này vẫn được coi như thành phần nòng cốt của chế độ Ngô Đình Diệm. Ngày 29-12, tướng Tôn Thất Đính với tư cách Tư lệnh Quân đoàn III (và từng là Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định) ra lệnh cho các đơn vị thuộc lực lượng đặc biệt di chuyển ra khỏi Sài Gòn. Đó cũng là một phần kế hoạch nhằm vô hiệu hoá những lực lượng trung thành với chế độ. Hơn nữa, tướng Đính đang được lòng tin cậy của ông Nhu. Theo dư luận đồn đại sau ngày đảo chính, ngày 1-11-1963 thì chính ông Nhu đã giao phó cho tướng Đính thực hiện một cuộc đảo chính giả với danh hiệu Bravo I và II nhằm phá vỡ kế hoạch đảo chính thực của nhóm tướng lĩnh đang liên kết với Cabot Lodge. Nếu thực sự cuộc đảo chính sẽ xảy ra, ông Nhu chấp nhận một cách không nghi ngờ việc tướng Đính "móc nối" với nhóm Đôn, Minh. Chính ông Nhu đã từng nói với tướng Huỳnh văn Cao: "Khánh với Đính là chỗ người trong nhà cả. Không lo”. Ông Nhu tuy cao tay lắm nhưng đâu có thể học được chữ ngờ qua trường hợp của tướng Đính!


    Tương kế tựu kế, tướng Đính nắm cơ hội này để quật ngược lại thế cờ Không có sự tham gia của tướng Đính, cuộc đảo chính 1-11-1963 không thể thành công. Cái lối của ông Nhu là cái lối của một nhà chiến thuật và chiến lược, nhìn và tiên liệu quá xa phạm vi hạn hẹp của chiến thuật, giai đoạn. Hơn nữa, vì lòng tin cậy, ông Nhu đã chọn nhầm một người mà chính trước đây ông Nhu cho là "khó xài" Nhưng vẫn sử dụng vì cho rằng mình cao tay ấn. Mặt khác, trước đó Đại tá Đỗ Mậu quyền Giám đốc Nha An ninh quân đội, một môn đệ tin cậy của Ngô Đình Diệm đã phúc trình cho hai ông Nhu, Diệm biết VC([ii]) đang tập trung tại vùng ven đô và âm mưu đánh phá Sài Gòn. Dĩ nhiên đây chỉ là bản phúc trình giả với mục đích làm lạc hướng theo dõi của chính quyền và đồng thời có cớ để phân tán một số đơn vị trung thành của Diệm ra khỏi Sài Gòn. Như vậy phe đảo chính sẽ giảm thiểu được sức chống đối của phe Chính phủ([iii]). Hồi 12 giờ 30 ngày 1-11, tướng Trần Văn Đôn cùng một số tướng tá nòng cốt triệu tập Hội nghị trong Bộ Tổng Tham mưu với sự tham gia của hầu hết các tướng lãnh và một số Tư lệnh quân binh chủng. Tướng Tôn Thất Đính không có mặt trong Hội nghị này, lúc đó ông ta đang phải túc trực tại tổng hành dinh Quân đoàn III. Người thì cho rằng đến giờ phút quyết liệt, phe đảo chính vẫn chưa tin hẳn tưởng Đính. Và có lẽ đó cũng là lý do tướng Đính không có mặt trong Hội nghị quan trọng đó.

    THIỆN CHÍ NHÀ GIÀU
    Theo tiết lộ của Georges Chaffard qua bài báo tựa đề La paix manquée en 1963([iv]), để lôi kéo tướng Đính vào phe đảo chính, Mỹ đã trao cho tướng Đính một số tiền ứng trước là 1 triệu Dollars do kết quả sự thương lượng giữa tướng Đôn và Đại sứ Cabot Lodge ngày 24-10. Số tiền ứng trước này được coi là thiện chí cụ thể của Mỹ giúp phe đảo chính có chút phương tiện để thực hiện kế hoạch([v]). Tưởng cũng nên nhắc lại, khoảng cuối tháng 10, dư luận trong chính giới và ngoại giao đoàn đã đồn đại về những hoạt động của nhóm mật vụ Pháp thuộc Sở "Hành Động" (Action) do tướng De Gaulle gởi qua Sài Gòn vì nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho hai anh em ông Diệm.
    Sáng 1-2, Đại sứ Cabot Lodge hướng dẫn Đô đốc Felt đến dinh Gia Long thăm xã giao Tổng thống Diệm. Nhân dịp này Tổng thống Diệm đã Cabot Lodge biết. là đang có dư luận về một cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống. Ông Diệm nói như thế là có ý bảo cho ông Cabot Lodge biết, ông ta luôn luôn theo dõi đường đi nước bước của Mỹ trong âm mưu lật đổ chế độ hiện hữu. Đại sứ Cabot Lodge vẫn một nụ cười vồn vã hứa chắc với ông Diệm, nếu có sự chẳng hay xảy ra như dư luận đồn đại, người Mỹ sẽ đảm bảo cho cá nhân Tổng thống.

    Cũng vào khoảng thời gian đó, Đại tá Lu Conein đã đến gặp tướng Đôn và túc trực bên phe đảo chính trong suốt ngày 1 và ngày 2 tại Bộ Tổng Tham mưu. Ông ta là trung gian giữa toà Đại sứ Mỹ và phe đảo chánh. Hay đúng hơn, ông ta thủ vai trò của kẻ điều động và thực hiện kế hoạch đã được thảo luận và quyết định chung giữa toà Đại sứ Mỹ và phe đảo chính([vi])? Khi ở dinh Gia Long trở về, Đại sứ Lodge đã nhận được đầy đủ tin tức từ Bộ Tổng Tham mưu báo cáo cho biết kế hoạch tiến hành. Rồi một ngày trôi qua như mọi người đều biết, cuộc đảo chính hoàn toàn thành công với sự xuất hiện của các tướng lãnh mang danh xưng là những con người cách mạng và ở trong tổ chức mới, lúc đầu mệnh danh "Hội đồng các tướng lãnh" sau đổi thành "Hội đồng Quân nhân Cách mạng". Nhằm vào đúng ngày lễ các đấng linh hồn, một trong những ngày lễ quan trọng nhất của tín đồ Thiên chúa giáo, hai anh em Tổng thống Diệm cùng bị thảm sát sau khi đã dâng trọn những lời cầu nguyện cuối cùng tại nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn, với sự chứng kiến của Linh mục Jean - Một Linh mục thuộc Hội Thừa sai Pa-ri (MEP). Chi tiết về cái chết của Tổng thống Diệm đến nay tuy không còn là điều bí mật song đã có quá nhiều những chi tiết mâu thuẫn nhau. Trong những giờ phút cuối cùng, Ngô Đình Diệm đã tỏ ra hoàn toàn mệt mỏi và không còn tin tưởng bao nhiêu khi phe đảo chính báo cho anh em ông biết là đã bắt Đại tá Tung và ông này cùng lực lượng của ông đã đầu hàng phe "Cách mạng"([vii]). Tổng thống Diệm bây giờ chỉ còn đặt tin tưởng vào Quân đoàn 3 của tướng Huỳnh văn Cao và nhất là Quân đoàn 2 của tướng Khánh mà ông Nhu hoàn toàn tin cậy. Song tướng Cao đã không làm được gì khác hơn. Sư đoàn 7 nằm trong tay Đại tá Nguyễn Hữu Có phụ tá Tư lệnh Quân đoàn. Anh em ông Diệm chỉ còn lại lực lượng phòng vệ trong dinh. Tất nhiên lực lượng này không còn phương thế hoạt động nào khác hơn là đành thúc thủ trong bốn bức tường thành Cộng hoà và dinh Gia Long. Trước một tình thế bi đát như vậy, ôngNhu quyết định ra đi - Tổng thống Diệm mặc nhiên chiều theo quyết định của em " Đi mô… đi thì đi… " Đó là lời nói gió cuốn mây trôi của Tổng thống Diệm. 8 giờ 30 Tổng thống Diệm, ông Nhu, Đại uý Đỗ Thọ và Đại uý Bằng rời khỏi dinh Gia Long trên bước đường của định mệnh. Khi tiếp thu dinh Gia Long, Trung tá Phạm Ngọc Thảo không tìm thấy anh em ông Diệm nên đã cấp báo cho tướng Trần Thiện Khiêm rõ. TướngTrần Thiện Khiêm ra lệnh cho Trung tá Thảo phải tìm kiếm…
    Theo tiết lộ của những người trong cuộc, tướng Khiêm dặn Phạm Ngọc Thảo phải tìm mọi cách đón anh em ông Diệm, phải bảo vệ an ninh cho anh em ông ta, có được như vậy thì tướng Khiêm và phe của Trung tá Khải mới có thể thực hiện được kế hoạch lật ngược thế cờ. Khi được tin dinh Gia Long đã thất thủ thì lúc ấy chính là lúc trong Hội đồng Quân nhân cách mạng và nhóm tướng tá đảo chính cũng đã chia thành năm bảy phe qua những xu hướng chính trị và quyền lợi trái ngược nhau. Riêng Trung tá Phạm Ngọc Thảo từ trước ngày đảo chính đã có những liên lạc mật thiết với Đại tá Đỗ Mậu và tướng Khiêm. Ông Thảo là người được tướng Khiêm tin cậy và cả hai đều là những tướng tá được chế độ tin dùng. Riêng tướng Khiêm sau vụ đảo chính hụt, ông trở thành vị tướng lãnh thân cận của Tổng thống Diệm và được coi như người con "tin cẩn" trong gia đình Tổng thống.
    Trong đường lối và trong thâm tâm của phe Phạm Ngọc Thảo chỉ muốn thay đổi cơ cấu của chế độ mà thôi…Song tình thế đã biến chuyển khác hẳn và trái với ước mong của Phạm Ngọc Thảo từ buổi đầu. Ông Thảo hẳn đã biết rõ những xu hướng khác nhau trong Hội đồng Quân nhân cách mạng trong đó đã có một xu hướng chủ trương phải giết anh em ông Diệm để trừ hậu hoạ và đó cũng là chủ trương của một số nhân vật Mỹ mà ông Fisthel là đại diện. ông này vẫn chủ trương: Chế độ Ngô Đình Diệm phải được cải tổ toàn bộ nếu Tổng thống Diệm không chịu thì Tổng thống phải ra đi hoặc bị thủ tiêu. Xu hướng thanh toán Tổng thống Diệm quy tụ ử mấy tướng lãnh đã sẵn lòng bất mãn với Diệm từ lâu…Đó là các tướng Trần Tử Oai, Mai Hữu Xuân. Mặc dầu những người như Trung tướng Trần Văn Đôn từng được chế độ của Tổng thống Diệm đặc biệt ưu đãi, tin cẩn trong suốt 9 năm cũng muốn thay đổi Chính phủ Diệm. Tướng Đôn liên tiếp được giao phó những chức vụ quan trọng, từ Tư lệnh vùng I đến Tư lệnh lục quân, rồi quyền Tổng Tham mưu trưởng. Ba tướng Đôn, Kim, Oai được coi là thành phần nòng cốt của Hội đồng Quân nhân cách mạng. Người Mỹ tin cẩn vào tướng Đôn hơn cả. Sở dĩ tướng Dương Văn Minh được Mỹ giao phó vai trò chính vì đối với quân đội lúc ấy và trong hàng tướng lãnh thì uy tín của tướng Minh nổi bật hơn cả. Có thể nói năm tướng Minh, Đôn, Kim, Oai, Xuân đứng riêng một phe.

    Chưa có chứng cớ nào rõ rệt để nói rằng tướng Khiêm, Đại tá Mậu, Trung tá Thảo đứng về một phe khác không mấy thân thiết và tín cẩn đối với phe kia. Nhưng dù sao tướng Khiêm vẫn là người tỏ ra ôn hoà với chế độ Ngô Đình Diệm mà chính ông ta đã trưởng thành trong chế độ ấy. Còn Trung tá Phạm NgọcThảo - một tín đồ Thiên chúa giáo có đầu óc tiến bộ và quốc gia cực đoan, kể từ biến cố Phật giáo, ông quyết liệt chủ trương phải thay đổi thành phần và cơ cấu của chế độ. Trung tá Thảo là người thứ nhất đã can đảm trình bày với tướng Khiêm đang nắm quyền Tham mưu trưởng Liên quân, cái trục hên lạc thân thiết của Trung tá Thảo: Thảo, Mậu, Tuyến. Thảo là bạn tâm tình của bác sĩ Trần Kim Tuyến và chính Thảo cũng đã thẳng thắn tỏ bầy ước vọng và kế hoạch của ông cho bác sĩ Tuyến rõ. Kể từ đầu tháng 5-1963 theo sự lượng tính và tiên liệu của bác sĩ Tuyến nếu không kịp thời có một chương trình hành động để cứu nguy chế độ thì khó lòng ngăn ngừa được cuộc đảo chánh. Trung tá Thảo cũng lo âu như thế. Từ khi ông Tuyến ra đi thì Thảo không còn gì ràng buộc mật thiết với chế độ. Song Thảo vẫn tiếp tục móc nối với một số tướng tá vẫn được coi là người củachính quyền, nhằm thực hiện một cuộc đảo chính cốt sửa sai, hơn là san bằng đồng thời có thể ra tay trước phe tướng Minh và vô hiệu hoá mọi âm mưu trong kế hoạch của họ và lật ngược thế cờ để nắm phần chủ dộng. Thảo đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đảo chính 1-2-1963 và Thảo được đặt dưới quyền sử dụng trực tiếp của Khiêm. Dù chủ trương như thế nào, Thảo cũng đã là một trong những người thân tín của chế độ Diệm. Ông Thảo đã được Hội đồng Quân nhân cách mạng giao phó phần phát thanh. Đây mới là thứ vũ khí sắc bén nhất để xô đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Ví như không có phần phát thanh từ lúc đầu thì cục diện chưa chắc đã thay đổi mau lẹ. Khi phe Minh, Đôn, Kim nhận được tin Ngô Đình Diệm đang ử chợ Lớn đã cấp tốc ra lệnh cho Đại tá Dương Ngọc Lắm đem thiết quân vận M 113 vào đón bắt. Đại tá Lắm lúc ấy đang nắm quyền Tổng giám đốc Địa phương quân (một trong số tướng tá được chế độ đặc biệt ưu đãi, tin dùng).ông Lắm là người theo đảo chính vào phút chót. Tất nhiên là ông đã không được sự tin cậy của phe chủ chốt. Do đó, Mai Hữu Xuân được Minh chỉ định đi theo giám sát Lắm. Tóm lại, đã có hai toán quân vào Chợ Lớn tìm bắt anh em Tổng thống Diệm. Mỗi toán có thể nói thuộc về một phe, nhằm mục đích riêng. Nếu Trung tá Thảo biết rõ anh em ông Diệm đang ở nhà thờ Cha Tam thì cái chết đã không đến với hai anh em ông Diệm, ít nhất là đã cứu thoát đượcông Diệm. Song Thảo lại chỉ đến lục soát nhà Mã Tuyên trong lúc anh em Tổng thống Diệm đang dâng lễ ở nhà thờ Cha Tam. ông Thảo trở về tay không đồng thời cũng mang theo sự thất bại của nhóm ông.Và có phải chính ông Diệm báo tin cho Khiêm để nhận sự đầu hàng và cho biết đang ở nhà thờ Cha Tam không? Một nghi vấn cho rằng: Có lẽ viên sĩ quan tuỳ viên của ông vào phút chót đã phản phúc và báo cho phe đảo chính biết nơi hai anh em đang trú ẩn. Sự thực không phải Đại uý Đỗ Thọ đã phản phúc. Đại uý Đỗ Thọ được Tổng thống bảo đi gọi điện thoại về Bộ Tổng Tham mưu cho Khiêm nhưng Thọ lại gọi điện thoại trực tiếp cho Đỗ Mậu là chú ruột của mình.Vậy thì hai anh em ông Diệm có đầu hàng phe đảo chính không? Những diễn biến tại dinh Gia Long và tại nhà Mã Tuyên từ 12 giờ 30 ngày1-2-1963 đến 4 giờ đêm ngày 2-2 sẽ giúp cho sử gia sau này đi đến một kết luận rõ rệt hơn.Khi Đại tá Lắm đem quân đến nhà thờ Cha Tam thì lúc đó Hội đồng Quân nhân cách mạng vẫn chưa có quyết định dứt khoát về số phận chung của anh em ông Diệm. Một người trong cuộc cho biết: "Anh nào cũng run hết trước một quyết định dứt khoát quan hệ đến sự thành bại của cuộc đảo chánh. Hội đồng chia thành 3, 4 phe: Một phe nhất định phải thanh toán ngay anh em ông Diệm. Tuy nhiên phe này chỉ rỉ tai bàn kín với nhau thôi. Phe khác chủ trương để anh em ông Diệm lưu vong ra ngoại quốc. Phe thứ ba giữ thái độ dè dặt… Phe quyết định thanh toán Diệm lấy cớ rằng, nếu anh em ông Diệm còn sống thì cuộcđảo chính sẽ bất thành, vì tay chân của ông không sớm thì muộn cũng sẽ phản công. Vả lại, phe này thấy rằng ngay trong Hội đồng Quân nhân cách mạng cũng đã quá phần nửa từng là người thân tín của Diệm và Nhu. Điều lo ngại hơn nữa là họ vẫn chưa nắm được tướng Tôn Thất Đính mà binh quyền đang nằm gọn trong tay Đính cũng như một số tướng tá khác như Nguyễn Khánh Quân đoàn II, Huỳnh Văn Cao Quân đoàn IV, Cao VănViên Tư lệnh nhảy dù và Huỳnh Hữu Hiền Tư lệnh Không quân (Hai sĩ quan Viên và Hiền đã thẳng thắn từ chối tham gia phe đảo chính). Giả sử nếu đưa anh em ông Diệm về trình diện Hội đồng Quân nhân cách mạng thì biết đâu sự hiện diện của anh em ông lại không thể làm nản lòng và gây xúc động lương tâm của những người thân tín eũ của ông. Nếu chỉ nhằm đến mục đích hoàn thành cuộc đảo chính và tránh mọi hậu hoạ thì phe này khi ra tay hạ sát Tổng thống Diệm cũng không có gì khó hiểu.







    --------------------------------------------------------------------------------



    [i] Theo bản báo cáo mật của Cảnh sát đặc biệt thuộc thẩm quyền của ông Dương Văn Hiếu - Phó Tổng Giám đốc cảnh sát quốc gia.
    [ii] Thời đó chính quyền Sài Gòn gọi những chiến.sĩ cách mạng là Việt Cộng viết tắt là VC
    [iii] Chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập ở miền Nam Việt Nam
    [iv] Tuần báo Express số 909
    [v] Theo một tài liệu khác thì tướng Đôn đã nhận 3 triệu đồng VNCH để chia cho các đơn vị tham gia đảo chính và các tướng lãnh khác
    [vi] Theo sự tiết lộ của Lu Conein thì ông được mời đến với tư cách Cố vấn Mỹ tại Bộ Nội vụ tham dự phiên họp thường lệ của Bộ Tổng Tham mưu và sau khi đảo chính xảy ra thì tướng Đôn giữ khéo Lu Conein ở lại Bộ Tổng Tham mưu như một thứ con tin và một bảo đảm an ninh cho các tướng lãnh

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Chương 5

    TỪ CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ CÁI CHẾT CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH CẨN

    Cái chết của một Tổng thống như ông Ngô Đình Diệm, tất nhiên không phải là một sự vô lý đơn giản như người ta thường nghĩ. Nó đã được sửa soạn tinh vi, vì làm thế nào để giết một ông Tổng thống đã cầm quyền 9 năm không phải là chuyện "tuỳ hứng".
    NGƯỜI EM ÚT
    Quanh cái chết của Tổng thống Diệm đầy rẫy những sự vô lý nông nổi bi thảm. Sau khi ông chết đi, lại còn bao nhiêu sự vô lý khác. Chữ vô lý ở đây xin được hiểu theo sự suy đoán trong bản chất và tinh thần Việt Nam vốn trọng tình cảm, sự trung hậu và lễ nghĩa.
    Một trong những sự vô lý đó là cái chết của ông Ngô Đình Cẩn người em thứ 5 của Tổng thống Diệm. Cái chết này đã được công khai hợp pháp hoá vì ông Cẩn được ra toà xét xử. Nếu bị viên công tố gay gắt buộc tội thì cũng chả có cái gì vô lý. Khi đảo chính bùng nổ thì Tướng Đỗ Cao Trí đang là Tư lệnh Vùng I chiến thuật. Ông tướng này là người có thẩm quyền duy nhất tiếpthu toàn vẹn những gì có ở bên trong căn nhà tổ ấm của gia đình họ Ngô. Ông Cẩn tưởng đã thoát thân…dù tấm thân chỉ còn hai bàn tay trắng. Trong cuốn Việt Nam Crisis, hai tác giả Stephen Pan và Daniel Lyons đã viết như sau:
    “Ông Cẩn lúc đầu ty nạn tại nhà dòng Chúa Cúu Thế. Nhưng những người từng được ông giúp đỡ sợ rằng: Nếu chứa chấp ông, sẽ có thể bị các nhà lãnh đạo đảo chính nghiêm trị nên ông Cẩn phải qua toà Lãnh sự Mỹ tại Huế xin trú ẩn. Toà Lãnh sự này phải xin chỉ thị của toà Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Đại sứ Hennry Cabot Lodge trả lời rằng Lãnh sự Mỹ không được phép cho ông ta ty nạn nhưng lại, đồng thời ra lệnh đưa ngay ông Cẩn vào toà Đại sứ Mỹ. Nhưng khi ông Cẩn đến Sài Gòn toà Đại sứ Mỹ liền trao ông Cẩn cho Hội đồng quân nhân cách mạng xét xử. Theo nguồn tin có thẩm quyền mà hai tác giả được biết, toà Đại sứ Mỹ đã hội ý với Hội đồng quân nhân cách mạng và buộc Hội đồng phải cam kết 3 điều kỉện thì toà Đại sứ mới dẫn độ: 1) Phải được xét xử minh bạch và công khai. 2) Không được đối xử tàn nhẫn. 3) Không bị bắn hoặc giết".
    Stephen Pan và Daniel Lyons viết: "Trong tình cảnh lúc bấy giờ, nếu tin tưởng vào cuộc xét xử minh bạch, công khai thì thật là ngây thơ. Mặc dù trong thời gian đó, ông Cẩn đang bị yếu nặng với hai căn bệnh áp huyết cao và tiểu đường. Với cách đối xử rất tồi tệ lại thiêú thuốc men, chăm sóc trong tù thì ông Cẩn chắc chắn sẽ không sống thêm được bao lâu.
    Nhưng dù quá yếu đến nỗi không đứng nổi, ông ta vẫn bị cột vào cái trụ đứng và bị bắn".
    Stephen Pan và Daniel Lyons thắc mắc: Người ta còn nhớ hồi tháng 8-63 một nhà sư (…) đã lánh nạn trong toà đại sứ Mỹ và được Đại sứ Cabot Loadge bảo vệ an toàn trong 9 tuần lễ, nghĩa là cho đến ngày hai anh em ông Diệm bị giết. Hãy để cho lịch sử phán xét nhũng sự việc mâu thuẫn như trên".
    Nếu ông Cẩn bị đem ra xử bắn trước cuộc chỉnh lý của tướng Khánh, thì cũng có thể giải thích được. Nhưng ông Cẩn lại bị xử tử khi tướng Khánh lên cầm quyền và Cabot Lodge vẫn còn tiếp tục là Đại sứ ông Lodge thường được coi như quan thầy quyền uy của tướng Khánh. Mấy ngày sau cuộc chỉnh lý, người ta cho rằng rất có thể ông Cẩn được tha và cho xuất ngoại. Vì dù sao tướng Khánh cũng là một trong mấy người con tinh thần của ông Diệm và tướng Khánh đã trung thành với ông Diệm cho đến phút cuối cùng dinh Gia Long bị mất vào tay quân đảo chính. Chiều ngày 11 tướng Khánh từ Pleiku còn gọi điện cho tướng Cao ở Cần Thơ, hối thúc ông Cao đem quân về cứu Tổng thống Diệm. Tướng Khánh cho biết không thể đem quân về được vì Quân đoàn 2 quá xa…Tướng Cao tin cho tướng Khánh rõ là tướng Minh, Khiêm và các Đại tá Đỗ Mậu, Nguyễn đức Thắng hứa là bảo đảm tính mạng Tổng thống Diệm và ông Nhu. Tướng Khánh trả lời: "Không tin được tụi nó đâu chúng nó nói vậy mà làm khác". Tướng Khánh vẫn giữ lòng trung thành cho đến phút chót. Thế nhưng…quyền lợi cá nhân và địa vị đã thay đổi lòng người.
    Khi ông Cẩn bị đưa ra toà, người ta vẫn tin rằng có thể ông sẽ bị xử qua loa. Khi bị kết án tử hình người ta vẫn tin ông Cẩn sẽ được Quốc trưởng Dương Văn Minh chấp thuận đơn ân xá.
    Cuối cùng vào một buổi chiều ánh nắng còn chan hoà, tử tội Ngô Đình Cẩn được khiêng ra pháp trường trong vòng thành khám Chí Hoà. Tay bị trói chặt vào cây cột giữa pháp trường và bị bắn gục trước sự chứng kiến của những người trước kia ra vào dinh ông Cẩn thường khúm núm như gia nhân. Đại sứ Lodge là người đã buộc "Hội đồng Quân nhân cách mạng" phải cam kết không được xử bắn ông Cẩn, khi ông Cẩn nhận từng loạt đạn, Lodge vẫn còn là vị Đại sứ Mỹ đầy uy quyền tại miền Nam Việt Nam. Rồi có các giả thuyết được nêu ra:
    1. Ông Khánh làm như thế để chiều lòng những áp lực khác đang đè nặng lên ông.
    2. Ông Khánh chủ trương thanh toán ông Ngô Đình Cẩn vì áp lực của "những người" từng ra luồn vào cúi dưới trướng "Cố vấn chỉ đạo"…
    3. Ông Khánh chủ trương thanh toán ông Cẩn chỉ vì vụ "tài sản" của ông Cẩn mà ông Khánh đã được chia phần kể từ khi ông ra nhậm chức Tư lệnh Vùng chiến thuật I thay thế tướng Trí.
    SÉT ĐÁNH NGANG ĐẦU
    Sáng ngày 2-11 -1963 tại tư thất ông Cẩn chuông điện thoại reo vang. Âm vang của hồi chuông thật rền rĩ réo rắt trong buổi sáng tinh sương. Điện thoại gọi từ Đà Nẵng. Đại uý Minh nhấc máy lên. Từ phía đầu dây bên kia, vẫn giọng tướng Trí ngập ngừng, cắt quãng, rời rạc. Lời tướng Trí được ghi nhớ như sau: “Anh thông báo ngay cho Cậu biết, Sài Gòn vừa báo tin cho tôi hay là Tổng thống và ông Cố vấn chánh trị đã tự tử chết rồi. Tôi không hiểu ra sao nữa…". Đại uý Minh chân tay bủn rủn, có cảm tưởng như đang nghe điện thoại trong cơn mê của giấc ngủ say. Ông hỏi đi hỏi lại tướng Trí hai ba lần. Tướng Trí xác nhận: “Sài Gòn vừa báo cho tôi hay nhu vậy"..Lúc ấy Đại uý Minh mới tin đây là sự thực - một sự thực phũ phàng ngoài trí tưởng tượng của ông. Nhưng tưởng tượng quả là vô lý? Khi báo cho ông Cẩn hay hung tin này, ông Cẩn vẫn không tin và nói: "Làm gì có chuyện động trời như vậy". Nhưng Tổng thống Diệm và ông Nhu đã chết… dù ông Cẩn có không tin là thực thì sự thực vẫn tàn nhẫn xảy ra như thế.
    Ngay lúc đó, Đại uý Minh cho người đi báo hung tin cho cha Thuận. Sáng ngày 2- 11 màn tang đã bao phủ căn nhà tổ ấm của gia đình Tổng thống Diệm ở miền Phú Cam nơi hai anh em ông Diệm đã sinh ra và lớn lên. Lúc đó chung quanh ông Cẩn vẫn còn đầy đủ các cộng sự viên thân tín, trong đó có ông Đào Quang Hiển Giám đốc nha Công an Trung nguyên Trung phần.
    Rồi chiều mùng 2, buổi chiều nặng nề như những phiến đá đè nặng trên phận người mong manh. Khoảng 1 giờ 30, Đại uý Minh được lệnh của ông Cẩn gọi điện thoại cho tướng Trí và mời tướng Trí ra Huế để báo cáo cho ông Cẩn rõ nội vụ. Huế cho đến lúc ấy vẫn tương đối yên tĩnh.
    Khoảng 3 giờ, bỗng nhiên đoàn thiết giáp của thiếu tá Tuấn đến bao vây vùng Phú Cam và căn nhà ông Cẩn (Thiếu tá Tuấn sau thăng Trung tá và bị chết thảm trong biến cố Tết Mậu Thân tại trường Thiết giáp Gò Vấp Sài Gòn). Tình hình Huế bắt đầu ngột ngạt, dao động và như cây nước giữa biển nặng đang bắt đầu vỡ ra và dâng cao. Trong giờ phút cuối cùng này, một nhân chứng thuật lại: ông Cẩn đã mất tinh thần vì xúc động trước cái tin hai ông anh bị giết chết. Chung quanh ông vẫn còn đầy đủ cộng sự viên như Minh, Trọng, Độ…
    Khoảng 9 giờ đêm mùng 2, Huế bắt đầu chuyển động như cơn sóng trong trận cuồng phong. Trời tê buốt hoang vắng và đầy đe doạ, bất trắc thê lương. Dân Huế vây quanh radio nghe đài Sài Gòn, BBC và VOA… Hồi hộp, rung động, kích thích… Rồi một nhóm người tự động quy tụ lại như một hình thức Hội đồng Quân nhân cách mạng. Đứng đầu là Trung tá Mô, Thiếu tá Hiếu và ông Đào Quang Hiển. Ba viên chức này đến gặp Đại uý Minh đòi đưa họ vào gặp ông Cẩn. Lúc ấy đoàn thiết giáp của Thiếu tá Tuấn đang bao vây nhà ông Cẩn nhưng chỉ có tính cách giữ gìn an ninh trật tự và theo lời tướng Trí là "để bảo vệ sanh mạng của ông Cẩn và đề phòng một khi dân chúng làm hoảng"…quân đội có thể can thiệp kịp thời.
    Thể theo yêu cầu của Trung tá Mô cũng như Thiếu tá Hiếu…Đại uý Minh vào tìm gặp ông Cẩn trong khi đó 3 viên chức vẫn đứng chờ ở ngoài. Nhà lúc ấy vắng ngắt không còn ai, không khí đầy một nỗi bi thương đổ vỡ. Bé gái Kính cho Đại uý Minh hay là ông Cẩn đã trốn khỏi. Để đánh lạc hướng phe ông Mô, Đại uý Minh cho bọn ông Mô hay là ông Cẩn hiện đang bị mệt và đang nằm nghỉ, mai sẽ vào gặp sau. Thực ra lúc ấy ông Cẩn đã vào trú ẩn tại nhà dòng Chúa Cứu thế.
    TẨU VI THƯỢNG SÁCH
    Trong bước đường cùng thì trong 36 kế, "tẩu vi thượng sách" chước "chuồn" vẫn là hơn cả. Tuy nhiên ông Cẩn rời căn nhà tổ ấm cùng với cơn đau của loài chim bị bắn trúng cả hai cánh khi đang tung bay.
    Qua ngày thứ 3, Huế vẫn còn tương đối yên tĩnh, tuy trong dân chúng bắt đầu chuyển động, đang bắt đầu một trận cuồng phong cho sóng đổ lên cao. Từ Đà Nẵng, tướng Trí gọi điện thoại cho biết ông sẽ trở ra Huế với tư cách đại diện cho Hội đồng Quân nhân cách mạng.
    Lúc ấy, ông Cẩn bắt đầu lâm bệnh, khuôn mặt hốc hác, đôi mắt như lạc mất tinh thần. Ông xúc động một cách khó tả trước cái chết của hai ông anh.
    Bên cạnh ông trong những giờ phút đó vẫn còn một số cộng sự viên thân tín như cha Thuận (người cháu ruột của ông). Cho đến giờ phút đó vẫn không thấy ông Cẩn quan tâm gì đến tiền bạc tài sản. Khi Đại uý Minh vào thăm ông (tại một căn nhà trong nhà dòng Chúa Cứu thế) ông rớm nước mắt và nói: Thôi hết rồi Minh ơi. Và những người có mặt đều khóc theo ông.
    Ông Cẩn nằm trên giường nệm, vắt chân chữ ngũ, nước mắt giàn giụa trên gò má. Căn bệnh áp huyết của ông bắt đầu tái phát.
    Ông bảo Đại uý Minh gọi điện thoại cho tướng Trí, nhắn tướng Trí vào Huế ngay để ông có đôi điều dặn dò.
    Huế lúc ấy bắt đầu sôi động. Thiếu tá Hiếu, Trung tá Mô, ông Đào Quang Hiển và một số "bá quan văn võ “ đã đứng về phe đảo chính. Biến chuyển mau lẹ quá. Huế ngỡ ngàng, rồi Huế bùng lên trong cuộc nổi lửa.
    Chiều 3-11, tướng Trí từ ngoài Đà Nẵng vào Huế. Quân đội vẫn làm chủ tình hình Huế.
    Không có tiếng súng nổ, không đổ máu. Sự lặng lẽ trong cơn dao động hoang mang. Ảnh của Tổng thống Diệm vẫn còn được treo ở nhiều công sở. Người đầu tiên mà tướng Trí tìm gặp lại là Đại uý Minh. Đây là mẩu đối thoại giữa hai người:
    - Bây giờ Cậu ở đâu? Tướng Trí hỏi.
    - Cậu đang ở trong nhà dòng Chúa Cứu thế. Đại uý Minh đáp.
    - Anh em cứ an tâm, không có gì phải lo sợ. Mọi việc ở ngoài này đã có tôi.
    - Là sĩ quan của quân đội, tôi phải tuân theo lệnh của Thiếu tướng.
    - Anh cho tôi gặp ông Cậu. Tôi ra đây với tư cách đại diện Hội đồng Quân nhân cách mạng - Lời tướng Trí.
    Lúc ấy ông Cẩn vẫn nằm trên chiếc giường sắt, cơn đau đã bớt. Ông lấy trầu ra ăn. Ông Cẩn cho gọi một cộng sự viên thân cận và nói giọng thều thào "Chiếc bao bố ném ở dưới gậm giuờng (trong căn nhà Phú Cam) trong đó có 24 ki lô vàng. Chiếc valise gồm một số gia bảo và qúy vật v.v.. Mày lo liệu giữ gìn không thì tụi nó lấy hết. Số bạc mặt tao vẫn để trong tủ…". Ông Cẩn còn dặn dò thêm: "Mày trao cho Trí giữ hộ… Cứ trao cho Trí không sao đâu".
    Buổi chiều ngày 3 -11 tại nhà dòng Chúa Cứu thế, không khí thê lương ảm đạm như một ngày cuối đông miền hàn đới. Tình hình Huế lúc ấy đã náo động.
    Cha bề trên Nhã cúi đầu lần hạt đi đi lại lại trên hành lang, cha Nhã hỏi Đại uý Minh: “Anh đã đi tìm cha Thuận chưa"… Hai người nhìn nhau lặng lẽ, nỗi buồn thật mênh mông. Đại uý Minh lên phòng ông Cẩn…Lúc ấy ông Cẩn vẫn nằm vắt chân chữ ngũ, mắt ông đỏ ngầu vì khóc…Tướng Trí cũng vào phòng ông Cẩn cùng với Đại uý Minh. Đỗ Cao Trí vẫn niềm nở và trọng vọng ông Cẩn như xưa, ông giơ tay chào theo kiểu nhà binh. ông Cẩn ngước mắt nhìn tướng Trí không nói một lời nào. Đôi mắt ông nặng trĩu nỗi đau thương. Dường như lúc ấy ông Cẩn như muốn khóc. Mẩu đối thoại giữa tướng Trí và ông Cẩn được ghi lại như sau:
    - Hội đồng Quân nhân cách mạng uỷ con xin thưa lại với Cậu, Tổng thống và ông Cố vấn chết là do tai nạn ngoài ý muốn của các tướng lãnh.
    Tướng Trí không dấu nổi xúc động, ông yên lặng một lúc rồi nói tiếp:
    - Chuyện đã xảy ra như vậy bây giờ biết làm thế nào. Con được Hội đồng Quân nhân cách mạng uỷ cho đến đây để xin thưa với Cậu, Hội đồng Quân nhân cách mạng kính mời Cậu tham gia và xin mời Cậu đứng trong thành phần của Hội đồng.
    Ông Cẩn đưa mắt nhìn một vài người thân yêu. Mọi người yên lặng. Tướng Trí nói trong niềm xúc động:
    - Việc đã xảy ra như vậy thì thế nào, Hội đồng Quân nhân cách mạng cũng áp dụng một số biện pháp đối với cậu, như tịch biên tài sản…Con nghĩ Cậu nên tính xem thế nào… Cậu có thể đưa cho con giữ hộ.
    Chuyện trò với ông Cẩn một lát rồi tướng Trí ra xe cùng về với Đại uý Minh.
    Lúc ấy tại vùng Phú Cam vẫn yên tĩnh. Đoàn Thiết giáp của Thiếu tá Tuấn đang giữ phận sự canh phòng và kiểm soát chặt chẽ. Nhà ông Cẩn vắng lặng chỉ có con bé Kính, một vài gia nhân. Con bé Kính sau này cho biết, Vali và bao bố vàng được đưa lên xe Jeep, rồi đoàn tuỳ tùng rời khỏi tư thất ông Cẩn.
    ÔNG LÃNH SỰ
    Từ khi tướng Trí và Đại uý Minh đi khỏi, bên cạnh ông Cẩn không còn ai. Một vài người thân yêu ngơ ngẩn ở trước cửa nhà dòng có ý đợi. Đại úy Minh xem ông Minh có quyết định sang tị nạn ở toà Phó Lãnh sự Mỹ hay không. Buổi sáng ở nhà Đại uý Minh, ông Phó Lãnh sự Mỹ có đến tìm gặp và đề nghị:
    - Nếu Đại uý và gia đình cũng như viên chức nào thấy ở ngoài này không có an ninh và nguy hiểm cho tính mạng, tôi mời tất cả qua tị nạn tòa Lãnh sự.
    Đại úy Minh đáp: Xin cảm ơn ông Lãnh sự, có lẽ không cần thiết.
    Ngày 2-11-1963 chính là ngày sinh nhật của ông Cẩn…ông có ngờ đâu đó cũng chính là ngày ông phải để tang hai người anh trai…Sau khi ôngCẩn sang tị nạn tại nhà dòng Chúa Cứu thế thì ông Lãnh sự và Phó Lãnh sự có tìm gặp Đại uý Minh và đề nghị đưa ông Cẩn qua toà Lãnh sự tị nạn cho an ninh hơn và ông cam kết sẽ để ông Cẩn được hưởng quyền lợi tị nạn như toà Đại sứ Mỹ đã dành cho Thượng toạ Trí Quang trước đây.
    Nhưng ông Cẩn chỉ bằng lòng qua đó tị nạn với điều kiện ông phải được đem theo thân mẫu tức bà Ngô Đình Khả… Lãnh sự Mỹ không chấp nhận điều kiện này. Hơn nữa, các cộng sự viên thân tín tỏ ý dè dặt vì không hiểu lòng dạ của người Mỹ ra sao.
    Ngày 5/11 tướng Trí được lệnh của quân đảo chính đưa ông Cẩn về Sài Gòn cùng với bà cụ Khả. Lúc ấy bà cụ Khả vẫn chưa biết tin Tổng thống Diệm và ông Nhu bị thảm sát, vì trong nhà cố giữ kín tin này. Bà cụ Khả đã trên tuổi 90 và bán thân bất toại từ lâu…
    Khi về Sài Gòn thì mẹ con đôi ngả. Ông Cẩn vĩnh viễn xa mẹ từ buổi ấy. Ông bị giam trong một căn phòng "ghê rợn" nhất của khám Chí Hoà.
    Cái đau khổ lớn của tù nhân không phải vì thân thể bị câu thúc mà trước hết đau khổ vì cô đơn. Nỗi cô đơn như một phi tần trong chốn lãnh cung. Có ai trải qua cơn phong trần mới thông cảm được nỗi “giết nhau chẳng cái lưu cầu, giết nhau bằng cái u sầu độc chưa” Trên sáu tháng trời ông Cẩn đã chết mòn trong cái u sầu thê lương như vậy của một cấm phòng đầy oan trái và hồn ma. Chắc hẳn trong những đêm dài thao thức, ông Cẩn chỉ còn sống theo dĩ vãng huy hoàng, 9 năm trong đó bao nhiêu công hầu đã đến với ông, van lậy ông, một điều cậu, một điều con để mong ông ban phát bổng lộc.
    Điều đau khổ nhất đối với riêng ông Cẩn là những ngày tháng ông phải sống xa mẹ. Từ ấu thơ cho đến ngày lao lý, ông Cẩn không bao giờ phải sống xa mẹ. Trong gia đình Tổng thống thì chỉ có một mình ông Cẩn sống cạnh mẹ. Ông Diệm cho đến Đức cha Thục, ông Nhu, ông Luyện mỗi người mỗi ngả một năm mới về thăm mẹ đôi ba lần. Theo nhân chứng, ông Cẩn được thân mẫu thương yêu nhất mực về đức hiếu thảo. Kể từ ngày bà cụ Ngô Đình Khả bị bán thân bất toại, suốt ngày nằm trên ghế tựa, ông Cẩn luôn luôn có mặt bên cạnh không chịu xa mẹ lấy một đêm.
    Thế mà những ngày ấy ông phải sống xa mẹ. Và ngày 20-4-64, Toà án "cách mạng" tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn mà chánh thẩm là Đại tá Đặng Văn Quang (vợ chồng Đại tá Quang vốn là con đỡ đầu của thân mẫu Đức cha Nguyễn Văn Thuận chị ruột của ông Cẩn). Trước toà ông Cẩn nói: "Tôi quân sự không biết, hành chánh không biết, học tầm thường làm sao ra lệnh cho ai được?”. Bốn ngày sau khi tuyên án, ông Cẩn đệ đơn xin ân xá và 2 ngày sau nữa tướng Dương Văn Minh bác đơn xin ân xá với tư cách Quốc trưởng. Trong thời gian này, tướng Khánh đã "đau đầu”, rồi bối rối không biết làm thế nào để giải quyết mọi việc cho mọi bề êm đẹp. Bao nhiêu cuộc tiếp xúc, bao nhiêu cuộc trả giá, tấm thân của ông Cẩn trở thành món hàng để “bên này đưa ra điều kiện này bên kia đặt điều kiện khác". Chữ "nếu” làm cho ông Khánh bù đầu. Nếu không giết ông Cẩn chúng tôi sẽ có thái độ, hoặc không ân xá cho ông Cẩn chúng tôi sẽ hành động". Các cố vấn của tướng Khánh thì cho rằng "Trong vụ này Thủ tướng cứ coi như vô can. Việc xử thế nào là do Toà. Việc ân xá hay không là do tướng Minh.
    Nếu tướng Minh ân xá thì hợp ý với Thủ tướng và có thể xoa dịu được phe bên này, mà áp lực “búa rìu"của phe bên kia sẽ đổ hết vào đầu ông Minh và ngược lại…”. Cộng sự viên thân tín của tướng Khánh lúc ấy đều là những người cùng chống chế độ Ngô Đình Diệm và bị giam cầm như Phạm Thái, Tổng Trưởng thông tin hay thuộc Đảng Đại Việt như bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, Phó Thủ tướng hoặc thuộc "gà nhà" như luật sư Nghiêm Xuân Hồng, Bộ trưởng phủ Thủ tướng…
    Hôm xử bắn ông Cẩn tại khám Chí Hoà, buổi sáng ông Khánh uống một hơi hết ly rượu mạnh, mắt ông lại lồi hẳn ra.
    CHẾT VÌ CỦA
    Qua lời nguyền phục hận cho anh em Tổng thống Diệm mà tướng Khánh đã nhiều lần tỏ bày… ai cũng tưởng ông là một người một lòng một dạ sống chết với anh em ông Diệm. Nhưng với tướng Khánh thì "lời nói gió bay lên trời”, thảy đều không quan trọng.
    Sau khi đảo chính thành công, hầu hết các tướng tham dự đều được vinh thăng, nhưng trường hợp tướng Khánh lại bị chậm trễ. Trong quá khứ và thuở còn mang lon cấp tá, tướng Minh và Khánh quá biết rõ nhau. Đã từ lâu, không ai ưa ai. Ngày 5-2, tướng Khánh ở Pleiku bay về Sài Gòn một mặt trình diện tướng Minh. Mặt khác chạy lon. Vốn là người láu cá vặt, nên tướng Khánh chạy qua "cửa" Thủ tướng Thơ, và biết rằng ông Thơ hay bị xiêu lòng nếu chịu khó năn nỉ. Hơn nữa, ông Thơ vẫn có lòng tốt đối với bọn em út. Quả nhiên tướng Khánh đã thành công. Thủ tướng Thơ gọi điện thoại cho tướng Minh để "xin lon” cho tướng Khánh và ông Minh cũng đồng ý cho ông Khánh lên Trung tướng. Sáng hôm sau, tướng Khánh lại đến tư thất của Thủ tướng Thơ năn nỉ. Việc thăng Trung tướng, Thủ tướng Thơ đã dàn xếp xong.
    Tướng Khánh nóng lòng nên cho người lên phố mua cặp sao ngay. Tại tư thất, Thủ tướng Chính phủ vẫn còn mặc áo Pyjama, vốn là con người xuề xoà, không kiểu cách, Thủ tướng Thơ đã gắn lon Trung tướng cho Nguyễn Khánh trong lúc ông đang mặc đồ ngủ.
    Thực ra thì tướng Khánh cũng chẳng thương xót gì Tổng thống Diệm. Đối với ông ai cũng có thể là người "tri kỷ", ai cũng có thể là bạn đường…Người như tướng Khánh khó lòng giữ được sự trung nghĩa.
    Vì tướng Khánh không chỉ bắt cá hai tay mà ba bốn tay. Cùng một câu chuyện, gặp ông A, tướng Khánh nói thế này, gặp ông B tướng Khánh lại nói cách khác.
    Ngày 9-5-1964, ông Cẩn bị xử bắn tại khám Chí Hoà thì Phan Quang Đông bị xử bắn tại Huế. Ông Khánh bay ra Huế để lấy lòng dân chúng từ một trung tâm tranh đấu… nhưng ông lại bị dân chúng vây tại dinh tỉnh trưởng Thừa Thiên. Ông phải "trốn lủi" đi cửa sau rồi dùng trực thăng rời khỏi cố đô.
    Sau một ngày hành trình toát mồ hôi, lại bị dân chúng la ó đả đảo, hôm ấy ông Khánh tìm lại giấc ngủ bình an sau khi ông Cẩn đã ra người thiên cổ. Chết là hết, ông Khánh được bình an vì những tưởng ông Cẩn sẽ mang theo tất cả những bí mật về phần tài sản của ông. Sự đời đâu có đơn giản như vậy. Cái kim trong bọc để lâu ngày cũng lòi ra, huống chi tài sản của ông Cẩn không phải là ít từ của chìm của nổi. Nhiều người thân tín trong gia đình ông Cẩn cho rằng “Ông Cẩn chết vì tài sản đó”. Để gây quỹ cho đoàn thể Cần Lao, trong 9 năm ông Cẩn đã uỷ tên cho một số người đứng tên quản trị. Ông X đứng tên và quản trị một cơ sở kinh doanh này. Ông Y được trao phó đứng tên mua một thửa đất kia. Trong cái valise của ông Cẩn lại chất đầy những quý vật rồi lại có một trương mục tại ngân hàng do mấy người trong Đoàn thể đứng tên. Nếu ông Cẩn còn sống, các đương sự sẽ khó lòng chiếm đoạt nổi. Có thể tướng Khánh đã được chia một phần tài sản ấy về mặt của nổi để gọi là dùng vào quỹ mật.
    Tại nhà dòng Chúa Cứu thế ngày 3-2 khi được quân đảo chính mời tham gia, một vài người thân tín của ông Cẩn đã đề nghị: "Tình thế đã như vậy rồi nay Hội đồng mời Cậu tham gia thì Cậu cứ tham gia. Bao nhiêu tài sản, của cải của đoàn thể hiện do ai đứng tên, do ai cất giữ cậu khai hết rồi đem nạp cho Hội đồng để xung vào công quỹ Quốc-gia". Nếu ông Cẩn nghe lời nhân chứng B, công khai hoá tài sản và đem nạp cho Quốc gia thì ít nhất cũng không ai có thể nuốt được hết cho dù có "chấm mút" ít nhiều.
    Nói về tài sản của ông Cẩn, giới thân tín của ông đều ngao ngán: "Ông Cẩn không bao giờ tin nhũng cộng sự viên thân cận của ông mà ông vẫn cho rằng quá trẻ không hiểu gì về vấn đề kinh tài cho đoàn thể”.
    Dạo năm 1961 nhiều đảng viên Cần lao bị thương, đau yếu túng quẫn, Đại uý Minh có đề nghị: "Cậu trích một số tiền trong quỹ đoàn thể giúp đỡ những người đã ph ả i hy sinh hay thương tích vì quốc gia và đoàn thể”. Lúc ấy ông Cẩn nói: “Tiền đâu bây chừ…tao làm gì có tiền". Mấy cộng sự viên rất đỗi ngạc nhiên, không hiểu tiền bạc bấy lâu nay đi về đâu và ở những tay ai? Vào khoảng năm 1959, có người đề nghị ông Cẩn mua lại một số đất của hoàng tộc. Ông bảo Đại uý Minh và mấy người thân tín cùng ông đi coi xem đất cát ra sao. Một người lên tiếng cản ngăn: "Con nghĩ Cậu không nên làm như vậy. Mình vừa truất phế Bảo Đại xong bây giờ lại đứng ra mua lại đất đai của Hoàng tộc thì cho dù có trả tiền theo thời giá vẫn bị mang tiếng " ông Cẩn đáp: "Tao một thân một mình thì cần chi. Lo là lo cho bọn bay, đoàn thể mà không có vốn liếng thì làm sao hoạt động được? Tụi bay còn trẻ biết gì".
    Từ đó mấy cộng sự viên thân tín không ai đả động gì đến việc này dù họ cũng biết rõ ông Cẩn đã uỷ cho ai lo phần kinh tài. Theo người biết chuyện thì mẹ con bà Luyến và một số người khác đã làm hỏng ông Cẩn, nhất là vấn đề kinh doanh tiền bạc. Rồi khi tàn cuộc thì những “ai đó" phỗng tay trên. Trong suốt 9 năm cầm quyền đã có biết bao ông bà lớn tâng bốc bà Luyến lên mây xanh, một tiếng Dì, một tiếng Mợ. Một đằng Cậu Cẩn, một đằng Mợ Luyến. Do đó đã gây nên bao nhiêu dư luận xấu xa. Mà bà Luyến tuy anh em con dì với anh em ông Cẩn nhưng lại chỉ là thứ gia nhân lo việc nội trợ trong nhà.
    PHÚ HỘ ĐỒNG QUÊ
    Trong 9 năm ông Cẩn đã cho tiền thiên hạ rất nhiều. Bản thân ông vốn là cậu ấm con quan Thượng thư Lễ bộ nhưng ông lại là con người tiêu biểu cho trạng thái quê mùa. Thường ngày, ông dùng cơm với cá kho, dưa chua. Ngay nhà ông bao giờ cũng muối sẵn từng vại dưa, vại cà, có khi ông còn tỉ mẩn đi muối hàng vại "dưa rau muống". Một sáng kiến khá kỳ cục…vì chưa thấy ai dùng rau muống để muối dưa, vì ông lại không ăn được vây yến hay sơn hào hải vị!. Nhà ông ở Phú Cam nuôi hàng trăm con chim bồ câu. Nuôi là để dành dấy thôi. ông Cẩn có tâm lý một nhà giàu xứ quê cho nên cái gì ông cũng thu vén chắt chiu, cái gì cũng cho vào trong kho hết, trong kho của nhà ông chứa đựng không biết bao tranh sơn mài đồ gốm, đồ cổ. Dĩ chí có nhiều người biếu ông miếng gỗ cẩm lai ông cũng cho cất vào kho để dành.
    Ngày 1-2 là sinh nhật ông cho nên khách bốn phương đổ về Huế tấp nập với bao nhiêu quà, ông không ăn, trong nhà cũng không thể ăn hết, tuy vậy dù là quà thuộc về thực phẩm, ông cũng đem cho vào kho cất đi. Mấy hôm sau để thối ra đấy người nhà lại mất công đem đi đổ… Con người ông Cẩn là một thế giới đầy mâu thuẫn, ông vừa có cái cốt phong kiến của con quan, ông lại có tính thu vén chắt chiu của một phú nông, cùng cái hách của Tổng lý thời xưa. ông có bản chất và sắc thái của một ông già nhà quê. Ngoài thú câu cá, ông còn tự tay vót tre đan rổ rá. Rổ rá trong nhà ông phần lớn là do ông đan lấy và ông coi đó như một sinh thú.
    CÔNG LÝ
    Ngày 20-4-64, ông Cẩn được xét xử trước Toà án. Ông Cẩn cũng bị khép vào các tội như Phan Quang Đông chỉ khác tội cố sát. Trên đây, xét từ nguyên nhân sâu xa thì ông Cẩn chết vì lý do tài sản. Nhưng ra toà, bản án tử hình dành cho ông lại bắt nguồn từ vụ án gián điệp miền Trung với Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Đắc Phương bị người của ông Cẩn xô từ trên lầu xuống và Phương chết như vậy tức là Phương bị cố sát chứ không phải Phương tự tử (?).
    Buổi sáng ngày 20-4, khi toà xử, có vợ Nguyễn Đắc Phương ra làm nhân chứng. Một vài tờ báo mô tả rằng: Người vợ của ông Phuơng vì thương chồng phẫn uất quá nên ra toà bị ngất xỉu”. Một người ở Huế biết quá rõ bà Phương nói rằng: "Bà Phương mới sinh được hai tháng đã phải ra toà nên ngất xỉu". Tại sao lại như thế? Chồng bà đã chết từ lâu cơ mà? Đại cương vụ án gián điệp tại miền Trung như thế này:
    Hồ sơ vụ này đã có từ thời ông Giám đốc Công an Trung phần Nguyễn Chữ. Đầu năm 1960 mấy Linh mục Đà Nẵng có lên gặp Đức Tổng giám Mục Ngô Đình Thục trình bày về việc một số người bị bắt oan trong đó có cả tín đồ Thiên Chúa giáo. Đức cha Thục thay vì hỏi thẳng Phan Quang Đông (vì Đông có trách nhiệm trong vụ này) ngược lại Đức cha Thục lại vào thẳng Sài Gòn trình bày nội vụ với Tổng thống Diệm, sau đó Tổng thống Diệm ra lệnh cho Đại tá Đỗ Mậu mở cuộc điều tra.
    Đại tá Mậu đánh công điện cho Đại uý Thích, Trưởng khu An ninh Huế điều tra vụ này. Dĩ nhiên là động đến ông Cẩn, Đại uý Thích không dám đơn phương tiến hành. Đại uý Thích đến xin gặp Đại uý Minh bàn luận cùng ông Minh nên xử trí như thế nào. Ông Minh cho rằng, vụ này nên hỏi lại Phan Quang Đông và báo cho Đông biết sự thể nó như vậy. Sau đó sẽ trình báo với ông Cẩn.
    Đại uý Thích vào gặp ông Cẩn trình bày về bức công điện từ Sài Gòn. Phản ứng đầu tiên là ông Cẩn tái mặt, ông bảo Thích điều tra lại xem có điều gì oan ức không. Ông Cẩn nói: Giết oan người ta thì Chúa phạt đến đời con đời cháu. Sau An ninh Quân đội điều tra thì đều xác nhận vụ án gián điệp có thật.
    Ngày 20-4, Toà xử ông Cẩn về vụ ấy.
    NGƯỜI TỬ TÙ
    Một viên giám thị tại khám Chí Hoà (từng có nhiệm vụ canh gác phòng ông Cẩn) đã kể lại với chúng tôi: Có một đêm đã khuya lắm, anh ta đi qua phòng ông Cẩn, tò mò nhìn qua lỗ khoá. Anh ta thấy ông Cẩn đi đi lại lại quanh phòng rồi ông gục đầu vào tường. Anh nghe thấy tiếng ông khóc nấc. Sau đó anh thấy ông Cẩn đi lại phía giường.
    Ông quỳ dưới chân tường gục đầu vào nệm, anh vẫn nghe thấy tiếng ông khóc nấc. Một lần khác có việc vào phòng ông, ông lại có vẻ bình thản và hỏi: "Chú có nghe tin tức gì ở ngoài nớ không?". Tất nhiên là anh ta chỉ ầm ừ rồi mau chóng đi ra (vì sợ bị nghi có liên lạc với tù nhân)… Lần nào gặp, ông Cẩn cũng có lời hỏi han anh như: lương bao nhiêu, có đủ ăn không, mấy con, bố mẹ còn không, có nuôi được bố mẹ không?
    Buổi sáng ngày ông Cẩn ra pháp trường, người con gái bà Ấm (cháu gọi ông Cẩn bằng cậu) được phép vào tận trong phòng giam thăm ông với sự hiện diện của viên chức quản lý. Chị ta giơ năm ngón tay ra hiệu cho ông Cẩn (có nghĩa là năm giờ bị xử). ông Cẩn khẽ gật đầu. Vì không nén được xúc động, người cháu gái khóc bù lu bù loa và nặng lời nguyền rủa những ai phản phúc với ông cậu mình. Ông Cẩn thì vẫn điềm đạm. Lời ông nói với cô cháu gái được ghi nhận như sau: "Không có gì đáng buồn mà phải khóc lóc. Làm chính trị là phải như thế. Cậu không có gì oán thán hết. Làm chính trị thì phải biết sẽ có ngày như thế này".
    Buổi chiều, có những viên chức đã đưa ông từ trại giam ra pháp trường: Đại tá Trang Văn Chính, Giám đốc Cảnh sát Đô thành, Trung tá Nguyễn Văn Đức, Uỷ viên Chính phủ và luật sư Võ Văn Quang cùng một số viên chức khác và có cả bà Ấm, người chị ruột của ông Cẩn.
    Trước đó ông Cẩn bị bệnh sưng khớp xương và những tháng nằm trong tù ông gần như bị tê liệt, mỗi khi đi đứng phải có người xốc hai vai.
    Song buổi chiều ra pháp trường một số người hiện diện đều ngạc nhiên, da mặt ông ta tự nhiên đỏ hồng, từ trên lầu xuống nhà ông vịn tường mà đi không cần người xốc nách. Ông vẫn thường nói với chị ông và các cháu (trong đó có bà Trần Trung Dung) “Không việc gì phải khóc lóc hay chửi rủa ai. Cứ cầu nguyện cho người ta. Cậu làm chính trị cậu đã nghĩ đến ngày phải như thế này".
    Đại tá Chính và mấy người khác lên tiếng chào ông, ông cúi đầu thi lễ: “Xin chào các ngài". Mọi người đều công nhận ông có vẻ thản nhiên và khoẻ mạnh hơn mọi ngày thường.
    Khi ra pháp trường ông Cẩn lẻ loi một mình. Mặt ông vẫn thản nhiên, ông bị trói vào cột (như báo chí đã tường thuật). Trung uý Bảo, sĩ quan báo chí Phủ Thủ tướng là người duy nhất đại diện báo chí nhà nước có mặt tại "sân bắn" lúc ấy. Trung uý Bảo thuật lại: Hai bàn chân của ông chỉ có năm ngón chấm đất, gót chân lơ lửng. Ông Bảo tiếp lời: Biết đâu lúc ấy ông Cẩn không nhận ra tôi Trung uý Bảo đứng cách tử tội Ngô Đình Cẩn 15m về phía tay mặt. Đằng trước ông Cẩn là toán quân thực thi nhiệm vụ. Sau toán quân cách là báo chí. Do tình cờ của số phận, Bảo lại có mặt trong tư thế đại diện chính quyền trong buổi xử bắn ông Cẩn. Thật là éo le.
    Nhân chứng nói: “Nhìn ông Cẩn lúc ấy tôi rướm nước mắt song vẫn cố tình làm ra vẻ thản nhiên". Định mệnh lịch sử có thật hay sao? Trước đó Bảo được Trung tá Khôi cho ra Huế mang thư riêng đến ông Cẩn.
    Khi được Đại uý Minh đưa vào yết kiến, Trung uý Bảo rất ngạc nhiên. Ông Cẩn nằm trên chiếc ghế xích đu kê ở hàng hiên. Ông đang nhai trầu bỏm bẻm. Thấy Bảo ông Cẩn ngồi nhỏm dậy và tự tay kéo ghế mời ngồi. Ông gọi đích danh Bảo rồi hỏi thăm chuyện trò lan man về tình hình Sài Gòn, về gia cảnh và công việc làm ăn của Trung uý Bảo.
    Vẫn khuôn mặt cũ, buổi chiều hôm ấy ra pháp trường, Trung uý Bảo thấy ông Cẩn vẫn giữ vẻ bình thản, da mặt đỏ hồng.
    Rồi một loạt súng nổ, ông Cẩn trở về cõi thiên cổ.
    Trước đó ông ta từ chối không chịu bịt mắt. Nhưng Trung tá uỷ viên Chính phủ nói “Đây là luật lệ bắt buộc như vậy". Ông Cẩn đành chịu, ông cũng không quên lên tiếng xin mọi người tha thứ cho ông và những người đồng đạo có mặt lúc ấy đã đọc cho ông một kinh lạy cha trong đó có câu “Xin cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ và tha tội chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi". Khi bị trói vào cột, ông Cẩn được gặp riêng cha Thính thuộc dòng Chúa Cứu thế là vị quan linh hướng của ông. Rồi sau là luật sư Võ Văn Quan… Luật sư Quan nói chuyện với ông Cẩn một lúc, rồi đưa tay gỡ cặp kính trắng trên mắt ông, không khí thật trầm lặng và căng thẳng trong nỗi thê lương. Cha Thính quay đi… mắt vịLinh mục long lanh hạt lệ. Luật sư Quan khẽ thở dài như tiếc thương cho một phận người.
    Chỉ một loạt đạn thứ nhất, ông Cẩn đi ngay. Đầu ông gục xuống, lắc lư…
    Trung uý Bảo đến bên ông… Màu da đỏ hồng biến thành mầu xám nhạt. Không ai giữ được tiếng thở dài nghẹn ngào. Ông được tháo dây trói và đặt trên băng ca khiêng trở lại khám đường. Bảo đi theo. Trong gian phòng hoang lạnh, không còn ai ngoài Bảo, người hiến binh áp giải và lát sau thì bà Ấm lật đật chạy vào. ông Cẩn nằm trên băng ca, phủ tấm vải trắng loang lổ máu. Người chị ông khóc rưng rức, nước mắt giàn giụa trên gò má. Thế là xong một đời người.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Chương 7

    CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NGƯỜI MỸ

    Sau vụ biến cố đẫm máu tại Đài Phát thanh Huế 4 ngày, ông Nhu đã cho nổ một trái bom làm rung động giới ngoại giao Mỹ, khi ông Nhu tuyên bố với phái viên tờ Washington Post "Cho đến lúc này Chính phủ Việt Nam cộng hoà không thấy cần thiết một số cố vấn quân sự quá lớn, cho nên Việt Nam Cộng hoà có thể yêu cầu Chính phủ Mỹ cho rút một nửa số cố vấn quân sự Mỹ, tức là chỉ nên duy trì 7, 8 ngàn là đủ (Washington Post 12-5-1963). Cũng vào thời gian này ông Nhu nói với giáo sư Bửu Hội "Đã đến lúc mình phải xét lại sự viện trợ và hợp tác của Mỹ. Anh có thể giúp tôi tìm sự ủng hộ thân hữu của Pháp và các quốc gia Bắc Phi. Trong tình thế hiện nay chúng ta phải đi đến một modus vivendi thoả ước với Bắc Việt”. Sáng chủ nhật hôm ấy ông Nhu cũng lặp lại câu nói như vậy với một vài cộng sự viên thân cận. Nhưng ai nấy đều cho rằng con đường mà ông Nhu sắp đi tới rất nguy hiểm. Nhưng ông Nhu vẫn chủ quan cho rằng kế hoạch ấp chiến lược và đường lối ngoại giao mới qua trục Paris và Á phi sẽ tạo cho miền Nam đủ tư thế chấp thuận thoả ước với miền Bắc. Nhưng ông Nhu quên rằng với 16 ngàn cố vấn Mỹ và mỗi ngày Mỹ phải chi trên một triệu dollars cho cuộc chiến tại Việt Nam (1963) thì không dễ gì Mỹ có thể để cho ông Nhu tự do hành động khác với những đường lối của họ.
    MỘNG ƯỚC HIỆP THƯƠNG HAI MIỀN NAM BẮC.
    Trước năm 1961 Ngoại trưởng Pháp Couve de Murviìle sau cuộc tiếp xúc với ông Nhu tại Paris (196l) đã phê bình ông "Ngô Đình Nhu là một người có nhiều ảo tưởng”. Ông Murville cũng như bác sĩ Trần Kim Tuyến cho rằng phê bình như vậy cũng có phần đúng. Theo ông Tuyến "ông Nhu là một chính khách có suy tư về chính trị, có khám phá, có sáng tạo trên bình diện chiến lược. Nhưng thực tại tình hình chính trị miền Nam chính nó đã làm cho suy nghĩ của ông Nhu trở nên ảo tưởng". Một buổi sáng trời trong xanh, ông Nhu mỉm cười mô tả một cách đầy thi vị với ông Tuyến: "Buổi sáng Việt Nam mầu trời pha lê, toa thấy chiến tranh phi lý quá hỉ. Bọn nó (tức Mỹ) như con hổ bị thương, chúng sẽ cho dollars để Phật giáo phá moa… Nhưng chế độ này thì phải tồn tại".
    Khi ông Nhu toan tính bắt tay với miền Bắc Việt Nam thì trước hết ông đã gặp phản ứng hết sức bất lợi cho kế hoạch riêng của ông… Phản ứng đó xuất phát ngay từ tập thể Thiên Chúa giáo và nhất là một số người khối dân di cư.
    Một số trong khối người đó từng hậu thuẫn vô giá cho chế độ Ngô Đình Diệm, những ngày đầu 1954-1955. Tuy toan tính của ông Nhu không mấy ai biết nhưng hẳn nhiên không thể qua mắt được các đức Giám mục Thiên Chúa giáo. Đức cha Lê Hữu Từ có thể là người được biết quá thông suốt về những toan tính của ông Nhu. Điều này cha Jean (một Linh mục người Pháp lúc đó đang sống tại Sài Gòn) đã có nhiều cơ hội được am tường một cách tương đối rành rẽ. Sau cuộc biểu tình dữ dội của Phật giáo ngày 17-7, phản ứng của Mỹ hoàn toàn bất lợi cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Đài VOA thông tin và bình luận một cách có thiện cảm hay đúng hơn là đã gián tiếp ca ngợi cuộc đấu tranh của Phật giáo. Cha Jean được mời vào dinh gặp ông Nhu. Cuộc gặp gỡ kéo dài trong hai tiếng đồng hồ. Ông Nhu đã đề cập về cuộc xuống đường của Phật giáo ngày 17, ông nói: "Tôi có nhiều bằng chứng là hiện nay Cộng sản đã thao túng phật giáo. Rất nhiều cán bộ Cộng sản cải trang vào đó với tư cách Phật tử hay các nhà sư".
    Cha Jean chỉ lắng nghe mà không đáp. ÔngNhu với thái độ giận dữ: "Tôn giáo là tôn giáo, quốc gia là quốc gia. Tổng thống không thể nào nhượng bộ họ được nữa. Đã đến lúc Chính phủ phải có biện pháp mạnh. Nếu Chính phủ hạ lệnh thì chỉ trong vòng một ngày, quân đội và cảnh sát có thể dẹp tan phong trào tranh đấu này".
    Cha Jean đáp: "Thưa ông Cố vấn, đây là vấn đề nguy hiểm và rất tế nhị… vấn đề Phật giáo theo tôi biết đã có tầm mức quôc tế. ông Cố vấn có thể nào tìm được cách giải quyết tốt đẹp hơn là đàn áp không”.
    Ông Nhu lừ mắt nhìn cha Jean, ông lắc đầu: “Đến nay thì không còn cách nào giải quyết tốt đẹ pnữa. Hiện các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp đang bất mãn với Phật giáo, họ đang thúc xúi Tổng thống hạ lệnh cho họ được phép dẹp cho yên". Cha Jean không còn biết nói gì hơn. ông Nhu lại tiếp tục: "Tôi hiểu, nhiều kẻ đang âm mưu gây rối miền Nam… Chính phủ không thể tha thứ bất cứ một cuộc nổi loạn nào”.
    Bất chợt ông Nhu hỏi cha Jean: "Phía Hoa kiều Chợ Lớn cha thấy thái độ chung của họ như thê nào”. Cha Jean đáp "Hoa kiều tại Việt Nam như ông Cố vấn đã rõ, họ chỉ biết làm ăn buôn bán". Ông Nhu nói: "Cha có thể giúp tôi làm mộ tviệc riêng?". Cha Jean đáp: “Tôi sẵn sàng nếu thấ ycó khả năng". Ông Nhu ngần ngại rồi đi thẳng vào câu chuyện: "Cha có thể giúp tôi một việc quan trọng này ngoài cha, Tổng thống không muôn uỷ thác cho một ai".
    Ông Nhu lại yên lặng hút thuốc lá lâu hàng 5, 7 phút. Đoạn ông nói: "Cha sang Đài Loan giúp Chính phủ được không”. Cha Jean chưa trả lời, ông Nhu nói tiếp: "Cha có đủ uy tín nói chuyện với Chính phủ Đài Bắc, làm sáng tỏ cho họ rõ là Việt Nam Cộng hoà không bao giờ chủ trươg và kỳ thị tôn giáo. Cuộc tranh đấu của Phật giá ođang bị lợi dụng”. Cha Jean đáp: "Thưa ông Cố vấn, tôi nghĩ việc này ông Cố vấn nên tiếp xúc thẳng với Dại sứ Đài Bắc hoặc nếu không ông Cố vấn có thể uỷ thác cho ông Bộ trưởng Ngoại giao".
    Sự từ chối khéo của cha Jean làm ông Nhu mất bình tĩnh: "Bộ trưởng Ngoại giao ấy à? ông ta không làm được cái chi hết. Còn ông đại sứ Đài Bắc, cũng đang bị dư luận đầu độc. Tôi muốn cha sang Đài Loan nói cho Chính phủ Tưởng Giới Thạch biết rõ sự thực và cha nói giùm Chính phủ Đài Bắc phải chấm dứt ngay chiến dịch báo chí ở Đài Loan hiện đang xuyên tạc Chính phủ Việt Nam Cộng hoà và họ đang cổ vũ cho cuộc tranh đấu của Cộng sản duới chiêu bài tôn giáo".
    Cha Jean nói: "Xin ông Cố vấn cho tôi trình bày ý hiên. Theo tôi, có thể nói Cộng sản len lỏi vào hàng ngũ tranh đấu của Phật giáo nhưng tôi tin rằng cuộc tranh đấu này vẫn có tính tôn giáo đấy chứ. Tôi không tin Thượng tọa Thích Tâm Châu hay ông Mai là Cộng sản. Đại sứ của ông Tưởng Giới Thạch cũng đã nói với tôi nhu thế. Xin ông Cố vấn thông cảm cho sự khó khăn của tôi, tôi xin không thể nói gì khác hơn là như vậy".
    Ông Nhu hỏi: "Ngay cha cũng tin vào dư luận là Tổng thống sẽ thương thuyết với Bắc Việt”. Cha Jean đáp: “Đó là điều làm tôi ngạc nhiên". Cha 1ại hỏi "Chắc chắn ông Cố vấn có theo dõi hoạt động của "Uỷ ban Hoà bình phục hưng miền Nam"(Comité pour la Paix et la Rénovation du Sud Việt Nam). Ông Nhu "à" một tiếng khá lớn lắc đầu với thái độ khinh miệt "Tôi biết tổ chức ấy là một con số không, do một số người Pháp đỡ đầu. Trần Văn Hữu chắc cha biết rõ?” Cha Jean đáp “Tôi có gặp ông ấy một vài lần". Ông Nhu bỗng cao hứng nói một hơi thật dài. Đến nay cha Jean chỉ còn nhớ lại một số nét chính đại cương: "Trần Văn Hữu hiện nay đang được nhóm Paul Devinat Bolaert, Pignon đỡ đầu, hắn đòi biết gì không? Hắn đòi phải lật đổ Chánh phủ này, nghĩa là xoá bỏ chế độ này, sau đó tổ chức một chánh phủ liên hiệp, có Mặt trận Giải phóng tham gia và miền Nam sẽ trung lập" Cha Jean lại hỏi: “Thưa ông Cố vấn nghĩ như thế nào về đề nghị của ông Hữu?". Ông Nhu đáp: "Đó là một đề nghị trẻ con, tôi không quan tâm, nếu có nói chuyện trung lập thì chỉ nói với Bắc Việt thôi chứ Mặt trận Giải phóng chỉ là một tổ chức phiến loạn". Cha Jean nhân cơ hội này lại hỏi "Thưa ông cố vấn, ông có nghĩ đến vấn đề nói chuyện với Bắc Việt không?”.
    Ông Nhu mỉm cười: “Đó là vấn đề chính mà hôm nay tôi cần gặp cha và nhờ cha giúp tôi".
    BẮT TAY VỚI CỘNG SẢN CHỈ LÀ CHIẾN THUẬT TRẢ ĐŨA HOA KỲ
    Qua cuộc tiếp xúc với ông Nhu, cha Jean nhận thấy ông Nhu đang trải qua cơn dao động với một thái độ quyết liệt. Về vấn đề bắt tay với Bắc Việt, ông Nhu tỏ ra hết sức dè dặt. Ông vẫn không tin tưởng vào thế trung lập mà liên hiệp với Bắc Việt lại càng không thể có. Ông Nhu nhắc đi nhắc lại với cha Jean: "Cha đã hiểu biết nhiều về Cộng sản.. Chắc cũng biết rõ là Tổng thống ghét Cộng sản như thế nào". Sau đó ông rất dè dặt tâm sự: “ Trong tình thế này Hoa Kỳ cứ gây khó khăn mãi cho Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tôi phải lựa chọn”. Ý ông Nhu muốn nói là ông phải lựa chọn một thế đứng mới làm điều kiện trả đũa áp lực của Hoa Kỳ. Cha Jean cũng nhận thấy chưa bao giờ ông Nhu lại tỏ vẻ tức giận Hoa Kỳ như vậy. Trong cuộc gặp gỡ hôm ấy, ông Nhu muốn nhờ Cha Jean qua Đài Loan rồi trở về Paris. Về việc qua Đài Loan ông Nhu cho biết ông rnuốn nhờ cha Jean nói với nhà cầm quyền Đài Loan biết rằng, Tổng thống Diệm vẫn giữ vững lập trường chống Cộng không có vấn đề liên hiệp, tuy nhiên ông Nhu nhấn mạnh "Tuy nhiên nếu quốc gia chống Cộng như Trung Hoa dân quốc([i]) không giúp đỡ tích cực Việt Nam Cộng hoà và không làm cách nào cho Mỹ bớt gây rối Miền Nam thì buộc lòng Việt Nam cộng hoà phải chọn lựa, nghĩa là sẽ có chuyện ngưng bắn và thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường với Bắc Việt”.
    Điểm sau cùng mà ông Nhu nhấn mạnh "Chánh phủ Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn ủng hộ Trung Hoa Dân quốc và chính vì thế mà Hoa kiều tại Việt Nam Cộng hoà đã hưởng mọi ân huệ. Nếu tình thế thay đổi nghĩa là khi Chính phủ Việt Nam Cộng hoà buộc lòng phải bắt tay với Cộng sản Bắc Việt thì lúc ấy Hoa kiều không còn được hưởng ân huệ như vậy và các tổ chức chìm nổi của Chính phủ Đài Loan tại miền Nam Việt Nam cũng sẽ khó khăn rồi tự nó tan rã".
    Trước khi ra về ông Nhu nắm chặt tay cha Jean tiễn ra tận hành lang, ông nhắc đi nhắc lại:"Bất cứ một người Công giáo nào cũng không thể nghi ngờ được lập trường chống Cộng của Tổng thống". Ông Nhu ngập ngừng khẽ nhún vai, dáng điệu ấy cho đến nay cha Jean vẫn chưa thể quên. Ông Nhu nói: "Lập trường chống Cộng phải đi song song với lập trường dân tộc. Nếu Hoa Kỳ không tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam thì buộc lòng Tổng thống sẽ phải xét lại công cuộc viện trợ. Chắc Cha đã rõ nhiều quốc gia sẵn sàng viện trợ cho Việt Nam, Tổng thống sẽ cân nhắc lựa chọn". Trong buổi tiếp xúc này, ông Nhu nói có vẻ muốn thanh minh hai điểm quan trọng.
    1) Không có chuyện đàn áp Phật giáo.
    2) Tập thể Công giáo cứ yên tâm và tin tưởng vào lập trường chống Cộng của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
    Từ Cha Jean cho đến bác sĩ Trần Kim Tuyến và giới thân cận với ông Nhu đều nhận định rằng ông Nhu muốn thoát khỏi ảnh hưởng của Mỹ, muốn tìm một thế đứng mới, nhưng chuyện mưu đồ bắt tay với Cộng sản chỉ là một chiến thuật mặc cả với Hoa Kỳ. Nhưng Hoa Kỳ lại dùng chiến thuật "gậy ông đập lưng ông" quật ngã ông Nhu, khi họ cố tình cho rằng ông Nhu bắt tay với Cộng sản. Một số tướng lãnh và sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng hoà đã bị Hoa Kỳ lung lạc tinh thần bằng cái dư luận: ông Nhu định điều đình với Cộng sản. Thực sự cơ quan CIA không thiếu gì phương tiện, nhất cử nhất động của ông Nhu không qua khỏi con mắt của CIA. Có lẽ vấn đề ông Nhu bắt tay với Cộng sần không làm Mỹ lo ngại bằng vấn đề bang giao Việt-Pháp mỗi ngày càng thêm tốt đẹp, sau nữa là thái độ quá cứng rắn của ông Diệm trước những đề nghị của Mỹ mà ông Diệm cho rằng xâm phạm đến chủ quyền miền Nam Việt Nam (như vụ Cam Ranh, đề nghị đặt Cố vấn Mỹ cạnh Tỉnh trưởng Việt Nam, lập phòng Dân vụ Mỹ cạnh Toà Đại biểu Chính phủ. Sau năm 1963 những vấn đề này được Chính phủ sau đảo chính thoả mãn ngay).
    Trước năm 1962, bang giao Việt - Pháp vẫn tẻ lạnh như buổi chợ chiều. Chánh phủ De Gaulle không một chút thân thiện nào đối với Việt Nam Cộng hoà. Theo những tài liệu mà chúng tôi tìm hiểu thì Tổng thống Diệm do sự thúc đẩy của ông Nhu đã gián tiếp ngỏ ý muốn qua hành hương tại Lourdes và nhân cuộc hành hương này tướng De Gaulle sẽ chính thức mời Tổng thống Diệm thăm viếng Paris. Song điều đó bất thành.
    CHẮP NỐI DUYÊN XƯA
    Theo cha Jean thì không phải chỉ năm 1963 ông Nhu mới nghĩ đến chuyện phát triển bang giao Việt - Pháp và tìm điểm tựa mới nơi chính phủ De Gaulle. Năm 1961 trong chuyến du hành qua Maroc dự lễ đăng quang Đức vua Hassan II ông Nhu nhân dịp này ghé qua Paris với tư cách riêng. Tuy vậy ông Nhu cũng đến thăm xã giao Ngoại trưởng Pháp Couve de Murville. Tuy với tư cách riêng Ngoại trưởng Couve de Murville cũng mở dạ tiệc khoản đãi ông Nhu với sự hiện diện của Đại sứ Laloutte và ông Étienne Manach đặc trách Á Châu sự vụ tại Bộ Ngoại giao Pháp. Tuy không đạt được một kết quả cụ thể nào nhưng chuyến thăm viếng Paris lần này ông Nhu đã phá được bầu không khí tẻ lạnh giữa chính quyền Ngô Đình Diệm với Pháp. Kể từ năm 1961, ông Manach trở thành nhịp cầu thông cảm giữa hai Chính phủ. Hơn nữa vẫn theo cha Jean, ông Manach rất có thiện cảm với ông Nhu - một cựu sinh viên trường Cổ học Paris- đó cũng là điểm hào quang dễ dàng thu hút sự cảm phục của giới ngoại giao Pháp. Trước năm 1960, các cha thừa sai Pháp (MPE) từng tỏ ra bị lạnh nhạt bởi chính quyền Ngô Đình Diệm, nhưng sau năm 1960 thái độ của ông Diệm đã thay đổi. Tổng thống Ngô Đình Diệm trở lại ưu ái các cha thừa sai Paris, đặc biệt những cha hoạt động tại Cao nguyên thì Tổng thống mỗi ngày càng thêm tín nhiệm và kính phục. Đó cũng là tia sáng soi đường cho quan hệ thân thiện với Pháp. Một trí thức cỡ như Ngô Đình Nhu tất nhiên dễ dàng thông cảm với Pháp hơn. Cái văn minh cơ khí của Mỹ có tiền dollars viện trợ dù to tát như thế nào cũng khó lòng đè bẹp được cái tinh hoa văn học Pháp, đã tiêm nhiễm sâu xa trong con người trí thức như Ngô Đình Nhu.
    Đó cũng là điều dễ hiểu khi ông Nhu giơ bàn tay tiếp nhận người bạn Pháp. Đó cũng là lý do dễ hiểu tại sao những năm 1960-1961 chính quyền Ngô Đình Diệm cho mở hàng loạt các toà Đại sứ tại các quốc gia Á Phi thuộc ảnh hưởng của Pháp. Trong một bài báo nhan đề “La Paix manquée en" của ký giả Georges Chaffard (Express số 990) nhận định rằng trong cuộc gặp gỡ. Couve de Murville - Ngô Đình Nhu (1961) đã không đạt được kết quả vì ông Nhu tự ái. Couve de Murville lại tỏ ra lạnh nhạt. Chaffard viết: "ông Couve de Murville tin rằng bởi thế nào chuyến sang Pháp lần này ông Nhu cũng ve vãn Pháp, nhưng ông Couve de Murville đã thất vọng vì trong suốt bữa tiệc ông Nhu chỉ đề cao chính sách của anh em ông, ca ngợi khu trù mật và tự hào về chế độ Ngô Đình Diệm đang mạnh". Vẫn theo Chaffard thì ông Etienne Manach linh cảm rằng ông Nhu sang Pháp không phải chỉ để nói những lời "suông" như vậy ông Etienne Manach lại bố trí một cuộc hội đàm Ngô Đình Nhu với Couve de Murville khi ông Nhu từ Rabat (Maroc) trên đường ghé về qua Ba lê. Cuộc hội đàm không đi đến đâu… nhưng đó là cái mốc lớn mở đầu cho giai đoạn mới mà Đại sứ Lalouette đóng một vai trò quan trọng. Đại sứ Lalouette đã hiểu rõ sự rạn nứt trong mối tình đồng minh Mỹ- Diệm. Sự mâu thuẫn giữa Việt-Mỹ ngày càng gia tăng và ông Nhu đã hơn một lần gián tiếp ngỏ ý cho Đại sứ Lalouette hay rằng đã đến lúc Pháp-Việt phải cải thiện quan hệ bang giao và người Pháp có thể đóng một vai trò quan trọng tại bán đảo Đông Dương. Đại sứ Lalouette trở thành người bạn thân của cả Tổng thống Diệm lẫn ông Ngô Đình Nhu. Lalouette đóng vai trò biện hộ cho chế độ Ngô Đình Diệm trước thái độ nghi ngờ của tướng De Gaulle - vì De Gaulle vẫn chưa quên bài học đau đớn 1954-1955, một mặt bị Mỹ đá khỏi Việt Nam một mặt chính quyền Ngô Đình Diệm tẩy chay Pháp. Theo Georges Chaffard nhận định thì theo ông Lalouette anh em ông Diệm quá nhiều tự ái dù anh em ông ta muốn ve vãn Pháp đến mức nào đi chăng nữa, anh em ôngDiệm cũng không nói thẳng ra được. Dần dần, tướng De Gaulle ngả theo chiều hướng thuyết phục của Đại sứ Lalouette.
    Nghĩa là: Với sự mâu thuẫn Việt-Mỹ, khi mà ông Nhu muốn tìm một thế đứng mới, thì đây là một cơ hội tốt nhất để Pháp nhảy vào Đông Dương, đóng vai trò mới.
    Tưởng cũng nên ghi lại một biến cố ngoại giao đáng cho Hoa Kỳ lo ngại. Tháng 2-1963, một phái đoàn dân biểu của chính quyền Ngô Đình Diệm chính thức qua viếng thăm Pháp quốc do ông Trương Vĩnh Lễ hướng dẫn, gồm có các dân biểu Nguyễn Hữu Chỉnh, Hà Như Chi, Nguyễn Quốc Hưng, Trần Văn Thọ. Phái đoàn dân biểu Việt Nam Cộng hòa được đón tiếp một cách khác thường, Tổng thống De Gaulle đã tiếp phái đoàn tại điện Elyssée và cuộc hội kiến kéo dài 35 phút. Báo chí Pháp trong ngày 14-2-1963 đã nhận định về cuộc hội kiến này. Tờ Le Monde cũng như France Soi coi đây là một biến cố lớn, một khúc quanh quan trọng trong cuộc bang giao Việt-Pháp. Ngày 15-2, Thủ tướng Pompidou cùng với Ngoại trưởng Couve de Murville đã thảo luận rất lâu với phái đoàn dân biểu Việt Nam Cộng hòa với sự tham gia gần như đủ mặt giới danh thương và kỹ nghệ Pháp. Người hoan hỉ nhất trong dịp này là Đại sứ Lalouette. Ông Đại sứ đã thành công trong chặng đầu…Từ đó trở đi, Đại sứ Lalouette trở thành một Đại sứ quan trọng sau Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Phản ứng của Hoa Kỳ như thế nào? Dĩ nhiên Hoa Kỳ không thể công khai phản đối mối tình Việt-Pháp nhưng Hoa Thịnh Đốn bắt đầu phản công lại.
    Đại tá Lansdale Fishel người đã từng ủng hộ hết lòng Tổng thống Diệm trong thời gian 1954-1955 thì 1963 lại là người tích cực vận động lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, Fishel từng lưu ngụ tại miền Nam Việt Nam và đã từng cộng tác với chính quyền Ngô Đình Diệm thì 1963 ông lại chủ trương phải lật đổ ngay Ngô Đình Diệm dù phải dùng biện pháp sắt kể cả việc thanh toán cá nhân Tổng thống Diệm.
    CHÍNH HOA KỲ ĐÃ ĐẨY ÔNG NHU VÀO THẾ CHÂN TƯỜNG
    Kể từ khi Trung Hoa Dân quốc thiết lập một số đài kiểm thanh tại Nam Việt Nam (chẳng hạn Đài Kiểm thính Phú Bài Huế) thì hiệu năng tình báo gia tăng mạnh mẽ. Điều đáng kể những đài kiểm thính này đều đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Sở nghiên cứu chính trị. Nhân viên Trung Hoa Dân quốc tự coi như nhân viên của sở nghiên cứu chính trị Nam Việt Nam. Không những đài kiểm soát được toàn bộ các làn sóng điện của Bắc Việt, Lào mà còn bao trùm cả miền Hoa Nam. Tuy nhiên có một điều Hoa Kỳ không vừa ý là kết quả khai thác của đài kiểm thính đã không được chuyển giao cho Hoa Kỳ. Mãi sau này, khi cuộc chiến bộc phát mạnh, Hoa Kỳ mới thiết lập một Trung tâm Kiểm thính khác (1962) gần Bộ Tổng Tham mưu để họ sử dụng riêng trong phạm vi cơ quan MACV([ii])
    Qua vụ Đài Kiểm thính ta cũng thấy rõ một phần nào bản chất viện trợ của Mỹ tại xứ này. Rồi vụ Đài Phát thanh Sài Gòn nữa. Khoảng đầu năm 1960 Tổng thống Diệm muốn gia tăng hiệu năng vô tuyến truyền thanh thì đài Sài Gòn lại quá yếu. Ngân sách không cho phép phát triển theo ý muốn, để đương đầu với hiệu năng quá lớn mạnh của Đài phát thanh Hà Nội. Tất nhiên là phải yêu cầu Hoa Kỳ viện trợ. Song người Mỹ chỉ đồng ý viện trợ máy móc tối tân cùng với chuyên viên điều khiển của họ. Tổng thống Diệm cho rằng đây là một trò chơi nguy hiểm. ông Nhu cũng lo ngại vì nếu máy móc đặt trong tay chuyên viên Hoa Kỳ thì nếu có một biến cố lớn xảy ra, Hoa Kỳ có thể chơi xấu và phá đám bằng khả năng kỹ thuật của họ. Phía Nam Việt Nam có đề nghị Hoa Kỳ huấn luyện chuyên viên của mình và chỉ cần viện trợ máy móc cũng quá đủ. Đề nghị này không được Hoa Kỳ chấp thuận, cuối cùng Tổng thống Diệm cũng bỏ qua không nhắc nhở đến nữa.
    Kể từ năm 1962 thế lực Mỹ mỗi ngày càng gia tăng và bao trùm nhiều ngành sinh hoạt quốc gia, chiến tranh càng lan rộng thì thế lực Mỹ cũng có nhiều cơ hội thuận tiện nhất để khống chế chế độ Ngô Đình Diệm. Theo bác sĩ Tuyến thì ông Nhu tâm sự rằng: "Ngân sách quốc phòng tăng như rứa, viện trợ như rứa… buộc phải tìm lại thế quân bình. Chiến tranh càng kéo dài càng bất lợi cho chế độ. " Theo ông Nhu (thường thổ lộ ý kiến với bác sĩ Trần Kim Tuyến cũng như một số cộng sự viên thân cận) thì chiến tranh sẽ phải sớm chấm dứt. Một là dốc toàn lực để đè bẹp Cộng sản. Nếu hai bên còn nghiêng ngửa và chiến tranh có chiều hướng kéo dài thì phải tìm cách chấm dứt bằng giải pháp chính trị. Ông Nhu tin tưởng ấp chiến lược là một căn bản và một ưu thế cho giải pháp chính trị để chấm dứt chiến tranh. Khi khả năng quốc phòng và chiến tranh phải tuỳ thuộc vào viên trợ Mỹ thì sự mất mát chủ quyền là một điều khó có thể tránh khỏi. Theo Lương Khải Minh cũng như những nhân vật trọng yếu gần Tổng thống Diệm thì vấn đề chủ quyền quốc gia đối với Tổng thống Diệm là vấn đề số 1. Chủ quyền quốc gia gắn liền với tính tự ái quá cao của ông Tổng thống. Bằng chứng là năm 1961, 1962 các cố vấn quân sự Mỹ khuyến cáo chính quyền Ngô Đình Diệm bãi bỏ ngành hiến binh. Lúc đầu Tổng thống Diệm có vẻ thuận ý qua lời trình bày của Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần. Ông Thuần cũng chỉ trình theo đề nghị của cố vấn quân sự Mỹ. Tổng thống Diệm có một điểm do dự là hiện ngành hiến binh, đang phục vụ đắc lực, ông Tổng thống vẫn tin tưởng vào hiến binh vì cho rằng hiến binh “làm việc đúng đắn rành luật pháp". Nhưng sau đó Tổng thống Diệm cho xếp lại và vẫn duy trì ngạch hiến binh. Tổng thống Diệm bảo ông Thuần: "Cứ thư thả, không có gì thay đổi hết, họ (tức Hoa Kỳ) nói sao mình làm vậy thì còn gì là thể thống quốc gia". Sự thực lúc đầu Tổng thống Diệm cũng nghiêng theo lời trình bày của ôngThuần nhưng bỗng hầm hầm nổi giận khi ông Thuần cho biết, cố vấn quân sự Mỹ muốn bãi bỏ ngành hiến binh chỉ vì quân đội Hoa Kỳ không có ngành này ( MP đảm trách mọi việc). Cố vấn quân sự Mỹ cho rằng đã có quân cảnh rồi thì hiến binh không cần thiết và sẽ có riêng loại quân cảnh hiếnbinh. Cố vấn Mỹ cho biết, nếu không bãi bỏ ngành hiến binh thì Hoa Kỳ không thể dành một ngân khoản viện trợ cho một ngành không cần thiết như vậy. Tổng thống Diệm coi đây là một áp lực và vô tình đã xúc phạm đến tự ái của một vị Tổng thống cai trị dân theo quan niệm "thiên mệnh". Do đó mà ngành hiến binh bao nhiêu lần có tin đồn bãi bỏ rồi rút cuộc vẫn được duy trì cho đến ngày sau đảo chính 1-11-1963.
    Trên đây là một vài sự kiện trong bao nhiêu sự kiện khác và đó cũng là một nguyên nhân đẩy ông Nhu vào một sự lựa chọn mới.
    KHÔNG THỂ LÀM TAY SAI MỘT CÁCH TRƠ TRẼN
    Mâu thuẫn Việt-Mỹ càng trầm trọng khi chiến cuộc mỗi lúc càng gia tăng. Trước hết Việt-Mỹ đã xung khắc ngay từ buổi đầu của cuộc hôn nhân. Nói đúng hơn, miền Nam Việt nam trở thành một phận gái hẩm hiu do cảnh ngộ của lịch sử mà phải ép duyên gán nợ cho một anh chồng trọc phú. Xin trở lại vụ đài phát thanh để dễ dàng sáng tỏ tính chất xung khắc qua cuộc hôn nhân miễn cưỡng này. Tổng thống Diệm khao khát có được một đài phát thanh tối tân và hiệu năng của nó có thể tương đương với đài Hà Nội, trước hết vì đòi hỏi phải có một chiến lược chính trị trường kỳ tại Bắc Việt với hiệu năng lớn mạnh của đài Sài Gòn thì chính quyền miền Nam mới để dành một chương trình đặc biệt hướng về toàn thể miền Bắc và xa hơn nữa là Lào và Bắc Thái Lan là nơi có hàng ngàn Việt kiều cư ngụ. Đài Sài Gòn không đủ khả năng hoạt động trong một khu vực rộng lớn như vậy. Chính quyền miền Nam đành bó tay vì Hoa Kỳ từ chối lời yêu cầu tối tân hoá đài Sài Gòn. Trong khi đó thì Hoa Kỳ sẵn sàng viện trợ cho Nam Việt Nam một đài tiếp vận địa phương (mà ngân khoản tổn phí có thể gấp đôi ngân khoản tối tân hoá đài Sài Gòn).
    Tại sao có vụ mâu thuẫn kỳ cục như vậy? Điều giản dị là Hoa Kỳ muốn độc quyền truyền thanh "tiếng nói chống cộng" của họ qua bức màn sắt Hoa Kỳ không muốn miền Nam được quyền "chia sẻ"… Cho đến lúc bấy giờ đài Sài Gòn vẫn không có gì khả quan hơn xưa. Điều mà trước năm 1963 Tổng thống Diệm ao ước có một chương trình phát thanh đặc biệt hướng về miền Bắc (với một hiệu năng tối đa) thì đã có (1964-1970) nhưng chương trình ấy lại nằm trong hệ thống đài VOF(Voice of Freedom) tuy đài đặt ngay tại Sài Gòn và do nhân viên người Việt đảm trách nhưng thực chất của nó là của Hoa Kỳ qua miệng người Việt.
    Tóm lại Hoa Kỳ quan niệm Đài Phát thanh Sài Gòn chỉ có một nhiệm vụ thông tin tuyên truyền trong lãnh thổ miền Nam còn miền Bắc đã có Hoa Kỳ lo liệu (trước hết là Đài VOA sau là Đài VOF). Trí thức Ngô Đình Nhu thúc thủ trong một thực tại viện trợ như vậy thì chỉ còn con đường là cam phận làm tay sai một cách thiếu thông minh và trơ trẽn. Ông Nhu lựa chọn một thế đứng mới tức là lựa chọn một con đường giải thoát khỏi ông chủ keo kiệt. Tiếc thay con đường đó lại đem đến sự giải thoát vĩnh viễn cho ba anh em ông Nhu. Nói ra những mâu thuẫn Việt Nam Cộng hoà và Mỹ thì nhiều lắm. Mâu thuẫn về quan điểm lập trường…mâu thuẫn về chiến thuật, chiến lược.v.v. Khi ông Nhu trở lại thân thiện với Pháp, thì chỉ là một chiến thuật tạo thế chân vạc và cũng là điều kiện doạ Hoa Kỳ "nếu anh bắt bí tôi quá tôi bỏ anh…"
    "Tôi sẽ không cô đơn. De Gaulle đã sẵn sàng". Một khi De Gaulle thân thiện với miền Nam thì lẽ dĩ nhiên Sihanouk sẽ không theo đuổi chính sách thù nghịch với miền Nam nữa và đó cũng là con đường đưa đến thoả hiệp với miền Bắc. Trước sau cái gút của vấn đề chỉ là Pháp. CIA không khi nào để cho miền Nam một mặt sống vì viện trợ Mỹ, một mặt lại đưa tay nắm bàn tay De Gaulle (vẫn bị coi như kẻ thù của Mỹ) CIA không e ngại những toan tính của ông Nhu trong việc tìm một thế thoả hiệp với Cộng sản Bắc Việt nhưng CIA coi việc miền Nam thân thiện với Pháp là một biến cố nguy hiểm và phải đập vỡ từ trong trứng nước.

    Chú thích


    [i] Tức Đài Bắc

    [ii] Cơ quan tình báo quân sự Mỹ

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    1
    Chương 8 (b)

    TIẾNG NỔ RUNG CHUYỂN CẢ NƯỚC.

    Chiếc xe cơ giới của Thiếu tá Sỹ tiến đến gần Đài phát thanh khoảng 50 thước, bỗng có một tiếng nổ kinh hồn và tiếp theo là những tiếng nổ khác. Lúc ấy là 10g30.
    Xe của ông Sỹ quay khựng lại, 1 hạ sĩ quan la lớn “Nổ, Thiếu tá coi chừng Việt cộng Thiếu tá" Ông Sỹ rút khẩu Colt 12 cầm tay, nói qua máy nghe "Nghe đây, nghe lịnh Đại bàng đây".
    Theo sự mô tả của một số sĩ quan có mặt ở gần Đài lúc ấy thì tiếng nổ làm rung chuyển tất cả, thứ ánh sáng từ tiếng nổ phát ra giống như một tia sét và trong đời binh nghiệp của họ thảy đều chưa nghe thấy một tiếng nổ nào lạ tai như vậy.
    Sau tiếng nổ, ông Nguyễn Nghiễm cho biết cảnh tượng trở nên vô cùng hỗn loạn trong sự kinh hoàng. Đồng bào xô đẩy nhau tìm đường thoát thân. Bao nhiêu tiếng khóc kêu la. Các đường xung quanh Đài Phát thanh vốn nhỏ hẹp nên lại càng thêm tắc nghẽn. Đồng bào bỏ cả xe, guốc dép và tìm đường thoát thân. Trẻ con đàn bà khóc như ri. Ông Nguyễn Nghiễm đứng cách chỗ nổ khoảng 50, 60 thước, cảm tưởng của ông lúc ấy giống như người bị mất trí, người thì ngất ngư, hai mắt hoa lên, tay chân luống cuống không biết chạy đâu.
    Sau tiếng nổ đầu, khoảng 4, 5 phút sau ông Nguyễn Nghiễm nghe thấy 3, 4 tiếng súng lục từ phía xe của Thiếu tá Sỹ và tiếng la lối của mấy quân nhân trên xe. Ông Nguyễn Nghiễm thấy tức nơi ngực, ông chạy khỏi Đài một quãng xa mới đứng dừng lại. Nguyễn Hữu Cang chạy thoát qua cầu Tràng Tiền. Khi tiếng nổ xảy ra, Nguyễn Hữu Cang ở ngay gần Đài. Tiếng nổ quá lớn làm anh xây xẩm và lảo đảo. Một mảnh thịt người văng tung vào mặt Nguyễn Hữu Cang, cho đến nay Nguyễn Hữu Cang vẫn không thể xoá nhoà được cảnh tượng bi thương hôm ấy.
    Trong khi đồng bào xô đẩy nhau chạy thoát thân, đồng bào luôn luôn được nghe tiếng người ta hô hoán "Chạy lẹ đi, nó bắn chết hết bây giờ". Hoặc những tiếng la lối như "Bà con chạy lối ni… đồng bào đừng về lốí nớ… Đặng Sỹ nó đang cho xe cán đồng bào ở lối nớ…
    Đám đông quần chúng đã hỗn loạn lại càng thêm hỗn loạn.
    Về phía Thiếu tá Sỹ, khi nghe hai tiếng nổ, ông hét lên qua máy nói: "Việt cộng phá Đài, nghe tôi. Nghe tôi Đ ại bàng đây Việt Cộng tấn công Đài ".
    Dứt lời ông Sỹ rút "Colt 12" bắn chỉ thiên ba phát theo hiệu lệnh. Thiếu tá Sỹ lại ra lệnh: "Việt Cộng tấn công đài, áp dụng lệnh Đại bàng".
    Lệnh trên được truyền ra, thế là 10 tay súng được chỉ định từ trước đều giơ cao nòng súng lên không trung và nhả đạn. Họ chỉ được phép bắn chỉ thiên mà thôi. Đồng thời lúc đó, các quân nhân sử dụng lựu đạn MK 3 cũng đồng loạt cho nổ qua 15 địa điểm khác nhau. Có anh ném MK 3 xuống phía bờ sông. Có anh ném trong sân trường Văn khoa, có anh ném gần ngay câu lạc bộ thể thao.
    Quân đội bắt đầu chuyển dịch và bắt tay vào hành động. Xe của Thiếu tá Sỹ đứng trước Đài. Chao ơi cảnh tượng thê lương chưa từng thấy. Không một xác chết nào được toàn thây. Có nạn nhân, đầu bị thổi bay cách Đài cả chục thước, cẳng giò cũng bay đi đâu mất tiêu, gan ruột phèo phổi bay lên cả cành cây, tung toé ra khắp nơi, tất cả cửa kính của Đài bị bay đi hết. Cảnh tượng ấy theo những người chứng kiến, có thể nói không bút nào tả hết được sự thê lương. Tiếng nổ đó không do mảnh mà chỉ do hơi. Sức hơi ép ước khoảng tương đương với 5 kílo thuốc nổ TNT. Nạn nhân chết không do mảnh mà do hơi ép. Sức hơi ép ấy làrn nạn nhân tan xác. Trung sĩ Tư đến cách Đài 30 thước bỗng dưng đứng khự ng lại, hô thấtthanh: “Bớ đầu người ta đây nè " Một chiếc đầu nạn nhân ở ngay dưới chân ông ta. Theo ông Tư chiếc đầu đó không còn là đầu người nữa. Ông ta chỉ thấy hàm răng dính vô một mảng thịt.
    Một loạt liên thanh nổ lên trời. Thiếu tá Sỹ Colt 12 cầm tay, mặt thất sắc nói không ra lời, ông cố ra lệnh cho thuộc viên “coi chừng, nó có thể tấn công Đài bây giờ". Sau đó…ông Sỹ vào thẳng bên trong Đài. Vừa trông thấy Thượng tọa Trí Quang, ông Sỹ đã mất bình tĩnh nói lớn: “Làm sao thế này. Sao có người chết như thế này”. Những người có mặt trong Đài lúc ấy đều tỏ ra lo sợ và mất hết tinh thần. Ông Đẳng mặt tái xanh ngơ ngác. Tại hoạ xảy ra bất ngờ quá không ai tưởng tượng nổi. Thượng tọa Trí Quang cũng vậy thảy đều không giữ được bình tĩnh. Thượng tọa Trí Quang chắp tay vào nhau như nguyện cầu nói trong cơn lo âu: “tôi không ngờ lại xảy ra như thế này”. Thiếu tá Sỹ bảo Thượng tọa Trí Quang: ”Thày phải chịu trách nhiệm về những hậu quả đã xảy ra như thế này". Ông Sỹ lại dằn giọng nhắc lại: “Tại sao lại xảy ra như thế này?”.
    Trung tá Thưởng Giám đốc Nha Công an Tư pháp như không nén được cơn tức giận. Ông lừ mắt nhìn mọi người rồi nói với Thượng tọa Trí Quang: "ông phải chịu hết trách nhiệm " - Ông Thưởng lại nói: “Ai gây ra tai hoạ thì phải chịu hết trách nhiệm " - Lúc ấy, Thượng tọa Thiện Minh đứng bên Thượng tọa Trí Quang với một thái độ khá ôn tồn và khiêm tốn nói với Thiếu tá Sỹ cũng như Trung tá Thưởng "Chuyện đã xảy ra như thế này, thì không biết nói sao. Tôi xin chịu hết trách nhiệm ".
    Lúc bây giờ chung quanh Đài không còn một ai ngoài quân đội và nhân viên công lực. Đồng bào đã chạy dạt sang bên kia cầu và đang tụ tập ở phía chợ Đông Ba khoảng 5, 7 trăm người. Những nạn nhân bị thương được chuyển gấp đến nhà thương Huế. Nạn nhân bị tử thương ngay lúc đầu đã không có cách nào để nhận ra, có bao nhiêu người nam hay nữ, già hay trẻ vì như trên đã viết, nạn nhân chết không toàn thây, da thịt bay tứ tung.
    Lúc ấy một viên chức Mỹ đến đây để lo chụp hình quay phim, nhưng bị nhân viên công lực đuổi khỏi. Vợ chồng bác sĩ Wuff người Đức thuộc Đại học Y khoa Huế tìm cách vào trong Đài xin để săn sóc nạn nhân nhưng bị từ chối. Chính bác sĩ Wuff này đã lanh tay chụp được mấy tấm hình, một vài chiếc xe cơ giới của Bảo an lúc ấy đang đậu ngay trước Đài (nội sáng 9-5 tấm hình này đã được gởi về Sài Gòn và mấy ngày sau xuất hiện trên báo chí Tây Đức, Pháp, Mỹ. Một chi tiết cần lưu ý là năm 1965, ba bác sĩ người Đức của Đại học Y khoa Huế trong đó có bác sĩ Wuff người đã chụp hình và ráp nối hình đêm 8-5-1963 đều bị an ninh của sư đoàn I dưới thời tướng Nguyễn Chánh Thi làm Tư lệnh trong một cuộc hành quân tại khu Nam Đồng đã khám phá được tài liệu mật, cho biết rằng 3 bác sĩ người Đức trên đây đều là người Đông Đức, vượt qua Tây Đức và là những điệp viên Cộng sản thuộc loại quốc tế. Nhưng lại có giả thuyết cho rằng họ thuộc loại gián điệp).
    Khoảng 11 giờ đêm đồng bào Phật tử lại nhốn nháo, người thì lo tìm các Thày bị bắt, người thì xốn xang không biết nạn nhân có phải là vợ con mình hay không. Đồng bào tìm cách vượt qua cầu Tràng Tiền tiến sang Đài Phát thanh. Cầu Tràng Tiền lúc đó ngổn ngang không biết bao nhiêu guốc dép. Không khí bỗng dưng sôi nổi. Một Phật tử từ phía Đài sang bên Đông Ba kêu gọi đồng bào phải có thái độ ngay, vì các Thày bị bắt rồi và xe tăng cán người ta chết nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Thế là trong cơn hăng say, một số đồng bào lại kéo nhau qua Đài.
    Ông Nguyễn Văn Đẳng lo âu lắm, bảo với Thiếu tá Sỹ: "Việc đã xảy ra như vậy rồi, Thiếu tá cứ an tâm, tôi sẽ trình với Tổng thống về vụ này”. Đám đông tiến về phía Đài bắt đầu sôi dộng, nhiều tiếng la ó. Thiếu tá Sỹ thấy vậy chạy vào mời Thượng tọa Trí Quang ra coi và nói: “Thày nhìn kia, bây giờ mà còn làm tới nữa. Thày bảo bọn họ về ngay đi, đừng làm cái trò đó nữa". Thượng tọa Trí Quang vui vẻ nhận lời và nói với các Phật tử: "Các con về đi. Các Thày không sao cả”. Đám đông nghe thèo lời tự động kéo về nhưng trong lòng rất dao động, bất mãn và ai cũng nóng ruột muốn tìm hiểu xem có bao nhiêu nạn nhân bị gục ngã.

    AI LÀ THỦ PHẠM
    Giới chức chính quyền Thừa Thiên bắt đầu lo sợ không biết giải quyết như thế nào và thượng cấp sẽ tỏ thái độ ra sao. Hầu hết đều yên trí rằng đây là một vụ do Cộng sản chủ động. Việc cấp thời lúc ấy là cho di tản các nạn nhân bị thương vào bệnh viện.
    Mặt khác, nhân viên hữu trách cho người đi lượm từng mảnh thịt, từng khúc xương, từng bàn chân của nạn nhân bị tử nạn. Theo Đại uý Minh trong số nạn nhân này có một thiếu nữ đã chịu phép rửa tội theo đạo Thiên chúa. Suốt đêm mùng 8 nhân chứng Nguyễn Hữu Cang cũng như ông Nguyễn Nghiễm và nhiều lãnh đạo Phật tử đã gần như thức trắng đêm, vừa hoang mang lo âu vừa căm tức chánh quyền đã gây ra vụ nổ đó. Lại có nguồn tin loan truyền trong giới Phật tử là Thiếu tá Sỹ đã cho xe thiết giáp “đằn" Phật tử và ném lưu đạn vào Phật tử.
    Trong khi đó tại Bộ Tham mưu Tiểu khu từ Thiếu tá Sỹ đến Đại uý Phu, Đại uý Lược không dấu nổi sự lo âu. Người trong cuộc cũng không hiểu đầu đuôi ra thế nào. Hai tiếng nổ từ đâu? Do ai? Cảm tưởng đầu tiên của họ là bàng hoàng. Tiếng nổ lạ tai quá cũng không giống như plastic, lựu đạn lại càng vô lý. Nhưng không ai có thể suy đoán ra được. Người nghe tiếng nổ đầu tiên là ông Sỹ cũng như một số sĩ quan và binh sĩ trên xe cũng như đi sau xe. Họ đều bị chói tai và áp lực của tiếng nổ làm cho họ không còn phản ứng lúc đầu và ngực như bị một vật gì rất nặng đập ngang.
    Có điều lạ là sáng hôm sau ông bác sĩ Wuff đã có một số hình ảnh về vụ nổ, trong đó có tấm hình xe cơ giới đang "đằn" qua đồng bào Phật tử. Một số hình này bác sĩ Wuff trao cho Bác sĩ Lê Khắc Quyến. Ngày 9, ông Quyến cấp tốc về Sài Gòn.
    Ai gây ra tiếng nổ? Trong phiên toà xử Thiếu tá Đặng Sỹ, các chuyên viên quân cụ đã có dịp phân tích các loại chất nổ như M.26…MK.3…Giả thuyết về M.26 đã bị loại - giả thuyết MK3 mặc dầu toà đặc biệt lưu ý nhưng cuối cùng cũng bị loại. Như trên đã viết MK.3 có thể làm cho người chết được vì áp lực hơi nổ, nhưng tác dụng không thể nào đạt tới con số thương vong cao như vậy nhất là trong một khoảng trống. Mà nơi phát ra tiếng nổ thì nền xi măng lại chỉ lõm xuống không sâu bao nhiêu

  5. #5
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    20
    Chương 9 (C)

    ĐÁNH NHAU BẰNG MỒM

    Trung uý Bảo có thể yên tâm và vững tin vào đại đội thuỷ quân lục chiến của Thinh.
    Nhưng vẫn còn một đại đội nữa. Lữ đoàn liên binh cho hai xe thiết giáp tiến về ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Phan Đình Phùng, Trung uý Bảo đi sau cùng với 2 sĩ quan lính thuỷ quân lục chiến… Trung uý Bảo dùng hai thuỷ quân lục chiến này nhằm làm nản lòng đại đội của Châu. Lúc ấy đại úy Châu đứng ở gốc cây ngay trước cư xá Air Việt Nam.
    Đại úy Châu cầm khẩu súng lục trên tay còn tay kia thì cầm trái lựu đạn. Lính của Đại úy Châu đều chĩa thẳng mũi súng về phía Trung úy Bảo. Tuy vậy, Trung uý Bảo rất bình tĩnh và phía đằng sau Bảo là hai thiết giáp và lính của Lữ đoàn. Trung uý Bảo lên tiếng : "Tất cả anh em binh sĩ đều phải quay mũi súng ra ngoài không thì sẽ bị tiêu diệt ngay". Nhân chứng hỏi Đại uý Châu: “Ai bảo các anh về đây? Các anh về đây để làm gì?”. Trung uý Bảo nghĩ trong bụng, Châu cũng sẽ trả lời như Thinh nhưng không Đại uý Châu nói lớn tiếng : "Chúng tôi về đây để lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Chúng tôi không thể chịu được áp bức ".
    Trung uý Bảo nói gay gắt : “Anh lại đây". Đại uý Châu cũng gay gắt không kém: “Anh lại đây”. Châu vẫn cần lăm lăm trái lựu đạn. Trung uý Bảo cầm chiếc loa. Bảo nói: “Anh muốn chết bỏ mạng à". Châu lại nói : “Anh muốn tự tử sao đây". Hai bên vẫn lời qua tiếng lại . Đang lúc đó thì có phi cơ xẹt qua quạt từng loạt đạn, Trung uý Bảo tiếp tục tấn công bằng lời: “Anh coi... Đại đội của Thinh nó hàng rồi. Chung quanh đây là quân của lữ đoàn… Anh nhìn coi... chỉ cần khẩu đại liên trên lầu kia làm một loạt chéo cánh sẻ cũng cho các anh đi đời". Trung uý Bảo lại nhấn mạnh: "Tốt hơn hết các anh nên hàng đi cho yên chuyện". . . Một sĩ quan khác lên tiếng : “Hàng thế nào được. Tụi tôi về đây lật đổ chế ñoä độc tài gia đình trị". Trung uý Bảo đáp: “Muốn gia đình trị hay cái gì cũng được. Bây giờ không nói chuyện đó, muốn sống thì hàng đi!”.
    Lúc ấy Đại uý Châu bắt đầu dịu giọng: "Hàng thì tôi không hàng nhưng tôi sẽ tập trung lính lại. Được không?”. Trung uý Bảo vui vẻ trả lời : "Thế cũng được bây giờ anh cho lính của anh tập trung tất cả vào hhu hàng không... ". Châu lại hỏi:" Còn các anh thì sao?”. Cho thiết giáp và lính của anh lui về vị trí cũ tức là phía đường Hồng thập tự.
    Thế là hai đại đội thuỷ quân lục chiến đều án binh bất động. Phía lữ đoàn giải giới chờ khi hữu sự sẽ ra tay. Bộ chỉ huy của lữ đoàn phòng vệ hoạt động không ngừng.
    Cho đến lúc ấy thành Cộng hoà đã ăn hàng trăm trái 105 ly. Bộ chỉ huy Liên đoàn phòng vệ không thể nào liên lạc được với Bộ Tổng Tham mưu. thượng sĩ Nguyễn thuật lại: “Ông Duệ phải gọi qua phòng quân cảnh của Bộ Tổng Tham mưu nhờ liên lạc vì ông có người bạn thân ở trong phòng này nên mới nắm được "đầu dây” liên lạc. Thiếu tá Duệ mới hỏi tình hình liên lạc trên ấy ra sao.
    Phía đầu dây trả lời rõ rệt. “Không thấy có gì quan trọng cả. Các ông tướng đang họp. Hiện giờ Bộ Tổng Tham mưu không có lực lượng nào khác hơn mấy chú tân binh ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung”. Thượng sĩ Nguyễn báo cáo lại và đề nghị : “Làm tới đi Thiếu tá. Hốt về đây cho xong chuyện... ". Các sĩ quan Tham mưu bàn định : “Nếu được lệnh thì chỉ cần một chi đội thiết giáp một đại đội ta sẽ tiến dọc theo đường Công Lý. Thủ thì nguy, công mới thành”. Ông Duệ gật đầu cho là phải. Phía đầu dây bên kia, Đại uý tuỳ viên Lê Công Hoàn đáp : “Tổng thống không trả lời. Tổng thống ra lệnh chỉ được phép nổ súng khi nào bị tấn công... ". Ông Duệ và một số sĩ quan Tham mưu đành lắc đầu thở dài, ông lại tiếp tục cuộc điện đàm: "Toa thưa lại với ông Tổng thống cứ cho phép tụi moa đem lực lượng lên đó hốt cho hết, như thế là xong . Bên đầu dây bên kia, Đại uý Hoàn trả lời : "Tổng thống nhất định không chịu".., Thượng sĩ Nguyễn lắc đầu quay sang bảo ông Duệ : "Thiếu tá thử nói lại lần nữa xem sao... Thiếu tá nói với Đại uý Hoàn trình bày rõ với Tổng thống là bọn mình chỉ lên Bộ Tổng Tham mưu mời các tướng lãnh về dinh họp thôi". Lúc ấy quãng 5 giờ chiều.

    DƯỚI HẦM
    Vào giờ ấy tại dinh Gia Long, mấy sĩ quan tuỳ viên vẫn ngồi kế bên Tổng thống Diệm. Trong dinh vẫn còn 3 đường dây liên lạc. Tổng thống Diệm ở dưới hầm . . . Ông Nhu lại cho người mang radio xuống cho Tổng thống nghe để "Cụ rõ thục hư" (lời ông Nhu). Nhưng radio mang xuống hầm lại không nghe được vì không có dây ăng ten từ phía trên xuống. Rồi nhạc quân hành vang vang. Các tướng lãnh lần lượt xướng danh. Những giọng phát ngôn viên nhấn mạnh từng điệp khúc "Lật đổ chế độ độc tài gia đình trị"... Tổng thống Diệm im lặng nghe. Rồi ông Nhu từ trên lầu bước xuống. Hai anh em ông Diệm đều im lặng.
    Sĩ quan tuỳ viên vặn cho nhỏ hơn. Nhạc quân hành mỗi lúc một dồn dập. Bốn sĩ quan tuỳ viên có mặt ở dinh đều là những người quanh năm suốt tháng trong dinh và đã trải qua nhiều biến cố như vụ ám sát hụt ở Hội chợ kinh tế Ban Mê Thuột, vụ đảo chính 11-11-1960, vụ ném bom ngày 27-2-1962... Do đó không lấy gì làm xao xuyến cho lắm. Trái lại mỗi lần như vậy họ cảm thấy sống gần Tổng thống Diệm hơn. Nhạc quân hành vẫn vang lên dồn dập. Ông Nhu thì trầm ngâm, giọng nhát gừng : "Mỹ nó bảo làm vậy thì làm vậy... "
    Nói xong ông Nhu lại trở lên lầu. Trong khoảng thời gian đó, Đại sứ Cabot Lodge gọi điện thoại nói chuyện riêng với Tổng thống Diệm. Đây là lần thứ hai kể từ lúc 2 giờ chiều. Bốn sĩ quan tuỳ viên vẫn đứng ngồi bên cạnh ông Diệm. Không ai rõ ông Lodge nói gì. . . Tổng thống Diệm trả lời bằng tiếng Pháp đại ý: "Tôi không chấp nhận ... Cảm ơn… Cảm ơn... chúng tôi sẽ thu xếp với nhau... Tôi không tin các tướng đòi hỏi như thê. Cảm ơn, tôi không nhận điều kiện nào hết. . . tôi là Tổng thống nước Việt Nam Cộng hoà !!". Trước khi buông máy, Tổng thống Diệm nói rất chậm, nhấn mạnh từng tiếng một : “Je vous remercie sincèrement...Je ne quitte jamas mon People. . . “.
    Tổng thống Diệm buông máy nhìn một lượt 4 sĩ quan tuỳ viên rồi mỉm cười. Ông lại châm thuốc hút. Ông nhìn Đại uý Hoàn khẽ gật đầu đắc ý về một việc gì rồi lại mỉm cười. Ông vẫn ngồi trên chiếc ghế tựa hiệu Marconi.
    Trước đó bộ chỉ huy lữ đoàn tại thành Cộng hoà, Thiếu tá Duệ nhận được lệnh từ dinh Gia Long phải chiếm cho kỳ được Đài phát thanh.

    ĐẢO CHÁNH GIẢ
    Từng loạt đại bác nổ rồi im. Ông họ Trần (cựu Bộ trưởng) mở cửa sổ nhìn ra đường . . . Một vài chiếc taxi lướt qua. Con đường Hồng Thập Tự vẫn yên ắng, không có một bóng dáng quân nhân nào. Vợ ông nói : “Đảo chánh giả mình ạ. Cứ mặc người ta, anh đừng có xớ rớ". Cách đó hơn một tuần ông Trần có vào dinh Gia Long thăm riêng Tổng thống Diệm, lấy cớ đến chúc mừng Tổng thống nhân ngày 23-10. Ông Trần có gặp tướng Đôn ở hành lang dinh. Ông hỏi tướng Đôn: "Tình hình quân sự dạo này có khá không ông tướng? ". Ông Đôn ghé tai nói nhỏ : "Thưa ông bi quan lắm... Việt cộng mở mặt trận khắp nơi. Người Mỹ như muốn bỏ chúng ta". Ông Trần khẽ nhún vai mỉm cười . Hôm ấy ông gặp cả tướng Đính, vẫn vẻ vồ vập niềm nở, tướng Đính nắm chặt hai tay ông.
    - Tình hình vùng 3 thế nào?. Ông Trần hỏi. Ông Đính khoa tay : "Khả quan lắm. Còn Ba Đính ở đây thì Việt cộng không làm ăn được gì hết. Đàn anh cứ tin lời Ba Đính đi!”.
    Ông Trần trở vào phòng nghe radio. Bỗng nhiên chuông điện thoại reo vang. Đầu dây bên kia, ông Smith một viên chức CIA của toà Đại sứ Mỹ gọi đến và nói :"Tình hình rất nguy hiểm tuy nhiên ông Đại sứ Lodge sẽ tìm cách để tránh đổ máu. Ông Đại sứ muốn tôi "tổ chức" một cuộc tiếp xúc riêng giữa ông Đại sứ với ông ngay chiều nay". Viên chức Mỹ cho biết sẽ tới gặp ngay ông Trần.
    Súng vẫn nổ lẻ tẻ. Tiếng xe thiết giáp chuyển dịch rất gần. Ông Trần gọi điện thoại cho ông Nguyễn Đình Thuần 2, 3 lần, người nhà nói là ông đi vắng. Lúc sau Smith đến thăm ông. Câu đầu tiên của ông Trần gặp Smit: "Thế nào, có đảo chính thật hay không?”. Viên chức này đáp: “Làm thế nào hơn được, cho đến giờ này ông vẫn chưa được biết?”. Ông Trần rút thuốc hút đáp: "Tôi làm sao có thể biết được. Ông Minh và ông Đôn làm vụ này ông có tin là thành công không ?”. Viên chức Mỹ nói với giọng cả quyết: "Tôi không tin họ đủ yếu tố thành công. Bây giờ chỉ là vấn đề thu xếp cho ông Ngô Đình Diệm qua Nhật và ông Nhu đi Châu Âu".

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Chương 9 (D)

    ĐÀI PHÁT THANH SÀI GÒN

    Khi Trung uý Bảo đến sở thú gặp Đại uý Lễ và xin cho thiết giáp đi theo lên đài, ông Lễ cho biết: "ở đây bọn này làm gì có thiết giáp. Vỏn vẹn có 80 mạng thiết giáp ở đâu ra?”. Trung uý Bảo gọi về bộ chỉ huy xin chỉ thị mới nhưng Thiếu tá Duệ dằn giọng: "Dù không có thiết giáp cũng phải liều mạng mà đi. Phải sống chết với cuộn băng đó". Cũng giờ phút này trên dinh Gia Long chia ra làm 3 bộ phận. Bộ chỉ huy quân sự đứng đầu là Thiếu tá Lạc, Thiếu tá Hưởng. Bộ phận đầu não vẫn là ông Nhu bên cạnh là ông Cao Xuân Vỹ. Bộ phận bên cạnh Tổng thống Diệm có vẻ bình thường. Theo Đại uý Hoàn : “Bọn tôi vẫn vui như Tết. . . quây quần quanh Tổng thống có tôi, 3 sĩ quan tuỳ viên khác và ông già Ân". Lúc đầu thì có y sĩ Đinh Xuân Minh, Trung tá Kỳ Quan Liêm, ông Võ Văn Hải đến thăm ông Diệm rồi ra về, ông Quách Tòng Đức cũng thế. Tổng thống Diệm hút thuốc lá liên miên. Theo Đại uý Hoàn lúc đầu Tổng thống Diệm dao động sau bình tĩnh ngay. Ông Nhu thì trầm ngâm, mặt đen xạm, trán nhăn nheo. Ông gọi điện thoại cho Bộ trưởng Công dân vụ Ngô Trọng Hiếu: “Toa liên lạc ngay lại với các ông Bộ trưởng, dặn các ông Bộ trưởng là phải ẩn một nơi đừng lên Bộ Tổng Tham mưu tụi nó đánh 1ừa đó ".
    Về việc chiếm Đài Phát thanh thì Trung uý Bảo, Trung sĩ Trí liều mạng vọt xe qua ngã Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhìn từ xa Trung uý Bảo đã thấy nòng một khẩu dại bác đang chúc xuống ở thế bắn ngang. . . khẩu đại bác này đặt trong vòng thành Nha An ninh quân đội. Bảo biết ý nên ra lệnh cho tài xế rồ hết ga vọt bạt mạng . Một tiếng nổ véo, chiếc xe Jeep của Bảo bị bắn nổ lốp sau. Chiếc xe chao đi chao lại như con hổ bị thương. Nhờ tài xế vững tay lái nên xe không bị lật, Bảo và Trí nhảy xuống xe và chạy thục mạng về phía Đài Viễn thông. Hai người leo qua tường nhảy bắn vào cây chuối, ông Bảo té nhào nằm ngất xỉu trong ít phút. Hai người lại hè nhau chạy thục mạng về phía Đài rồi lẩn vào phía cửa sau. Cửa vẫn đóng kín mít. Hai người lại chạy ngược ra cửa trước. Một sự im lặng ghê rợn chết chóc. Một vài người lính của lữ đoàn giơ tay vẫy ông Bảo chạy về phía đó. Trung uý Xuân đang đứng trước cửa tiệm phở 44, phố xá vắng teo.
    Một vài cánh cửa sổ hé mở, dân chúng ngấp nghé quan sát. Hai thiết giáp của lữ đoàn đậu phía trước đài khoảng cách khá xa.
    Trung uý Bảo chưa hiểu rõ tình hình. Ông Xuân nói : "Tụi nó đang ở trên đó" . Bảo hỏi : "Sao không đánh vô, còn chờ gì?" . Xuân ngập ngừng lắc đầu. Cánh quân của Trung uý Xuân trước đó đã lấy được Đài một cách ngon lành nhưng lại chỉ chiếm được tầng dưới.
    Sau này, Đại tá Phạm Ngọc Thảo thuật lại: Lúc ấy ông chỉ có vào khoảng trên một tiểu đội. Khi thiết giáp và lực lượng của lữ đoàn kéo đến lính của ông Thảo rút hết lên lầu. “Thấy các toa đến, tụi này hoảng quá đi. Lúc ấy chỉ cần một trung đội cứ xông vô đại, tụi toa đành khoanh tay chịu chết" .

    TRÊN LẦU, DƯỚI NHÀ
    Lúc ra đi, Trung uý Xuân cũng như ông Bảo, ông Trí đều được dặn dò:
    - "Thay đổi được tình hình hay không là do chỗ chiếm được hay không chiếm được Đài Phát thanh ".
    Từ dinh Gia Long ông Nhu bóp đầu nhăn trán vì Đài Phát thanh vẫn chưa chiếm được. ông bảo một sĩ quan tuỳ viên:
    “Phải tìm mọi cách chiếm cho bằng được. . . Nếu không các địa phương sẽ mất hết tinh thần. Cứ để đài Phát thanh nói mãi như thế thì các đơn vị rồi đây sẽ theo bọn nó hết".
    Trung uý Xuân gọi về thành Cộng hoà cho biết: "Bọn nó rút hết lên lầu rồi. Tầng dưới bỏ không". Một sĩ quan đề nghị dùng hoả lực tấn công trước, bắn cho sập lầu hai. Trung uý Bảo không đồng ý : "Mục đích của mình là chiếm Đài để cho phát thanh ngay lời hiệu triệu của Tổng thống. Bắn sập, hư hết máy móc thì còn làm được cái gì".
    Mọi người cứ dùng dằng mãi, ông Nhu thì trông ngóng. Giữa lúc ấy tại góc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm - Phan Đình Phùng có hai ba xe Jeep của Trung tâm Vạn Kiếp (Vũng Tầu) thuộc quyền Trung tá Vĩnh Lộc. Trung uý Bảo thấy khả nghi, tiến lại hỏi : "Trung uý Thơm phải không? Đi đâu mà coi bộ quân lương mang theo đầy đủ vậy?". (Thơm là sĩ quan phòng IV của Trung tá Vĩnh Lộc). Ông Thơm nói :
    "Bọn này đi công tác...". Sau này Trung uý Bảo mới biết, toán quân của Thơm cũng có phận sự về chiếm Đài Phát thanh. Lúc ấy tại Bộ chỉ huy thành Cộng hoà, Thiếu tá Duệ nhận được lệnh tại dinh Gia Long : "Phải hết sức bình tĩnh tránh đổ máu với thuỷ quân lục chiến.. Phải chờ lệnh Tổng thống...đang thu xếp, điều cần là phải lấy lại được Đài Phát thanh". Bộ chỉ huy thành Cộng hoà gọi về dinh Gia Long : "Xin Tổng thống qua dinh Độc Lập... Tránh pháo kích ... Nếu Tổng thống cho lệnh xin bỏ ngỏ thành Cộng hoà và rút hết về dinh Độc Lập".
    Đại uý Lê Cung Hoàn tại dinh Gia Long cho Thiếu tá Duệ biết : "Kể từ 5 giờ chiều trong dinh không còn một nhân vật dân sự nào. Theo lời Tổng thống mấy nhân vật dân sự đều rút hết sau khi vấn an Tổng thống".

    TRONG CƠN ĐAU
    Đại uý Hoàn hỏi Đại uý Thọ: "Ông chú của cậu (Đại tá Đỗ Mậu) đã theo đảo chính rồi mà ...cậu tính thế nào? Thọ còn ngơ ngẩn chưa biết nói sao thì Đại uý Hoàn lên tiếng: "Việc đó đã xảy ra như thế, thôi bây giờ mày về nhà đi. Nếu đảo chính thành công thì không nói làm gì. Nếu thất bại mày yên trí có tao ở trong này đảm bảo cho mày". Đại uý Đỗ Thọ suy nghĩ một lát rồi mới nói: "Tôi chả đi đâu hết sống chết cũng ở bên cạnh Tổng thống. Chú tôi, ông ấy phản Tổng thống thì mặc ông ấy, tôi đâu có dính dấp gì. Mỗi người mỗi phận". Thọ nói tiếp với Hoàn : "Chị ruột tôi theo Cộng sản tôi còn chả bị Tổng thống nghi ngờ huống chi ông Đỗ Mậu... Tôi không làm chính trị, cũng chẳng đảng phái chi hết. Tôi theo Tổng thống là tôi theo trung thành đền phút chót". Đỗ Thọ mồ côi mẹ, chỉ có hai người anh em trai mà anh ta phải nuôi dưỡng. Chị ruột Đỗ Thọ là một người có nhan sắc thì đã theo Cộng sản.
    Lúc đầu, khi nổ súng, người trong dinh đã có ý nghi ngờ Đỗ Thọ nhưng sau đó thì không ai quan tâm. Thọ tâm sự với Hoàn: "Nếu tôi theo phe đảo chính thì tôi ở nhà chứ mang thân vào đây làm gì?”.
    Cùng vào khoảng giờ này (5 giờ ngày 1-11) Bộ chỉ huy tiểu đoàn 34 biệt động quân đang tập trung ở bến Tầu Sài Gòn đợi lên đường đi Dục Mỹ, bất ngờ nhận được lệnh của dinh Gia Long phải cấp tốc đem quân về bảo vệ Tổng thống. Nhằm vào ngày lễ, đơn vị lại ở trong tình trạng chờ ngày lên đường nên các sĩ quan không có mặt tại Bộ chỉ huy ngoài Chuẩn uý Anh. Nhận được lệnh chuẩn uý Anh hoàn toàn bối rối vì không biết phải làm như thế nào? Tiểu đoàn trưởng là Đại uý Sơn Thương lại không có mặt tại đơn vị. Rồi muốn tiến quân thì xe đâu mà chuyển. Dinh Gia Long lại ra lệnh : “Phải tìm mọi cách, hãy trưng dụng tất cả xe cộ của thông tin vận binh hiện đang có mặt tại bến tàu. Nếu không thì trưng dụng taxi, xe tải... ". Chuẩn uý Anh vác súng đến thông tin vận, mặt khác cho tiểu đoàn tập họp.
    Do một tình cờ hiếm hoi, ông Anh là một Chuẩn uý lại trở thành đơn vị trưởng "tạm thời" của Tiểu đoàn. Chuẩn uý Anh cảm thấy vô cùng hào hứng vì bỗng nhiên Anh lại có cơ hội ngàn vàng để thi thố tài năng. Sau khi đã trưng dụng được xe và tập hợp xong Tiểu đoàn, chuẩn uý Anh gọi lên dinh Gia Long xin cho thiết giáp xuống mở đường.
    Khoảng 6 giờ, lính biệt động quân của tiểu đoàn 34 đã lố nhố quanh vùng Catinat, Lê Lợi cho đến lúc ấy Đại uý tiểu đoàn trưởng và các sĩ quan đã có mặt đầy đủ tại đơn vị và tiến hành cuộc hành quân tiếp ứng dinh Gia Long. Sơn Thương nguyên là một sĩ quan nhảy dù và rất quen với chiến trận, cho nên, cuộc tiến quân đối với ông ta coi như cuộc đi chơi dạo. Viên Hạ sĩ cận vệ của đại đội trưởng, tay cầm súng, chạy lao lên hàng đầu.
    Cánh quân đang lặng lẽ nép hai bên hè phố tiến về phía đường Lê Thánh Tôn. Viên hạ sĩ nói với Trung uý đại đội trưởng: "Lần này cứu được Tổng thống thế nào thày trò mình cũng có cái mề đay đeo chơi". Cánh quân được lệnh dừng lại. Hai người ngồi dưới gốc cây chuyện trò như không có gì quan trọng.
    Hạ sĩ Bồng tâm sự: Làm lính trong Dinh cực lắm anh ơi. Người anh tôi cũng ở trong đó. . chỉ muốn xin ra đơn vị chiến đấu mà không được.
    Mỗi tháng cho tôi thêm mấy ngàn tôi cũng xin chịu... Ai dại gì chôn chân trong bốn bức tường. Lại không được ân huệ gì. Tôi thí dụ trường hợp anh chàng Thượng sĩ Vệ người bạn của anh tôi": "Cái luật gia đình của bà Nhu gì mà kỳ cục quá. Thượng sĩ Vệ trong lữ đoàn phòng vệ phủ Tổng thống lại là nạn nhân của luật gia đình. Nhân dịp biệt phái ra Huế anh chàng Vệ tằng tịu với một cô gái sông Hương... Nói đúng hơn anh ta bị người đẹp cho vào mê hồn trận. Sau đó, gia đình nàng bắt lập hôn thú nếu không sẽ làm lớn chuyện. Lính trong dinh rất sợ những vụ đó sẽ đến tai Tổng thống cho nên anh chàng Thượng sĩ Vệ phải nhắm mắt. Rồi ít lâu bị đổ bể, anh ta bị truy tố ra toà án quân sự Huế về tội song hôn. Toà phạt 3 tháng tù và bị giam ở quân lao Mang Cá Nhỏ. Mãn tù trở về lực lượng phòng vệ, lữ đoàn cho giải ngũ lập tức. Hiện giờ Vệ đang bị thất nghiệp, giải ngũ lại mang án thì làm sao kiếm được công việc!". Hạ sĩ Bồng đang chuyện trò thì có lệnh di chuyển, một toán biệt động quân tiến lên... rẽ vào đường Lê Thánh Tông để tiếp ứng dinh Gia Long. Bỗng một loạt đại liên nổ vang. Bốn biệt động quân ngã quỵ.
    Thấy lính trong dinh nổ bất tử làm thiệt 4 mạng, Đại uý Sơn Thương nhào lên vẫy tay. Phía biệt động quân hô lớn "Quân mình đó đừng có nổ súng, biệt động quân về cứu Tổng thống". Lúc ấy lính trong dinh mới vỡ lẽ.
    Tiểu đoàn của Sơn Thương được chỉ định về bố trí tại vùng bưu điện. Cả đêm 1-11 tiểu đoàn này bất động vì không có lệnh đánh ai cả. Phía quân đảo chính cũng không tấn công. Phía dinh Gia Long cũng chỉ cho biết "cứ nằm đó đợi lệnh". Phe đảo chính được mật báo có tiểu đoàn 34 biệt động quân đang án ngữ vùng bưu điện nên tờ mờ sáng ngày 2-11, tướng Đôn viết một thư tay gởi cho Đại uý Sơn Thương. Đại ý chiêu hồi Sơn Thương đứng về phe đảo chính. Dĩ nhiên lúc ấy tiểu đoàn biệt động quân theo ngay vì mọi sự đã xong. Sau này, các tướng tá tham gia đảo chính đều được tưởng thưởng mỗi người một cấp. Sơn Thương thì không. Trong thư gởi cho Đại uý Sơn Thương tướng Đôn có hứa tưởng thưởng cho biệt động quân nếu tiểu đoàn này theo đảo chính do đó Sơn Thương khiếu nại. Đại uý Sơn Thương được thoả mãn ngay để gọi là công lao đảo chính được chia đều. Riêng có Chuẩn uý Anh thì lao đao... Sau phải lãnh mấy chục ngày trọng cấm vì tội dùng khí giới để áp đảo và trưng dụng xe của thông vận binh.
    8 giờ tối, Thiếu tá Duệ ở thành Cộng hoà nhận được cú điện thoại của Tổng thống Diệm. Đại ý Tổng thống ngỏ lời cảm ơn sự trung thành của các quân nhân thuộc lữ đoàn. Tổng thống Diệm nói : "Vào giờ phút quyết liệt này Tổng thống mới rõ ai là người tốt, ai là người xấu. Tổng thống hêí lòng cảm ơn các con đã bảo vệ Tồng thống”. Sau đó thành Cộng hoà nhận được tin Tổng thống Diệm và ông Nhu đã ra đi.
    Bây giờ thì như rắn mất đầu, biết nghe lệnh ai? Trước đây sĩ quan cao cấp trong lữ đoàn đã hỏi Tổng thống Diệm nếu khi có biến, gặp đến lúc không có Tổng thống và ông Nhu thì hỏi lệnh ai, họ được chính Tổng thống Diệm căn dặn: “Khi có biến nếu không có Tổng thống hay ông Nhu thì xin lệnh của tướng Đính hay tướng Khiêm ".
    Khoảng 9 giờ thành Cộng hoà bị pháo kích như mưa. Con số bị thương đã lên đến 30 người tức là gần nửa quân số chiến đấu. Thượng sĩ Nguyễn cho biết : "Thiếu tá Duệ cho họp các sĩ quan tại bộ chỉ huy và hỏi ý kiến nên giữ thành hay bỏ thành?”. Một số thì yêu cầu rút lên dinh Gia Long. Nguyễn thì cho rằng : "Cứ ở mãi trong thành sẽ chết hết vì pháo kích ".
    Một sĩ quan phòng II lên tiếng : Nếu ở lại cố thủ chiến đấu thì cũng được, nhưng cho đến giờ phút này có đạo quân nào của phe đảo chính tấn công mình đâu ? Vậy thì đánh với ai, chi bằng “chém vè" để tránh pháo kích. Hơn nữa Tổng thống đã đi rồi còn giữ thành làm chi". Mấy hạ sĩ quan khác lại cho rắng: "Tuy Tổng thống đã ra đi nhung vẫn chưa có lệnh cho bọn mình rút lui, xin Thiếu tá cứ để chúng tôi cố thủ".
    Vào khoảng 11 giờ, thành Cộng hoà đã hứng chịu khoảng 400 trái 105 ly.
    Con số bị thương tăng lên 40 người. Bộ chỉ huy quyết định: "Bỏ ngỏ thành Cộng hoà tìm cách di tản thương binh, còn ai muốn đi đâu thì đi. Nếu tìm cách lên được dinh Gia Long là tốt nhất”. Lúc ấy mọi người đã kiệt sức vì chưa ăn gì và không có cả nước để uống.
    Bộ chỉ huy gọi lên dinh Gia Long yêu cầu Thiếu tá Lạc gởi mấy chiếc thiết giáp xuống để mở đường rút lui. Nhưng dinh Gia Long cho biết: “Không thể xuống được, các lối đều bị thiết giáp của phe đảo chính chặn hết rồi". ..
    Khoảng 12 giờ, thành Cộng hòa bỏ ngỏ. Từng tốp, nối đuôi nhau chạy thoát thân dưới làn đạn ... trọng pháo. Duy chỉ có bác sĩ Nguyễn Tuấn Anh cùng mấy y tá, một số thương binh ở lại. Cũng có một số quân nhân và hạ sĩ quan gan dạ nhất định không chịu ra đi. Tổng kết từ 1 giờ 30 đến 9, 10 giờ tối có khoảng 45 quân nhân bị thương và 6 người chết vì trọng pháo.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Chương 10 (b)

    THÀNH BẠI TRONG GANG TẤC

    Cho đến sáng ngày 1-11-1963, Đại tá Quyền vẫn không hay biết gì về cuộc đảo chính sẽ bộc phát vào 1 giờ 30 cùng ngày.
    Ngày hôm sau cũng là ngày sinh nhật ông, Đại tá Quyền theo thông lệ những ngày nghỉ vẫn đến sân quần vợt của Bộ Tư lệnh hải quân để cùng dượt với các sĩ quan. Trong số các sĩ quan chơi quần vợt sáng hôm ấy, có Thiếu tá Nguyễn Tấn Lực.
    Thiếu tá Lực vốn là bạn thân của Đại tá Quyền và cũng là chỉ huy trưởng của một ngành trong hải quân. Vào khoảng 10giờ sáng, sau khi đánh banh xong, viên Thiếu tá này mời Đại tá Quyền lên Thủ Đức dùng cơm với lý do nhân sinh nhật ông Quyền, Thiếu tá Lực muốn có cái hân hạnh được đưa ông đi ăn nhậu. Đại tá Quyền nhận lời ngay, cả hai di bằng một chiếc Citroen dành cho Tư lệnh hải quân.
    Khi lên xa lộ, Thiếu tá Lực mới ngỏ ý với Đại tá Quyền theo phe tướng lãnh đảo chính. Cho đến giờ phút đó Đại tá Quyền mới rõ có đảo chính thật, và không còn là chuyện dư luận đồn đại nữa. Đại tá Quyền không chấp nhận.
    Kết quả là Đại tá Quyền bị hạ sát ngay trên xa lộ. Đêm 1-11, Thiếu tá Lực "lò mò" đến Bộ Tư lệnh hải quân nhưng khi đi qua Sở thú thì bị quân của lữ đoàn bắt giữ. Thiếu tá Lực tưởng lầm là quân của phe đảo chính nên tiết lộ với Đại uý Lễ: "Tôi đã sát Đại tá Quyền theo chỉ thị của Trung tướng Dương Văn Minh". Quân của lữ đoàn phòng vệ phủ Tổng thống định hạ sát ngay Thiếu tá Lực, Đại uý Lễ xin chỉ thị của Bộ Tư lệnh nhưng được trả lời "Giữ ông Lực lại và không được động chạm tới ông ta"…

    L ETAT C’EST MOI - QUỐC GIA LÀ TÔI
    Trở lại biến cố ngày 1-11-1963 và cái chết của hai anh em ông Diệm. Như mọi người đã biết, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã chết như một người bị ám sát. Mặc dầu lúc 4 giờ 30 ngày 1, tướng Dương Văn Minh với tư cách Chủ tịch Hội đồng Quân nhân cách mạng (phe đảo chính) đã điện đàm với anh em Tổng thống Diệm.
    Với lời hứa rằng nếu Tổng thống Diệm và bào đệ chịu từ bỏ quyền hành và rời khỏi dinh Gia Long, phe đảo chính sẽ cam kết bảo vệ tính mạng cho hai anh em ông và sẽ để hai anh em ông Diệm ra ngoại quốc với nghi lễ danh dự dành cho một vị Tổng thống. Tổng thống Diệm đã nói như hét: “Tướng tá mô? ".
    Tất nhiên Tổng thống Diệm đã không chấp thuận sự đầu hàng như vậy. Với một người cứng rắn quá mức như Tổng thống Diệm cùng với tự ái quá cao và lòng tự tôn, tất nhiên là ông đã coi các tướng lãnh chỉ là các thuộc hạ võ biền (Võ biền theo quan niệm của một nhà Nho) nên đề nghị của tướng Minh đối với ông như là một hành động xúc phạm đến uy quyền tối cao của quốc gia mà ông là tiêu biểu (Tổng thống Diệm từng nói: "Sau Hiến Pháp còn có tôi". Thực ra thì ông lãnh đạo quốc gia với một mặc cảm tự tôn Quốc gia là ta, L état c est moi). Điều này sẽ giúp ta giải thích rõ tại sao ông Diệm khước từ sự "dầu hàng" và dù cho trong một tình thế nguy nan nhất, ông vẫn giữ vững lập trường đòi các tướng lãnh phải cử đại diện đến phủ Tổng thống gặp ông. Theo Đại uý Lê Công Hoàn, Tổng thống Diệm đập bàn rồi bảo với ông Nhu:
    "Chúng nó đến đây rồi thì muốn chi thì muốn”. Tổng thống Diệm có "cầu cứu” Cabot Lodge không? Thực ra ông có điện đàm với viên Đại sứ này, song chỉ có ý phiền trách và yêu cầu người Mỹ chấm dứt ngay sự hỗ trợ phe đảo chính. Ông Nhu chỉ yêu cầu Cabot Lodge đóng vai trò trung gian giữa dinh Gia Long và Hội đồng Quân nhân. Song Cabot Lodge không thoả mãn lời yêu cầu này. Cũng tương tự như tướng Minh, khoảng 4 giờ 30 Đại sứ Mỹ Cabot Lodge yêu cầu anh em Tổng thống rời khỏi dinh Gia Long và đến tỵ nạn tại toà Đại sứ Mỹ. Sau đó, ông ta sẽ thu xếp để anh em Tổng thống xuất ngoại. Trong điều kiện này thì Cabot Lodge mới đảm bảo được tính mạng của hai anh em Tổng thống Diệm và gia đình. Song như đã trình bày ở trên Tổng thống Diệm đã khước từ dứt khoát. Tổng thống Diệm cũng như ông Nhu vẫn mong ở thế thắng của mình. Qua Đài Phát thanh lúc 4 giờ Tổng thống Diệm nghe rõ giọng nói của 22 vị tướng tá xướng danh để áp đảo tinh thần của dinh Gia Long. Ông Diệm bảo Đại uý Bằng và các sĩ quan tuỳ viên: "Các tướng bị bọn nó bắt là con tin đấy thôi". Cũng vì vậy khi Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ xin Tổng thống Diệm cho đem quân của lữ đoàn lên Bộ Tổng Tham mưu để giải thoát các tướng tá thì Tổng thống khước từ với lý do: “Mình đem quân đi giải cứu bọn nó thế cùng nó sẽ giết hết các tướng, để từ từ coi". Cũng vào lúc 4giờ 30 Trung tướng Đôn có điện đàm với Tổng thống Diệm yêu cầu Tổng thống Diệm và ông Nhu từ bỏ quyền hành và xuất ngoại, vì quân đội đã đứng lên đảo chính và đã vây chặt thành Cộng hoà và dinh Gia Long. Tổng thống Diệm nói như quát: "Quân mô? Vây ở mô?". Sự thực lực lượng đảo chính không đáng kể… Quân của sư đoàn 5 vẫn còn ở bên ngoài Đô thành. Phía Phú Lâm, Chợ Lớn, Cầu Chữ Y, Khánh Hội, Thị Nghè còn bỏ trống. Theo Thiếu tá Lârn Văn Phát thì vào giờ đó, Hội đồng tướng lãnh chưa biết phải làm gì và hoàn toàn giao động vì vị nào cũng tưởng rằng khi đọc hiệu triệu trên Đài Phát thanh thì các cánh quân của quân đoàn II (trong đó có sư đoàn 5) đã vây chặt thành Cộng hoà và dinh Gia Long, cũng như đã làm chủ tình hình Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, nhưng ngược lại các cánh quân chủ lực của cuộc đảo chính vẫn còn rời rạc lẻ tẻ và chưa vượt qua cầu Phan Thanh Giản và Cầu Thị Nghè thì đã bị Lữ đoàn Liên binh phòng vệ chặn đứng ở Dakao và Sở thú.
    4giờ 30 một cú điện thoại từ Bộ Tổng Tham mưu gọi cho Thiếu tá Duệ: "Kéo thẳng lên đây, đánh thốc vào Bộ Tổng Tham mưu, Ở đây chỉ lèo tèo vài đại đội tân binh và lính truyền tin". Thiếu tá Duệ hỏi: "Tướng lãnh làm gì trên đó?". Ông Duệ được trả lời: "Cha con mấy trự đang xanh mặt té đ… ". Sự thực chiến đoàn Vạn Kiếp của Trung tá Vĩnh Lộc cho đến lúc ấy vẫn còn án binh bất động bên cầu Phan Thanh Giản. Khoảng 4 giờ 30, khi Đại tá Phát đến một căn nhà ngay ngã tư Phan Thanh Giản - Đinh Tiên Hoàng được coi như bản doanh tiền phương của sư đoàn 5 và chiến đoàn Vạn Kiếp thì lúc ấy Trung tá Vĩnh Lộc đang say ngất ngư và cũng chưa biết phải tiến quân như thế nào… Sĩ quan cũng như binh sĩ vẫn ngơ ngác không biết phải làm gì… chỉ thị của thượng cấp hết sức mơ hồ.
    Tướng Lâm Văn Phát cũng tiết lộ vào giờ phút đó, các tướng tá tại Bộ Tổng Tham mưu gần như tuyệt vọng, ai nấy đều xanh mặt và đã chuẩn bị vali để lên đường tẩu thoát. Trung tá Nguyễn Cao Kỳ nói: Nếu thất bại sẽ dùng mấy chiếc Dakota của liên đoàn vận tải để đưa các tướng tá qua Thái Lan.
    Các tướng tá hồi hộp từng giây từng phút theo dõi cuộc tiến quân của quân đoàn III nhưng chỉ nghe thấy tiếng súng nổ xa xăm…4 giờ 30, Trung tá Kỳ dẫn hai phi công vào trình diện Hội đồng tướng lãnh - Hai phi công này vừa lái AD-6 nhào lộn oanh kích khu vực thành Cộng hoà và sự hiện diện của hai chàng phi công này tựa hồ như cơn gió mát giữa cơn nồng nặc nghẹt thở trong phòng Hội đồng.
    Trung uý Viên thấy tình hình rất lâm nguy. Bỗng nhiên, ông nhận được tin từ Hội đồng tướng lãnh cho biết: Đại tá Lâm Văn Phát tạm thay Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, thống lãnh sư đoàn 5 để thanh toán dinh Gia Long và thành Cộng hoà. Được tin này, Trung tướng Dương Văn Minh biến sắc. Một số tướng lãnh rỉ tai nhau: "Thôi hỏng rồi.. tại sao Đính lại giao cho Phát như thế tụi nó quật nguợc lại bọn mình rồi". Không khí nghẹt thở.
    Đại tá Lâm Văn Phát sáng ngày 1-11 đến Bộ Tư lệnh quân đoàn III để chờ trình diện tướng Đính trước khi xuống Mỹ Tho nhậm chức vụ Tư lệnh sư đoàn 7. Cho đến lúc ấy ông Phát vẫn không hiểu mô tê gì cả nhưng ông đã linh cảm thấy một sự lạ nào đó. Buổi chiều Đại tá Phát lại trở vào Bộ Tư lệnh quân đoàn III. Giữa lúc tướng Đính đang xao xuyến vì sự di chuyển chậm trễ của sư đoàn 5, ông đã yêu cầu Đại tá Phát tạm nắm quyền chỉ huy sư đoàn này để tốc chiến tốc thắng, Đại tá Phát nhận lời. Tướng Đính phải cho người vào kho lấy bộ đồ trận cho Đại tá Phát vì ông mặc đồ vàng. Kể từ phút đó, Đại tá Phát chính thức xung trận. Ông được thăng Thiếu tướng vào lúc 2 giờ 30 đêm ngày 1-11 khi cuộc tấn công dinh Gia Long bắt đầu mở màn.

    RA ĐI KHI TRỜI CHƯA SÁNG
    Xin trở lại giờ phút quyết định số mạng của hai anh em ông Diệm. Khoảng 4 giờ sáng thứ hai ông Cao Xuân Vỹ hoàn toàn mất liên lạc với hai anh em ông Diệm. Trong suốt buổi tối từ khi đến nhà Mã Tuyên, ông Nhu vẫn thường xuyên liên lạc với một số nhân vật thân tín khác. Ông Nhu quyết định sẽ ra đi trước khi trời sáng. Những người thân tín của ông đã nhận được chỉ thị thu xếp cho hai anh em ông tìm đường lên Cao nguyên. Công việc thu xếp kể như tạm xong chỉ còn chờ hai anh em ông Diệm. Ông Diệm không chịu trốn không chịu cải trang. Ông Diệm đã nói với ông Nhu và ông Cao Xuân Vỹ: "Mình là Tổng thống thì phải giữ tư thế của vị Tổng thống. Dầu mình chết cũng là vị Tổng thống". Theo lời tường thuật lại thì tại nhà Mã Tuyên, dù ông Nhu nhiều lần đề nghị ông Diệm thay quần áo và cải trang cho dễ lẩn trốn trong dân chúng, ông Diệm đã khước từ một cách bực tức. Ông Nhu đã có sẵn một bộ đồ hoá trang, song vì người anh không chịu, ông đành thúc thủ.
    Ông Diệm vẫn tin rằng, phe đảo chính sẽ không dám làm gì ông, thì cũng sẽ không giết được ông Nhu.
    Quyết định cuối cùng của ông Diệm là nếu chết, chết cả hai "Tôi đi đâu chú đi đó".
    Cũng vì vậy trong giờ phút cuối cùng ở nhà thờ cha Tam, Tổng thống Diệm lại một lần nữa khước từ không chịu mặc tấm áo "Soutane" của Linh mục, mặc dù ông Diệm có lời tuyên bố phần sống như một tu sĩ.
    Dinh Gia Long vẫn đắm chìm trong bóng tối và lặng lẽ. Vấn đề cấp thiết nhất là lương thực. Dinh Gia Long không có kho lương nào. Thiếu tá Hưởng cũng như Thiếu tá Lạc cùng tất cả các sĩ quan đều đồng ý giữ dinh Gia Long bất cứ giá nào. Tinh thần họ chỉ lên cao nhờ binh sĩ cũng một lòng như vậy. Đơn giản, họ chỉ là những quân nhân phục vụ chế độ với lòng trung thành.
    Từ khi Tổng thống Diệm và ông Nhu ra đi, dinh Gia Long không có gì thay đổi, ba đại đội của Lữ đoàn Liên binh phòng vệ đóng chung quanh dinh ra tận chợ Bến Thành, Thiếu tá Lạc cũng như Thiếu tá Hưởng và Đại uý Hoàn kéo nhau ra đường đi vòng quanh quan sát rồi dừng chân ở trước Bộ Quốc phòng. Khi trở lại, có điện thoại cho Hoàn, Hoàn quay lại nói với các sĩ quan: "Liên nó gọi cho moa" (tức Thiếu tá Nguyễn Bá Liên Tham mưu trưởng thuỷ quân lục chiến trong cuộc đảo chính).
    Lúc đầu Thiếu tá Nguyễn Bá Liên chiêu hồi dụ dỗ Đại uý Hoàn và cho rằng nên hàng đi là hơn. Sau Trung tá Liên nhường máy cho một số Đại tá, Trung tá nói chuyện thẳng với Hoàn. Đó là cách áp đảo tinh thần dinh Gia Long. Các Đại tá, Trung tá lần lượt lên tiếng trong đó Trung tá Vĩnh Lộc, Trung tá Thảo rồi đến lượt Trung tá Nguyễn Văn Thiệu. Nghe xong Hoàn bỏ máy xuống nhìn anh em mỉm cười.
    Đại uý Bằng theo Tổng thống Diệm và ông Nhu đến Chợ Lớn ở lại một lúc thì Tổng thống Diệm cho ông về. Ông Bằng không quên mang về một một chai Martell, một tút thuốc lá "tăng cường sức sống cho dinh Gia Long". Súng vẫn nổ, thỉnh thoảng một trái Mortier rơi gần dinh, mấy sĩ quan trong dinh vẫn bình tĩnh cụng ly. Đại uý Hoàn say ngất ngây cùng mấy sĩ quan khác ngồi tâm sự chuyện đời.
    Thiếu tá Nguyễn Bá Liên từ bên ngoài gọi điện thoại kêu gọi dinh Gia Long đầu hàng lần thứ ba. Đại uý Hoàn cảm ơn tình bạn của ông Liên và từ chối.
    Quân đảo chính đã làm chủ tình hình Thủ đô, vòng vây mỗi lúc một siết chặt quanh dinh Gia Long. Thiếu tá Phạm Văn Hưởng đặt bộ chỉ huy hành quân ngay công viên trước dinh Gia Long. 12 giờ thì ông được thành Cộng hoà thông báo cho biết bỏ thành. Bảy sĩ quan ở thành Cộng hoà đang tìm cách về dinh Gia Long. Nhưng đến đường Phùng Khắc Khoan thì đành chịu và rủ nhau trốn vào nhà kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Nhà ông này đi vắng hết, chỉ còn lại một gia nhân. Sau đó đám sĩ quan này mượn quần áo cải trang rồi kéo nhau vào nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.
    Ngoài dinh Gia Long vẫn còn 3 đại đội của liên Đoàn phòng vệ và trong dinh có thêm một đại đội cận vệ đặt dưới quyền Thiếu tá Lạc. Súng vẫn nổ. Trong dinh lặng lẽ như tờ. Viên Đại uý phụ trách truyền tin xin Thiếu tá Hưởng cho tháo máy và di tản qua Toà án lấy cớ rằng nếu dinh bị pháo kích, máy truyền tin vẫn an toàn. Mấy ngày sau đảo chính, Đại uý này đã được quân đảo chính vinh thăng Thiếu tá với lý do đã góp công với quân đảo chính bằng cách tháo gỡ máy truyền tin. Không hiểu nguyên nhân nào, một tuần sau ông ta mất lon Thiếu tá.
    Vào khoảng 2 giờ sáng ngày 2 súng bắt đầu thi nhau nổ. Đại uý Hoàn bàn với Thiếu tá Lạc là trong tình thế này không thể nào giữ được dinh nữa rồi thế nào quân đảo chính cũng sẽ đánh lớn và thanh toán thành trì cuối cùng này. Hơn nữa Đại uý Hoàn cho rằng Tổng thống Diệm đã ra đi, Thiếu tá Lạc cho là phải và đồng ý với Đại uý Hoàn là phải báo cho tướng Khiêm rõ. Sau đó Đại uý Hoàn gọi điện thoại cho tướng Khiêm báo cho ông biết. Tổng thống Diệm và ông Nhu đã ra đi và xin tướng Khiêm ra lệnh ngưng tấn công dinh Gia Long. Tướng Khiêm trả lời: “Được, để qua lo liệu”.
    Lúc ấy Bộ chỉ huy nhẹ của Đại tá Phát đặt ngay tại Trường Đại học Văn khoa… ông Phát trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công dinh Gia Long. Nhưng hầu hết đều bắn lên trời. Thuỷ quân lục chiến đã tiến đến gần dinh. Một đại đội khác của lữ đoàn phòng vệ vẫn còn giữ được vườn Tao Đàn. Nơi đây được coi như yếu tố số 1 trong việc phòng vệ dinh Tổng thống.
    Bộ chỉ huy dinh Gia Long không còn hy vọng được ai tiếp cứu.
    Mấy mật báo viên của Thiếu tá Hưởng được sai xuống Phú Lâm xem sư đoàn 7 đã về chưa. Cuối cùng họ trở về báo cáo, có thấy lính của sư đoàn 7 đang di chuyển về phía Thủ đô nhưng không có súng.
    Một lúc sau, Đỗ Thọ từ nhà Mã Tuyên gọi điện thoại về dinh và chuyển lời Tổng thống Diệm đại ý, Tổng thống Diệm cảm ơn tất cả và bảo Thiếu tá Lạc cố giữ dinh và chờ lệnh của Tổng thống. Khoảng 3 giờ 30 sáng ngày 2, từ nhà Mã Tuyên Chợ Lớn, Tổng thống Diệm vẫn chỉ thị cho Thiếu tá Lạc "Một mất một còn để bảo vệ dinh". Nhưng ông Nhu thất vọng: "Không thấm vào đâu, mình yếu họ mạnh" - Theo nhật ký của Đỗ Thọ, Tổng thống Diệm cho rằng: "Vậy đổ nát, chết chóc, không lợi chi cả ".
    Từ 4 giờ 30 sáng ngày 2, dinh Gia Long như con hổ đã lọt vào bẫy, cố vùng vẫy nhưng kiệt sức rồi, Thiếu tá Lạc tính chuyện đầu hàng. Thiếu tá Lạc liên lạc thẳng với Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm. Tướng Khiêm nói rằng: “Nếu thấy không thể giữ nổi thì hàng để tránh đổ máu”. Tướng Khiêm chỉ thị thêm:
    "Các Thiếu tá trong dinh phải bật hết đèn pha để làm dấu hiệu đầu hàng”. Thiếu tá Lạc xin được chầm chậm một chút vì ông Lạc cũng như một số sĩ quan vẫn còn do dự để đợi lệnh cuối cùng của Tổng thống Diệm.
    Lúc ấy Bộ chỉ huy của Thiếu tá Hưởng đã di tản qua Đại sứ Lào. Súng nổ chát chúa nhưng hầu hết đều bay lên trời.
    Đêm đen như mực. Rồi 6 giờ, trời tang tảng sáng… Dinh Gia Long như quỵ hẳn thay vì bật đèn pha để làm dấu hiệu đầu hàng, ông Lạc lại lấy tấm drap trắng trải giường cột vào đầu gậy chạy ra bao lơn "phất phất”. Phía thuỷ quân lục chiến cũng như trong dinh nhiều người không trông thấy ngọn cờ drap trắng cho nên tuy đã phất cờ đầu hàng, trong Dinh lại nổ một loạt súng và làm ngã gục mấy thuỷ quân lục chiến. Phía thuỷ quân lục chiến nổi giận xông lên.
    Súng nổ từng loạt chát chúa, rồi im bặt, dinh Gia Long thất thủ lúc 6giờ 25. Trung uý Tiêm còn mặc bộ đồ ngủ đi lè phè ở hành lang dinh. Mọi sự thế là xong. Bỗng đâu một viên đạn bay vèo. Trung uý Tiêm ngã gục. Ông chết vào giờ thứ 25 và nâng tỷ số thương vong của lữ đoàn phòng vệ lên 7 người. Dinh Gia Long chỉ có một người chết.
    Thiếu tướng Phát công nhận rằng, cuộc tấn công dinh Gia Long quả là gay go. Binh sĩ phía đảo chính thì dè dặt, cấp chỉ huy thì hối thúc hò hét khản cổ họ mới chịu tiến. Khi dinh Gia Long thông báo đầu hàng lính trong dinh vẫn nổ súng từng loạt. Một chiếc thiết giáp tiến lên ngang hông Bộ Quốc phòng phía đường Pasteur thì bị ”thổi bay". Lửa bốc cháy thiêu rụi con cọp sắt vào đúng giờ thứ 25 của trận đánh. Chiếc thiết giáp của Đại uý Bùi Nguyên Ngãi lao lên tiếp cứu tiến đến gần chiếc thiết giáp đang bốc cháy thì bỗng đâu từng loạt đạn nổ vang, Đại uý Ngãi vừa thò đầu ra khỏi xe thì bị bắn gục. Con cọp sắt thứ hai bốc lửa, Đại uý Ngãi gục ngã vào giờ thứ 25.
    6 giờ 30 dinh Gia Long nằm gọn trong tay phe đảo chính, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu vẫn đeo lon Đại tá kéo theo một trung đội tiến vào dinh tiếp thu thành trì cuối cùng của Đệ nhất Cộng hoà tiêu biểu cho uy quyền tối thượng của Việt Nam Cộng hoà.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Chương 10 (e)

    “JE RESTE NEUTRE" - TÔI TRUNG LẬP

    Cùng đi với ông Xuân, như trên đã viết, có Đại tá Dương Ngọc Lắm, Đại uý Nguyễn Văn Nhung (sĩ quan tổng hợp và tuỳ viên của tướng Dương Văn Minh từ năm 1955), Đại uý Phan Hoà Hiệp, Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa. Xét về khía cạnh "bất mãn" đối với chế độ của Tổng thống Diệm, thì tướng Minh không có gì gọi là "bất mãn"… Nhưng sau cuộc đảo chính hụt 11-11-1960, tướng Minh không còn được chế độ tín nhiệm như xưa. Có lẽ bắt nguồn từ thái độ của ông đối với cuộc đảo chính đó ông tuyên bố với báo chí ngoại quốc “Je reste neutre (Tôi trung lập. Báo J.E.O ngày 13-11-1960). Cho dù vậy hành động của tướng Minh đối với anh em Tổng thống Diệm thật là khó hiểu. Nhưng tướng Xuân thì sự bất mãn có vẻ sâu xa hơn. Kể từ khi ông mất chức Giám đốc nha An nính quân đội ông Xuân vẫn cho rằng mình có công với chế độ trong vụ đánh dẹp Bình Xuyên, và chiến dịch bình định tại miền Đông Nam phần. Tuy không xuất thân từ một trường võ bị nào, ông Xuân chỉ là một công chức cao cấp trong ngành Mật thám liên bang (Surete - fédérale) sau được đồng hoá vào ngành an ninh quân đội với cấp bậc Đại tá. Tuy nhiên khi mất chức Giám đốc, ông vẫn được Tổng thống Diệm cho giữ chức chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện Quang Trung cho đến ngày đảo chính. Trong ngành cảnh sát, tướng Xuân vẫn còn một số cộng sự viên cũ, thuộc giới già đã phục vụ trong ngành Mật thám liên bang đã lâu năm. Còn vài lý do "tế nhị" khác đã khiến tướng Xuân hăng hái nhất trong việc tình nguyện đi đón anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm.

    Một số binh sĩ thiết giáp thấy ông Diệm, ông Nhu giằng co với hai sĩ quan vội nhảy ra khỏi xe và tiến lên bực thềm nhà thờ với những khẩu carbine đã lên đạn mũi súng chĩa thẳng về phía hai ông Diệm Nhu.
    Tuỳ viên Đỗ Thọ toan nhảy tới trước đám quân nhân thiết giáp, ông muốn làm một hành động, nhưng rồi ông chùn bước. Đỗ Thọ biết rằng trong khung cảnh đằng đằng sát khí này, bất cứ một hành động chống đối nhỏ nhoi nào của ông cũng có thể mất mạng như chơi. Ông Diệm ông Nhu uy quyền như vậy mà đành chịu bất lực thì ông làm sao chống chọi được.
    Sau khi trả lại khẩu rouleau ngắn này vào bao da, viên sĩ quan toan bắn nhìn ông Nhu ông Diệm gằn giọng:
    - Chúng tôi mời quý vị lên xe. Giờ này, nơi đây không còn ai là Tổng thống và Cố vấn nữa. Nếu quý vị từ chối, chúng tôi buộc lòng phải áp dụng những biện pháp cứng rắn.
    Nói xong viên sĩ quan này đẩy nhẹ ông Diệm xuống sân nhà thờ. Ông Nhu bây giờ lại tỏ vẻ quyết liệt, ông xô đẩy viên sĩ quan và quát:
    - Không được vô lễ với Tổng thống.
    Biết tình thế không thể nào thay đổi được, ông Diệm nắm lấy vai áo ông Nhu:
    - Thôi chú! Mình đi hè!
    Ông chưa nói hết câu thì viên sĩ quan thứ hai đã đẩy mạnh ông Nhu xuống trước. Tổng thống Diệm bước theo, tuỳ viên Đỗ Thọ và cha xứ đi theo hai người. Cửa chiếc thiết vận xa M113 được mở ra, bên trong nồi chảo và hành lý cá nhân của các chiến binh thiết giáp ngổn ngang. Khung cảnh chẳng có gì đã được thu dọn để đón vị Tổng thống. Rõ ràng đây là một cuộc ”áp giải" một cách đột ngột thiếu chuẩn bị.
    Ông Diệm và ông Nhu chùn bước. Cá hai đều hiểu rằng với một sự đón rước cứng rắn như vậy, hy vọng được đưa ra ngoại quốc của hai ông hết sức mong manh.
    Đối với các tướng lãnh, uy quyền của hai ông chắc các ông cũng đã hiểu. Hiểu như vậy thì đã quá muộn. Trên mặt thềm của ngôi nhà thờ buồn tẻ này, người ta thấy khuôn mặt của tuỳ viên Đỗ Thọ rất thảm thương. Có lẽ ông đã hình dung được số phận sẽ dành cả cho hai anh em ông Diệm, Nhu. Trong giờ phút nặng nề này, chỉ có ông Diệm là còn giữ được sự bình tĩnh cần thiết, nên đã không một phản ứng nào mặc cho sự đưa đẩy của số phận.
    Còn ông Nhu trông gương mặc hốc hác tiều tuỵ của một đêm thúc trắng, đôi mắt ông long lên cơn giận khi thấy đám đông dân chúng đằng xa đang chỉ trỏ về phía mình. Như một con hổ sa cơ, ông muốn trút sự nóng giận cho bất kỳ một người nào, nhưng cuối cùng ông dằn được.

    BƯỚC CHÂN CUỐI CÙNG
    Khi ấy chiếc xe M113 đã nổ máy quay đầu ra phía cổng.
    Thiếu tá Nghĩa thì chạy lăng xăng. Đài uý Nhung hai tay chống nạng, mặt mày rất hung dữ, và thốt ra nhiều lời lỗ mãng tục tằn. Một sĩ quan khác cũng có mặt tại đây, và ông Nhu cũng đã từng biết mặt biết tên. Viên sĩ quan này là Đại uý Hiệp. Đại uý Hiệp cũng như Nhung đã thốt ra những lời lỗ mãng nặng nề. Tổng thống Diệm vẫn làm ngơ, song ổng Nhu quay lại quắc mắt mắng Hiệp "Không được ăn nói và xử sự như vậy với Tổng thống".
    Như cố ý lánh mặt, tướng Xuân vẫn ngồi ngoài xe đậu phía bên kia đường. Thiếu tá Nghĩa đã hộ tống anh em Tổng thống Diệm đến tận cửa chiếc M113. Ông Nhu vẫn giằng co "Các anh để Tổng thống đi xe nào? Sao lại đi xe này? Sao lại có thể thế này?". Một Đại uý đẩy ông Nhu xô vào phía cửa sau.
    Ông Nhu lảo đảo rồi đứng khựng lại. Ông lớn tiếng nặng lời với mấy sĩ quan đứng chung quanh ông và Tổng thống Diệm. Theo ông già Khá Tổng thống Diệm vẫn có vẻ từ tốn.
    Trong nhật ký Đỗ Thọ có ghi lại như sau: "Họ đẩy mạnh ông Nhu xuồng thềm nhà thờ. Tổng thống Ngô Đình Diệm, tôi và cha Jean theo sau. Trong khi đó trục máy của chiếc M113 buông thả cửa xe . Lính đảo chính áp dụng cứng rắn đẩy ông Nhu lên xe, ông Nhu cự nự quay lại nửa người và đưa Tổng thống Diệm lên trước. Tôi chạy đến đưa chiếc cặp đa, chiếc ba tong cho Tổng thống. Nhưng Đại úy Nhung đã giật những món hàng này. Đồng thời họ không cho tôi được phép đến gần Tổng thống Ngô Đình Diệm. Tôi đứng lại nhìn cửa sau chiếc M113 đóng lại. Tôi không thể ngờ đó là nơi an nghỉ cuối cùng của Tổng thống Diệm trong quan tài bọc sắt. Tôi len xe GMC về Bộ Tổng Tham mưu". (Nhật ký Đỗ Thọ trang 267).
    Trên lộ trình về Bộ Tổng Tham mưu đột nhiên đến chỗ chắn xe lửa đường Hồng thập tự thì đoàn áp tải dừng lại. Báo Công Luận số 882 ra ngày 26- 11-70 đã ghi lại:
    “Giờ phút kết liễu cuộc đời của hai ông Diệm, Nhu xảy ra lúc đoàn "công voa" về đến cổng xe lửa đường Hồng Thập Tự. Đoàn công voa vừa tiến đến đây thì gặp lúc có một chiếc xe lửa chạy qua nên phải dừng lại.
    Đại tá Lắm ngồi với Thiếu tướng Mai Hữu Xuân trong một chiếc xe Jeep chạy giữa đoàn, thấy đoàn xe bất thần ngừng lại, ông không biết chuyện gì nên đã hét vào máy truyền tin :
    - Ai cho các anh ngừng lại ? "
    Tiếng quân nhân trên chiếc xe thiết giáp đi đầu trả lời:
    - Thưa Đại tá, kẹt xe lửa. Có một chuyến xe lửa sắp chạy qua, cổng rào đã kéo xuống.
    Đại tá Lắm "à " một tiếng rồi tiếp tục nói chuyện với Thiếu tướng Xuân. Chừng vài phút sau, giữa tiếng chuyển động ầm ầm của chuyến xe lửa chạy qua ông mơ hồ nghe có nhiều tiếng súng nổ, nhưng hỏi phía trước không có một báo cáo nào cho ông biết có chuyện gì bất ngờ xảy ra.
    Những tiếng súng nổ khô khan chen lẫn với tiếng động cơ ầm ĩ của chuyến xe lửa đi qua, đó là tiếng súng của Đại uý Nhung. Trong không khí nặng nề của đoàn “công voa" rước ông Diệm ông Nhu từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tồng Tham mưu, thừa cơ hội chiếc thiết vận xa chở ông Diệm ông Nhu dừng lại, Đại uý Nhung đã bất thần từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiếc thiết vận xa. Khẩu rouleau ngắn nòng được rút ra khỏi vỏ và ông nhả đạn, sau đó dùng dao kết liễu cuộc đời hai ông Diệm, Nhu.
    Hai nhân vật đầu não của chế độ nằm xuống. Vĩnh viễn nằm xuống, không có một phản ứng nhỏ nhoi nào. Cái chết này rất ít người được biết rõ ràng và chứng kiến.
    Chính Đại tá Lắm, người chỉ huy trực tiếp đoàn "công voa " lúc bấy giờ không hay biết. Sau này, Đại tá Lắm đã nói với chúng tôi là ông không thể ngờ một việc như vậy đã xảy ra.
    Sau khi chuyến xe lửa đã đi qua, đoàn công voa vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Đại tá Lắm lúc đó vẫn tin tưởng mọi việc được bình thường, là không có điều gì xảy ra. Cho đến khi đoàn xe về tới Bộ Tổng Tham mưu, chiếc thiết vận xa M113 chở Tổng thống Diệm và ông Cố vấn Nhu đột nhiên tách khỏi đoàn và chạy qua sân vận động quân đội ".

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    hương 10 (f)

    “C’EST COMME ÇA"(23 )

    Đoàn xe dừng ngay ở sân cờ, Đại uý Nhung từ trên chiếc M113 lẹ chân nhảy xuống trước. Lúc ấy Trung tướng Chủ tịch Hội đồng Quân nhân đang đứng trên bao lơn. Nhung chạy theo sau tướng Xuân tiến lên thềm tam cấp của Bộ Tổng Tham mưu. Tướng Minh từ trên cao giơ hai tay, cử chỉ giống như tướng De Gaulle giơ tay lên biểu lộ sự chiến thắng để chào mừng quốc dân. Khi Đại uý Nhung cùng tướng Xuân bước lên bậc thềm Bộ Tổng Tham mưu, một tướng lãnh trông thấy tay áo Nhung dính đầy máu. Ông hất hàm hỏi tướng Xuân "sao vậy" thì tướng Xuân nhún vai và chỉ đáp có vỏn vẹn "C est comme Ça" rồi ông và Nhung lên thẳng lầu để báo cáo tướng Minh công việc mà họ vừa hoàn thành. Mấy tướng lãnh thở dài, quay lưng lên lầu. Một vài tướng lãnh khác và mấy Đại tá kéo nhau xuống sân để coi tử thi. Khi đến nơi, mấy ông đứng khựng lại, rồi ở thế “nghiêm" giơ tay chào từ biệt anh em Tổng thống Diệm. Thiếu tướng Đỗ Mậu vùng vằng nói lớn "Các anh phải chịu trách nhiệm với lịch sử"... Tướng Dương Văn Minh lạnh lùng khẽ nhún vai không nói một câu. Tướng Khiêm sa sầm nét mặt, hiện rõ sự đau thương. Một tướng lãnh khác vào phòng của Tổng Tham mưu trưởng rủ Đại tá Lu Coner ra coi xác chết hai anh em " Diệm Nhu”. Lu Coner lắc đầu : "Tôi ra sao được, nguởi ta sẽ có lý do cho là người Mỹ có dính dáng vô ".
    Xác của hai anh em Tổng thống Diệm được khiêng xuống đặt ngay trên nền đất của sân cờ. Hai anh em ông Diệm nằm chỏng trơ như vậy. Miệng ông Nhu há hốc, mắt nhắm, máu ở miệng trào ra dính hai bên mép và cổ, máu đã trở thành đen. Trời hôm ấy không nắng lắm và nhiều mây, từ lúc ấy sân Bộ Tổng Tham mưu trở nên vắng lặng không một ai được lai vãng trừ một số tướng tá và một số người có phận sự. Người hạ sĩ quan trên chiếc M113 trước khi lên xe rời khỏi sân cờ, ông ta rút chiếc khăn mùi xoa trong túi, phủ lên mặt Tổng thống Diệm. Hai thi thể nằm chơ vơ như thế khá lâu vì Hội đồng Quân nhân chưa có một quyết định nào. Từ cổng Bộ Tổng Tham mưu đã được lệnh canh chừng nghiêm mật nhất là đề phòng các ký giả ngoại quốc.
    Tuy nhiên sau đấy không đầy 1 giờ ngoại giao đoàn cũng như báo chí ngoại quốc tại Sài Gòn đều đã nhận được đầy đủ tin tức về cái chết của hai anh em ông Diệm. Ai giết? Tại sao giết?
    Theo ký giả Robert Shaplen (tác giả cuốn The Lost Revolution) thì có một luận cứ tin được là Nhung đã ra tay hạ sát theo lệnh của tướng Dương Văn Minh. Song rõ rệt nhất là những viên đạn đó đã được chế tạo tại Hoa Kỳ. Nếu Đại uý Nhung cầm súng nảy cò thì ông ta cũng là người thi hành lệnh của thượng cấp. Một Đại uý như Nhung dù là sĩ quan tuỳ viên của Chủ tịch Hội đồng Quân nhân, ông ta cũng chưa thể "điên" đến độ tự mình bắn hai anh em Tổng thống Diệm. Điều này thật giản đơn và rõ rệt. Và những viên đạn này chỉ là kết quả của một âm mưu đã được sửa soạn từ tháng 5-1963 và tiến hành rất tinh tế, vừa có nghệ thuật, thứ nghệ thuật đảo chính mà Đại sứ Cabot Lodge rất am tường. Những viên đạn kết liễu cuộc đời hai anh em ông Diệm và chế độ của ông không phải là những viên đạn đồng đơn giản mang dấu hiệu USA - Những viên đạn đã được đúc rất công phu từ những trục John Kennedy - Cabot Lodge, Cabot Lodge - Hilsman, CIA Smith - Cabot Lodge và cuối cùng Cabot Lodge đại diện cho những cái trục này để giao tiếp với một số trục bản xứ. Có thể mô tả : Cabot Lodge - tướng Khiêm qua trung gian Harkins và Tướng Đôn - Harkins và tướng Kim, Xuân, Minh - Cabot Lodge qua trung gian Smith... Cuộc đảo chính được châm ngòi phải kể đến ngôi thứ nhất Đôn - Harkins. Vì tướng Đôn với tư cách Tổng Tham mưu trưởng nên ông có dịp giao tiếp hàng ngày với các tướng tá Mỹ. Một số tướng tá này trở thành trung gian giữa Cabot Lodge - Đôn và một số tướng lãnh khác.
    Đại sứ Cabot Lodge và những người Hoa Kỳ có hay biết gì trước giải pháp "nhổ cỏ tận gốc" không ?
    Sự thực, thì khi tiếng súng đảo chính bùng nổ, Đại sứ Cabot Lodge đã túc trực tại vân phòng của ông, và theo dõi thường xuyên tin tức "cách mạng".
    Toà Đại sứ Hoa Kỳ và các cơ sở liên hệ như USA, AID sẽ mở rộng cánh cửa để đón tiếp các phần tử thuộc phe đảo chính khi sự mưu đồ bất thành.

    CHẾT CHƯA PHẢI LÀ HẾT
    Khi xác của hai anh em Tổng thống Diệm nằm chơ vơ dưới sân thì các tướng trong Hội đồng quân nhân bắt đầu ngồi vào bàn thảo luận. Theo tướng Đỗ Mậu, không khí lúc ban đầu thật nặng nề, khó thở. Nhiều ông tướng chỉ cúi đầu không nói một câu. Tướng Mậu mô tả : "Tôi theo Tổng thống Diệm từ năm 18 tuổi bao nhiêu tình cảm sâu xa giữa tình thày trò... Thấy xác hai ông tôi không còn khóc được, đau quá - đau đến cùng độ".
    Vấn đề cấp thiết lúc ấy là làm thế nào biện minh về cái chết của hai anh em Tổng thống Diệm đối với bang giao đoàn, dư luận quốc tế và quốc nội. Có lẽ tướng Minh cho đến lúc đó mới nghĩ đến những hậu quả mà ông đã không lường trước. Riêng tướng Kim là người hiểu rõ uy tín của hai anh em ông Diệm trong giới ngoại giao đoàn nhất là toà Khâm sứ và Đại sứ Anh, dù cách nào Đại sứ Lodge cũng phải kiêng nể.
    Tướng Khiêm cũng như tướng Kim là người đã lượng tính trước về uy tín ảnh hưởng của Tổng thống Diệm trong số 2 triệu tín đồ Thiên Chúa giáo. Từ những lượng tính về hậu quả qua nhiều phía do cái chết này sẽ tạo ra và có thể lật ngược thế cờ hay nếu không thì Hội đồng Quân nhân cũng sẽ gặp nhiều khó khăn lớn lao. Do đó Hội đồng Quân nhân hội họp trong một không khí dao động bế tắc, đến lúc này mấy tướng "chủ động" trong việc "thanh toán nhanh, thanh toán lẹ" mới ngỡ ngàng không hiểu nỗi giết một Tổng thống lại gặp nhiều rắc rối, lôi thôi đến như thế. Mặt khác tướng Đính đã làm cho mấy ông trong Hội đồng càng thêm bối rối dao động vì tướng Đính " la hét, chửi thề" tùm lum - "Bây giờ biết làm thế nào". Đường dây điện thoại giữa Hội đồng Quân nhân cách mạng và Đại sứ Cabot Lodge lại hoạt động liên miên.
    Trong khi đó, xác hai anh em Tổng thống Diệm được rời về Bộ chỉ huy thiết giáp trong vòng thành Bộ Tổng Tham mưu. Trên xe có một viên y sĩ Đại uý thuộc bệnh xá Bộ Tổng Tham mưu. Xác không phải chỉ có vết đạn trên đầu mà còn nhiều vết đâm trên ngực. "Có lẽ vì chiếc xe Hồng thập tự đi lắc mạnh nên tôi (lời hạ sĩ Cam) thấy đầu của Tổng thông Diệm nằm trên băng ca cứ lắc lư trông dễ sợ, máu đỏ tươi chảy phọt ra hai bên mép, mặc dầu ông đã chết lạnh khô. Máu ở trên tóc dính bết đổi màu và đã se thâm lại.”
    Cùng lúc đó tướng Đính đưa ra điều kiện: Một là phải chôn cất đàng hoàng, hai là phải làm thông cáo như thế nào nhằm trấn an dư luận. Ông Đính nói : "Chết cha tôi rồi . . . rồi phải ăn nói ra sao đây ".
    Ngay sau khi được tin anh em Tổng thống Diệm bị thảm sát, toà Đại sứ Pháp có thông cáo ngay cho Khâm sứ Toà thánh tại Sài Gòn (vị Khâm sứ lúc ấy là Niên trưởng ngoại giao đoàn). Một viên chức cao cấp của toà Khâm sứ đã điện thoại hỏi Đại sứ Cabot Lodge, không gặp. Nhân viên Tam vụ trả lời rằng Hội đồng Quân nhân cho biết hai anh em Tổng thống Diệm đã tự sát. Vì đó là trọng tội đối với Thượng đế và sẽ mất hết mọi ân phước, nên một người công giáo như ông Diệm thì chuyện này không thể xảy ra.
    Một lát sau, viên Tham vụ này điện thoại cho toà Khâm sứ báo là ông Đại sứ Cabot Lodge cho biết anh em ông Diệm đã chết như trường hợp ngộ nạn. Một Đại uý vô kỷ luật đã bắn ông Diệm. Sau đó Hội đồng quân nhân ra thông cáo là anh em ông Diệm đã tự sát.
    Sau đây chúng tôi ghi lại bản phúc trình của giới hữu trách quân đội mang tên "Tài liệu sơ lược về hai ông Ngô Dình Diệm và Ngô Đình Nhu sau khi chết ngày 2-11-1963 lúc 11g15 đến ngày an táng 8-11-1963 lúc 21g". Nguyên văn
    TÀI LIỆU SƠ LƯỢC VỀ HAI ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NGÔ ĐÌNH NHU SAU KHI CHẾT NGÀY 2-11-1963 LÚC 11G15 ĐẾN NGÀY AN TÁNG 8-11-1963 LÚC 21G 00.
    I, Ngày 2-11-1963 vào lúc 11g15, đoàn xe hộ tống đưa hai xác của ông NGÔ ĐìNH DIỆM và ông NGÔâ ĐÌNH NHU nằm trên hai chiếc brancard để trong chiếc xe M113 vào Bộ Tổng Tham mưu đặt tại sân bộ chỉ huy thiết giáp binh trại Trần Hưng Đạo từ 11g15 đến 17g00. Y sĩ trưởng bệnh xá Tổng hành dinh Tổng Tham mưu đến khám nghiệm tử thi của hai ông Diệm và Nhu và thành lập hồ sơ khai tử do Phòng Tổng quản trị Tổng Tham mưu phụ trách.
    Trong khoảng thời gian kể trên chờ ông bà Trần Trung Dung, cựu Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng, cư ngụ tại số 123 đường Đoàn Thị Điểm Sài Gòn, xin xác hai ông Diệm và Nhu đưa về tư thất.
    Lúc 17g30 ngày 2-11-1963 do Thiếu tá đại đội Tổng hành dinh Tổng Tham mưu đảm nhận việc di chuyển xác của hai ông Diệm và Nhu ra bệnh viện Saint Paul bằng 1 chiếc xe hồng thập tự với hai chiếc quan tài do Thiếu tá đại đội trưởng đại đội Tổng dành dinh Tổng Tham mưu của hãng Tobia, giao lại cho hai ông bà Trần Trung Dung nhờ hãng hòm Tobia lo việc liệm và an táng.
    Khi tẩm liệm xong, hai quan tài để tại một phòng riêng trong nhà xác bệnh viện Saint Paưl thì Trung tướng Tổng trấn đô thành Sài Gòn và Uỷ viên quân vụ thị trấn Sài Gòn theo sự yêu cầu riêng của hai ông bà Trần Trung Dung, sắp đặt tổ chức việc an táng hai ông Diệm và Nhu tại nghĩa trang của người Pháp tại đường Mạc Đĩnh Chi Sài Gòn, vào ngày 3-11-1963 vào khoảng 12g trưa, chôn tại lô đất số 3, nơi đây đã đào sẵn hai huyệt đã xây kim tĩnh.
    Trong khi ông bà Trần Trung Dung nhờ Tổng trấn tổ chức việc mai táng thì học sinh và dân chúng đô thành cũng tổ chức ban chỉ đạo đền nhà xác bệnh viện Saint Paul hoặc đến đất thánh ở đường Mạc Dĩnh Chi để cướp hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu để tế các vị sư đã tử vì đạo cho thoả dạ dân chúng và học sinh.
    II- Vào khoảng 20g00 ngày 2-11-1963, theo yêu cầu của ông bà Trần Trung Dung nhờ Hội đồng Quân nhân cứu nguy và cho gởi hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu sang một bệnh viện của quân đội để tránh sự cướp phá nói trên.
    Lúc 21giờ 00 ngày 2-11, do lệnh của quyền Trung tướng Tổng Tham mưu trưởng bảo liên lạc với ông bà Trần Trung Dung lo việc di chuyển hai quan tài về để một nơi trong Bộ Tổng Tham mưu đồng thời Trung tướng Tổng trấn Sài Gòn ra lệnh huỷ bỏ việc an táng hai ông Diệm và Nhu tại nghĩa trang ở đường Mạc Đĩnh Chi, mặc dầu hai huyệt đã đào và xây kim tĩnh rồi.
    Lợi dụng trong giờ giới nghiêm, đúng 1 giờ 30 ngày 3-11-1963 ông bà Trần Trung Dung viết thư cho Bà Soeur Supérieure Giám đốc bệnh viện Saint Pual nhận lãnh hai quan tài giao lại cho quân đội chở về Bộ Tổng Tham mưu để tại phòng đại đội Tổng hành dinh Tổng Tham mưu, đúng 2 giờ 00 ngày 3-11-1963. Trong thời gian hai quan tài của ông Diệm và ông Nhu để tại Bộ Tổng Tham mưu, việc canh gác được tổ chức cẩn thận.
    Đến ngày 6-11-1963 thì bỗng nhiên chiếc quan tài của ông Anh bị xì hơi bay mùi khó chịu.
    Ngày 7-11-1963, vì nhận thấy tình trạng học sinh và dân chúng Đô thành vẫn còn phẫn nộ không thể an táng hai ông Diệm và Nhu tại Sài Gòn hay đưa về Huế được, phần thì một quan tài đã bị xì hơi hôi thối nên ông bà Trần Trung Dung gửi thư yêu cầu Trung tướng quyền Tổng Tham mưu trưởng cho mượn một khu đất trong trại Trần Hưng Đạo đê tạm an táng hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu trong một thời gian rồi sẽ đem cải táng sau (bản bức thư đính kèm).
    Tiếp theo yêu cầu của hai ông bà Trần Trung Dung đề ngày 7-11-1963, Trung tướng quyền Tổng Tham mưu trưởng chỉ định khoảng đất để tạm an táng hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu tại Bộ Tổng Tham mưu, do sự vụ văn thư số 835/ TTM /VP ngày 7-11- 1963.
    III, Ngày 8-11-1963 đúng 20g00 hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu do quân nhân thuộc đại đội mai táng của quân vụ thị trấn Sài Gòn dưới sự chỉ huy của Đại uý Đỗ Văn Giương, Đại đội trưởng ñại đội mai táng, được di chuyển bằng hai chiếc GMC, từ phòng họp đại đội Tổng hành dinh Tổng Tham mưu đến đặt trên hai huyệt đã xây kim tĩnh sẵn tại khu làng Võ Tánh, sau chùa Hưng Quốc Tự, phía đông bắc.
    Khi đó có sự hiện diện của hai ông bà Trần Trung Dung và Linh mục CLAUDE LARRE, Đại diện Toà Khâm mạng Sài Gòn do ông bà Trần Trung Dung mời đến hành lễ từ 20g00 đền 20g50 ngày 8-11-1963 sau khi Linh mục làm lễ xong, hai quan tài được hạ xuồng hai huyệt đã xây kim tĩnh sẵn, với sự hiện diện của:
    - Ông bà Trần Trung Dung
    - Linh mục Claude Larre
    - Uỷ ban kiểm soát
    Tất cả các chi tiết đều chụp ảnh (Trừ lúc chết).
    IV- Huyệt:
    - Huyệt xây kim tĩnh gạch 10, đổ xi măng, sâu 1 thước 30, ngang 1 thước 20, dài 2 thước 50.
    Hai huyệt nằm song song, cách nhau bề ngang 1 thước.
    - Khi hai quan tài hạ xuồng hai huyệt xây kim tĩnh, đổ đầy cát, trên miệng huyệt đậy hai tấm đanh gắn xi măng kỹ.
    V- Mộ:
    - Mộ nằm về phía đông bắc lăng Võ Tánh, mé bên phải mộ ông Lê Văn Phong, bào đệ Tả quân Lê Văn Duyệt.
    Đầu hướng về phía Tây sau chùa Hưng Quốc Tự. Chân đưa về phía đông, khu nhà thờ Phát Diệm.
    - Hai nấm mộ tô đá rửa, trong lòng mộ dưới đổ cát trên để một lớp sỏi trắng. Nền mộ cao 0 thước 40 dưới đổ đá, trên tráng xi măng, chung quanh nền xây bệ cao 1 thước 80. Bốn góc có 4 trụ. Trước mộ có sân tráng xi măng rộng 1 thước 50, có cửa và bậc thang bước vào mộ. Chu vi dài 7 thước, ngang 6 thước.
    - Vòng quanh khu đất mộ nói trên có rào kẽm gai và trụ xi măng, 1 cửa vào, và có đặt thường trực một vọng gác trần.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    chương 10 (f)

    “C’EST COMME ÇA"(23 )

    Đoàn xe dừng ngay ở sân cờ, Đại uý Nhung từ trên chiếc M113 lẹ chân nhảy xuống trước. Lúc ấy Trung tướng Chủ tịch Hội đồng Quân nhân đang đứng trên bao lơn. Nhung chạy theo sau tướng Xuân tiến lên thềm tam cấp của Bộ Tổng Tham mưu. Tướng Minh từ trên cao giơ hai tay, cử chỉ giống như tướng De Gaulle giơ tay lên biểu lộ sự chiến thắng để chào mừng quốc dân. Khi Đại uý Nhung cùng tướng Xuân bước lên bậc thềm Bộ Tổng Tham mưu, một tướng lãnh trông thấy tay áo Nhung dính đầy máu. Ông hất hàm hỏi tướng Xuân "sao vậy" thì tướng Xuân nhún vai và chỉ đáp có vỏn vẹn "C est comme Ça" rồi ông và Nhung lên thẳng lầu để báo cáo tướng Minh công việc mà họ vừa hoàn thành. Mấy tướng lãnh thở dài, quay lưng lên lầu. Một vài tướng lãnh khác và mấy Đại tá kéo nhau xuống sân để coi tử thi. Khi đến nơi, mấy ông đứng khựng lại, rồi ở thế “nghiêm" giơ tay chào từ biệt anh em Tổng thống Diệm. Thiếu tướng Đỗ Mậu vùng vằng nói lớn "Các anh phải chịu trách nhiệm với lịch sử"... Tướng Dương Văn Minh lạnh lùng khẽ nhún vai không nói một câu. Tướng Khiêm sa sầm nét mặt, hiện rõ sự đau thương. Một tướng lãnh khác vào phòng của Tổng Tham mưu trưởng rủ Đại tá Lu Coner ra coi xác chết hai anh em " Diệm Nhu”. Lu Coner lắc đầu : "Tôi ra sao được, nguởi ta sẽ có lý do cho là người Mỹ có dính dáng vô ".
    Xác của hai anh em Tổng thống Diệm được khiêng xuống đặt ngay trên nền đất của sân cờ. Hai anh em ông Diệm nằm chỏng trơ như vậy. Miệng ông Nhu há hốc, mắt nhắm, máu ở miệng trào ra dính hai bên mép và cổ, máu đã trở thành đen. Trời hôm ấy không nắng lắm và nhiều mây, từ lúc ấy sân Bộ Tổng Tham mưu trở nên vắng lặng không một ai được lai vãng trừ một số tướng tá và một số người có phận sự. Người hạ sĩ quan trên chiếc M113 trước khi lên xe rời khỏi sân cờ, ông ta rút chiếc khăn mùi xoa trong túi, phủ lên mặt Tổng thống Diệm. Hai thi thể nằm chơ vơ như thế khá lâu vì Hội đồng Quân nhân chưa có một quyết định nào. Từ cổng Bộ Tổng Tham mưu đã được lệnh canh chừng nghiêm mật nhất là đề phòng các ký giả ngoại quốc.
    Tuy nhiên sau đấy không đầy 1 giờ ngoại giao đoàn cũng như báo chí ngoại quốc tại Sài Gòn đều đã nhận được đầy đủ tin tức về cái chết của hai anh em ông Diệm. Ai giết? Tại sao giết?
    Theo ký giả Robert Shaplen (tác giả cuốn The Lost Revolution) thì có một luận cứ tin được là Nhung đã ra tay hạ sát theo lệnh của tướng Dương Văn Minh. Song rõ rệt nhất là những viên đạn đó đã được chế tạo tại Hoa Kỳ. Nếu Đại uý Nhung cầm súng nảy cò thì ông ta cũng là người thi hành lệnh của thượng cấp. Một Đại uý như Nhung dù là sĩ quan tuỳ viên của Chủ tịch Hội đồng Quân nhân, ông ta cũng chưa thể "điên" đến độ tự mình bắn hai anh em Tổng thống Diệm. Điều này thật giản đơn và rõ rệt. Và những viên đạn này chỉ là kết quả của một âm mưu đã được sửa soạn từ tháng 5-1963 và tiến hành rất tinh tế, vừa có nghệ thuật, thứ nghệ thuật đảo chính mà Đại sứ Cabot Lodge rất am tường. Những viên đạn kết liễu cuộc đời hai anh em ông Diệm và chế độ của ông không phải là những viên đạn đồng đơn giản mang dấu hiệu USA - Những viên đạn đã được đúc rất công phu từ những trục John Kennedy - Cabot Lodge, Cabot Lodge - Hilsman, CIA Smith - Cabot Lodge và cuối cùng Cabot Lodge đại diện cho những cái trục này để giao tiếp với một số trục bản xứ. Có thể mô tả : Cabot Lodge - tướng Khiêm qua trung gian Harkins và Tướng Đôn - Harkins và tướng Kim, Xuân, Minh - Cabot Lodge qua trung gian Smith... Cuộc đảo chính được châm ngòi phải kể đến ngôi thứ nhất Đôn - Harkins. Vì tướng Đôn với tư cách Tổng Tham mưu trưởng nên ông có dịp giao tiếp hàng ngày với các tướng tá Mỹ. Một số tướng tá này trở thành trung gian giữa Cabot Lodge - Đôn và một số tướng lãnh khác.
    Đại sứ Cabot Lodge và những người Hoa Kỳ có hay biết gì trước giải pháp "nhổ cỏ tận gốc" không ?
    Sự thực, thì khi tiếng súng đảo chính bùng nổ, Đại sứ Cabot Lodge đã túc trực tại vân phòng của ông, và theo dõi thường xuyên tin tức "cách mạng".
    Toà Đại sứ Hoa Kỳ và các cơ sở liên hệ như USA, AID sẽ mở rộng cánh cửa để đón tiếp các phần tử thuộc phe đảo chính khi sự mưu đồ bất thành.

    CHẾT CHƯA PHẢI LÀ HẾT
    Khi xác của hai anh em Tổng thống Diệm nằm chơ vơ dưới sân thì các tướng trong Hội đồng quân nhân bắt đầu ngồi vào bàn thảo luận. Theo tướng Đỗ Mậu, không khí lúc ban đầu thật nặng nề, khó thở. Nhiều ông tướng chỉ cúi đầu không nói một câu. Tướng Mậu mô tả : "Tôi theo Tổng thống Diệm từ năm 18 tuổi bao nhiêu tình cảm sâu xa giữa tình thày trò... Thấy xác hai ông tôi không còn khóc được, đau quá - đau đến cùng độ".
    Vấn đề cấp thiết lúc ấy là làm thế nào biện minh về cái chết của hai anh em Tổng thống Diệm đối với bang giao đoàn, dư luận quốc tế và quốc nội. Có lẽ tướng Minh cho đến lúc đó mới nghĩ đến những hậu quả mà ông đã không lường trước. Riêng tướng Kim là người hiểu rõ uy tín của hai anh em ông Diệm trong giới ngoại giao đoàn nhất là toà Khâm sứ và Đại sứ Anh, dù cách nào Đại sứ Lodge cũng phải kiêng nể.
    Tướng Khiêm cũng như tướng Kim là người đã lượng tính trước về uy tín ảnh hưởng của Tổng thống Diệm trong số 2 triệu tín đồ Thiên Chúa giáo. Từ những lượng tính về hậu quả qua nhiều phía do cái chết này sẽ tạo ra và có thể lật ngược thế cờ hay nếu không thì Hội đồng Quân nhân cũng sẽ gặp nhiều khó khăn lớn lao. Do đó Hội đồng Quân nhân hội họp trong một không khí dao động bế tắc, đến lúc này mấy tướng "chủ động" trong việc "thanh toán nhanh, thanh toán lẹ" mới ngỡ ngàng không hiểu nỗi giết một Tổng thống lại gặp nhiều rắc rối, lôi thôi đến như thế. Mặt khác tướng Đính đã làm cho mấy ông trong Hội đồng càng thêm bối rối dao động vì tướng Đính " la hét, chửi thề" tùm lum - "Bây giờ biết làm thế nào". Đường dây điện thoại giữa Hội đồng Quân nhân cách mạng và Đại sứ Cabot Lodge lại hoạt động liên miên.
    Trong khi đó, xác hai anh em Tổng thống Diệm được rời về Bộ chỉ huy thiết giáp trong vòng thành Bộ Tổng Tham mưu. Trên xe có một viên y sĩ Đại uý thuộc bệnh xá Bộ Tổng Tham mưu. Xác không phải chỉ có vết đạn trên đầu mà còn nhiều vết đâm trên ngực. "Có lẽ vì chiếc xe Hồng thập tự đi lắc mạnh nên tôi (lời hạ sĩ Cam) thấy đầu của Tổng thông Diệm nằm trên băng ca cứ lắc lư trông dễ sợ, máu đỏ tươi chảy phọt ra hai bên mép, mặc dầu ông đã chết lạnh khô. Máu ở trên tóc dính bết đổi màu và đã se thâm lại.”
    Cùng lúc đó tướng Đính đưa ra điều kiện: Một là phải chôn cất đàng hoàng, hai là phải làm thông cáo như thế nào nhằm trấn an dư luận. Ông Đính nói : "Chết cha tôi rồi . . . rồi phải ăn nói ra sao đây ".
    Ngay sau khi được tin anh em Tổng thống Diệm bị thảm sát, toà Đại sứ Pháp có thông cáo ngay cho Khâm sứ Toà thánh tại Sài Gòn (vị Khâm sứ lúc ấy là Niên trưởng ngoại giao đoàn). Một viên chức cao cấp của toà Khâm sứ đã điện thoại hỏi Đại sứ Cabot Lodge, không gặp. Nhân viên Tam vụ trả lời rằng Hội đồng Quân nhân cho biết hai anh em Tổng thống Diệm đã tự sát. Vì đó là trọng tội đối với Thượng đế và sẽ mất hết mọi ân phước, nên một người công giáo như ông Diệm thì chuyện này không thể xảy ra.
    Một lát sau, viên Tham vụ này điện thoại cho toà Khâm sứ báo là ông Đại sứ Cabot Lodge cho biết anh em ông Diệm đã chết như trường hợp ngộ nạn. Một Đại uý vô kỷ luật đã bắn ông Diệm. Sau đó Hội đồng quân nhân ra thông cáo là anh em ông Diệm đã tự sát.
    Sau đây chúng tôi ghi lại bản phúc trình của giới hữu trách quân đội mang tên "Tài liệu sơ lược về hai ông Ngô Dình Diệm và Ngô Đình Nhu sau khi chết ngày 2-11-1963 lúc 11g15 đến ngày an táng 8-11-1963 lúc 21g". Nguyên văn
    TÀI LIỆU SƠ LƯỢC VỀ HAI ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NGÔ ĐÌNH NHU SAU KHI CHẾT NGÀY 2-11-1963 LÚC 11G15 ĐẾN NGÀY AN TÁNG 8-11-1963 LÚC 21G 00.
    I, Ngày 2-11-1963 vào lúc 11g15, đoàn xe hộ tống đưa hai xác của ông NGÔ ĐìNH DIỆM và ông NGÔâ ĐÌNH NHU nằm trên hai chiếc brancard để trong chiếc xe M113 vào Bộ Tổng Tham mưu đặt tại sân bộ chỉ huy thiết giáp binh trại Trần Hưng Đạo từ 11g15 đến 17g00. Y sĩ trưởng bệnh xá Tổng hành dinh Tổng Tham mưu đến khám nghiệm tử thi của hai ông Diệm và Nhu và thành lập hồ sơ khai tử do Phòng Tổng quản trị Tổng Tham mưu phụ trách.
    Trong khoảng thời gian kể trên chờ ông bà Trần Trung Dung, cựu Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng, cư ngụ tại số 123 đường Đoàn Thị Điểm Sài Gòn, xin xác hai ông Diệm và Nhu đưa về tư thất.
    Lúc 17g30 ngày 2-11-1963 do Thiếu tá đại đội Tổng hành dinh Tổng Tham mưu đảm nhận việc di chuyển xác của hai ông Diệm và Nhu ra bệnh viện Saint Paul bằng 1 chiếc xe hồng thập tự với hai chiếc quan tài do Thiếu tá đại đội trưởng đại đội Tổng dành dinh Tổng Tham mưu của hãng Tobia, giao lại cho hai ông bà Trần Trung Dung nhờ hãng hòm Tobia lo việc liệm và an táng.
    Khi tẩm liệm xong, hai quan tài để tại một phòng riêng trong nhà xác bệnh viện Saint Paưl thì Trung tướng Tổng trấn đô thành Sài Gòn và Uỷ viên quân vụ thị trấn Sài Gòn theo sự yêu cầu riêng của hai ông bà Trần Trung Dung, sắp đặt tổ chức việc an táng hai ông Diệm và Nhu tại nghĩa trang của người Pháp tại đường Mạc Đĩnh Chi Sài Gòn, vào ngày 3-11-1963 vào khoảng 12g trưa, chôn tại lô đất số 3, nơi đây đã đào sẵn hai huyệt đã xây kim tĩnh.
    Trong khi ông bà Trần Trung Dung nhờ Tổng trấn tổ chức việc mai táng thì học sinh và dân chúng đô thành cũng tổ chức ban chỉ đạo đền nhà xác bệnh viện Saint Paul hoặc đến đất thánh ở đường Mạc Dĩnh Chi để cướp hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu để tế các vị sư đã tử vì đạo cho thoả dạ dân chúng và học sinh.
    II- Vào khoảng 20g00 ngày 2-11-1963, theo yêu cầu của ông bà Trần Trung Dung nhờ Hội đồng Quân nhân cứu nguy và cho gởi hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu sang một bệnh viện của quân đội để tránh sự cướp phá nói trên.
    Lúc 21giờ 00 ngày 2-11, do lệnh của quyền Trung tướng Tổng Tham mưu trưởng bảo liên lạc với ông bà Trần Trung Dung lo việc di chuyển hai quan tài về để một nơi trong Bộ Tổng Tham mưu đồng thời Trung tướng Tổng trấn Sài Gòn ra lệnh huỷ bỏ việc an táng hai ông Diệm và Nhu tại nghĩa trang ở đường Mạc Đĩnh Chi, mặc dầu hai huyệt đã đào và xây kim tĩnh rồi.
    Lợi dụng trong giờ giới nghiêm, đúng 1 giờ 30 ngày 3-11-1963 ông bà Trần Trung Dung viết thư cho Bà Soeur Supérieure Giám đốc bệnh viện Saint Pual nhận lãnh hai quan tài giao lại cho quân đội chở về Bộ Tổng Tham mưu để tại phòng đại đội Tổng hành dinh Tổng Tham mưu, đúng 2 giờ 00 ngày 3-11-1963. Trong thời gian hai quan tài của ông Diệm và ông Nhu để tại Bộ Tổng Tham mưu, việc canh gác được tổ chức cẩn thận.
    Đến ngày 6-11-1963 thì bỗng nhiên chiếc quan tài của ông Anh bị xì hơi bay mùi khó chịu.
    Ngày 7-11-1963, vì nhận thấy tình trạng học sinh và dân chúng Đô thành vẫn còn phẫn nộ không thể an táng hai ông Diệm và Nhu tại Sài Gòn hay đưa về Huế được, phần thì một quan tài đã bị xì hơi hôi thối nên ông bà Trần Trung Dung gửi thư yêu cầu Trung tướng quyền Tổng Tham mưu trưởng cho mượn một khu đất trong trại Trần Hưng Đạo đê tạm an táng hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu trong một thời gian rồi sẽ đem cải táng sau (bản bức thư đính kèm).
    Tiếp theo yêu cầu của hai ông bà Trần Trung Dung đề ngày 7-11-1963, Trung tướng quyền Tổng Tham mưu trưởng chỉ định khoảng đất để tạm an táng hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu tại Bộ Tổng Tham mưu, do sự vụ văn thư số 835/ TTM /VP ngày 7-11- 1963.
    III, Ngày 8-11-1963 đúng 20g00 hai quan tài của hai ông Diệm và Nhu do quân nhân thuộc đại đội mai táng của quân vụ thị trấn Sài Gòn dưới sự chỉ huy của Đại uý Đỗ Văn Giương, Đại đội trưởng ñại đội mai táng, được di chuyển bằng hai chiếc GMC, từ phòng họp đại đội Tổng hành dinh Tổng Tham mưu đến đặt trên hai huyệt đã xây kim tĩnh sẵn tại khu làng Võ Tánh, sau chùa Hưng Quốc Tự, phía đông bắc.
    Khi đó có sự hiện diện của hai ông bà Trần Trung Dung và Linh mục CLAUDE LARRE, Đại diện Toà Khâm mạng Sài Gòn do ông bà Trần Trung Dung mời đến hành lễ từ 20g00 đền 20g50 ngày 8-11-1963 sau khi Linh mục làm lễ xong, hai quan tài được hạ xuồng hai huyệt đã xây kim tĩnh sẵn, với sự hiện diện của:
    - Ông bà Trần Trung Dung
    - Linh mục Claude Larre
    - Uỷ ban kiểm soát
    Tất cả các chi tiết đều chụp ảnh (Trừ lúc chết).
    IV- Huyệt:
    - Huyệt xây kim tĩnh gạch 10, đổ xi măng, sâu 1 thước 30, ngang 1 thước 20, dài 2 thước 50.
    Hai huyệt nằm song song, cách nhau bề ngang 1 thước.
    - Khi hai quan tài hạ xuồng hai huyệt xây kim tĩnh, đổ đầy cát, trên miệng huyệt đậy hai tấm đanh gắn xi măng kỹ.
    V- Mộ:
    - Mộ nằm về phía đông bắc lăng Võ Tánh, mé bên phải mộ ông Lê Văn Phong, bào đệ Tả quân Lê Văn Duyệt.
    Đầu hướng về phía Tây sau chùa Hưng Quốc Tự. Chân đưa về phía đông, khu nhà thờ Phát Diệm.
    - Hai nấm mộ tô đá rửa, trong lòng mộ dưới đổ cát trên để một lớp sỏi trắng. Nền mộ cao 0 thước 40 dưới đổ đá, trên tráng xi măng, chung quanh nền xây bệ cao 1 thước 80. Bốn góc có 4 trụ. Trước mộ có sân tráng xi măng rộng 1 thước 50, có cửa và bậc thang bước vào mộ. Chu vi dài 7 thước, ngang 6 thước.
    - Vòng quanh khu đất mộ nói trên có rào kẽm gai và trụ xi măng, 1 cửa vào, và có đặt thường trực một vọng gác trần.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •