Trang 3 của 6 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 56
  1. #21
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Oku Yasukata sinh ngày 05 tháng 01 năm 1847 mất ngày 19 tháng 7 năm 1930, giữ chức Nguyên soái Quân đội Nhật Bản, là một trong nhóm những vị nguyên soái đầu tiên của Lục quân Đế quốc Nhật Bản.

    Nguyên soái Oku Yasukata


    Tuổi trẻ
    Sinh ra tại Kokura (hiện nay là Kitakyushu), là con của một gia đình Samurai ở miền Kokura tỉnh Buzen, Oku gia nhập lực lượng quân sự cải cách ở miền Chōshū, chiến đấu lật đổ Mạc phủ Tokugawa và tham gia phong trào Duy Tân.

    Sự nghiệp quân sự
    Là một vị chỉ huy mới của Lục quân Đế quốc Nhật Bản, Oku đàn áp các lực lượng chống đối trong cuộc nổi loạn Saga năm 1871. Trong cuộc nổi dậy Satsuma, ông chỉ huy Trung đoàn 13 Bộ binh bảo vệ thành Kumamoto trước các cuộc tấn công.
    Trong chiến tranh Trung-Nhật, ông đã đạt được những thành công khi cùng với tướng Nozu Michitsura chỉ huy Sư đoàn 5 IJA.. Sau đó, ông giữ chức chỉ huy lực lượng Vệ binh Hoàng gia và chức Tổng Thống đốc, lo việc phòng thủ Tokyo. Năm 1895, ông được phong Nam tước, thuộc hệ thống quý tộc Kazoku. Năm 1903, ông được thăng chức Đại tướng.
    Trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật, Oku dẫn dắt Quân đoàn 2 IJA xông xáo trong trận Nanshan, trận Shaho, trận Mukden và các chiến dịch khác.
    Năm 1906, OKu được tặng thưởng huân chương Diều hâu vàng (hạng 1) và vào năm 1907, được phong Tử tước. Năm 1911, ông được thăng quân hàm danh dự Nguyên soái Lục quân.
    Oku từ chối tham dự các cuộc họp tác chiến với bộ tham mưu, nên được đặt danh hiệu "con sói cô độc", ông là một chiến lược gia xuất sắc có khả năng hành động độc lập. Tuy nhiên trên thực tế, Oku chỉ miễn cưỡng tham dự các cuộc họp và không có đưa những đóng góp vào các cuộc tranh luận

    Cuộc sống sau chiến tranh
    Oku đã hoàn toàn không quan tâm đến chính trị và sống ẩn dật sau chiến tranh. Khi ông qua đời vào năm 1930, nhiều người đã ngạc nhiên nghĩ rằng ông đã qua đời vào năm trước.

  2. #22
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Nozu Michitsura sinh ngày 17 tháng 12 năm 1840 mất ngày 18 tháng 10 năm 1908, giữ chức nguyên soái quân đội Nhật Bản.

    Nguyên soái Nozu Michitsura

    Sinh ra ở Kagoshima, là con của một samurai vùng Satsuma, Nozu tham gia Chiến tranh Boshin. Năm 1871, ông được thăng chức Thiếu tá và sau đó chống lại đồng đội cũ của mình trong cuộc nổi dậy Satsuma. Năm 1878, ông trở thành hiệu trưởng trường Quân sự Tokyo. Cùng với Bộ trưởng Chiến tranh Oyama Iwao, ông tới thăm châu Âu để tìm hiểu sự khác biệt trong nền quân sự của những quốc gia châu Âu. Ngày trở về Châu Bản, ông được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Quân sự Hiroshima và năm 1894 được thăng chức Đại tướng.
    Trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật, Nozu dẫn đầu Sư đoàn Hiroshima đánh trận Bình Nhưỡng (1894). Cùng với Đại tướng Aritomo Yamagata, ông đã đạt được thành công trong việc xây dựng chính quyền chiếm đóng ở Mãn Châu, và chiến đấu ở đây cho đến hết cuộc chiến. Sau đó, ông đã hoàn thành tốt nhiệm vụ ở các bộ phận như Tư lệnh Sư đoàn Vệ binh Hoàng gia, Tổng Thanh tra Đào tạo Quân đội và là thành viên của Hội đồng Quân sự.
    Năm 1895, Thiên hoàng Minh Trị phong cho ông tước hiệu Shishaku (Tử tước) dưới hệ thống quý tộc Kazoku.
    Năm 1906, Nozu chỉ huy Quân đoàn 4 Nhật Bản tham gia cuộc chiến tranh Nga-Nhật và được thăng Nguyên soái Lục quân. Cùng năm ông được phong tước hiệu Koshaku (Hầu tước).
    Nozu được trao tặng Huân chương Diều hâu vàng (hạng nhất) và Grand Cordon Huân chương hoa Cúc.
    Năm 1908, ông mất, một của ông đặt tại nghĩa trang Aoyama ở trung tâm thành phố Tokyo.

  3. #23
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Tử tước, Uehara Yusaku, sinh ngày 06 tháng 12 năm 1856 mất ngày 08 Tháng 11 1933, là một Nguyên soái trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản.

    Nguyên soái Uehara Yusaku

    Sinh ra ở thành phố Miyakonojo, tỉnh Hyuga (hiện nay là tỉnh Miyazaki), cha ông là một samurai của miền Satsuma. Ông tốt nghiệp Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1879, Yoshifuru Akiyama là một trong những bạn học của ông. Uehara được gửi sang Pháp để nghiên cứu kỹ thuật hiện đại hóa quân sự, từ năm 1881- 1885. Sau đó ông tham gia Chiến tranh Nga-Nhật, làm sĩ quan tham mưu của Quân đoàn 4 Nhật Bản. Nguyên soái Nozu Michitsura là cha nuôi của ông.
    Tháng 12 năm 1912, Uehara được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Chiến tranh thuộc nội các của thủ tướng Saionji Kinmochi. Kể từ khi chính phủ theo đuổi một chính sách thắt chặt tài chính, đã sớm dẫn đến cuộc xung đột với quân đội, khi quân đội yêu cầu tăng kinh phí để thành lập thêm 3 Sư đoàn bộ binh. Uehara từ chức Bộ trưởng Chiến tranh trong khu cuộc xung đột xảy ra.
    Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1913, Uehara là Tổng Tư lệnh của Sư đoàn 3 IJA. Năm 1915, Uehar là thành viên Bộ Tổng Tham mưu Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Khi ở cương vị này, ông cùng với Tanaka Giichi và Ugaki Issei có thẩm quyền tham gia Nội chiến Siberia, hỗ trợ Nga trắng chống lại Hồng quân Bolshevik.
    Năm 1921, Uehara nhận chức Nguyên soái (Đế quốc Nhật Bản), và nhận được chức Shishaku (Tử tước), trong hệ thống quý tộc Kazoku cùng năm.
    Sau đó, Uehar đã trở thành Tổng thanh tra Đào tạo Quân đội.
    Năm 1933, Uehara qua đời.

  4. #24
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Kawamura Kageaki, sinh ngày 8 tháng 4 năm 1850 mất ngày 28 tháng 4 năm 1926, là một Nguyên soái trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản.

    Nguyên soái Kawamura Kageaki
    Kawamura sinh tại Kagoshima trong một gia đình phong kiến miền Satsuma. Lần đầu tiên ông đã chiến đấu như một Samurai trong cuộc chiến Anglo-Satsuma. Ông tham gia lực lượng Satsuma trong Chiến tranh Boshin để lật đổ Mạc phủ Tokugawa. Sau khi cải cách Minh Trị, ông được bổ nhiệm làm chỉ huy Vệ binh Hoàng gia. Ông cũng chỉ huy đàn áp các cuộc nổi dậy trong những năm đầu thời Minh Trị, trong đó có cuộc nổi dậy Hagi và cuộc nổi dậy Satsuma.
    Kawamura đã dẫn Sư đoàn Vệ binh Hoàng gia tham gia chiến tranh Trung-Nhật. Sau cuộc chiến, ông được Hoàng đế Minh Trị phong Nam tước, thuộc hệ thống quý tộc Kazoku.
    Trong chiến tranh Nga-Nhật từ năm 1904- 1905, Kawamura đã thành công cùng với hoàng tử Fushimi Sadanaru chỉ huy Sư đoàn 10 IJA, và tiếng tăm của ông nổi lên trong trận sông Áp Lục 1904 và trận Phụng Thiên. Sau những chiến thắng của quân đội Nhật Bản, Nhật hoàng phong ông lên Tử tước.
    Sau chiến tranh, Kawamura lĩnh chức chỉ huy trưởng lực lượng phòng thủ Tokyo và năm 1915, ông trở thành Nguyên soái Lục quân.
    Ông nhận Huân chương Diều hâu Vàng (hạng 1), huân chương Mặt trời mọc (hạng 1 với Paulownia Blossoms, Grand Cordon) và Grand Cordon Huân chương hoa Cúc
    Mộ của Kawamura được đặt tại nghĩa trang Aoyama ở Tokyo.

  5. #25
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    15
    Nobuyoshi Muto, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1868 mất ngày 27 tháng 7 năm 1933, là tư lệnh của đạo quân Quan Đông năm 1933, đại sứ Nhật Bản ỡ Mãn Châu quốc và là nguyên soái của quân đội đế quốc Nhật Bản.

    Nguyên soái Nobuyoshi Muto


    Sinh ra trong một gia đình cựu samurai ở miền Saga, sau khi tốt nghiệp từ Học viên Lục quân Đế quốc Nhật Bản, Muto tham gia trong chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất với chức Trung úy đội bộ binh. Sau chiến tranh ông được phong lên Đại úy, được gửi sang Nga hai lần với vai trò Tùy viên quân sự, giành thời gian nhiều ở Vladivostok và ở Odessa. Ông thông thạo tiếng Nga, điều này vô cùng quý báu trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật. Ông lên chức Thiếu tá, sau nữa là chức Đại tá, ông trở về Nhật Bản để chỉ huy lực lượng Vệ binh Hoàng gia.
    Từ năm 1915- 1916, Muto là trưởng phòng 2 (diễn tập), phòng 1 Bộ Tổng Tham mưu Đế quốc Nhật Bản. Từ năm 1917, ông làm tình báo quân sự và lãnh đạo cơ quan tình báo đặc biệt Harbin và tổ chức hoạt động tại Irkutsk và Omsk. Từ năm 1919- 1921, ông quay trở lại Bổ Tổng Tham mưu, trước năm 1921 ông được bổ nhiệm làm chỉ huy Sư đoàn 3 IJA và được cử sang tham gia Nội chiến Siberi chống lại Hồng quân.
    Muto trở về Nhật Bản năm 1922, giữ chức Phó Tham mưu trưởng của Tổng bộ đến năm 1925, là thanh viên của Hội đồng chiến tranh từ năm 1925- 1926. Ông được bổ nhiệm chỉ huy lực lượng phòng vệ Tokyo trong thời gian ngắn trước khi đảm nhận chức Tổng tư lệnh đạo quân Quan Đông, từ ngày 28 tháng 7 năm 1926 đến 26 tháng 8 năm 1927.
    Ngày 26 tháng 8 năm 1927 đến 26 tháng 5 năm 1932, ông giữ chức Tổng Thanh tra đào tạo quân đội.
    Đầu năm 1933, ông được thăng hàm Nguyên soái Lục quân.
    Chuẩn đoán là bị vàng da, Muto qua đời trong một bệnh viện ở Shinkyo, Mãn Châu quốc. Ông được phong Nam tước. Tặng thưởng huân chương Diều hâu vàng (hạng 1) và huân chương Mặt trời mọc (hạng 1).
    Mộ ông đặt trong đền thờ Gokoku-ji ở Tokyo..

  6. #26
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Yoshimichi Hasegawa, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1850 mất ngày 27 tháng 1 năm 1924, là nguyên soái của Lục quân Đế quốc Nhật Bản, đồng thời là Tổng đốc Hàn Quốc từ năm 1916- 1919. Ông nhận được huân chương Diều hâu vàng (hạng 1) và Huân chương Hoa cúc.

    Nguyên soái Yoshimichi Hasegawa

    Hasegawa là con trai của một samurai, cha ông có có một kỹ thuật đấu kiếm hàng bậc thầy ở thái ấp Iwakuni tỉnh Chōshū (ngày nay là tỉnh Yamaguchi), Hasegawa tham gia lực lượng vũ trang vùng Chōshū trong chiến tranh Boshin từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1868, lật đổ Mạc phủ Tokugawa
    Năm 1871, Lục quân Đế quốc Nhật Bản thành lập, Hasegawa gia nhập được phong chức Đại úy, sau đó lên chức Thiếu tá. Chỉ huy một trung đoàn tham gia trận nổi dậy Satsuma, đến cứu viện thành Kumamoto ngày 14 tháng 4 năm 1877.
    Năm 1885, đến Pháp với vai trò Tùy viên quân sự, nghiêm cứu chiến lược quân sự, chiến thuật quân sư và tranh thiết bị ở châu Âu. Năm sau, khi ông về Nhật Bản được thăng Thiếu tướng.
    Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất, Hasegawa chỉ huy Lữ đoàn Bộ binh 12, chiến đấu dũng cảm trong trận Bình Nhưỡng vào ngày 15 tháng 9 năm 1894 và tham gia trận Hải Thành từ tháng 12 năm 1894 đến tháng 1 năm 1895. Sau chiến tranh, ông được phong Nam tước, thuộc giai cấp quý tộc Kazoku.
    Chiến tranh Nga-Nhật, Hasegawa chuyển tới Quân đoàn 1 IJA dưới quyền tướng Kuroki Tamemot, chỉ huy Sư đoàn Vệ binh Hoàng gia vào mùa xuân năm 1904, sau đó tham chiến trận sông Áp Lục ngày 10 tháng 4 đến ngày 1 tháng 5 năm 1904. Tháng 6 năm 1904, được thăng chức Đại tướng. Sau chiến tranh, ông được phong lên Tử tước.
    Tháng 9 năm 1904, ông chỉ huy lực lượng chiếm đóng tại Hàn Quốc.
    Năm 1915, Hasegawa được phong hàm danh dự Nguyên soái Lục quân.
    Năm 1916, được phong lên thành Bá tước.
    Tháng 10 năm 1916, ông giữ chức Tổng đốc Triều Tiên.
    Năm 1924, ông mất, một của ông đặt tại nghĩa trang Aoyama ở Tokyo.

  7. #27
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Harukichi Hyakutake, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1888 mất ngày 10 tháng 3 năm 1947, là một Trung tướng trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Đôi khi ông còn được gọi là Haruyoshi Hyakutake hoặc Seikichi Hyakutake.

    Trung tướng Harukichi Hyakutake

    Sự nghiệp.
    Sinh ra ở tỉnh Saga, Hyakutake tốt nghiệp khóa 21 Học viện lục quân đế quốc Nhật Bản vào năm 1909. Tướng Kanji Ishihara và Jo Iimura là bạn học của ông. Ông tốt nghiệp khoác 33 trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội năm 1921, chuyên ngành giải mã, sau khi tốt nghiệp, ông chuyển đến làm việc ở Bộ Tổng Tham mưu Lục quân Đế quốc.
    Từ năm 1925- 1927, chức Trung tá, Hyakutake là một sĩ quan thường trú của Nhật Bản tại Ba Lan. Năm 1928, ông chuyển tới tổng hành dinh của đạo quân Quan Đông ở Trung Quốc. Lên chức Đại tá, công việc của ông là giải mã những bức điện của quân đội vào năm 1932, đến năm 1935, ông trở thành trưởng phòng Tổng Tham mưu. Sau khi chỉ huy Trung đoàn Bộ binh 78 IJA trong một năm, ông chuyển qua làm hiệu trưởng trường Quân sự dự bị Hiroshima vào tháng 4 năm 1936. Tháng 7 năm 1937, ông lên chức Thiếu tướng.
    Tháng 8 năm 1937, ông trở thành hiệu trưởng trường tín hiệu. Tháng 3 năm 1939, ông chỉ huy Lữ đoàn hỗn hợp tác chiến độc lập và lên chức Trung tướng vào tháng 8 cùng năm.
    Từ tháng 2- 1940 đến tháng 4 năm 1941, ông chỉ huy Sư đoàn 20 IJA.

    Chiến tranh Thế giới II
    Trong tháng 5 năm 1942, Hyakutake chỉ huy Quân đoàn 17 IJA, trụ sở đặt ở Rabaul phía Tây Nam Thái Binh Dương, ông nhận lệnh tham gia vào chiến dịch New Guinea, Guadalcanal, và quần đảo Solomon.
    Sau khi Phương diện quân số 8 dưới quyền tướng Hitoshi Imamura rút đi hỗ trợ cho các cánh quân khác, quân của Hyakutake là đơn vị duy nhất ở quần đảo Solomons, chủ yếu ở Bougainville. Ông và quân của mình bị bao vây trên Bougainville khi quân đồng minh thiết lập một vành đai tại Cape Torokina. Hyakutake bị cắt quân tiếp viện, đạn dược và thực phẩm, các cuộc tấn công của ông không thành công, quân đội của ông bị buộc sống trong điều kiện thiếu thốn, trú trong các hang động cho đến hết cuộc chiến.
    Hyakutake bị đột quỵ và suy nhược, cho đến tháng 2 năm 1945, được đại tướng Masatane Kanda giải vây. Không có cách nào đưa ông về Nhật Bản điều trị cho đến khi Nhật Bản đầu hàng.
    Ông mất ngày 10 tháng 3 năm 1947.

  8. #28
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Trung tướng Masatane Kanda sinh ngày 24 tháng 4 năm 1890 mất ngày 15 tháng 1 năm 1983, chức Trung tướng trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản, tham gia chiến tranh thế giới thứ 2.

    Sinh ra ở tỉnh Aichi, Kanda tốt nghiệp khóa 23 Học viện lục quân đế quốc Nhật Bản vào năm 1911, chuyển tới làm ở đạo quân Quan Đông và được chọn quản lý tuyến đường sắt Nam Mãn Châu tại Cáp Nhĩ Tân. Năm 1934, tốt nghiệp khóa 31 trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội. Từ năm 1934- 1936, ông làm tùy viên quân sự cho Thổ Nhĩ Kỳ.
    Khi trở về Nhật Bản, ông là giảng viên trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội trong một năm trước khi chuyển đến làm Trưởng phòng 4, Cục 2 Bộ Tổng Tham mưu Lục quân Đế quốc Nhật Bản, với sự thông thạo lưu loát tiếng Nga ông phụ trách thu thập và phân tích các báo cáo tình báo quân sự từ châu Âu và Bắc Mỹ.
    Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai bắt đầu vào năm 1937, ông được giao chỉ huy Trung đoàn 45 Bộ binh IJA một thời gian ngắn, nhưng nhanh chóng quay trở lại vị trí Trưởng phòng 1 thuộc Tổng Thanh tra đào tạo quân sự.
    Năm 1941, ông thăng chức Thiếu tướng và chỉ huy Sư đoàn 6 IJA, chuyển đến Trung Quốc tham gia đánh trận Trường Sa. Từ năm 1943- 1945, ông chuyển đến giữ quần đảo Solomon. Ông là vị chỉ huy thứ 2 của Quân đoàn 17 IJA, sau tướng Harukichi Hyakutake trong thời kỳ đầu của chiến dịch Bougainville, lúc này ông giữ chức Trung tướng, và khi Hyakutake bị đột quỵ vào năm 1945, ông thay thế chỉ huy Quân đoàn 17 IJA
    Kanda đầu hàng quân Đồng Minh vào ngày 08 tháng 9 năm 1945 tại Bougainville.
    Sau chiến tranh, Kanda đã bị bắt và bị kết án về tội ác chiến tranh, tuyên án phạt 14 năm tù, ông lãnh án phạt năm 1948. Năm 1952, ông được thả ra.
    Năm 1983, ông mất.

  9. #29
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    285
    Masao Nakamura, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1892 mất ngày 25 tháng 12 năm 1939, giữ chức Thiếu tướng trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản, tham gia chiến tranh Trung-Nhật.

    Sinh ra ở tỉnh Ishikawa, Nakamura tốt nghiệp khóa 25 Học viện lục quân đế quốc Nhật Bản năm 1913 và khóa 32 trường Cao đẳng Sĩ quan Quân đội năm 1920. Từ năm 1924- 1927, ông đến Pháp với vai trò tùy viên quân sự, và từ năm 1933- 1934, ông là sĩ quan thường trú tại Italy.
    Từ năm 1936- 1938, Nakamura là tham mưu trưởng Sư đoàn 12 IJA. Năm 1939, ông được thăng chức Thiếu tướng, chỉ huy Lữ đoàn 21 Bộ binh IJA thuộc Sư đoàn 5 IJA, tham gia trận Nam Quảng Tây năm 1939. Trong trận đánh, lữ đoàn của ông bị phục kích và ông bị giết tại trận chiến đèo Côn Lôn. Ông được truy thăng Trung tướng.

  10. #30
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    Sumiyoshi Tadashi sinh ngày 10 tháng 2 năm 1893 mất ngày 24 tháng 3 năm 1976, là một vị tướng trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản, tham gia chiến dịch Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ 2.

    Sumiyoshi sinh ra ở tỉnh Hiroshima. Ông tốt nghiệp khóa 26 Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1914, chuyên ngành pháo binh. Năm 1923, ông tốt nghiệp khóa 35 Cao đẳng Sĩ quan Quân đội.
    Sau khi làm việc ở một số bộ phận như Bộ Tổng Tham mưu Lục quân Đế quốc Nhật Bản, trường pháo binh và Tổng Thanh tra đào tạo quân sự, Sumiyoshi được bổ nhiệm làm tham mưu trưởng Sư đoàn 3 IJA. Chỉ huy các lực lượng pháo binh dã chiến đóng tại biên giới, ông tham gia vào chiến tranh Trung-Nhật lần thứ 2 với đạo quân Quan Đông. Tháng 3 năm 1941, ông thăng chức thiếu tướng.
    Chiến sự Thái Bình Dương bắt đầu, Sumiyoshi chỉ huy đơn Quân đoàn 17 Pháo binh hạng nặng cùng với 2 trung đoàn bộ binh, hỗ trợ cho quân Nhật trong chiến dịch quan trọng Guadalcanal trên quần đảo Solomon. Còn sống sót sau khi quân Nhật bị đánh bại trên đảo Guadalcanal, Sumiyoshi nhận lệnh chỉ huy các đơn vị pháo binh của Đông Bộ quân, đặt trụ sở tại Tokyo vào tháng 9 năm 1944.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •