Trang 13 của 13 Đầu tiênĐầu tiên ... 3111213
Kết quả 121 đến 128 của 128
  1. #121
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    Ngày 9 tháng 3 năm 1966


    FBIS tường thuật từ Sở Nội chính Havana: “Thủ tướng Fidel Castro đã gửi thư tới công tố viên về vụ… xử Thiếu tá Rolando Cubela, Ramon Guin và các bị cáo khác. Trong đó, Thủ tướng nói phải thừa nhận đây là một bài học cay đắng nhưng hữu ích và nói thêm rằng ‘Tôi đề nghị tòa án không áp dụng hình phạt tử hình đối với bất kỳ bị cáo nào’.”

    Ngày 10 tháng 3 năm 1966


    FBIS tường thuật các lời khai tại phiên tòa ngày 8 tháng 3:

    Hỏi: Ông nhớ bộ hãm thanh của khẩu súng bị gãy khi nào?

    Cubela: Bộ hãm thanh ư? Thực tế thì bộ hãm thanh không bị gãy. Bộ hãm thanh thực sự không bị gãy.

    Hỏi: Bộ hãm thanh ở đâu rồi?

    Cubela: Tôi đã liệng bỏ bộ hãm thanh vì nó làm bỏng tay tôi.

    Công tố: Gần đây ông có nói chuyện với Fidel Castro chứ?

    Cubela: Có.

    Công tố viên: Ông có thể nói cho tòa biết ông nói chuyện với Fidel khi nào không?

    Cubela: Tôi nghĩ rằng đó là vào tháng giêng, để xem nào, tháng giêng, đúng là tháng giêng.

    Công tố: Vào tháng giêng ư! Ông có nhớ buổi nói chuyện giữa ông với Fidel chứ, và có phải Fidel đã đề nghị được giúp ông?

    Cubela: Chủ tịch Fidel mở các cánh cửa, mở các cánh cửa đối với tôi. Ông ta đã cho tôi, cho tôi hiểu rằng ông ta biết tôi đang làm gì nhưng tôi đã không có đủ can đảm để kể ra với ông ấy.

    Luật sư bào chữa: Cubela Secades, theo quan điểm của ông, hình phạt xứng đáng cho các hành vi mang bản chất thế này là gì?

    Cubela: Xấu nhất!

    Hỏi: Ý của ông là gì khi nói “xấu nhất”?

    Cubela: Bức tường.

    Hỏi: Ý của ông là gì khi nói “bức tường”

    Cubela: Sau lưng là bức tường, còn phía trước là các khẩu súng.

    Ngày 11 tháng 3 năm 1966


    FBIS tường thuật theo Phòng Nội Vụ Havana ngày 10 tháng 3:

    Tòa Án Cách Mạng số 1, đã xử vụ án số 108 về các tội ác chống lại sự toàn vẹn và an ninh của quốc gia, đã tuyên án các bị cáo Rolando Cubela, Ramon Guin và các bị cáo khác.

    Theo bản án này, Rolando Cubela và Ramon Guin bị kết án 25 năm tù; Jose Luis Gonzalez Gallarrete và Alberto Blanco Romanriz, 20 năm và Juan Alsina Navarro, 10 năm tù.

    Guillermo Cunill Alvarez và Angel Herrero Veliz được tuyên án vô tội.

    (Bình luận: Cũng đáng lưu ý ở đây là không một giao dịch nào giữa Cubela và CIA từ tháng 3 năm 1961 đến tháng 11 năm 1964 được đề cập đến trong phiên xét xử này. Lần kết giao đầu tiên giữa Cubela và CIA xảy ra từ chuyến đến châu Âu của ông ta vào cuối năm 1964 và đầu năm 1965, là thời gian ông ta đã có các buổi gặp gỡ với Artime. Chứng cứ đưa ra trong phiên tòa giới hạn ở các hành vi phản cách mạng của Cubela, đáng chú ý hơn là các cuộc họp với Artime vào tháng 12 năm 1964 và tháng 2 năm 1965. Trong nhiều cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa ông ta với các nhân viên CIA – một số người ông ta biết cả tên thật – không có lần nào được nhắc đến trong phiên tòa. Thậm chí kể cả giai đoạn bút bi/ống tiêm/Lá Đen 40 cũng không một điều nào được ám chỉ đến. Chính quyền Cuba có thể đã lấy được các thông tin này từ Cubela và quyết định không trưng những điều đó ra làm bằng chứng, nhưng chúng ta không nghĩ ra được lý do thuyết phục nào để giải thích việc họ giữ các bằng chứng này lại. Chúng tôi chỉ có thể tìm được lý do gần nhất như sau, chỉ hoàn toàn là sự phỏng đoán: có thể Fidel đã nghĩ rằng ông sẽ khinh suất về mặt chính trị khi cho phép tử hình ai đó quá thân cận với ông ta, người mà chỉ mới mưu tính chứ chưa hành động. Từ đó, nếu để tất cả mọi chi tiết chứng tỏ có sự dính líu của Cubela với CIA được tiết lộ ở tòa án, Fidel sợ rằng không có nhiều lý do để yêu cầu tòa án khoan hồng.)

  2. #122
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Ngày 30 tháng 7 năm 1964


    Ủy ban 303 đã họp phiên thường lệ, có lẽ tại Phòng Tình huống của Nhà Trắng. (Desmond FitzGerald nhớ rằng những cuộc họp như thế thường được tổ chức tại đó.) Dưới đây là những người tham dự được ghi tên lại:

    McGeorge Bundy, Cyrus Vance, John McCone, Thomas Hughes, Desmond FitzGerald để bàn về Cuba

    Đại tá Ralph Steakley có mặt vì một vấn đề khác liên quan đến Cục Tình Báo, nhưng không biết ông ta có mặt khi vấn đề Cuba được đem ta thảo luận không.

    Peter Jessup là thư ký.

    Biên bản cuộc họp, phần ghi chép cuộc thảo luận vấn đề Cuba:

    “Đồng ý là ông FitzGerald sẽ liên hệ với ông Sam Papich của FBI về bản tường trình trước đó đề cập đến một âm mưu trong đó Mafia ngụ ý muốn ám sát Fidel và là vụ việc mà Bộ trưởng Tư pháp đồng ý giải quyết như là một vấn đề thực thi pháp luật.

    Điều không nói ra ở đây rõ ràng nói đến việc tường trình thông tin trong bản ghi nhớ ngày 10 tháng 6 năm 1964 của DD/P gửi cho Giám đốc CIA. Phạm vi của vấn đề đã lan rộng sang những thành phần “ưu tú” khác gồm:

    Trợ lý Đặc biệt Tổng thống về các vấn đề An ninh Quốc gia

    Trợ lý Ngoại trưởng, các Vấn đề Liên Mỹ, Bộ Ngoại giao

    Giám đốc Tình báo và Nghiên cứu, bộ Ngoại giao

    Giám đốc, Cơ quan Tình báo Quốc phòng Mỹ.

    Bộ trưởng Tư pháp

    Giám đốc, Cục Điều tra Liên bang (FBI)

    Phó Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Mỹ.

    Phó Giám đốc phụ trách Tình báo

    Báo cáo liên quan đến một đề nghị ám sát Fidel được những phần tử Cuba lưu vong nổi tiếng đề xuất. Mafia dường như có dính líu đến kế hoạch này. Họ yêu cầu được trả 150.000 đô la cho công tác và 10.000 đô la cho mọi chi phí. Một nhân vật lưu vong giàu có, , được báo cáo là sẵn sàng đóng góp 50.000 đô la. tìm gặp Trưởng Trạm, JMWAVE, và đề nghị chính phủ Mỹ cùng đóng góp tài chính. Đề nghị này đã bị bác bỏ thẳng thừng. Báo cáo này cho thấy chỉ có CIA liên hệ vào âm mưu ấy. Báo cáo cuối cùng chúng tôi tìm thấy về biến cố này là bản ghi nhớ của DCI (McCone) gửi cho Bundy đề ngày 19 tháng 8 năm 1964, báo cáo lại kết quả những cuộc thẩm vấn của FBI với các nhân vật được cho là có tham gia. Hiển nhiên là âm mưu này không đi đến đâu cả:

    (Bình luận: Có thể đây là sự trùng hợp duy nhất nhưng chúng tôi sửng sốt trước yếu tố nhóm người âm mưu này, được cho là có cả những phần tử găngstơ, đã đòi 150.000 đô la để ám sát Fidel. Đó là đúng số tiền mà CIA đã đề nghị trả trong một âm mưu trước đây rõ ràng có dính líu đến những phần tử găngstơ. Có thể đây chính là nhóm găngstơ đó hoặc có thể thế giới tội ác ngầm biết “mức giá chuẩn”.)

    Như chúng tôi đã nói trước đây, nếu Drew Pearson có những thông tin khẳng định về một cuộc họp cấp cao thảo luận việc ám sát Fidel, có lẽ đó là cuộc họp ngày 10 tháng 8 năm 1962 của Nhóm Đặc biệt (Tăng cường). Cuộc họp của Ủy Ban 303 ngày 30 tháng 7 năm 1964 được kể ra chỉ vì nó đề cập đến việc ám sát Fidel, song chắc đã bị bóp méo cho hợp với một số điểm trong câu chuyện của Pearson.

    Câu chuyện của Drew Pearson

    - Những chi tiết đã được phổ biến là CIA ngấm ngầm âm mưu loại trừ Fidel?

    - Đúng vậy.

    - Robert Kennedy có thể đã chuẩn y một âm mưu ám sát

    - Không đúng. Ông ta được báo cáo về Giai Đoạn Một của Nghiệp đoàn cờ bạc - sau khi đã chấm dứt. Ông không được báo cáo về Giai Đoạn Hai.

    - Những nhân vật trong thế giới ngầm đã thật sự được tuyển mộ để tiến hành âm mưu này.

    - Đúng!

    Ba tên sát nhân được thuê đã bị bắt tại Havana. Một kẻ sống sót duy nhất được cho là vẫn còn mỏi mòn trong nhà tù ở đó.

    Ngày 21 tháng 6 năm 1962, Roselli thông báo cho Harvey, có lẽ căn cứ vào nguồn tin của Varona, rằng một toán ba người đã có mặt tại Cuba. Chúng tôi không biết lai lịch họ cũng như chuyện gì có thể đã xảy ra với họ. Chúng tôi không có bằng chứng nào cho thấy là họ đã được phái đi. Không có việc bắt bớ hay hành quyết nào được loan báo vào thời điểm đó khớp với toán người này.

    Ít nhất thì những hiểu biết của Fidel cũng đủ để tin là CIA đang tìm cách giết ông. Có tin cho biết là ông đã xếp đặt một âm mưu đáp trả dành cho Tổng thống Kennedy (nhưng chắc đó chỉ là trong một cơn giận dữ của Fidel).

    Điều này đã được báo cáo trong những cuộc điều tra Garrison. Nó cũng được Castillo ở Philippin nói đến trong cuộc thẩm tra trực tiếp. Chúng tôi không có sự xác nhận độc lập về các tin loại này. (Chú ý là Garrison đã gặp Roselli tại Las Vegas vào tháng 3 năm 1967.)

    Những chi tiết được giữ tuyệt mật

    - Những viên thuốc đã được gửi đến Cuba để sử dụng vào việc ám sát

    - Đúng. Ít nhất chúng tôi đã nghe Roselli cho biết là những viên thuốc đã được gửi đến đó trong Giai đoạn 1 và cả Giai đoạn 2 nữa.

    - Có một cuộc họp tại Bộ Ngoại Giao bàn về việc ám sát Fidel?

    - Đúng. Đề tài này đã được nêu lên trong một cuộc họp tại Bộ Ngoại Giao ngày 10 tháng 8 năm 1962, nhưng không liên quan gì đến bất kỳ âm mưu ám sát thực thụ nào. Nó dẫn đến việc Lansdale soạn ra một bản ghi nhớ hành động trong chiến dịch CON CẦY, giao nhiệm vụ cho CIA lập kế hoạch thanh toán các nhà lãnh đạo. Cụm từ khó chịu này sau đó đã được cắt bỏ ra khỏi các bản sao chép gởi cho CIA, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và USIA, nhưng có thể cũng đã gây ra thiệt hại.

  3. #123
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Sự phân nhánh chiến dịch của Nghiệp Đoàn Cờ Bạc


    Phần trước của báo cáo này đã mô tả mọi âm mưu của CIA nhằm ám sát Fidel mà chúng tôi có thể đã khám phá ra được. Các tình tiết về hai giai đoạn của nghiệp đoàn cờ bạc là dữ kiện có thực trên cơ sở hồi ức của những người được phỏng vấn và tin là đúng. Rõ ràng một số dữ kiện đó đã bị tiết lộ ra ngoài, đang được nói đến và đang được rêu rao.

    Ở trang sau là danh sách các chi tiết chính trong câu chuyện mà nhà báo Draw Pearson có, và đã đưa ra trước công luận, cùng với một lời bình ngắn về tính chính xác hiển nhiên của từng chi tiết. Thực ra đa số các chi tiết trong câu chuyện của Draw Pearson đều đáng tin cậy. Ông ta có trong tay bản báo cáo bị cắt xén về vai trò của Robert Kennedy, và ông ta mắc sai lầm ở chỗ đã kể câu chuyện này như thể mọi chi tiết của chúng là một phần trong một câu chuyện duy nhất. Thực tế đã cho thấy không phải vậy. Dầu sao, hầu hết các dữ kiện của ông đều trung thực và ông nắm được những khía cạnh thực sự quan trọng về chiến dịch Nghiệp Đoàn Cờ Bạc.

    Chỉ đến lúc James O’Connell trở về vào ngày 2 tháng 5 từ những cuộc họp tại Las Vegas, chúng tôi mới không phải đối mặt với sự khó khăn trong việc đo lường tầm mức của vấn đề mà Cục phải đối phó, trừ khi chúng tôi phát hiện ra điều gì đã bị tiết lộ, ai đã làm việc này, tiết lộ với ai và nhằm mục đích gì. Chúng tôi không thể suy đoán ra chuyện gì đáng tin từ những thông tin mà chúng tôi có. O’Connell, người đã tường trình miệng với quí vị và sẽ gởi báo cáo viết tay thẳng tới quí vị, có thể sẽ làm sáng tỏ phần nào nguồn gốc có thể xuất phát các thông tin mà Pearson có. Ông ta cũng đã báo cáo với chúng tôi về cuộc nói chuyện với Maheu. Dưới đây là những điểm chính:

    a. Maheu đã báo cho luật sư của mình, Edward P.Morgan về việc Maheu tham gia Giai đoạn Một.

    b. Maheu không biết gì đến Giai đoạn Hai đang được tiến hành và không hề nghe Roselli nói gì về nó cả.

    c. Morgan và Roselli đã quen biết nhau, không phải thông qua Maheu, ngay trước khi Maheu quan hệ với Roselli trong chiến dịch nghiệp đoàn cờ bạc. Roselli đã được H.M. Greenspun, chủ bút kiêm nhà xuất bản báo Las Vegas Sun, dẫn tới gặp Morgan.

    d. Maheu nghi Roselli là một khách hàng của Morgan

    e. Roselli nghiện rượu nặng. Morgan mới đây đã đến Las Vegas một hay hai lần, trong lúc quá say nên đã “sơ suất.”

    f. Jim Garrison, Edward Morgan và Roselli đều có mặt tại Las Vegas cùng một lúc trong tháng ba vừa qua. Garrison đã tiếp xúc với Roselli, và Morgan cũng vậy. Chúng tôi nghĩ rằng Greenspun cũng đã có mặt trong các buổi nói chuyện này. Chúng tôi không biết thời điểm, nhưng có thể lưu ý là một trong các bài báo của Pearson xuất hiện vào ngày 7 tháng 3.

    g. Theo Maheu, Morgan và Jack Anderson rất thân với nhau (Anderson là cộng sự của Drew Pearson.)

    Có vẻ đã rõ ràng để nêu đích danh Roselli chính là nguồn thông tin cuối cùng về âm mưu của Nghiệp Đoàn Cờ Bạc và khẳng định Morgan chính là nguồn cung cấp tin của Pearson.

    Chúng tôi có thể kiểm tra tính chính xác của giả thuyết này dựa trên những phân tích mà chúng tôi đã làm trước đây khi cố nhận diện nguồn có thể cung cấp tin cho câu chuyện của Pearson. Trên trang sau, chúng tôi liệt kê danh sách những nhân vật đã được biết chắc chắn là đã biết một số dữ kiện then chốt mà giờ đây Pearson có trong tay. Danh sách này bao gồm các nhân viên CIA biết nhiều hơn một dữ kiện chính, cộng với tất cả những người không phải là CIA đã biết đến. Đây là kết luận của chúng tôi:

    a. Nếu Drew Pearson có duy nhất một nguồn cung cấp tin, và nếu nguồn trực tiếp của Pearson là nguồn cuối cùng rò rỉ, và nếu việc khoanh phạm vi không bị vi phạm, thì Bill Harvey hiện ra như một ứng viên có thể. Bill Harvey là người duy nhất được tìm thấy trong quá trình điều tra này biết tất cả bốn sự kiện chính vào thời điểm bài báo của Pearson xuất hiện. Chúng tôi không thể tìm thấy lý do thuyết phục tại sao ông ta chủ ý muốn tiết lộ câu chuyện và chúng tôi không tin ông ta lại tình cờ bộc lộ sự thiếu thận trọng để tiết lộ thông tin. Hơn thế nữa, nếu ông ta là nguồn cung cấp tin, chúng tôi có thể mong câu chuyện của Pearson là hoàn toàn chính xác, vì Harvey biết sự thật.

    b. Nếu chúng ta loại Harvey ra khỏi suy nghĩ là kẻ cung cấp tin thì dường như ít nhất phải có hai nguồn cuối cùng rò rỉ. Những người khác tham gia trong chiến dịch đều không biết về cuộc họp ở Bộ Ngoại Giao – giả sử là Harvey không đề cập buổi họp này cho một ai khác. Vì vậy hoàn toàn có thể việc rò rỉ tin này xuất phát từ ai đó không trực tiếp biết về chiến dịch Nghiệp Đoàn Cờ Bạc nhưng lại biết về cuộc họp đó.

    c. Đứng trên quan điểm ai-biết-cái-gì, người đáng ngờ nhất kế tiếp có thể đã tiết lộ tin là John Roselli. Ông này trên thực tế là người duy nhất tham gia trực tiếp và liên tục trong cả hai giai đoạn của chiến dịch Nghiệp Đoàn Cờ Bạc. Ông ta giới thiệu Maheu với Sam Giancana là bước đầu tiên để đưa chiến dịch vào hoạt động, và ông ta là người cuối cùng cắt đứt quan hệ với Verona khi chiến dịch bị bỏ rơi. Ông ta biết hết mọi chuyện diễn ra với bọn găngstơ, với Orta và với Varona giữa khoảng thời gian đó. Ông ta và Robert Mahout là những người tham gia duy nhất không là nhân viên CIA biết trực tiếp những chi tiết liên quan đến Robert Kennedy. Shef Edwards đã ăn trưa với Roselli và Maheu tại Los Angeles vào mùa hè năm 1962. Edwards kể rằng Roselli biết tên thật của Edwards và chức vụ của ông ta trong CIA. Edwards nói rằng ông ta đã chọn dịp để bày tỏ lời khen ngợi cá nhân của ông đối với Roselli, và nói với Roselli rằng ông ta, Edwards, đã đích thân nói với Bộ trưởng Tư pháp Kennedy về những gì Roselli cố gắng làm vì quyền lợi quốc gia. Chúng ta biết Kennedy chỉ được tường trình về chiến dịch – và chỉ ở Giai đoạn Một – nhưng có thể Roselli lại suy ra rằng Kennedy có một vai trò tích cực trong chiến dịch này.

    d. Chúng tôi không rõ Robert Maheu đã trực tiếp biết gì về chiến dịch, vì chúng tôi có những thông tin trái ngược nhau về thời điểm chính xác ông ta bị rút ra khỏi vai trò tham gia trực tiếp. Ông ta biết trực tiếp về giai đoạn một nhưng lại biết rất ít về giai đoạn hai, nếu có biết (theo như bài báo của Pearson). Nếu ông ta biết về giai đoạn hai thì chắc chỉ có Roselli nói.

    e. Maceo, người mà chúng tôi đề cập rất ít, là “người của Roselli” trong giai đoạn hai. Có thể ông ta biết về những viên thuốc và về toán ba người, còn về những chi tiết khác có lẽ do Roselli nói.

    f. Những gì Varona cùng người con rể của ông ta biết sẽ được giới hạn ở những viên thuốc và toán ba người, nhưng họ sẽ biết nhiều hơn đáng kể; như, ai nhận thuốc này, thành phần của toán và số phận cuối cùng của toán này.

    g. Giancana và Trafficante được cho là đã không tham gia giai đoạn hai. Có lẽ họ biết về nó chỉ qua Roselli.

    Từ tất cả những gì hiện ra qua việc duyệt xét lại quan điểm “ai trực tiếp biết chuyện gì” đã hậu thuẫn cho giả thuyết nói rằng câu chuyện của Drew Pearson có lẽ do nhiều người cung cấp: một người cung cấp tin là về cuộc họp tại Bộ ngoại giao và người kia (hoặc những người) cung cấp tin về chiến dịch nghiệp đoàn cờ bạc. Chúng tôi cũng xác định rất có thể Roselli là nguồn tin cơ bản cho câu chuyện của Pearson. Dòng lý luận này và thông tin mà O’Connell nhận được từ Maheu là nhất quán.

    Cho đến lúc này giả định của chúng tôi là nguồn cung cấp tin tối hậu và trực tiếp, nếu là ai khác, đang tiết lộ bí mật và gây rùm beng câu chuyện này với các động cơ sâu kín trong đầu. Những động cơ sâu kín đó là gì có thể thật khó thăm dò – vì những nguyên nhân sau:

    a. Nếu nguồn cung cấp tin này đang tìm kiếm một sự bảo vệ, chắc chắn là anh ta sẽ được nhận được sự bảo vệ tốt hơn khi trực tiếp đến gặp CIA để xin giúp đỡ.

    b. Maheu là mối nối duy nhất được biết đến đã kết dính Morgan với âm mưu nghiệp đoàn cờ bạc và Maheu chắc chắn chỉ thua thiệt khi để cho vai trò của ông trở nên công khai.

    c. Những ai đã biết Morgan, Maheu và Roselli đều nghĩ là nếu vì một mục đích cá nhân bất kỳ ai đó trong ba người này lan truyền câu chuyện này một cách cố ý thì thật không đúng với tính cách của họ.

    Trong việc biết được mối liên hệ Roselli-Morgan, chúng tôi không còn thấy bức thiết lắm phải suy diễn việc câu chuyện được lộ ra như thế nào. Rất có thể là Roselli là nguồn cung cấp tin, Morgan là người đưa tin, Anderson và Pearson là những người nhận tin. Chúng tôi có thể cũng không còn thấy bức thiết lắm trong việc suy diễn về lý do nào câu chuyện này đã được kể. Suy luận được rút ra từ những khám phá của O’Connell tại Las Vegas là Roselli đã uống quá nhiều rượu nên nói ra và Morgan cũng đã kể với một người bạn là nhà báo bên bàn rượu.

    Với cái nhìn lạc quan trước việc này – rằng không có một động cơ sâu kín nào trong việc tán phát câu chuyện này – vấn đề cần có câu trả lời là chúng ta giờ đây có khởi sắc hơn so với trước đây không; vị trí của chúng ta thậm chí có thể còn xấu hơn những gì chúng ta đã mong đợi không.

    a. Giờ đây chúng ta có thể giả định rằng câu chuyện của Pearson đã không được chắp vá từ những mẩu tin vụn vặt lượm lặt từ đây đó, Nguồn cung cấp tin tối hậu của ông ta, Roselli, biết một số chi tiết về chiến dịch nghiệp đoàn cờ bạc nhiều hơn là chúng ta biết, và ông ta rõ ràng đã nói ra. Bây giờ mà cố bưng bít thêm những lỗ rò có thể sẽ có hại hơn là có lợi; câu chuyện đã thoát ra ngoài rồi và có lẽ với nhiều tình tiết đáng kể.

    b. Cuộc gặp Roselli-Garrison ở Las Vegas vào tháng 3 đặc biệt gây nhiễu loạn. Nó đã cung cấp chất liệu cho các báo cáo nói rằng Fidel có liên quan gì đó đến cuộc ám sát Kennedy nhằm trả đũa âm mưu Mỹ ám sát Fidel. Chúng tôi không biết là Fidel có thực sự tìm cách trả đũa không nữa, nhưng chúng tôi có biết có những âm mưu như thế chống lại Fidel. Không may, dường như lúc này Garrison có thể cũng biết điều này.

    Việc công khai về đề tài này có lẽ vẫn chưa chạy đúng tiến trình của nó.

    a. Drew Pearson, theo như chúng tôi biết, đã chưa sử dụng hai trong những món khoái khẩu nhất của ông ta: câu chuyện về thuốc độc và cuộc họp của Bộ Ngoại giao.

    b. Garrison vẫn chưa tiết lộ hết vụ việc của ông ta. Khi ông ta làm thế, chúng tôi sẽ mong thấy CIA được trình bày một cách nổi bật.

    c. Cục Điều Tra Quốc Gia Philippine đang giam giữ một phạm nhân người Puerto Rico tuyên bố rằng mình là người tham gia trong một âm mưu ám sát ở Dallas được Fidel gợi hứng. Ông ta cũng nói rằng trong bài diễn văn đọc vào tháng 7 năm 1962, Fidel dọa là sẽ tìm cách ám sát Kennedy để trả đũa lại hai âm mưu ám sát Fidel của Kennedy. (Chúng tôi không tìm thấy hồ sơ lưu nào và cũng không nhớ là Fidel có đọc một bài diễn văn như vậy.) Người Puerto Rico này cư trú bất hợp pháp ở Philippine và có lẽ sẽ bị trục xuất lại về Mỹ. Chúng tôi có thể mong FBI sẽ bắt giữ hắn và khai thác hắn tới nơi tới chốn.

    Chúng tôi đang đối mặt với khả năng là mọi chuyện sẽ trở nên tệ hại trước khi chúng bắt đầu có dấu hiệu sáng sủa. Trong các đoạn dưới đây chúng tôi tìm hiểu sâu về một số các nhánh rẽ và bàn về cách ứng phó với chúng.

    - Liệu chúng ta có tìm cách bịt miệng những kẻ đang nói hoặc có thể sẽ nói sau này không?

    - Với chúng ta điều rõ ràng là chiến thuật này cho thấy có rất ít cơ hội thành công. Sở dĩ nói như vậy là vì câu chuyện dầu sao cũng đã được tiết lộ rồi và có lẽ với tất cả chi tiết mà nó có. Người tham gia duy nhất mà chúng ta có thể gây tác động thực sự là Maheu, và ông ta cũng đã nói hết những gì ông ta có thể nói ra rồi (với luật sư của ông ta, Morgan). Chúng ta không nắm được ai khác trong số những người có thể cung cấp sự xác nhận cho câu chuyện của Roselli.

    a. Varona gần như chắc chắn không là bạn của CIA. Khi chiến dịch Vịnh Con Heo phát triển, Verona là một trong những người chỉ trích gay gắt việc người Cuba lưu vong không nắm quyền kiểm soát chiến dịch và không tham gia vào đây. Ông ta cay đắng việc CIA chấm dứt sự hậu thuẫn đối với nhóm lưu vong của ông ta (và kết quả là ông ta đã mất đi phần thu nhập riêng.) Điều cuối cùng chúng tôi biết về ông ta là ông đang ở New York và làm nghề bán xe hơi để sinh nhai qua ngày.

    b. Roselli, Giancana và Trifficante đã gặp phải vận rủi. Trên tờ Chicago số gần đây loan tin Giancana đã bị lật đổ khỏi cương vị trùm Mafia ở Chicago và có lời đồn là ông ta đang sống chui rúc ở Mexico. Maheu nói rằng Trifficante đang bị giam ở Tampa. Roselli không còn được trọng vọng ở Las Vegas và mỗi khi rời khỏi nơi cư ngụ bắt buộc phải thông báo với cảnh sát. Không người nào trong số họ thấy xấu hổ phải trưng ra việc họ có quan hệ với CIA khi bị lực lượng thi hành pháp luật dồn ép họ. Giancana đã làm vậy khi FBI ‘quấy rầy’ ông ta vào năm 1963. Roselli dường như đã làm vậy trong các lần nói chuyện với Morgan và Garrison.

    (Bình luận: Câu chuyện ngụy trang được dùng với Roselli, Giancana, Trafficante, Varona và được tin là với cả Orta là những người bảo trợ là những nhà kinh doanh Mỹ có quyền lợi ở Cuba. Roselli nhanh chóng kết luận rằng CIA chính là người bảo trợ thực sự và vì vậy đã nói với O’Connell như vậy. Trong những lần giao dịch sau đó với Harvey và Edwards, Roselli càng khẳng định thêm điều này. Giancana nêu tên CIA vào năm 1963. Chúng tôi phải giả định rằng những người khác, có thể Orta và cả Varona là một ngoại lệ, cũng chắc rằng CIA là người bảo trợ thực sự.)

    c. Morgan có thể luôn núp ra sau bức màn của mối quan hệ luật sư-khách hàng, như đã được biết khi ông bị FBI tìm đến hỏi về câu chuyện của Pearson.

    d. Pearson, Anderson và Greenspun (ở Las Vegas) là những nhà báo có những câu chuyện đáng đưa lên mặt báo. Pearson đã cho xuất bản nhiều bài báo của mình.

    e. Maheu có lý do để tin là ông ta không muốn câu chuyện này được loan truyền thêm nữa. Sự công khai không được ‘mến mộ’ có thể đã khiến ông mất đi khách hàng béo bở, Howard Huges. Có thể cũng thâu lượm được một số giá trị qua việc chấp thuận lời đề nghị của ông ta rằng ông tìm đến Morgan và có lẽ cả Roselli để thúc giục họ nên thận trọng.

    - Các bộ phận khác trong Chính phủ biết gì về kế hoạch này?

    - Cựu Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy đã được Houston và Edwards tường trình đầy đủ vào ngày 7 tháng 5 năm 1962. Một biên bản xác nhận thông tin thuyết trình bằng miệng được chuyển đến cho Kennedy vào ngày 14 tháng 5 năm 1962. Biên bản này không dùng từ ‘ám sát’ nhưng không dễ hiểu sai về những gì muốn nói. Bản gốc của biên bản này được cho là vẫn còn lưu trong hồ sơ của Bộ Tư pháp. Cũng cần lưu ý là buổi thuyết trình cho Kennedy được giới hạn trong Giai đoạn Một của chiến dịch này, kết thúc vào khoảng một năm trước đó. Giai đoạn Hai của chiến dịch đã tiến hành rồi vào thời điểm xảy ra buổi thuyết trình nhưng Kennedy đã không được báo cáo cho biết.

    Theo chúng tôi biết, FBI đã không được báo cáo các chi tiết nhạy cảm trong chiến dịch, nhưng sẽ ngây thơ nếu cho rằng đến lúc này họ không nhìn lại vấn đề để rút ra những câu trả lời chính xác. Họ biết CIA có dính líu với Roselli và Giancana như những gì đã biết trong vụ nghe lén điện thoại ở Las Vegas. Từ các bài đăng trên tờ Chicago vào tháng 8 năm 1963, và từ chính những phát biểu của Giancana, có vẻ như họ biết việc này có liên quan đến Cuba. Khi câu chuyện về Roselli lọt vào tai họ (từ Roselli đến Morgan đến Pearson đến Warren đến Rowley đến FBI) tất cả những mẩu chuyện rời rạc này hẳn sẽ rơi đúng vào vị trí của chúng. Đến lúc này họ hẳn đã kết luận rằng CIA âm mưu ám sát Fidel và sử dụng các phần tử găngstơ để thực hiện chuyện này.

    Có một số điều hậu thuẫn cho giả thuyết này trong cuộc nói chuyện giữa tôi và Sam Papich vào ngày 3 tháng 5 năm 1967 khi tôi nói với ông ta về cuộc họp được mong đợi giữa Roselli và Harvey. Sam đã nhận xét là Roselli và Giancana đã đẩy CIA ‘vào hoàn cảnh khó khăn’ vì ‘chiến dịch đó’. Ông ta nói rằng ông ta nghi ngờ việc FBI có thể làm gì cho hoặc Roselli hoặc Giancana vì ‘các hoạt động của bọn họ trước đó với người của ông’.

    - Chúng ta có thể dễ dàng phủi tay việc âm mưu với các phần tử găngstơ để ám sát Fidel không?

    - Không, chúng ta không thể. Chúng ta có thể tin một cách hợp lý rằng không có văn bản viết tay nào bên ngoài Chính phủ sẽ xác nhận câu chuyện của Pearson về chiến dịch Nghiệp Đoàn Cờ Bạc, nhưng có nhiều nhân chứng không thuộc thành phần găngstơ có thể chứng nhận việc này.

    a. Maheu có thể xác nhận rằng Shef Edwards nói với Roselli rằng Edwards đã nói với Bộ trưởng Tư pháp về các hoạt động của Roselli nhân danh chính phủ.

    b. Varona và con rể của ông ta có thể xác nhận các yếu tố viên thuốc độc và toán ba người trong câu chuyện này.

    c. Orta có thể xác nhận yếu tố thuốc độc trong Giai đoạn Một.

    d. Nếu một cuộc điều tra độc lập được phép tiến hành thì các nhà điều tra có thể biết được những gì chúng tôi đã biết. Một cuộc điều tra như thế có lẽ sẽ bật mí những điều chúng tôi chưa biết, vì họ có thể thẩm vấn cả những người tham gia không phải là nhân viên CIA.

    - Liệu CIA có thể tuyên bố hoặc ám chỉ rằng đó chỉ là một công cụ của chính sách không?

    Trường hợp này thì không. Trong khi đúng là Giai đoạn hai được tiến hành trong bầu không khí mà chính quyền Kennedy đang tạo mọi sức ép để áp chế Fidel thì giai đoạn trước đó không đúng như vậy. Giai đoạn một mở màn vào tháng 8 năm 1960 dưới thời chính quyền Eisenhower. Giai đoạn Một, trong suy nghĩ của Harvey, liên quan đến “Khả năng Hành động cấp Điều hành”, theo như báo cáo, được phát triển nhằm trả lời cho những yêu cầu cấp bách của Nhà Trắng. Một lần nữa, Giai đoạn Một đã được khởi động và bỏ rơi nhiều tháng trước khi Khả năng Hành động cấp Điều hành xuất hiện.

    Khi Robert Kennedy được tường trình về Giai đoạn Một vào tháng 5 năm 1962, ông ta mạnh mẽ khuyến cáo Houston và Edwards kiểm tra cùng với Bộ trưởng Tư pháp trước mọi việc cố tình sử dụng các phần tử tội phạm Mỹ trong tương lai. Điều này đã không được tôn trọng trong Giai đoạn Hai, đã được tiến hành rồi vào lúc Kennedy nghe thuyết trình. Câu chuyện của Pearson, giờ đây đang khiến cho chúng ta nhiều âu lo, có đưa vào một chi tiết chỉ được tìm thấy trong Giai đoạn Hai: toán ba người.

    Các biện pháp nào có thể được thực hiện để làm giảm bớt thiệt hại?

    Chúng tôi thấy sẽ chẳng vớt vát được bao nhiêu nếu tìm cách tiếp xúc cá nhân với Maheu, Morgan và Roselli. Maheu có nhiều thứ để mất nên có thể phải thuyết phục Morgan và Roselli đừng phát tán câu chuyện này thêm nữa. Vấn đề là liệu có sự bức bách nào như thế tác động được với Roselli hay không, vì Roselli lên tiếng chỉ mong được hưởng lợi từ việc muốn rằng câu chuyện ông ta có dính líu với CIA được mọi người biết và chấp nhận. Chúng tôi không thể bịt miệng chuyện này được, vì nó đã được tung ra và có thể lại đang sôi sục hơn nữa khi vụ Garrison nổ ra. Nếu chúng ta tính chuyện tìm gặp tất cả mọi người tham gia và giục giã họ nên thận trọng, thử nghĩ, nếu việc làm này bị lộ ra, chúng ta lại vô tình làm cho câu chuyện từ chỗ nghe như ‘không lẽ nào’ trở thành một câu chuyện ‘có thể tin được’.

  4. #124
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Những nguồn tin


    Các hồ sơ được Giám Đốc An Ninh, Phó Giám Đốc Hỗ Trợ, Tổng Luật Sư, Hội Đồng Lập Pháp, Chỉ Huy Trưởng bộ phận WH và Đại tá J.C. King, nguyên chỉ huy trưởng bộ phận W.H cung cấp. Hồ sơ về tiểu sử và những ấn phẩm về tình báo do Giám Đốc Bộ Phận Tham khảo Trung Ương cung cấp. Ông ta không biết lý do vì sao chúng tôi quan tâm đến chúng, và những người tập hợp các tài liệu này theo lệnh ông ta cũng không biết là ai đã yêu cầu chúng.

    Chúng tôi cũng mời bốn sĩ quan: Richard Bissell, Sheffield Edwards đã nghỉ hưu, William Harvey đang nghỉ dưỡng bệnh và Nestor Sanchez đang công tác ở đến để phỏng vấn. Ngoài ra, chúng tôi cũng đã phỏng vấn những nhân viên đang thi hành các nhiệm vụ của tổng hành dinh. Chúng tôi bắt đầu mỗi cuộc phỏng vấn bằng cách đề cập đến bài báo ngày 7 tháng 3 năm 1967 của Drew Pearson, đồng thời nói rõ đó là lý do khiến chúng tôi quan tâm muốn biết các âm mưu ám sát Fidel. Chúng tôi bảo những người được phỏng vấn rằng chúng tôi thừa lệnh Giám Đốc làm nhiệm vụ tìm kiếm các dữ kiện thực tế chứ đây không phải là cuộc điều tra thông thường của Tổng Thanh Tra. Chúng tôi yêu cầu mỗi người cho biết tên bất kỳ người nào khác có thể đã biết về các âm mưu đó. Chúng tôi cũng lưu ý từng người là đừng bàn tới việc phỏng vấn này với một ai khác. Đây là danh sách đầy đủ tên những người đã được phỏng vấn:

    Những tuyên bố của Tổng Thống GeorgeW.Bush gần đây về tăng cường sức ép với Cuba, đưa Cuba vào danh sách "Các quốc gia khủng bố"

    … “Hoa Kỳ nhận thấy rằng đôi khi nền tự do tiến triển theo từng bước một. Và chúng ta sẽ cổ vũ cho những bước ấy. Dòng chảy lịch sử đang cuồn cuộn đổ về biển cả tự do. Kế hoạch của chúng ta chỉ là cố gắng thúc đẩy tiến trình đạt được tự do ở Cuba bằng mọi cách có thể, giống như Hoa Kỳ cùng các người bạn và đồng minh dân chủ đã thực hiện thành công ở nhiều nơi như Phần Lan, hoặc Nam Phi”.

    George W. Bush, Washington, ngày 20 tháng 5 năm 2002.

    “Việc bình thường hóa quan hệ toàn diện với Cuba – bao gồm sự công nhận về mặt ngoại giao, tự do thương mại và chương trình trợ giúp mạnh mẽ – sẽ chỉ khả thi trong trường hợp Cuba có được một chính quyền mới hoàn toàn dân chủ, khi mà luật lệ được tôn trọng và nhân quyền của mọi người dân Cuba được bảo vệ đầy đủ.”

    George W. Bush, Washington, ngày 20 tháng 5 năm 2002.

    … “Chiến tranh chống khủng bố không thể nào thành công ở thế phòng ngự. Chúng ta phải mang cuộc chiến đến với kẻ thù, phá vỡ kế hoạch của chúng, và chủ động đương đầu với những lời đe dọa tồi tệ nhất ngay cả trước khi chúng lộ diện. Trong thế giới mà chúng ta vừa bước vào, con đường duy nhất dẫn đến an toàn là con đường hành động. Và đất nước này sẽ hành động.

    Tất cả các quốc gia đã lựa chọn thái độ gây hấn và ủng hộ khủng bố sẽ phải trả giá. Chúng ta sẽ không phó mặc an ninh của nước Mỹ và hòa bình của hành tinh này trong tay một vài tên khủng bố điên loạn và kẻ cầm quyền bạo ngược. Chúng ta sẽ cất mối hiểm họa này khỏi đất nước mình và khỏi thế giới”.

    George W. Bush, West Point, ngày 1 tháng 6 năm 2002.

  5. #125
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    4
    “Chúng ta phải nhìn nhận Fidel như một người sáng suốt, biết lẽ phải nhất trên trái đất này "

    Đạo diễn Mỹ Oliver Stone - người thực hiện bộ phim về Fidel Castro "Comandante” (Vị Tư Lệnh)


    Bộ phim Comandante của đạo diễn Mỹ nổi tiếng Oliver Stone vừa chiếu trong Liên hoan phim Quốc tế tại St. Petersburg, Nga ngày 23-6-2003. Việc chiếu phim này là một “sự kiện” điện ảnh vì phim này đã bị cấm chiếu tại Mỹ trong tháng 4. Comandante là một phim tài liệu về Fidel Castro, người mà Oliver Stone đã gọi là một trong những “người sáng suốt và biết lẽ phải nhất thế giới”.

    Trong năm nay báo chí nhiều nơi trên thế giới tốn nhiều giấy mực cho phim Comandante do các phản ứng bởi động cơ chính trị đối với bộ phim này. Phim được chiếu lần đầu tiên tại Liên hoan phim Sundance vào ngày 18-1-2003 và sau đó tại Liên hoan phim Berlin, báo chí thế giới đã ghi lại lời phát biểu của Oliver Stone về Chủ tịch Fidel Castro như sau: “Chúng ta phải nhìn nhận Fidel như một trong những người sáng suốt, biết lẽ phải nhất trên Trái đất này, một trong những người chúng ta cần hỏi ý kiến”. Đến tháng 4, hệ thống truyền hình Mỹ HBO tuyên bố hoãn vô thời hạn việc chiếu phim này thay vì chiếu vào tháng 5 như đã giới thiệu với khán giả. Lý do mà HBO đưa ra là phim “chưa hoàn chỉnh” nhưng mọi người đều biết HBO chịu áp lực về chính trị của chính quyền Bush.

    Comandante do Oliver Stone vừa viết kịch bản vừa làm đạo diễn, vừa xuất hiện trong phim với vai trò là người phỏng vấn chủ tịch Fidel Castro. Trước đây chưa hề có một cuộc phỏng vấn một vị lãnh tụ nào thực hiện sâu sắc như Oliver Stone đã làm trong Comandante nhờ vào mối quan hệ đã có giữa hai bên. Oliver Stone có dịp gặp gỡ, quen biết với chủ tịch Fidel Castro vào năm 1987 khi thực hiện phim Salvador. Chủ tịch Fidel Castro cũng mến tài của Oliver Stone. Theo Yahoo News, phim Platoon của Oliver Stone về chiến tranh Việt Nam thành công lớn tại Cuba và cũng được Chủ tịch Fidel Castro ưa thích. Oliver Stone có nhiều thuận lợi để thực hiện phim: được chủ tịch Fidel Castro dành cho 3 ngày liền trong năm 2002. Hai người trao đổi lâu tới 5 giờ trong bữa tối 16-2-2002 và cùng tới nhà hàng Terraza ở Cohima, một trong những nơi mà nhà văn Mỹ Ernest Hemingway thường thích lui tới khi ông sống tại Cuba.

    Trong các cuộc gặp gỡ đó, Oliver Stone đã đặt nhiều câu hỏi với chủ tịch Fidel Castro, những câu hỏi không chỉ liên quan tới cương vị của một vị chủ tịch nước, một nhà chính trị mà còn cả về đời sống riêng tư của ông, kể cả những vấn đề mà Oliver Stone gọi là “những vấn đề tế nhị”. Nhóm làm phim đã quay tổng cộng số phim dài 30 giờ, sau đó chọn lọc lại để phim còn 93 phút. Người phỏng vấn đưa những câu hỏi bất chợt, dí dỏm nhắm vào việc khám phá con người và cuộc sống đời thường của nhà lãnh tụ. Còn chủ tịch Fidel Castro trả lời tất cả các câu hỏi như các vấn đề mà Cuba đang phải đối diện, nhận định về vị trí của Cuba trên thế giới, về tình trạng chiến tranh, về chống khủng bố, về giáo dục, y tế, về người đồng tính luyến ái, về số phận của khoảng 100.000 gái mại dâm ở Cuba trước cuộc cách mạng, về gia đình ông… Fidel sôi nổi, sống động, đầy tự tin, đầy sức hấp dẫn. Điều này như cái gai trong mắt những kẻ chống Cuba. Ý của họ là muốn nhà làm phim phải đặt câu hỏi vặn vẹo theo hướng buộc tội Cuba vi phạm nhân quyền để biện minh cho thái độ thù nghịch của Mỹ đối với Cuba trong mấy chục năm qua, đặc biệt là sau khi Cuba xử phạt những phần tử phản động gây rối trật tự an ninh trong nước. Phim Comandante không được chiếu ở Mỹ làm cho những ai từng mong rằng Mỹ sẽ thay đổi thái độ với Cuba thất vọng nhưng đa số khán giả khắp nơi trên thế giới, nhất là khán giả của những cuộc liên hoan phim quốc tế được xem Comandante, đã dành cho phim cảm tình đặc biệt bởi họ chia sẻ sự trân trọng, kính mến của đạo diễn Oliver Stone đối với Chủ tịch Fidel Castro.

  6. #126
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Bài diễn thuyết của Chủ tịch Fidel Castro sau bài diễn văn của Tổng Thống Mỹ George.W.Bush

    Tại cuộc mít tinh tổ chức tại tổng Quảng trường Antonio Maceo, Santiago, Cuba, ngày 8/6/2002 với số lượng người Cuba tham dự là hơn một triệu năm trăm ngàn người.


    Tôi muốn báo với tất cả mọi người rằng các bạn đã phá vỡ hết mọi kỷ lục (về số lượng người tham dự hôm nay - ND.)Không ai cần phải nói gì, chúng tôi cũng đều biết rõ. Chúng tôi đã theo sát toàn bộ diễn tiến trong buổi sớm nay, giữa các bản tin thời tiết khủng khiếp, kể từ lúc những đoàn xe đầu tiên rời khỏi đây hồi 1 giờ sáng và trông chừng cơn mưa trong mấy giờ liền.

    Chúng tôi cũng nhìn thấy trên màn hình các hình ảnh gửi về từ Đài Thiên Văn Quốc Gia. Dường như chúng ta đang phải đối mặt với một trở ngại không thể nào vượt qua được, và đến lúc rạng sáng, khi chúng tôi trông thấy hàng chục ngàn người đã có mặt ở đây, vào lúc 4 giờ sáng dưới cơn mưa tầm tã và hàng trăm ngàn người đang diễu hành qua các con đường trong thành phố hoặc ngồi trên từng đoàn xe tải nối đuôi nhau trên đường cao tốc bất chấp mọi thách thức, thì khó mà tin được rằng đám đông khổng lồ này có thể hiện diện tại đây sớm đến thế: điểm này tiêu biểu cho tính cách của nhân dân tỉnh Santiago và Guantánamo.

    Chúng tôi đã nhìn thấy điều không tưởng đã được thực hiện, và việc các bạn có mặt ở đây thật sự quan trọng.

    Tôi bắt đầu bài diễn văn ngay, trước khi trời bắt đầu đổ mưa.

    Thưa đồng bào đến từ Santiago, Guantanamo và toàn thể nhân dân Cuba:

    Tôi đã từng nói rằng tất cả chúng ta sẽ cùng nhau trả lời ông Bush. Tất cả bao gồm thiếu nhi, thiếu niên cùng học sinh sinh viên; công nhân, nông dân, chuyên gia; nhà báo, sử gia, nghệ sĩ, trí thức và nhà khoa học; thanh niên, người trưởng thành, người lớn tuổi và đặc biệt là các bà mẹ, con trai và con gái cùng thân thích của những người suốt 43 năm ròng rã chịu đựng nỗi đau khổ đến với bản thân cũng như những người mình yêu thương bởi sự khủng bố, hành động gây hấn tàn bạo và một lệnh cấm vận dã man được bao thế hệ chính quyền Hoa Kỳ nối tiếp nhau duy trì nhằm chống lại nhân dân ta. Họ đã xé vụn toàn bộ bài diễn văn ông George W. Bush đọc tại Miami.

    Ông ta đã đi quá xa trong bài diễn văn của mình. Ông ta thật khiếm nhã. Ông ta lăng mạ, đặt điều, và dọa nạt. Những gì ông ta chỉ muốn thêm vào hiện giờ là toàn bộ dân tộc anh hùng mà ông ta giả vờ “giải phóng” đã bị ép buộc tham gia vào các cuộc diễu hành rộng lớn và hừng hực khí thế ở Sancti Spiritus và Holguin trước đó, và cả trong cuộc mít tinh khổng lồ tổ chức ngay nơi này, tại Santiago de Cuba.

    Có lẽ không một đất nước nào khác từng chứng kiến một phong trào chính trị ấn tượng, khí thế và vững chắc đến như vậy. Có lẽ chưa từng có một dân tộc nhỏ bé nào kiên cường và dũng cảm chống lại một kẻ thù hùng mạnh đến thế. Đấy là một cuộc đối đầu chưa từng có tiền lệ xảy ra trong giai đoạn mới của lịch sử giữa lực lượng chính nghĩa và lực lượng phi nghĩa tàn bạo.

    Khi các thế lực ngạo mạn sử dụng sức mạnh của mình để vi phạm mọi lý lẽ, đạo đức và lẽ phải thì chính sách mị dân và những lời dối trá vẫn là điểm tựa lý tưởng duy nhất mà họ có được.

    Gần hai phần ba thế kỷ trôi qua kể từ khi nhân loại nếm trải kinh nghiệm đắng cay Chủ Nghĩa Quốc Xã mang lại. Sự sợ hãi là đồng minh không thể tách rời của Hitler để giúp hắn chống lại kẻ thù. Đầu tiên, hắn được xem như một con chốt và là một đồng minh tiềm năng chống lại chủ nghĩa cộng sản. Tiếp theo, hắn được nhượng bộ. Hắn khôi phục Ruhr, một khu vực trọng yếu để xây dựng quân đội, rồi kế tiếp sát nhập nước Áo vào Đệ Tam Quốc Xã Đức.

    Sau đấy, hắn chinh phục một phần lớn Tiệp Khắc mà không mất một phát súng. Kế đến, với binh lực đáng sợ của mình Hitler đột ngột phá vỡ hiệp ước bất tương xâm với Liên Xô vào ngày 23 tháng 8, 1939, đúng 9 ngày trước khi nổ ra cuộc chiến mà sau này đã thiêu đốt cả thế giới. Sự né tránh và những tuyên bố nhút nhát của những cường quốc mạnh nhất châu Âu thời đó đã mở đường cho một thảm kịch cho nhân loại.

    Tôi không cho rằng một chế độ phát xít có thể được thiết lập ở Hoa Kỳ. Nhiều lỗi lầm trầm trọng đã gây ra cùng những biểu hiện bất công gắn với bộ khung của hệ thống chính trị trên đất nước này – rất nhiều trong số đó vẫn còn tồn tại – nhưng nhân dân Mỹ vẫn có một số thể chế và truyền thống, cũng như các giá trị đạo đức, văn hóa và giáo dục khó mà cho phép điều ấy xảy ra. Tuy nhiên, nguy cơ vẫn tồn tại trên trường quốc tế.

    Quyền hạn và đặc quyền của Tổng thống đất nước ấy quá rộng, và mạng lưới quyền lực về kinh tế, công nghệ và quân sự trên đất nước ấy vươn xa đến mức trong một số hoàn cảnh nằm ngoài mong muốn của nhân dân Mỹ, thế giới đang bắt đầu có khuynh hướng chịu sự khống chế theo phương pháp và quan điểm của chế độ Quốc Xã.

    Tôi không định thậm xưng hay cường điệu. Tuy nhiên, thật sự ngày càng phát triển xu hướng đặt nghi vấn và lấn lướt vai trò cũng như sự tồn tại có hay không vai trò của Liên Hiệp Quốc.

    Ngày 20 tháng 9 năm 2001, khi ông George W. Bush tuyên bố rằng những ai không tán đồng kế hoạch chiến tranh chống khủng bố của ông tức là đã tự coi mình là những kẻ khủng bố và đương nhiên sẽ bị ông tấn công, ông đã công khai bất chấp các đặc quyền của Liên Hiệp Quốc. Đồng thời, dựa vào binh lực hùng mạnh, ông tự đảm nhận vai trò làm chủ và gìn giữ an ninh thế giới. Với những ai trong chúng ta quen thuộc với chủ nghĩa Mác-xít, ngày hôm đó được ví như ngày mà Bush tự đặt ra một luật lệ mới cho riêng mình. Các sử gia trong tương lai sẽ ghi lại phản ứng của các nhà lãnh đạo chính trị ở hầu hết các nước. Chính nỗi khiếp hãi đã bao trùm lên gần như toàn bộ bọn họ.

    Những quan niệm và phương pháp này hoàn toàn mâu thuẫn với ý tưởng về một trật tự thế giới dân chủ dựa trên các nguyên tắc và chuẩn mực nhằm đảm bảo an ninh và hòa bình cho các dân tộc.

    Rất lâu trước các cuộc tấn công khủng bố vào ngày 11 tháng 9, ông Bush đã chi một lượng ngân sách khổng lồ cho việc nghiên cứu và sản xuất những loại vũ khí tinh vi và có sức hủy diệt lớn hơn, mặc dù cuộc chiến tranh lạnh đã kết thúc, thế lực đối nghịch cũ không còn tồn tại nữa và Nhà nước thay thế vốn yếu hơn đã thiếu cả nguồn lực kinh tế và ý chí để đối đầu với lực lượng vượt trội của một siêu cường quốc. Tại sao chương trình xây dựng quân sự to lớn như thế vẫn được thai nghén và cho mục đích nào?

    Trong một bài diễn văn gần đây nhân dịp kỷ niệm hai trăm năm thành lập Học viện Quân sự West Point, một cơ sở nổi tiếng về vai trò đáng kể trong lịch sử quân sự của Hoa Kỳ, ông Bush ném ra một lời hiệu triệu hừng hực lửa trong buổi lễ tốt nghiệp của 958 học viên. Tuy nhiên, những nhận định của ông ta không chỉ cho các học viên mà còn nhắm đến cả Hoa Kỳ và toàn thế giới.

    Một số ý kiến được trình bày ở đấy phản ánh suy nghĩ của ông và của những cố vấn thân tín nhất, rất lâu trước khi các cuộc tấn công tàn bạo xảy ra vào ngày 11 tháng 9, mà bây giờ trở thành một cái cớ hoàn hảo để biện minh cho suy nghĩ giờ đây đã trở thành kỳ quặc, nguy hiểm và không thể chấp nhận và chẳng thể tồn tại lâu trên thế giới. Ví dụ, ông ta đã nói:

    “Nếu chúng ta cứ chờ đợi cho những lời đe dọa trở thành hiện thực thì quá trễ”

    “Trong thế giới mà chúng ta vừa bước vào, con đường duy nhất dẫn đến an ninh là con đường hành động. Và, đất nước này sẽ hành động.”

    “Nền an ninh của chúng ta sẽ cần đến những thay đổi trong lực lượng quân sự mà các bạn sẽ lãnh đạo, một lực lượng quân sự cần phải có khả năng sẵn sàng tác chiến ngay bất cứ thời khắc nào ở mọi ngóc ngách tối tăm của thế giới. Và sự an toàn của chúng ta sẽ cần để sẵn sàng cho hành động tấn công phủ đầu khi cần để bảo vệ sự tự do và cuộc sống của chúng ta.”

    “Chúng ta phải lật tung các tổ chức khủng bố ở 60 nước hoặc hơn thế nữa. Cùng với những người bạn và đồng minh của chúng ta, chúng ta phải ngăn chặn sự sinh sôi và chống lại những chế độ tài trợ cho bọn khủng bố, tùy theo yêu cầu của từng trường hợp.”

    “Chúng tôi sẽ gửi các nhà ngoại giao đến những nơi cần họ, và chúng tôi sẽ gửi các bạn, những người lính của chúng ta, đến những nơi cần các bạn.”

    “Chúng ta sẽ không phó mặc an ninh của nước Mỹ và hòa bình của hành tinh này trong tay một vài tên khủng bố điên loạn và kẻ cầm quyền bạo ngược. Chúng ta sẽ cất mối hiểm họa này khỏi đất nước mình và khỏi thế giới.”

    “Một số người lo ngại rằng có vẻ thiếu ngoại giao hoặc bất lịch sự khi nói đạo lý. Tôi phản đối. Chúng ta đang trong một cuộc đối đầu giữa thiện và ác, và nước Mỹ gọi đích danh cái ác. Bằng cách đối đầu với cái ác và các chế độ phi luật pháp, chúng ta không hề gây ra rắc rối mà là phát hiện ra rắc rối. Và chúng ta sẽ dẫn đầu thế giới chống lại nó.”

    “Các thế hệ sĩ quan của West Point đã lập kế hoạch và rèn luyện cho cuộc chiến với Liên Xô. Tôi vừa trở về từ một nước Nga mới, giờ đây là một đất nước đang tiến dần đến nền dân chủ, và là một cộng sự của chúng ta trong cuộc chiến chống khủng bố.”

    Mọi người thấy đấy, ông ta không hề đề cập dù chỉ một lần đến Liên Hiệp Quốc trong bài diễn văn của mình. Cũng chẳng có đến một lời về quyền được an toàn và hòa bình của mỗi người, hoặc sự cần thiết đối với việc thế giới cần tuân theo các quy tắc và chuẩn mực. Ông ta hết nói về các cuộc liên minh quyền lực rồi tới chiến tranh và chiến tranh nữa. Ông ta nói đến chiến tranh nhân danh hòa bình và tự do, những lời thốt ra từ miệng ông ta đều hoàn toàn vô nghĩa và trống rỗng như bọt xà phòng. Toàn bộ bài diễn văn của ông là một sự tâng bốc ngọt ngào chủ nghĩa sô-vanh cũng như xoay quanh đề tài về sự vượt trội của văn hóa, vinh quang và quyền lực đất nước ông.

    Những sinh linh khốn khổ sống tại 60 đất nước hoặc hơn thế do ông ta cùng những trợ lý thân tín nhất lựa chọn – và trong trường hợp Cuba là bởi các bạn bè Miami của ông – hoàn toàn không liên quan. Đấy chính là “các ngóc ngách tối tăm của thế giới” mà có thể trở thành đích ngắm của các cuộc tấn công “phủ đầu” không báo trước của họ.

    Cuba không chỉ bị coi là một trong những nước đó mà còn bị liệt vào những nước tài trợ cho khủng bố. Và trên hết là lời bịa đặt phi lý rằng Cuba sản xuất vũ khí sinh học; họ hoàn toàn phớt lờ sự thật cả thế giới đều biết rõ đấy là một lời dối trá khủng khiếp.

    Như vậy, giữa chính quyền Bush và Đảng Quốc Xã có sự khác biệt gì trong triết lý và phương pháp? Tại sao lại có quá nhiều chính phủ run rẩy sợ hãi và giữ yên lặng đến thế?

    Sự kiện các thế lực phát xít cực hữu đang sinh sôi nảy nở ở nhiều nước châu Âu không chỉ đơn thuần là một sự trùng hợp. Nhân dân Mỹ sẽ từ chối dạy dỗ con cái theo triết lý như thế.

    Trước sự hèn nhát như vậy, nhiều dân tộc trên thế giới chỉ còn biết trông mong nhân dân Mỹ như là những người duy nhất có khả năng kìm hãm, hoặc chấm dứt, tham vọng quyền lực, sự lăng mạ và xung đột của những kẻ cuồng tín. Nhiều dân tộc trên thế giới tỏ thái độ đoàn kết nhất trí với nhân dân Mỹ sau các vụ tấn công ngày 11 tháng 9; dân tộc cao thượng và khoan dung của chúng ta cũng thế, và dĩ nhiên đấy không phải phát xuất từ nỗi sợ hãi hoặc thói đạo đức giả.

    Chúng tôi mong một ngày nào đấy các học viên sĩ quan West Points có mặt hôm ấy sẽ đến thăm Cuba, khi người dân Hoa Kỳ được phép tự do đến đây, nhưng không phải với tư cách những kẻ xâm lược.

    Ai mới thật sự là người hưởng lợi từ các vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9? Những kẻ mà Tổng thống Eisenhower gọi là phức hợp công nghiệp-chiến tranh; những kẻ mà chính quyền của họ đã bị đặt nghi vấn do gian lận trong bầu cử; băng nhóm khủng bố ở Miami; những kẻ muốn phá hoại Liên Hiệp Quốc; những kẻ bênh vực cho sự thống trị của các chính sách bá quyền và muốn định dạng lại thế giới theo ý muốn cá nhân.

    Tôi chẳng mảy may tin rằng một người – dù cho ở địa vị nào đi chăng nữa – lẽ ra đã có thể ngăn chặn tội ác ghê sợ ở Tòa Tháp Đôi lại cố ý để cho nó xảy ra chỉ vì tham vọng nâng cao thanh thế và quyền lực hoặc vì bất kỳ một mục đích nào khác.

    Tuy nhiên, gọi đích danh sự việc, theo như Bush phát biểu tại West Point là điều ông muốn làm, tôi cho rằng ngài Tổng thống Hoa Kỳ đã phạm nhiều lỗi lầm trầm trọng trong cái cách ông giải quyết tình huống sau thảm kịch. Tôi sẽ chỉ đề cập đến một số ít trong những sách lược đối nội và đối ngoại của ông:

    Lẽ ra ông ta không bao giờ nên gieo nỗi sợ hãi vào tâm trí nhân dân Hoa Kỳ.

    Lẽ ra ông ta phải giữ bình tĩnh.

    Lẽ ra ông ta không nên vội vã đưa ra quyết định mà không suy xét đến những lựa chọn khác có tầm nhìn xa hơn, rất có thể chúng sẽ được sự ủng hộ nhất trí của chính quyền tất cả các nước, của những tôn giáo có tầm ảnh hưởng mạnh nhất và của các xu hướng chính trị cơ bản, thuộc cả phe cánh tả lẫn cánh hữu.

    Lẽ ra ông ta không nên liệt hơn một nửa các nước thuộc Thế Giới Thứ Ba vào danh sách kẻ thù của mình, hoặc nhẹ hơn là vào danh sách các nước hỗ trợ khủng bố.

    Lẽ ra ông ta không nên theo đuổi đường lối kéo theo sự tăng vọt con số những kẻ cuồng tín và đánh bom tự sát trên thế giới, khiến cho cuộc chiến chống khủng bố ngày càng phức tạp hơn.

    Trường hợp người Palestine là một ví dụ điển hình: số kẻ đánh bom tự sát tăng lên theo mỗi khi có người Palestine bị giết hại, kết quả là tình thế càng trở nên nan giải và không có lối thoát.

    Lẽ ra ông ta không nên che giấu những thông tin tình báo mà mình nhận được, đặc biệt là bản báo cáo vào ngày 6 tháng 8, điều này đã dấy lên đủ mối nghi ngờ và phán đoán. Điều quan trọng là phải quả quyết và minh bạch với dân chúng. Chẳng ai có thể tin rằng vì lý do an ninh mà điều này bất khả thi. Những ai trong chúng ta đã từng sống và chiến đấu mấy thập kỷ vừa qua để chống lại hàng ngàn âm mưu và hành động khủng bố bắt nguồn từ Hoa Kỳ hẳn đều quen thuộc với bản chất của các bản báo cáo tình báo kiểu này, nguồn gốc của chúng cần được bảo vệ chặt chẽ bởi những người thảo ra và chuyển chúng đi.

    Lẽ ra ông không nên gặp, hoặc chấp thuận có mặt tại cuộc họp ở Miami của những nhân vật cộm cán đã tổ chức, điều khiển và thực hiện hàng ngàn cuộc tấn công khủng bố chống lại Cuba và các nước khác, kể cả hàng trăm vụ bên trong lãnh thổ Hoa Kỳ.

    Trong nhiều năm liền và cho tới ngày 11 tháng 9, Quỹ Tài Trợ Quốc Gia Mỹ – Cuba đã cấp ngân sách, tổ chức và phổ biến không biết bao nhiêu hành động khủng bố và âm mưu ám sát các nhà lãnh đạo Cuba. Ngày nay, cũng tổ chức này tiếp tục cung cấp ngân quỹ để bảo vệ, duy trì và gỡ tội cho những tên khủng bố tồi tệ nhất thế giới này trong thời gian chờ đợi đến lúc Cách mạng Cuba bị Hoa Kỳ tiêu diệt. Mọi người đều biết điều này, cả ở Miami và Nhà Trắng. Mối quan hệ thân thiết giữa ông Bush và những tên khủng bố này hoàn toàn làm xói mòn uy tín đạo đức của ông ta và khiến ông không còn đủ tư cách dẫn đầu thế giới chống lại chủ nghĩa khủng bố.

    Lẽ ra ông ta không nên cho phép thêu dệt lên chuyện bịa đặt ngu xuẩn về việc Cuba đang phát triển vũ khí sinh học. Còn về khả năng sản xuất ra các loại vũ khí đó (chỉ là mang tính lý thuyết và cũng chẳng có căn cứ xác đáng), cũng không cần phải nói thêm rằng thậm chí khi tất cả các chính phủ có thể nói dối thì điều đó không có nghĩa là ai cũng đều bịa đặt theo cái kiểu đó.

    Lẽ ra ông ta không nên thách thức các nhà lãnh đạo của cách mạng Cuba về mặt chính trị vì ông ta chẳng dựa vào đâu được để đáp lại những thách thức chính trị mà Cuba có thể giáng trả. Tình cảnh của ông ta cũng tựa như một người đang ngồi trên chiếc thuyền buồm giấy to tướng – chứa đầy sự dối trá và chính sách mị dân – không thể nào chịu nổi sóng to gió lớn.

    Lẽ ra ông ta không nên đòi hỏi những điều vốn là vấn đề thuộc phạm vi chủ quyền của chúng ta, hoặc đe dọa chống lại Cuba bởi vì dân tộc Cuba chưa bao giờ và sẽ không bao giờ khuất phục. Đây là dân tộc đã không chần chừ dù chỉ trong khoảnh khắc khi hàng trăm vũ khí hạt nhân nhắm thẳng vào hòn đảo này hồi tháng 10 năm 1962, đe dọa sẽ xóa sổ nó khỏi trái đất. Chưa hề có chuyện một người Cuba yêu nước nào lại nhụt chí trước thách thức như thế.

    Giờ đây, ông Bush có thể nhận thấy mình đang rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, hoặc sửa chữa sai lầm hoặc tiếp tục cố gắng xóa tên Cuba ra khỏi bản đồ thế giới, mà cả hai cách đều không dễ dàng chút nào.

    Ông Bush cần phải được biết nhiều hơn về tình hình thực tế và tình cảm của nhân dân Cuba ngày nay; bao gồm mức độ thống nhất, văn hóa chính trị cùng sức mạnh không thể lay chuyển của dân tộc này.

    Còn nhiều điều cần nói bên cạnh các suy nghĩ vừa được trình bày về bài diễn văn ngày 20 tháng 5 cùng những vấn đề khác, tuy nhiên tôi không có ý muốn đi xa hơn nữa.

    Như chúng tôi đã hứa, dân tộc ta với trí tuệ, chân lý và tinh thần yêu nước đang đưa ra câu trả lời xác đáng. Nhưng nhiệm vụ đến đây vẫn chưa chấm dứt, vì các tổ chức nhân dân chúng ta cũng sẽ trả lời. Vào thứ Hai ngày 10 (tháng 6 năm 2002), các nhà lãnh đạo quốc gia sẽ họp tại thủ đô. Cũng thế, Quốc Hội, cơ quan quyền lực tối cao của Nhà Nước, sẽ đáp trả theo đúng thủ tục và chắc chắn sẽ làm như thế bằng tất cả tài năng ngoại giao khéo léo.

    Xin cám ơn Ngài Bush, vì ông đã thể hiện sự tôn trọng đối với chúng tôi thông qua việc công nhận một thể chế như thế tồn tại ở đây và sẽ có bầu cử quốc hội vào năm 2003.

    Chỉ có một điểm cần làm rõ: nếu, theo như ông đã cho biết, tất cả các cuộc bầu cử ở Cuba đều gian lận thì Quốc Hội làm sao có thẩm quyền để tiếp thu những sửa đổi trong Hiến Pháp mà ông đã đề nghị?

    Giải pháp có thể là Tòa Án Tối Cao Cuba công nhận các thành viên quốc hội của chúng tôi. Đấy sẽ thể hiện tính dân chủ cao nhất!

    Thưa đồng bào đến từ Santiago và Guantanamo, các đồng đội trong cuộc chiến ở Moncada không thể nào quên được, từ miền núi đến thành thị, những đồng chí của ngày hôm qua, hôm nay và mai sau:

    Thay mặt những người đã cống hiến cuộc đời cho Độc lập và Cách mạng, những người mà chúng ta phải trung thành với họ cho đến hơi thở cuối cùng, tôi xin chúc mừng các bạn đến với cuộc diễu hành khổng lồ này.

    Chủ Nghĩa Xã Hội muôn năm! Tổ Quốc hay là chết!

    Chúng ta sẽ vượt qua!

    Thư giã biệt của Che gởi Fidel

    Havana, ngày 1 tháng 4 năm 1965.

    Fidel thân mến:

    Giây phút này đây tôi nhớ lại nhiều điều: lúc tôi gặp anh tại nhà Maria Antonia, lúc anh đề nghị tôi đi theo anh, và cả những cảm xúc căng thẳng trong công tác chuẩn bị. Một hôm có người ghé qua và hỏi khi hai ta hy sinh thì ai sẽ là người được báo tin này, và khả năng thực tế đó đã khiến tất cả chúng ta bàng hoàng. Sau này chúng ta đều biết rằng đây là sự thực, rằng trong một cuộc cách mạng rất có thể hoặc chúng ta sẽ sống hoặc chúng ta phải chết (nếu đó là cái chết thực sự). Nhiều đồng chí đã ngã xuống trên con đường đi tới vinh quang chiến thắng.

    Ngày hôm nay mọi chuyện đã mất đi phần nào kịch tính, vì chúng ta đã trưởng thành hơn, nhưng bản chất của sự kiện tự nó không thay đổi. Tôi cảm thấy rằng tôi đã hoàn thành vai trò bổn phận đã gắn bó tôi với cách mạng Cuba trên vùng đất này, và tôi phải nói lời chia tay với anh, với dân tộc anh mà giờ đây cũng đã trở thành dân tộc của tôi.

    Tôi chính thức rút lui khỏi mọi vị trí lãnh đạo trong Đảng, chức vụ bộ trưởng, chức vụ tư lệnh và quyền công dân Cuba của tôi. Không còn gì ràng buộc tôi với Cuba về mặt pháp lý. Chỉ còn những mối ràng buộc tình cảm mang một bản chất khác - điều đó không bao giờ bị phá hủy phai mờ như các điều khác.

    Hồi tưởng lại quá khứ, tôi tin rằng tôi đã làm việc một cách chính trực và tận tâm để củng cố cho thắng lợi của cách mạng. Điểm yếu quan trọng duy nhất của tôi là đã không tin tưởng anh nhiều hơn từ những ngày đầu ở Sierra Maestra, và đã không nhanh chóng hiểu rằng anh có tư chất của một người lãnh đạo và một nhà cách mạng.

    Tôi đã sống những ngày huy hoàng ở Cuba, và bên cạnh anh tôi cảm thấy tự hào vì mình đã thuộc về nhân dân trong những ngày tháng oai hùng, bi tráng trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Caribe. Hiếm có một chính khách nào sáng suốt hơn anh trong những ngày ấy. Tôi cũng tự hào vì đã theo anh mà không do dự, vì đã tương đồng với anh trong cách suy nghĩ, cách nhìn cũng như cách đánh giá những mối nguy hiểm và nguyên tắc.

    Những dân tộc khác trên thế giới đang cần đến những nỗ lực khiêm tốn của tôi. Tôi có thể làm được điều đó - nhưng anh - với trách nhiệm của người đứng đầu đất nước Cuba, thì không nên làm. Và đến lúc chúng ta phải tạm xa nhau.

    Anh nên hiểu rằng tôi làm như vậy trong tâm trạng vui buồn lẫn lộn. Tôi để lại nơi đây những hy vọng tinh khôi nhất trong tư cách của một người tạo dựng nên, để lại nơi đây những gì thân yêu nhất mà tôi đã có. Và tôi phải rời một dân tộc đã xem tôi như một người con. Đó là điều tôi cảm thấy buồn sâu sắc nhất. Tôi sẽ mang đến những chiến trường tuyến đầu lòng thành tín mà anh đã chỉ dạy tôi, và tinh thần cách mạng của dân tộc tôi, cảm giác được thực hiện những sứ mạng thiêng liêng nhất: chiến đấu chống lại chủ nghĩa đế quốc ở bất cứ nơi nào có thể được. Đó là sức mạnh, là nguồn cảm hứng và động viên - là cách làm lành những vết thương sâu nhất.

    Một lần nữa tôi muốn nói rằng Cuba hoàn toàn không còn trách nhiệm nào với tôi nữa, ngoại trừ những điều xuất phát từ tinh thần. Nếu những giờ phút sau cùng của tôi phải trải qua ở một phương trời xa lạ nào khác, ý nghĩ sau cùng của tôi sẽ luôn hướng về dân tộc này và đặc biệt là hướng về anh. Tôi rất biết ơn về những lời khuyên và tấm gương của anh. Và tôi sẽ quyết trung thành cho đến khi những hành động của tôi có được kết quả cuối cùng.

    Tôi đã luôn được đồng nhất với chính sách đối ngoại của cuộc cách mạng của chúng ta, và tôi sẽ tiếp tục như vậy. Cho dù ở đâu, tôi vẫn cảm thấy có trách nhiệm của một chiến sĩ cách mạng Cuba, và tôi sẽ luôn xứng đáng như vậy. Tôi không ân hận là đã không để lại của cải gì cho vợ con tôi; tôi rất hạnh phúc với điều này. Tôi không yêu cầu cho vợ con tôi điều gì vì tôi biết Cuba sẽ cung cấp đủ để họ an tâm trong cuộc sống và được học hành.

    Có nhiều điều tôi muốn bày tỏ với anh và với nhân dân chúng ta - nhưng tôi cảm thấy không cần thiết. Ngôn từ không thể diễn đạt hết những điều tôi muốn nói, và cũng không cần phải nguệch ngoạc dông dài những điều này ra trên các trang giấy.

    Sẽ chiến thắng ! Tổ quốc hay là chết!

    Ôm anh với tất cả lòng nhiệt thành cách mạng.

    Tạm biệt anh.

    Che

  7. #127
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Về phiên tòa tai tiếng xét xử năm chiến sĩ chống khủng bố người Cuba tại Bang Miami, Mỹ

    Từ lâu, ngoài cuộc cấm vận khắc nghiệt vô lý kéo dài của chính quyền Mỹ, Cuba còn chịu đựng sự khủng bố của bọn phản động và những người Cuba lưu vong ở Mỹ. Từ vị trí của mình, tại Liên hợp quốc, Cuba đã trưng ra cho Mỹ và thế giới bằng chứng về những hành động chống lại Cubado bọn Mafia tại Miami tiến hành dưới sự khuyến khích và hậu thuẫn của Mỹ.

    Rất nhiều vụ khủng bố đã xảy ra trên đất Cuba do bọn phá hoại trong cộng đồng những người Cuba sống ở Mỹ làm tổn thất rất nhiều sinh mạng người dân Cuba, ngay cả vụ cài bom trên máy bay từ Mỹ về Cuba làm chết 76 công dân Cuba. Ngày 16 và 17/6/1998. Cuba đã trao cho FBI 230 trang tài liệu các hoạt động khủng bố chống lại Cuba, 5 băng video, cassette ghi các cuộc nói chuyện và thông tin về các hành động khủng bố mà các hãng truyền hình đã phát, 8 băng cassette ghi âm cuộc đàm thoại qua điện thoại kéo dài gần 3 giờ của bọn khủng bố khu vực Trung Mỹ. Cơ quan FBI thừa nhận rằng họ cũng “rất ấn tượng” về những bằng chứng thuyết phục này và hẹn sẽ trả lời.

    Nhưng sau đó vài tháng, ngày 12/9, FBI lại bắt giữ năm công dân Cuba là Gerardo Hernandez, Ramon Labanino, Fernando Gonzales, Rene Gonzales và Antonio Guerrero hoạt động ở Mỹ trong chiến dịch tình báo thâm nhập mạng lưới những kẻ khủng bố người Cuba trên đất Mỹ để tìm ra những kế hoạch và âm mưu khủng bố chống Cuba xuất phát từ đây. Họ bị đưa tới đại bản doanh FBI tại Miami để gặp gỡ “thuyết phục” hợp tác, đổi lại bằng những lời hứa hẹn. Sau nhiều lần thất bại, năm người Cuba này được chuyển tới FDC - Trung tâm giam giữ Liên bang của Miami. Thật lạ lùng là những người đầu tiên được giám đốc FBI Miami, Hector Pesquera, thông báo về vụ bắt giữ này lại là Ileana Ross Lehtinen và Lincoln Diaz-Balart, hai trùm Cuba lưu vong khét tiếng chống Cuba từ nhiều năm nay.

    Chỉ hai ngày sau đó, 5 người bị bắt giam đã bị đưa ra Toà án Liên bang, được chỉ định luật sư bào chữa và rồi bị từ chối thay đổi nơi xử án (luật sư cho rằng Miami là địa điểm thù địch đối với những người bị bắt, nhưng phiên tòa vẫn diễn ra ở Miami). Ngày 29/9/1998, năm người bị biệt giam trong “boongke” (nơi giam giữ tù nhân nguy hiểm phạm tội giết người) và bị nhốt tới 17 tháng (thời gian tối đa để giam giữ tù nhân chỉ là 60 ngày). Họ đã bị bồi thẩm đoàn Liên bang kết án phạm các hành động gián điệp nhưng tới thời điểm đó bồi thẩm đoàn vẫn chưa biết được nguồn gốc thực của ba trong số năm người này. Theo lệnh, những người này tiếp tục bị giam giữ, không có quyền bảo lãnh và tiếp xúc luật sư. Tháng 5/1999 họ bị quy kết tội danh nghiêm trọng hơn là liên quan đến việc bắn hạ các máy bay Mỹ khi các máy bay này xâm phạm không phận Cuba tháng 2/1996. Theo áp lực ở Miami, những người này bị buộc tội mà không cần bằng chứng.

    Trước phiên tòa có các nhân chứng tự nguyện nguyên là sĩ quan của chính FBI và những sĩ quan quân đội cao cấp từng giữ những trọng trách như Tướng Charles Wilhelm (nguyên Phó Tổng Tư Lệnh Bộ Chỉ huy Phương Nam), Edward Atkeson (cựu Phó Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội phụ trách tình báo); Đô đốc Eugene Carroll (nguyên Phó Tư Lệnh tác chiến hải quân) và Đại tá Bunkner (thuộc Bộ Chỉ huy hệ thống phòng không Mỹ), Tướng James Clappter (nguyên Giám đốc Cơ quan Tình báo Lầu Năm Góc) người đã điều trần trước tòa như một chuyên viên của Viện kiểm sát và thừa nhận rằng các bị cáo không phạm tội làm gián điệp chống nước Mỹ.

    Không có bất cứ bằng chứng buộc tội nào, không có chứng cớ kể cả một tình tiết rõ ràng, nhưng lại vẫn thành án. Bọn Mafiakhi biết các bất lợi ở tòa án (sẽ nếu xử công bằng và trung thực) đã sử dụng tất cả các ưu thế kể cả biện pháp đe dọa chi phối tòa án. Bồi thẩm đoàn đã bị áp lực, đe dọa - một trong những người trong bồi thẩm đoàn được phỏng vấn đã thừa nhận: “Đúng! Tôi sợ cho sự an toàn của mình nếu bản án không làm hài lòng cộng đồng Miami ở đây”.

    Với tội danh áp đặt “âm mưu hoạt động gián điệp và làm nguy hại tới an ninh nước Mỹ”. Gerardo Hernandez bị tòa xử hai án tù chung thân và 15 năm tù; Ramon Labanito bị kết án chung thân và thêm 18 năm tù; Fernando Gonzales bị 19 năm tù; Rene Gonzales bị 15 năm tù và Antonio Guerrero bị kết án chung thân thêm 10 năm tù. Từ tòa án những lời nói chính trực của họ đã thực sự làm xúc động mọi người:

    “- Thưa các ngài thẩm phán! Hãy biết rằng dòng máu duy nhất có thể chảy trong bàn tay này là dòng máu của những người anh em tôi đã ngã xuống, bị sát hại trong những vụ tấn công và các hành động khủng bố được thực hiện nhằm chống phá đất nước tôi, do những kẻ mà cho tới hôm nay, vẫn sống bình yên trên những đường phố của thành phố này. Vì dòng máu mà tôi đã thề sẵn sàng hy sinh cuộc sống của mình nếu nhờ đó mà tôi có thể bảo vệ nhân dân tôi khỏi những tội ác đó. ”.

    - Gerardo Hernández Nordelo, 12/12/2001


    “- Nếu để tránh sự chết chóc cho những dân thường vô tội, nếu để bảo vệ hai nước chúng ta khỏi chủ nghĩa khủng bố, chống cuộc xâm lược phi nghĩa đối với Cuba và vì những điều đó mà tôi bị kết án thì tôi xin sẵn sàng đón nhận! Tôi sẽ mặc trên mình bộ quần áo tù vẫn với danh dự và tự hào của một người lính mang tấm huy hiệu quí giá nhất của mình!”

    “Đây là một phiên toà chính trị; và như vậy chúng tôi là những tù nhân chính trị! Tất cả mọi sự thật đều hiển hiện ở đây; và điều này sẽ được viết vào lịch sử: Lịch sử sẽ làm sáng tỏ sự chính nghĩa của chúng tôi!”

    Ramon Labanito Salazar, 13/12


    “...- Với sự bất công của tòa án này, chúng tôi sẽ kháng án để đòi lại những giá trị chân lý thực sự. Chúng tôi chiến đấu chống chủ nghĩa khủng bố nhưng lại bị kết án vì những tội danh vô lý nhất trên đất My”.

    “Chúng tôi không chống nước Mỹ! Mọi người dân có lòng tự trọng trước hết phải có trách nhiệm với Tổ quốc. Giá trị đạo đức mà tôi đã học được từ lịch sử, từ dân tộc tôi, sẽ mãi theo tôi trong những năm tù đày”.

    Fernando Gonzalez Llort 18/12


    “- Sẽ tới ngày mà dân tộc chúng tôi sẽ không phải sống trong nỗi âu lo của sự sợ hãi và chết chóc, và trong ngày lịch sử đó, người ta sẽ nhìn thấy sự nghiệp chính nghĩa của chúng tôi”.

    - Antonio Guerrero Rodriguez, ngày 27/12/2001


    Viện kiểm sát trong cả quá trình thụ án đã tước đi quyền bào chữa của một chuyên gia then chốt, dày dạn kinh nghiệm. Trong thư gửi Chánh án Lenard, giáo sư Moran đã cảnh báo rằng tòa đang phạm một sai lầm nghiêm trọng, tuy nhiên bức thư đó đã không tới được tay các luật sư. Những hành động không bình thường xung quanh vấn đề này chứng minh rằng Tòa đã liên tiếp vi phạm điều khoản bổ sung thứ 5 và đã gây cản trở cho một phiên toà hợp pháp.

    Những yếu tố bị lên án về sự bất công trong vụ án này là:

    - Những thành kiến chống Cuba ăn sâu trong xã hội Miami.

    - Việc tạo dựng và điều khiển bầu không khí căng thẳng trong quá trình lựa chọn bồi thẩm đoàn.

    - Các hoàn cảnh bên ngoài bất lợi cho việc bào chữa.

    - Sự hằn học chống Cuba nhằm làm gay gắt hơn nữa chính sách chống Cuba.

    - Sự lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng khổng lồ của Mỹ nhằm tạo ra dư luận bất lợi cho năm người Cuba và đảm bảo cho việc kết án những người bị xét xử dù không đúng luật pháp nước Mỹ và quốc tế.

    Một tháng sau, trước sự phản đối và lên án của Cuba và dư luận quốc tế ngày càng tăng về việc kết án vô lý những người đang làm nhiệm vụ chống khủng bố, Mỹ đã buộc phải chấm dứt việc biệt giam năm người Cuba và đưa họ trở lại nơi giam các tù thường phạm, nhưng vẫn phải chịu sự phân biệt đối xử lớn. Cựu Tổng Chưởng Lý Mỹ (Bộ trưởng Tư pháp) Ramsey Clark, trong chuyến thăm La Habana mới đây, đã nêu lên tầm quan trọng là dư luận Mỹ khi biết sự thật những thanh niên này là những chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình thì năm chiến sĩ này sẽ không chỉ là những anh hùng của Cuba mà còn là những người đấu tranh cho công bằng và hòa bình thế giới.

    Từng giờ từng phút, trên trận chiến bảo vệ sự bình an cho nhân dân và lãnh thổ mình, Cuba lại có thêm những chứng cớ mới tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa và các luật định, sức ép mới từ Mỹ và cuộc cấm vận tồi tệ chống Cuba kéo dài qua nhiều đời tổng thống Mỹ. Các vụ Giron, La Coubre, El Encanto, Barbados...những quả bom gài vào các khách sạn ở La Habana và nhiều nơi khác, vụ bắt cóc em bé Elian đưa sang Mỹ, năm người bị xét xử ở Mỹ.... Cuộc chiến giữa Goliat chống David đã và vẫn đang tiếp diễn liên tục từ hơn bốn thập kỷ qua.

  8. #128
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    Fidel Castro - Tài năng và bản lĩnh


    Tôi thực sự thích thú và vinh dự khi được mời viết lời giới thiệu cho cuốn sách cuốn hút này. Một cuốn sách rất nhiều thông tin, hình ảnh, tư liệu quí, bổ ích, bố cục biên soạn công phu, tâm lý, dẫn dắt người đọc một cách thoải mái, không gò bó và điều hấp dẫn nhất ở đây chính là con người của Fidel Castro.

    Đối với nhân dân và đất nước Việt Nam tên tuổi của Fidel Castro luôn chiếm một vị trí quan trọng và nhiều ý nghĩa về tinh thần.

    Câu nói chí tình chí nghĩa của Fidel trong những năm tháng khó khăn nhất của cuộc chiến chống Mỹ: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng máu của mình” còn vang vọng mãi trong tâm trí của nhân dân ta. Câu nói đó thực sự phát ra từ trong tim của Fidel và nhân dân Cuba, đã hết lòng ủng hộ Việt Nam cả về vật chất lẫn tinh thần trong hoàn cảnh chính nhân dân Cuba lúc đó đang gặp rất nhiều khó khăn và chịu sự cấm vận của Mỹ. Mọi người còn nhắc đến chuyện vì giúp Việt Nam xây dựng một bệnh viện mà Cuba lúc đó đã hủy bỏ kế hoạch xây dựng một bệnh viện ở Cuba vì dành toàn bộ kinh phí cho bệnh viện ở Việt Nam.

    Chính Fidel là người lãnh đạo nhà nước nước ngoài duy nhất đã vào tận vĩ tuyến 17. Quảng Trị thăm, động viên đồng bào và chiến sĩ ta ở nơi tuyến lửa này trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ quyết liệt.

    Trước đây, đối với những nước nghèo khổ, những nước thuộc thế giới thứ ba, những nơi mà nền độc lập non trẻ mới giành được luôn bị bọn đế quốc và tay sai uy hiếp, tấn công, nhân dân Cuba dưới sự lãnh đạo của Fidel đã gởi hàng vạn bác sĩ, y tá, giáo viên, kỹ thuật viên và chiến sĩ sang các nước đó để giúp đỡ và bảo vệ nền độc lập cho họ. Và hiện nay dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng đất nước Cuba đang tiếp nhận và đào tạo miễn phí hàng ngàn bác sĩ cho các nước nghèo. Nền giáo dục và y tế của Cuba là ưu việt và tiến bộ mà không ai phủ nhận.

    Với tài hùng biện thiên tài hiếm có, Fidel đã trên mọi diễn đàn trong nước cũng như quốc tế cất cao tiếng nói chống bất công, đòi hỏi bình đẳng giữa các dân tộc, chống áp bức bất công, đòi xóa nợ cho các nước nghèo.

    Đất nước Cuba dưới sự lãnh đạo của Fidel đã thực hiện những nghĩa cử đó bất kể hoàn cảnh vô cùng khó khăn, phức tạp.

    Chính phủ Mỹ, nhất là các phần tử cực hữu, không chịu nỗi sự hiện diện một nước Cuba XHCN ngay sát nách mình. Đó là cái gai cực kỳ nhức nhối trong mắt họ. Chính quyền Mỹ và CIA đã trăm phương nghìn kế phong tỏa kinh tế, tổ chức bạo loạn lật đổ, tổ chức trang bị cho bọn phản động trong số người Cuba lưu vong từ Mỹ đổ bộ tấn công vào Cuba, tổ chức cướp tàu, máy bay, tổ chức ám sát lãnh đạo Cuba, đặc biệt nhắm vào Fidel. Đã có hàng trăm kế hoạch mưu sát Fidel của CIA với đủ mọi hình thức, qui mô và mức độ tinh xảo nhưng đều thất bại do tài năng của lực lượng an ninh Cuba và thiên tài linh cảm vốn có của Fidel.

    Không phải chỉ có thế, thời kỳ hậu Staline, sau vụ khủng hoảng tên lửa, đặc biệt thời kỳ mô hình xã hội chủ nghĩa duy ý chí, quan liêu, bao cấp ở Liên Xô do Gorbachev chủ xướng sụp đổ, Cuba đã bị bỏ rơi, lâm vào tình thế khó khăn chưa từng thấy. Không bỏ lỡ cơ hội, sự chống đối và thù địch với Cuba của Mỹ lại càng gia tăng, quyết liệt – nhất là trong thời gian gần đây sau cuộc tấn công xâm lược Iraq và với lý do chống khủng bố đã tăng cường sức ép từ nhiều phía với Cuba.

    Với trên dưới vỏn vẹn 10 triệu dân, trên hòn đảo nhỏ bé vùng Ca-ri-bê, ngay cửa ngõ nước Mỹ, Cuba và Fidel vẫn hiên ngang trụ vững, như ngọn hải đăng trước phong ba bão táp, sáng ngời chánh khí và chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

    Fidel đã thừa hưởng truyền thống anh hùng mã thượng của dân tộc Tây Ban Nha, truyền thống yêu nước giành độc lập dân tộc, thực hiện công bằng xã hội của nhân dân Cuba, đứng đầu là vị anh hùng dân tộc nổi tiếng Joséph Martí, ngay từ cuối thế kỷ 19 đã lãnh đạo nhân dân Cuba nổi dậy chống sự đô hộ của nước ngoài, chủ trương chia ruộng đất cho dân cày...

    Fidel đã thừa hưởng truyền thống lao động cần cù, đầy ý chí, thông minh, sáng tạo của gia đình và rất hiếu học. Cha mẹ đều xuất thân từ giới nghèo khổ. Mẹ đã từng ở đợ, cha thuở nhỏ làm mướn, đi bán nước chanh... Cha Fidel là một trẻ mồ côi Tây Ban Nha cực khổ, bị bạc đãi đã dũng cảm xa lìa xứ sở từ năm 13 tuổi di cư hàng vạn dặm sang Cuba. Từ một cậu bé có hoàn cảnh cực kỳ khó khăn như thế, với ý chí mãnh liệt, sức khỏe dồi dào, lao động cần cù thông minh sáng tạo, có đầu óc tổ chức và lãnh đạo, từng bước từng bước, ông đã vươn lên làm một điền chủ lớn, sở hữu hàng trăm mẫu ruộng, nhiều mỏ quặng, nhà máy, chỉ huy hàng ngàn lao động nông nghiệp, công nghiệp, sản xuất kinh doanh rất hiệu quả.

    Hai ông bà xuất thân từ thành phần lao động nghèo khổ như thế, nên mối quan hệ giữa ông bà chủ và lao động trong đồn điền, nhà máy, thể hiện sự đồng cảm và nhân ái. Hai ông bà đã nuôi dạy con cái ăn học nên người.

    Với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và gia đình cộng với cá tính thiên phú, ngay từ bé tới khi lên đại học, Fidel đều nổi trội trong học hành, thể thao, trong phong trào sinh viên, trong tiếp xúc, ứng xử, trong lúc xuất hiện trước công chúng, trong lập luận, diễn thuyết. Fidel đi nhiều, tiếp xúc nhiều, trao đổi, tranh luận đối thoại đầy nhiệt tình nhiều tiếng đồng hồ với bạn bè, quần chúng thậm chí quên ăn quên ngủ. Ông rất quan tâm tới mọi người với tình cảm chân thành sâu sắc.

    Ít có lãnh tụ Cách mạng nào lại quan tâm tiếp xúc, trao đổi với lãnh tụ Thiên Chúa giáo như ông. Chính Tổng Giám Mục Cuba Pérez Serantes và trung úy Petro Samuel Sarria đã cứu Fidel thoát chết khi Fidel bị bắt sau cuộc tấn công thất bại vào pháo đài Moncada ngày 26-7-1953. Kể từ khi John Paul II được bầu làm giáo hoàng, Fidel đã ca ngơi và ủng hộ Đức giáo hoàng đã quan tâm đến người nghèo ở Thế Giới Thứ Ba. Ông tiếp xúc nhiệt tình, sôi nổi, chân thành và hấp dẫn không phải chỉ đối với chính khách, với nhân dân trong nước, mà còn đối với những danh nhân, văn nghệ sĩ, nhà triết học... như tiểu thuyết gia vĩ đại của Mỹ La Tinh được giải Nobel là Gabriel Garcia Marquez - mỗi lần gặp gỡ đều nói chuyện với ông này liên tục từ 8 đến 10 giờ liền, nhà triết học Pháp Jean-Paul Sartre, Simon de Beauvoir, nhà sử học Mỹ Arthur Schlesinger, tiểu thuyết gia Anh Graham Greene, diễn viên nổi tiếng Anh, Mỹ Alec Guinnes, Jack Lemmon, cả những cô con gái của Robert F. Kennnedy và Nelson Rocherfeller v.v… Một con người có trái tim nồng nhiệt như thế, tài năng, trí tuệ, dũng cảm, kiên cường như thế quả là hấp dẫn vô cùng.

    Fidel vượt qua cái chết nhiều lần, chiến đấu thành công, đứng vững hiên ngang qua phong ba bão tố là nhờ sự ủng hộ nồng nhiệt của các tầng lớp nhân dân Cuba và bạn bè khắp năm châu bốn biển, từ những nhân dân nghèo khổ đến những danh nhân thuộc các lãnh vực khác nhau trên thế giới.

    Hành động nghĩa hiệp và tính cách con người ông tỏa sáng chính nghĩa và có sức thu phục nhân tâm kỳ lạ. Người ta kể lại rằng khi phải ra tòa vì tội “bạo loạn” tấn công pháo đài Moncada, tất cả những người thừa hành xét xử ông: như chánh án, công tố, bồi thẩm đoàn đều tỏ thái độ bênh vực ông. Từ vai trò của một bị cáo, trước tòa án, trước dư luận trong và ngoài nước, ông đã trở thành người tố cáo, lên án một chế độ độc tài, thối nát.

    Sự hấp dẫn về nhiều mặt của Fidel đã góp phần không nhỏ vào thành công của cách mạng Cuba. Từ trận đánh Moncada năm 1953 cho đến sự thành công của Cách mạng Cuba năm 1959, lực lượng võ trang Cách mạng Cuba, kết hợp võ trang với chính trị đã chiến thắng và thiết lập nhà nước cách mạng, thực hiện dân tộc độc lập và công bằng xã hội, với nền giáo dục, y tế tiến bộ và miễn phí.

    Fidel và Cuba đã đóng góp to lớn vào phong trào độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

    Trong chúng ta, không ít người lo ngại tốc độ đổi mới của Cuba chậm hơn Việt Nam sẽ gây nhiều khó khăn cho Cuba. Sự quan tâm này đầy ý nghĩa tinh thần bạn bè quốc tế cao cả, có trước có sau và thể hiện tình cảm giữa hai dân tộc từ lâu. Tuy nhiên, Cuba và Việt Nam có những mặt giống và cũng có những mặt khác nhau. Cùng là hai nước xã hội chủ nghĩa và đều bị chính phủ Mỹ, nhất là những phần tử cực hữu coi là chướng tai, gai mắt, muốn xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội, nhưng Cuba còn khó khăn hơn Viêt Nam nhiều lần. Có hiểu được, chúng ta mới cảm thông và chia xẻ được.

    Cuba là một hòn đảo nhỏ, dân số ít hơn ta 8 lần, lại là nước xã hội chủ nghĩa đơn độc ở Nam Mỹ chỉ cách nước Mỹ trên dưới 80 cây số. Mỹ là một đại cường quốc đang làm mưa làm gió trên thế giới, luôn lên giọng kẻ cả của kẻ mạnh, có thái độ đối địch cực kỳ gay gắt “truyền thống” từ nhiều đời tổng thống Mỹ chống Cuba. Bên cạnh có một đội ngũ người Cuba lưu vong phản động được Mỹ bảo trợ, nhiều nhất là ở bang Miami sẵn sàng hành động theo Mỹ. Chỉ một hành động thiếu thận trọng, một sơ hở nhỏ đều bị CIA khai thác triệt để, nhanh chóng, gây nguy hại cấp thời cho Cuba.

    Fidel là người trí tuệ, hiểu biết rộng, rất nhạy cảm và dũng cảm. Ông không thể không đổi mới và ông đang đổi mới – nhưng với cách đổi mới thích hợp với hoàn cảnh riêng của Cuba. Ông cùng với ban lãnh đạo Cuba phải tính toán chặt chẽ, tránh sơ hở vừa đổi mới vừa bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, vừa bảo vệ và phát triển kinh tế, phúc lợi xã hội và bảo vệ thành quả xã hội chủ nghĩa – là niềm tin của các dân tộc bị áp bức vùng châu Mỹ La tinh và trên thế giới. Bên cạnh vị “Tư lệnh Castro” – cách gọi trìu mến hiên nay ở Cuba đối Fidel - luôn được sự ủng hộ của nhân dân Cuba và tầng lớp thanh niên, trí thức và nhân dân thế giới yêu chuông hòa bình và công lý.

    Sự sụp đổ của mảng lớn hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã gây ra một chấn thương tâm lý lớn đối với niềm tin vào Chủ Nghĩa Xã Hội. Nhưng chúng ta phải nhìn vào bản chất – mục đích, con đường không sai – quan trọng là cách thực hiện, và vì vậy mà Cuba cũng như Việt Nam từ bỏ lý tưởng nhân văn cao cả đã chọn.

    Chúng ta thực sự mong muốn và tin tưởng Cuba dưới sự lãnh đạo của Fidel sẽ vượt qua sóng gió và khó khăn lúc này, cùng với Việt Nam và những nước XHCN còn lại trên thế giới đem hết tâm huyết, trí tuệ và sức lực xây dựng từng bước vững chắc theo điều kiện và cách riêng của mình với sức thuyết phục cao, đầy tính nhân bản, nâng cao đời sống của nhân dân, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khẳng định cho được tính hơn hẳn của Chủ Nghĩa Xã Hội - dù từng bước chuyển mình, phát triển đều vất vả - nhưng sẽ thật sự xứng đáng tự hào.

    Đối với người đọc, nhất là bạn đọc trẻ, tôi mong rằng qua những chi tiết sống động và chân thật trong cuốn sách này, người đọc sẽ hiểu hơn về tính cách, tài năng, bản lĩnh và tên tuổi Fidel Castro: một người bạn chân thành của dân tộc Việt nam, một anh hùng thời đại, một nhân vật làm nên lịch sử, một người đã sinh ra và trọn đời cống hiến cho lý tưởng, “dám ước mơ và quyết tâm thực hiện ước mơ của mình”, một con người bản lĩnh không biết khuất phục và vững tin trên con đường đã chọn dù chông gai và không hề bằng phẳng.

    ĐẠI TƯỚNG MAI CHÍ THỌ

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •