Kết quả 1 đến 9 của 9
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0

    Lịch sử Nhật Bản - A history of Japan

    Tác giả: R.H.P Mason & J.G.Caiger

    Người dịch: Nguyễn Văn Sỹ

    Nhà xuất bản Lao Động, 2003


    Phần I

    Nhật Bản thời xưa


    Chương 1: Môi trường và vấn đề định cư ngày đầu

    Nhật Bản ngày xưa cũng như những dân tộc khác đã tạo nên những câu chuyện thần thoại để giải thích nguồn gốc tổ quốc họ. Từ thời xa xưa, trong quá khứ, đã có một câu chuyện thần thoại kể rằng có hai vị thần đứng trên Cầu Nổi trên Thiên Đình nhìn xuống hạ giới, không biết dưới chân mình có đất hay không, hai vị bèn lấy một cây giáo nạm ngọc chọc thẳng xuống biển. Giọt nước biển từ mũi giáo rỏ xuống tạo thành một hòn đảo. Hai vị thần bay xuống đảo, một nam, một nữ, dựng nên một cột trụ. Sau khi hai vị nhảy múa và chuyện trò với nhau (vị thần nam nói trước) họ tạo ra được tám hòn đảo chính của nước Nhật.

    Gần đây, người Nhật không thiên về thuyết tạo dựng nước Nhật của hai vị thần Izanagi và Izanami, mà người ta tìm đến công việc của các nhà khảo cổ cùng các đồng nghiệp, các nhà khoa học của họ, để tìm cách giải thích hợp lý hơn về sự hình thành đất nước cũng như vấn đề định cư ở đây từ thuở ban đầu... Tuy nhiên, những câu chuyện cổ vẫn khiến người ta chú ý đến sự kiện đất nước này gồm một chuỗi những hòn đảo, và hình thái này là một cái gì đã ảnh hưởng đến người dân ở đây trong suốt chiều dài lịch sử.

    Nhật Bản có hình thế một chuỗi các hòn đảo rừ cách đây khoảng 20000 năm. Những sức mạnh thiên nhiên dữ dội đã cắt khỏi lục địa châu Á bốn đảo lớn nhất của Nhật cùng hàng mấy trăm những hòn đảo tạo thành một vòng cung trải dài hơn 2400 cây số. Thời xưa, những hòn đảo này về phương Nam nối liền với Siberi, tạo biển Nhật Bản thành một cái hồ mênh mông. Do nước biển ngày một nâng cao, thoạt tiên là những cầu đất nối ở phương Nam bị dìm xuống, sau đến những cầu đất phương Bắc. Chính trong thời địa hình thay đổi như vậy mà con người bắt đầu di chuyển đến sinh cơ lập nghiệp tại đây.

  2. #2
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    44
    Sự thay đổi này là đưa những hình thức làm nông nghiệp khá phức tạp vào một môi trường thuận lợi. Về mùa đông, do ở gần lục địa châu Á nên Nhật Bản có khí hậu không khác lắm với những vùng ven Siberi mặc dù gió từ Siberi sau khi thổi qua biển Nhật bản không còn khô và lạnh nữa. Về màu hè, với gió mang hơi ẩm nóng ấm thổi về lục địa, nhìn Nhật Bản càng thấy rõ đấy là một chuỗi các hòn đảo ở Thái Bình Dương. Những đợt gió mùa thổi từ đại dương sẽ mang lại mưa nhiều vào mùa hạ giúp cho cây lúa phát triển tốt. Nghề làm lúa nước được hình thành ở miền Tây Nhật Bản ít lâu sau thế kỷ V trước Công nguyên, có lẽ là do những người di cư từ lục địa chạy sang tránh loạn lạc xảy ra trong nước.

    Những mảnh đất trong các thung lũng và trên các cánh đồng, bờ biển đã được san phẳng, tưới tiêu, công việc đòi hỏi phải có sự phối hợp của cả một cộng đồng. Tương tự như vậy, việc trồng lúa, cấy, gặt cũng đòi hỏi sự chung sức của cả một cộng đồng. Con số những người dân di cư và các kiến thức của họ lan rộng nhanh chóng từ tây sang đông giúp cho có thể cùng một chỗ sống được một số dân đông đúc hơn nhiều. Những làng mạc ổn định bắt đầu xuất hiện. Theo cách đó, ở Nhật cũng như ở các nơi kahcs, nghề nông đã buết sử dụng một cách hiệu quả hơn đất đai xung quanh. Ngoài những bằng chứng gián tiếp về việc trồng lúa như liềm bằng đá, cuốc gỗ, những hạt gạo rang và trấu đã được tìm thấy trong các chum lọ, hay được in trên các bình. QUa những phát hiện đó ta có thể nói việc trồng lúa bắt nguồn từ miền Đông Trung Quốc, tuy cũng có thể là từ miền Bắc Trung Quốc và Triều Tiên.

    Lại một lần nữa, nghề gốm đã được đặt tên cho nền văn hóa của những người đã sáng tạo ra nó. Cái tên Yayoi, theo tên một huyện của Tokyo, nơi lần đầu tiên loại bình gốm đơn giản, cân đối đó được tìm thấy vào năm 1884, được dùng để gọi tên một thời kỳ trong lịch sử Nhật Bản khi việc trồng lúa, làm dụng cụ kim loại và làm quần áo cũng như nghề làm gốm được đưa vào từ lục địa châu Á sang.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    5
    Cuối cùng thì những dụng cụ, vũ khí và các thanh gươm bằng đồng, bằng thép đã được chế tạo tại Nhật Bản. Những đồ vật bằng đồng (kiếm, gươm và một vật giống như chuông mà người Nhật thường gọi là dotaku) dường như chỉ được sử dụng như biểu tượng của uy quyền và trong những lễ nghi tôn giáo, còn sắt thép thì được nhà nông và người xây dựng sử dụng. Lưỡi thép sẽ làm tăng rất nhiều hiệu quả của những dụng cụ thường nhật để làm những việc như đẽo gỗ, làm mai, cào, cuốc và chẻ những thanh gỗ để củng cố các lối đi giữa những cánh đồng lúa. Những dụng cụ bằng gỗ dùng trong nông nghiệp thời Yayoi và còn nguyên vẹn được lấp trong bùn, trông rất giống những dụng cụ cách đây hơn 100 năm. Chỉ đến thế kỷ XX lao động mệt nhọc của con người mới được giảm nhẹ do việc sử dụng máy móc, điều đó đã tạo nên những tác động sâu sắc trong xã hội.

    Chiếc vũ khí dẹt bằng đồng là mũi giáo (bên trái) của dân địa phương làm, bắt chước mẫu của lục địa. ở Nhật thời đó có khuynh hướng bắt chước để tạo nên những vật làm trong nghi thức lễ lạt (huy hiệu công sở) hơn là dùng làm vũ khí chiến tranh. Toàn bộ cái gương (ở giữa) bắt nguồn từ Trung Quốc, nhưng các hình vẽ bên dưới cho thấy phần trung tâm chiếc gương làm về sau ở Nhật Bản có trang trí hình một nhà kho được xây dựng thời Yayoi. Những chiếc chuông đồng (bên phải) với thiết kế mang tính đặc trưng của dân tộc Nhật Bản, cho thấy trình độ điêu luyện mà người dân Nhật đã đạt tới trong thời Yayoi.

    Mặc dù đã có những phát triển kể trên, người Nhật vẫn chưa được văn minh như người Trung Quốc, vì họ chưa có chữ viết, họ vẫn còn là những người tiền sử trước những năm 400 sau Công nguyên. Tuy nhiên, những sách vở Trung Quốc, chắc hẳn hầu hết dựa trên những điều thuật lại của những người đi du lịch, đã cho ta vẽ nên một bức tranh về cuộc sống người Nhật thời đó. Đoạn sau đây trích từ cuốn sử Trung Quốc ở thế kỷ III có bao gồm một phần nói về vùng đất Wa (Nhật Bản):


    "Tập tục xã hội của người Wa rất kỵ thói dâm dục. Đàn ông quấn một cái khăn vải lên đầu để hở chỏm. Quần áo của họ quấn quanh người với một ít mũi khâu. Phụ nữ để tóc quấn quanh đầu. Quần áo của họ giống như tấm nệm trải giường, không có lót, khi mặc thì chui qua một cái lỗ ở giữa mảnh vải. Người dân ở đây trồng ngô, lúa, cây gai, trồng dâu nuôi tằm. Họ quay tơ và dệt thành những tấm vải, lụa rất đẹp. Ở đây không có trâu bò, ngựa, hổ, báo, cừu, chim ác là. Vũ khí của họ là những giáo, khiên và cung bằng gỗ với hình dáng: phần dưới ngắn, phần trên dài. Mũi tên bằng tre đôi khi có đầu bịt thép, hoặc xương...

    Khí hậu ở Wa ấm và dễ chịu. Mùa đông cũng như mùa hè, người dân sống bằng các thứ rau và đi chân đất. Nhà của họ có nhiều buồng; cha mẹ, người già, người trẻ ở riêng phòng. Họ tô vẽ trên người với màu hồng và đỏ cũng như người Trung Quốc dùng phấn. Trong bữa ăn, thịt được đựng trên những cái đĩa bằng tre, bằng gỗ và họ dùng tay bốc thức ăn. Khi có người chết, họ chuẩn bị một cái áo quan không có quách ở ngoài. Họ lấp mộ bằng cát để tạo thành một nấm mồ. Trong nhà có đám tang, người nhà khóc hơn 10 ngày, trong thời gian đó họ không ăn thịt. Những người để tang khóc lóc, than vãn, trong khi đó bạn bè của họ hát, nhảy múa và uống rượu. Khi lễ tang xong tất cả thành viên trong gia đình xuống chỗ có nước để tắm cho người tinh khiết.

    Khi vượt biển sang Trung Quốc, họ thường chọn một người đàn ông để tóc bù xù, mặc cho ruồi rận bám, quần áo bẩn thỉu, không ăn thịt và cũng không gần phụ nữ. Người đàn ông này sống như một người để tang và người ta coi anh là người giữ của. Khi chuyến đi thuận lợi, họ sẽ cho người này nhiều nô lệ và nhiều của cải. Trong trường hợp xảy ra bệnh tật hoặc gặp chuyện không may, người đàn ông này sẽ bị giết vì họ cho rằng anh ta đã không làm hết bổn phận".

  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Qua những chuyện kể trên, ta thấy Nhật Bản thời đó rõ ràng thuộc một phần của nền văn minh lúa nước, sử dụng đồ kim loại ở miền Đông Á, nhưng chưa đạt được trình độ cao, người Nhật Bản còn xa mới đạt được độ thống nhất của một đế quốc tập trung hùng cường như đôi khi Trung Quốc đã có được. Tuy nhiên, cuối cùng, và theo cách riêng của họ, Nhật Bản ít lâu sau cũng đã đạt được đến mức độ thống nhất đáng kể về mặt chính trị và văn hóa. Những giai đoạn sớm của trình độ phát triển này ở những vùng trung tâm miền Bắc Kyushu, miền Đông và trung tâm Honshu, và miền Bắc Shikoku đều không có sử sách chép lại sau nhiều năm đã qua, nhưng các nhà khảo cổ giờ đây đã phát hiện càng ngày càng nhiều chi tiết về những giai đoạn đầu tiên trở thành một quốc gia văn minh của Nhật Bản. Người ta đã khai quật được di chỉ của người dân thời Yayoi, cho thấy có một số người đã được ưu đãi cả lúc sống cũng như lúc chết. Sự phát hiện này cũng đã tạo nên niềm phấn khích vì sự phân biệt này được coi là một bước quan trọng trong quá trình chọn lọc xã hội, đã tạo nên một số gia đình nắm được quyền hành lớn hơn trong các cộng đồng nông nghiệp. Chẳng hạn như việc tiếp tục khai quật ở Yoshinogari cho thấy có cả một tập thể công trình kiến trúc Yayoi với những công trình bảo vệ và sự phân hóa tầng lớp xã hội rõ ràng. Tuy từ trước có những vùng di chỉ chưa được khai quật trên một diện rộng như vậy, nhưng những nơi tương tự như ở Yoshinogari, thường cũng thấy ở nhiều vùng miền Tây của quần đảo Nhật bản trong thời kỳ Yayoi.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Chương II: Yamato


    Có nhiều huyền thoại Nhật Bản đã trả lời cụ thể câu hỏi... Quốc giá Nhật được hình thành từ bao giờ ? Jimmu, vị hoàng đế đầu tiên của Nhật lên ngôi ngày 11 tháng 2 (ngày đầu xuân) năm 660 trước Công nguyên tại cung điện của nhà vua ở Yamato.

    Các nhà viết huyền thoại có thể nói chắc chắn, nhưng các sử gia hiện đại nói không chắc chắn lắm rằng một trung tâm quyền lực chính trị ở Yamato đã bắt đầu được thành lập vào cuối thế kỷ III hoặc cuối thế kỷ IV sau Công nguyên. Họ coi năm 660 trước Công nguyên là quá sớm khoảng 1000 năm.

    Giai đoạn bắt đầu thống nhất chính trị

    Các sử gia hiện đại giải quyết vấn đề tìm niên đại cho thời bắt đầu thống nhất chính trị như thế nào ? Họ phân tích, phê phán những câu chuyện cổ của Nhật Bản là có nhiều tư liệu huyền thoại, và giải thích những gì họ phát hiện thấy. Các sử gia không bác bỏ niên đại 660 trước Công nguyên chỉ vì nó là một niên đại do trí tưởng tượng của những người thời xưa tùy tiện đặt ra, nhưng theo những tính toán hợp lí cho thấy niên đại đó đã được đặt ra dựa trên các giả thuyết mà ta không thể chấp nhận được. Các học giả đầu tiên đặt ra niên đại đó đều dựa trên các khái niệm về chu kì thời gian cảu Trung Quốc. Những chu kì đó kéo dài 60 năm (ta gọi là một giáp) và năm thứ 58 của mỗi chu kì thường được nói là sẽ có một sự thay đổi đáng kể.Năm 601 sau Công nguyên là năm thứ 58 của một trong những chu kì và thực tế ở thời điểm đó đã có những thay đổi rất quan trọng. Người Trung Quốc tin rằng vào năm thứ 58 của mỗi lần 21 giáp nghĩa là cứ sau 1260 năm lại có một sự kiện hết sức to lớn xảy ra.

    Tính ngược lại từ năm 601 sau Công nguyên thì trước đó 1260 năm, niên đại lên ngôi của vị hoàng đế đầu tiên, một sự kiện hết sức quan trọng là năm 660 trước Công nguyên.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    1
    Cá sử gia hiện đại thay niên đại 660 trước Công nguyên, nhưng không cho rằng những huyền thoại và những câu chuyện ngày xưa là vô nghĩa, mà bằng cách xem xét lại những câu chuyện lịch sử ngày xưa thậm chí cả những sách vở có từ năm 25 sau Công nguyên và một kho phong phú ngày càng có rất nhiều những phát hiện về khảo cổ học. Đấy chính là những câu chuyện Trung Quốc kể về cuộc sống chính trị của Nhật Bản những năm thoạt đầu thời cận đại xa xưa.

    Người Trung Quốc kể rằng ở giữa thế kỷ III, người Nhật sống không thành một quốc gia thống nhất mà thành hơn một trăm cộng đồng nhỏ và sau thu gọn lại thành 30 tiểu quốc. Một tiểu quốc mà sử sách Trung Quốc quan tâm đến nhất là tiểu quốc được thống trị bởi một nữ hoàng.


    Người thống trị tiểu quốc này trước kia là một người đàn ông. Sau 70-80 năm, đất nước rối loạn và có chiến tranh, do đó người dân đã tôn một người phụ nữ lên ngôi, tên bà là Pimiko. Nữ vương này dùng ma thuật để mê hoặc dân chúng. Tuy nhiều tuổi nhưng bà ta vẫn sống độc thân và có một người em trai phụ tá trong việc cai quản đất nước. Sau khi trở thành Nữ hoàng, có rất ít người được gặp bà. Bà có một nghìn nữ tì, nhưng chỉ có một người đàn ông được hầu hạ. Người này vừa hầu hạ bà trong việc ăn uống, vừa là sứ giả truyền mệnh lệnh. Nữ hoàng sống trong một cung điện xung quanh có nhiều thành lũy che chở với nhiều quân lính canh gác ngày đêm.
    Nữ hoàng Pimiko (Himiko) được miêu tả như một ni cô nắm quyền chính trị và tôn giáo. Bà cai quản vùng Yamatai. Phải chăng vùng Yamatai như người Trung Quốc nghĩ, là trung tâm của cả đất nước Nhật Bản ? Điều đó không có gì là chắc chắn.

    Nếu theo đúng sử sách của Trung Quốc thì Yamatai chỉ có thể ở miền Nam Nhật bản, trong Thái Bình Dương. Tuy nhiên, nếu chỉnh lý theo những khoảng cách được nêu trong sử sách Trung Quốc, thì Yamatai nằm ở bờ biển phía tây của hòn đảo Kyushu. Nếu điều chỉnh theo hướng chứ không theo khoảng cách thì Yamatai lại được đặt ở trung tâm Nhật Bản, có tên là Yamato, nơi đây theo truyền thống và những chứng minh của khảo cổ thì quả là nơi đã có một phần thống nhất về chính trị. Việc bàn cãi về địa điểm đích thực của Yamatai đã tiếp diễn trong nhiều thế kỷ và hiện nay vẫn còn đang tiếp diễn.

    Những tài liệu Trung Quốc thời đó không miêu tả một cách hết sức chắc chắn về triều đình Yamato, là nơi trong truyền thuyết cũng như các sử gia hiên đại đều thừa nhận đó là cái nôi phát sinh ra nhà nước Nhật Bản. Những tài liệu đó nhấn mạnh, cũng như những nhà bác học Trung Quốc viết, là Nhật Bản hồi đó còn chưa phải là một đơn vị chính trị thống nhất từ 221 đến 265 trước Công nguyên, và sự thật những vùng như Izumo (huyện Shimane) và Kibi (huyện Okayama) có thể cũng như Yamatai - Yamato đều là những nhà nước mới phôi thai.


  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    102
    Điều không may là sự giao tiếp, tiếp xúc của Trung Quốc với Nhật Bản không phải là thường xuyên, cho nên tất cả những sự thay đổi về sau này, về vấn đề tập trung quyền lực, không được những sử gia cận đại viêt ra, phải bốn hoặc năm thế kỷ sau ở Nhật Bản mới có tài liệu viết về vấn đề Hoàng tộc. Tất cả những tài liệu của người bản xứ đều nói trung tâm lớn về quyền lực chính trị đều đặt ở vùng Yamato và ảnh hưởng của Yamato lan rộng ra những nơi khác. Nhưng những tài liệu này không được chính xác và thường có những sai sót; nhiệm vụ của các nhà khảo cổ hiện đại là cung cấp nhiều thông tin chính xác hơn nữa, trên hết là về vấn đề các niên đại. Việc quản lý cai trị các tỉnh miền đông cũng dần dần được thiết lập, ảnh hưởng của Yamato thoạt tiên là ở miền tây đất nước, trải rộng cho đến vùng Mimana sát Triều Tiên. Thậm chí vùng này rất rộng và các nhà thống trị Yamato đã để lại nhiều công trình nguy nga về quyền chiếm lĩnh đất đai của họ dưới hình thức những lăng mộ mà người ta gọi là kofun (mộ cổ). Thoạt đầu, vào cuối thế kỷ III hoặc đầu thế kỷ IV, các lăng mộ còn tương đối nhỏ và được xây dựng trên những khu đồi tự nhiên. Vào thế kỷ V, quyền lực của các nhà thống trị Yamato đã lớn mạnh, xét qua qui mô lớn của các phần mộ của họ. Những lăng mộ đó vẫn được xây trên những cánh đồng như những khu đồi nhỏ. Kích thước đo đạc, kỹ thuật xây dựng và các vật trang trí đều đã được tiêu chuẩn hóa và xung quanh phần mộ là những hào sâu có hình dáng đặc biệt hình lỗ khóa. Nhìn từ dưới đất lên, lăng mộ lớn quá không thấy được rõ, phải có những ảnh chụp từ trên không mới thấy những lăng mộ đó cũng lớn như các kim tự tháp, tuy không cao được như thế. Lăng mộ lớn nhất là của Thiên hoàng Nintoku, nằm ở vùng Osaka hiện nay, trên một khoảng đất 32 ha và dài là 821 mét kể cả các hào xung quanh.


    Những lăng mộ hình "lỗ khóa" cùng những hòa lũy xung quanh giờ đây thấy có rải rác gần những khu dân cư gần Osaka. Lăng mộ lớn nhất của Hoàng đế Ojin có chiều dài 415 mét và chiều cao 35 mét.Qui mô của những mộ nhỏ hơn được đánh dấu bằng một hình cây cắm trên một khu mộ trong miền đồng bằng Kantoveef phía đông khu chính của các phần mộ.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Dường như các lãnh chúa đã nhiễm thói xa hoa và có những thói quen giống như các chiến binh ở lục đại châu Á, do kết quả sáp nhập miền bắc Kyushu vào nhà nước Yamato, với việc giao tiếp giữa quân đội Nhật Bản và quân đội Triều Tiên trong một thời gian vào thế kỷ IV. Những sự phát triển kể trên đã đưa tầng lớp quí tộc Yamato sát cánh với cuộc sống trong lục địa và od đó, những vật phẩm chôn theo lãnh chúa về sau này thường có những trang thiết bị, những huy hiệu của tầng lớp quí tộc cưỡi ngựa: giáo mác sắt, mặt nạ ngựa, giày đồng mạ vàng, trang sức vàng bạc và mũ miện. Việc trưng bày những của cải như thế cho thấy trong khi những người làm ruộng và những người đánh cá sống đơn giản với những sản phẩm họ làm ra thi người nắm được quyền hành giàu có hơn lại sống khác hẳn. Lối sống dựa theo ảnh hưởng của lục địa châu Á.

    Những lãnh chúa lớn nhất hoặc là các nhà lãnh đạo Uji sống trong triều đình Yamato, quyền hành của những người này thường lớn hơn người lãnh đạo Yamato. Một lý do là do các nhà lãnh đạo Uji trực tiếp cai quản những vùng đất sản xuất rộng lớn và dân chúng làm việc trong đó. Một lý do quan trọng khác nữa, là khi Thiên hoàng triều Yamato chết thì các lãnh chúa đó sẽ họp bàn để tìm người nối ngôi trong số những thành viên của gia đình nhà vua. Như vậy, dưới thời Yamato, Nhật Bản chưa phải là một đơn vị chính trị thống nhất mà là một nhóm phức tạp, những tập đoàn UjiBe, là những tập đoàn một phần nắm về đất đai, một phần nắm về công việc. Tuy nhiên, gia đình sơ khởi về đế chế ở Yamato càng ngày càng có ảnh hưởng lớn, chứng tỏ rõ ràng nhất qua những quy mô lăng mộ của họ.

    Quyền lực của Thiên hoàng nhà nước Yamato phần nào phụ thuộc vào sức mạnh quân sự, và những sử liệu truyền thống của Nhật Bản miêu tả việc chiếm lĩnh và những kế hoạch chinh phục những hòn đảo Nhật Bản của triều đình Yamato. một mạng lưới quan hệ gia đình qua hôn nhân đã giúp nhà vua có uy quyền áp đảo một số lãnh chúa mạnh ở những vùng khác trong đất nước. Với thời gian, những quan hệ huyết thống đó đã trở thành khách quan lạnh lùng hơn, gần giống như là mối ràng buộc giữa Thiên hoàng và triều thần. Sự giàu cso của gia đình hoàng gua cũng đã là một nhân tố quan trọng nâng cao triều đình Yamato, điều này được thấy rõ ở nhiều nơi trong đất nước, những nơi có nô lệ hoàng gia đủ các loại. Đặc biệt quan trong là trong số đó có những người nước ngoài nhập cư có tài năng khéo léo. Những thợ thủ công giỏi nghề nước ngoài đó thường là những người của triều đình Triều Tiên đem sang cống nạp. Sự việc những nhà vua nước ngoài thừa nhận uy quyền của triều đình Yamato đã làm tăng thêm uy quyền của triều đình này trong đất nước.

    Uy quyền của Thiên hoàng tuy có sự phụ tá của sức mạnh tôn giáo, quân đội, gia tộc, kinh tế và ngoại giao, cũng chưa đủ để cho triều đình Yamato cai trị đất nước có hiệu quả. Tuy nhiên triều đình Yamato vói đứng đầu là Thiên hoàng đã tỏ ra giởi hơn các lãnh chúa trong nghệ thuật cai trị những phần xa xôi hẻo lánh của đất nước. Tuy về bản chất thì việc cai trị của triều đình Yamato vẫn còn thô sơ,, nhưng nó đã có những tiến bộ hơn việc cai trị của những cộng đồng nhở thời Yayoi. Vì triều đình Yamato càng ngày càng tinh vi hơn, nên họ đã đánh giá cao, mến phục những kỹ thuật tiên tiến về quản lý đất nước tại Trung Quốc. Chỉ trong một thời gian không lâu, họ đã thẳng thắn bắt chước những thể chế cai trị của Trung QUốc để đưa đất nước nằm chắc chắn hơn dưới quyền của Thiên hoàng.

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    40pxSáng lập một nhà nước thống nhất
    Sống cô lập tách biệt khỏi lục địa Châu Á khiến cho Nhật Bản không bị nước ngoài xâm lấn, nhờ đó có được nền văn minh riêng biệt được phất triện tại sở quốc. Sống cô lập như vậy khiến cho người Nhật có ý thức hơn về bản thân mình trong giao lưu với những nền văn hóa nước ngoài, sẵn sàng chấp nhần vay mượn khi thấy thật cần thiết.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •