Trang 2 của 11 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 110
  1. #11
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Bí ẩn cái chết của Andropov

    Phương pháp áp dụng đối với Iu. V. Andropov, về thực chất, cần xác định là “cái chết được điều khiển”. Thực chất của việc xảy ra với ông ta chính là đưa cái chết đến vào thời điểm cần thiết: không chậm hơn, cũng không sớm hơn: “... Sự kiện luôn là sự kiện: Andropov đã ít nhiều đã chung sống hòa bình với những bệnh tật của mình trong 20 năm, nhưng chỉ vừa đạt tới mục tiêu mà cả đời ông ta hướng đến - có quyền lực cao nhất - cái chết đã túm lấy ông ta”. Bạn đọc còn nhớ bằng chứng chúng tôi đã đưa ra liên quan đến cái chết của M. A. Xuxlov về việc con người đó từ KGB đi lên ra sao và đã thúc đẩy cái chết của giới thượng lưu cầm quyền thế nào? Sự kiện này cũng giống như vậy về nguyên tắc. Rõ ràng là vẫn một phương pháp đó, người ta đã đưa Iu. V. Andropov tới nhà mồ. (Vẫn còn một câu hỏi liên quan tới những trường hợp này: Trong thực tế, ai là người đã lãnh đạo đất nước và những mối ảnh hưởng: Breznev, Andropov hay là một kẻ chuyên ra lệnh “từ KGB”? Mà từ KGB thì liệu có phải là từ CIA?... Dường như câu hỏi này có vẻ khoa trương, song thực sự lại có tính then chốt)

    Iu. V. Andropov có thể đã tự ký án tử hình cho mình bởi những lời nói thiếu thận trọng. Tại Hội nghị toàn thể của BCHTW ĐCS Liên Xô hồi tháng 6 năm 1983, sau khi ngắt lời K. U. Chernenko, ông ta bất ngờ nói: “Vâng, tiện đây, tôi biết rằng trong phòng họp này có những người cho phép mình thỏa thuận với những kẻ ngoại bang phát triển thông tin không cần thiết và bất lợi đối với chúng ta. Hiện giờ tôi sẽ không nêu tên họ, tự các đồng chí biết tôi nói về người nào. Và cứ để cho họ ghi nhớ rằng đây là lời cảnh báo cuối cùng cho họ”.

    “Lời cảnh báo cuối cùng” đã thực sự là cuối cùng, chỉ có điều nó dành cho chính Iu. V. Andropov.

    Nhân đây bạn đọc nên lưu ý vào thời điểm sau: Liệu Andropov có thể trù tính rằng người ta đã tránh ông ta như tránh một người không cần thiết để vào cương vị tổng bí thư không? Chắc là có. Một con người như ông, theo nhiều đánh giá và mô tả của những người từng chứng kiến, theo những quyết định và thành tựu của ông, thì đó còn lâu mới là kẻ ngốc. Trong trường hợp như vậy, ông có thể trù tính được rằng người ta tránh ông để có lợi cho M. X. Gorbachov. Khi đó lô gic là mối quan hệ giữa họ bị xấu đi: “Gorbachov, sau cái chết của Breznev và việc bầu Andropov làm Tổng bí thư, đã bắt đầu rêu rao khắp nơi rằng ông ta với họ là những người bạn lớn của nhau, các gia đình họ thân thiết với nhau, v.v... Khi biết được tình huống uẩn khúc đó, tôi có thể nói rằng ông ta (Gorbachov) là kẻ đại bịp (Nguyên văn – Bluff kẻ bịa chuyện đề cao mình trước những người khác). Nếu như thời gian đầu, sau chuyến Gorbachov đến Matxcơva, Andropov đã có thái độ xử sự rất đúng mực với ông ta, thì sau đó mối quan hệ giữa họ đã thay đổi đến mức ông không tiếp Gorbachov nữa”.

    Những ngày tháng cuối cùng, Andropov đã mời nhiều thành viên khác trong Bộ Chính trị tới bệnh viện, mà không mời Gorbachov. Chỉ trước khi qua đời ông ta mới tiếp Gorbachov (Từ tháng 12 năm 1983 đến cuối tháng 7 năm 1990 là Bí thư BCHTW ĐCS Liên Xô, ban đầu phụ trách công tác cán bộ, sau là phụ trách những vấn đề tư tưởng, tiếp nữa là phụ trách về nông nghiệp) và Ligachov”.

    Iu. V. Andropov có quan hệ với những kẻ vô liêm sỉ, những kẻ sau khi tiêu diệt ông đã lợi dụng cái chết của ông để thu lợi cho chúng: “Một cán bộ của KGB ở Leningrad trở về Matxcơva sau khi Andropov mất và thông báo: “Trong đám nhân viên của Trường đại học y số 1 có liên quan với Tổng cục 4 của Bộ y tế Liên Xô đang lan truyền những câu chuyện về cái chết bí ẩn của Tổng bí thư BCHTW ĐCS Liên Xô. Theo ý kiến của các chuyên gia, trong trường y có những người ở thời kỳ đầu chữa bệnh cho Andropov đã cố tình dùng phác đồ điều trị sai, hậu quả là đã dẫn tới cái chết đột ngột của ông. Trong giai đoạn điều trị sau này, các chuyên gia đầu ngành của cả nước, mặc dù đã tận tình cứu chữa, song vẫn không thể làm gì hơn được. Những người “từng chữa bệnh” cho Andropov có mối quan hệ với một nhóm (tên gọi bằng mật danh) của một bộ phận cán bộ trong bộ máy của đảng ở Matxcơva - những kẻ đã không vừa ý với những thay đổi và cải cách tích cực do Andropov khởi xướng...”.

  2. #12
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    CHƯƠNG III
    BỘ MÔN NGA TRONG CHÍNH TRỊ HỌC MỸ


    Nếu tôi có tài tiên đoán, và tôi biết mọi bí mật,
    và tôi có đủ tri thức cùng toàn bộ niềm tin thì
    tôi có thể chuyển dịch những quả núi, còn tôi
    không có tình yêu - tôi không là gì cả.


    Thông điệp đầu tiên
    của Thánh Apostol Pavel gửi Korinfiana.

    Cả một hệ thống phức tạp và to lớn đã giết chết Liên Xô. Hệ thống thù địch này bao gồm cả giới lãnh đạo phương Tây, các cơ quan mật vụ của chúng, những tổ chức kiểu hội tam điểm của cả phương Đông và phương Tây, “đội quân thứ 5” ở Liên Xô và ở các nước Đông Âu. Tất cả những thành phần đó đã theo lệnh từ Washington lật đổ chúng ta. Phân hệ “những trung ương thần kinh Mỹ” là một thành tố quan trọng của hệ thống đó. Chúng có nhiệm vụ soạn thảo ra các phương thức và thông tin nhằm bóp ghẹt nước Nga, “loại bỏ chủ nghĩa cộng sản”. Vai trò của phân hệ này lớn đến mức không sao đánh giá hết được. Đồng thời hoạt động của nó cũng bí mật tới mức, về thực chất và do nhiều nguyên nhân khác nhau, cho đến nay vẫn chưa thể phát giác ra được mối liên hệ giữa hoạt động của các tổ chức ở bên kia đại dương với công cuộc cải tổ “của chúng ta”.


    “Những trung ương thần kinh” và các tổ chức Xô viết học Mỹ

    Những tổ chức này đang được nói tới rất nhiều trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta hãy nêu ra đặc điểm đáng chú ý sau.

    Chúng tôi lưu ý tới những tổ chức quốc gia cũng như phi quốc gia đã tham gia soạn thảo các kế hoạch phá hoại Liên Xô và hiện thực hóa chúng trong cuộc sống. Vì vậy, chúng tôi không nhắc lại những gì đã từng được viết trong thời kỳ Xô Viết. Còn trong thời kỳ hậu Xô Viết thì nhiều người đã lãng quên, song vô ích...

    Tổ chức Xô Viết học, hay theo cách gọi khác là Nga học, đầu tiên là “Hội Nghiên cứu Nga” được thành lập từ năm 1913 tại Đức trực thuộc Cơ quan thuộc địa Bộ Ngoại giao. Tổ chức tiếp theo - “Trường phái những nghiên cứu Xlavơ” được thành lập tại Trường đại học tổng hợp Lodon vào năm 1915 và tồn tại cho tới ngày nay. “Phòng thí nghiệm” đầu tiên nghiên cứu về Nga tại Mỹ là “trường phái Rizk” thông qua nhóm các nhà ngoại giao của phòng Lãnh sự tại Latvia trong những năm 1920. Nó được thành lập chủ yếu là nhờ R. Kelli - người đứng đầu Viện Đông Âu của Thượng viện Mỹ. Chính những nhà ngoại giao này tạo nên nòng cốt cho đại sứ quán đầu tiên tại Matxcơva. Vào cuối những năm 1940 những người này có một ảnh hưởng đáng kể trong Thượng viện. Đặc biệt nổi bật là J. Kennan và Ch. Bollen. Người đầu tiên trong họ từng là đại sứ tại Liên Xô, đã có một cái gọi là bức điện báo “dài” nổi tiếng (gần 8.000 từ), trong đó buộc tội Liên Xô bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới (Phụ lục số 1). Trên cơ sở tài liệu này ông ta đã viết bài đăng trên báo “Forin Affis” với bút danh “Mister X”. Trò dấu tên của ông ta đã bị phanh phui, và phía Liên Xô, thấy mình bị xúc phạm, đã từ chối ủy nhiệm (ngoại giao) của J. Kennan. Lúc đó, phía Mỹ không chỉ bị thiếu hụt trầm trọng các chuyên gia phân tính về Liên Xô, thiếu những người có khả năng khái quát tình hình ở Liên Xô và sự tiếp cận của Mỹ với Liên Xô, mà thiếu cả những người giỏi tiếng Nga và có khả năng dịch các tư liệu từ các báo chí của Xô Viết về Mỹ.

    Về sau, số lượng các trung tâm này đã phát triển lên tới vài trăm. Tất cả các trung tâm phân tích đã được dẫn ra trong Phụ lục số 2. Qua những năm “cải tổ” các trung tâm này đã bổ sung đội ngũ của chúng khi Ba Lan rơi vào vòng ảnh hưởng của Mỹ: “Tại Gdanxk (Ba Lan) đã thành lập một trung tâm nghiên cứu có tới 200 người Mỹ trong số 400 nhân viên. Tại trung tâm này, sử dụng kinh nghiệm của Ba Lan, họ đã soạn ra một mô hình “hòa bình” phá hoại hệ thống xã hội chủ nghĩa. (...) Tại Ba Lan họ từng tiến hành thử nghiệm tất cả các phương pháp mà sau này đã làm lung lay Liên Xô: các cuộc bãi công của thợ mỏ, mạng lưới nợ nần phương Tây, liệu pháp sốc, vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng. Tất cả những phương pháp đó đã được thử nghiệm tại Ba Lan. Ngay kẻ hiện nay rất nổi tiếng với chúng ta là Jeffri Saks cũng đã từng tu nghiệp ở trung tâm Gdanxk”. Sau này hắn luôn kề cận bên thủ tướng Ba Lan Balltxerovich. Tiếp sau đó hắn lại chuyển sang Liên Xô làm sư phụ của Gaidar”.

    Tuy nhiên còn một trung tâm rất đặt biệt, rất đáng chú ý – RAND Coporation (Reseach And Development - Nghiệp đoàn Nghiên cứu và Phát triển).

  3. #13
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Trong giai đoạn trước cải tổ, họ đã cho đăng nhiều công trình nghiên cứu Xô Viết học như:

    - Nước Nga ở ngã ba đường: Đại hội XXVI ĐCS Liên Xô. Chủ biên X. Bialer và T. Gustafson. 1981, 223 trang.

    - Perrot B. Sự phát triển thông tin trong khoa học và kỹ thuật Xô Viết. Việc nghiên cứu các kênh phát triển văn bản. 1981, 265 trang.

    - Johnson A. Ấn tượng về chuyến đến Nam Tư “sau Titov”. 1981, 325 trang.

    - Bennigsen A. Liên Xô và cuộc chiến tranh du kích hồi giáo trong những năm 1920 -1981. 1981, 220 trang.

    - Johnson A. Khủng hoảng ở Ba Lan. 1982, 186 trang.

    - Leytes N. Phương thức tiến hành chiến tranh Xô Viết. 1982, 346 trang.

    - Gosmer S. Đường lối Xô Viết và thực tế đối với các vụ xung đột ở “thế giới thứ ba”. 1983, 318 trang.

    - Kurran S., Ponomorioff D. Yếu tố sắc tộc trong Lực lượng vũ trang Nga và Xô Viết. 1983, 204 trang.

    - Winboos S. Những người lính Xô Viết đi từ Trung á tới Afghanistan. 1983, 204 trang.

    - Bruner E. Những khuynh hướng hiện đại của nhân khẩu học và thành phần sắc tộc của những người được gọi nhập ngũ trong những năm 1980 - 1985. 1984, 338 trang.

    - Winboos S, Alekxiev A. Yếu tố sắc tộc trong Lực lượng vũ trang Nga và Xô Viết. 1984, 186 trang.

    Những công trình nghiên cứu không thuộc loại mật được phát hành rộng rãi tại 100 thư viện ở Mỹ và 50 thư viện nước ngoài.

    RAND Coporation thường xuyên tổ chức các hội thảo, hội nghị với sự tham gia của nhiều quan chức chính phủ, các giáo sư, nhà báo,... để thảo luận những vấn đề cấp thiết.

    Nó còn có hai phân viện; thứ nhất là Centrer for Study Soviet international behaviour , RAND - University of California, Los Angeles (Trung tâm nghiên cứu hành vi của Liên Xô ở nước ngoài của RAND Coporation và Trường đại học tổng hợp California, Los Angeles).

    Trước hết, chúng tôi dẫn ra một số thông tin về trung tâm này cho phép giải thích tư duy của chính những thành viên RAND. Và chỉ có thể giải thích từ quan điểm hiểu biết hệ thống. Vấn đề là một hệ thống xã hội phức tạp như một quốc gia hiện đại như thế này thì không thể chỉ dừng lại trong khuôn khổ quốc gia của nó, mà còn được phản ánh vào trong bản đồ chính trị thế giới. Và Liên Xô không phải là ngoại lệ. Tại nhiều nước - tại Đông Nam á và trong “thế giới thứ ba” - “sự hiện diện Xô Viết” đã có một vị thế to lớn tới mức người ta không thể hình dung ra sự phát triển của các nước đó nếu thiếu Liên Xô của chúng ta. Và ngược lại, không thể hình dung về Liên Xô mà lại bỏ qua các quốc gia này. “Sự hiện diện Xô Viết” tựa như là bộ rễ của cái cây có tên gọi là “Liên Xô“. Nếu chặt bỏ được những cái rễ này, thì không cần đốn cái cây. Tất nhiên, tự thân những biện pháp này không bảo đảm cho thành công, song chúng có ý nghĩa to lớn là sẽ tác động tới toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa. Tôi cho rằng chính hình ảnh này đã được trung tâm này xây dựng nên vào năm 1983, mặc dù, theo quan điểm chính thức của Donald Ris - Chủ tịch của RAND Coporation, - tiết lộ, đã có từ trước đó. Theo ông ta, do không đủ chuyên gia về đường lối đối ngoại và đường lối quân sự Xô Viết nên trung tâm buộc phải đào tạo họ. Ngoài ra, tâm điểm chú ý của các chuyên gia trong trung tâm là các mối quan hệ hữu cơ giữa những yếu tố bên trong và bên ngoài của chiến lược Xô Viết.

    Giám đốc trung tâm là Arnold Horelic, trước đó từng làm lãnh đạo Nhóm nghiên cứu Liên Xô và Đông Âu của RAND Coporation. Đồng Giám đốc là Andge Kobonxki.

    Hướng nghiên cứu chính của trung tâm là đào tạo các chuyên gia cao cấp cho bộ máy chính phủ và các phương tiện thông tin đại chúng; đào tạo tiến sĩ nghiên cứu về vai trò của Liên Xô trong nền chính trị thế giới; quan hệ giữa Liên Xô và các nước Đông Âu; nền chính trị - kinh tế đối ngoại Xô Viết; quan hệ Mỹ - Liên Xô; những nhân tố bên trong của nền chính trị đối ngoại Xô Viết; đường lối Xô Viết trong lĩnh vực quốc phòng. Ngoài ra, họ còn nghiên cứu về mối quan hệ giữa đường lối đối nội và đối ngoại Xô Viết. Ngoài ra, trung tâm còn đặc biệt quan tâm tới hoạt động của các Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ Ngoại thương, ủy ban quốc gia về quan hệ kinh tế đối ngoại của Liên Xô.

    Phân viện thứ hai - thủ phủ: RAND Coporation, Washington office.

    Trong phân viện có khoảng 40 chuyên gia khoa học và 40 chuyên gia khoa học - kỹ thuật, được chia thành 4 ban: những vấn đề đối nội; chế tạo tầu thuyền dân sự; an ninh quốc gia (theo kế hoạch của nghị viện); an ninh quốc gia (theo kế hoạch của RAND Coporation)

    Những vấn đề được nghiên cứu ở đây là: bảo đảm hậu cần cho hoạt động của Lực lượng Không quân Mỹ; khoa học ứng dụng và công nghệ; phòng thủ chiến lược và lực lượng vũ trang; nguồn nhân lực; hệ thống thông tin và v.v... Hàng năm phân viện gửi đi hàng trăm báo cáo các loại, văn bản ghi nhớ tới các cơ quan quân sự, các hãng hoặc tới 300 thư viện.

    Ngoài ra, phân viện này còn có một bộ phận khác tại thành phố Dowton (bang Ohio), gần Căn cứ Không quân Right-Patterson.

    ***

    Trong những năm cải tổ mọi người không thể quên RAND Coporation khi mọi sự được bắt đầu từ việc Giám đốc CIA Wiliams Casy “buộc phải thỏa thuận với cựu chủ tịch của RAND Coporation là Henrry Rouen lãnh đạo Hội đồng quốc gia về vấn đề tình báo để tuyển Gerb Maier Tổng biên tập tạp chí “Fortun” làm trợ lý chuyên môn. Còn ông ta, bằng mối quan hệ với Nhà Trắng, thì tuyển nhà kinh tế học Davis Wight, người đã lập ra hệ thống kiểm soát mức ngoại hối cố định vào Liên Xô và qua xuất khẩu. Đó là những chuyên gia phân tích về kinh tế Liên Xô. Tay nghề chuyên môn của những người được Casy tập hợp quanh mình đã nói lên mối quan tâm của ông ta”.

  4. #14
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    22
    Sản phẩm của “Những trung ương thần kinh”: các học thuyết và công nghệ trí lực

    Vậy thì “Những trung ương thần kinh” được thành lập ra để làm gì? Hay nói theo ngôn ngữ của điều khiển học: Chúng có “đầu ra” như thế nào?

    Ngay từ những năm 1950, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã soạn thảo những kế hoạch áp dụng vào phạm vi điều hành của Liên Xô nhằm mục tiêu làm thay đổi chế độ này, hoạch định ra mối quan hệ quốc tế cho phép thực hiện việc can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô và của các nước xã hội chủ nghĩa. Những học thuyết vạch ra những cơ sở cho hành động trong tương lai của Mỹ nhằm vào hệ thống Xô Viết.. Trong số đó, có hiệu lực lớn nhất là Chỉ lệnh N0 20/1 của Hội đồng An ninh quốc gia (NSC) được dẫn ra trong Phụ lục 4.

    Các học thuyết ở giai đoạn hành động của Mỹ đối với Liên Xô được gọi là “Kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”1.

    Mỹ là một đất nước kỳ lạ. Chỉ nó là có nhiều hành động hợp pháp liên quan tới các nước khác, thậm chí liên quan tới vấn đề sống hay chết của các quốc gia này. Chúng ta thường chú ý nhiều tới cái gọi là “Đạo luật về các dân tộc bị áp bức” (P.L. 86-90 được thông qua ngày 9 tháng 7 năm 1959). Văn bản này được Phó giáo sư Lev Dobrianxki Trường đại học tổng hợp Georgetown (Washington) soạn thảo: “Vì bắt đầu từ năm 1918, đường lối xâm lược và đế quốc của chủ nghĩa cộng sản đã dẫn tới việc kết nên một đế chế rộng lớn, gây nên mối đe doạ đặc biệt ác độc đối với nền an ninh của Hoa Kỳ và của tất cả các dân tộc tự do trên thế giới, và...

    Vì đường lối đế quốc của nước Nga cộng sản, bằng con đường xâm lược trực tiếp hay gián tiếp, đều dẫn tới sự bóc lột và tước đi nền độc lập dân tộc của Ba Lan Hungari, Litva, Ucraina, Látvi, Estoni, Belorus, Rumani, Đông Đức, Bungari, Trung Hoa đại lục, Armeni, Azerbaizan, Gruzia, Iden-Uran (vùng Volzxk- Uranxk), Tibeta, Kazaktan, Turkestan, Bắc Việt Nam và của nhiều nước khác,...

    Vì vậy, những dân tộc bị áp bức này trông chờ vào Hoa Kỳ như một thành trì của tự do nhân loại, họ tìm kiếm người chèo lái cho sự nghiệp giải phóng của mình... Chính chúng ta phải bằng con đường chính thức chỉ rõ cho các dân tộc này thấy một sự kiện lịch sử rằng nhân dân Hoa Kỳ đang chia sẻ ý nguyện giành lại tự do và độc lập của họ.

    Tổng thống Hoa Kỳ có toàn quyền và được mọi người đòi hỏi ban hành bản thông báo tuyên bố tuần thứ 3 của tháng 7 năm 1959 là “Tuần lễ của Các dân tộc bị áp bức” và hiệu triệu nhân dân Hoa Kỳ tổ chức kỷ niệm tuần lễ này bằng những lễ nghi và những bài phát biểu, Tổng thống được mọi người yêu cầu hàng năm phải ban hành bản thông báo tương tự như thế cho tới khi nào chưa giành được tự do và độc lập cho tất cả các dân tộc đang bị áp bức trên thế giới... Việc chấp thuận cuộc cách mạng này - một bộ phận của chiến dịch nhằm chống lại chủ nghĩa cộng sản và có mục tiêu giáng một đòn vào những vị trí dễ tổn thương của chủ nghĩa cộng sản - kiểm soát các nhóm dân tộc khác nhau”.

    Sau khi phân tích bài phát biểu của những kẻ theo khuynh hướng phân liệt diễn ra vào giai đoạn tích cực phá tan Liên xô, có thể nhận thấy rằng hầu hết bọn chúng đã hành động dựa trên chính cơ sở “Đạo luật” của một đất nước thù địch với chúng ta này.

    “Học thuyết Giải phóng” hiện thực hay còn gọi là Học thuyết Reagan trực tiếp nhằm đánh bại Liên xô này được các chuyên gia trong các trung ương thần kinh và các tổ chức Xô Viết học có nhiều kinh nghiệm soạn thảo vào đầu thập kỷ 1980. Các nghiên cứu của “Các trung ương thần kinh” “được dựa trên nền tảng của kế hoạch gây mất ổn định cho đối thủ của mình (Liên Xô) do Chính quyền Reagan soạn ra vào đầu thập kỷ 1980 dưới tên gọi “Cho mọi phương hướng của chúng ta”.

    Các động cơ của nó “... được bắt nguồn từ việc Liên Xô, đối với Mỹ, là kẻ cạnh tranh địa chính trị, là vật cản duy nhất trong sự nghiệp thiết lập một trật tự thế giới theo kiểu Mỹ. “Học thuyết” này bào gồm một danh sách dài những tài liệu mật mang một tên gọi chung là “Quyền uỷ trị” và từng được điều chỉnh 4 năm một lần trước khi bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống mới tiếp theo. Vào năm 1980 và năm 1984 nó được chuẩn bị cho Tổng thống Reagan; vào năm 1989 - cho Tổng thống Bush, và sau đó là cho Tổng thống B. Clinton. Reagan - kẻ tuyên bố “cuộc thập tự chinh” chống Liên Xô - đã coi “Quyền uỷ trị” là sách gối đầu giường của mình bởi trong tài liệu này, từ thời đó, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ của Liên Xô đã được các nhà chiến lược Mỹ đánh giá là nguồn tiềm năng bảo đảm sự sống còn cho Mỹ trong tương lai của thế kỷ XXI. Không phải ngẫu nhiên trong các tài liệu hiện nay có dùng phạm trù “Quyền uỷ trị”, và nước Nga đã rơi vào danh mục “Nước có khả năng xuất khẩu tài nguyên đặc biệt”.

    Những kiềm chế liên quan trực tiếp tới Liên Xô và các nước Đông Âu được đề cập trong “Quyền uỷ trị-3”, chúng tôi dẫn ra trong Phụ Lục số 5.

    Những gì liên quan tới kế hoạch này, theo R. Pips công nhận, rằng Reagan đã ký một loạt tài liệu chính trị mật xác định hướng chủ yếu của đường lối Mỹ trong quan hệ với Liên Xô: đẩy đất nước này theo hướng tự do hóa nội bộ. Lời thú nhận này rõ ràng nói tới Chỉ lệnh NSDD-32 (tháng 3 năm 1982) là nhằm “trung lập hoá” ảnh hưởng của Liên Xô tại các nước Đông Âu và trước hết là ở Ba Lan; NSDD-66 (tháng 10 năm 1982) là phá hoại nền kinh tế, trong đó thông qua việc hạ giá nguyên liệu, trước hết là đối với dầu mỏ (thông qua sự ép buộc tương ứng đối với các nước Cận Đông), rút cuộc điều này đã dẫn tới sự giảm sút đáng kể việc chuyển ngoại tệ vào Liên Xô. Trong Chỉ lệnh NSDD-75 (tháng 1 năm 1983) tiếp theo đã được bổ sung là nhằm phá hoại những nền tảng cơ bản của hệ thống Xô Viết; Chỉ lệnh NSDD-166 (tháng 3 năm 1985) đã định hình ra những mục tiêu chủ yếu của cuộc chiến tranh Afghanistan trong bối cảnh chiến lược chung, tăng cường những yếu tố Islam (Hồi giáo), sự phân hoá ở Trung Á, “chế áp” các đơn vị quân đội Xô Viết ở Afghanistan. Những văn bản này không có trong các nguồn công khai, nên chúng tôi chỉ dẫn ra bằng chứng của các nhân vật thạo tin.
    _______________________________________
    1. Xem phần phụ lục của chương: Thông điệp của J. F. Dalles ngày 6/3/1953; tài liệu “Tấn công tâm lý chống Liên Xô. Những mục tiêu và nhiệm vụ”; Chỉ lệnh N0 5412/2 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ; Chỉ lệnh N0 68 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ; kế hoạch “Barbarossa” của Mỹ...

  5. #15
    Ngày tham gia
    Oct 2015
    Bài viết
    1
    NSDD (Chỉ lệnh về bảo vệ an ninh quốc gia) N0 32, tháng 3 năm 1982.

    “... Tổng thống đã ký NSDD Chỉ lệnh về bảo vệ an ninh quốc gia N0 32, phê chuẩn một loạt các biện pháp bí mật về đối ngoại và kinh tế nhằm “trung lập hóa những nỗ lực của Liên Xô để nắm giữ trong tay họ các nước Đông Âu. Trên bình diện thực tế, tại Ba Lan đã tiến hành những chiến dịch nghiêm túc nhất trong số các chiến dịch bí mật được thông qua. Những mục tiêu chủ yếu của Chỉ lệnh số 32 là: gây mất ổn định trong Chính phủ Ba Lan bằng cách thực hiện các chiến dịch bí mật bao gồm tuyên truyền và tổ chức hỗ trợ Công đoàn “Đoàn kết”; thổi phồng vấn đề về nhân quyền, đặc biệt cần liện hệ với tình hình của công nhân và thiên chúa giáo; gây áp lực kinh tế; tiến hành cách ly ngoại giao của chế độ cộng sản. Trong tài liệu nhấn mặnh cần thiết bảo vệ những nỗ lực nhằm thực hiện các cải cách dân chủ trên toàn bộ đế chế Xô Viết, cùng như ra lệnh tăng cường tuyên truyền và các buổi phát thanh bí mật ở Đông Âu. Điều này, theo trợ lý của Reagan và của những kẻ chống đối ở Đông Âu, là đặc biệt có lợi để phá tan quan niệm về khả năng không bị tổn thương của Xô Viết”.

    Chỉ lệnh “đã khuyến nghị “trung lập hóa ảnh hưởng Xô Viết ở Đông Âu và áp dụng các biện pháp bí mật, các phương pháp vững chắc hỗ trợ cho những tổ chức chống Xô Viết. (...) Sau đó vài tuần đã xuất hiện thêm một tài liệu mới do Richard Pips và người được ủy quyền là W. Klarc soạn thảo. Tài liệu này tỏ ra rất cương quyết: “Mục tiêu của Hoa Kỳ - “trung lập hóa những nỗ lực nhằm duy trì quyền lực của Liên Xô tại Đông Âu. (...) - được xem là quan điểm tích cực và đã cắt đứt với quá khứ (nghĩa là, một mặt nó đã hủy bỏ cả Hiệp ước Ialta và Hiệp ước Helsinhky). Ronald Reagan đã thể hiện rõ quan điểm của Hoa Kỳ không chấp nhận ưu thế của Xô Viết ở Đông Âu. Chúng ta cố tạo ra một chiến lược quy mô lớn với mục tiêu làm suy yếu ảnh hưởng Xô Viết, cũng như nhằm củng cố các lực lượng bản địa đang đấu tranh vì tự do ở khu vực này. So với các quốc gia như Bungari, Rumani và Tiệp Khắc, thì Ba Lan đã tạo nên một cơ hội to lớn chống đối chế độ. Điều đó có nghĩa rằng tại các nước còn lại chúng ta cũng tìm được những khả năng để công khai hoặc ngấm ngầm làm suy yếu ảnh hưởng của Matxcơva. (...) “NSDD-32” đã đặt ra một số mục tiêu nguyên tắc như sau:

    - Hỗ trợ bí mật cho hoạt động ngầm nhằm lật đổ chính quyền cộng sản tại khu vực này;

    - Tăng cường chiến tranh tâm lý, trước hết là với sự hỗ trợ của đài phát thanh “Tiếng nói Hoa Kỳ” và “Châu Âu tự do”;

    - Tìm kiếm những phương thức về ngoại giao và thương mại làm suy giảm sự lệ thuộc của Chính phủ Ba Lan đối với Matxcơva”.


    NSDD (Chỉ lệnh về bảo vệ an ninh quốc gia) N0 66, tháng 10 năm 1982.

    “Chỉ lệnh NSC-66 (...) đề xuất các biện pháp phá hoại nền kinh tế Xô Viết. Phương thức chủ yếu ở đây là cấm vận công nghệ, sử dụng cơ chế COCOM để không cho Liên Xô tiếp cận với công nghệ cao mới nhất trong tất cả những phạm vi phụ thuộc Washington và thế giới phương Tây. Làm Liên Xô suy giảm nguồn nguyên liệu, làm mất khả năng phát triển nền công nghiệp chế tạo”; “Ngày 13 tháng 11 (...) Reagan đã ký một tài liệu mật quan trọng nhất trong lịch sử Mỹ có liên quan tới nền kinh tế Liên Xô mang hình thức của chỉ lệnh. “NSDD-66” do Rodger Robinson soạn thảo đã phản ánh một bước ngoặt trong chiến lược của Hoa Kỳ: nó có nghĩa là bác bỏ mọi chế tài cho các phương tiện khác, đồng nghĩa với việc tuyên bố một cuộc chiến tranh kinh tế với Liên Xô. (...). Tài liệu này, khi đi kèm với việc phát triển vũ trang ở Hoa Kỳ, cũng như cùng với sáng kiến phòng thủ chiến lược (SDI) đã đẩy Liên Xô vào chỗ chết. (...)

    “NSDD-66” bao gồm ba vấn đề chính:

    - Mỹ phải đạt được sự đồng ý của các đồng minh châu Âu chỉ dành cho Matxcơva các tín dụng theo định hướng thị trường;

    - Mỹ sẽ không cho phép quân đội và kinh tế Liên Xô tiếp cận với công nghệ phương Tây hiện đại. Hoạt động của COCOM sẽ được mở rộng;

    - Mỹ và các đồng minh sẽ tìm kiếm những nguồn năng lượng để giảm thiểu sự phụ thuộc của châu Âu vào việc cung cấp khi ga thiên nhiên của Liên Xô. Lưu tâm tới giai đoạn quá độ. Việc cung cấp khí ga của Liên Xô vào châu Âu không thể vượt quá 30% nhu cầu (trên thực tế, điều này có nghĩa là tuyến đường ống dẫn khí thứ hai sẽ không được xây dựng và sẽ không ký kết thêm những hợp đồng mới)”.

  6. #16
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    NSDD (Chỉ lệnh về bảo vệ an ninh quốc gia) N0 75, tháng 1 năm 1983.

    Chỉ lệnh NSDD-75, được thông qua vào tháng 1 năm 1983, đã đi xa hơn nữa. Nó đã xem xét tới việc tài trợ bổ sung cho những phong trào đối lập ở các nước phí Đông một khoản 108 triệu USD. Theo lời P. Pips, một tác giả của chỉ lệnh này, “Chỉ lệnh đã định rõ rằng mục tiêu cuối cùng của chúng ta không cùng tồn tại với Liên Xô, mà là thay đổi hệ thống Xô Viết. Về cơ bản, chỉ lệnh khẳng định rằng việc thay đổi hệ thống Xô Viết cùng với sự hỗ trợ của sức ép từ bên ngoài là nằm trong khả năng của chúng ta”. Chỉ lệnh đã định rõ rằng “Mỹ sẽ không tham gia vào việc cải thiện tình hình kinh tế Xô Viết và đồng thời sẽ làm tất cả để ngăn chặn mọi con đường hướng đến mục tiêu đó...”. Sự hỗ trợ trực tiếp của Mỹ đối với nền kinh tế Xô Viết sau khi tan rã đã không có trong chương trình nghị sự, song việc nhấn mạnh “họ sẽ làm tất cả để ngăn chặn mọi con đường” đã có nghĩa là một cuộc chiến tranh kinh tế bí mật. Chủ định là ở việc trông chờ vào sức mạnh của chúng ta và sự yếu đuối của họ. Mà điều đó có nghĩa là trông chờ vào kinh tế và công nghệ” Bộ truởng Quốc phòng Mỹ C. Wintberger nhớ lại.

    “Nó đặt mục tiêu - đạt được “những thay đổi cơ bản trong các quốc gia Đông Âu và các nước khác theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Các phương tiện để đạt được những nhiệm vụ đặt ra được mang chiêu bài “ngoại giao công khai” và “dân chủ”. Những câu nói bóng bẩy không hề gây chút nghi ngờ: về việc tách các nước thuộc hiệp ước Varsava ra khỏi Liên Xô, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Cuba, làm mất ổn định tình hình trong các nước cộng hòa Xô Viết vùng Ban Tích, phá hoại chế độ ở Angola, Mozambik, Nam Iemen, Việt Nam, Etiopia, Lào, Cam-pu-chia, Nicaragua và các nước đang phát triển khác đang mang ảnh hưởng của Kremli. Nhưng đặc biệt chú ý là Ba Lan và Afghanistan. Đó là “những điểm yếu” của Liên Xô như Nhà Trắng tính toán. Chiến thắng của Công đoàn “Đoàn kết” - đó là Cộng hòa nhân dân Ba Lan tách ra khỏi Liên Xô, giáng một đòn mạnh vào Hiệp ước Varsava”.

    “Mỹ đang có một sức mạnh đủ để phá tan Liên Xô. (...) đương nhiên, Mỹ cần phải tập trung tất cả sức lực vào việc làm tan rã Liên Xô. Điều đó có thể dẫn tới việc cải tạo thế giới bằng sức mạnh, cũng như dẫn tới việc toàn cầu hóa phạm vi ảnh hưởng của Mỹ và thiết lập nên sự thống trị của Mỹ đối với thế giới. Định đề chủ yếu của chỉ lệnh là phủ nhận nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình với Liên Xô - nền tảng và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế hiện hành. Mục tiêu chính trị chủ yếu là gây mất ổn định, rút cuộc, tiêu diệt Liên Xô bằng sự hỗ trợ của các chiến dịch phá hoại tập trung và bằng việc tài trợ tiền bạc to lớn cho “đội quân thứ năm”; Theo lời của tác giả R. Pips, “Chỉ lệnh NSDD-75 có nghĩa là đoạn tuyệt với quá khứ. (...) Đây là tài liệu đầu tiên khẳng định rằng vấn đề không chỉ đơn thuần là hệ thống Xô Viết. Chỉ lệnh đã định rõ rằng mục tiêu cuối cùng của chúng ta là không cùng tồn tại với Liên Xô, mà là thay đổi hệ thống Xô Viết hoàn toàn trong khả năng của chúng ta. Mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ là làm tan rã hệ thống Xô Viết thông qua việc tận dụng những yếu điểm bên trong của nó. Những trụ cột cho nền chính trị của hệ thống Xô Viết đã rất yếu và phải chống đỡ nhiều thử thách, nên có thể tin rằng đó là nguyên nhân loại bỏ ảnh hưởng Xô Viết trên trái đất này. (...) Tài liệu mới đã tỏ ra rất toàn diện, nó định ra những phương thuốc chính trị và mục tiêu của nền chính trị Mỹ theo nhiều hướng. “Chúng ta dồn mọi nỗ lực để vạch ra trong “NSDD-75” kế hoạch chính trị liên kết bao trùm hành động trên mọi mặt trận, - John Poindecster, người tham gia soạn thảo tài liệu, nói. - Tôi nghĩ rằng chính đó là một trong những khía cạnh thành công nhất của chính sách này”.

    Tài liệu rất mạch lạc và theo “nguyên tắc công việc”:

    - Mỹ không tán thành những phạm vi ảnh hưởng hiện hành của Liên Xô vượt ra ngoài biên giới quốc gia và sẽ cố gắng giảm thiểu nó;

    - Mỹ sẽ không tham gia vào việc cải thiện tình hình nền kinh tế Xô Viết và đồng thời sẽ làm tất cả để ngăn chặn những con đường hướng tới mục tiêu này (ở phần này tài liệu gợi ra trước hết là công nghệ, tín dụng và ngoại hối có được từ xuất khẩu năng lượng);

    - Mỹ sẽ tìm kiếm mọi khả năng cho phép làm suy giảm mức độ ảnh hưởng của Xô Viết ở nước ngoài.

    Tài liệu này khẳng định rằng chiến lược của Mỹ dựa trên việc tận dụng những điểm yếu của Xô Viết. “NSDD-75” không đặt ra việc chúng ta đối đầu với Liên Xô trong mọi mặt. Nó chỉ dự tính rằng chúng ta sẽ lợi dụng những điểm yếu và tận dụng chúng”.

  7. #17
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    6
    NSDD (Chỉ lệnh về bảo vệ an ninh quốc gia) N0 166, tháng 3 năm 1985.

    “Cùng với các cộng sự của Hội đồng An ninh quốc gia là Vinesent Kannistraro, Donald Farte và ... biên soạn ra tài liệu làm thay đổi về mặt nguyên tắc những mục tiêu của Mỹ trong cuộc chiến tranh này (ở Afghanistan). Chỉ lệnh “NSDD-166” được Tổng thống Reagan ký vào tháng 3 năm 1985 lần đầu tiên đã định ra những mục tiêu chính cho cuộc chiến tranh ở Afghanistan trong bối cảnh chiến lược chung”. (...)

    Chỉ lệnh mới chứa đựng một số thời điểm then chốt.

    Một là, cần phân bổ và cung cấp vũ khí có chất lượng tốt hơn cho Lực lượng Mudzahad. Tăng cường những loại vũ khí mới về công nghệ.

    Hai là, tình báo Mỹ đã nhận được nhiệm vụ thu thập nhiều hơn thông tin về các dự định quân sự của Liên Xô. Đặc biệt chú ý vào các mệnh lệnh quân sự, chiến thuật và cơ cấu quân đội của Liên Xô. Các kế hoạch quân sự và chính trị của ban lãnh đạo cao cấp Xô Viết phải được phân tích và kiểm tra.

    Ba là, đề cao mục tiêu chính trị của cuộc chiến tranh trên trường quốc tế. Với sự hỗ trợ của những tổ chức như Liên Hợp Quốc, Mỹ sẽ tăng cường sức ép tối đa để bóp ghẹt Xô Viết. Cũng để cho họ hiểu rằng việc cải thiện quan hệ với Mỹ có liên quan trực tiếp với việc Liên Xô chiếm đóng Afghanistan.

    Nhưng mục tiêu thực chất của “NSDD-166” là giành chiến thắng, đánh bại hoàn toàn Lực lượng Vũ trang Liên Xô tại Afghanistan (Xem Phụ lục).

    Trước khi nói đến các phương thức được bộ phận chính trị đối ngoại của nghị viện Mỹ sử dụng trong quan hệ đối với Liên Xô vào nửa sau những năm 1980, cần chú ý tới việc chính những quan điểm của chúng ta trong lĩnh vực tư duy và giáo dục thực sự có những khác biệt. Ở Liên Xô, trong quá khứ cũng như hiện nay, trường phái chính trị học thiên về hướng phát hiện sự kiện, mối quan hệ nhân - quả, mặt tích cực và tiêu cực và tính chất kết cấu của chúng. Điều này liên quan đến toàn bộ lĩnh vực giáo dục nhân văn. Ở Anh và Mỹ có phong cách tư duy khác. Họ mạnh hơn trong phân tích và đặc biệt toàn diện. Họ mạnh hơn trong tổng hợp. Thêm vào đó, nếu ở Nga tư duy được thiết lập trong khuôn khổ của toàn bộ hệ thống, thì ở Mỹ họ sẽ xem xét từng hiện tượng, trường hợp riêng lẻ một cách cụ thể hơn. Vì vậy, ví dụ, khi trên báo chí Xô Viết đề cập tới việc lớp người mới lớn và học sinh phổ thông không hề biết tới những sự kiện đơn giản nhất trong Chiến tranh thế giới II (Khi nào? ở đâu? Ai chống ai?...) thì điều đó không có gì là đáng ngạc nhiên: những người này lại biết những thứ khác mà không cần hiểu vẻ bề ngoài, họ có thể nêu ra kết luận ngược với trình tự các sự kiện. Đến khi đó chính anh buộc phải ngạc nhiên: dưới góc độ như vậy thì một hiện tượng đã biết rõ không cần phải xem xét.

    Bây giờ chúng ta chuyển đề tài. Trong khái niệm chung, công nghệ tri thức (Intellectyal Technology -IT) là một tổ hợp các phương thức để thu thập, kiểm chứng, gia công, thay đổi trạng thái, tạo ra khả năng sẵn sàng ứng dụng sản phẩm thông tin. IT được phân biệt theo những phương tiện mà người nghiên cứu dự tính sử dụng. IT thường mang tính chất khoa học và phương pháp luận. IT trước hết là công tác nhằm tập hợp thông tin. Sau đó là kiểm chứng các tin tức đã nhận được, thường là so sánh với thông tin đã có (bằng phương pháp khái quát hoặc nghiên cứu thử nghiệm). Tiếp đến là thiết lập nên mô hình của những hệ thống cùng hướng và chính sự thiết lập có hiệu quả sẽ minh chứng cho tính chất đúng đắn của các quan điểm trước có đó.

    Giai đoạn tiếp theo là phân tích thông tin nhận được. Phân định ra những kết quả cuối cùng và bổ sung phần còn thiếu của thông tin. Sau đó, thông qua những kết quả đã có từ trước, tiến hành thu thập và hợp nhất lần cuối toàn bộ hệ thống thông tin đã có, nghiên cứu môi trường xung quanh. Đây còn gọi là giai đoạn tổng hợp. Trước trường hợp, nếu mọi cách tiến hành trước đó đã được thực hiện đúng, tin cậy thì sẽ xuất hiện khả năng đưa ra dự báo cho tương lai tới. Trong giai đoạn này, mọi thông tin thừa đều bị loại bỏ. Chỉ để lại những thông tin thỏa mãn được cả ba yêu cầu: “Tính hạn chế - Tính chính xác - Tính cục bộ”.

    Thông thường, từ toàn bộ khối lượng thông tin thu nhận và được gia công rút ra thông tin trung hoà về ý nghĩa - thông tin theo yêu cầu. Chính thông tin này được xử lý thích hợp, nghĩa là được phân theo các chủ đề theo tâm lý tiếp nhận của con người, được khẳng định và được trình bày với tư liệu rõ ràng dành cho nhu cầu sử dụng của sau này. Bên cạnh đó, nó tương đối linh hoạt khi cần sử dụng. Đó là một bức tranh khái quát và mỗi IT đều có những sai lệch nhất định so với bức tranh đó.

  8. #18
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    IT - trước hết, đó là công việc của con người, công việc của trí óc. Bởi vậy, ngay cả khi có được kết quả tốt nhất, nó vẫn bị hạn chế bởi giới hạn năng lực. Để tránh những hạn chế đó, thông thường có hai cách: Một là, sử dụng kỹ thuật máy tính; Hai là, thông qua sáng tạo tập thể. Điều này làm cho công việc trở nên dễ dàng hơn, phát huy được năng lực của từng cá thể, xoá bỏ được giới hạn về năng lực của từng người và đạt tới được mức cốt lõi của vấn đề cần giải quyết. Trong công việc của một tập thể lâm thời được lập ra để soạn thảo một tài liệu hay một đề tài, người ta có thể vận dụng những phương pháp sau đây.

    Hệ thống phân tích “Faksens”. “hệ thống này được các chuyên gia của Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA soạn thảo và đưa vào sử dụng năm 1984. Mục đích chủ yếu của nó là thiết lập với sự hỗ trợ của các chương trình máy tính hệ dự báo sự phát triển năng động của lĩnh vực kinh tế và chính trị của các nước khác. Các nhà nghiên cứu trong khuôn khổ của hệ thống này tuyên bố rằng trên cơ sở kinh nghiệm đã nhiều năm sử dụng có thể nói một cách chắc chắn về độ chính xác cao của các dự báo. Cũng theo lời họ, nhờ phương pháp “Faksens” này, từ tháng 5 năm 1991 họ đã dự đoán được cuộc biến loạn tháng 8 (1991, tại Liên Xô). Trong một thời gian dài, hệ thống phương pháp này đã được coi là tuyệt mật.

    Cần nhận thấy rằng tính chuyên nghiệp của các chuyên gia CIA và của nhiều cơ quan khác ở Mỹ là rất cao: trong quá trình giao tiếp họ đã thể hiện rõ sự hiểu biết tinh tế về nền chính trị Nga, điều mà không phải bất cứ nhà báo chuyên phân tích chính trị trong nước cũng có được. Tất nhiên, khi dẫn ra lời mô tả này, chúng tôi cũng đặt nó vào bối cảnh sinh hoạt trước đây của đất nước - hệ thống này được sử dụng vào những năm “cải tổ”.

    “Chính việc này đã gợi chúng ta nhớ tới cái mà giới quan chức và khoa học của chúng ta gọi là “tẩy não”. Trong một diễn đàn, ban đầu mỗi người tham gia đều trình bày lý lẽ của mình về vấn đề đang được đề cập đến, có thể viện dẫn bao nhiêu tuỳ thích, song rốt cuộc quyết định cuối cùng được thông qua bằng biểu quyết nhất trí (Consensus). Phương pháp nghiên cứu, thoạt nhìn không phức tạp lắm: trước hết là xác định đối tượng nghiên cứu. Rốt cục đối tượng đó thường là: Những con đường phát triển nền kinh tế Nga; mối quan hệ giữa trung ương với các địa phương; chính sách của Nga trong quan hệ với Mỹ. Sau đó là lập đội “tuyển cầu thủ” - gồm những người hoặc nhóm người có uy tín trong lĩnh vực cần nghiên cứu. Có khoảng 1/3 trường hợp là thành phần được thay đổi một chút. Điều đương nhiên, “đội trưởng” trong hầu hết các trường hợp là những chính khách hàng đầu. Mỗi cầu thủ được nhận một thang điểm phân loại (từ 1 đến 100) về mức độ ảnh hưởng đối với vấn đề và mức độ am hiểu trong lĩnh vực đó. Sau đó, các cầu thủ được chia theo thang điểm và phân thành 100 đơn vị quan điểm. Đây mới chỉ là sự mô tả ngắn gọn về công nghệ tạo ra bán thành phẩm của chính trị học mà chúng tôi đã từng tham gia. Sau cùng, nhờ máy tính, thành phẩm là những đánh giá thử nghiệm và các biểu đồ chỉ ra vị trí và ảnh hưởng của những cầu thủ trụ cột nhất.

    Phương pháp “Faksens” mang tính chất khép kín, nhưng nền tảng ban đầu của nó cũng tỏ ra khá thô sơ ở chỗ các nhà báo phương Tây thường trú tại Mátxcơva và các nhà Kremli học thường lo đi tìm kiếm sự phân bố lực lượng trong “đội tuyển chính trị Xô Viết”: “hàng chục năm liền, báo chí nước ngoài thường viết về “những sự bí ẩn của Kremli” là ngụ ý nói về quá trình thông qua các quyết định ở cấp lãnh đạo chính trị Xô Viết cao nhất, cũng như về cuộc đấu tranh giữa các bên khác nhau trong quan điểm phát triển, giữa các nhà lãnh đạo chủ chốt có khả năng lên nắm quyền. Nói chung, không có và không thể có điều gì đáng ngạc nhiên trong những bí mật này - trong cả nước, ban lãnh đạo buộc phải phong toả hoạt động của mình để tránh sự tò mò, tọc mạch của báo giới và tránh sự chú ý của đám tình báo chính trị nước ngoài. Hơn nữa, khi cho rằng một nhà báo bình thường không được phép tiếp xúc với thông tin nào đó thì các phương pháp thu thập tin đương nhiên rất sơ lược và chỉ có được bằng con đường gián tiếp: “Các chuyên gia về Liên Xô thường dựa vào quan niệm và dự đoán của mình về Liên Xô thông qua việc bố trí chỗ ngồi của các uỷ viên Bộ Chính trị trên Lăng Lênin”.

    Trong nhiều trường hợp, họ buộc phải sử dụng thông tin không chính thức từ các nguồn không thật thạo tin, thông qua kiểu gián điệp nhị trùng CIA - KGB như Viktor Lui. Xuất phát từ “ cuộc đấu tranh giữa các bên khác nhau trong quan điểm phát triển” mà họ đưa ra kết luận về việc Liên Xô sẽ tiếp tục đi theo con đường nào. Liên Xô đi vào bế tắc... Rằng Phương Tây đang trong thời điểm quyết định hỗ trợ cho những người có năng lực trí tuệ nhưng đang thấp kém hơn những người khác... Về điều này chúng tôi sẽ đề cập sau.

    Ba tuần, sau khi báo “Tin tức” (Ivestia) đăng bức thư phản đối bài báo của chúng tôi. Thư ký tên là Iuri Baturin, người được chúng tôi coi là một nhà phân tích, vào thời điểm đó đang giữ cương vị Trợ lý Tổng thống Liên bang Nga về an ninh quốc gia. “Faksens” đã được đánh giá rất cao: “Thậm chí thông qua những dấu hiệu gián tiếp chứa đựng trong bài đăng trên báo, có thể đánh giá các phẩm chất của “Faksens”.

    Khía cạnh quan trọng đầu tiên của mô hình này được chứa trong các ẩn ý của nó, theo đó hình thức hóa tương ứng sự năng động của các quá trình chính trị được coi là có thể về mặt nguyên tắc. (...)

  9. #19
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Phương pháp “Faksens” thực sự là một phương pháp trình bày, trong đó các thông số tình hình xã hội phản ánh chế độ xã hội, hệ thống chính trị - xã hội được tán xạ qua lăng kính đặc biệt - bằng trí tuệ của các nhà nghiên cứu.

    Cách tiếp cận này, rõ ràng là vô cùng khoa học. Một vấn đề thực tiễn cơ bản trong cách mô tả này là mức độ rộng mở của sự tán xạ bảo đảm điều kiện cần và đủ để xây dựng những dự báo tin cậy. (...)

    Chúng tôi đánh giá cao những phẩm chất của “Faksens”. Trước hết là cách tính toán các quá trình theo 3 nhóm: lĩnh vực kinh tế chủ đạo, khu vực và đường lối. Mỗi nhóm trong lực lượng hoạt động phát triển xã hội đó có khuynh hướng và “sức nặng” của mình.

    Thật dễ hiểu là phương pháp “Faksens” có được môi trường áp dụng rất rộng lớn khi ta xem tới phần được đề cập dưới đây.

    Chỉ số tình cảm của người tiêu dùng (CSI - Consumer Sentiment Index). Chúng ta bắt đầu từ một trích dẫn: “Sau Chiến tranh thế giới II, doanh nghiệp và Chính phủ Mỹ đã quan tâm tới những vấn đề như: dân chúng sẽ làm gì với số tiền của rất lớn đã từng tích lũy được trong thời gian chiến tranh? Họ sẽ dùng cho chi tiêu? Nếu vậy thì họ chi vào việc gì?. Biết được điều này rất quan trọng, bởi trong nền kinh tế thị trường thì mỗi một người tiêu dùng đều là nhân vật chính. Chi phí của người tiêu dùng, ví dụ, ở Mỹ, theo những tính toán khác nhau, luôn chiếm từ 2/3 đến 3/4 GDP. Vì vậy, hành vi tiêu dùng là một nhân tố quan trọng chủ yếu của nền kinh tế. Đây là lý do dẫn đến việc Trường đại học tổng hợp bang Michigan (tại thành phố Ann Arbor) suy tính tới việc nghiên cứu chỉ số có tên gọi là Consumer Sentiment Index (CSI).(...)

    Trên cơ sở phỏng vấn 2 400 người tại 101 điểm của đất nước, được lựa chọn theo vị trí xã hội, giới tính, lứa tuổi sao cho họ đại diện chính xác nhất ý kiến của toàn bộ dân chúng cả nước”

    CSI ở Mỹ được Trung tâm Nghiên cứu các quy luật phản ứng của người tiêu dùng do Ralf Nader sáng lập tiến hành nghiên cứu. Đây có thể được coi là “nhà máy tư duy” đầu tiên phản ánh quyền lợi của người tiêu dùng. Song trên thực tế, nó không phản ánh quyền lợi của người tiêu dùng, mà nói một cách công khai, nó biến những người tiêu dùng thành những con vật có thể điều khiển được. Trong suốt một thời gian dài chúng ta chỉ có một nhà phân tích nổi tiếng là X. E. Kurginian (chúng tôi sẽ nói tới ở phần sau) và ông cũng chỉ có một lần duy nhất đề cập về mối quan hệ giữa mức sống và sự thay đổi chế độ. Nghiên cứu của ông cũng chỉ dưới dạng tư liệu không công khai, sau có đăng một lần và im lặng luôn.

    Cần phải nói rằng bản thân CSI là phương pháp xử lý thông tin, song nói chung, nhờ có hiệu quả dự báo rất đáng kể mà nó đã được ứng dụng vào công nghệ điều khiển học xã hội. Như hiện nay ở Mỹ “... lý thuyết về thảm họa xã hội của dòng luân chuyển ngoại tệ đã xuất hiện và bắt đầu được phân tích kỹ lưỡng. Hầu như ngay lập tức tất cả các công trình về chủ đề này ở phương Tây đã được “đóng kín”, và không mở” đối với chúng ta. Vậy là, để biết về khuynh hướng phát triển của xã hội, thì không cần phỏng vấn nhiều, mà chỉ cần phỏng vấn một số đại diện của dân chúng. Tất nhiên, với điều kiện phải biết ai là người xử lý các số liệu về Liên Xô. Trong khi họ tự thấy là vô cùng thiếu thông tin mà kết quả công việc nghiên cứu của họ vẫn rất cao. Các nhà công nghệ phương Tây đã không đơn độc bởi họ có nguồn cung cấp thông tin về đất nước đang được nghiên cứu.

    Giả sử, “việc giúp đỡ” phương Tây thu thập thông tin về xã hội Xô Viết - xã hội mà “chúng tôi, theo lời của Iu. V. Andropov, cho tới nay còn chưa nghiên cứu được đầy đủ” - từ “phía chúng ta” rõ ràng là có và rất chất lượng. Như chúng ta biết, nơi có thể cung cấp thông tin là: Trung tâm Nghiên cứu dư luận xã hội trực thuộc BCHTW ĐCS Gruzia, Ban Xã hội học hoạt động dưới quyền của Khu ủy Stavropol và Tỉnh ủy Sverdlov. Cũng cần phải nhận thức rằng những cơ quan này thuộc quyền kiểm soát và sự che chắn của những bí thư thứ nhất mà chúng tôi đã từng khắc họa là gián điệp có tầm ảnh hưởng. Cũng cần đặc biệt chú ý tới hành vi của lớp thị dân Matxcơva và Lêningrad - chính những nơi này đã diễn ra rất nhiều sự kiện “cải tổ”. Chính những nơi đây đã tiến hành theo nguyên tắc: các vụ nổi loạn là ở địa phương, còn cách mạng diễn ra tại thủ đô. Chính vì vậy, cả hai thủ đô này cần phải được xem như những hệ thống xã hội riêng và cần có những nhận định riêng. Vào thời điểm đặc biệt, ngay sát trước khi phá hoại, đã có nhiều cuộc thăm dò dư luận được tiến hành thông qua báo chí ở trung ương.

  10. #20
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    CASE-TECHNOLOGY. Công nghệ (CASE - Computer Aided Soffware Engeneering: Hỗ trợ soạn thảo bảo đảm chương trình máy tính hay còn gọi là Computer Aided System Engeneering: Hỗ trợ soạn thảo hệ thống máy tính). Thị trường hiện nay có khoảng 100 sản phẩm CASE. Công nghệ CASE nổi bật bởi khuynh hướng khai thác sau lo gic các quá trình mà nhận thức thông thường chỉ nhìn thấy những phần rời rạc không có gì liên quan với nhau của các hiện tượng. Khi các nhà khoa học chỉ nhận thức được các thành tố, thì, về mặt nguyên tắc, không thể đưa ra kết luận ở dạng một tổng thể thống nhất. Các chuyên gia sử dụng Công nghệ CASE không chỉ nhận thức được các quá trình khác nhau theo mẫu chuẩn, mà còn có khả năng đi tới mẫu số chung.

    Ví dụ, một trong những hệ thống phương pháp đơn giản nhất và thông dụng nhất là IDEFO - hệ thống phương pháp thiết lập mô hinh chức năng (hoạt động) của hệ thống và môi trường sản xuất. Nó được dựa trên cơ sở của phương pháp kập kế hoạch chức năng SADT do các nhà khoa học Nga tìm ra vào giữa những năm 1970. Từ đó đến nay, các nhà phân tích hệ thống của toàn thế giới luôn sử dụng các tiếp cận này để soạn thảo các chương trình máy tính kế hoạch chiến lược, soạn thảo chương trình bảo đảm hệ thống phòng thủ, điều hành các nguồn lực. Trong khuôn khổ chương trình chuyên dụng, các phương pháp SADT đã được chuẩn hóa, và sau này được gọi là hệ thống phương pháp IDEFO. Từ năm 1981 Lực lượng Không quân Mỹ đã yêu cầu tất cả các hãng cạnh tranh để ký các hợp đồng phải thể hiện và lập cơ sở đề nghị của mình bằng thuật ngữ IDEFO. Điều đó dẫn tới việc, nhờ sự hỗ trợ của hệ thống phương pháp này người ta dễ dàng mô tả sự điều hành, mối liên hệ ngược và cơ chế thi hành. Kết cấu cơ bản của mô hình IDEFO là khối (Blok) chức năng. Trong cơ sở của hệ thống phương pháp có những nguyên tắc như: Khối chức năng chuyển đổi các đầu vào thành các đầu ra; sự điều khiển xác định khi có thể có các chuyển đổi đó hoặc khi chuyển đổi đó xảy ra; cơ chế thực hiện trực tiếp sự chuyển đổi đó. Tóm lại, mô hình IDEFO không chỉ là một biểu đồ thuần túy. Đó là biểu đồ được định sẵn thể hiện đầu vào - ra của chuyển đổi, đồng thời cho biết nguyên tắc của các chuyển đổi đó.

    Hệ phương pháp IDEF1X - một trong những quan điểm mô hình hóa ngữ nghĩa các số liệu dựa trên công thức Entity Relationship (ER - quan hệ giữa những bản chất hoặc là các đặc tính của những bản chất). Một trong những thành tố quan trọng nhất là mối quan hệ “nhiều yếu tố với nhiều yếu tố” khắc họa mối quan hệ giữa hai nội dung cơ bản, trong đó mỗi thành tố của bản chất thứ nhất được liên hệ với số lượng bất kỳ của những thành tố thuộc bản chất thứ hai, đồng thời mỗi thành tố của bản chất thứ hai lại có liên hệ với số lượng bất kỳ của những thành tố thuộc bản chất thứ nhất. Cách tiếp cận như thế cho phép chi tiết hóa mọi phân tích đến mức tất cả những hình thái quan hệ phức tạp vô cùng kiểu “nhiều yếu tố với nhiều yếu tố” đều được phát hiện ra và được thay thế bằng vô số các quan hệ đơn giản tương ứng.

    Quan điểm lịch sử ngược. Trong cuốn Kinh thánh Ekkleziat có nói: “Cái gì đã có thì sẽ có; và cái gì đã được làm thì sẽ được làm, mà không có gì mới dưới mặt trời. Chẳng là gì điều người ta thường nói: “Nhìn kìa, đó là cái mới”; song ngay cả cái mới đó đã từng có từ xa xưa, có trước cả chúng ta”. Phương pháp mới của chúng ta dựa trên chính những lời hàm chứa tính chu kỳ và tính lặp của các quá trình này.

    Một bộ phận lịch sử của ngành Xô Viết học đã có được vị trí đặc biệt của nó không đơn giản vì Richard Pips - nhà Xô Viết học của Reagan - là chuyên gia về lịch sử Nga và chuyên gia thực sự về lịch sử cách mạng. Tờ Post Factum đã nhận xét rằng “...những nghiên cứu nghiêm túc nhất của nhân dân Nga đã được chính những kẻ thù của Liên Xô thực hiện, trong đó có R. Pips - cố vấn của Reagan về Nga . Điều này thật dễ hiểu, bởi để quật ngã đối thủ cần hiểu rõ tính cách thực sự của nó, chứ không phải tính cách được bịa đặt. Không nên đánh giá quá cao cũng như quá thấp kẻ thù”. Nếu phương pháp được đưa ra thực sự có vai trò trong chất lượng “xác địnhthứ tự của các sự kiện lịch sử”, thì khi đó nhân tố của Pips sẽ có được ý nghĩa quyết định, hoặc đánh giá không đầy đủ phương pháp này, nhắm mắt làm ngơ đối với nó thì cũng có nghĩa là đã không tiếp thu đầy đủ toàn bộ tính hệ thống của các quá trình nói chung.

    Cần phải nói rằng các quá trình lịch sử cụ thể luôn là sự kết hợp (trộn lẫn) hai mặt của quá trình: Một là, tự phát, nghĩa là không được lập thành kế hoạch và không điều khiển được; Hai là, tự giác - có ý thức, nghĩa là có kế hoạch và có khả năng điều khiển được.

    Trong mô tả khoa học các dạng quá trình được đề cập đến đòi hỏi phải có những hệ thống khái niệm và khẳng định khác nhau của phương pháp luận khoa học. Những quá trình tự phát (lịch sử tự nhiên) được mô tả bằng những khái niệm và khẳng định của biện chứng. Để mô tả khoa học những quá trình tự giác - có ý thức lại cần một bộ máy phương pháp luận khác. Ở đây cần biết thế nào là những kế hoạch (dự án) xã hội; chúng được hình thành vì sao và như thế nào; cách hiện thực hóa thế nào; thế nào là điều khiển xã hội đối với con người; nó được thực hiện bằng những phương tiện nào và theo những nguyên tắc nào”.

    Không có được thông tin cụ thể từ những kẻ đã suy tính và đã thực thi “cải tổ” ở bất cứ hình thức nào và với sự hỗ trợ của bất cứ phương tiện nào, thì những kiến giải của chúng ta vẫn chủ yếu là “nghi ngờ”. Vậy chúng tôi có quyền “nghi ngờ” không? Điều đó do bạn đọc đánh giá, chúng tôi chỉ nêu lại trình tự các sự kiện đã được biết.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •