Trang 6 của 6 Đầu tiênĐầu tiên ... 456
Kết quả 51 đến 56 của 56
  1. #51
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Bá tước Arisaka Nariakira (有坂 成章, sinh ngày 5 tháng 4 năm 1852 mất ngày 12 tháng 1 năm 1915) là trung tướng trong quân đội Đế quốc Nhật Bản và là người phát minh ra súng trường Arisaka. Được xem là một trong những nhà thiết kế vũ khí hàng đầu trong lịch sử Nhật Bản, cùng với trung tướng Nambu Kijiro.
    Arisaka Nariakira
    Arisaka được sinh ra ở Iwakuni, tỉnh Suo (hiện nay là một phần của tỉnh Yamaguchi) là con trai một samurai của phiên Choshu. Năm 11 tuổi, ông được cho làm con nuôi thợ thủ công Arisaka Nagayoshi, từ đây ông mang họ Arisaka.

    Sau khi Minh Trị Duy Tân, ông gia nhập quân đội Đế quốc Nhật Bản còn non trẻ. Năm 1891, ông được tướng Murata Tsuneyoshi chú ý (nhà thiết kế súng trường Murata, súng trường tiêu chuẩn của quân đội Nhật Bản), được bổ nhiệm vào làm việc trong kho vũ khí Tokyo.


    Sơn pháo Type 31 75 mm
    Năm 1897, Arisaka hoàn thành thiết kế súng trường Type 30, một sự cải tiến trên súng trường Murata, được quân đội Nhật Bản sử dụng như là vũ khí tiêu chuẩn trong giai đoạn nổi loạn Boxer. Năm 1898, ông hoàn thành bảng thiết kế khẩu Sơn pháo Type 31 75 mm, và tên của ông trở nên nổi tiến trong thế giới pháo binh cũng như các vũ khí nhỏ. Tuy nhiên, 2 mẫu thiết kế trước đó không được quân đội đón nhận. Súng trường Type 30 được coi là độ sát thương thấp và không gây chết. Sơn pháo Type 31 75 mm độ chính xác kém.


    Súng trướng Arisaka Type 30
    Năm 1903, Arisaka được bổ nhiệm làm người đứng đầu cục kỹ thuật quân đội, ông giám sát một ủy ban chịu trách nhiệm cải thiện các mẫu vũ khí cũ, bao gồm súng trường Type 30. Trưởng nhóm dự án thiết kế là thiếu tá Nambu Kijiro, người sau này cũng đạt được danh tiếng là một nhà thiết kế vũ khí với mẫu riêng của mình. Kết quả dự án này là súng trường Type 38 nổi tiếng, hay còn gọi là "súng trường Arisaka", được sản xuất hàng loạt cho bộ binh trước chiến tranh Nga-Nhật 1904-1905. Độ chắc chắn của súng trường Type 38 được quân đội nhiệt liệt hưởng ứng, mặc dù kích thước của khẩu súng không được giải quyết nhiều lắm. Súng trường Type 38 và các phiên bản nâng cấp khác nhau, tiếp tục được giới quân đội sử dụng đến khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2.


    Súng trướng Arisaka Type 38
    Trong suốt cuộc chiến tranh Nga-Nhật, Arisaka tiếp tục làm việc để cải tiến và tung các mẫu biến thể súng trường của mình, và theo yêu càu 6 của Tổng Tham mưu trưởng Yamagata Aritomo, cũng cũng nghiên cứu thiết kế các loại vũ khí sức công phá lớn. Năm 1906, ông được trao Huân chương Cánh diều vàng (hạng 2) và thăng lên trung tướng. Năm 1907, ông được năng lên hàng ngũ quý tộc Kazoku khi ông được phong tước Bá tước (Danshaku). Năm 1910, ông được tăng Huân chương Kho báu Thần thánh (hạng 1)

    Arisaka qua đời vào năm 1915, mộ ông đặt tại nghĩa trang Yanaka ở Tokyo.

  2. #52
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    6
    Bá tước Nara Takeji (奈良 武次, sinh ngày 28 tháng 4 năm 1868 mất ngày 21 tháng 12 năm 1962) là đại tướng Quân đội Đế quốc Nhật Bản.

    Nara Takeji
    Nara sinh ra trong một gia đình nông dân, thuộc một phần của thành phố Kanuma, tỉnh Tochigi. Khi còn là thanh niên ông theo học tại các trường quân sự dự bị và tốt nghiệp khóa 11 trường sĩ quan lục quân Đế quốc Nhật Bản vào năm 1889, với hàm thiếu úy pháo binh. Năm 1893, ông tham dự trường sĩ quan pháo binh và tham gia cuộc chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất từ năm 1894 đến năm 1985

    Sau khi kết thúc chiến tranh, ông quay về theo học trường Đại học sĩ quan Lục quân và tốt nghiệp khóa 13 trong tháng 12 năm 1899. Sau đó ông làm việc tại Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Đế quốc Nhật Bản, và được gửi sang Đức với vai trò tùy viên quân sự.

    Trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật, Nara chỉ huy lữ đoàn pháo binh hạng nặng độc lập, biên chế tập đoàn quân 3 Đế quốc Nhật Bản bao vây cảng Lữ Thuận. Sau chiến tranh, ông quay trở lại Đức, ông được Thứ trưởng Bộ chiến tranh phong chức thiếu tướng vào năm 1914, ông làm việc ở Tập đoàn quân Đồn trú Trung Quốc (Đế quốc Nhật Bản)
    và sau đó là tham mưu trưởng các đơn vị Đế quốc Nhật Bản tại Thanh Đảo,

    Nara thăng hàm trung tướng vào năm 1918, đại diện đoàn đại biểu Nhật Bản tham gia Hội nghị Hiệp ước hòa bình Versailles. Ông cũng là chủ tịch ủy ban điều tra sự cố Nikolayevsk.

    Nara sau đó làm chánh phụ tá cho thái tử Hirohito và sau đó là chánh phụ tá hoàng đế Nhật Bản sau khi thái tử Hirohito đăng quang, cho đến năm 1933. Theo yêu cầu của đại tướng Yamagata Aritomo, Nara giám sát việc giáo dục hoàng tử trong các vấn đề quân sự thông qua giảng dạy lý thuyết và kinh nghiệm hoạt động. Dưới sự hướng dẫn của ông, hoàng đế Hirohito luyện thuật cưỡi ngựa và thực hành bắn đạn thật, thậm chí còn xây dựng trường bắn trong cung điện Akasaka.

    Năm 1921, ông tháp tùng cùng đi trong chuyến đi thăm chính thứ châu Âu của hoàng đế Hirohito.

    Năm 1924, ông được phong hàm đại tướng và trở thành một thành viên của Hội đồng Cơ mật. Năm 1933, ông được phong tước Bá tước (Danshaku) trong hệ thống quý tộc Kazoku, không lâu sau đó ông nghĩ hưu từ bỏ binh nghiệp.

    Trong giai đoạn sau chiến tranh, ông là chủ tịch Dai Nippon Butoku Kai. Ông mất vào năm 1962 và cuốn nhật ký của ông, khi ông còn làm phụ tá cho hoàng đế Hirohito, làm sáng tỏ thêm tư tưởng và vai trò của hoàng đế trong thế chiến thứ hai.

  3. #53
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Tử tước Machijiri Kazumoto (町尻 量基, sinh ngày 30 tháng 3 năm 1889 mất ngày 10 tháng 12 năm 1950) là trung tướng quân đội Đế quốc Nhật Bản.

    Machijiri Kazumoto
    Machijiri là con trai thứ 4 của kuge Mibu Motonaka (1835-1906) là một gia đình quý tộc thẩm phán cổ xưa ở Kyoto. Ông được gia nhập vào hàng ngũ quý tộc kazoku bởi cha nuôi tử tước Machijiri Kazuhiro và kế thừa danh hiệu shishaku. Vợ ông là con gái cả của Hoàng tử Kaya Kuninori, Yukiko.

    Machijiri tốt nghiệp khóa 21 trường sĩ quan lục quân Đế quốc Nhật Bản vào năm 1909, bạn học cùng khóa với ông có Kanji Ishihara, Jo Iimura và Harukichi Hyakutake. Sau đó ông tốt nghiệp khóa 29 trường đại học sĩ quan lục quân Đế quốc Nhật Bản vào năm 1917. Từ năm 1919 đến năm 1921, ông là tùy viên quân sự ở Pháp, tham gia trong 3 tháng đàm phán về Hiệp ước Hòa bình Versailles, và vẫn là sĩ quan thường trú tại Paris từ năm 1921 đến năm 1923 và một lần nữa từ năm 1925 đến năm 1926.

    Từ năm 1930 đến năm 1935, Machijiri là tùy tùng của hoàng đế Nhật Bản. Từ năm 1935 đến năm 196, ông chỉ huy trung đoàn pháo binh thuộc lực lượng cận vệ Hoàng gia và là trưởng phòng văn hóa quân đội thuộc cục quân sự thuộc Bộ Chiến tranh từ năm 1936 đến năm 1938

    Vào lúc mở màn cuộc chiến tranh Trung-Nhật, một lần nữa Machijiri được bổ nhiệm làm tùy tùng cho hoàng đến Hirohito vào năm 1937, nhưng đã sớm được chuyển đến giữ chức phó tham mưu trưởng Phương diện quân Bắc Trung Quốc. Cùng năm ông trở lại Nhật Bản làm việc ở Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Đế quốc Nhật Bản, nhưng từ năm 1939 đến năm 1941, ông được lệnh chỉ huy sư đoàn bộ binh 6 Đế quốc Nhật Bản.

    Từ năm 1941 đến năm 1942, ông là tổng thanh tra phòng chiến tranh hóa học. Từ năm 194, Machijiri cử làm tư lệnh tập đoàn quân Đồn trú Đông Dương. Được triệu về Nhật Bản vào năm 1944, ông nghĩ hưu vào năm 1945 và sống sót sau chiến tranh.

  4. #54
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Tử tước Ando Teibi (安東貞美, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1853 mất ngày 29 tháng 8 năm 1932) là đại tướng quân đội Đế quốc Nhật Bản và là toàn quyền Đài Loan thứ 6.

    Ando Teibi
    Ando gốc là người ở thành phố Iida thuộc tỉnh Shinano (ngày nay là tỉnh Nagano). Ông được sinh ra trong một gia đình samurai, cha ông là người làm việc ở phin Matsumoto.

    Ando vào học tại Osaka Rikugunhei Gakko (tiền thân trường sĩ quan lục quân Đế quốc Nhật Bản) vào năm 1871 và được phong trung úy bộ binh. Ông đã tham gia với các lực lượng ủng hộ hoàng gia trong cuộc nổi loan Satsuma, sau đó ông được thăng cấp đại úy. Sau khi vào học và tốt nghiệp trường đại học sĩ quan Lục quân Đế quốc Nhật Bản, ông được phong cấp thiếu tá và làm việc ở sư đoàn bộ binh 2 Đế quốc Nhật Bản.

    Ando thăng tiến nhanh chóng và giữ chức hiệu trưởng cả 2 trường sĩ quan Lục quân Đế quốc Nhật Bản và trường đại học sĩ quan Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Ông được thăng hàm đại tướng khi sư đoàn bộ binh 2 Đế quốc Nhật Bản được chuyển đến Đài Loan vào tháng 10 năm 1899.

    Sau đó ông tham gia chiến tranh Nga-Nhật, nơi ông chỉ huy sư đoàn bộ binh 10 từ ngày 15 tháng 1 năm 1905 và đã có những quyết định quan trọng trong trận Phụng Thiên

    Ngày 12 tháng 9 năm 1908, Ando được nâng lên hàng danshaku (tử tước) trong hệ thống quí tộc kazoku. Năm 1911, ông chuyển tới giữ chức tư lệnh sư đoàn bộ binh 12 Đế quốc Nhật Bản và vào năm 1913, trở thành tư lệnh tập đoàn quân Triều Tiên (Đế quốc Nhật Bản).

    Ngày 30 Tháng 4 năm 1915, ông thay thế Sakuma Samata là toàn quyền Tổng Đài Loan, và giữ vị trí đó đến tháng 6 năm 1918. Sự kiện Tapani, một cuộc nổi dậy quy mô lớn chống lại sự cai trị của Nhật Bản, xảy ra trong nhiệm kỳ của ông. Sự việc cũng bắt đầu từ sự phát triển việc khai thác rừng ở Đài Loan trên núi Thái Bình và Pa-hsien, và xây dựng tuyến đường sắt Nghi Lan và Bình Đông.

    Ando được trao tặng huân chương Mặt trời mọc (hạng nhất với hoa Paulownia, dải huy chương cao quý) sau khi ông qua đời.

  5. #55
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    7
    Tử tước Takashima Tomonosuke (高島 鞆之助, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1844 mất ngày 11 tháng 1 năm 1916) là trung tướng trong Quân đội Đế quốc Nhật Bản.

    Takashima Tomonosuke
    Ông sinh ra trong một gia đình samurai thuộc han Satsuma (ngày nay là tỉnh Kagoshima), và từng là nghiêm cứu sinh trường Han Zōshikan. Ông đã tham gia trong chiến tranh Boshin để lật đổ Mạc phủ Tokugawa. Năm 1874, ông gia nhập vào lực lượng Lục quân Đế quốc Nhật Bản còn non trẻ. Ông từng giữ chức Phó trưởng phòng 1 Bộ chiến tranh và là hiệu trưởng trường Kyododan (Trường hạ sĩ quan).

    Trong cuộc nổi dậy Satsuma, ông đã chiến đấu chống lại các đồng đội cũ ở Satsuma, và chỉ huy Lữ đoàn Bộ binh Độc lập 1 IJA. Năm 1883, ông được thăng cấp trung tướng.

    Trong năm 1884, Takashima được phong danh hiệu tử tước (Shishaku) trong hệ thống quý tộc Kazoku. Năm 1887, được trao tặng Huân chương Mặt trời mọc hạng nhất.

    Trong năm 1888, Takashima giữ chức tư lệnh Sư đoàn Bộ binh 4 IJA. Trong năm 1891, ông trở thành Bộ trưởng Bộ Chiến tranh trong nội các đầu tiên của Thủ tướng Chính phủ Matsukata Masayoshi.

    Trong năm 1892, Takashima được bổ nhiệm vào Hội đồng Cơ mật. Năm 1895, ông trở thành Phó Toàn quyền Đài Loan. Ông một lần nữa giữ chức Bộ trưởng Bộ chiến tranh giai đoạn Thủ tướng Ito Hirobumi. Từ năm 1896 đến năm 1898, ông là thành viên nội các lần 2 của Thủ tướng Chính phủ Matsukata Masayoshi, và được bổ nhiệm một lần nữa vào Hội đồng Cơ mật từ năm 1899 đến khi ông qua đời vào năm 1916.

  6. #56
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    6
    Takaji Wachi (和知 鷹二, sinh ngày 1 tháng 2 năm 1893 mất ngày 30 tháng 10 năm 1978) là trung tướng của Quân đội Đế quốc Nhật Bản.

    Takaji Wachi
    Wachi sinh ra ở Hiroshima và tốt nghiệp khóa 21 của Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản vào năm 1914 , và khóa 34 của Đại học Sĩ quan Lục quân Đế quốc Nhật Bản năm 1922. Ông chuyên viên nghiên cứu Trung Quốc và thông thạo ngôn ngữ Trung Quốc. Từ năm 1925 đến năm 1927, Wachi được bổ nhiệm làm tùy viên quân sự ở miền nam Trung Quốc.

    Từ năm 1928 đến năm 1929, ông là sĩ quan thường trú tại Tế Nam; từ năm 1931 đến năm 1932, là một sĩ quan tham mưu cho Đạo quân Quan Đông; từ năm 1932 đến năm 1934, là một sĩ quan thường trú tại Quảng Châu và từ năm 1935 đến năm 1936, ông đứng đầu cơ quan đặc biệt Thái Nguyên. Wachi khuyến khích các lãnh chúa ở miền nam Trung Quốc, đặc biệt là tỉnh Quảng Tây; chống lại chính quyền Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch có trụ sở tại Nam Kinh. Mục tiêu chính của ông là Li Tsung Jen và Pai Chung Hsi, những nỗ lực của ông để tạo ra một nhà nước thân Đế quốc Nhật Bản ở miền nam Trung Quốc đã không thành công.

    Năm 1937, ông được thăng đại tá, và đã chuyển tới nhập biên chế Đạo quân Quan Đông trong trận Thượng Hải. Một số sử gia cho rằng ông là chủ mưu chính trong Sự kiện Lư Câu Kiều diễn ra ngày 1 tháng 7 năm 1937. Ông vẫn ở Trung Quốc khi chiến tranh Trung-Nhật bùng nổ vào năm 1937, ông là thành viên của Tập đoàn quân Đồn trú Trung Quốc của Nhật Bản. Wachi tham gia vào những nỗ lực đàm phán với Trung Quốc để chấm dứt chiến tranh và cố gắng tiếp xúc với Tham mưu trưởng Quân đội Quốc Dân Đảng He Ying Qin, thông qua một thương nhân Trung Quốc vào năm 1938, nhưng những nỗ lực này đã thất bại.

    Năm 1938, Wachi được chuyển tới Đài Loan và sau đó trở về Nhật Bản, vào làm việc tại Bộ Tổng Tham mưu Đế quốc Nhật Bản từ năm 1938 đến năm 1939. Từ năm 1939 đến năm 1940, ông trở lại Trung Quốc và làm nhân viên tham mưu cho Đạo quân Viễn chinh Trung tâm Trung Quốc. Năm 1940, được thăng thiếu tướng và vào năm 1941, ông trở về Đài Loan làm tham mưu trưởng của Tập đoàn quân Đài Loan của Đế quốc Nhật Bản, đồng thời kiêm luôn trưởng Bộ phận nghiên cứu, được giao nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chiến tranh ở Đông Nam Á.

    Vào tháng Hai năm 1942, Wachi được chuyển tới để trở thành Tham mưu trưởng của Tập đoàn quân 14 ở Philippines, tham gia những đợt tấn công cuối cùng trên đảo pháo đài Corregidor của Mỹ. Vào năm 1943, ông được thăng trung tướng. Vào tháng Ba năm 1944, ông trở thành Tham mưu trưởng Đạo quân Viễn chinh Phương Nam, và sau đó tham mưu trưởng của Tập đoàn quân 35 chiến đấu trên Leyte đến tháng Mười Một.

    Vào năm 1945, Wachi được lệnh quay trở lại Nhật Bản sau khi để mất Philippines vào tay các lực lượng Đồng Minh, và được giao nhiệm vụ chỉ huy Kempeitai ở Hiroshima - một sự cách chức đáng kể. Trong năm 1945, ông nghỉ hưu từ bỏ nghĩa vụ và không hoạt động quân sự.

    Sau khi Nhật Bản đầu hàng , Wachi được bị bắt giữ bởi chính quyền chiếm đóng của Mỹ và bị buộc tội tội ác chiến tranh, vì những liên quan đến các hành động của nhân viên quân sự Đế quốc Nhật Bản tại Philippines. Ông đã bị kết án bởi một tòa án quân sự ở Yokohama và bị kết án sáu năm lao động khổ sai ở tại nhà tù Sugamo. Năm 1950, ông được trả tự do.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •