Trang 3 của 11 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 110
  1. #21
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    14
    Quá khứ xa xưa

    1- Đầu thế kỷ. Có một cuộc chiến tranh lớn (so với thời đó) về quy mô và tổn thất. Một cuộc chiến tranh xuyên lục địa, cuộc chiến tranh đầu tiên của động cơ, cuộc chiến tranh của hàng triệu con người. Sau này người đời gọi nó là Chiến tranh đế quốc, Chiến tranh thế giới I, nhưng ở Nga vào năm 1914 người ta gọi nó là Chiến tranh vệ quốc.

    2- Cuộc chiến tranh đó chưa kịp kết thúc, thì đã xảy ra một sự kiện lớn - Cuộc Cách mạng Tháng Hai và việc lật đổ Nga hoàng.

    3- Sau Cuộc Cách mạng Tháng Hai đã diễn ra một sự kiện có ý nghĩa nhất của năm 1917 - đó là cuộc bạo động tháng bảy của những người Bônxevich. Thất bại của những người cực tả, đảng do Lênin lãnh đạo lùi vào bí mật, đồng thời Chính phủ của Quận vương Liev về vườn - đó là những sự kiện của thời điểm này. Sự khủng hoảng chính quyền đã dẫn tới việc Chính phủ của A. F. Kerenxki lên nắm quyền, và con lắc đã dao động từ nguy cơ của nhóm cánh tả Bônxevich sang một cực khác - quân phiệt cực hữu. Tiếp theo là một khủng hoảng mới trong chính phủ.

    4- Trường hợp tiếp theo trong chuỗi bất tận của những lộn xộn thường xuyên của năm đó, khác với những sự kiện khác, đã ghi lại dấu ấn rất mờ nhạt trong sử sách. Nó không có ý nghĩa gì thật sự lớn cho ngày hôm nay. Song vào thời điểm đó, nó đã từng có một ảnh hưởng nổi danh: cái gọi là “Hội đồng 5 vị” (Direktoria - một tổ chức điều hành quốc gia gồm 5 bộ trưởng do A. F. Kerenxki cầm đầu từ 1 đến 25 tháng 9 năm 1917. ND). Công việc đầu tiên của họ đã làm thay đổi định chế của nước Nga (ngày 1 tháng 9 đã tuyên bố Nga là nước cộng hòa... ND).

    5- Nên gọi thế nào về việc diễn ra sau đây trong năm đó: Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại, hay là cuộc đảo chính của Bônxevich, hay là gì khác. Song sự kiện vẫn là sự kiện: nhờ sự kiện này mà những người Bônxevich đã lên nắm chính quyền trong suốt thời gian dài.

    6- Giải tán Quốc hội lập hiến. Sát hại hai đại biểu của tổ chức này và bắn vào cuộc diễu hành hòa bình.

    7- Đáp lại, trong nước bùng lên nội chiến, thêm vào đó là sự can thiệp của nước ngoài. Dưới thời Xô Viết, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định một chiều rằng cuộc nội chiến này là do bọn bóc lột cũ, do không chịu chấp nhận việc chúng bị mất ruộng đất và nhà máy, gây ra. Nhiều nhà nghiên cứu mới đây cũng khẳng định điều tương tự, nhưng theo hướng ngược lại: chiến tranh nổ ra là do chính phủ tam hoàng của Xô Viết dân ủy. Thật khó tin là một chính phủ, để giành được chính quyền, lại tự đặt bom vào chính quyền lực đó và phải gây nên chiến tranh. V. I. Lênin không làm như thế.

    8- Sau khi chiến tranh kết thúc, Chính sách kinh tế mới (NEP) được công bố.

    9- Cái chết của nhà lãnh đạo cộng sản đầu tiên V. I. Lênin - đó là trang cuối trong biên niên sự kiện đầu thế kỷ của chúng tôi.

    ***

    Cái chết của Ioxif Vissarionovich Xtalin, mà chúng tôi đã viết như một sự kiện bước ngoặt ở Liên Xô, đã lật lại toàn bộ lịch sử phát triển của hệ thống quốc gia. Đường xoáy ốc của lịch sử đã hết tầm và bắt đầu quay theo chiều ngược lại. Các sự kiện diễn ra theo khuynh hướng ly tâm, tàn phá - đây là vấn đề hiện nay chúng ta đang nghiên cứu. Các sự kiện đang diễn ra vào cuối thế kỷ này hệt như những gì ở đầu thế kỷ, song theo một trình tự ngược lại. Những gì mà đầu thế kỷ là sáng tạo, thì vào cuối thế kỷ đang được phá tán. Mười năm đầu của thế kỷ XX đã được chúng tôi cố gắng nghiên cứu một cách chi tiết trong phần đầu, còn bây giờ là sự phản ánh về mười năm cuối của thế kỷ XX. Tôi không biết bản chất của nó phải chăng là phá hoại hệ thống cần phải theo trình tự ngược lại những gì mà nó được xây nên không, hay tự thân tính chất của các sự kiện chỉ tình cờ là như vậy. Để làm rõ nghiên cứu của mình, chúng tôi dẫn ra “cách tính ngược” các sự kiện đó.


    Quá khứ gần

    9- Bắt đầu từ việc thủ lĩnh cộng sản cuối cùng lên nắm quyền - Mikhain. X. Gorbachov. Có điều gì đó thần bí và không hoàn toàn tốt ngay từ khi bắt đầu sự kiện này. Vấn đề là, người đầu tiên và cũng là người cuối cùng của dòng họ Romanov (Nga hoàng) có tên gọi là Mikhain. Nicolai II, người đã từng nắm quyền lực của đế chế trong suốt 23 năm cuối cùng, chưa phải là hoàng đế cuối cùng. Vào tháng 2, ông ta đã trao toàn quyền của mình cho người em trai là Mikhain. Song người này đã nhất định từ chối nên không được coi là người kế vị. Xét về phạm trù hình thức, có thể khẳng định rằng đó là vị nga hoàng hợp pháp cuối cùng - Romanov Mikhain Elecxandrovich. Ba ngày sau khi ông ta từ chối, chính quyền đã thuộc về tay của ủy ban lâm thời. Ông ta được xếp vào số những đại biểu cấp tiến nhất trong Duma quốc gia thứ tư. Vị chủ tịch của hai tổ chức là Rodzianko cũng có tên gọi Mikhain. Điều kỳ lạ là vào năm V. I. Ulianov (Lênin) mất, ông ta tròn tuổi 54. Sau 13 ngày, khi Mikhain. X. Gorbachov cũng tròn tuổi 54, người tiền nhiệm của ông ta chết. Vậy là, trong cách tính ngược của chúng tôi, cái chết của người lãnh đạo cộng sản đầu tiên đã đặt nấc thang lên nắm quyền lực của Mikhain. X. Gorbachov, kẻ lãnh đạo cuối cùng trong khuôn khổ của hình thái cộng sản.

    8- Một trong những hành động đầu tiên của ông ta là ban hành Đạo luật về Hoạt động lao động cá thể (19 tháng 11 năm 1986) và Đạo luật về Phong trào hợp tác (26 tháng 5 năm 1988) - trong một cách nhận thức khác về quá khứ, nó trùng hợp cả về tính chất và phương hướng hoạt động với việc thông qua NEP.

    7- Mùa hè năm 1988, trong đất nước không còn to lớn của chúng ta đã nổ ra cảnh nồi da xáo thịt tại Kavkaz. Khởi nguồn xung đột của điểm nóng đầu tiên này là do quyết định của Xô Viết tối cao của vùng tự trị Nagornyi - Karabakhxk về việc sáp nhập nó vào Armeni. Đây cũng là một sự trùng hợp với lịch sử của chúng ta.

    6- “Cải cách” chính trị của Gorbachov với sự kiện chủ yếu là triệu tập Đại hội dân biểu - đây là bước cuối được mô tả rất trùng hợp với cuộc họp duy nhất của Quốc hội lập hiến.

    5- Vở kịch mang tên “Bạo loạn” - đây là sự bắt chước đáng thương của cuộc cách mạng này. Rất có thể sẽ có lúc nó cũng được gọi là vĩ đại.

    4- Thất bại của Liên Xô, đỉnh cao của nó là âm mưu Belovezxk

    3- Những sự kiện trong tháng 10 năm 1993 - được phản ánh ở vụ bắn vào đoàn biểu tình của những người Bônxevich. Dù sao, đây cũng là một âm mưu đảo chính yếu đuối, không chuyên nghiệp.

    2- Sau tháng 10 năm 1993, các Xô Viết bị giải tán, kể cả những Xô Viết có thái độ trung lập đối với vụ va chạm ở Matxcơva. Hiến pháp mới được công bố, về mặt pháp lý đã đưa tổng thống đất nước thành một Nga hoàng mới - Nga hoàng Boris (Eltxin).

    1- Một năm sau – cuộc chiến ở Chesnia mở màn (tháng 12 năm 1994) và kéo dai không dứt. Mọi sự ở đó vẫn như trước đây.

  2. #22
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Phụ lục chương III.

    Thông điệp của J. F. Dalles ngày 6/3/1953.

    “Mục tiêu chủ yếu của chúng ta vẫn là gieo rắc thái độ nghi ngờ, bối rối, thiếu tin tưởng đối với chế độ mới trong những quan chức cầm quyền, trong dân chúng ở Liên Xô và ở các nước vệ tinh, trong số các đảng cộng sản nằm ngoài biên giới Liên Xô“.

    Tài liệu "Tấn công tâm lý chống Liên Xô. Những mục tiêu và nhiệm vụ", đề ngày 10/4/1951, được giải mật vào năm 1976.

    “Khi xác định những mục tiêu và nhiệm vụ này, đương nhiên, cần chỉ ra cho nhân dân Liên Xô rằng chỉ có một con đường duy nhất đối với chế độ hiện hành. Hoa Kỳ không có nghĩa vụ chỉ ra một cách cụ thể. Do đó, chúng ta sẽ không đưa ra những khuyến nghị cụ thể về các vấn đề như: tập thể hóa, bầu cử dân chủ, v.v... mà không có được những chỉ dẫn chính trị đặc biệt đối với điều này. Tuy nhiên, trong toàn bộ sự tuyên truyền của chúng ta, cần ngụ ý rằng cách giải quyết nằm trong việc khôi phục quyền con người vốn đã từng là di sản của dân tộc Nga...

    Cần khoét sâu sự ngăn cách vốn có giữa nhân dân Xô Viết với Chính phủ của họ...

    Cảnh báo là nhiệm vụ dễ thực hiện nhất. Song đừng quá nhiệt thành. Điều đó có nghĩa là nên gợi lên cảm nhận về sự bạo ngược ở những người vồn từng quen bị ngược đãi và chưa bao giờ nhìn thấy được điều gì xa hơn cái mũi của mình.

    Nhiệm vụ số 1. Phát hiện và phát triển những giá trị tinh thần, những quan điểm thẩm mỹ và đạo đức của nhân dân Liên Xô, đặc biệt là của nhân dân Nga, đồng thời tạo ra sự đồng nhất những giá trị đó với những giá trị của thế giới tự do. Chủ đề dự kiến là:

    a/ Tính chân thành, sự đồng cảm, lòng nhân hậu, tình cảm đối với gia đình, thái độ mến khách - đó là một số giá trị đáng quý của nhân dân Nga. Tất cả những giá trị đó phát sinh từ đời sống tinh thần của họ. Đó là tài sản chung với các dân tộc của thế giới tự do, nhưng lại đang bị Chính phủ Liên Xô khinh miệt.

    b/ Những đống góp lịch sử của nhân dân Nga trong các lĩnh vực sáng tạo khác nhau của thế giới tự do, như: triết học, nghệ thuật và khoa học - luôn được công nhận và tôn trọng.

    c/ Việc nghiên cứu văn học Nga cổ điển, triết học chính trị và thẩm mỹ học cho thấy: nước Nga đã tách xa và đang chịu ảnh hưởng của những lực lượng văn hóa, xã hội sáng tạo mà phương Tây đã phát triển. Những lý tưởng thẩm mỹ và chính trị của nhân dân Nga, về cơ bản, cũng như của phương Tây, hoặc chúng cũng xuất hiện từ cùng những cội nguồn tinh thần như vậy, tuy đã bị biến đổi dưới chế độ quốc gia cộng sản, nhưng chưa bị diệt vong. Cảnh báo. Chúng ta không cần phải thái quá khi nói về ảnh hưởng phương Tây và đừng tạo ra ấn tượng cách biệt.

    d/ Gia đình Nga dựa trên nền tảng của tình yêu, thái độ tin cậy, giúp đỡ lẫn nhau và sự tôn trọng lợi ích của những thành viên khác. Đó cũng là những giá trị chung với thế giới tự do.

    e/ Những mục tiêu để người Xô Viết chiến đấu trong những năm cách mạng - hòa bình, tự do và cuộc sống tốt đẹp cho tất cả mọi người - cũng là quan điểm cơ bản chung với thế giới tự do. Những quan điểm đó đang hàng ngày hàng giờ được thực hiện trong đời sống chính trị của thế giới tự do.

    g/ Làm cho nhân dân Nga tin rằng thế giới tự do không hề ấp ủy bất kỳ một âm mưu nào chống lại họ hay chống lại đất nước họ; rằng thế giới tự do chỉ dành cho họ những tự do và thịnh vượng trong một thế giới hợp tác và hữu nghị.

    * Mỹ yêu chuộng hòa bình, tôn trọng chủ quyền và nền độc lập của các dân tộc và các quốc gia;

    * Người Mỹ đang chỉ ra sự khác biệt giữa nhân dân Liên Xô với Chính phủ của họ;

    * Mỹ không bao giờ gây chiến tranh với Nga;

    * Mỹ từng giúp nhân dân Liên Xô trong chiến tranh thế giới II, ngay từ trước khi Mỹ bước vào cuộc chiến chống Đức;

    * Mỹ đã tiếp tục giúp nhân dân Liên Xô cả khi chiến tranh thế giới II đã kết thúc (Chương trình ARA - American Relife Administration - Hỗ trợ của chính quyền Mỹ nhằm khôi phục đời sống những năm 1919 - 1923);

    * Người Mỹ đã cung cấp kiến thức và kinh nghiệm của mình cho việc xây dựng ngành công nghiệp ở Liên Xô;

    * Tình yêu đối với kỹ thuật và khoa học trong đời sống hàng ngày là điểm chung của các dân tộc ở Liên Xô và ở Mỹ;

    * Cả hai đất nước đều vĩ đại và chúng ta đang xây dựng những kế hoạch vĩ đại;

    * Chúng ta có tinh thần chung của những người đi tiên phong;

    * ở Mỹ có hàng nghìn người gốc Nga và Ucraina đang sinh sống. Họ đang thực sự có ảnh hưởng đối với sinh hoạt ở Mỹ;

    * Âm nhạc dân tộc Nga và Ucraina rất phổ biến ở Mỹ và trong thế giới tự do; tất cả các trường đại học lớn đều nghiên cứu văn học Nga;

    * Các dân tộc của Mỹ và của thế giới tự do đều biết đến lòng quả cảm, nhiệt tình và những khát vọng của những người Xô Viết; nhiều người Mỹ đã công khai bày tỏ sự ngượng mộ những phẩm chất đó;

    * Mỹ đang giúp mọi dân tộc ở bất kỳ đêu nếu có thể, không phụ thuộc vào việc các dân tộc đó có đồng tình với đường lối của Mỹ hay không;

    * Trong nhà hát Mỹ, mọi người luôn học tập hệ thống của Stanixlavxki (Nhạc sĩ Nga thời Xô Viết) và không hề làm bất cứ điều gì để che dấu nguồn gốc Nga của nó;

    * Văn học Mỹ và văn học phương Tây khác hiện có mặt ở Liên Xô đang tạo ra quan niệm về bản chất Mỹ và thế giới tự do, về những lý tưởng cơ bản mà chúng ta chia sẻ với nhân dân Liên Xô, thông qua các nhà văn Mỹ, như: John Ernest Steinbeck (1902 - 1968), Epton Bill Sinclair (1878 - 1968), Mark Twain (1835 - 1910), J. London (1876 - 1916), Charls Dickens, v.v... Cho dù một số sách trong đó đi theo khuynh hướng “chống đối xã hội”, chúng vẫn cho thấy niềm tin dân chủ vào tiến bộ xã hội trong thực tiễn;

    Trong “Những khuyến nghị cấp bách do Cục “Chiến tranh tâm lý” CIA soạn thảo từ năm 1953, ngay sau khi I. V. Xtalin qua đời, có đoạn: “Nếu như mục tiêu của Mỹ là hành động sao cho trong các thành từ giành được có những thay đổi trong nội bộ Liên Xô có lợi cho Mỹ, để Mỹ không cần thiết phải áp dụng những hành động đe dọa”.

  3. #23
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Chỉ lệnh N0 5412/2 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ.

    “Thiết lập và tận dụng những tình huống xung đột đối với chủ nghĩa cộng sản quốc tế, làm suy yếu mối quan hệ giữa Liên Xô và nước Trung Hoa cộng sản, giữa hai nước đó với các nước chư hầu của chúng... Chống lại mọi đe dọa từ phía đảng hoặc từ nhóm các nhân vật đang trực tiếp hoặc gián tiếp chịu sự kiểm soát của những kẻ cộng sản, nếu họ bắt đầu giữ vai trò chính trị quyết định ở bất kỳ nước nào trong thế giới tự do, ở những khu vực đang bị kiểm soát hoặc đang bị đe dọa từ phía chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Đẩy mạnh cuộc kháng chiến bí mật, hỗ trợ cho những phong trào khởi nghĩa và phong trào bí mật”.

    (N. V. Zagladin. Lịch sử những thành công và thất bại của nền ngoại giao Xô Viết, Nxb. Quan hệ quốc tế, Matxcơva, 1990, tr. 185 - 186.)



    Chỉ lệnh N0 68 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ. Được trình lên Tổng thống Truman ngày 7/4/1950 và được phê chuẩn ngày 30/9/1950: “Chúng ta (Mỹ) cần tiến hành cuộc chiến tranh tâm lý công khai nhằm mục đích khơi nên cuộc tạo phản của quần chúng đối với Xô Viết... Gieo rắc những hạt giống phá hoại từ trong lòng hệ thống Xô Viết để buộc Kremli... thay đổi đường lối của nó... Song nếu thiếu sự hỗ trợ quân sự vượt quá mức hiện có và dễ dàng được huy động thì Chính sách “Kiềm chế” - về bản chất, là chính sách cưỡng bức từ từ, có tính toán - chỉ còn là lời nói suông (Blah). Chúng ta cần tiến hành một cuộc chiến tranh tâm lý công khai với mục đích khơi dậy sự tạo phản của quần chúng đối với Xô Viết và phá tan những âm mưu khác của Kremli. Tăng cường những biện pháp và chiến dịch cấp bách, tích cực bằng những phương thức bí mật trong lĩnh vực chiến tranh tâm lý, chính trị và kinh tế với mục đích phát động và hỗ trợ những cuộc đình công và nổi dậy tại những nước chư hầu được coi là chiến lược.

    Mục tiêu của xã hội tự do được xác định bởi những giá trị cơ bản của nó và sự cần thiết duy trì môi trường vật chất để thịnh vượng...

    1- Chúng ta cần tỏ ra mạnh mẽ trong việc khẳng định những giá trị của chúng ta trong đời sống dân tộc của chúng ta và trong sự phát triển tiềm lực kinh tế, quân sự của chúng ta.

    2- Chúng ta cần lãnh đạo việc xây dựng một hệ thống kinh tế và chính trị của thế giới tự do hoạt động có hiệu quả...

    3- Nhưng, thông qua việc khẳng định những giá trị của chúng ta, chính sách và hành động của chúng ta phải như thế nào để khích lệ những thay đổi cơ bản trong tính chất của hệ thống Xô Viết, phá tan các âm mưu của Kremli - đó là bước tiến hàng đầu quan trọng nhất đi tới những thay đổi đó. Rõ ràng rằng nó kinh tế nhất, song cũng hiệu quả nhất nếu những thay đổi đó xuất hiện ở mức độ tối đa do kết quả hành động của các lực lượng bên trong xã hội Xô Viết...

    Việc phá tan những âm mưu của Kremli bằng cách tăng dần sức mạnh vật chất và tinh thần của thế giới tự do và bằng cách đưa nó vào thế giới Xô Viết sẽ luôn bảo đảm cho thắng lợi. Bằng cách đó, thực hiện những thay đổi trong nội bộ hệ thống Xô Viết”.



    Kế hoạch "Barbarossa" của Mỹ.

    “Khả năng dễ tổn thương lớn nhất của Kremli nằm ngay trong tính chất các quan hệ đối với nhân dân Xô Viết. Các quan hệ đó được biểu hiện bởi thái độ nghi ngờ tất cả, sợ hãi và những cuộc trấn áp... Quan hệ của Kremli với mọi nước chư hầu của mình và với các dân tộc của những nước đó là một chỗ dễ tổn thương khác.

    Đối với chúng ta, đường lối đang được thực hiện trong thực tế là hỗ trợ trào lưu tà giáo chia rẽ các nước chư hầu. Dẫu các nước đó chưa thể bị suy yếu, song các tiền đề để chia rẽ vẫn tồn tại. Chúng ta có thể tạo điều kiện khoét sâu những vết nứt đó, mà không phải nhận lãnh bất kỳ trách nhiệm nào về việc này. Còn khi sự tan rã diễn ra, chúng ta sẽ không phải trực tiếp can dự vào việc thách thức uy tín Xô Viết, việc tranh chấp sẽ xảy ra giữa Kremli với biến thái của cộng sản.

    1. Cần chấm dứt sự bành trướng tiếp theo của sức mạnh Xô Viết.

    2. Cần vạch trần sự dối trá trong những ảo tưởng của Xô Viết.

    3. Cần thu hẹp vùng kiểm soát và ảnh hưởng của Kremli.

    4. Nói chung, cần gieo rắc những hạt giống phá hoại từ bên trong hệ thống Xô Viết, qua đó buộc Kremli, ít nhất, phải thay đổi đường lối của mình cho phù hợp với chuẩn mực đã được thế giới công nhận”.

  4. #24
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Những gì liên quan tới một trong số nhân vật được chúng ta chú ý - M. X. Gorbachov, là mối liên hệ không chính thức như vậy là rất rộng. Trên tờ báo “Den” (Ngày) số 22 năm 1993 đã đăng tải 4 bức ảnh với nội dung:

    “Những bức hình này của Hãng thông tấn “Gama” (Pháp) do Efimov Abramovích, theo lời họ khẳng định, là nhân viên tình báo KGB đã chụp vào đầu thập kỷ 1970 tại Siciliana. Trong ảnh là Raisa Gorbachova (Phu nhân của Gorbachov). Trong thời gian này, tại Siciliana đang diễn ra cuộc gặp mặt “Những chính khách trẻ”. M. X. Gorbachov lúc đó đang là cán bộ đoàn, thủ lĩnh Đảng của Stavropol. Chính vào thời điểm này, mối liên lạc của “người cải tổ số 1” trong tương lai với giới lãnh đạo chính trị phương Tây được thiết lập, khắc ghi mối quan hệ đặc biệt “Gorbachov – Thatcher1”. Như nhiều cuộc tiếp xúc khác, mọi người biết rất ít về cuộc gặp tại Siciliana này. Tuy nhiên, những cuộc tiếp xúc này đã khởi đầu một đường lối “Tư duy mới” và điểm kết thúc là sự biến mất hoàn toàn của Liên Xô“. M. X. Gorbachov, khi là Bí thư phụ trách nông nghiệp, đã có thể công khai tiếp xúc với người Mỹ. Như, ngày 4 tháng 11 năm 1981, ông ta đã tiếp J. Cristal, theo thông báo chính thức, là chuyên gia về nông nghiệp và nhà hoạt động xã hội. Vào giữa tháng 11 năm 1983, cuộc gặp mặt như vậy lại được tổ chức. Lần gặp này, theo lời mời, còn có Phó vụ trưởng Vụ Quốc tế BCHTW ĐCS Liên Xô A. X. Chernaiev.

    Thông qua con đường công khai và không công khai, M. X. Gorbachov đã từng tiếp xúc với người của RAND Coporation. ít nhất có một lần được ghi nhận: ngày 4 tháng 2 năm 1987, Đoàn đại biểu của Hội đồng Quan hệ quốc tế sang thăm Matxcơva. Trong số họ có John Brown Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong những năm 1977 - 1981 (Dưới thời Tổng thống Jimmy Carter), còn vào thời điểm đó đang là thành viên của Hội đồng Bảo trợ thuộc RAND Coporation.

    Trong sử sách của chúng ta từng lưu ý tới việc phía Mỹ đã có ý định thiết lập mối liên hệ với M. X. Gorbachov trước khi khởi động công cuộc “cải tổ” không lâu. Năm 1984, - khoảng một năm trước khi M. X. Gorbachov lên nắm chính quyền -tại Geneve, trong quá trình diễn ra Hội nghị về giải trừ quân bị, lãnh đạo phía Xô Viết có Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô V. Israelian đã nhận lời mời của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Mỹ (Tại Hội nghị Geneve) Lewis Fields tới gặp mặt “trên cơ sở thông thường”. Theo chính V. Israelian thông báo lại, cuộc gặp đã diễn ra “...tại một nhà hàng ngoại ô thành phố. Trong khi ăn, người Mỹ không thông báo cho tôi điều gì đặc biệt. (...)

    Khi tôi chuẩn bị chia tay với Fields, ông ta đã đề nghị tôi cùng đi thả bộ sau bữa ăn.

    - Washinhton muốn thiết lập mối tiếp xúc công việc nghiêm túc với ban lãnh đạo Kremli, - Fields mở đầu. - Và Phó tổng thống Bush luôn sẵn sàng gặp một lãnh tụ Xô Viết trong thời gian công cán tại Geneve. Cuộc gặp cần phải mang tính chất riêng, kín đáo nhất. Trả lời câu hỏi của tôi, liệu phía Mỹ định gặp một ai cụ thể trong giới lãnh đạo Xô Viết, Fields đã nói thẳng rằng Phó tổng thống muốn được gặp M. X. Gorbachov với tư cách là một lãnh tụ chắc chắn trong tương lai của Liên Xô.

    Tôi lập tức hỏi, tại sao lời đề nghị quan trọng như thế lại thông qua tôi, mà không theo những kênh ngoại giao thông thường - như qua Đại sứ quán của chúng tối tại Washinhton hay qua Đại sứ quán của các ngài tại Matxcơva. Fields không trả lời trực tiếp vào câu hỏi, ông ta nói rằng mình chỉ thực hiện ủy nhiệm được giao. (...)

    Vào đúng thời gian đó Bush đã có mặt tại Geneve. Bài phát biểu tại Hội nghị giải trừ quân bị được ghi nhận vào ngày 18 tháng 4, còn trước hôm đó Xadrudnin Aga Han2 đã gọi điện thoại tới phòng tôi và bí mật thông báo rằng vào chiều ngày 17 ông ta muốn cùng tôi gặp “một người bạn chung của chúng ta”. Vốn là một nhà hoạt động có danh tiếng, suốt nhiều năm liên tục từng hoàn thành nhiều ủy nhiệm tế nhị và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Aga Han đã nhiều năm gần gũi với Bush.

    Chúng tôi bắt đầu cuộc trò chuyện chỉ với hai người. Bush đề cập ngắn gọn mục đích chủ yếu chuyến đi sang Geneve của mình là đưa ra bản dự thảo hiệp ước về cấm vũ khí hóa học. Khi chúng tôi chuyển sang những vấn đề khác, Aga Han bỏ đí, chỉ còn lại tôi với Bush. Ông ta lập tức chuyển cuộc nói chuyện sang khả năng tiến hành cuộc gặp Xô - Mỹ không chính thức. Bush tái khẳng định ủy nhiệm của mình trao cho Fields và nói thêm rằng địa điểm và thời gian cuộc gặp có thể sẽ được xác định trên cơ sở nguyện vọng và khả năng của hai bên. Những gì liên quan tới nội dung cuộc nói chuyên, nếu tính tới tính chất không chính thức của cộc gặp theo đề nghị, thì mỗi bên tham gia có thể tùy ý đề cập tới bất cứ đề tài nào. với tư cách của người cùng nói chuyện với mình là lãnh tụ Xô Viết tương lai, ông ta chỉ nêu tên một người. “lãnh tụ sau đây của các ngài sẽ là Gorbachov”, - ông ta tuyên bố một cách tin tưởng. Những lời này đã khắc rất sâu trong trí nhớ của tôi. (...)

    Tôi đã hứa với Bush báo cho Matxcơva về lời đề nghị của ông ta.
    _________________________________
    1. Magret Thatcher (sinh năm 1925, Thủ tướng Anh từ năm 1979. ND).
    2. Cố vấn Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Giám đốc của một loạt trung tâm “quốc tế”, lãnh đạo Tổ chức quốc tế về hỗ trợ cho Afghanistan, thành viên câu lạc bộ “Mgisterium” (Matxcơva, năm 1993). Trong những năm “cải tổ” đã từng thông báo trên truyền hình về việc Quân đội Xô Viết, trong thời gian chiến tranh ở Afghanistan sát hại hàng triệu thường dân của đất nước này.

  5. #25
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Quan điểm hệ thống về thất bại của Liên Xô

    Về nhiều mặt, điểm này là hòn đá tảng trong mặt bằng phương pháp luận về những sự kiện đã diễn ra cũng như trong mặt bằng viết cuốn sách này. Trong khuôn khổ của nghiên cứu này nó soi sáng những khái niệm về hệ thống, quan điểm hệ thống nói chung, quan điểm hệ thống đối với hệ thống xã hội nói riêng. Chúng tôi coi những đặc tính của Liên Xô như của một hệ thống xã hội nhằm làm rõ khả năng tan rã của hệ thống như thế nào sau khi đã mô tả tính liên tục của những hành động đã từng áp dụng nhằm làm rã hệ thống của đất nước.

    Hệ thống là gì? Hiện có tới hàng chục định nghĩa khái niệm “hệ thống” - thuộc chuyên ngành hẹp hoặc triết học. Trong hàng loạt định nghĩa gắn phạm trù này với các chuẩn triết học, có những định nghĩa cơ bản, khởi đầu như:

    1- “Hệ thống là tổ hợp các thành tố tương tác” (Liudvik phon Bertalanfly, 1901 - 1972, người đưa ra học thuyết chung các hệ thống đầu tiên vào khoa học hiện đại).

    2- Rất nhiều thành tố được sắp xếp theo một cách nhất định có quan hệ tương tác với nhau và tạo thành một số khối thống nhất toàn vẹn” (V. N. Xadovxki).

    3- “Hệ thống là rất nhiều thành tố tương tác hạn chế” (A. N. Avierniakov).

    Trong tất cả những định nghĩa này cùng chung những khái niệm “thành tố” và “tương tác” (“mối liên hệ”). Chất lượng của hệ thống được bao gồm bởi số lượng và bản chất các thành tố và đặc tính các mối liên hệ giữa các thành tố. Các chuyên gia theo quan điểm hệ thống thường coi hệ thống như một toàn thể. Như một đám đông tụ tập trên phố, mặc dù không có “những thành tố” được biểu hiện rõ, song vẫn có thể được phân tích dưới góc độ của quan điểm này để tách ra một yếu tố nào đó cấu thành hệ thống. Ngoài ra, còn có những định nghĩa khác của thuật ngữ “hệ thống” nữa.

    Bất cứ một hệ thống xã hội - nếu tính đến sản phẩm do con người sản xuất ra, ta có thểgọi nó là “kỹ thuật - xã hội” hay “kinh tế - xã hội”, - cũng cấu thành gồm: trung tâm điều khiển - thông tin; các phân hệ, còn ở cấp độ thấp nhất của thang bậc (theo quan điểm này, không thể chia nhỏ hơn nữa các thành tố); tới lượt mình, phạm vi điều khiển bao gồm trong nó khách thể và chủ thể điều khiển (Chủ thể điều khiển còn được gọi là trung tâm điều khiển - thông tin), cũng như các kênh liên lạc và kho tàng ý niệm (thesaurus); những thành tố vùng biên - theo quan điểm hệ thống, được coi không chỉ là những định chế quốc gia đặc biệt - bộ đội biên phòng, hải quan, đại sứ quán, v.v..., mà còn là bất cứ thành tố nào vào thời điểm tiếp xúc với đại diện môi trường bên trong; các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, cũng như cơ chế quan hệ giữa các thành tố; việc phân phối các nguồn thông tin, tài chính, vật chất,... lợi cho nhóm này và hại cho nhóm khác, làm cho các mâu thuẫn bên trong tất yếu nảy sinh.

    Những dấu hiệu cơ bản của một hệ thống xã hội là: tính phức tạp của hệ thống, sự hiện diện của việc sắp xếp mục tiêu của các phân hệ được lựa chọn tùy ý, của các thuộc tính; để sức sống cao hơn cần có tính linh hoạt của hệ thống trong quan hệ đối với các hệ thống như vậy từ bên ngoài, trong sự phát triển các hệ thống luôn có các quá trình và chu kỳ, các khuynh hướng hướng tâm và ly tâm đối với trung tâm, phương thức pháp áp dụng những thành tố khác và thông tin từ môi trường bên ngoài cùng phương thức Entropi1.

    Hệ thống Liên Xô cũng như vậy. Trung tâm của nó là bộ máy BCHTW ĐCS Liên Xô, nơi đưa ra toàn bộ thông tin và thông qua những quyết định về đường lối đối nội và đối ngoại, kinh tế, tư tưởng, quốc phòng và an ninh, cũng như một phần hạn chế về công việc của các nước Đông Âu, châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh. Phạm vi điều khiển này được hình thành từ thời I. V. Xtalin và được duy trì một cách hình thức.

    Giữa môi trường hệ thống và môi trường bên ngoài tồn tại những mối quan hệ thương mại và chính trị. Phương Tây và Liên Xô đã tiến hành một sự trao đổi hàng hóa không bình đẳng, còn Mỹ thì đã đẩy “chiến tranh lạnh” tới ranh giới của nhất cuộc chiến tranh thông thường. Liên Xô vào lúc đó là một phân hệ của: 1- hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới (theo quan điểm chính trị); 2- Hội đồng Tương trợ kinh tế (theo quan điểm kinh tế); 3- Tổ chức Hiệp hước Varsava (theo quan điểm quân sự). Ở đây, cần lưu ý tới việc vào đầu những năm 1989 - 1990, các siêu hệ thống này đã bị phá vỡ, để rồi sau đó đến chính Liên Xô cũng tan rã.

    Ở thang bậc thứ hai, dưới Liên Xô có 15 nước cộng hòa liên bang. Những phân hệ này khác biệt nhau cơ bản bởi truyền thống dân tộc. Trong đó, đến năm 1991 có tới 25 triệu người Nga đang sinh sống ngoài ranh giới nước cộng hòa của mình.
    ________________________________
    1. Entropi - một khái niệm cơ bản của môn vật lý cổ điển. Đứng trên giác độ vĩ mô thì Entropi thể hiện khả năng của năng lượng có thể chuyển biến: Entropi của hệ thống càng lớn thì năng lượng chứa đựng trong đó càng ít có khả năng chuyển biến... Trong một hệ khép kín Entropi không thể giảm đi... Khi Entropi đạt tới điểm cực đại thì xảy ra trạng thái cân bằng, trong đó không thể tiếp tục diễn ra những chuyển biến năng lượng - toàn bộ năng lượng chuyển biến thành nhiệt và xuất hiện trạng thái cân bằng nhiệt. (Từ điển triết học, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva, 1975. Tr. 196). ND.

  6. #26
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    2
    Đương nhiên, trong các mối quan hệ luôn tồn tại khuynh hướng lý tâm và hướng tâm, song xung đột rõ rết trên nền tảng này là ít, không đáng kể. Từ năm 1922 đến cuối năm 1985, xu hướng hướng tâm đã diễn ra rất rõ rệt, còn mọi khuynh hướng ly tâm thì đã bị chính quyền trong giai đoạn 1922 - 1953 trừng phạt rất khốc liệt. Trong khi đó, một bộ phận trong các nước cộng hòa lại luôn chịu những ảnh hưởng khác nhau từ bên ngoài: ba nước cộng hòa vùng Ban Tích và vùng Kalinigrad của Cộng hòa liên bang Nga hình thanh nên một phân hệ; Moldova thì chịu ảnh hưởng của nền cận văn minh phương Tây rất mạnh; vùng Trung Á, Kazakstan và Azerbaidzan lại chịu ảnh hưởng của nền cận văn minh phương Đông và Hồi giáo. nhiều clann quyền lực cũng được hình thành theo hướng phi trung tâm hóa như: Dnepropetrovxk (Kiep) - Ucraina; Xverdlovxk - Ural; Xtavropol - Bắc Kavkaz; Lêningrad; Matxcơva.

    Liên Xô vốn là một hệ thống hướng tâm. Tuy nhiên, với mục tiêu tuyên bố là xây dựng chủ nghĩa cộng sản, nó đã mắc sai lầm vì tính trừu tượng.

    Sự phân ly hệ thống đã diễn ra theo cách sau:

    Giai đoạn “nhập vào - Liên Xô, năm 1985”, nó là một trung tâm mạnh, thống nhất. các phân hệ chỉ có mối quan hệ với mình nó. Các mối quan hệ bên ngoài là chung. Tồn tại đường biên giới thống nhất.

    Để lật đổ hệ thống xã hội này cần phải chiếm được trung tâm điều khiển - thông tin. Kích thích những mâu thuẫn nội bộ, tăng cường khuynh hướng ly tâm - làm suy yếu khung hướng hướng tâm. Làm suy yếu trung tâm cú - tăng cường những trung tâm mới, kích động những khuynh hướng ly tâm mới xung quanh các trung tâm mới. Tiến hành phá hoại các mối quan hệ của các dòng thông tin, tài chính, vật chất từ trung tâm cũ. Hình thành nên những mối quan hệ mới: ban đầu chỉ cần ở mức không chính thức - không hợp pháp; sau đó, gắn cho chúng một hình thức hợp pháp. Cần nhận thức rằng, khi hệ thống ở trong tình trạng ổn định (các chỉ số của khuynh hướng hướng tâm luôn chiếm ưu thế đối với khuynh hướng ly tâm), thì xung đột với bên ngoài thường được duy trì ở mức cao nhất. Trong tình trạng xuất hiện khuynh hướng tan rã, xáo trộn (khuynh hướng ly tâm thống trị khuynh hướng hướng tâm) thì sẽ xuất hiện những hiện tượng độc lập: các xung đột giữa các phân hệ bị khoét sâu, nếu không ngăn chặn được, chúng sẽ tiến xa tới mức tan rã thành những thành tố riêng lẻ (Nguyên tắc “tất cả chống tất cả”). Đó là một “khuynh hướng xung đột hệ thống” đặc biệt. Thực hiện hiện tượng cộng hưởng để đưa đến phá tan hoàn toàn các mối quan hệ cũ. Phá tan hoàn toàn những mối quan hệ cũc bên trong, lập ra các trung tâm mới mang hình thức hợp pháp, thiết lập những biên giới mới - tạo dựng ra các vụ xung đột với số lượng tối đa có thể, thiết lập mới những mối quan hệ độc lập với bên ngoài.

    Giai đoạn “Tách ra - các nước SNG (Cộng đồng các quốc gia độc lập), năm 1991”. Mỗi trung tâm trong số các trung tâm đều có những mối quan hệ của mình với bên ngoài. Những biên giới mới với định chế biên giới cũ và mới vẫn giữ nguyên. Cần chú ý tới sự phân chia hệ thống sẽ dẫn nó tới tình trạng “số không hoàn toàn” - tình trạng “một tập hợp những hệ thống mới” mà một số trong đó không còn nguyên vẹn, nghĩa là những thông số bền vững nhất chỉ bình đẳng với hệ thống trước đó về tổng số hình thức.

    Để làm rõ hơn tính chất hệ thống của sự phân chia Liên Xô, chúng ta cần thấy rằng, thứ nhất, nghiên cứu này của chúng tôi chính là nhằm hình dung ra việc một hệ thống như Liên Xô đã bị chia xẻ như thế nào; còn thứ hai, chúng tôi khắc họa tất cả đặc điểm của thảm họa như của tính chất hệ thống.

    Đặc điểm thất bại của Liên Xô là nhân tố các nước cộng hòa đã đóng một vai trò rất to lớn so với các nhân tố khác. Các nước cộng hòa vốn đã có tất cả những đặc tính mang tính chất quốc gia từ trước khi chúng thành lập ra bộ ngoại giao của mình. Bên cạnh đó, các nước cộng hòa Liên bang Nga, Ucraina, Belorus đã có đại diện của mình tại Liên Hợp Quốc. Sức mạnh hỗ trợ cho sự tan rã của Liên Xô (cấp 1) thành 15 nước cộng hòa liên bang độc lập (cấp 2) là khuynh hướng ly khai trong nội bộ các nước cộng hòa tự trị (cấp 3) và khuynh hướng hình thành lãnh thổ khác trong từng nước cộng hòa. Để làm được điều này, người ta đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có cả những biện pháp “hợp pháp”: vào tháng 4 năm 1990, Xô Viết tối cao Liên Xô đã thông qua quyết định về tăng cường định chế thành tố tự trị lên mức cộng hòa.

    Chúng ta còn nhận thấy rằng đối với Liên Xô còn có thể có theo những cách duy nhất khác như: bị các nước nuốt dần (tấm gương lịch sử đã từng diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII); phương án quân sự - trong trường hợp nếu giới cao cấp quân sự có một vai trò rõ rệt hơn (như ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ XX); phương án thuần túy sắc tộc với những thành tố phân chia theo các tín ngưỡng tôn giáo (như ấn Độ và Pakistan), khi đó sự phân chia sẽ diễn ra theo đường biên giới: vùng Ban Tích (gồm Latvia, Litva, Estoni), Đại Nga (gồm Nga, Ucraina, Belorus), ngoại Kavkaz (gồm Azerbaidzan, Armeni, Gruzia) và “Đại Tirana” (Kazakstan, Kirgizi, Tadzikistan, Turkmeni, Uzbekistan). Azerbaidzan hồi giáo có thể thuộc số này. Trong trường hợp này, vấn đề đối với Moldavi còn để mở. Liệu các bộ tham mưu của cải tổ bên kia đại dương có từng xem xét tới những phương án như thế không?.

  7. #27
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    26
    Chính sự hiện diện của “yếu tố bên ngoài” có tính hệ thống sâu sắc cũng giữ một vai trò đặc biệt trong sự thất bại của Liên Xô. “Tính nội tại” của một hệ thống trong một hệ thống khác (ở đây chúng tôi chỉ phân tích theo kiểu “một chọi một” - đó là phương Tây - Liên Xô) chiếm tới một nửa trọng lượng trong mọi sự kiện, từ những sự kiện rõ ràng nhất cho đến những sự kiện chưa được biết tới, mà chính những tác giả “thâm nhập sâu” cũng không thể hình dung hết. Những người này không thể hình dung được hết vì họ không tiến hành âm mưu đó từ đầu mà chỉ tham gia vào m công đoạn nào đó, sau khi thực hiện các kế hoạch, họ có thể coi đó là hiệu quả tự nhiên. Những cuộc tiếp xúc bí mật trong khuôn khổ những cuộc gặp chính thức của M. X. Gorbachov với các thủ lĩnh phương Tây chính là những hiện tượng thuộc laọi này vào giai đoạn 1985 - 1991: “Ông ta đã có những cuộc gặp cá nhân “dưới những ngọn cờ khác nhau”, những không một ai được biết về điều đó”. Những cuộc tiếp xúc như thế đã dẫ đến việc trong báo chí Xô Viết đã bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều những tư liệu về những kẻ thù hiển nhiên trước đây đang trở thành “những người bạn”, và điều đó lại hoàn toàn hợp pháp - không được phép bôi nhọ những người vẫn thường xuyên lui tới “làm khách” của chúng ta. những kẻ này, chắc chắn là không có ý định từ bỏ các học thuyết chính trị - quân sự trước đây của chúng, và những sự thay đổi trong mối quan hệ tương quan chỉ diễn ra ở phía khác. Sự mềm hóa chế độ đã diễn ra thông qua việc cho phép tiếp xúc với những thông tin mật của chúng ta chỉ bằng một giả thiết rằng “những cái đó họ đã công khai hết cả rồi!”. Một thí dụ hùng hồn khác là sự tấn công vào mặt trận văn học, văn hóa, du lịch (đối với một số người), truyền hình (tới tất cả mọi người), trong đó kể cả việc cho phép phát cầu truyền hình.

    Rốt cuộc, trên sân khấu cũng xuất hiện cả những nhân vật trực tiếp làm việc cho CIA để điều tiết các tác động từ bên ngoài. Dần dần, “các thông tin tác động” đã thực sự chiếm được toàn bộ không gian thông tin, trong những điểm then chốt cần thiết nhất. Có một điều rất đặc sắc là chúng đã trình độ thăm dò dư luận xã hội về biểu hiện phản ứng của dân chúng đối với những khuynh hướng căng thẳng đang gia tăng. Để rồi, có điều gì vượt ra ngoài tầm kiểm soát, chúng lại đưa ra những lời cam đoan về tính đúng đắn của đường lối đã được lựa chọn nhằm xoa dịu. Trong số những thủ thuật thăm dò đó, có thể dẫn ra những bài phát biểu định kỳ trên truyền hình về thảm họa sắp tới, như bài phát biểu của Chủ tịch KGB Liên Xô, Đại tướng V. A. Kriuchkov vào tháng 12 năm 1990; hay lời hiệu triệu của nhóm những người hoạt động văn hóa “Lời gửi nhân dân”. Đáp lại - chỉ là sự thờ ơ của một bộ phận dân chúng đã cam chịu với sự tước đoạt và đã quen với suy nghĩ rằng “nội tình” đó dường như chỉ là kinh tế, địa lý, nhu cầu tiêu dùng. Trong xã hội đã xuất hiện những biểu tượng thù địch của chủ nghĩa xiônit, chủ nghĩa phát xit, Mỹ, hội tam điểm. Rốt cuộc, thay vì phải phản ứng, phẫn nộ - dân chúng đã tỏ ra cam chịu (tolerant).

    Sự phân ly của hệ thống khác đã diễn ra thông qua các phân hệ bí mật đã tách ra khỏi hệ thống vật chất cơ bản cùng như các phân hệ khác ẩn sâu trong nó: thông qua giới lãnh đạo đảng - lớp thượng lưu quyền lực thường đưa ra các quyết định vụ lợi và tiếp xúc với bên ngoài nhiều hơn với chính nhân dân mình); thông qua KGB Liên Xô (những kẻ thực sự có những thông tin mật); qua những cán bộ khoa học (những kẻ có thông tin phương pháp mật); qua những kẻ có liên hệ mật thiết với israel; qua các nước vùng Ban tích (một phân hệ của văn minh phương Tây còn nằm dưới quyền tài phán Xô Viết), những kẻ dấu mặt trong xã hội Xô Viết và giới trí thức dân tộc. Tất cả những phân hệ đó là các chất xúc tác cho tiến trình, chúng kéo bộ phận dân chúng tích cực nhất vào quỹ đạo của mình thông qua giới báo chí.

    Nhiều chuyên gia hệ thống đã đề cập tới những đối tượng “.. có khả năng hoạch định những hành động khác nhau đang diễn ra trong hệ thống. Các đối tượng hoạch định của nhóm này có thể là đối tượng từ những nhóm khác nhau. (...) Trong thế giới động vật, trong xã hội con người, các đối tượng hoạch định và bị hoạch định đang được hình thành nên từ cùng một nhóm. Tuy nhiên, vẫn có những ngoại lệ. Trong đàn cừu, con đầu đàn có thể là con dê. Như mọi người vẫn nói mà không cần giải thích thêm.

    Nhân vấn đề này, chúng tôi cần nêu ra một tra cứu khách quan về mtg bên ngoài và về mức dộ chấp nhận sự thâm nhập của các thành tố bên ngoài vào hệ thống. áp dụng vào trong hệ thống xã hội phức tạp, về mặt nguyên tắc, không chỉ là có thể mà còn là cần thiết. Hơn nữa, sự thâm nhập của những thành tố bên ngoài không phải bao giờ cũng là có ý đồ độc ác nào đó (phương pháp luận biện chứng và xung đột học cũng xây dựng trên nền tảng này), đôi khi những thâm nhập ấy không với ý đồ độc ác mà thậm chí còn được một hệ thống đang phát triển thành công chủ động thu hút phần hữu ích của nó.

    Hệ thống không thể đóng tuyệt đối, tách ra khỏi mọi hệ thống khác, nếu không nó sẽ chấm dứt khả năng sinh tồn, tự bóp chết mình. Một hệ thống hoạt động lý tưởng - đó là một hệ thống linh hoạt, và phải có cả một tập hợp các chỉ thị1, không chỉ có thể làm rõ mức độ nguy hiểm từ sự thâm nhập của những thành tố lạ, mà còn có được ảnh hưởng đủ để buộc trung tâm điều khiển - thông tin có phản ứng thích hợp để loại bỏ những phần tử thù địch từ môi trường bên ngoài.

    Vậy mà hệ thống “Liên Xô“ đã không kiềm chế được sự thâm nhập đó, để rồi trở thành phụ bản (một phân hệ) của hệ thống “Mỹ” (Nói cách khác, trở thành bang thứ 51 của Mỹ). Người ta cần tới điều này để làm gì? Rất đơn giản, thông qua sự sáp nhập đó, thông qua kết quả trong các cuộc chiến tổ chức, thông tin, tài chính và những cuộc chiến khác, hệ thống “Mỹ” bắt đầu được hệ thống “Liên Xô“ phụng sự.
    ______________________________
    1. Indicator. Thuật ngữ này, từ đây về sau, được hiểu là chỉ số hoặc tiêu chí xác định sức sống của hiện tượng này hay hiện tượng khác, ý nghĩa chất lượng của nó, kể cả mức độ nguy cơ đối với hệ thống.

  8. #28
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Sự hỗ trợ trí lực của phương Tây trong việc hủy diệt Liên Xô

    Chúng ta đã xem xét và sẽ còn đề cập tới các cuộc tiếp xúc trong mối liên hệ: “giới thượng lưu Xô Viết mang nền tảng chống Xô Viết” - “những giới chính trị phương Tây”. Nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu của chúng tôi, kênh giao lưu thông tin - phân tích, hệ thống và phương pháp luận nhằm chống Xô Viết (theo nguyên tắc, Mỹ “thẩm vấn” - Liên Xô “trả lời”) là quan trọng nhất. Kênh giao lưu đó như sau.

    Về phía “chúng ta” có D. M. Gvisiani mà chúng tôi đã nói tới, còn về phía Mỹ có Rodger E. Levian - Giám đốc Viện Phân tích hệ thống ứng dụng quốc tế (IIASA). Địa chỉ - International Institute for Applied Analysis, A-2361, Laxenburg, Austria.

    Rodger E. Levian - sinh ngày 16 tháng 4 năm 1935. Học vấn - tú tài kỹ thuật cao đẳng hàng hải năm 1956; Trưởng môn toán ứng dụng Trường đại học tổng hợp Haward năm 1958; Tiến sĩ toán ứng dụng Trường đại học tổng hợp Haward năm 1962.

    Hoạt động nghề nghiệp:

    - Năm 1956 - 1960 là Cố vấn Vụ hệ thống chức năng của RAND Coporation;

    - Năm 1962 - 1967 là giảng viên đại số tuyến tính, chương trình hóa tuyến tính và lý thuyết trò chơi nghề nghiệp tại Trường đại học tổng hợp California;

    - Năm 1969 - 1970 là giảng viên chính tại Trường đại học tổng hợp California;

    - Năm 1970 - 1975 là phó giáo sư môn phân tích hệ thống tại Trường đại học tổng hợp California;

    - Năm 1960 - 1967 là nhân viên Vụ hệ thống chức năng của RAND Coporation;

    - Năm 1967 - 1970 là Vụ trưởng Vụ Khoa học về hệ thống của RAND Coporation;

    - Năm 1970 - 1975 là Vụ trưởng Vụ Các chương trình nội bộ thuộc Phân viện RAND Coporation ở Washington;

    - Từ 1975 là Giám đốc Viện Phân tích hệ thống ứng dụng quốc tế (IIASA).

    - Tác giả của nhiều cuốn sách được RAND Coporation xuất bản.

    Ở cấp “ngoài hệ thống”, các cuộc tiếp xúc này đã diễn ra khá thường xuyên. Ví dụ như, ngày 10 tháng 5 năm 1989, tại Mátxcơva, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô E. A. Sevardnadze đã có một cuộc trao đổi trong đó “Baker đã khẳng định với Sevardnadze sự cần thiết đạt được thoả thuận với các đồng nghiệp về “tính công khai trong giới quân nhân”:

    - Hãy công bố ngân sách quốc phòng của mình, đến khi đó, nếu các ngài tuyên bố cắt giảm 14 hay 19 phần trăm, chúng tôi sẽ biết các anh giảm đến mức nào.

    - Ngài thấy đấy, bản thân chúng tôi cũng muốn biết thông tin này, - Sevardnadze nói. - và tôi nghĩ chúng ta sẽ nhận có được để công bố, chúng tôi phải nói cho được về vấn đề này trên đại hội đại biểu nhân dân.”

    Nếu như trước năm 1985, các cuộc tiếp xúc với nước ngoài, kể cả của cấp cao, cũng rất hạn chế, thì trong quá trình “cải tổ” các cuộc gặp giữa hai bên của “những nhà cách mạng cộng đồng” trở nên đặc biệt thường xuyên hơn, bởi “các nhà cải tổ” liên tục cần tới sự trợ giúp có chất lượng chuyên môn cao. “Tháng 5 năm 1990, trong thời gian diễn ra cuộc hội thảo “Đối thoại Xô - Mỹ” tại Miami (Mỹ), CIA đã đưa M. Kanow - một thủ lĩnh của của nhóm chống Cuba thuộc ủy ban Bảo vệ hoà bình- đến gặp đoàn đại biểu Xô Viết tham gia hội thảo và giúp đỡ thiết lập mối liên hệ chặt chẽ với các nhà lãnh đạo của nó là G. Borovik và F. Burlatxki.

    Sự giúp đỡ là từ hai phía. Trong tháng 4 năm 1990, tại thành phố Worrenton (bang Virginia) đã diễn ra hội nghị về vấn đề so sánh những chỉ số kinh tế của Liên Xô và Mỹ. Phía Liên Xô có Viện sĩ O. Bogomolov và V. Tikhonov; phía Mỹ có đại diện của các trung tâm nghiên cứu và các nhà phân tích CIA. Trong những bài phát biểu của mình, các đại biểu Liên Xô đã trình bày những thông tin chi tiết về tình hình công việc trong đất nước chúng ta. Người Mỹ đã được ban cho lời khuyên: tăng cường áp lực với Gorbachov, người mà theo ý kiến của Viện sĩ Bogomolov, nhân dịp tình hình công việc căng thẳng trong nước có thể có những nhân nhượng lớn cho Washinhton. Phía Mỹ đánh giá lời khuyên này là rất giá trị, Họ đánh giá rất cao thông tin nhiều mặt về sự phát triển tình hình kinh tế - xã hội và chính trị ở Liên Xô.

    Sau khi tiến hành thử nghiệm một loạt công nghệ tại Ba Lan - thành tố được coi là yếu nhất của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Trung Âu, là đích ngắm đầu tiên đối với phương Tây - giờ đây họ đã quyết định chuyển những công nghệ đó vào Liên Xô. “Những gì liên quan tới mục tiêu chiến lược thì Iu. Afanaxiev từ năm 1990 đã xác định nó như là sự lặp lại “kế hoạch Beltxerovich” ở Ba Lan. Iu. Afanaxiev đã không hề che dấu rằng trên thực tế kế hoạch này đã được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) soạn thảo. Ông ta cũng nhận xét rằng kế hoạch chuyển đổi quan hệ thị trường như thế của IMF rất thường được tiến hành ở những nước kém phát triển nhằm củng cố dòng tiền tệ khép kín trong hu vực và phi quốc hữu hoá nền kinh tế. Khi sinh ra ý tưởng này, chính xác hơn, là ý tưởng này được Tổ chức “Bni-Brit” đưa vào nước ta, tuyên bố phong trào dân tộc Nga là phát xít cả về nhiệm vụ cũng như hệ tư tưởng”.

    Các viện nghiên cứu phương Tây đã phát hành không chỉ những tài liệu sử dụng nội bộ cho các nhà lãnh đạo cao cấp bí mật cũng như công khai của mình, mà nguy hiểm hơn, là cả những tài liệu và công nghệ chuyên dành cho các công dân Xô Viết. (Xem Phụ lục số 6). Đó là những khuyến nghị trực tiếp, những bài phát biểu của những nhân vật được uỷ quyền cho một số lượng người nghe hạn chế, những cuộc hội thảo khoa học, các biên bản pháp luật, những tài liệu hạn chế dành cho lãnh đạo... Chúng được phát tán khi bí mật, lúc công khai, thậm chí được trích dẫn đăng tải trên các báo...

    Trong số những tài liệu kiểu này có cái gọi là Hiến pháp Xakharov (“Đến nay, mọi người đã biết rằng nhà vật lý nguyên tử này có hai tuần đi Mỹ và ở đó viết ra bản hiến pháp này”); Chương trình “500 ngày” do “Một thằng nhóc con mặc quần đùi mầu hồng” ở Haward - phó tiến sĩ khoa học kinh tế Grigori Alekxeievich Iavlinxki và đồng bọn (& KO) soạn thảo.

  9. #29
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    Sự trợ giúp còn tiếp tục cả sau “Victory”, như những người sáng lập ra Trung tâm tư nhân hoá Nga là: Viện Nghiên cứu phát triển quốc tế; Viện Nghiên cứu kinh tế Đông Âu ở Stokgolm; Trung tâm Kinh tế thuộc trường phái khoa học kinh tế Lodon. Hãng “Deloitte Touch Toh Matsu International” trong quảng cáo về mình cũng thổ lộ ra rằng nó là một trong những nhà soạn thảo các chương trình về tư nhân hoá. Sự giúp đỡ đó của phương Tây không hề giảm sút trong suốt những năm 1990, thậm chí cho tới cuối thiên niên kỷ qua: “Theo báo cáo của Tổng cục thống kê CIA được đăng trên báo “Ell Pais” ngày 22 tháng 1 năm 1997, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế Haward do nhà kinh tế học Jeffri Sachson lãnh đạo, từ giữa năm 1994 đến cuối giữa năm 1996 người ta đã biên tập hàng trăm sắc lệnh của Tổng thống Enxil. Điều đó có nghĩa là các sắc lệnh của tổng thống đã được viết dưới sự chỉ bảo từ Mỹ...”. Chúng ta cũng còn nhớ rằng Quỹ Di sản thế giới (Heritage Foundation) trong những năm 1993 - 1994 đã soạn thảo và triển khai thực hiện một chương trình dành cho Nghị viện Nga”. Cuốn sách “Thay đổi” do Quỹ Phát triển chủ nghĩa trung phái chính trị xuất bản chủ yếu là dành cho giai đoạn những năm 1990 và cho sự “bảo trợ” trí thức hiện đại đối với các chính khách Nga.

    Bản chất của mối quan hệ thông tin như vậy và sự trợ giúp cả bằng sức mạnh khác có thể dễ dàng xác định như một cách giải quyết nhiệm vụ hai mặt bằng cách sử dụng nguyên tắc “đẩy - kéo”. Có thể mô tả những hiệu quả của nó trong cơ khí: một vật nặng sẽ dễ dàng dịch chuyển khỏi vị trí và di chuyển tiếp nếu ta đồng thời đẩy và kéo nó. Các nhà nghiên cứu đã từ lâu nhận ra nguyên tắc này trong những hoạt động chung: “... Vấn đề này đã trở nên phức tạp và cấp bách tới mức giới tình báo phương Tây không thể đơn độc gánh vác. Rất cần có một sự xác định nào đó cho các hoạt động cùng với giới lãnh đạo Matxcơva. Nó giống như trong môn bóng chày: một người tung bóng, còn người khác đập nó văng đi”. Còn một ví dụ khác về đế tài này mà mọi người đã biết. Trong những năm gần đây xuất hiện rất nhiều sản phẩm kẹo bánh, kem... được đóng trong những gói mà chỉ có thể mở ra bằng cách kéo từ bên trong, còn mọi cố gắng dùng sức kéo từ bên ngoài đều không đạt kết quả. Cũng hệt như vậy trong nhiều môn thể thao mang tính đồng đội: có kẻ tung, người hứng, còn cầu thủ đã bị mua chuộc thì bắt trượt để rồi giơ tay thanh minh vô tội “không được..”. Trong việc sử dụng “đội quân thứ năm” cũng vậy: sự kết hợp trong - ngoài sẽ làm dịch chuyển được vật nặng mà không quá tốn công.

    Những kẻ phá hoại bên ngoài từ Mỹ luôn hình dung được mối nguy hiểm đe dạo sự tồn tại của quốc gia chúng ta và sự sống còn của dân chúng. Song, như trong lịch sử thế giới đã diễn ra, mối nguy hiểm đó sẽ tăng lên bội phần khi chúng kết hợp được với những kẻ phá hoại từ bên trong theo nguyên tắc “một cộng một luôn lớn hơn hai”.

    Liên Xô chưa phải là quốc gia đầu tiên chịu sự can thiệp nguy hiểm của Mỹ từ bên ngoài vào những công việc nội bộ. Khuynh hướng can thiệp này đã được hỗ trợ của cái gọi là Chương trình nghiên cứu khu vực. “Nó được bắt đầu soạn thảo ngay trong thời gian chiến tranh để đào tạo các chuyên gia cho các khu vực khác nhau của châu Âu, châu Á và Mỹ Latinh biết tiếng địa phương, nền nếp và tập tục và khả năng hoàn thành những chức năng hành chính tại những khu vực đó. Thực chất đó là Mỹ chuẩn bị cho vai trò điều hành toàn thế giới! Bản chất của chương trình này là xây dựng tại các trường đại học lớn nhất của Mỹ các phân viện chuyên ngành đào tạo các chuyên gia về các khu vực trên thế giới cho các tổ chức chính phủ Mỹ ở Mỹ, cũng như ở nước ngoài tiếnh hành những nghiên cứu khoa học về từng khu vực và cung cấp thông tin cho chính phủ khi cần thiết. Như vậy, các trường đại học như thế chủ yếu mang tính ứng dụng chứ không phải tính hàn lâm.

    Cái mới và tính chất phức tạp của chương trình nghiên cứu khu vực là tính luật pháp quốc tế của nó đòi hỏi sự hoạch định hoạt động của nhiều khoa khác nhau. Điều này đã tạo ra thêm những khó khăn nhất định đối với nghiên cứu sinh tại các trường là trong thời gian hai năm phải thành thạo các khoá khác nhau (đào tạo ngôn ngữ nâng cao, địa lý khu vực, lịch sử, kinh tế, những định chế xã hội và chính trị, tâm lý học và nhân chủng học...). Ngoài ra, mỗi chuyên gia tương lai còn phải được đào tạo về một chuyên ngành cụ thể, bởi các nhà tổ chức chương trình lo ngại rằng người tốt nghiệp sẽ không mang tính chuyên nghiệp, không có nghề nghiệp cụ thể, cái gì cũng biết một chút. Tất cả những người tham gia chương trình đều phải qua tối thiểu một năm thực tập tại khu vực được nghiên cứu. Tuy nhiên, việc tổ chức những khoá thực tập như vậy không thể tiến hành tại Liên Xô nên các nghiên cứu sinh chỉ có những giờ lên lớp lý thuyết. Ngoài ra, cũng vì lý do bí mật, nên các cuộc thực tập đó chỉ tiến hành tại Viện Nghiên cứu Kribl rất nổi tiếng.

    Viện Nghiên cứu Kribl - một phân hiệu của Quỹ Nghị viện tự do hay còn gọi là Viện Nghiên cứu những vấn đề dân chủ và tự do Nga.

    Viện Nghiên cứu Kribl - (mang tên người lãnh đạo viện - một người đã “nguyện hiến dâng toàn bộ nhiệt huyết của mình cho sự nghiệp xoá bỏ đế chế Xô Viết” - đã thiết lập nên cả một mạng lưới các đại diện của mình tại các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ. Với sự giúp đỡ của các đại diện này, từ tháng 11 năm 1989 đến cuối tháng 3 năm 1992, đã có gần 150 “hội nghị tập huấn” tại nhiều vùng khác nhau trên lãnh thổ Liên Xô: Matxcơva, Lêningrad, Xverdlovxk, Voronez, Tallin, Vinius, Riga, Kiev, Minxk, Lvov, Odessa, Erevan, Nizni Novgorod, Irkutxk, Tomxk. Chỉ tính riêng ở Matxcơva đã có tới 6 hội nghị hướng dẫn.

    Về tính chất (còn tôi thì muốn nói tới mặt chất lượng) của công tác hướng dẫn của các đại diện Viện Nghiên cứu Kribl, G. Burbulisa - một tuyên truyền viên của đảng, trước năm 1988 đã từng khẳng định kiên quyết khi nhắc tới cương lĩnh về vai trò lãnh đạo của ĐCS Liên Xô rằng “vai trò đoàn kết của đảng trong quá trình cải tổ” của nó. Sau khi qua khoá hướng dẫn của Viện Nghiên cứu Kribl, ông ta lại thường xuyên khẳng định rằng “đế chế (Liên Xô) phải bị phá sản”. “Ngài Kribl đã sáng lập viện nghiên cứu của mình vào năm 1986 với một mục tiêu duy nhất là đánh bại “đế chế Xô Viết”. Ông không che dấu những mục tiêu của mình, mà còn thẳng thắn tuyên bố: toàn bộ sức lực, nhiệt huyết và tiền của được dành để đánh bại Liên Xô. ngay lập tức sau đó ông đã bắt đầu xây dựng mạng lưới các đại diện ở Liên Xô và các nước Đông Âu (hiện nay chúng có chừng 20, ông còn dự định đến giữa năm 1993 tăng gấp đôi số lượng này) và tuyển mộ các điệp viên. Việc đào tạo các diệp viên được bắt đầu từ việc học những gì có trong các tài liệu do chúng tôi phân phát, “Ngài tiến sĩ Kribl ngay lập tức hiểu rằng học tập là chiếc chìa khoá giúp mọi người của “đế chế Xô Viết” thực hiện bước chuyển đổi sang nền dân chủ. (...)

    Từ tháng 10 năm 1989, Viện Nghiên cứu Kribl đã tiến hành hơn 40 hội nghị (tương tự như các xemina phương pháp) tại “đế chế Liên Xô cũ”. Các cuộc hội nghị đã diễn ra tại nhiều thành phố khác nhau từ Matxcơva và Lêningrad đến Tomxk và Irkutxk, cũng như ở Tbilixi, Riga, Xverlovxk, v.v.v...; “Từ đầu thập kỷ 1990 trong nước chúng ta đã phát triển mạnh mẽ “hệ tư tưởng tự do - dân chủ”. Chính vào thời gian này, ở Nga đã thành lập Phân viện của Viện Nghiên cứu Kribl (ngày nay là Viện Nghiên cứu các vấn đề về dân chủ và tự do) với một số lượng đông đảo thành viên. Viện này có liên quan chặt chẽ với Quỹ Di sản - một trong số những tổ chức nghiên cứu có uy tín của Mỹ, theo sáng kiến của nó, người ta đã thông qua Đạo luật “về giúp đỡ những người đấu tranh cho tự do ở Liên Xô“. Viện Nghiên cứu Kribl do tiến sĩ triết học R. Kribl lãnh đạo (đồng thời cũng là thành viên Hội đồng giám đốc “Quỹ Di sản”) chính là nơi hiện thực hoá sự giúp đỡ cho các phong trào này. Phương thức công tác ưu tiên của Viện là tổ chức hội nghị, hội thảo về những vấn đề chính trị, kinh tế và văn hoá. Trong đó, người ta chú ý tới việc chuẩn bị thông tin cho các cơ quan chính quyền Mỹ và cho các cơ quan, giới chức khác, cũng như việc hình thành trên lãnh thổ Liên bang Nga những cơ cấu quyền lực có khuynh hướng “dân chủ” (thân phương Tây). Hiện nay, “Viện Kribl ở Nga do A. Murasov - người đứng đầu Trung tâm chính trị công đảng tự do và Phân viện Matxcơva của Viện Nghiên cứu những vấn đề dân chủ và tự do Nga - lãnh đạo từ năm 1996.

    Khi hoạt động trên lãnh thổ Liên bang Nga từ năm 1990, Viện Nghiên cứu Kribl - do bị buộc tội là vào năm 1993 có liên hệ với những cơ quan tình báo Mỹ, phải chấm dứt sự tồn tại mang tư cách pháp nhân của một tổ chức Mỹ - đã đăng ký lại dưới tên gọi Viện Nghiên cứu những vấn đề dân chủ và tự do Nga, còn trên thực tế nó vẫn giữ nguyên cơ cấu của mình. Như trước đây, “mạng lưới các đại diện khu vực được hình thành từ đầu những năm 1990 vẫn là “người cung cấp chính thức” các thông tin”.

  10. #30
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    20
    Những cuộc chiến tranh của thế hệ thứ sáu


    Nếu đây không phải là chiến tranh, thì là gì?...
    Đó là chiến tranh không có chiến tranh.


    Andrei Novikov.

    Tiêu đề này có thể liên quan tới toàn bộ cuốn sách, chứ không chỉ liên quan tới một phần của nó. ý nghĩa của phần này là một trong những điểm rất then chốt.

    Cho đến nay, trong khuôn khổ các cuộc đối đầu vũ trang giữa các bên xung đột của nền văn minh trái đất đã diễn ra một số cuộc cách mạng trong lĩnh vực quân sự. Những cuộc cách mạng mà chúng ta đề cập ở đây được hiểu là những thời điểm bắt đầu sử dụng loại vũ khí mới về mặt chất lượng để một thế hệ các cuộc chiến tranh được thay bằng một thế hệ tiếp theo. Để bạn đọc có thể hiểu ngay đề tài này, tôi dẫn ra đây cách phân loại các thế hệ chiến tranh của một nhóm những nhà nghiên cứu lý luận quân sự Nga (Chủ biên là Thiếu tướng V. I. Xlipchenko) cho đến nay vẫn được coi là khách quan nhất:

    “Thế hệ thứ nhất

    Vũ khí lạnh, binh giáp. Chiến đấu trực tiếp tiếp xúc (giáp la cà). Những cuộc chiến tranh của các đơn vị, phân đội bộ binh và kỵ binh.

    Mục tiêu chủ yếu - tiêu diệt đối phương, làm chủ vũ khí và các tài sản của đối phương.


    Thế hệ thứ hai

    Thuốc súng, vũ khí nòng nhẵn. các cuộc chiến tranh có công sự, tiếp xúc (có khoảng cách) của các đơn vị, phân đội, liên quân bộ binh. Tác chiến của lực lượng hải quân và các đơn vị ven biển.

    Mục tiêu chủ yếu - tiêu diệt đối phương, chiếm lãnh thổ và tài sản của đối phương.


    Thế hệ thứ ba

    Vũ khí có khương tuyến, tiếp đạn nhiều lần; tốc độ bắn, độ chính xác và tầm xa được nâng cao. Các cuộc chiến tranh có công sự, hào giao thông, tiếp xúc (có khoảng cách) của các quân chủng và binh chủng hợp thành. Tác chiến trên biển và đại dương.

    Mục tiêu chủ yếu - đánh tan lực lượng vũ trang của đối phương, phá hoại kinh tế và lật đổ chế độ chính trị của đối phương.


    Thế hệ thứ tư

    Vũ khí tự động và phản lực, các đơn vị bộ binh, xe tăng, không quân, hải quân, các phương tiện vận tải và thông tin liên lạc. Các cuộc chiến tranh có công sự, hào giao thông, tiếp xúc (có khoảng cách) trên mặt đất, tiến công đường không, các cuộc chiến tranh trên biển và trên đại dương.

    Mục tiêu chủ yếu - đánh tan lực lượng vũ trang của đối phương, phá hoại tiềm năng kinh tế và lật đổ chế độ chính trị của đối phương.


    Thế hệ thứ năm

    Chiến tranh hạt nhân không tiếp xúc quyết định đạt quy mô chiến lược

    Không đạt được một mục tiêu nào - bên sử dụng vũ khí hạt nhân đầu tiên sẽ chết sau đối phương một chút.


    Thế hệ thứ sáu

    Vũ khí phòng thủ và vũ khí tiến công có độ chính xác cao được thiết lập trên cơ sở loại vũ khí thông thường; vũ khí dựa trên những nguyên tắc mới về vật lý; vũ khí thông tin, lực lượng và phương tiện tác chiến điện tử.

    Mục tiêu chủ yếu của chiến tranh - đánh tan tiềm năng kinh tế của bất cứ quốc gia nào, ở bất cứ khoảng cách nào bằng phương thức không tiếp xúc”

    Chúng ta nhận thấy rằng “những cuộc chiến tranh” được chúng ta nghiên cứu đều không có mối quan hệ trực tiếp thông thường, các phương thức tiến hành chúng có tính tổng hợp và được sử dụng trong bất cứ thời đại nào, mặc dù theo cách phân loại trên đây, có thể chúng thuộc loại chiến tranh thế hệ thứ sáu khi chúng sử dụng chiến tranh thông tin - tâm lý cúng như những vũ khí dựa trên những nguyên tắc mới về vật lý (trong khuôn khổ nghiên cứu của chúng ta, đó là vũ khí tâm lý, di truyền...). Trong thời đại hiện nay, những cuộc chiến tranh như vậy đã hoàn hảo tới mức chúng trở thành phương thức thống trị. Trong các cuộc chiến tranh đó người ta sử dụng vũ khí tác động tới tâm lý của con người, kích thích được khả năng tự sát của con người, làm cho cơ cấu xã hội mất ổn định, làm suy giảm sự bền vững của các hệ thống chính trị, kinh tế và tài chính.

    Trong vấn đề này, những gì được chúng tôi dẫn ra, thì cùng được nhiều nhà nghiên cứu “chiến tranh” khác sử dụng như những bộ phận hợp thành của cuộc “chiến tranh chung”. Các cuộc chiến tranh chỉ thay đổi về hình thức, bản chất và quy mô thì vẫn như trước đây.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •