Trang 2 của 6 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 56
  1. #11
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Baron Honjō Shigeru, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1876 mất ngày 30 tháng 11 năm 1945, là một Đại tướng Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Ông là người đi theo theo học thuyết Araki Sadao hăng hái nhất.

    Đại tướng Honjō Shigeru

    Honjo được sinh ra trong một gia đình nông nghiệp ở tỉnh Hyogo, còn trẻ học tại các trường Quân sự Dự bị. Ông tốt nghiệp khóa 9 của Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1897. Trong số các bạn của ông tương lai đã làm chức Thủ tướng Abe Nobuyuki, Đại tướng Sadao Araki và Iwane Matsui. Năm 1902, ông tốt nghiệp khóa 19 trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội.
    Honjo cùng với Trung đoàn Bộ binh 20 tham gia cuộc Chiến tranh Nga-Nhật, trong cuộc chiến này ông được thăng cấp Đại úy. Sau chiến tranh, ông được chuyển tới làm việc trong Bộ Tổng tham mưu Quân đội. Năm 1907- 1908, Honjo được phái đến Bắc Kinh và Thượng Hải, là một Tùy viên Quân sự, năm sau lên lon Thiếu tá. Sau một thời gian dài làm giảng viên tại trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội, ông được thăng chức Trung tá năm 1917, và được gửi đến châu Âu với vai trò Quan sát viên Quân sự sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Năm 1919, ông đi cùng quân đội Nhật Bản trong cuộc Can thiệp Siberi, chống lại Hồng quân ở miền đông nước Nga.
    Honjo là sĩ quan chỉ huy Trung đoàn 11 từ năm 1919- 1821. Ông là cố vấn cho Trương Tác Lâm (Chang Tso-lin) tại Mãn Châu từ năm 1921- 1924. Ông được thăng chức Thiếu tướng năm 1922 và năm 1934 được chỉ huy Lữ đoàn Bộ binh 4. năm 1927 Honjo thăng chức Trung tướng và trở thành Tổng tư lệnh Sư đoàn 10 năm 1928. Năm 1931 ông làm Tổng Tư lệnh đạo quân Quan Đông ở Mãn Châu, chỉ huy chiến dịch Phụng Thiên (nay là tỉnh Thẩm Dương) và tiến hành xâm lược Mãn Châu.
    Năm 1932, Honjo từ Bộ Tư lệnh quay trở về nước, tại đây ông được xem như một anh hùng dân tộc, và ông là một thành viên của Hội đồng chiến tranh tối cao từ năm 1932- 1933. Ông được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý và danh dự, chưa hết, ông được phong tước hiệu Danshaku, thuộc hệ thống quý tộc Kazoku.
    Sau này ông nhận chức Trưởng trợ lý cho Hoàng đế Hirohito cho đến năm 1936, ông nghĩ hưu vì bị nghi ngờ có dính líu đến Sự kiện 26 tháng 2.
    Cuối Chiến tranh Thế giới 2, ông từ nơi nghĩ hưu đến phục vụ trong Hội đồng Cơ mật. Sau khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945, ông bị chính quyền chiếm đóng Mỹ bắt và xét xử vì bị nghi nhờ là tội phạm chiến tranh, tuy nhiên, ông tự sát trước khi phiên tòa bắt đầu. Mộ ông được dặt tại Nghĩa trang Tama ở Fuchu, Tokyo.

  2. #12
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Tanaka Hisakazu, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1889 mất ngày 27 tháng 3 năm 1947, là một vị tướng trong Quân đội Nhật bản, là Tổng đốc Lực lượng chiếm đóng Nhật Bản tại Hồng Kông trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Bạn bè thỉnh thoảng gọi anh là "Tanaka Hisaichi".

    Trung tướng Tanaka Hisakazu
    Quê quán của anh ở Hyōgo, tốt nghiệp khóa 22 Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1910 và khóa 30 trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội năm 1918. Ông phục vụ trong Bộ Tổng tham mưu Đế quốc Nhật Bản từ năm 1919- 1920, và được gửi đến Hoa Kỳ với vai trò Quan sát viên Quân sự năm 1923- 1924.
    Sau khi trở về Nhật Bản, ông tiếp tục phục vụ ở Bộ Tổng tham mưu, ngoại trừ có thời gian nắm giữ Trung Đoàn 1 Vệ binh Hoàng Gia từ năm 1935- 1937. Cuối năm 1937, ông được thăng chức Thiếu tướng và vào năm 1938 được chỉ định làm Tham mưu trưởng Quân đội Đài Loan trong thời gian ngắn.
    Tuy nhiên, cuộc Chiến tranh Trung-Nhật lần 2 ngày càng quyết liệt, Tanaka nhanh chóng đứng vào hàng ngũ Tham mưu trưởng của quân đội Nam Chinh vào năm 1938, và là chỉ huy trưởng của Quân đoàn 21 Lục quân Nhật Bản từ năm 1938- 1939.
    Tanaka quay trở lại Nhật bản, từ năm 1939- 1940 giữ chức Hiệu trưởng trường Quân đội Toyama, nhưng nhanh chóng quay trở lại chiến trường với chức vụ Trung tướng và chỉ huy Sư đoàn 21 IJA từ năm 1940- 1943. Ông trở thành Tổng Tư lệnh của Quân đoàn 23 Nhật Bản tại Trung Quốc từ năm 1943- 1945.
    Đồng thời, từ ngày 16 tháng 12 năm 1944, ông đã giữ chức Tổng đốc Lực lượng chiếm đóng Nhật Bản tại Hồng Kông.
    Vào cuối cuộc chiến, ông bị bắt bởi chính quyền chiếm đóng Mỹ và bị đưa ra xét sử trước một tòa án quân sự tổ chức tại Thượng Hải vào năm 1946. Ông bị kết tội tàn sát tập thể các tù binh Đồng Minh và bị kết án tử hình bằng cách treo cổ. Tuy nhiên, sau đó ông được chuyện sang một tòa án quân sự của Quốc Dân Đảng ở Nam Kinh, cho tội ác chiến tranh khi ông chỉ huy Quân đoàn 23 IJA tại Trung Quốc. Năm 1947, ông bị xử bắn.

  3. #13
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    9
    Shiba Goro, sinh ngày 21 tháng 6 năm 1860 mất ngày 13 tháng 02 năm 1945, là một Đại tướng của Quân đội Nhật Bản

    Đại tướng Shiba Gorō

    Ông là con trai thứ 5 của Samurai Shiba Satazō miền Aizu, Shiba Goro đã chứng kiến cuộc Chiến tranh Boshin khi còn là một đứa trẻ, và đã sống sót sau khi Aizu bị phá hủy. Ông tham gia chính phủ Minh Trị và sau khi làm việc trong thời gian ngắn cho chính quyền tỉnh Aomori, ông đi học tại Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Trong lớp học của ông, có nhiều bạn học mà về sau học rất là thăng tiến trên sự nghiệp, như Uehara Yusaku, Akiyama Yoshifuru, và Hongo Fusataro. Ông được bổ nhiệm làm Trung úy 2 pháo binh năm 1879 và Trung úy 1 vào năm 1884.
    Sau khi đến làm tại kho vũ khí Osaka, Shiba được chuyển đến Lực lượng Vệ binh Hoàng gia. Năm 1895, ông tham gia Chiến tranh Trung- Nhật.
    Thăng chức Đại tá năm 1900, trong cuộc nổi dậy Boxer, Shiba được gửi đến Lãnh sự quán Nhật với vai trò Tùy viên quân sự. Trong suốt chiến dịch ông thể hiện rất xuất sắc, như cuộc vây hãm Bắc Kinh, và nhận nhiều huy chương của các nước phương Tây trong Liên minh 8 nước. Tên ông đã xuất hiện trên tờ báo The Times.
    Trong cuộc Chiến tranh Nga-Nhật, ông phục vụ tại một Trung đoàn Pháo binh, vì dũng cảm trong chiến đấu nên ông được tặng thưởng Huân chương Cánh diều vàng hạng hai. Sau đó ông qua Vương quốc Anh với vai trò Tùy viên quân sự.
    Khi trở về nước ông trở thành Đại tướng, chỉ huy Sư đoàn 12 IJA mới thành lập và được tặng thưởng Huân chương Kho báu Thần thánh hạng nhất. Ông được lựa chọn để cùng Hoàng tử Higashifushimi Yorihito đi công du nước Anh năm 1918. Sau khi trở về Nhật Bản, ông được gửi đến chỉ huy Quân đội Đài Loan trước khi nghĩ huy.
    Tin nước Nhật đầu hàng đã làm ông đau đớn. Ông tự tử năm 1945

    Shiba cũng là tác giả của cuốn "Nhớ Aizu", đây là cuốn hồi ký của ông. Cuốn sách này miêu tả những năm thơ ấu bên gia đình.

  4. #14
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    287
    Nakajima Kesago, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1881 mất ngày 28 tháng 10 năm 1945, giữ chức Trung tướng Lục quân Đế quốc Nhật Bản, tham gia cuộc Chiến tranh Trung-Nhật lần 2 và có dính líu đến vụ thảm sát Nam Kinh tháng 12 năm 1937.

    Nakajima Kesago

    Xuất thân từ tỉnh Oita, Nakajima học ở trường Quân sự Dự bị lúc còn nhỏ, tốt nghiệp khóa 15 Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1903. Đã từng tham gia chiếu đấu trong Chiến tranh Nga-Nhật. Sau chiến tranh, ông tới học trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội và tốt ngiệp khóa 25 vào năm 1913. Từ tháng 7 năm 1918 đến tháng 5 năm 1923, ông tới Pháp với vai trò Quan sát viên Quân sự.
    Tháng 4 năm 1932, ông được thăng chức Thiếu tướng và được bổ nhiệm chỉ huy Quân đội quận Maizuru, chịu trách nhiệm về việc phòng thủ dọc bờ biển Honshu Nhật Bản.
    Năm 1933- 1936, Nakajima giữ chức hiệu trưởng trường Vũ khí hóa học Narashino.
    Tháng 3 năm 1936, ông được thăng chức Trung tướng và bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng cảnh sát quân sự.
    Chiến tranh Trung-Nhật lần 2 bắt đầu, Nakajima được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 16 IJA, và tham gia đánh trận Thượng Hải, hoạt động tại Hà Bắc, Trung Quốc. Dưới sự lãnh đạo của lão tướng Iwane Matsui, Nakajima được giữ chức Tư lệnh xâm lược trong trận Nam Kinh diễn ra cuối năm 1937, như vậy chức vụ của Hoàng tử Asaka trong hàng ngũ sĩ quan cao cấp chỉ tồn tại trên danh nghĩa, tại thời điểm xảy ra vụ thảm sát Nam Kinh. Cuốn nhật ký thời chiến của ông xuất bản năm 1985, chứng tỏ đây là một bằng chứng quan trọng về cuộc thảm sát.
    Nakajima tham gia trận Vũ hán trước khi có lệnh chỉ huy Quân đoàn 4 Nhật bản đóng tại Mãn Châu tứ năm 1938- 1939.
    Quay về Nhật Bản vào năm 1939, Nakajima nghĩ hưu tháng 9 năm 1939.
    Tháng 10 năm 1945, ông mất vì bệnh.

  5. #15
    Ngày tham gia
    Jan 2016
    Bài viết
    9
    Mitsue Yui, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1860 mất ngày 18 tháng 9 năm 1940, cấp bậc Đại tướng của Lục quân Đế quốc Nhật Bản, tham gia Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất và Chiến tranh Nga-Nhật.

    Đại tướng Mitsue Yui

    Sinh ra trên đảo Shikoku miền Tosa (ngày nay là tỉnh Kochi), Yui tốt nghiệp khóa 5 Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1882 và khóa 7 của trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội năm 1891. Vào ngày tốt nghiệp ông được chuyển tới làm ở Tổng hành dinh Đế quốc.
    Tham gia trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất và cuộc nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn. Yui được đến Anh với vai trò là Quan sát viên quân sự từ năm 1895- 1899. Khi trở về Nhật Bản ông trở thành Tham mưu trưởng Sư đoàn 5 IJA.
    Lúc bắt đầu Chiến tranh Nga-Nhật, Yui hiện là Đại tá được chuyển tới Lục quân Nhật Bản 2 với vai trò Phó tham mưu trưởng dưới quyền Đại tướng Yasukata Oku. Ông nổi tiếng trong trận Mukden, lúc này ông là Tham mưu trưởng Sư đoàn 8 IJA.
    Năm 1907 thăng lên Thiếu tướng, Yui tiếp tục phục vụ dưới quyền tướng Oku ở Tổng tham mưu Đế quốc Nhật Bản, khi tướng Oku giữ chức trưởng bộ phận này. Đến khi ông lên chức Trung tướng và đến làm hiệu trưởng ở trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội năm 1914.
    Sau đó, Yui được chỉ định đến chỉ huy Sư đoàn 15 IJA và Sư đoàn Vệ binh trước khi trở thành Tham mưu trưởng của đạo quân Viễn chinh Siberi vào năm 1918. Năm sau, Yui lên chức Đại tướng và chỉ huy quân đội Nhật đồn trú tại Thanh Đảo từ năm 1919 đến năm 1922.
    Năm 1923, ông từ chức và về hưu.
    Năm 1940, ông mất.

  6. #16
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    0
    Mori Takeshi, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1894 mất ngày 15 tháng 8 năm 1945, người đầu tiên giữ chức Tư lệnh Sư đoàn Vệ binh Hoàng gia Đế quốc Nhật Bản.

    Trung tướng Mori Takeshi
    Lớn lên ở tỉnh Kōchi, Mori tốt nghiệp khóa 28 Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản vào năm 1916, chuyên ngành kỵ binh. Sau khi phục ở một số vị trí hành chính trong Bộ Tổng tham mưu Quân đội Đế quốc, ông trở lại học tiếp ở trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội và vào năm 1927 ông tốt nghiệp khóa 39. Sau đó ông giữ chứ Tư lệnh Trung đoàn Kỵ binh 13 IJA trước khi trở về nhận nhiệm vụ của Bộ Tham mưu.
    Năm 1935-1937 và năm 1938-1941, Mori giảng dạy tại trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội. Ông được thăng chức Thiếu tướng năm 1941. Với sự bắt đầu Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ 2, Mori được chỉ định làm Tham mưu cho Quân đoàn 1 Nhật Bản tại Trung Quốc từ năm 1937- 1938. Ông trở lại đại lục năm 1941, với cương vị Phó Tham mưu trưởng Quân đoàn 6 Nhật Bản đóng ở Mãn Châu quốc, và được thăng chức Tham mưu trưởng vào năm 1942. Từ năm 1943- 1944, ông là Phó Tư lệnh của Kempeitai, và từ năm 1944- 1945, là Tham mưu trưởng của Quan đoàn 19 IJA.
    Năm 1945, Mori được thăng chức Trung tướng. Ngày 07 tháng 4 năm 1945, Mori trở thành chỉ huy Sư đoàn 1 Vệ Binh Hoàng gia, được giao trách nhiệm trực tiếp bảo vệ gia đình Hoàng gia Nhật Bản.
    Sau khi quyết định của Nhật Bản đầu hàng, Mori được triệu tập lúc nửa đêm vào ngày 15 tháng 8 năm 1945 bởi Thiếu tá Hatanaka Kenji, Trung tá Masataka Ida và Jiro Shiizaki, những người này cố gắng thực hiện âm mưu của họ cô lập Cung điện Hoàng gia và ngăn chặn công bố sự đầu hàng của Nhật Bản. Vào khoảng 1:30, Ida và Shiizaki đã rời căn phòng, Mori lặp đi lặp lại sự từ chối của mình, ông đã bị bắn chết bởi Hatanaka. Con dấu của ông sau đó đạ được đóng trên một tập lệnh giả (Lệnh chiến lược số 584).

  7. #17
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    0
    Sinh ngày 05 tháng 11 năm 1886 mất ngày 26 tháng 10 năm 1961 là tướng của Đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Ông đã chỉ huy quân đội Nhật Bản trong trận Angaur.

    Trung tướng Sadae Inoue

    Inoue sinh ra tại tỉnh Kumamoto, là con trai thứ 3 của một cảnh sát, tuy nhiên hộ khẩu thường trú của ông là ở tỉnh Kochi. Ông theo học trường Sĩ quan dự bị và đã tốt nghiệp khóa 20 của Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1908. Ông được giao chỉ huy Trung đoàn 44 bộ binh IJA, và tham gia vào cuộc nội chiến Siberi chống lại các lực lượng Bolshevik ở miền đông nước Nga. Khi bắt đầu chiến tranh Trung Nhật lần thứ, Inoue chỉ huy Trung đoàn 5 IJA.
    Thăng tiến dần trên con đường binh nghiệp, Inoue được thăng chức thiếu tướng vào tháng 3 năm 1939 và chỉ huy Sư đoàn 33 IJA. Năm 1942, ông chuyển đến trụ sở quân đội Nhật Bản tại Đài Loan. Inoue được thăng chức trung tướng vào năm 1942 và từ năm 1942 đến năm 1943 thống lĩnh Sư đoàn 69 IJA, đồn trú ở tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.
    Ông chỉ huy Sư đoàn 14 IJA năm 1943, đồn trú tại Mãn Châu. Tuy nhiên, với tình hình chiến tranh Thái Bình Dương càng lúc xấu đi về phía Nhật Bản, Sư đoàn 14 được điều đến hỗ trợ cho các quân đoàn Nam Chinh (được biết đến với tên Nam Phương quân), và tướng Tojo Hideki giao cho ông nhiệm vụ phòng thủ Palau. Cả hai tướng Tojo và Inoue biết rằng Sư đoàn 14 IJA không thể giữ nổi quân đảo này, trong khi quân Đồng Minh với lực lượng vượt trội hơn, nhưng chính phủ Nhật Bản nhận định rằng quần đảo này quan trọng và lệnh phải bảo vệ nó cho đến chết, và sẽ cho quân Đồng Minh một chiến thắng Pyrrhic và sẽ điều này có lợi cho Nhật Bản trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương.
    Hai trận đánh lớn đã diễn ra ở Palau dưới sự chỉ huy của Inoue: Trận Anguar và trận Peleiu. Cả hai phía đều thương vong, tổn thất nặng nề, nhận thấy địa hình ở đây tốt, Inoue đã ra lệnh tấn công liều chết đến các đơn vị.
    Sau chiến tranh, Inoue đã bị bắt bởi chính quyền chiếm đóng Mỹ và bị dẫn độ về Guam, nơi ông bị kết tội B và C cho tội ác chiến tranh. Ông lãnh án tù chung thân năm 1951.
    Năm 1953, được thả. Và năm 1961, ông chết tại Nhật Bản.

  8. #18
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    Tashiro Kanichiro, sing ngày 01 tháng 10 năm 1881 mất ngày 16 tháng 7 năm 1937, là một Trung tướng trong Quân đội Đế quốc Nhật Bản, tham gia giai đoạn đầu Chiến tranh Trung-Nhật.

    Trung tướng Tashiro Kanichiro

    Cùng với tướng Katsuki Kiyoshi, cả hai xuất thân từ tỉnh Saga. Tashio tốt nghiệp khóa 15 của Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản vào năm 1903 và khóa 25 trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội năm 1913. Năm 1921, ông đi cùng phái đoàn Nhật Bản đến Hội nghị Giải trừ quân bị ở Washington. Khi trở về Nhật, ông là thanh viên của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Đế quốc Nhật Bản, bao gồm cả thời gian ông đóng quân tại Hán Khẩu, Trung Quốc từ năm 1923- 1924. Thăng chức Đại tá Lực lượng Bộ binh vào năm 1924, ông nhận lệnh chỉ huy Trung đoàn 30 Bộ binh IJA.
    Tashiro trở thành Phó Trưởng phòng số 5 (Tình báo châu Á), Cục 2 trong Bộ Tham mưu năm 1926, và năm 1930 được thăng chức Thiếu tướng, khi ông khi chỉ huy Lữ đoàn 27 Bộ binh IJA.
    Ông là Tham mưu trưởng Quân đội Viễn chinh Thưởng Hải vào năm 1932, khi khi xảy ra những sự cố đầu tiên tại Thượng Hải. Từ năm 1933- 1934, ông giữ chứ chỉ huy Quân đội Kempeitai thuộc Đạo quân Quan Đông tại Mãn Châu, và từ năm 1934- 1935 giữ chức Chỉ huy trưởng cảnh sát quân sự.
    Từ năm 1935- 1936, Tashiro sau đó quay lại chỉ huy Sư đoàn 11 IJA, và giữ chức Tổng Tư lệnh Quân đoàn Thường trực Trung Quốc từ năm 1936- 1937, khi xảy ra sự kiện Lư Câu Kiều.
    Ông nhập viện vì bệnh tim và qua đời tại Thiên Tân vào năm 1937

  9. #19
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Fujie Keisuke sinh ngày 8 tháng 11 năm 1885 mất ngày 27 tháng 02 năm 1969, là một vị tướng trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản, tham gia Thế chiến thứ hai. Ông là con rể của Thủ tướng Kantaro Suzuki.

    Trung tướng Fujie Keisuke
    Fujie sinh ra ở tỉnh Hyōgo, tốt nghiệp khóa 18 Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản vào năm 1905, chuyên ngành Pháo binh. Năm 1914, ông tốt nghiệp khóa 26 trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội.
    Sau khi làm việc trong Bộ Tổng Tham mưu Lục quân Đế quốc Nhật Bản, Fujie được cử sang châu Âu với vai trò Quan sát viên Quân sự, ban đầu đến đại sứ quán Nhật Bản tại Paris, Pháp và sau đó đến Bucharest, Romania và Sophia, Bulgaria. Sau khi trở về Nhật Bản, ông đến giảng dạy tại trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội và được chỉ định làm chỉ huy Trung đoàn 5 Pháo binh.
    Fujie trở thành sĩ quan cao cấp của của Sư đoàn 16 IJA, đi cùng với đoàn đại biểu Nhật Bản đến Hội nghị Giải trừ quân bị Geneva. Tháng 8 năm 1934, ông được thăng chức Thiếu tướng, gia nhập vào lực lượng Kempetai thuộc Đạo quân Quan Đông vào tháng 7 năm 1936. Tháng 11 năm 1937, được thăng chức Trung tướng.
    Trong Chiến tranh Trung-Nhật lần hai, Fujie chỉ huy Sư đoàn 16 IJA. Sau đó được triệu về Nhật Bản, giữ chức Hiệu trưởng trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội và được bổ nhiệm chỉ huy Quân đội Đông Quận vào tháng 02 năm 1943. Sau đó chỉ huy Phương diện quân số 12, tháng 3 năm 1945, ông nghĩ hưu.
    Nhưng vào tháng 6 cùng năm ông được gọi về chỉ huy Phương diện quân số 11, bảo vệ vùng Tohoku của Nhật Bản chống lại các cuộc tấn công của Mỹ.

  10. #20
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    7
    Sinh ngày 25 tháng 9 năm 1890 mất ngày 25 tháng 6 năm 1960, Trung tướng trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản, giữ chức Phó Tham mưu trưởng của Bộ Tổng Tham mưu Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Ông là em trai của Đại tướng Kawabe Masakazu.

    Trung tướng Kawabe Torashirō

    Sinh ra ở tỉnh Toyama, Kawabe tốt nghiệp khóa 24 Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1912, thiên tài trong lĩnh vực Pháo binh. Năm 1915, hoàn tất khóa học tại Trường Pháo binh và kỹ sư, sau này tốt nghiệp tiếp khóa 33 trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội năm 1921. Từ năm 1922- 1925, ông nằm trong Ban điều hành của Tổng Tham mưu Quân đội.
    Được phân công làm nhân viên thường trú tại Riga, Latvia năm 1926, Kawabe nghiên cứu tình hình tại Liên Xô trong hai năm trước khi trở về Nhật Bản. Kawabe lên chức Thiếu ta, trở thành một giảng viên về kỹ thuật tác chiến ở trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội từ giữa năm 1928- 1929, trước khi về lại Bộ Tổng Tham mưu Lục quân Đế quốc Nhật Bản.
    Ba năm sau, Kawabe đến Moscow với vai trò Quan sát viên Quân sự, cho đến năm 1934, khi ông chuyển đến làm nhân viên và trưởng phòng tình báo của Đạo quân Quan Đông. Năm 1935, được thăng chức Đại tá. Trong thời gian làm việc ở Đạo quân Quan Đông, Kawabe tham gia vào những nỗ lực của chính phủ Nhật Bản, thông qua chính quyền địa phương Trung Quốc Hsin Li-Shou, để giành quyền kiểm soát tỉnh Chahar phía đông bắc Nội Mông Cổ.
    Chỉ huy một Trung đoàn Pháo binh thuộc Sư đoàn Vệ binh Hoàng gia trong một thời gian ngắn, Kawabe được bổ nhiệm làm thành viên Tổng Tham mưu lãnh đạo Hội đồng Chiến tranh, sau Sự kiện Lư Câu Kiều, ông là một trong số ít những sĩ quan cao cấp về phe Đại tướng Kanji Ishihara phản đối việc Nhật Bản đi sâu hơn vào Trung Quốc.
    Năm 1938, ông được thăng chức Thiếu tướng, Kawabe một lần nữa được cử ra nước ngoài với vai trò Quan sát viên Quân sự, lần này ông đến Berlin, Đức và đến Budapest, Hungary trong hai năm. Trước khi Nhật Bản tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai ông được gọi về. Đầu năm 1941, ông giữ chức Tổng Tư lệnh Quốc phòng. Cùng năm đó ông được thăng chức Trung tướng và kiêm của chức Tổng Thanh tra Hàng không. Năm 1943, ông chỉ huy Quân đoàn 2 Không quân và năm 1944, ông quay lại với nhiệm vụ tổng thanh tra
    Tháng 4 năm 1945, Kawabe được bổ nhiệm làm Phó Tham mưu trưởng của Bộ Tổng Tham mưu Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Ông dẫn đầu đoàn đại biểu Nhật Bản đến Manila đàm phán với tướng Douglas MacArthur về việc đầu hàng của Nhật Bản.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •