AMEN là tên cuốn sách mới xuất bản cách đây vài tháng, viết bởi Nữ Tu Công Giáo Jesme Raphael. Năm ngoái Sơ Jesme Raphael đã rũ bỏ áo tu bước ra khỏi dòng nữ tu Công giáo Carmel ở Kerala, một tiểu bang ở Tây Nam Ấn Độ có nhiều tín đồ Công giáo nhất, sau 30 năm sống trong dòng tu này, với 26 năm là nữ tu (sister = sơ). AMEN là cuốn Hồi Ký của Jesme Raphael kể lại chi tiết những chuyện động trời khủng khiếp trong dòng nữ tu này như: sự hiếp đáp khủng bố của các sơ bề trên, sự cưỡng bách tình dục của các linh mục đối với các nữ tu, tình trạng đồng giống luyến ái giữa các nữ tu v…v… [Amen: An Autobiography of a Nun, cataloging lurid details of bullying, sexual abuse and homosexuality in the oldest Catholic women’s order...] Amen có nhiều nghĩa (1), nghĩa thường dùng trong Ki Tô Giáo là “So be it” để kết thúc những màn cầu nguyện. Theo nghĩa này, tôi dịch thoát là “Là Như Thế Đó” (TCN)
Trước khi đi vào chi tiết những tệ nạn trên ở trong một số dòng nữ tu của Công giáo, chứ không chỉ ở Kerala, tôi cảm thấy cần phải nhắc để các độc giả nhớ rằng: theo giáo lý của Công giáo dạy các tín đồ ngu ngơ của họ thì: Giáo hoàng chính là đại diện của Chúa trên trần (Vicar of Christ), các linh mục đều là các “Chúa thứ hai” (Alter Christus), các nữ tu (sơ) đều là hôn thê của Chúa (bride of Christ). Còn các tín đồ, thường gọi là con chiên, thì khỏi cần phải nói vì ai cũng biết đó chỉ là một bày đàn ngu ngơ hoàn toàn tuân phục các bề trên, nhắm mắt theo sự chăn dắt của những người chăn chiên (shepherds). Và chính vì ngu ngơ nên mới có thể tin vào những điều bịp bợm lừa dối để tạo nên quyền lực cho giáo hội. Hơn nữa, hiển nhiên là từ giáo hoàng xuống tới các con chiên, ai cũng phải qua cầu “bí tích rửa tội”, do đó trong người đã tràn đầy con Ma Thánh (Holy Ghost) mà người Công giáo Việt Nam thường gọi là Chúa Thánh Thần trong thuyết điên rồ toán học [mathematical insanity] “Ba Ngôi Thiên Chúa”, hay Thánh Linh. Con Ma Thánh này, một sản phẩm tưởng tượng phi vật chất, có nhiệm vụ hướng dẫn tâm linh tín đồ để tin Chúa, về với Chúa và làm những việc làm đẹp lòng Chúa.

Thật vậy, sách Giáo Lý Công Giáo của Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên viết, trang 153:

"Khi chịu phép rửa tội rồi, ta được Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần tới ngự trong tâm hồn. Người giáo hữu trở nên đền thờ Chúa ngự."

Nhớ kỹ những điều này thì chúng ta sẽ thấy, qua bài viết này, thực chất những giáo lý của Giáo hội Công giáo dạy tín đồ của họ là như thế nào, và các bậc chăn chiên đã làm những gì để đẹp lòng Chúa.

Đối với nhiều độc giả, tác phẩm AMEN của sơ Jesme Raphael có lẽ là chuyện rất lạ nói về các nữ tu Công giáo mà chúng ta thường nghe người Công giáo Việt Nam ca tụng là “hiền”, “hiền như ma sơ”, nhưng đối với tôi thì chẳng lạ chút nào. Vì tôi đã đọc cuốn “Những phanh phui khủng khiếp của Maria Monk; Những Chuyện Kín Che Dấu Trong Nữ Tu Viện” (The Awful Disclosures of Maria Monk; The Hidden Secrets of Convent Life, Senate, Random House UK Ltd., 1997), kể lại những chuyện khủng khiếp trong một nữ tu viện ở Montreal, Canada, tu viện Hotel Dieu Nunnery, trong đó nữ tu Maria Monk đã khám phá ra một thế giới ác mộng của những sự đồi bại tình dục.. Không có gì quá độ, không có gì bạo tàn mà các sơ bề trên hay các linh mục ở gần đó không làm .. Những Linh mục ác ôn coi các nữ tu không phải là các chị em tâm linh mà là những “gái bao” của riêng mình [Within the Nunnery walls Maria Monk discovered a nightmare world of sexual corruption…No excess, no brutality went unpractised. The evil priests regarded the nuns not as their spiritual sisters but as their personal concubines].

Cuốn “The Awful Disclosures” của Maria Monk, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1836, đã gây nên một làn sóng công phẫn về những chuyện động trời trong nữ tu viện Công giáo Hotel Dieu, thí dụ như: Các linh mục ở gần đó có lối riêng và kín đáo để vào tu viện bất cứ lúc nào và tự do làm tình với các nữ tu. Những đứa bé sinh ra liền được mang đi rửa tội để bảo đảm chúng sẽ được lên thiên đường rồi bóp mũi cho chết [All babies born of these illicit encounters, Monk claimed, were baptized before being killed and dumped in the basement].

Maria Monk cũng kể rằng, Sơ được các Sơ bề trên dạy là một trong những nhiệm vụ lớn lao của các nữ tu là phải tuân phục các linh mục trong mọi vấn đề, kể cả vấn đề phục vụ tình dục cho các linh mục [I must be informed that one of my great duties was to obey the priests in all things; and this I soon learnt, to my utter astonishment and horror, was to live in practice of criminal intercourse with them]. Tại sao? Maria Monk được bề trên giải thích: “Vì không có các linh mục làm phép, chúng ta không thể được tha tội và phải xuống hỏa ngục.” [They, the priests, might be considered our saviors, as without their service we could not obtain pardon of sin, and must go to hell] Chúng ta thấy, chính sách tẩy não nhồi sọ của Công giáo thật là đáng sợ.

Lẽ dĩ nhiên, vào thượng bán thế kỷ 19, quyền lực lớn lao của Công Giáo ở Canada đã tìm đủ mọi cách để phủ nhận sự phanh phui của Maria Monk. Theo luận điệu của Công Giáo thì một số người Tin Lành đã được phép của Giám Mục ở Montreal đến tu viện Hotel Dieu để điều tra sự thật và kiểm chứng những điều Maria Monk viết trong sách. Lẽ dĩ nhiên, kết quả điều tra của những người Tin Lành này là, không có một bằng chứng nào chứng tỏ là những điều Maria Monk phanh phui đã thực sự xảy ra.

Nhưng những người Tin Lành Mỹ không chấp nhận kết quả điều tra này vì cho rằng cuộc điều tra là của những người thuộc Dòng tên giả dạng làm Tin Lành [The American Protestants refused to accept these results, claiming that the investigation was biased because it had purposedly bên conducted by Jesuits disguised as Protestants]. Điều này có khả năng là đúng, vì trong thời đó và cho tới bây giờ, Công giáo rất ghét Tin Lành, luôn luôn cầu nguyện để cho những người Tin Lành đều đi xuống hỏa ngục, cho nên không làm gì có chuyện để cho Tin Lành vào một nữ tu viện của Công giáo để điều tra sự việc.

Dù sao thì vào thời điểm đó, chuyện Công giáo tìm cách bịt miệng Maria Monk cũng không phải là chuyện khó. Nhất là, sau khi rời bỏ tu viện, cuộc đời của Maria Monk xuống dốc một cách thê thảm, cho nên Công Giáo phô trương nói rằng đó là kết quả phản đạo của Maria Monk, và tuyên bố là những phanh phui của Maria Monk đã đi theo Maria Monk vào cõi chết. Tuy nhiên, Maria Monk chết nhưng chưa hết chuyện, vì tác phẩm The Awful Disclosures của Maria Monk đã được tái bản rất nhiều lần, và ấn bản mà tôi có là ấn bản mới nhất, xuất bản vào năm 1997 của Random House ở bên Anh.

Một số nhà nghiên cứu tôn giáo hiện nay đã xét lại những kết quả điều tra tu viện Hotel Dieu của Công giáo và cho rằng những điều Maria Monk viết trong cuốn The Awful Disclosures không phải là không có cơ sở. Tại sao lại có chuyện xét lại. Vì những phanh phui gần đây về những chuyện động trời trong Công giáo như Linh mục loạn dâm với trẻ, cưỡng dâm nữ tu, nữ tu đồng giống luyến ái (lesbian), và những chuyện gian lận, hành hạ trẻ mồ côi trong một số viện mồ côi quản trị bởi các nữ tu “hiền như ma sơ”. Sau đây là một số trường hợp điển hình.

Trong những năm gần đây, nhiều bản tường trình cho thấy chi tiết về các vụ linh mục cưỡng dâm nữ tu trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Phi Châu, nhưng Vatican vẫn nằng nặc phủ nhận [Undeniably, the best reason to reconsider Maria Monk’s claims is based on modern revelations of victims and survivors of clergy sexual abuse. Reports (http://www.priestsofdarkness.com/nuns.html) in recent years have detailed extensive and global abuse of nuns by priests, which the Vatican has vigorously denied. Nuns, especially in Africa, have been even more vulnerable than before as they are deemed to be safe from AIDS.]

Thật vậy, trong bài Hồ Sơ Về Sự Lạm Dụng Tình Dục Của Các Linh Mục Đối Với Các Nữ Tu [Documents Allege Abuse of Nuns by Priests], trên tờ New York Times ngày 21 tháng 3, 2001, viết bởi Chris Hedges, chúng ta có thể đọc những đoạn như sau:

Những bản phúc trình mật của Giáo hội Công giáo La mã trong thời gian 7 năm qua đã cho biết có nhiều trường hợp nữ tu (hôn thê của Chúa) bị các linh mục (Chúa thứ hai) cưỡng bách tình dục và các bề trên trong giáo hội đã bao che, không đáp ứng và không đưa ra biện pháp để kỷ luật những linh mục phạm tội. [Confidential Roman Catholic Church reports written over a period of 7 years allege numerous cases of sexual abuse of nuns by priests and a failure by church leaders to discipline the clerics who were involved]

5 bản phúc trình viết bởi những viên chức cao cấp trong các dòng nữ tu và một linh mục Mỹ, cho thấy sự lạm dụng tình dục của các linh mục đã xảy ra trong nhiều quốc gia, kể cả Mỹ.

Các bản phúc trình viết rằng một số linh mục đã đòi hỏi các nữ tu ở dưới quyền phải phục vụ tình dục cho họ để đổi lấy một số ưu đãi đặc biệt. Trong một số trường hợp, các linh mục làm cho nữ tu có mang rồi bắt họ đi phá thai. [The reports say some priests have demanded sex from nuns under their charge in return for favors. In some instances priests are said to have impregnated nuns and the forced them to have abortions]

Như thường lệ, sự bất lương của Vatican hiển lộ trong lời tuyên bố của Joaquin Navarro-Walls, phát ngôn viên của Vatican, rằng vấn nạn trên chỉ xảy ra giới hạn trong môt vùng địa dư (The Vatican spokeman, Joaquin Navarro-Walls, issued a statement saying the problem was confined to “a limited geographical region”) tuy rằng phúc trình chi tiết nhất là của Sơ Maura O’Donohue, một bác sĩ Công giáo, thành viên của cơ quan Medical Missionaries of Mary, dựa trên những dữ kiện thu thập được, đã viết rõ rằng vấn nạn trên đã xảy ra trong 23 quốc gia kể cả Mỹ, Ý và Ái Nhĩ Lan.

Sơ O’Donohue kể ra trường hợp ở Malawi, chỉ trong một dòng nữ tu đã có tới 29 nữ tu mang thai bởi các linh mục. Khi Sơ bề trên phàn nàn với Tổng Giám Mục của giáo xứ, thì Sơ bề trên này bị thay thế. [Sister O’Donohue went on to discuss a case in Malawi, where 29 sisters in a single congregation “became pregnant by priests in the diocese.” When the sisters’ superior general complained to the archbishop, Sister O’Donohue wrote, she was replaced. Sister O’Donohue wrote that she knew of similar cases in 23 countries, including the United States, Italy and Ireland.]

Bản phúc trình của Sơ Maura O’Donohue còn đưa ra nhiều chi tiết chứng tỏ sự phá sản tâm linh và đạo đức trong cấp lãnh đạo của giáo hội Công giáo. Trong bản phúc trình, Sơ O’Donohue đưa ra những trường hợp động trời, thí dụ như:

- Linh mục đưa các nữ tu và con chiên đến nhà thương Công giáo để phá thai [Priests were bringing sisters (and other young women) to Catholic health institutions for abortion.] Bác sĩ Công giáo bị áp lực của linh mục nên phải làm việc vô đạo đức này dù giáo hội cấm.

- Một trường hợp đặc biệt là một linh mục mang một nữ tu đi phá thai và nữ tu này chết trong vụ này và linh mục trên đứng làm chủ lễ an táng [An example of a priest who had brought a sister for an abortion. She died during the procedure and the priest officiated at the Requiem Mass]

- Đối với các Sơ bị các linh mục làm cho mang thai thì linh mục thường chỉ bị khiển trách nhẹ - thí dụ như hai tuần lễ sám hối hay thuyên chuyển đi giáo xứ khác [để tiếp tục làm bậy như báo chí gần đây đã phanh phui], còn các nữ tu thì bị đuổi ra khỏi dòng tu. [The most disturbing incidents concerned sisters who became pregnant. While the priests were usually given mild reprimands – for example, two-week retreat or transfer to another parish – the nuns were forced out of the order]

Giáo hoàng Benedict XVI, khi còn là Hồng Y Joseph Ratzinger, Bộ Trưởng Thánh Bộ Đức Tin, đã nhận được bản phúc trình của Sơ O’Donohue năm 1998 về những vụ linh mục cưỡng bách tình dục các nữ tu nhưng hoàn toàn coi phúc trình đó như không có trước quần chúng, theo đúng sách lược của giáo hội từ thời Trung Cổ, tuyệt đối giữ kín những vụ linh mục bê bối trong vấn đề tình dục. Ông ta có phải là “đại diện của Chúa trên trần” như giáo hội Công giáo tuyên dương hay không?

Pope Benedict XVI, when was Cardinal Joseph Ratzinger in charge of the Doctrine of Faith, acknowledged to receive the 1998 O’Donohue Report of sexual harassment and raping of women religious (nuns) and completely publicly ignored it following an old practice of the Catholic Church since the

Middle Ages of maintaining strict secrecy in dealing withsexually abusive clergy. Is he the representative of God on Earth as the Catholic Church proclaims?

◎ Vấn nạn về phá sản tâm linh và đạo đức không chỉ thu hẹp trong giới giáo hoàng và linh mục mà còn xảy ra trong giới nữ tu, các hôn thê (bride) của Chúa, và dòng các “sư huynh” (Christian Brothers).

Trong cuốn The Awful Disclosures của Maria Monk có nói đến dòng tu của các “Grey Nuns”, các Sơ mặc áo xám, được gọi là các “Sơ của Bác Ái” (Sisters of Charity). Cách đây ít năm, chương trình Prime Time của đài ABC cũng như chương trình Date Line của đài NBC đều đưa lên vụ kiện 1.2 tỷ đô-la [1.2 billion suit] của những trẻ mồ côi, nay đã trưởng thành, thường được biết là những “Trẻ mồ côi của Duplessis” (Duplessis Orphans). Những đứa trẻ này trước sống trong những viện mồ côi ở Québec, Canada, quản trị bởi các “Sơ của Bác Ái”, dưới triều Thủ Tướng Maurice Le Noblet Duplessis, một tín đồ Công giáo bảo thủ cực đoan. Một số những đứa trẻ mồ côi trong số khoảng 3000 còn sống sót này, nay đã trưởng thành, đã lập nên một tổ chức để kiện chính quyền Québec và viện mồ côi St. Julian ở Québec, do các “Grey nuns” (Sisters of Charity) quản trị, về những hành động hành hạ độc ác, ngược đãi, lừa gạt của các Sơ đối với các em khi còn ở trong các viện mồ côi, với sự toa rập của chính quyền Công giáo Québec trước đây và bác sĩ Công giáo.

Đọc nội dung vụ kiện này và những bằng chứng mà các nạn nhân đưa ra chúng ta không thể tưởng tượng được là trong “hội thánh, thiên khải, tông truyền, duy nhất”, alias Công giáo, lại có thể xảy ra những chuyện tàn bạo vô lương tâm của tập đoàn Công giáo gồm từ Thủ tướng Công giáo ở Québec đến các linh mục, bác sĩ Công giáo, nữ tu Công giáo toa rập với nhau để làm thương tổn nặng nề đến tinh thần cũng như vật chất của nhiều ngàn trẻ mồ côi sống trong các viện mồ côi và các nhà thương Công giáo trị bệnh tâm thần.

Độc giả có thể đọc chi tiết đầy đủ về vụ “Duplessis Orphans” trong bài “Bác Ái Của Công Giáo Trong Hành Động” (Catholic Charity in Action) [http://www.lazyboysreststop.com/history-3.htm] và bài “Những Nữ Tu Công Giáo Ác Độc, Lừa Gạt Ở Mỹ Và Trên Khắp Thế Giới” (Abusive Nuns In The USA And Worldwide) trên trang nhà: http://www.ianpaisley.org/new_details.asp?ID=353. Ở đây tôi chỉ tóm tắt những nét chính và đưa ra một số sự kiện điển hình.
Bây giờ, chúng ta hãy trở lại cuốn AMEN của Sơ Jesme Raphael mới xuất bản vào tháng 1, 2009.

Cuốn AMEN của Sơ Jesme Raphael chỉ là cuốn mới nhất trong một chuỗi dài những xì-căng-đan trong giáo hội Công giáo ở Kerala. Sau đây là sơ lược một số phanh phui trong cuốn AMEN.

Khi Jesme Raphael là nữ tu (Sơ), Sơ khám phá ra là các linh mục thường cưỡng bách tình dục những thiếu nữ mới vào dòng tu. [Sister Jesme says when she became a nun she discovered priests were forcing novices to have sex with them]

Có những liên hệ tình dục đồng giống luyến ái giữa các Sơ với nhau và bản thân Sơ cũng bị ép vào liên hệ tình dục này với một Sơ khác, được Sơ kia giải thích là để tránh mang thai [There were also secret homosexual relationships among the nuns and at one point she was forced into such a relationship by another nun who told her she preferred this kind of arrangement as it ruled out the possibility of pregnancy.]

Sơ kể lại chuyện Sơ đi đến Bangalore để tu nghiệp về Anh ngữ, Sơ được một Sơ khác bảo hãy trú ngụ tại nhà một ông linh mục đạo đức. Nhưng khi Sơ đến nhà ga, ông linh mục đã chờ sẵn và ôm chặt lấy Sơ. Đến buổi chiều, ông linh mục dẫn Sơ đến Lalbagh, nơi có những cặp trai gái hú hí với nhau sau những gốc cây và giảng đạo cho Sơ về sự cần thiết của làm tình. Ông ta còn tả chân những chuyện có tính cách khiêu dâm của một số giám mục và linh mục với các nữ tu. Sau đó ông linh mục đưa Sơ về nhà, định sờ soạng Sơ và khi Sơ chống cự thì giận dữ hỏi Sơ là đã ngủ với đàn ông chưa. Khi Sơ trả lời là chưa thì ông ta tự cởi bỏ quần áo và ra lệnh cho Sơ cũng phải làm như vậy [In Bangalore for a refresher course in English, she writes, “I was told to stay at the office of a priest respected for his strong moral side. But when I reached the station, he was waiting there and hugged me tight on arrival. Later in the day, he took me to Lalbagh and showed me several pairs cuddling behind trees. He also gave me a sermon on the necessity of physical love and described the illicit affairs that certain bishops and priests had with the nuns". Back in his room, he tried to fondle me and when I resisted, got up and asked angrily if I had seen a man. When I said no, he stripped off his clothes and ordered me to do the same.]

Sơ Raphael có bằng tiến sĩ và là hiệu trưởng của một trường đại học Công giáo. Khi Sơ hỏi cấp trên lập trường của Giáo hội về các đại học tự túc (self-financing colleges) và một số điều khác thì họ cho là Sơ có bệnh tâm thần, và gửi Sơ đi chữa trị tâm thần và muốn giam Sơ vào nhà thương điên. Sơ kể vì những thắc mắc của Sơ mà cấp trên đã hai lần toan tính đưa Sơ vào nhà thương trị bệnh tâm thần. Sơ viết, các nữ tu viện [convents] đã trở thành các “ngôi nhà để hành hạ” (houses of torture). Có nhiều Sơ bị ngược đãi nhưng sợ không dám nói lên. Giáo hội là một pháo đài kiên cố. [There are many nuns undergoing ill-treatment from the order, but they are afraid of challenging it. The Church is a formidable fortress]

Cuốn AMEN của Sơ Jesme Raphael đã bán hết ngay và chỉ nửa tháng sau ấn bản thứ nhì đã được xuất bản. Cuốn sách đã được dịch ra vài thứ tiếng và có cả ấn bản bằng Anh ngữ.



Phản ứng của Giáo hội Công Giáo trước cuốn AMEN ra sao?

Stephen Alathara, Phó Tổng Thư Ký hội đồng Giám mục (Deputy Secretary of the Bishops council), nói: “Không thiếu gì những người chống tôn giáo trong xã hội Kerala. Họ dùng cuốn sách này cho những hoạt động “chống xã hội”, “chống giáo hội”. [There is no dearth of antireligion people in Kerala society. They are using this for their anti-social, anti-church activities.] Và Linh mục Paul Thelakkat, phát ngôn viên dòng tu Syro-Malaba của Công giáo, phát biểu: “Sơ Raphael nên đặt vấn đề với giáo hội thay vì “phỉ báng các nữ tu sùng tín”. Ông ta nói thêm rằng “Những tố cáo của Sơ Raphael không có gì đặc biệt nghiêm trọng. Giáo hội không bao giờ tuyên bố là không có tội lỗi trong giáo hội. Chúng tôi không phải là những thiên thần. Chúng tôi là những con người bằng thịt và máu – do đó một vài sơ xuất hay thất bại có thể xảy ra.” [Raphael should have raised with the church instead of “maligning the life of religious nuns.” He added that Raphael’s allegations are “not especially serious”. “The church never claims there’s no sin within the church,” he said. “We’re not angels – we’re human beings of flesh and blood – so some omissions and failures can happen.”]

Chúng ta thấy ngay những luận điệu xảo quyệt của Công giáo thường dùng để bào chữa cho những tội ác của giới chăn chiên trong Công giáo.

∷ Thứ nhất, cái mũ đầu tiên là “chống giáo hội” và “chống xã hội” làm như chống giáo hội là một tội ác tương đương với chống xã hội.

∷ Thứ nhì, đặt vấn đề với giáo hội để giáo hội giải quyết thì cũng như không đặt, vì kinh nghiệm cho thấy, Giáo hội sẽ có biện pháp để trừng trị những người dám đặt vấn đề với giáo hội.

∷ Và thứ ba, khi muốn bịp đám con chiên ngu dốt thì giáo hội tuyên dạy linh mục là những “Chúa thứ hai” có quyền tha tội cho con chiên và cho con chiên lên thiên đường. Nhưng khi các “Chúa thứ hai” làm bậy thì đó chỉ là những người thường như mọi người với máu và thịt, cho nên tội lỗi chỉ là chuyện bình thường.

Chúng ta nên để ý là Giáo hội không dám phủ nhận nội dung cuốn AMEN của Sơ Raphael vì tất cả những gì Sơ Raphael viết trong cuốn sách đều là sự thật, chỉ đưa ra những luận điệu lắt léo để bào chữa.

Chúng ta hãy kể thêm vài chuyện ở Kerala.

► Ngày 11 tháng 2, người ta thấy Sơ Josephine, 38 tuổi, chết ở trong phòng có vẻ là đã tự sát. Giáo hội nói Sơ đang được chữa trị vì suy sụp tinh thần (under treatment for depression). Nhưng dư luận quần chúng cho rằng Sơ tự sát vì không chịu nổi những sự hành hạ ở trong tu viện bởi các bề trên, và một nhóm dân đã tụ họp trước nhà, hét lên những lời tố cáo là sự ngược đãi đã làm cho Sơ phải tự sát. [shouted slogans alleging that harassment had led Sister Josephine to kill herself.]

► Ngày 11 tháng 8 năm 2008, Sơ Anupama Mary, 23 tuổi, treo cổ tự tử. Trong di thư để lại, Sơ nói không thể chịu đựng được những sự quấy nhiễu của sơ bề trên [In what was her suicide note, she had said she could no longer withstand the senior nun’s harassment]

► Tháng 12 năm 2008, cảnh sát đã bắt giữ hai linh mục và một nữ tu liên can đến một vụ hiếp dâm và giết Sơ Abhaya vào năm 1992 mà Giáo hội đã tranh đấu để ếm nhẹm trong suốt 16 năm trời [In December 2008, Police arrested two priests and one nun in the Sister Abhaya rape-cum-murder case, which the Catholic church struggled to suppress for 16 long years]

Giáo hoàng Benedict mới treo giò một Giám mục vì xì-căng-đan nuôi một phụ nữ 26 tuổi làm con nuôi ở trong nhà.

Ở Mexico, vì chán ngấy với sự thường xuyên xúc phạm nhân quyền, linh mục coi nữ tu như là các đầy tớ và là đối tượng tình dục khi cần, một số nữ tu đã gây nên một phong trào quốc tế để phản đối những sự lạm dụng tình dục của các linh mục đối với các nữ tu, không những chỉ đòi hỏi giáo hội phải trừng phạt những linh mục hiếp dâm nữ tu, mà còn đòi hỏi ở trong giáo hội phụ nữ phải được bình đẳng như phái nam. [Fed up with the constant abuses to human rights – that run from being utilized as simple “maids” up to suffering sexual violations from their religious superiors – the Mexican nuns started to integrate in a big international movement of protest that not only demands punishment for the rapist priests, but also demands that within the church, womwn have equal rights as men]

Những chuyện tình dục bậy bạ của giới linh mục đi đến độ mà Quốc Hội Âu Châu phải lên tiếng lên án Vatican về những vụ Linh mục cưỡng bách tình dục các nữ tu. Kiến nghị của Quốc Hội Âu Châu nói đến “trách nhiệm của Vatican đối với vấn đề vi phạm nhân quyền của các linh mục Công giáo.”

[STRASBOURG, France - The European Parliament made an unprecedented attack on the Vatican, approving a motion blaming it for the rapes suffered by nuns in Africa in the 1990s. Some observers saw the nonbinding measure as an attempt to impede John Paul II's visit to this institution.

The parliamentary motion, on the "Responsibility of the Vatican in Regard to the Violation of Human Rights by Catholic Priests," has no executive character but rather is intended as a "moral judgment."]

Những tài liệu trên về vấn nạn loạn dâm của một số linh mục và vô đạo đức tôn giáo của một số nữ tu đã đánh thẳng vào thực chất quyền lực và đạo đức của giới chăn chiên Công Giáo, cùng lúc cho thấy chính sách tẩy não của Giáo hội Công Giáo. Vì sách lược tẩy não của Giáo hội, tạo cho tín đồ tâm cảnh hoàn toàn tuân phục bề trên (các giám mục, linh mục), chỉ vì mơ tưởng một cái bánh vẽ trên trời, và coi “linh mục là những Chúa thứ hai” nên mới có thể xảy ra hàng ngàn vụ linh mục cưỡng bách tình dục trẻ con và các nữ tu.

Theo thống kê năm ngoái thì đã có hơn 5000 (5 ngàn) linh mục bị truy tố về tội cưỡng bách tình dục trẻ em vị thành niên, và đây mới chỉ là con số khiêm tốn bắt đầu, vì ngày nào trên báo chí chúng ta cũng thấy những vụ mới bị phanh phui ra. Trong số trên 11000 nạn nhân tình dục của linh mục Công giáo thì 78% trong lớp tuổi từ 11 đến 17, 16% từ 8 đến 10 tuổi, và 6% là 7 tuổi hay nhỏ hơn. Người ta không biết rõ số nữ tu bị linh mục cưỡng dâm là bao nhiêu, chỉ biết rằng đã xẩy ra trên 24 quốc gia, nghiêm trọng nhất là ở Phi Châu, vì ở đây các nữ tu an toàn hơn để tránh bệnh AIDS.



◎◎◎



Người Mỹ đặt vấn đề: những linh mục trên là những kẻ cuồng dâm (sadists) hay là “Cha cũng như Chúa”? Chúng ta nên nhớ, trong “bí tích” truyền chức Linh mục, Chúa Thánh Thần đã vào ngự trong người của Linh Mục và hướng dẫn mọi hành động của ông ta, và Linh mục Vũ Đức ở Detroit gần đây cũng vẫn còn khẳng định trước đám con chiên đã bị tẩy não: Linh mục chính là “Chúa thứ hai”.

Như vậy thì ai chịu trách nhiệm về những hành động xấu xa, ác độc, vô luân v..v.. của một số giáo hoàng, alias “đại diện của Chúa”, giám mục, linh mục, alias “Chúa thứ hai”, Sơ, alias “hôn thê của Chúa”, và vô số con chiên sau khi tất cả những người này đã rửa tội và được Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn? Đổ tội cho Sa Tăng chăng? Nhưng như vậy thì rõ ràng là cả ba Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần họp lại cũng không chống nổi Sa Tăng, vậy bày đặt ra chuyện "toàn năng" với "cứu rỗi", với "ban cho đời sống đời đời" v...v... làm gì? Có phải chỉ là để lừa dối những kẻ nhẹ dạ, cả tin, không có đầu óc suy luận hay không?

Thật vậy, sự thật là chẳng có Chúa nào tới ngự trong tâm hồn người Ki Tô, vì nếu thực sự như vậy thì không làm gì có những chuyện tàn bạo, độc ác, vô luân, loạn luân trong giới chăn chiên và trong tín đồ. Chẳng lẽ cả ba Chúa đã ngự trong người tín đồ mà lại xui khiến tín đồ làm ra những chuyện vô đạo đức để “vinh danh Thiên Chúa trên trời” hay sao?

Nhưng không phải bây giờ người ta mới biết bộ mặt thực của giới linh mục. Từ xưa, các học giả đã nhận định khá chính xác về các linh mục. Xin nhắc lại ở đây nhận định về linh mục của một số danh nhân trên thế giới.

Hugo Grotius (1583-1645), Học giả Hòa Lan: Người nào đọc lịch sử giới linh mục không đọc gì khác ngoài sự gian giảo và điên rồ của các giám mục và linh mục. (He who reads eccleciastical history reads nothing but the roguery and folly of bishops and churchmen.)

John Milton (1608-1674), Thi sĩ Anh: Công Giáo La Mã là một tôn giáo không gì hơn là sự chuyên chế của giới linh mục, những người trang bị với những bổng lộc của quyền lực dân sự, với chiêu bài tôn giáo, đã chiếm lấy quyền của Chúa (Romanism is less a religion than a priestly tyranny armed with the spoils of civil power which, on the pretext of religion, it hath seized against the command of Christ himself.)

Daniel Defoe (1660-1731), Tiểu thuyết gia Anh: Trong tất cả những tai họa mà nhân loại phải chịu đựng, sự độc đoán của giới Linh mục là tệ hại nhất (Of all the plagues with which mankind are cursed, Ecclesiastic tyranny’s the worst.)

Lady Mary Wortley Montagu (1689-1762), Văn sĩ Anh: Trên khắp thế giới, các linh mục có thể nói láo, và các tín đồ tin, (Priests can lie, and the mob believe, all over the world).

Đại Văn Hào Voltaire (1694-1778): Lời của Chúa là lời của các linh mục; sự vinh quang của Chúa là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Chúa là ý của các linh mục; xúc phạm Chúa là xúc phạm các linh mục; tin vào Chúa là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.)

Edward Gibbon (1737-1794), Sử gia Anh: Đối với cái nhìn triết lý, những thói xấu của các Linh Mục thì ít nguy hại hơn những đức tính của họ rất nhiều (To a philosophic eye, the vices of the clergy are far less dangerous than their virtues.)

Thomas Jefferson (1743-1826), Tổng Thống Mỹ: Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đều đã thù nghịch đối với tự do.(In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty).

James Madison (1751-1836), Tổng Thống Mỹ: Trong gần 15 thế kỷ, cơ sở hợp pháp của Ki Tô giáo đã được phán xét. Hoa trái của Ki Tô giáo là gì? Ở khắp nơi, không nhiều thì ít, sự lười biếng và hãnh diện của giới Linh mục, sự ngu tối và quỵ lụy của giới tín đồ; sự mê tín, cố chấp và bạo hành trong cả hai giới (During almost 15 centuries has the legal establishment of Christianity been on trial. What has been its fruits? More or less in all places, pride and indolence in the clergy; ignorance and servility in the laity; in both, superstition, bigotry, and persecution.)

Napoleon Bonaparte (1769-1821), Hoàng đế Pháp: Ở mọi nơi và mọi thời, linh mục đã đưa vào sự gian dối và sai lầm (Priests have everywhen and everywhere introduced fraud and falsehood)

Arthur Schopenhauer (1788-1860), Triết gia Đức: Công giáo là tôn giáo lên thiên đường bằng cách cầu xin, vì nó quá phiền toái để tự mình đạt được. Linh mục là những kẻ buôn bán thiên đường (The Catholic religion is an order to obtain heaven by begging, because it would be too troublesome to earn it. The priest are the brokers for it)

Victor Hugo (1802-1885), Văn hào Pháp: Trong mỗi làng đều có một ngọn đuốc soi sáng: người thầy giáo - và một kẻ làm tắt bó đuốc đó: ông linh mục xứ (There is in every village a torch: the schoolmaster - and an extinguisher: the parson.)

Giuseppe Garibaldi (1807-1882), Nhà lãnh đạo Ý (Người đã tiến quân và thu hẹp lãnh thổ của Công Giáo, chỉ còn lại Vatican ngày nay): Linh mục là hiện thân của sự sai lầm (The priest is the personification of falsehood.)

Robert G. Ingersoll (1833-1899), Học giả Mỹ: Một thầy giáo giỏi có giá trị bằng1000 linh mục (One good schoolmaster is worth a thousand priests.)

William E. H. Lecky (1838-1903), Sử gia Ai Nhĩ Lan: Bất cứ khi nào mà giới giáo sĩ, Linh mục Công Giáo hay Mục sư Tin Lành, đứng cạnh thế quyền dân sự, thì kết quả là sự bạo hành (Whenever the clergy were at the elbow of the civil arm, no matter whether they were Catholic or Protestant, persecution is the result.)

Émile Zola (1840-1902), Văn hào Pháp: Nền văn minh sẽ không đi đến tột đỉnh cho đến khi phiến đá cuối cùng từ cái nhà thờ cuối cùng rơi đè lên tên linh mục cuối cùng (Civilization will not attain to its perfection until the last stone from the last church falls on the last priest.)



Trần Chung Ngọc

4/2009