Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    5

    Kiếm khách Phù Tang

    Một: Miyamoto Musashi

    Như Thị Duyên dịch, biên soạn từ Wikipedia Japan và nhiều nguồn khác

    Miyamoto Musashi (宮本 武蔵, đọc Hán Việt: Cung Bản Võ Tàng) là một kiếm hào Nhật Bản sống vào đầu thời đại Edo. Ông sinh vào năm Tenshō thứ 12 và mất vào ngày 19 tháng 5 năm Shōhō thứ 2 (tức ngày 13 tháng 6 năm 1545). Ngoài việc được đánh giá là một trong những kiếm khách vĩ đại nhất trong lịch sử Nhật Bản, Musashi còn là một họa sĩ tài hoa, một nhà điêu khắc tầm cỡ và là một nhà tư tưởng lớn được hậu thế biết đến muộn màng [1]. Miyamoto Musashi để lại nhiều tác phẩm về tư tưởng, kiếm thuật và nghệ thuật được các nhà nghiên cứu hậu thế đánh giá rất cao.


    Chân dung tự họa của Musashi

    Khái yếu

    Miyamoto Musashi được biết đến nhiều trong vai trò khai tổ của phái sử dụng song kiếm (Nitō-ryū, Hán Việt: Nhị Đao lưu), phái này có tên là Niten Ichiryū (Hán Việt: Nhị Thiên Nhất lưu). Musashi còn nổi tiếng là một họa sĩ tranh thuỷ mặc, một nghệ thuật gia tài ba.

    Họ của ông là Miyamoto (宮本, Hán Việt: Cung Bản) hoặc Shimen (新免, Hán Việt: Tân Miễn) thuộc dòng họ Fujiwara, tên húy là Harunobu (玄信, Hán Việt: Tín Huyễn). Tên thời thơ ấu của ông là Bennosuke (nhiều cách viết: 辨助 , 弁助, 弁之助), hiệu là Niten (Hán Việt: Nhị Thiên), Niten Dōraku (Hán Việt: Nhị Thiên Đạo Lạc). Trong cuốn Gorin no sho do ông soạn lúc cuối đời, Musashi xưng tên mình là Shinmen Musashinokami Fujiwara Harunobu (新免武蔵守 藤原玄信). Trong thư gửi cho vị Daimyō đầu thời Edo là Arima Naozumi, ông xưng tên là Miyamoto Musashi Harunobu, còn trong thư gửi cho Nagaoka Sadonokami, người ta còn thấy Musashi xưng hiệu là Niten. Trên bia mộ ở thành phố Kumamoto thấy có đề “Shinmen Musashi Koji” (新免武蔵居士, cư sĩ Shinmen Musashi), trên văn bia Kokura do dưỡng tử của ông là Iori dựng 9 năm sau khi ông mất thì có đề là “Banshū Akamatsu Matsuryū Shinmen Musashi Harunobu Niten Koji” (播州赤松末流新免武蔵玄信二天居士, cư sĩ Shinmen Musashi Harunobu Niten thuộc dòng họ Akamatsu xứ Harima, tức Banshū) [2]. Vào năm 1761, 71 năm sau khi ông mất, trong cuốn “Honchō Bugei Shōden” (tập sách ghi chép chuyện võ nghệ xứ Phù Tang), người ta thấy Musashi còn được đề cập đến với cái tên Masana (政名). Sách này được dẫn dụng nhiều nên cái tên Masana thường thấy xuất hiện trong các loại tiểu thuyết, sách giới thiệu khi đề cập đến Musashi. Tuy nhiên tên này không hề thấy trong bất cứ tư liệu nào của họ Miyamoto ở Kokura và các môn đệ của phái kiếm Niten Ichi-ryū. Ngược lại cũng có ý kiến phủ nhận cái tên Masana bởi vì nó thường xuất hiện trong các loại sách về Musashi không mang tính thực sử.

    Miyamoto Musashi nổi danh là kiếm sĩ bất bại trong hơn sáu mươi trận đấu suốt đời mình. Các trận đấu với phái kiếm Yoshioka-ryū và trận đấu với Sasaki Kojirō trên đảo Ganryū được xem là “kinh điển” trong cuộc đời Musashi và đã trở thành đề tài triệt để cho các loại tiểu thuyết, phim ảnh, truyện tranh và trò chơi điện tử trong văn hóa đại chúng. Cuốn Gorin no sho (Ngũ Luân thư) do ông viết vào lúc cuối đời được đánh giá cao trong thời hiện đại. Nó được xem như một cuốn sách triết học về nhân sinh, một cuốn sách chỉ dẫn về thành công trong kinh doanh, thể thao mặc dù chỉ viết về kiếm thuật. Không chỉ riêng trong phạm vi nước Nhật, cuốn sách còn được dịch ra nhiều thứ tiếng và gây được tầm ảnh hưởng lớn trên Thế giới. Ông còn nổi tiếng trong vai trò họa sĩ tranh thủy mặc, nghệ nhân tạc tượng, yên ngựa và mộc kiếm. Các tác phẩm của ông để lại như bức tranh chim cốc (Uzu), tranh chim bách thanh hót trên cành khô (Koboku Meigekizu), tranh bồ câu trên cành mơ (Kōbai Hatozu), chân dung Đạt Ma chính diện (Shōmen Darumazu), Đạt Ma vượt sông trên nhành lau (Royō Darumazu), tranh ngựa hoang (Nomazu),…được chính phủ Nhật chỉ định là tài sản văn hóa trọng yếu và vẫn được lưu giữ đến ngày nay.


    Chim bách thanh trên cành khô


    Đạt Ma vượt sông


    Musashi và hậu thế sáng tác

    Tuy không có tầm ảnh hưởng quan trọng trong dòng chảy của lịch sử nhưng Miyamoto Musashi là một nhân vật kiệt xuất về mọi mặt, trở thành đề tài bất tận cho biết bao sáng tác của người đương thời và hậu thế. Vì là hậu thế sáng tác nên một phần lớn thông tin về Musashi bị sai lệch nhiều trong các tác phẩm này. Có nhiều tác phẩm tuy không mang giá trị lịch sử nhưng lại được quần chúng ái mộ đến độ thông tin trong tác phẩm được số đông tin rằng đó là sự thật. Điển hình cho những tác phẩm này là tập trường biên tiểu thuyết mang tên ông của văn hào Yoshikawa Eiji. Trong tác phẩm, Musashi lúc còn niên thiếu mang họ Shinmen, tên là Takezō và được miêu tả là một nhân vật ngỗ nghịch, bị dân làng căm ghét. Sau được thầy tu Takuan giáo huấn mà cảm ngộ, từ đó lấy tên làng Miyamoto làm họ, đổi tên Takezō thành ra Musashi và quyết tâm làm lại cuộc đời, trau dồi kiếm pháp để lập công danh với đời. “Takezō” và “Musashi” là hai cách đọc khác nhau của cùng hai chữ Hán: 武蔵(Võ Tàng) thể hiện ý đồ chơi chữ của tác giả Yoshikawa Eiji. Tuy nhiên tác phẩm này được đông đảo đại chúng biết đến và đã để lại dấu ấn quá đậm trong lòng người đọc nên rất nhiều sách giới thiệu, chú giải hiện nay đều cho rằng tên thời thiếu niên của Musashi là Takezō.

    Trong tác phẩm này, tác giả Yoshikawa còn cho xuất hiện một số nhân vật phụ xoay quanh cuộc đời Musashi như Otsū, Matahachi… và họ đã trở nên quá nổi tiếng, thành ra tuy không tồn tại thực nhưng sự tồn tại của họ lại được rất nhiều người tin tưởng. Như đã thuật bên trên, cái tên Miyamoto Musashi Masana còn xuất hiện nhiều trong các tác phẩm không mang tính thực sử. Một trong những tác phẩm loại này là Kōdan Miyamoto Musashi của diễn giả Itō Ryōchō.

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Cuộc đời


    Năm sinh

    Trong cuốn Ngũ Luân thư, ở phần mở đầu, Musashi viết rằng mình đã 60 tuổi. Tức là đến thời điểm năm Kan’ei thứ 20 (1643) ông được 60 tuổi, từ đó có thể suy ngược ra năm sinh là năm Tenshō thứ 12 (1584). [3]

    Nơi sinh


    Trong tác phẩm cuối đời, Ngũ Luân thư, Musashi cũng viết rõ là mình sinh quán ở xứ Harima (Banshū, ngày nay thuộc tỉnh Hyōgo) nhưng trong cuốn địa chí “Tōsakushi” (Đông Tác chí) vào cuối thời Edo có đề ra một thuyết khác là Musashi xuất thân từ làng Miyamoto thuộc xứ Mimasaka (ngày nay thuộc tỉnh Okayama). Cuốn địa chí này làm chỗ dựa cho các thuyết cho rằng Musashi sinh quán xứ Mimasaka, trong đó có bộ tiểu thuyết nổi tiếng của Yoshikawa Eiji thuật trên. Dựa vào bộ tiểu thuyết này mà ngày nay, thành phố Mimasaka và tỉnh Okayama đều tích cực khai thác du lịch, tự quảng bá là địa phương sản sinh ra kiếm thánh Miyamoto Musashi.


    Các thuyết khác nhau về năm sinh và nơi sinh

    Theo phả hệ của họ Miyamoto ở Kokura được thu thập vào cuối thời Edo (do con cháu của Miyamoto Iori, con nuôi của Musashi viết lại) và cuốn “Miyamoto Uji Seitōki” (ghi chép chính thống về họ Miyamoto) thì Musashi ra đời vào năm Tenshō thứ 10 (1582), tức năm Nhâm ngọ và sống đến năm Shōhō thứ 2. Vì vậy có thuyết chủ trương cho rằng Musashi sinh năm Tenshō thứ 2 chứ không phải thứ 4.

    Sau khi Musashi mất được 9 năm thì dưỡng tử của ông là Iori cho dựng văn bia “cư sĩ Shinmen Musashi Harunobu Nite” (văn bia Kokura) vào năm Jōō thứ 3 (1654) nhằm tán dương công đức của dưỡng phụ. Trên văn bia có ghi rằng cha của Musashi là một võ sĩ họ Shinmen tên Muni. Vì vậy nên có nhiều ý kiến đồng nhất Shinmen Muni với Miyamoto Muninosuke Fujiwara Isshin, một cao nhân phái kiếm Tōri-ryū đương thời.Năm Jōō thứ 2 (1653), Iori cúng dường cho đền thờ Tomari bảng ghi chép năm khởi công và các sự kiện khi xây dựng đền. Bảng này được đóng trên cây xà chính của mái đền và có đoạn ghi rằng ở xứ Mimasaka có người tên Shinmen Muni nhận con nuôi là Musashi Harunobu vào những năm Tenshō. Theo ghi chép này thì Shinmen Muni qua đời tại thành Akizuki nhưng thực tế là nhân vật Shinmen Muni vẫn sống sau thời Tenshō.

    Các ghi chép về Musashi do dưỡng tử Iori để lại đều được những người biết về Musashi đương thời ghi chép lại nên các tài liệu này thường được sử dụng nhiều. Nhưng người ta không tìm thấy nguồn gốc sử liệu của các ghi chép này nên cũng có ý kiến cho rằng liệu Iori đã hiểu về Musashi đến đâu và khi so sánh với các sử liệu tin cậy khác cũng có điểm ngộ nhận rõ rệt. Vì vậy cũng có một phần đông ý kiến cho rằng tư liệu do Iori để lại chỉ mang tính tuyên truyền, quảng bá cho Musashi mà thôi.

    Trong gia phả của họ Miyamoto ở Kokura tập hợp được vào cuối thời Edo cũng có ghi chép rằng Musashi có người cha nuôi là Muni, bản thân Musashi là thứ nam của Tahara Iesada, tổ phụ của Iori. Nhưng trong văn bia Kokura và bảng ghi chép cúng dường cho đền Tomari thì khi viết về bản thân, Iori không hề đả động tới quan hệ máu mủ này. Năm 1762, đại phu Hirano Yōsai có biên soạn cuốn địa chí “Harima Kagami” (tấm gương xứ Harima) gồm nhiều ghi chép về địa danh, phong tục tập quán, chùa chiền miếu mạo, nhân vật trong xứ Harima. Các ghi chép về Musashi trong cuốn địa chí này cũng không hề nhắc tới việc Musashi xuất thân từ họ Tahara.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •