Trang 1 của 6 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 56
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2

    Những tướng lĩnh ưu tú của Đế quốc Nhật Bản

    Imamura Hitoshi, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1886 mất ngày 04 tháng 10 năm 1968 là một tướng lĩnh của Quân đội Đế quốc Nhật Bản.

    Đại tướng Imamura Hitoshi
    Lớn lên ở thành phố Sendai, Miyagi, cha của ông giữ chức thẩm phán. Imamura tốt nghiêp Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1907 và trường Cao đẳng Quân đội năm 1915. Ông được thăng chức Đại úy năm 1917, vào năm sau được gửi đến Anh với vai trò là một Tùy viên quân sự. Tháng 4 năm 1927, ông được bổ nhiệm là Tùy viên quân sự cho thuộc địa của Anh, Ấn Độ. Năm 1930, thăng chức Đại tá. Từ năm 1931 đến năm 1932, ông là một trong những thành viên cao cấp Tổng tham mưu Quân đội Nhật Bản.
    Cuộc chiến Thượng Hải năm 1932, ông được gửi tới chỉ huy Trung đoàn 57 Bộ binh IJA. Sau đó ông trở về Nhật Bản giữ chức Hiệu trưởng của trường Quân Đội Narashino từ năm 1932 đến năm 1935.
    Trong tháng 3 năm 1935, Imamura được thăng chức Thiếu tướng,giao cho chỉ huy Lữ đoàn 40 IJA. Tháng 3 năm 1936, được chỉ định làm Phó Tham mưu trưởng của Quân đội Quan Đông ở Mãn Châu. Ông trở về Nhật Bản, giữ chức Hiệu trưởng và giảng dạy tại trường Lục quân Dự bị Toyama từ năm 1937 đến năm 1938.
    Tháng 3 năm 1938, thăng chức Trung tướng, Imamura được đề cử chỉ huy Sư đoàn 5 IJA, sau đó đặt trụ sở tại Trung Quốc, và ông vẫn tiếp tục chiến đấu trong giai đoàn của cuộc Chiến tranh Trung- Nhật lần thứ 2 đến năm 1940.
    Từ năm 1940 đến năm 1941, ông là Phó Tổng thanh tra đào tạo quân sự, một trong ba vị trí mạnh nhất của Quân đội Nhật Bản, dưới quyền Nhật Hoàng. Sau đó ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh trưởng của Quân đoàn 23 Nhật Bản.
    Tháng 11 năm 1941, Imamura trở thành người chỉ huy của Quân đoàn 16, và đã lãnh đạo quân đội trong cuộc xâm lược Indonesia,thuộc địa của Hà Lan. Hạm đội của ông nhận lệnh tấn công và đổ bộ lên Java.
    Sau đó ông thành lập Quân đoàn 8 Area, cùng với Quân đoàn 18 tham tha Chiến dịch Quần đảo Solomon và Chiến dịch New Guinea vào cuối năm 1942. Imamura đặt trụ sở tại Rabaul, New Britain. Imamura đã thi hành một chính sách nhân từ với dân chúng Indonesia, một điều lạ lùng so với các tướng lãnh khác, chính điều này làm nảy sinh xung đột giữ ông với các chỉ huy cao cấp của Quân đoàn Nam chinh và Tổng hành dinh Đế quốc. Tuy nhiên, chính sách của ông đã giành được sự ủng hộ từ dân chúng và giảm bớt những trở ngại, khó khăn cho chính quyền chiếm đóng.
    Năm 1943, Imamura được thăng chức Đại tướng. Cùng với Tư lệnh Hải quân tại Rabaul, Phó Đô đốc Jinichi Kusaka, Imamura đầu hàng phe Đồng Minh, đại diện là Úc, trong tháng 9 năm 1945.
    Vào cuối cuộc chiến, Imamura đã bị giam tại Rabaul dưới sự quản lý của quân đội Úc, một tòa án quân sự được tổ chức, ông và các chỉ huy dưới quyền bị cáo buộc tội ác chiến tranh, hành quyết các tù nhân Đồng minh trong chiến tranh.
    Tháng 4 năm 1946, Imamura viết cho một chỉ huy Úc ở Rabaul, yêu cầu giải quyết nhanh chóng những tội trạng mà ông và các sĩ quan dưới quyền đã làm trong chiến tranh. Ngày 11 tháng 16 năm 1947, ông bị kết tội và tòa tuyên án phạt 10 năm tù. Imamura và các sĩ quan dưới quyền bị giam giữ ở nhà tù Sugamo, Tokyo. Năm 1954 ông tại phóng thích.

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    dịch lâu lắm rồi mà post ở đâu á. giờ mang về lại đây.</font>


    Iimura Jo sinh vào ngày 20 tháng 5 năm 1888 mất ngày 21 tháng 2 năm 1976 là một tướng lĩnh của Lục quân Đế quốc Nhật Bản.

    <font color="Magenta">Jo Iimura
    Xuất thân từ tỉnh Ibaraki, Iimura tốt nghiệp khóa 21 của Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1909 và được giao chỉ huy Trung đoàn 3 Vệ binh Hoàng gia. Ông cũng là sinh viên tại trường Đại học chuyên Ngoại ngữ Tokyo, tốt nghiệp tháng 3 năm 1917 với bằng tiếng Pháp. Sau đó ông tham gia khóa 33 của trường Cao đẳng Quân đội, năm 1919, ông nổi trội trong lĩnh vực bộ binh. Ông đến khu vực chiếm đóng tại Hàn Quốc với lịch trình ngắn hạn và ở đây ông trở thành giảng viên trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội, ông được thăng chức Trung tá và được chỉ định làm Tuy viên quân sự cho Thổ Nhĩ Kỳ.

    Sau khi quay về Nhật Bản, ông được thăng Đại tá vào tháng 8 năm 1932 và phục vụ tại một số vị trí ở Tổng tham mưu Đế quốc Nhật Bản. Tháng 3 năm 1935 ông chỉ huy Trung đoàn 61 IJA.
    Chiến tranh Trung- Nhật lần thứ 2 bắt đầu, Iimura được thăng chức Thiếu tướng vào tháng 3 năm 1937. Từ năm 1938 đến năm 1939, ông làm giảng viên của trường Cao đẳng Sĩ Quan Quân đội, và ông được chuyển đến Mãn châu giữ chức Tham mưu trưởng của Đạo quân Quan Đông từ năm 1939 đến năm 1940. Sau đó ông trở thành Tổng Tư lệnh của quân đoàn thứ 5 IJA ở Mãn châu từ năm 1941 đến năm 1943.
    Iijuma quay trở về Nhật vào năm 1943 để tiếp tục làm giảng viên trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội, nhưng tình hình phía Nam của cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương tiếp tục bất lợi cho nước Nhật, năm 1944 ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng của các đạo quân IJA Nam chinh và Tổng tư lệnh của Quân đoàn Thuộc địa số 2 IJA, trụ sở tại Celebes, Indonesia từ năm 1944 đến năm 1945.
    Ông trở về Nhật Bản trong thời gian ngắn trước khi chiến tranh kết thúc, nhận lệnh từ Lực lượng phòng thủ Tokyo và dự đoán quân Mỹ sẽ tấn công vào các hòn đảo của Nhật. Ông nhận chức chỉ huy trưởng cảnh sát quân sự trước khi cuộc chiến kết thúc năm 1945

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Trung Tướng Maeda Toshinari của Nhật Bản sinh ngày 05 tháng 6 năm 1885 và mất ngày 05 tháng chín năm 1942 và là chỉ huy đầu tiên của quân đội Nhật ở phía bắc đảo Borneo (Sarawak, Brunei, Labuan, và Bắc Borneo) trong Thế chiến thứ 2.

    Maeda Toshinari
    Maeda Toshinari là con trai thứ 5 của Maeda Toshiaki, cha ông là một daimyo của chế độ cũ của miền Nanokaichi trong tỉnh Kozuke. Ông đã chính thức trở thành người thừa kế các chinh nhánh chính của gia tộc Maeda năm 1900. Ông trở thành người đứng đầu các nhà quý tộc và 16 người đứng đầu gia tộc Maeda vào ngày 13 tháng 6 năm 1900.
    Như đã được phổ biến với người con trai của tầng lớp quý tộc Kazoku, ông phục vụ cho một phiên họp tại hạ viện Nhật Bản vào năm 1910, trong khi theo đuổi những khóa học quân sự của mình. Ông tốt nghiệp khóa 23 của Trường Cao Đẳng Quân Đội năm 1911. Ông là một sinh viên xuất sắc, và được trao tặng Thanh kiếm của Hoàng đế vào ngày tốt nghiệp. Năm 1913, ông đã đi đến Đức để nghiên cứu thêm và từ đây ông tới nước Anh.
    Ngày 07 tháng 8 năm 1923, ông chỉ huy một tiểu đoàn trong Trung đoàn 4 của Lực lượng Cảnh sát Hoàng gia Nhật Bản.
    Từ ngày 26 tháng 7 năm 1927 tới ngày 01 tháng 8 năm 1930 ông là tùy viên quân sự của quân đội Anh. Ông trở về vào năm 1930, lần thứ 2 ông chỉ huy Trung đoàn thuộc lực lượng Cảnh sát Hoàng gia Nhật Bản.Năm 1935, ông trở thành một thành viên của Tổng tham mưu quân đội của Đế quốc Nhật Bản. Từ năm 1936 đến 1937, ông là giám đốc của trường Cao Đẳng Lục Quân. và vào ngày 02 tháng 8 năm 1937 ông được thăng chức Trung Tướng và chỉ huy Sư đoàn IJA8. Ngày 31 tháng 01 năm 1939, ông tạm ngưng mọi hoạt động, nghiệm vụ và được đặt trong danh sách dự phòng.
    Tuy nhiên với sự khởi đầu của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, Maede đã được nhớ tới để phục vụ cho tổ quốc. Và được giao lệnh chỉ huy lực lượng Nhật ở đảo Borneo từ ngày 06 tháng 4 năm 1942. Tháng 9 cùng năm, ông đã chết trong một vụ rớt máy bay bay đến đảo Labuan. Ông được truy tặng cấp bậc đầy đủ trước công chúng.
    Nhà cũ của ông ở Meguro, Tokyo, được xây dựng vào năm 1929 vẫn còn tồn tại. Nó đã được trưng dụng bởi SCAP sau khi kết thúc chiến tranh thế giới 2 để làm nơi ở của Tướng Ennis Whitehead, một trong 5 Tư lệnh Không quân, và sau này là Tướng Bunker Matthew Ridgway. Sau đó nó được trả lại cho chủ tịch thành phố Tokyo, và trở thành Bảo tàng Văn hóa Tokyo. Tương tự như vậy, dinh thự mùa hè của mình ở Kamakura xây dựng năm 1936 đã được sự dụng làm nơi ở mùa hè của Thủ Tướng Nhật Bản Eisaku Sato, và sau đó tặng cho thành phố Kamakura dể sử dụng làm Bảo tàng Văn học Kamakura.
    Con gái của ông, Sakai Miiko (1926- 1999) trở thành một tác giả văn học, cô đã viết một số tác phẩm.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Watanabe Masao
    Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1888 mất ngày 11 tháng 10 năm 1950. Là một vị tướng của Đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ 2.
    Watanabe là con của một samurai trước đây giữ miền Kishiwada, cha ông là một giáo viên tiểu học. Watanabe đã tốt nghiệp khóa thứ 21 của Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1909 và khóa 31 của trường Cao đẳng Quân đội năm 1919, với kỹ năng đặt biệt Pháo binh. Điều này đã đưa Watanabe trở thành giảng viên của trường Chuyên Pháo binh từ năm 1928 đến năm 1933. Năm 1933- 1936 ông được chỉ định chỉ huy Trung đoàn 10 IJA Pháo binh, sau đó ông trở thành tham mưu trưởng của sư đoàn 14 IJA.
    Trước khi bắt đầu chiến tranh Trung- Nhật lần thứ hai, Watanabe được thăng chức Thiếu tướng và được làm tham mưu trường của Lực lượng phòng thủ Trung ương tại Nhật Bản. Năm 1938- 1940 ông được bổ nhiệm làm quản lý Nhà máy vũ khí quân sự. Ông được thăng chức Trung tướng năm 1939.
    Với cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, Watanabe đã một lần nữa cho thấy ông xứng đáng với chức Tư lệnh và đã trở thành Tổng Tư lệnh của Sư đoàn 56 IJA vào năm 1940 đến 1942. Năm 1940, ông được thưởng tặng Huân chương Kho Báu Thần Thánh (Treasures Sacred) hạng 1.
    Dưới sự lãnh đạo của Watanabe, Sư đoàn 56 tham gia vào cuộc xâm lược Miến Điện. Sau khi hạ cánh tại Rangoon, Sư đoàn 56 hành quân về phía bắc và đụng độ với lực lượng Quốc Dân đảng trong trận Toungoo. Sau đó Sư đoàn 56 đánh bại Quân đoàn 6 của Trung Quốc trong một vài cuộc đụng độ nhỏ và buộc họ phải rút lui về phía đông tới Vân Nam. Tiến về phía bắc qua Hoa Sơn, Sư đoàn 56 đánh bại Quân đoàn 65 của Trung Quốc, chiếm được thành phố Lashio và lấy trọn hành lang Miến Điện (là một đường kết nối Miến Điện với Trung Quốc. Thiết bị đầu cuối của nó là Côn Minh, Vân Nam và Lashio, Miến Điện). Sau đó Sư đoàn 56 tiến vào Vân Nam tìm diệt các lực lượng của Trung Quốc, nhưng dừng lại ở sông Salween.
    Với sự thành công trong chiến đấu, Watanabe được gọi về Nhật Bản, và từ năm 1942 đến 1944, được chọn làm Tư lệnh của trường Khoa học Quân đội. Tuy nhiên, tình hình chiến sự nhanh chóng xấu đi với sự bất lợi về phía Nhật Bản. Ông được gửi đến làm người chỉ huy trường đầu tiên của IJA vào năm 1944 và ông thành lập 32 đội, với nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Ryukyu.
    Cùng năm sau đó Watanabe được gọi về Tokyo, và ông đã nghỉ hưu từ bỏ mọi chức vụ quân sự. Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, ông được gọi về và được được chỉnh định là chỉ huy vùng Osaka trước dự kiến xâm lược của Mỹ vào các hòn đảo của Nhật. Ông được tặng thưởng Huân chương Mặt trời mọc (Rising Sun) hạng 1, trước sự đầu hàng của Nhật Bản. Ông mất năm 1950.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Kuno Seiichi


    Sinh ngày 4 tháng 3 năm 1887 mất ngày 13 tháng 3 năm 1962, là Trung tướng của Đế Quốc Nhật Bản, tham gia trong cuộc chiến Trung- Nhật.
    Kuno tốt nghiệp khóa 18 của Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1905, và được bầu làm Trung úy thứ hai đội kỵ binh. Ông tốt nghiệp danh dự khóa 26 của trường Cao dẳng Quân đội năm 1914. Sau khi phục vụ một thời gian ngắn với vị trí Tổng tham mưu quân đội Đế quốc Nhật Bản, Kuno được gửi tới làm phụ tá cao cấp cho Hoàng tử Fushimi Sadanaru từ năm 1915 đến năm 1917. Từ năm 1917 đến năm 1919, ông tới Pháp với vai trò quan sát viên quân sự và tham gia với quân đội Pháp ở Rumani trong Thế chiến thứ nhất.
    Sau khi trở về Nhật Bản, Kuno trở thành nhân viên hành chính, làm tới chức Bí thứ cho Tổng đốc Hàn Quốc năm 1927.
    Từ năm 1927 đến 1929, Kuno chỉ huy Trung đoàn 28 kỵ binh IJA. Ông là giảng viên tại trường Cao đẳng Lục quân từ năm 1929 đến năm 1932, và tại trường kỵ binh năm 1932 đến năm 1933. Năm 1933, ông trở thành tham mưu trưởng của Sư đoàn 8 IJA.
    Trong một thời gian ngắn Kuno làm hiệu trưởng trường Kỵ binh năm 1935, trước khi ông được bổ nhiệm làm chỉ huy Lữ đoàn thứ tư kỵ binh IJA. Ông được thăng chứ Thiếu trướng năm 1936.
    Kuno trở thành tham mưu trường của Quân đội đồn trú tại Hàn Quốc từ năm 1936 đến năm 1938, và vì thế trong công văn từ Tokyo, ông đưa quân tham gia Sự kiện Mãn Châu trong giai đoạn đầu của Chiến Tranh Trung- Nhật lần thứ 2.
    Từ năm 1938 đến 1940, được thăng làm Trung tướng, Kuno chỉ huy Sư đoàn 18 IJA, có những chiến đấu đáng kể trong mùa đông năm 1939 đến 1940. Sau đó ông chỉ huy Đội quân 22 Nhật Bản trong trận Nam Quảng Tây năm 1940. Năm 1940 bị gọi về Nhật Bản sau khi xâm chiếm Đông Dương thuộc địa của Pháp, ông buộc phải nghĩ hưu và từ bỏ mọi hoạt động quân sự năm 1941.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    6
    Matsuyama Yuzo


    Sinh ngày 01 tháng 2 năm 1889 mất ngày 01 tháng 11 năm 1947 là Trung tướng của Đế Quốc Nhật Bản, tham gia trong chiến tranh Trung- Nhật và Chiến tranh Thế giới thứ 2.
    Matsuyama xuất thân từ tỉnh Aomori và tốt nghiệp khóa 22 của Học viện Lục Quân Đế Quốc Nhật Bản vào năm 1920
    Từ năm 1937 đến năm 1938, Matsuyama đã là sĩ quan chỉ huy Tiểu đoàn 19 độc lập phòng không. Ông được chuyển tới tiếp nhận 2 đơn vị Biên phòng của đạo quân Quang Đông năm 1938, và trở thành chỉ huy của một lữ đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 27 IJA. Năm 1941, ông là chỉ huy binh đoàn 64 độc lập. Trong tháng 8 năm 1939, Matuyama được thăng chức Trung tướng.
    Từ năm 1942 đến 1945, Matsuyama đã đạt được thành công cùng với Tướng Watanabe Masao chỉ huy Sư đoàn 56 IJA, trong hoạt động tại Miến Điên, Thái Lan và Trung QUốc và tham gia vào trận Bắc Miến Điện và Tây Vân Nam chống lại các lực lượng Quốc Dân đảng của Trung Quốc dọc theo sông Salween. Sư đoàn 56 vẫn ở Miến Điện cho đến khi buộc phải rút lui về Thái Lan trong tháng 7 năm 1945.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    123
    Shimomura Sadamu sinh ngày 23 tháng 9 năm 1887 mất ngày 25 tháng 3 năm 1968, là một Đại tướng trong Đội quân Đế quốc Nhật Bản và Bộ trưởng Bộ Chiến tranh cuối cùng của Đế quốc Nhật Bản.

    Đại tướng Shimomura Sadamu
    Shimomura xuất thân từ tỉnh Kochi, Nhật Bản, tốt nghiệp khóa 22 Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1908. Bạn học của ông gồm Hoàng tử Asaka, Hoàng tử Higashikuni Naruhiko, Hoàng tử Kitashirakawa Naruhisa, Mitsuru Ushijima, Heitarō Kimura, Takashi Sakai, và Shōjirō Iida. Năm 1916 ông tốt nghiệp khóa 28 trường Cao đẳng Tham mưu Lục quân. Sau khi phục vụ ở một số vị trí hình chính trong Tổng tham mưu Quân đội Đế quốc Nhật Bản, Shimomura được gửi tới Pháp với vai trò là Quan sát viên quân sự năm 1919. Ông trở về phòng chiến lược và kế hoạch của Tổng tham mưu năm 1921. Ông nằm trong phái đoàn Hải quân Nhật đến Hội nghị Geneva để đàm phán từ năm 1928 đến năm 1929 và năm 1931. Từ năm 1933 đến năm 1935, ông chỉ huy Trung đoàn 1 Pháo binh hạng nặng IJA. Năm 1935, Shimomura được gửi đến gia nhập vào đạo quân Quan Đông và thăng chức Thiếu tướng năm 1936. Ông trở về lại làm Tổng tham mưu trưởng của Cục 4 từ năm 1936 đến năm 1937 và của Cục 1 từ năm 1937 đến năm 1938. Ông đề xướng một kế hoạch tấn công mạnh mẽ hơn vào Quốc Dân Đảng ở Thượng Hải và kế hoạch của ông đã ảnh hưởng tới quyết định của Tổng tham mưu Nhật Bản, cho phép đổ bộ Quân đoàn 10 Nhật Bản khi bắt đầu trận Thương Hải.
    Shimomura được thăng chức Trung tướng vào năm 1939. Ông là giảng viên của trường Pháo binh vào năm 1940. Năm 1942, ông được đề cử chỉ huy Quân đoàn 13 Nhật Bản đặt trụ sở ở Thượng Hải và đồn trú các tỉnh lân cận ngăn chặn việc quân Đồng Minh đổ bộ vào khu vực sông Dương Tử và khu vực phía đông Trung Quốc.
    Tháng 3 năm 1944, Shimomura được triệu về Nhật Bản và trở thành thành viên của Tây quân, một lực lượng sinh ra để phòng chống quân Đồng Minh tấn công Nhật Bản. Tuy nhiên vào tháng 11 năm 1944, ông trở về Trung Quốc và chỉ huy Quân đội thuộc địa miền bắc Trung Quốc.
    Năm 1945, Shimomura được thăng chức Đại tướng và vào ngày 23 tháng 8 (sau khi Nhật Bản đầu hàng) được bổ nghiệm là Bộ trưởng Lục quân cuối cùng dưới nội các Higashikuni. Một trong những lý do lựa chọn ông là sự nghiệp quân sự của ông không bao giờ tham gia vào những vấn đề liên quan đến Hoa Kỳ. Shimomura cũng đồng thời là Tổng Thanh tra đào tạo cuối cùng , nhiệm vụ chính của ông là giám sát sự xuất ngũ của Quân đội Nhật Bản. Từ năm 1946 đến năm 1947, Shimomura đã bị bắt giam trong thời gian ngắn bởi các quan chức trong chính quyền chiếm đóng Mỹ, nhưng được tha ra mà không phải xét xử.
    Tháng 6 năm 1959, ông được bầu vào Hạ viện SCAP. Ngày 25 tháng 3 năm 1968, Shimomura qua đời trong một tai nạn giao thông.

  8. #8
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    58
    Kasahara Yukio


    Kasahara Yukio sinh ngày 06 tháng 11 năm 1889 mất ngày 02 tháng 1 năm 1988, là một vị tướng trong Đội quân Đế quốc Nhật Bản, tham gia Chiến tranh Trung-Nhật.

    Kasahara được sinh ra trong một gia đình binh nghiệp ở Sendai, thời thanh niên học ở trường Chuyên Trung học Tokyo. Ông tốt nghiệp khóa 22 của Học viên Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1913 và khóa 22 trường Cao đẳng Tham mưu Lục quân tháng 11 năm 1918. Kasahara được gởi đến Moskva, Nga với vai trò Quan sát viên quân sự từ năm 1929 đến năm 1932, tại đây ông thông thạo tiếng Nga. Ngày về Nhật Bản, ông được chuyển tới Phòng 4 Chi nhánh của Liên Xô, Cục 2 của Tổng tham mưu Đế quốc Nhật Bản.
    Từ năm 1933 đến năm 1934, ông trở thành một giảng viên tại Trường Kỵ binh và sau đó được bổ nhiệm làm chỉ huy Trung đoàn Kỵ binh Vệ binh Hoàng gia từ năm 1934 đến năm 1936.
    Kasahara trở về lại Cục 2 Tổng tham mưu Đế quốc vào năm 1936 là trưởng Phòng 4, Phòng 5 và Phòng 6 bao gồm tất cả tin tức, thông tin từ châu Âu, Mỹ và Nga. Ông là người đề xuất chính của học thuyết hokushin-ron, trực giác mãnh liệt của ông cho rằng Liên Xô chính là mối đe dọa lớn và là một cơ hội lớn của Nhật Bản.
    Từ năm 1937 đến năm 1938, Kasahara tới Mãn Châu quốc với chức Phó Tham mưu trưởng của đạo quân Quan Đông. Trong một nhiệm vụ quân sự ông đã viếng thăm Đức năm 1938 sau khi kết thúc Hiệp định Phát xít Đức Ý Nhật, ngày trở về Nhật Bản ông trở lại vị trí Tổng tham mưu.
    Tuy nhiên, Kasahara sớm được cử về Trung Quốc. Từ năm 1939 đến năm 1941, ông giữ chức Tham mưu trưởng của Quân đội miền bắc Trung Quốc. Sau đó ông được thăng lên Tổng tư lệnh Sư đoàn 12 IJA từ năm 1941 đến năm 1942.
    Năm 1942 đến năm 1945, Kasahara giữ chức Tham mưu trưởng đạo quân Quan Đông. Tuy nhiên vào tháng 4 năm 1945, ông được bổ nhiệm để thay thế Đại tướng Uetsuki Yoshio chỉ huy Quân đoàn 11 IJA, và do đó ông tham gia vào Chiến dịch Ichigo, đặt biệt là trận Quế Lâm - Liễu Châu.


    (hình mờ căm, nên mình ko up)

  9. #9
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    1
    Ueda Kenkichi, sinh ngày 8 tháng 3 năm 1875 mất ngày 11 tháng 9 năm 1962, là một Đại tướng trong Đội quân Đế quốc Nhật Bản, tham gia Chiến tranh Trung-Nhật Bản lần thứ hai, Chiến tranh biên giới Liên Xô - Nhật cuối thập niên 1930.

    Đại tướng Ueda Kenkichi
    Sinh ra ở tỉnh Osaka, Ueda tốt nghiệp khóa 10 Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1898 và khóa 21 của trường Cao đẳng Tham mưu Lục quân năm 1908. Ông được giao chỉ huy Lữ đoàn Kỵ binh 9 thuộc Sư đoàn Hoa cúc (Sư đoàn 18 IJA), sau đó được chuyển tới Sư đoàn 16 IJA. Năm 1918, là một trong những sĩ quan trong quân đội tham gia Viễn chinh Siberia, Ueda được thăng Đại tá vào năm sau.
    Năm 1923, được giao chỉ huy một Trung đoàn, Ueda được thăng chức Thiếu tướng năm 1923 và được chỉ định chỉ huy Lữ đoàn Kỵ binh 3.
    Năm 1928, thăng chức Trung tướng, năm sau Ueda trở thành Tổng tư lệnh của Quân đội Nhật Bản đồn trú ở Trung Quốc, ông giữ chức chỉ huy cho đến năm 1930. Chỉ huy Sư đoàn 9 IJA từ năm 1930 đến năm 1932, lực lượng của Ueda tham gia nhiều trận đánh quan trọng chống lại các lực lượng của Trung Quốc trong thời gian Nhật Bản chiếm đóng Mãn Châu.
    Ueda bị mất một chân trong vụ đánh bom ngày 29 tháng 4 năm 1932 ở Thượng Hải,bởi một sát thủ người Hàn Quốc tên Yoon Bong-Gil, đích nhắm là cấp trên của ông, Đại tướng Shirakawa Yoshinori. Sau đó, Ueda trở lại Nhật Bản làm thành viên của Tổng Tham mưu Quân đội Nhật Bản. Năm 1934, Ueda trở thành Tổng Tư lệnh của Quân đội Chosen ở Hàn Quốc. Năm 1935 được thăng chức Đại tướng, Ueda trở lại Mãn Châu giữ chức Tổng Tư lệnh của Đạo quân Quan Đông từ năm 1936 đến năm 1939. Năm 1939, ông là một thành viên của Hội đồng Chiến tranh tối cao.
    Một người tin tưởng triệt để học thuyết hokushin-ron, kẻ thù chính của Nhật Bản là chủ nghĩa Cộng sản và số phận Nhật Bản nằm trong các cuộc chinh phục các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở phía Bắc châu Á, Ueda ủng hộ các xung đột ở vùng biên giới Mãn Châu giáp với Liên Xô, Mông Cổ dẫn đến thương vong nặng và chiến đấu chống lại quân đội Liên Xô trong chiến dịch Khalkhyn Gol vào giữ tháng 5 và tháng 8 năm 1939.
    Mặc dù những trận chiến chống lại quân đội Xô Viết gây ra những kết quả tệ, Ueda vẫn tiếp tục hỗ trợ cho học thuyết hokushin-ron. Ông được triệu về Nhật bản vào cuối năm 1939 và buộc phải nghĩ hưu.
    Ueda sống lặng lẽ qua hết chiến tranh thế giới thứ 2, và mất năm 1962.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    3
    Yamanashi Hanzō, sinh ngày 06 tháng 4 năm 1864 mất ngày 02 tháng 7 năm 1944, là một Đại tướng của Quân đội Đế quốc Nhật Bản và là Tổng đốc của Hàn Quốc.

    Đại tướng Yamanashi Hanzō
    Xuất thân từ tỉnh Kanagawa, Yamanashi tốt nghiệp khóa 8 Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1886 và khóa 8 trường Cao đẳng Sĩ quan Lục quân năm 1892. Ông chuyển đến công tác Lữ đoàn Bộ binh 4 IJA và tham gia cuộc Chiến tranh Trung - Nhật lần thứ nhất với Quân đoàn 2 IJA.
    Sau chiến tranh, ông nắm giữ chức vụ quản lý hành chính, trước khi đi qua Đức với vai trò Quan sát viên Quân sự từ năm 1898- 1902.
    Trong Chiến tranh Nga- Nhật 1904- 1905, ông là Phó Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 IJA và sau đó làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 3 IJA. Sau khi kết thúc chiến tranh ông trở lại châu Âu, đến Áo- Hung trong vai trò Quan sát viên Quân sự từ cuối năm 1905- 1907, và quay trở lại Đức vào năm 1907.
    Yamanashi được thăng chức Thiếu tướng vào năm 1911 và được giao chỉ huy Lữ đoàn Bộ binh 30 IJA. Năm sau ông chuyển tới Lữ đoàn Bộ binh 1 IJA. Sau khi làm việc trong Bộ tổng tham mưu Lục quân Đế quốc Nhật Bản, ông đưa ra một số đề xuất quan trọng. Dẫn dắt Sư đoàn IJA tham gia trận Tsingtao (nay là Thanh đảo). Năm 1916, Yamanashi được thăng chức Trung tướng và năm 1921 ông được thăng chức Đại tướng.
    Từ năm 1921- 1923, Yamanashi giữ chức Bộ trưởng Bộ chiến tranh dưới Nội các của Thủ tướng Takahashi Hara, Takahashi Korekiyo và Kato Tomosaburo.
    Năm 1927 ông nghỉ hưu từ bỏ mọi chức vụ. Từ năm 1927- 1929, ông giữ chứ Tổng đốc Chính quyền chiếm đóng Nhật Bản tại Hàn Quốc.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •