Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 12
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    19

    Máy bay chiến đấu Hoa Kì

    FJ Fury

    Chiếc North American FJ Fury là kiểu máy bay phản lực đầu tiên được đưa vào hoạt động trong Hải quân Hoa Kỳ. Được đặt hàng vào cuối năm 1944 như là kiểu XFJ-1 trong cuộc cạnh tranh với các đề nghị khác của các hãng Douglas và Vought, chiếc Fury là kiểu máy bay tiêm kích cánh ngang, bộ càng đáp ba bánh, trang bị một động cơ turbo phản lực đặt dọc trong thân. Cánh, thân và buồng lái của nó khá giống kiểu máy bay tiêm kích gắn động cơ piston P-51 Mustang, một thành công rất lớn của North American Aviation trong Thế Chiến II. Thiết kế của nó cũng là căn bản cho việc thiết kế chiếc nguyên mẫu XP-86 mà sau này phát triển thành chiếc F-86 Sabre của Không quân Hoa Kỳ.

    Kiểu Máy bay tiêm kích
    Hãng sản xuất North American Aviation
    Chuyến bay đầu tiên 11 tháng 9 năm 1946
    Được giới thiệu tháng 10 năm 1947
    Hãng sử dụng chính Hải quân Hoa Kỳ
    Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
    Số lượng được sản xuất 1.115
    Được phát triển từ F-86E Sabre (FJ-2/3)



    Lịch sử phát triển

    FJ-1
    Chuyến bay đầu tiên của chiếc nguyên mẫu XFJ-1 thực hiện vào ngày 11 tháng 9 năm 1946, và chiếc đầu tiên trong tổng số 30 chiếc được giao hàng vào tháng 10 năm 1947. Chiếc Fury hạ cánh lần đầu tiên xuống một tàu sân bay được thực hiện vào ngày 10 tháng 3 năm 1948 trên chiếc USS Boxer. Hoạt động trong Hải quân bởi Phi đội VF-51, chiếc FJ-1 đi tiên phong là máy bay phản lực hoạt động trên tàu sân bay và nhấn mạnh đến nhu cầu cần trang bị máy phóng cho tàu sân bay. Chiếc Fury có thể cất cánh mà không cần đến sự trợ lực của máy phóng, nhưng trên một sàn đáp đông đúc chật chội khả năng này ít có ý nghĩa thực tế.

    Vì kiểu cánh thẳng được nhìn nhận vào lúc đó là giải pháp duy nhất cho tốc độ thấp và độ ổn định cần thiết để hạ cánh được trên tàu sân bay, chiếc FJ-1 đã sử dụng kiểu cánh thẳng.

    FJ-2
    Vào năm 1951, những máy bay tiêm kích phản lực cánh thẳng của Hải quân có tính năng bay yếu kém nhiều so với kiểu máy bay cánh xuôi MiG-15 của Xô Viết hoạt động trong Chiến tranh Triều Tiên; còn những chiếc máy bay tiêm kích phản lực cánh xuôi đang trong lịch trình phát triển của Hải quân, gồm có chiếc F7U Cutlass và F9F Cougar, vẫn chưa sẵn sàng để hoạt động. Như là một giải pháp tạm thời, Hải quân đã mua ba chiếc máy bay tiêm kích phản lực cánh xuôi F-86E Sabres với các trang bị đặc trưng cho Hải quân và khung máy bay được gia cố chắc chắn hơn. Ba chiếc máy bay này được bay thử nghiệm từ tháng 12 năm 1951 dưới tên gọi XFJ-2. Thiết kế này sau đó được đưa vào sản xuất dưới tên gọi FJ-2, nhưng việc chế tạo khá chậm do nhu cầu cao của chiếc F-86 tại Triều Tiên; chiếc FJ-2 không được sản xuất với số lượng lớn cho đến khi cuộc xung đột kết thúc. Đến lúc đó, do FJ-2 có bánh đáp mũi và móc hãm yếu kém, Hải quân đã ưa chuộng chiếc F9F Cougar do tính năng bay tốt ở tốc độ thấp phù hợp để hoạt động trên tàu sân bay, nên 200 chiếc FJ-2 đã chế tạo được giao hàng cho Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (như đã từng xảy ra cho chiếc F4U Corsair trong Thế Chiến II).



    FJ-3

    Việc phát triển phiên bản FJ-3, được trang bị một phiên bản chế tạo theo giấy phép nhượng quyền của kiểu động cơ turbo phản lực mới Armstrong Siddeley Sapphire, dẫn đến kết quả là chuyến bay đầu tiên diễn ra vào tháng 7 năm 1953. Việc giao hàng được bắt đầu từ tháng 9 năm 1954, và chiếc FJ-3 gia nhập hạm đội từ tháng 3 năm 1955. Một chiếc FJ-3 đã là máy bay tiêm kích đầu tiên hạ cánh trên chiếc siêu hàng không mẫu hạm mới USS Forrestal vào năm 1956. Có 538 chiếc FJ-3 được chế tạo, bao gồm 194 chiếc phiên bản FJ-3M có khả năng mang tên lửa không đối không AIM-9 Sidewinder. Sau này một số chiếc FJ-3 được cải tiến để điều khiển từ xa các máy bay giả lập mục tiêu Regulus và F9F-6K Cougar. Vào năm 1955 Hải quân bổ sung thêm kiểu cánh mới vốn đã thành công trên chiếc F-86F, cung cấp chỗ trống cho nhiên liệu phụ trội, và đến năm 1956 tái trang bị cho tất cả những chiếc phiên bản FJ-3 thiết bị tiếp nhiên liệu trên không kiểu vòi và phểu (probe-and-drogue).

    FJ-4
    Những phiên bản cuối cùng của Fury là FJ-4 và FJ-4B, có nhiều cải tiến so với các phiên bản trước. Trữ lượng nhiên liệu chứa bên trong được gia tăng, đuôi và cánh được cải tiến để tăng khả năng điều khiển và sự ổn định khi hạ cánh trên tàu sân bay, và càng đáp được làm rộng thêm. Việc giao hàng những chiếc FJ-4 được bắt đầu từ tháng 2 năm 1955, và ngoại trừ một phi đội Hải quân huấn luyện phi công lái FJ-4B, FJ-4 chỉ được sử dụng bởi Thủy quân Lục chiến. Chiếc FJ-4B là một phiên bản máy bay tiêm kích-ném bom, có khả năng mang tải trọng vũ khí dưới cánh gấp đôi, bao gồm vũ khí nguyên tử trên đế giữa. Có 152 chiếc FJ-4 và 222 chiếc FJ-4B được chế tạo

    Đặt lại tên
    Với việc áp dụng Hệ thống Định danh máy bay Thống nhất các binh chủng Hoa Kỳ (1962) , chiếc FJ-4 trở thành F-1E và chiếc FJ-4B trở thành AF-1E. AF-1E phục vụ cho các đơn vị thuộc Hải quân Trừ bị Hoa Kỳ cho đến cuối những năm 1960. Có tổng cộng 1.115 chiếc Fury được đưa ra sử dụng trong Hải quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ trong suốt vòng đời của nó.

    Các nước sử dụng
    Hoa Kỳ
    Hải quân Hoa Kỳ
    Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ

    Đặc điểm kỹ thuật (FJ-4)
    Tham khảo: American Military Aircraft[1]



    Đặc tính chung
    Đội bay: 01 người
    Chiều dài: 11,1 m (36 ft 4 in)
    Sải cánh: 11,9 m (39 ft 1 in)
    Chiều cao: 4,2 m (13 ft 11 in)
    Diện tích bề mặt cánh: 31,46 m² (338,66 ft²)
    Lực nâng của cánh : 341,7 kg/m² (69,9 lb/ft²)
    Trọng lượng không tải: 5.992 kg (13.210 lb)
    Trọng lượng có tải: 9.130 kg (20.130 lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 10.750 kg (23.700 lb)
    Động cơ: 1 x động cơ Wright J65-W-16A turbo phản lực, lực đẩy 7.700 lbf (34 kN)
    Đặc tính bay
    Tốc độ lớn nhất: 1.090 km/h (680 mph) ở 10.670 m (35.000 ft)
    Tầm bay tối đa: 3.250 km (2.020 mi) với 2 thùng nhiên liệu phụ 760 L (200-gallon) và 2 tên lửa AIM-9 Sidewinder
    Trần bay: 14.300 m (46.800 ft)
    Tốc độ lên cao: 38,9 m/s (7.660 ft/min)
    Tỉ lệ lực đẩy/khối lượng : 0,325
    [sửa] Vũ khí
    4 × pháo 20 mm (0,787 in)
    1.400 kg (3.000 lb) vũ khí dưới cánh, kể cả tên lửa
    4 × tên lửa AIM-9 Sidewinder missiles

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    F2H Banshee

    Chiếc McDonnell F2H Banshee là kiểu máy bay tiêm kích phản lực hoạt động trên tàu sân bay, được Hải quân Hoa Kỳ sử dụng từ năm 1948 đến năm 1959 và bởi Hải quân Hoàng gia Canada từ năm 1955 đến năm 1962. Chiếc Banshee có kiểu cánh ngang, một chỗ ngồi, hai động cơ. Cùng với chiếc F9F Panther, Banshee là một trong những máy bay tiêm kích một chỗ ngồi chủ yếu của Hải quân Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên.

    Kiểu Máy bay tiêm kích hoạt động trên tàu sân bay
    Hãng sản xuất McDonnell Aircraft
    Chuyến bay đầu tiên 11 tháng 1 năm 1947
    Được giới thiệu tháng 8 năm 1948
    Hãng sử dụng chính Hải quân Hoa Kỳ
    Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
    Hải quân Trừ bị Hoa Kỳ
    Hải quân Hoàng gia Canada
    Số lượng được sản xuất 895
    Được phát triển từ FH Phantom



    Thiết kế và phát triển
    Chiếc Banshee là một sự phát triển từ chiếc FH Phantom, cho dù nó được vạch kế hoạch trước khi chiếc Phantom được đưa vào sản xuất. Thiết kế căn bản là một khung máy bay Phantom to hơn và mạnh mẽ hơn, trang bị một cặp động cơ Westinghouse turbo phản lực nâng công suất từ 1.600 lên 3.000 lbf (7 kN lên 13 kN) mỗi động cơ, gia tăng trữ lượng nhiên liệu, nâng cấp vũ khí từ súng máy 12,7 mm (0,5 in) thời Thế Chiến II lên thành pháo 20 mm, cũng như khả năng mang bom, rocket hay tên lửa.

    Một mô hình của chiếc máy bay tiêm kích mới, đặt tên là XF2D-1, được hoàn tất vào tháng 4 năm 1945. Kế hoạch vẫn được tiếp tục thực hiện sau khi chiến tranh kết thúc, cho dù công việc phát triển bị chậm và ba chiếc nguyên mẫu chưa được chế tạo cho đến tận cuối năm 1946. Nó bay chuyến bay đầu tiên ngày 11 tháng 1 năm 1947 từ sân bay Lambert Field, St. Louis; bởi phi công thử nghiệm Woodward Burke. Hải quân đặt lại tên chiếc máy bay là XF2H-1 vì ký hiệu "D" của nhà sản xuất đã được cấp cho Douglas Aircraft Company. Sau khi một số vấn đề về đuôi máy bay được giải quyết, 56 chiếc máy bay được đặt hàng vào tháng 5 năm 1947.

    Bộ càng đáp của chiếc F2H-1 Banshee có một tính năng độc đáo. Bánh đáp mũi có khả năng tự thu ngắn một đoạn (hay gọi là "quỳ gối"), làm hạ thấp máy bay một khoảng cách đáng kể. Điều này cho phép đội mặt đất có thể thực hiện một số công việc bảo trì mà không cần dùng thang.

    Các phiên bản
    Chiếc F2H-1 được giao hàng vào tháng 8 năm 1948 để được các phi công Hải quân thử nghiệm thực tế. So với chiếc nguyên mẫu XF2D-1, thân máy bay đã được kéo dài thêm 0,36 m (14 in) phía trước cánh nhằm tạo thêm chỗ chứa cho 1.330 L (351 US gallons) nhiên liệu bổ sung. Sau đó chiếc F2H-1 được tái trang bị động cơ có lực đẩy 3.150 lbf (14 kN) khi chúng đã sẵn sàng.

    Cho dù kiểu F2H-1 được Hải quân chấp nhận, chính là phiên bản F2H-2 có tiềm năng hơn được sử dụng rộng rãi với 306 chiếc được chế tạo. Với động cơ mới hơn có lực đẩy 3.250 lbf (14,5 kN), tính năng bay của nó được nâng cao lên nhiều. Cánh của nó cũng được cải tiến để thêm các đế gắn vũ khí và các thùng nhiên liệu phụ 757 L (200 US gallon) gắn trên đầu chót cánh. Không giống như chiếc F9F Panther hiện đại, các thùng nhiên liệu phụ trên đầu chót cánh của chiếc Banshee có thể tháo rời được, mặc dù đa số các hình ảnh lịch sử chụp cho thấy chiếc máy bay đều bay với thùng nhiên liệu phụ.

    Chiếc F2H-2 là căn bản của ba tiểu biến thể từ chiếc Banshee. Kiểu F2H-2B có cánh được tăng cường cho phép nó mang được một vũ khí nguyên tử cỡ nhỏ, một nhiệm vụ mà may thay nó chưa từng được yêu cầu thực hiện; có 35 chiếc được sản xuất. Kiểu F2H-2N là một phiên bản máy bay tiêm kích bay đêm có mũi máy bay dài hơn 0,86 m (2 ft 10 in) để chứa một thiết bị radar bên trong; có 14 chiếc được sản xuất. Kiểu F2H-2P là một phiên bản máy bay trinh sát hình ảnh trang bị sáu máy ảnh trong mũi máy bay dài hơn 0,74 m (2 ft 5 in); nó là chiếc máy bay trinh sát hình ảnh phản lực đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ với 81 chiếc được sản xuất.

    Phiên bản F2H-3 là sự thay đổi đáng kể cuối cùng. Thân máy bay được kéo dài thêm 2,4 m (8 ft) để gia tăng trữ lượng nhiên liệu bên trong từ 3.320 L (877 US gallon) lên 4.172 L (1.102 US gallon), cho phép chiếc máy bay hoàn thành nhiều loại phi vụ khác nhau mà không cần nhờ đến các thùng nhiên liệu phụ trên đầu chót cánh được thấy trên các máy bay đời đầu. Cánh ổn định ngang được di chuyển từ cánh đuôi đứng xuống thân và được bố trí một góc nhị diện đáng kể. Chiếc Banshee cũng được trang bị radar Westinghouse, cho phép chiếc máy bay tiêm kích sử dụng được trong mọi hoàn cảnh thời tiết, và các khẩu pháo được chuyển xuống dưới và ra phía sau khỏi mũi máy bay dành chỗ cho radar. Các thay đổi này làm cho chiếc máy bay trông khác biệt đáng kể so với các phiên bản trước. Có 250 chiếc F2H-3 được chế tạo.



    Phiên bản cuối cùng là chiếc F2H-4. Nó có radar Hughes thay thế cho radar kiểu Westinghouse, và động cơ có lực đẩy mạnh hơn đôi chút đến 3.600 lbf (16,0 kN). Nhìn từ bên ngoài F2H-4 trông giống như chiếc F2H-3. Có 150 chiếc được chế tạo.

    Một phiên bản trinh sát hình ảnh F2H-3P được đề nghị nhưng bị hủy bỏ trước khi đi vào sản xuất. Không giống đa số các máy bay tiêm kích phản lực đời đầu, không có phiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi nào được sản xuất.

    Việc sản xuất kết thúc vào tháng 9 năm 1953 sau khi có tổng cộng 895 máy bay được giao hàng. Những chiếc F2H-3 và F2H-4 được đặt tên mới là F-2C và F-2D tương ứng theo Hệ thống Định danh máy bay Thống nhất các binh chủng Hoa Kỳ (1962). Các tên gọi F-2A và F-2B dự định liên hệ đến chiếc F2H-1 và F2H-2, nhưng các phiên bản này đã rút ra khỏi phục vụ trước đó. Không có chiếc Banshee nào từng bay với tên gọi mới; chiếc cuối cùng trong Hải quân Trừ bị Hoa Kỳ chỉ dự trữ trong kho trước khi các kiểu máy bay mới hơn được đưa ra hoạt động.

    Chiếc Banshee được các đội bay đặt tên lóng là "Banjo". Các phiên bản kéo dài F2H-3 và F2H-4 được gọi là "Big Banjo".

    Lịch sử hoạt động

    Hải quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
    Vào ngày 9 tháng 8 năm 1949, Trung úy J. L. Fruin mất kiểm soát chiếc máy bay F2H-1 trong khi thực hiện thao diễn hàng không. Anh buộc phải phóng ra, trở thành phi công Hoa Kỳ đầu tiên sử dụng ghế phóng trong một tình huống khẩn cấp khi đang bay thực sự.

    Tiếp theo sau Thế Chiến II, Hải quân và Không quân Hoa Kỳ liên can vào một cuộc tranh giành để xác định xem binh chủng nào sẽ nhận trách nhiệm bố trí các vũ khí nguyên tử. Không quân khoe khoang rằng chiếc máy bay ném bom mới B-36 Peacemaker có khả năng bay cao đến mức nó không thể bị tổn hại bởi việc đánh chặn của những máy bay tiêm kích. Tuy nhiên, vào tháng 8 năm 1949, một chiếc F2H-1 Hải quân Mỹ được sử dụng để chụp ảnh Washington DC từ độ cao 51.000 ft, dễ dàng xác nhận được nhờ phân tích ảnh chụp, thể hiện khả năng có thể hoạt động ở các độ cao vượt quá mức cần thiết có thể đánh chặn chiếc B-36.

    Chiếc F2H-2 phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên với Lực lượng Đặc nhiệm 77 của Hải quân Mỹ và với Thủy quân Lục chiến Mỹ. Do tính năng bay tốt ở tầm cao, ban đầu nó tỏ ra có giá trị trong vai trò hộ tống các máy bay ném bom tầm xa của Không quân Hoa Kỳ. Khi chiến tranh tiếp diễn, các máy bay tiêm kích Hải quân và Thủy quân Lục chiến Mỹ chủ yếu được giao nhiệm vụ tấn công các mục tiêu mặt đất, bao gồm hỗ trợ gần trên không các lực lượng trên bộ và phá hủy các đường tiếp vận của quân đội Bắc Triều Tiên.[2] Không quân Bắc Triều Tiên hầu như bị tiêu diệt hoàn toàn trong những tuần lễ mở đầu của cuộc chiến tranh do lực lượng phối hợp của Mỹ và Không quân Viễn Đông (FEAF) của Anh Quốc, chủ yếu là do việc huấn luyện tốt hơn nhiều và kinh nghiệm chiến đấu trong Thế Chiến II của các phi công Mỹ và Khối Thịnh vượng chung. Từ lúc đó trở đi, lực lượng phối hợp Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và Xô Viết không có khả năng mở các đường băng mới gần khu vực chiến sự ở Nam Triều Tiên vì việc không kích liên tục của Không quân Viễn Đông, buộc họ phải cất cánh từ những sân bay tại Trung Quốc. Banshee và các máy bay tiêm kích Hải quân khác ít bị phơi ra trước hỏa lực của máy bay địch vì chúng hoạt động bên ngoài tầm bay của máy bay địch cất cánh từ Trung Quốc.[2] Các phi vụ không chiến, như tuần tra tại khu vực sông Áp Lục, chủ yếu được giao cho những chiếc F-86 Sabre.[2] Kết quả là, Banshee không ghi được chiến công nào mà cũng không bị thiệt hại do không chiến, cho dù có ba chiếc F2H-2 bị mất do hỏa lực phòng không.

    Chiếc F2H-2 có liên quan đến một tai nạn đáng kể của Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến Tranh Triều Tiên. Vào ngày 16 tháng 9 năm 1951, một chiếc máy bay F2H-2 bị hư hại trong chiến đấu quay trở về tàu sân bay USS Essex (CV-9) đã bị hụt mất lưới thu hồi và đâm vào nhiều chiếc máy bay F9F Panther và F2H Banshee đang đậu ở phần trước của sàn đáp tàu sân bay. Vụ đâm và đám cháy sau đó giết chết bảy thủy thủ và phá hủy bốn máy bay. Tai nạn này đóng vai trò lớn trong quyết định sau đó của Hải quân Hoa Kỳ trang bị sàn đáp chéo góc cho mọi tàu sân bay trong tương lai để việc hạ cánh máy bay an toàn hơn.

    Chiếc F2H-2P cũng góp phần lớn vào Chiến tranh Triều Tiên, đặc biệt là phục vụ trong Thủy quân Lục chiến. Trong thời gian chiến tranh, tên lửa đất đối không chính xác chưa được phát triển, đa số máy bay đối phương chưa được trang bị radar, và tốc độ của những chiếc máy bay phản lực mới làm cho những khẩu súng phòng không trở thành lạc hậu. Các chiến thuật phòng không chủ yếu dựa vào khả năng nhìn thấy đối phương, và các chỉ huy Mỹ nhanh chóng khám phá rằng một chiếc máy bay F2H-2P đơn độc bay cao hầu như không thể bị lực lượng mặt đất phát hiện và không thể bị bắn trúng. Chiếc máy bay nhanh chóng được yêu cầu nhiều trong các phi vụ chụp ảnh chiến trường quý giá. Thậm chí F2H-2P còn được các máy bay tiêm kích Không quân hộ tống khi hoạt động tại các khu vực thường gặp máy bay tiêm kích địch. Cho dù được bố trí sử dụng thường xuyên trong suốt cuộc chiến, chỉ có hai chiếc F2H-2P bị mất do hỏa lực phòng không điều khiển bằng radar, và không có chiếc nào bị mất do không chiến.



    Vào cuối thập niên 1940, Hải quân Mỹ đã từ chối khái niệm thiết kế kiểu cánh xuôi mới lạ, lo sợ rằng việc điều khiển khó khăn ở tốc độ thấp của những chiếc máy bay cánh xuôi đầu tiên làm cho nó không an toàn khi sử dụng trên những tàu sân bay. Không may thay, Hải quân Mỹ đã không nhận thức được đầy đủ điều này sẽ gây hại đến tính năng những chiếc máy bay phản lực mới của họ. Hậu quả của kiểu cánh không xuôi (cánh ngang) làm cho chiếc Banshee chậm hơn gần 161 km/h (100 mph) so với những chiếc máy bay tiêm kích phản lực mới của Xô Viết như chiếc Mikoyan-Gurevich MiG-15, một sự bất lợi nghiêm trọng trong không chiến. Những thử nghiệm tiếp nối đã chứng minh rằng máy bay cánh xuôi có thể bay an toàn ở tốc độ thấp, và việc phát triển những chiếc máy bay tiêm kích cánh xuôi mới cho Hải quân Mỹ được bắt đầu. Hải quân Mỹ bố trí những chiếc F2H-3 và F2H-4 mới trang bị radar cho mục đích phòng thủ hạm đội trong mọi thời tiết sau khi kết thúc Chiến tranh Triều Tiên, nhưng chỉ là giải pháp lấp chỗ tạm thời cho đến khi những chiếc F9F Cougar, F3H Demon, và F4D Skyray nhanh hơn nhiều có thể bố trí với số lượng đáng kể. Những phiên bản sau này của chiếc Banshee chỉ phục vụ vài năm ở tiền tuyến và không tham gia chiến sự. Tương tự, chiếc F2H-2P được thay thế bằng phiên bản F9F-8P (sau này là RF-9J) của chiếc F9F Cougar và phiên bản F8U-1P (sau này là RF-8A) của chiếc F8U Crusader khi những máy bay nhanh hơn này trở nên sẵn sàng.

    Hải quân Hoàng gia Canada
    Vào năm 1951, Hải quân Hoàng gia Canada bày tỏ ý định thay thế những chiếc Hawker Sea Fury đã lạc hậu bằng chiếc Banshee, dự trù khoảng kinh phí 40 triệu Đô la Mỹ cho 60 máy bay. Không may là, do cuộc tranh luận tài chính tại Nội các Canada, việc mua bán đã không được chấp thuận mãi cho đến khi việc sản xuất chiếc Banshee đã kết thúc vào năm 1953. Hải quân Hoàng gia Canada buộc phải sở hữu những chiếc máy bay cũ đã qua sử dụng của Hải quân Mỹ, trị giá 25 triệu Đô la cho 39 máy bay. Những chiếc máy bay được giao hàng từ năm 1955 đến năm 1958 và hoạt động trên tàu sân bay HMCS Bonaventure (CVL-22) hoặc như những máy bay tiêm kích đánh chặn của NORAD từ những căn cứ trên đất liền. Trong khi các phi công Canada thực hiện thường xuyên, phi công Banshee Mỹ lại thường từ chối, cho dù chỉ là thử, hạ cánh trên tàu sân bay HMCS Bonaventure trong các chiến dịch phối hợp chung vì kích thước nhỏ của nó.

    Nhằm cải thiện khả năng của chiếc Banshee như một máy bay tiêm kích đánh chặn tầm xa, Hải quân Hoàng gia Canada đã trang bị cho chiếc máy bay kiểu tên lửa AIM-9 Sidewinder. Hải quân Hoàng gia Canada thực hiện các cuộc thử nghiệm tên lửa Sidewinder trên biển vào tháng 11 năm 1959, trong đó nhiều chiếc máy bay mục tiêu giả được điều khiển từ xa đã bị bắn hạ. Sau khi những chiếc F2H-3 nghỉ hưu, quân đội Canada không bố trí một máy bay nào khác trang bị tên lửa Sidewinder cho đến khi chiếc CF-18 Hornet được đưa ra hoạt động vào năm 1982.

    Chiếc Banshee, mặc dù ban đầu được các phi công Canada ưa thích vì phẩn chất bay của nó, bắt đầu chịu các sự cố khi phục vụ trong Hải quân Hoàng gia Canada. Hai chiếc Banshee cùng phi công của nó bị mất sau khi sự cố hỏng cấu trúc cơ cấu gập cánh trong khi bay, và một chiếc Banshee bị hỏng phanh trên chiếc tàu sân bay Bonaventure, lăn khỏi sàn đáp rơi xuống biển kéo theo phi công trong buồng lái.[4] Hải quân Hoàng gia Canada mất đến 12 trong tổng số 39 chiếc Banshee ban đầu do tai nạn, một tỉ lệ tổn thất lên đến trên 30%.

    Việc sử dụng những chiếc Banshee giảm dần khi Hải quân Hoàng gia Canada chuyển hướng tập trung ưu tiên cho chiến tranh chống tàu ngầm. Tàu sân bay Bonaventure trở nên quá nhỏ để chứa nhiều chiếc Banshee trong khi cần phải mang theo một số lượng máy bay CS2F Trackers đủ để tiến hành tuần tra chống tàu ngầm liên tục, nên chiếc tàu sân bay thường rời cảng mà không mang theo những chiếc Banshee.Hơn nữa, giới quân sự Canada chịu sức ép chính trị ngày càng gia tăng phải cắt giảm ngân sách, và những chiếc Banshee đang lạc hậu trở nên đắt đỏ để duy trì do những năm tháng hoạt động nhọc nhằn trên tàu sân bay và thời tiết Bắc Đại Tây Dương khắc nghiệt ảnh hưởng. Chiếc Banshee cuối cùng của Hải quân Hoàng gia Canada nghỉ hưu vào tháng 9 năm 1962 mà không được thay thế. Nó là những máy bay tiêm kích phản lực duy nhất hoạt động trên tàu sân bay được Hải quân Hoàng gia Canada đưa vào hoạt động. Ngoại trừ ba chiếc được bảo tồn tại các viện bảo tàng, những chiếc Banshee còn lại bị cắt tháo dỡ hay bị tiêu diệt do dùng làm mục tiêu thực hành.

    Banshee là máy bay chủ yếu của đội thao diễn hàng không Canada Grey Ghosts vốn chỉ hoạt động trong thời gian ngắn. Tên của đội là một cách chơi chữ ý nghĩa của tên Banshee và màu sắc của những máy bay Hải quân Hoàng gia Canada. Đội ngũ máy bay RCN's Banshee Hải quân Hoàng gia Canada quá nhỏ bé để có thể duy trì một nhóm máy bay đặc biệt dành cho thao diễn hàng không, nên đội chỉ đơn giản bay những máy bay Banshee đang hoạt động có được vào mỗi đợt thao diễn.



    Các nước sử dụng
    Canada
    Hải quân Hoàng gia Canada
    Hoa Kỳ
    Hải quân Hoa Kỳ
    Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ

    Đặc điểm kỹ thuật (F2H-3) Đặc tính chung
    Đội bay: 01 người
    Chiều dài: 14,68 m (48 ft 2 in)
    Sải cánh: 12,72 m (41 ft 9 in)
    Chiều cao: 4,24 m (13 ft 11 in)
    Diện tích bề mặt cánh: 27,31 m² (294 ft²)
    Trọng lượng không tải: 5.980 kg (13.183 lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 12.930 kg (28.500 lb)
    Động cơ: 2 x động cơ Westinghouse J34-WE-34 turbo phản lực, lực đẩy 3.250 lbf (14,5 kN) mỗi động cơ
    Đặc tính bay
    Tốc độ lớn nhất: 848 km/h (458 knot, 527 mph) ở 3.100 m (10.000 ft)
    Tầm bay tối đa: 2.672 km (1.491 nm, 1.716 mi)
    Trần bay: 14.173 m (46.500 ft)
    Tốc độ lên cao: 30 m/s (5.900 ft/min)
    Vũ khí
    4 × pháo Colt Mk 16 20 mm (0,787 in), 150 viên đạn mỗi khẩu
    8 × rocket 60 lb hoặc
    6 × bom 500 lb và 2 × rocket 60 lb
    2 × tên lửa AIM-9 Sidewinder (trong Hải quân Hoàng gia Canada)

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    F3H Demon

    Chiếc McDonnell F3H Demon là một kiểu Máy bay tiêm kích phản lực hoạt động trên tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ. Là kiểu máy bay tiếp nối chiếc F2H Banshee, sau những sự cố ban đầu, nó đã phục vụ cho Hải quân Mỹ từ năm 1956 đến năm 1964.

    Kiểu Máy bay tiêm kích hoạt động trên tàu sân bay
    Hãng sản xuất McDonnell Aircraft Corporation
    Chuyến bay đầu tiên 7 tháng 8 năm 1951
    Được giới thiệu 7 tháng 3 năm 1956
    Hãng sử dụng chính Hải quân Hoa Kỳ
    Số lượng được sản xuất 519



    Thiết kế và phát triển

    Công việc phát triển được bắt đầu từ năm 1949. Chiếc máy bay được thiết kế chung quanh một động cơ Westinghouse J40 duy nhất, có lực đẩy trên 11.000 lbf (49 kN) - ba lần lớn hơn những động cơ của chiếc Banshee. Đây là kiểu thiết kế cánh xuôi đầu tiên được sản xuất bởi McDonnell và là một trong những máy bay chiến đấu đầu tiên của Hoa Kỳ được vũ trang bằng tên lửa.

    Chiếc nguyên mẫu bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 7 tháng 8 năm 1951 do phi công thử nghiệm Robert Edholm điều khiển, và các cuộc bay thử nghiệm phiên bản sản xuất được thực hiện trong tháng 1 năm 1953. Động cơ quả là một thất vọng lớn, chỉ cung cấp được một nữa lực đẩy được trông đợi. Tệ hơn nữa, nó lại tỏ ra thất thường và không tin cậy. Trong số 35 chiếc máy bay F3H-1N sử dụng động cơ J40, tám chiếc đã gặp các tai nạn nghiêm trọng. Những máy bay trang bị động cơ J40 phải ngừng bay và tìm kiếm một kiểu động cơ mới. Phiên bản trinh sát hình ảnh được đề nghị F3H-1P không bao giờ được chế tạo.

    Giải pháp tương tự thay thế tốt nhất là kiểu động cơ Allison J71 cũng được trang bị cho máy bay ném bom B-66 Destroyer. Những chiếc F3H sau đó gắn loại động cơ này được đặt tên là F3H-2N. Việc sử dụng kiểu động cơ này đòi hỏi cánh phải được mở rộng và thiết kế lại khung thân. Trong phục vụ, kiểu J71 cũng có vấn đề, cung cấp không đủ động lực cho một chiếc máy bay cỡ Demon. Động cơ cũng thường bị tắt lửa và đứng quạt nén. Chiếc Demon đầu tiên gắn động cơ J71 bay chuyến bay đầu tiên vào tháng 10 năm 1954. Một vấn đề đáng kể khác là độ tin cậy của ghế phóng: các phiên bản ban đầu được khám phá là không tin cậy và sau đó được thay thế bằng ghế phóng kiểu Martin-Baker sau này trở nên tiêu chuẩn cho Hải quân do tính năng hoạt động tốt ở độ cao thấp và độ tin cậy tốt hơn.

    Cho dù có những vấn đề, Hải quân Mỹ vẫn đặt hàng 239 chiếc F3H-2, và chiếc đầu tiên được bố trí là vào tháng 3 năm 1956. Có tổng cộng 519 chiếc Demon được chế tạo cho đến khi việc sản xuất ngừng vào tháng 11 năm 1959. Nó là chiếc máy bay tiêm kích đánh chặn phản lực hoạt động trong mọi thời tiết đầu tiên của Hải quân được trang bị radar (hệ thống radar AN/APG-51 đánh chặn trên không).

    Một phiên bản trinh sát hình ảnh, chiếc F3H-2P, được đề nghị nhưng chưa bao giờ được chế tạo.



    Lịch sử hoạt động

    Vũ khí trang bị tiêu chuẩn cho chiếc F3H-2N là bốn khẩu pháo Colt Mk 12 20 mm. Trong các năm sau, hai khẩu pháo phía trên được loại bỏ bớt cho nhẹ cân. Các kiểu sau, được đặt tên F3H-2M, được trang bị tên lửa không-đối-không Raytheon AAM-N-2 Sparrow và sau này là Sidewinder. Những chiếc máy bay đưa ra phục vụ được bố trí mang cả hai loại tên lửa, Sparrow trên đế trong và Sidewinder trên đế ngoài cánh. Các khẩu pháo không được sử dụng trong các nhiệm vụ phòng ngự tàu sân bay, nhưng được trang bị khi tình huống đòi hỏi (như trong Sự kiện tên lửa Cuba), và khi máy bay có thể sử dụng chống lại các mục tiêu trên mặt đất.

    Demon được giữ lại phục vụ trong các đơn vị trực chiến của Hải quân cho đến năm 1962, khi nó được tiếp nối bởi F-4 Phantom II (là một sự phát triển trên một thiết kế "Super Demon" được đề nghị, một phiên bản F3H to hơn và nặng hơn; khái niệm này sẽ được thấy lại vào thế kỷ 21 với chiếc F/A-18E/F Super Hornet, phiên bản to hơn và nhiều khả năng hơn của chiếc F/A-18 Hornet). Cho dù được phát triển trong giai đoạn Chiến tranh Triều Tiên, nó không tham gia chiến sự ở đây, mặc dù nó đã bay bên trên Lebanon và Quemoy vào năm 1958.

    Theo Hệ thống Định danh máy bay Thống nhất các binh chủng Hoa Kỳ (1962), chiếc F3H được đặt lại tên là F-3. Kiểu F3H-2N trở thành F-3C, trong khi kiểu F3H-2M là MF-3B và kiểu F3H-2 đơn giản là F-3B.

    Phi đội cuối cùng còn trang bị Demon, Phi đội VF-161 'Chargers', đổi những chiếc F-3 của họ lấy F-4 Phantom II vào tháng 9 năm 1964.

    Nhờ tầm quan sát rất tốt từ buồng lái, chiếc Demon được gọi tên lóng là "The Chair" (cái ghế), phi công lái Demon được gọi cách thông tục là "Demon Drivers" và những người làm việc với nó được gọi là "Demon Doctors".



    Các phiên bản


    XF3H-1
    Chiếc nguyên mẫu. Hai chiếc được chế tạo.
    F3H-1N
    Phiên bản máy bay tiêm kích một chỗ ngồi. Đây là kiểu được sản xuất đầu tiên.
    F3H-1P
    Phiên bản trinh sát hình ảnh đề nghị. Không được chế tạo.
    F3H-2
    Phiên bản máy bay tiêm kích một chỗ ngồi. Được đặt tên lại là F-3B vào năm 1962.
    F3H-2N
    Phiên bản máy bay tiêm kích một chỗ ngồi được cải tiến. Được đặt tên lại là F-3C vào năm 1962.
    F3H-2M
    Phiên bản máy bay tiêm kích một chỗ ngồi. Trang bị bốn tên lửa không-đối-không AIM-7. Được đặt tên lại là MF-3B vào năm 1962.
    F3H-2P
    Phiên bản trinh sát hình ảnh đề nghị. Không được chế tạo.
    F3H-3
    Phiên bản đề nghị. Không được chế tạo.

    [IMG]p://lichsuvn.info/hlv/uploads/f3h demon 04.jpg[/IMG]

    Các nước sử dụng
    Hoa Kỳ
    Hải quân Hoa Kỳ

    Đặc điểm kỹ thuật (F3H-2)
    Đặc tính chung
    Đội bay: 01 người
    Chiều dài: 17,98 m (59 ft 0 in)
    Sải cánh: 10,77 m (35 ft 4 in)
    Chiều cao: 4,45 m (14 ft 7 in)
    Diện tích bề mặt cánh: 41,1 m² (442 ft²)
    Lực nâng của cánh : 293 kg/m² (60 lb/ft²)
    Trọng lượng không tải: 9.656 kg (21.287 lb)
    Trọng lượng có tải: 14.127 kg (31.145 lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 17.700 kg (39.000 lb)
    Động cơ: 1 x động cơ Westinghouse J40-WE-22 turbo phản lực, lực đẩy 14.400 lbf (64 kN)
    Đặc tính bay
    Tốc độ lớn nhất: 1.152 km/h (622 knot, 716 mph)
    Tầm bay tối đa: 2.900 km (1.600 nm, 1.800 mi)
    Trần bay: 13.000 m (42.650 ft)
    Tốc độ lên cao: 72,9 m/s (14.350 ft/min)
    Tỉ lệ lực đẩy/khối lượng : 0,46
    Vũ khí
    4 × pháo Colt Mk 12 20 mm (0,787 in), 150 viên đạn mỗi khẩu
    2.720 kg (6.000 lb) bom
    2 × tên lửa AIM-9 Sidewinder
    Điện tửradar AN/APG-51


  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Northrop F-5

    F-5A/B Freedom Fighter (Chiến sĩ đấu tranh cho tự do) và F-5E/F Tiger II là một phần trong gia đình máy bay tiêm kích siêu âm hạng nhẹ được sử dụng rộng rãi, được thiết kế và chế tạo bởi hãng Northrop tại Hoa Kỳ, bắt đầu vào thập kỷ 1960. Hàng trăm chiếc vẫn đang hoạt động trong biên chế một số lực lượng không quân trên thế giới vào đầu thế kỷ 21, và F-5 cũng được dùng làm mẫu cho một số thiết kế máy bay khác.

    Dự án F-5 bắt đầu trong một chương trình máy bay tiêm kích hạng nhẹ do hãng Northrop đầu tư vào thập kỷ 1950. Thế hệ đầu tiên là F-5A Freedom Fighter bắt đầu hoạt động vào thập kỷ 1960. Trên 800 chiếc đã được chế tại đến năm 1972 tại các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ trong thời gian diễn ra cuộc Chiến tranh Lạnh. Mặc dù Không quân Hoa Kỳ không có nhu cầu đối với một máy bay tiêm kích hạng nhẹ, nhưng F-5 vẫn được sử dụng trong vai trò huấn luyện và khoảng 1.200 chiếc T-38 Talon được phát triển từ khung của F-5 đã được chế tạo cho vai trò huấn luyện.

    Thế hệ thứ hai F-5E Tiger II được cải tiến cũng được sử dụng chính trong các nước đồng minh của Mỹ nhưng với số lượng giới hạn, những chiếc F-5E hoạt động trong hàng không quân sự Mỹ với nhiệm vụ làm máy bay huấn luyện và đóng giả làm máy bay đối phương; F-5E Tiger II đã được chế tạo trên 1.400 chiếc mọi phiên bản, việc sản xuất kết thúc vào năm 1987. Rất nhiêu chiếc F-5 khác hiện vẫn đang tiếp tục hoạt động trong thập kỷ 1990 và 2000, sau khi trải qua rất nhiều chương trình nâng cấp nhằm đáp ứng nhu cầu trong môi trường chiến đấu luôn thay đổi. F-5 cũng được phát triển thành một phiên bản trinh sát chuyên dụng có tên RF-5 Tigereye.



    Kiểu Máy bay tiêm kích-ném bom
    Hãng sản xuất Northrop
    Chuyến bay đầu tiên 30 tháng 7-1959 (F-5A)
    11 tháng 8-1972 (F-5E)
    Được giới thiệu 1962
    Tình trạng Đang hoạt động
    Hãng sử dụng chính Không quân Hoa Kỳ
    Không quân Philippines
    Không quân Brasil
    Không quân Hàn Quốc
    Số lượng được sản xuất 836 A/B/C
    1.400+ E/F
    Chi phí máy bay 2.1 triệu USD (F-5E)[1]
    Được phát triển từ T-38 Talon
    Những phương án tương tự Canadair CF-5
    F-20 Tigershark
    HESA Azarakhsh
    HESA Saeqeh
    Northrop YF-17

    Thiết kế và phát triển


    Thiết kế đầu tiên của Northrop (có tên gọi N-156) là một máy bay tiêm kích giá thành thấp, chi phí bảo dưỡng nhỏ, do đó chỉ có một thị trường nhỏ cho loại máy bay như vậy. Nó được thiết kế gồm hai động cơ là phiên bản đốt nhiên liệu phụ trội của động cơ General Electric J85, đây là động cơ ban đầu được thiết kế cho mẫu máy bay không người lái làm mồi nhử McDonnell ADM-20 Quail, nó được mang bởi B-52 Stratofortress. Yêu cầu này tạo ra một động cơ rất nhỏ để tăng thêm tỷ lệ lực đẩy/khối lượng. Lục quân Hoa Kỳ đã tỏ ra quan tâm tới mẫu thử N-156 để sử dụng cho vai trò hỗ trợ mặt đất, nhưng việc vận hành máy bay cánh cố định lại được Không quân Hoa Kỳ đảm nhận chính. Không quân không đồng ý chấp nhận sử dụng N-156 mà cũng không cho phép lục quân sử dụng máy bay như máy bay chiến đấu cánh cố định (một tình huống lặp lại với C-7 Caribou).

    Khi Chương trình Hỗ trợ Quân đội dưới thời tổng thống John F. Kennedy cần một máy bay tiêm kích giá thành thấp để cung cấp cho các quốc gia phát triển chậm, N-156F đã được xem xét, và sau đó trở thành F-5A. Nó có tên gọi như vậy do hệ thống tên gọi máy bay quân chủng thống nhất Hoa Kỳ 1962, hệ thống này bao gồm đặt lại tên gọi máy bay tiêm kích (General Dynamics F-111 là số hiệu lớn nhất khi các máy bay với tên gọi bắt đầu bằng P/F đi vào hoạt động với trình tự đặt tên cũ).

    F-5 tỏ ra là một máy bay chiến đấu thành công cho đồng minh của Mỹ, nhưng chưa bao giờ được biên chế vào các đơn vị tiền tuyến của Mỹ vì quyền ưu tiên khác nhau của các quân chủng trong quân đội Mỹ. Không quân Mỹ chấp nhận phiên bản huấn luyện T-38 Talon dùng khung của F-5, chúng được coi như một trong những máy bay huấn luyện siêu âm đầu tiên, và thiết kế này là điểm xuất phát cho YF-17, mẫu thiết kế này sau đó đã phát triển thành F/A-18 Hornet. Dù F-5 là một máy bay tiêm kích hạng nhẹ sử dụng một động cơ, mà động cơ này được sử dụng cho máy bay không người lái làm mồi nhử, nhưng hậu duệ của nó là F/A-18E/F Super Hornet lại là một máy bay đa chức năng tương đối nặng.



    Lịch sử hoạt động

    Hợp đồng sản xuất F-5A đầu tiên được thực hiện vào năm 1962, những đơn đặt hàng đầu tiên của các nước khác bắt đầu từ Không quân Hoàng gia Na Uy vào tháng 2-1964. Đã có 636 chiếc F-5A được chế tạo cho đến khi việc sản xuất kết thúc vào năm 1972. Đi cùng với đó à 200 chiếc F-5B hai chỗ. Chúng được sử dụng để làm máy bay huấn luyện.

    Không quân Hoa Kỳ đã đánh giá khả năng không chiến của F-5A trong chương trình Skoshi Tiger vào năm 1965. 12 chiếc đã được cung cấp để thử nghiệm trong Không đoàn Tiêm kích Chiến thuật 4503 (sau này là Phi đội Tiêm kích Biệt kích 10 - FCS 10) với tên gọi chỉ định là F-5C. Những máy bay này đã tham gia chiến đấu tại các nhiệm vụ trong Chiến tranh Việt Nam, chúng thực hiện khoảng 3.500 lần xuất kích từ sân bay quân sự tại Biên Hòa, miền Nam Việt Nam đây là các máy bay thuộc Không đoàn Tiêm kích Chiến thuật số 3. Hai chiếc đã mất trong không chiến. Chương trình này đã không tồn tại lâu, nó giống như một cử chỉ chính trị hơn là sự cân nhắc nghiêm túc của chính phủ Mỹ.

    Sau chương trình đánh giá Skoshi Tiger, Không quân Philippines đã mua 23 chiếc gồm các mẫu F-5A và F-5B vào năm 1965. Những máy bay này cùng với những chiếc F-8 Crusader đã thay thế những chiếc F-86 Sabre trong vai trò phòng không và tấn công mặt đất.


    F-5C thuộc Không lực Việt Nam Cộng hòa tại Căn cứ không quân Biên Hòa, 1971Những chiếc F-5C thuộc FCS 10 còn lại sau đó được chuyển cho Không quân Việt Nam Cộng hòa cho vai trò tấn công mặt đất, trước đó chỉ có A-37 Dragonfly và A-1 Skyraider thực hiện vai trò này. Tổng thống của Việt Nam cộng hòa đã yêu cầu trang bị những chiếc F-4 Phantom II nhưng bị Mỹ từ chối, không quân Việt Nam cộng hòa chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ mặt đất do lực lượng vũ trang thuộc Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam không có các máy bay vũ trang tham chiến tại Nam Việt Nam như MiG hay các loại khác. Điều hài hước khi Lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm căn cứ Biên Hòa, vài chiếc F-5 đã bị thu giữ, những phi công là những điệp viên của Bắc Việt Nam trong quân đội Nam Việt Nam đã sử dụng chúng để tấn công lại các đơn vị của quân đội Nam Việt Nam. Trước đó phi công Nguyễn Thành Trung là một điệp viên của Bắc Việt Nam đã lái một chiếc F-5E ném bom Dinh Độc Lập vào ngày 8 tháng 4 năm 1975. Những chiếc F-5 này sau chiến tranh Việt Nam còn được sử dụng trong Chiến tranh Biên giới Tây-Nam chống lại quân Khmer Đỏ. Nhìn vào một số góc độ về kích thước và khả năng cơ động của F-5, nó có thể sẽ là một đối thủ đối với MiG-21 có cùng kích thước trong không chiến; tuy nhiên, học thuyết quân sự của Mỹ lại chú trọng đến các máy bay tầm xa, hạng nặng và nhanh hơn như F-105 Thunderchief và F-4 Phantom II để tham chiến tại Miền Bắc Việt Nam. Một vài chiếc F-5 là hàng tồn kho từ Chiến tranh Việt Nam đã được gửi cho Ba Lan và Nga, phục vụ mục đích nghiên cứu công nghệ hàng không của Mỹ, trong khi những chiếc khác đã rút khỏi hoạt đông và trưng bày trong các bảo tàng tại Việt Nam.

    Vài chiếc F-5 và F-5E dư thừa đã được bán cho các nhà sưu tập tư nhân.



    F-5E/F Tiger II

    Vào năm 1970, hãng Northrop đã chiến thắng trong một cuộc cạnh tranh nhằm giành hợp đồng cải tiến Máy bay Tiêm kích Quốc tế (IFA) nằm thay thế những chiếc F-5A. Và kết quả là một mẫu máy bay cải tiến mang tên ban đầu là F-5A-21, sau này trở thành F-5E. Nó lớn hơn và dài hơn, diện tích cánh được làm tăng lên và hệ thống điện tử hàng không tinh vi hơn, lúc đầu nó được lắp radar Emerson AN/APQ-153 (F-5 A/B không có radar). Có vài cấu hình điện tử hàng không khác nhau phù hợp với từng yêu cầu của các khách hàng nước ngoài. Một phiên bản huấn luyện hai chỗ có khả năng chiến đấu cũng được chế tạo mang tên F-5F. Không giống như F-5B không được trang bị các khẩu pháo, F-5F giữ lại một khẩu pháo M39 ở phần mũi, mặc dù số lượng đạn có giảm xuống. F-5F trang bị radar Emerson AN/APQ-157, đây là một sản phẩm phát triển từ AN/APQ-153, với hệ thống điều khiển kép và màn hình hiển thị cho hai phi công trên máy bay, và radar này có tầm hoạt động tương đương với AN/APQ-153, khoảng 10 hải lý. Một phiên bản trinh sát mang tên RF-5E Tigereye, với khối cảm biến ở mũi thay thế cho radar và khẩu pháo cũng được chế tạo.

    Những chiếc F-5 gần đây đã được nâng cấp radar thành loại Emerson AN/APG-69, là radar kế vị của AN/APQ-159, nó trang bị khả năng vẽ bản đồ, tuy nhiên, đa số quốc gia lại quyết định không nâng cấp vì lý do tài chính, và radar này chỉ hoạt động rất giới hạn trong các phi đội đóng giả máy bay địch của Không quân Mỹ và Không quân Thụy Sĩ.

    F-5E dần dần mang cái tên không chính thức là Tiger II. F-5E trải qua nhiều chương trình nâng cấp trong thời gian hoạt động, và cải tiến có giá trị lớn nhất là trang bị radar mảng hai chiều Emerson AN/APQ-159 với tầm hoạt động khoảng 20 hải lý, thay thế cho radar AN/APQ-153. Những chương trình nâng cấp radar tương tự cũng được dự định thực hiện trên F-5F, với những radar bắt nguồn từ AN/APQ-159 là AN/APQ-167, thay thế radar AN/APQ-157, nhưng nó chưa vào giờ được thực hiện.

    Hãng Northrop đã chế tạo 792 chiếc F-5E, 140 chiếc F-5F và 12 chiếc RF-5E. Ngoài ra các nước khác cũng sản xuất F-5 theo giấy phép nhượng quyền sản xuất, Malaysia đã chế tạo chiếc 56 F-5E/F cộng 5 chiếc RF-5E, họ đang có kế hoạch bán những máy bay này sau khi nâng cấp chúng; Thụy Sĩ đã chế tạo 90 chiếc F-5E/F, hiện nay chúng đang hoạt động tại Áo theo dạng cho mượn, nhằm lấp chỗ trống trong khi phi đội Saab Draken ngừng hoạt động và những máy bay Eurofighter Typhoon chưa được cung cấp; Hàn Quốc chế tạo 68 chiếc; và Đài Loan chế tạo 308 chiếc.



    Những phiên bản F-5 khác vẫn còn đang tiếp tục hoạt động trong không quân rất nhiều quốc gia. Singapore đã có xấp xỉ 49 chiếc F-5 hiện đại hóa có tên F-5S (một chỗ) và F-5T (hai chỗ). Việc nâng cấp bao gồm radar GRIFO mới, nâng cấp buồng lái với màn hình hiển thị đa chức năng và khả năng tương thích với tên lửa không đối không Rafael Python và AIM-120 AMRAAM.

    Những chương trình nâng cấp tương tự đã được thực hiện tại Chile và Brazil với sự giúp đỡ của Elbit. F-5 nâng cấp của Chile có tên gọi F-5 Plus, trang bị radar Elta 2032 mới và những cải tiến khác. Chương trình F-5 của Brazil với tên gọi F-5M (Modernized - Hiện đại hóa), trang bị tên lửa Python V kết hợp với hệ thống hiển thị trên mũ DASH và radar GRIFO mới, những màn hình hiển thị trong buồng lái mới và hệ thống dẫn đường điện tử. F-5M của Brazil cũng được trang bị tên lửa Derby của Israel và có thể hoạt động trong môi trường BVR (ngoài tầm nhìn của phi công). Trong cuộc tập trận đa quốc gia Cruzex 2006, F-5M có tỷ lệ bắn hạ ba chiếc Dassault Mirage 2000 khi sử dụng tên lửa Derby, với sự hỗ trợ của máy bay AEW Embraer R-99 trang bị radar AESA, nó đã cung cấp thông tin cho F-5M bằng đường truyền liên kết dữ liệu.[3]

    Những chương trình nâng cấp F-5 khác cũng được thực hiện trong Không quân Hoàng gia Thái Lan bởi Israel với tên gọi F-5T Tigris, nó được trang bị tên lửa Python 3 và 4 (với hệ thống tín hiệu hiển thị trên mũ phi công DASH). Không giống như những chiếc F-5 khác đã qua cải tiến, những chiếc F-5T của Thái Lan không sử dụng tên lửa BVR.

    Một chiếc F-5E của NASA đã được sửa đổi hình dạng thân để tham gia vào chương trình Shaped Sonic Boom Demonstration

    Hoa Kỳ

    Dù Mỹ không sử dụng F-5 cho vai trò máy bay chiến đấu tiền tuyến, nó đã được sử dụng để đóng giả máy bay đối phương (OPFOR) cho vai trò huấn luyện vì kích thước nhỏ và có hiệu suất khá tương đồng với MiG-21 của Liên Xô.

    F-5E hoạt động trong Không quân Mỹ từ năm 1975 đến năm 1990, chủ yếu chúng hoạt động trong Phi đội đóng giả máy bay đối phương số 64 và 65 tại Căn cứ không quân Nellis tại Nevada, và trong phi đội đóng giả máy bay đối phương số 527 tại Căn cứ không quân Hoàng gia Anh Alconbury tại Vương quốc Anh và phi đội đóng giả máy bay đối phương số 26 tại Căn cứ không quân Clark tại Philippines. Thủy quân lục chiến Mỹ cũng đã sử dụng những chiếc F-5 cũ từ không quân vào năm 1989 để thay thế những chiếc F-21 của mình. Chúng được biên chế trong phi đội VMFT-401 tại Trạm không lực thủy quân lục chiến Yuma, phi đội F-5 tiếp tục được hiện đại hóa với những chiếc F-5N mua từ Thụy Sĩ. Hải quân Mỹ sử dụng những chiếc F-5E tại Trường huấn luyện vũ khí chiến đấu hải quân tại căn cứ Miramar, trong các phi đội VF-127, VF-43 và VF-45. Hiện nay, chỉ có duy nhất phi đội VFC-13 của hải quân sử dụng F-5 tại căn cứ Fallon, Nevada và phi đội VFC-111 tại căn cứ Key West, Florida.



    Các phiên bản

    Phiên bản một chỗ
    N-156F
    Nguyên mẫu tiêm kích một chỗ. 3 chiếc được chế tạo.
    YF-5A
    3 nguyên mẫu được chuyển cho Không quân Mỹ với tên gọi YF-5A.
    F-5A
    Phiên bản tiêm kích một chỗ.
    F-5A (G)
    Phiên bản tiêm kích một chỗ của F-5A cho Không quân Hoàng gia Na Uy.
    XF-5A
    Tên gọi cho một chiếc F-5A thử nghiệm tĩnh.
    F-5C Skoshi Tiger
    12 chiếc F-5A Freedom Fighter được thử nghiệm bởi không quân Mỹ trong 4 tháng rưỡi tại Việt Nam.
    F-5E Tiger II
    Phiên bản tiêm kích một chỗ.
    F-5E Tiger III
    Phiên bản nâng cấp của F-5E cho Không quân Chile.
    F-5F Tiger II
    Phiên bản tiêm kích một chỗ cho Không quân Tunisia
    F-5G
    Tên gọi tạm thời lúc đầu cho F-20A Tigershark.
    F-5N
    F-5E cũ của Không quân Thụy Sĩ bán cho Hải quân để làm máy bay mồi nhử, dự định thay thế những chiếc F-5E trong hải quân và thủy quân lục chiến Mỹ trong vai máy bay đối phương, hoạt động đến năm 2015.
    F-5S
    Phiên bản nâng cấp của F-5E cho Không quân Cộng hòa Singapore. Có thể mang tên lửa AIM-120 AMRAAM.
    F-5T Tigris
    Phiên bản nâng cấp của F-5E chho Không quân Hoàng gia Thái Lan bởi Israel.
    F-5EM
    Phiên bản nâng cấp của F-5E cho Không quân Brasil.

    Phiên bản trinh sát
    RF-5A
    Phiên bản trinh sát một chỗ của máy bay tiêm kích F-5A.
    RF-5A (G)
    Phiên bản trinh sát một chỗ của F-5A cho Không quân Hoàng gia Na Uy.
    RF-5E Tigereye
    Phiên bản trinh sát một chỗ của F-5E. RF-5E Tigereye được xuất khẩu cho Saudi Arabia, Iran và Malaysia.
    RF-5E Tigergazer
    Phiên bản trinh sát một chỗ nâng cấp của F-5E. Tigergazer hiện đang hoạt động tại Đài Loan.
    RF-5S Tigereye
    Phiên bản trinh sát một chỗ của F-5S cho Không quân Cộng hòa Singapore.

    Phiên bản hai chỗ
    F-5-21
    Tên gọi tạm thời lúc đầu cho YF-5B.
    YF-5B
    Một chiếc F-5B trang bị động cơ General Electric J85-GE-21 5.000 lb s.t (2.268 kg), và sử dụng như một nguyên mẫu cho F-5E Tiger II.
    F-5B
    Phiên bản huấn luyện hai chỗ.
    F-5B(G)
    Phiên bản huấn luyện hai chỗ của F-5B cho Không quân Hoàng gia Na Uy.
    F-5D
    Phiên bản huấn luyện không chế tạo.
    F-5F Tiger II
    Phiên bản huấn luyện hai chỗ.
    F-5F Tiger III
    Phiên bản huấn luyện hai chỗ nâng cấp của F-5F cho Chile.
    F-5T
    Phiên bản huấn luyện nâng cấp của F-5F cho Singapore.
    F-5FM
    Phiên bản huấn luyện nâng cấp của F-5F cho Brasil.



    Phiên bản nước ngoài

    Phiên bản sản xuất theo giấy phép
    CF-5A
    Phiên bản tiêm kích một chỗ cho Lực lượng vũ trang Canada. Chế tạo theo giấy phép tại Canada bởi hãng Canadair với tên gọi CF-116 Freedom Fighter. Tên gọi của Canada là CF-116A. 89 chiếc.
    CF-5A(R)
    Phiên bản trinh sát một chỗ của CF-5A. Chế tạo với số lượng rất nhỏ cho Lực lượng vũ trang Canada. Tên gọi của Canada là CF-116A(R).
    CF-5D
    Phiên bản huấn luyện hai chỗ của Canada. Tên gọi của Canada là CF-116D. 46 chiếc.
    NF-5A
    Phiên bản tiêm kích một chỗ của CF-5A cho Không quân Hoàng gia Hà Lan. 75 chiếc.
    NF-5B
    Phiên bản huấn luyện hai chỗ của CF-5D cho Hà Lan. 30 chiếc.

    SF-5A
    Phiên bản tiêm kích một chỗ của F-5A cho Không quân Tây Ban Nha. Do hãng [Construcciones Aeronáuticas SA|CASA]] của Tây Ban Nha chế tạo.
    SRF-5A
    Phiên bản trinh sát một chỗ của RF-5A cho Tây Ban Nha. Hãng CASA chế tạo.
    SF-5B
    Phiên bản huấn luyện hai chỗ của F-5B cho Tây Ban Nha.
    VF-5A
    Phiên bản tiêm kích một chỗ CF-5A cho Không quân Venezuela. Tên gọi này được sử dụng cho những máy bay Canadair CF-116 nào được bán cho Venezuela.
    VF-5D
    Phiên bản huấn luyện hai chỗ của CF-5D cho Venezuela.
    KF-5E
    F-5E do Hàn Quốc chế tạo cho Không quân Hàn Quốc.
    KF-5F
    F-5F do Hàn Quốc chế tạo cho Không quân Hàn Quốc

    Phiên bản sản xuất không theo giấy phép

    Azarakhsh
    F-5E do Iran chế tạo với những cải tiến chưa được nhận biết ở cánh
    Sa'eqeh
    F-5E cải tiến của Iran, có hai cánh thăng bằng thẳng đứng.

    Những máy bay bắt nguồn từ F-5
    Thiết kế của F-5 đã được sử dụng để tạo ra hai mẫu máy bay:

    YF-17 Cobra
    Bài chi tiết: YF-17 CobraF-5 cũng là điểm xuất phát cho một loạt những thiết kế mở rộng. Bắt đầu từ F-5E, Northrop đã phát triển N-300, sau đó là thiết kế P530 kết hợp mở rộng gờ trước cánh máy bay (LERX), và thân và cánh lớn hơn, và động cơ mạnh hơn. Kết quả cuối cùng là YF-17 Cobra, một đối thủ trong chương trình Máy bay tiêm kích hạng nhẹ, và là cơ sở xủa F/A-18 Hornet.

    F-20 Tigershark
    Bài chi tiết: F-20 TigersharkF-5 đã được xem từ lâu như một máy bay tiêm kích không thích hợp sử dụng ở tiền tuyến của lực lượng vũ trang Mỹ. Northrop đã thử phát triển một phiên bản tiên tiến của F-5E, có tên gọi lúc đầu làF-5G, như một đối thủ xuất khẩu cạnh tranh của F-16 Fighting Falcon. F-5G sau đó được đổi tên thành F-20 Tigershark. Nó nhận được những quan tâm như một giải pháp tốn ít chi phí những có năng lực tương đương với những phiên bản đầu của F-16 (và cao cấp hơn phiên bản xuất khẩu chưa bao giờ xuất khẩu F-16/79), nhưng nó chưa bao giờ được xem là thiết kế máy bay tiêm kích mới với chi phí thấp.


    Các quốc gia sử dụng

    Áo
    Không quân Áo: Mượn từ Thụy Sĩ
    Bahrain
    Không quân Hoàng gia Bahrain
    Botswana
    Lực lượng Không đoàn Phòng thủ Botswana
    Brasil
    Không quân Brasil
    Canada
    Bộ chỉ huy Lực lượng trên không Canada
    Chile
    Không quân Chile
    Ethiopia
    Không quân Ethiopia
    Hy Lạp
    Không quân Hy Lạp
    Honduras
    Không quân Honduras
    Indonesia
    Không quân Indonesia



    Iran
    Không quân Cộng hòa Hồi giáo Iran
    Jordan
    Không quân Hoàng gia Jordan
    Kenya
    Không quân Kenya
    Libya
    Không quân Libya
    Malaysia
    Không quân Hoàng gia Malaysia
    Mexico
    Không quân Mexico: Sử dụng 6 F-5E và 2 F-5F
    Maroc
    Không quân Hoàng gia Maroc
    Hà Lan
    Không quân Hoàng gia Hà Lan
    Na Uy
    Không quân Hoàng gia Na Uy
    Pakistan
    Không quân Pakistan: Sử dụng F-5 mượn từ các nước khác trong chiến tranh với Ấn Độ.
    Philippines
    Không quân Philippines: Hầu hết F-5 đã ngừng sử dụng vào cuối năm 2006, trừ 52 F-5B để nâng cấp cải tiến - TBD

    Trung Hoa Dân Quốc
    Không quân Cộng hòa Trung Hoa: F-5A/B được chuyển giao đầu tiên vào năm 1965. Từ năm 1973 đến năm 1986, Đài Loan đã sản xuất 308 chiếc F-5E/F theo giấy phép sản xuất. Những lô sau đó đã có kiểu F-20 làm dẹt phần mũi và LERX mở rộng.[5]
    Hàn Quốc
    Không quân Hàn Quốc
    Ả Rập Saudi
    Không quân Hoàng gia Saudi
    Singapore
    Không quân Cộng hòa Singapore
    Tây Ban Nha
    Không quân Tây Ban Nha
    Việt Nam Cộng hòa

    Không lực Việt Nam Cộng hòa
    Việt Nam
    Không quân Nhân dân Việt Nam (sử dụng những chiếc chiếm được từ Việt Nam Cộng hòa)
    Thụy Sĩ
    Không quân Thụy Sỹ
    Thái Lan
    Không quân Hoàng gia Thái Lan: F-5A/B/E sẽ ngừng hoạt động năm 2011 và JAS 39 Gripen sẽ thay thế chúng. F-5T Tigris hiện vẫn đang hoạt động.
    Tunisia
    Không quân Tunisia
    Thổ Nhĩ Kỳ
    Không quân Thổ Nhĩ Kỳ
    Hoa Kỳ
    Không quân Hoa Kỳ
    Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ
    Hải quân Hoa Kỳ
    Venezuela
    Không quân Venezuela
    Yemen
    Không quân Yemen

    Thông số kỹ thuật (F-5E Tiger II)



    Đặc điểm riêng
    Phi đoàn: 1
    Chiều dài: 47 ft 4¾ in (14.45 m)
    Sải cánh: 26 ft 8 in (8.13 m)
    Chiều cao: 13 ft 4½ in (4.08 m)
    Diện tích cánh: 186 ft² (17.28 m²)
    Cánh: gốc-NACA 65A004.8, đầu-NACA 64A004.8
    Trọng lượng rỗng: 9.558 lb (4.349 kg)
    Trọng lượng cất cánh: n/a
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 24.664 lb (11.187 kg)
    Động cơ: 2× General Electric J85-GE-21B, 3.500 lbf (15.5 kN) và 5.000 lbf (22.2 kN) khi đốt nhiên liệu phụ trội với mỗi động cơ
    Hệ số kéo lực nâng Zezo: 0.0200
    Diện tích kéo: 3.4 ft² (0.32 m²)
    Tỷ lệ hướng: 3.86
    Nhiên liệu chứa trong: 677 US gal (2.563 L)
    Nhiên liệu chứa ngoài: 275 US gal (1.040 L)/thùng cho 3 thùng
    Hiệu suất bay
    Vận tốc cực đại: 917 kn (1.060 mph, 1.700 km/h, mach 1.6)
    Tầm bay: 2.010 nmi (2.310 mi, 3.720 km)
    Bán kính chiến đấu: 760 nmi (870 mi, 1.405 km)
    Trần bay: 51.800 ft (15.800 m)
    Vận tốc lên cao: 34.400 ft/min (175 m/s)
    Lực nâng của cánh: n/a
    Tỷ lệ lực nâng-kéo: 10.0
    Vũ khí
    Pháo: 2× khẩu 20 mm Pontiac M39A2 ở mũi, 280 viên/khẩu fighter only
    Bom:

    M129 Leaflet
    500 lb (225 kg) Mk82
    2.000 lb (900 kg) Mk84
    Bom chùm CBU-24/49/52/58
    Tên lửa:

    Tổng cộng 7.000 lb (3.200 kg).
    AIM-7 Sparrow
    AIM-9 Sidewinder
    AGM-65 Maverick
    AIM-120 AMRAAM

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    6
    F-8 (F8U) Crusader

    F-8 Crusader (Thập Tự Quân), tên hiệu ban đầu là F8U, là máy bay tiêm kích 1 động cơ của Hoa Kỳ trang bị cho tàu sân bay được chế tạo bởi hãng Chance-Vought ở Dallas, Texas. Nó được xử dụng thay cho chiếc Vought F-7 Cutlass. Nguyên mẫu F-8 được hoàn thành vào tháng 2 năm 1955, và là chiếc máy bay tiêm kích Mỹ cuối cùng được trang bị pháo như là vũ khí căn bản. Phiên bản trinh sát hình ảnh RF-8 Crusader được phát triển và phục vụ lâu hơn trong quân đội Hoa Kỳ. RF-8 có vai trò chủ yếu trong Sự kiện tên lửa Cuba, cung cấp những không ảnh tầm thấp cần thiết không thể có được bằng những phương tiện khác. Những đơn vị Hải quân dự bị tiếp tục xử dụng RF-8 cho đến năm 1987.
    Kiểu Máy bay tiêm kích
    Hãng sản xuất
    Chuyến bay đầu tiên 25 tháng 3 năm 1955
    Được giới thiệu 1957
    Tình trạng nghỉ hưu
    Hãng sử dụng chính Hải quân Hoa Kỳ
    Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ
    Hải quân Pháp
    Quân đội Philippines
    Số lượng được sản xuất 1.261



    Thiết kế và phát triển
    Tháng 9 năm 1952, Hải quân Hoa Kỳ công bố yêu cầu cho một chiếc máy bay tiêm kích mới. Nó phải đạt tốc độ tối đa 1,2 Mach ở độ cao 9.150 m (30.000 ft), tốc độ lên cao 127 m/s (25.000 ft/min), và tốc độ hạ cánh không lớn hơn 160 km/h (100 mph). Kinh nghiệm Chiến tranh Triều Tiên cho thấy súng máy 12.7 mm (0.50 in) là không đủ và do đó chiếc máy bay mới sẽ mang pháo 20 mm (0.8 in). Để đáp ứng, nhóm thiết kế Vought do John Russell Clark lãnh đạo đã tạo ra chiếc V-383. Điểm khác thường đối với máy bay tiêm kích là nó có cánh gắn cao để chỉ cần bộ càng đáp ngắn và nhẹ.

    Đổi mới trong thiết kế bên ngoài là cánh có góc tới thay đổi xoay được 7° khỏi thân khi cất và hạ cánh, cho phép gia tăng lực nâng vì có góc tấn công cao hơn mà không giảm tầm nhìn trước vì thân vẫn giữ nằm ngang.Cùng lúc, lực nâng được tăng cường bởi mép trước cánh hạ 25° và cánh tà duỗi ra 30°. Phần còn lại của máy bay được áp dụng các cải tiến khí động học hiện đại với thân máy bay thiết kế giảm sốc (area ruled), các cánh ổn định di động toàn bộ, mấu dạng "răng chó" trên cánh gấp để nâng cao tính ổn định ngang, và kim loại titan được dùng rộng rãi trong khung máy bay. Động lực được cung cấp bởi động cơ turbo phản lực Pratt & Whitney J57 có đốt sau và vũ khí, như yêu cầu của Hải quân, gồm 4 pháo 20 mm, 1 khay thu vào được mang 32 rocket Mighty Mouse FFAR không dẫn đường, và giá mang 2 tên lửa đối không AIM-9 Sidewinder.[2] Hãng Vought cũng giới thiệu 1 phiên bản trinh sát chiến thuật đặt tên là V-382. F-8 Crusader là chiếc máy bay tiêm kích Hoa Kỳ cuối cùng trang bị pháo như là vũ khí căn bản.

    Cạnh tranh chính đến từ Grumman với chiếc F-11 Tiger gắn động cơ General Electric J79, McDonnell với phiên bản nâng cấp F3H Demon 2 động cơ (sau này là F-4 Phantom II), và North American với chiếc F-100 Super Sabre cải biến để phục vụ trên tàu sân bay được đặt tên là Super Fury.
    Tháng 5 năm 1953, thiết kế của Vought được công bố thắng thầu, và đến tháng 5 Vought nhận được đơn đặt hàng 3 nguyên mẫu XF8U-1 (sau khi áp dụng hệ thống đặt tên thống nhất vào tháng 9 năm 1962, F8U trở thành F-8). Chiếc nguyên mẫu đầu tiên bay vào ngày 25 tháng 3 năm 1955 do John Konrad cầm lái. Máy bay vượt tốc độ âm thanh ngay trong chuyến bay mở màn.[1] Việc phát triển diễn tiến suôn sẽ và chiếc nguyên mẫu thứ hai, cùng với chiếc sản xuất thật F8U-1, bay lần đầu cùng vào ngày 30 tháng 9 năm 1955. Vào ngày 4 tháng 4 năm 1956, F8U-1 cất cánh lần đầu bằng máy phóng trên chiếc tàu sân bay USS Forrestal.

    Crusader III
    Song song với kiểu F8U-1 và -2, nhóm thiết kế cũng làm việc trên một chiếc máy bay lớn hơn với tính năng cao hơn, đặt tên nội bộ là V-401. mặc dù F8U-3 Crusader III có bề ngoài tương tự Crusader và chia sẽ những yếu tố thiết kế như cánh có góc tới thay đổi, chiếc tiêm kích mới lớn hơn đáng kể chia sẽ rất ít thành phần chung.

    Lịch sử hoạt động
    Nguyên mẫu XF8U-1 được Phi đội Thử nghiệm VX-3 bắt đầu đánh giá từ cuối năm 1956, chỉ với ít sự cố ghi nhận. Vũ khí được phát triển tại căn cứ không lực Hải quân China Lake và tại đây một chiếc F8U-1 đã lập kỹ lục bay mới vào tháng 8 năm 1956. Trung tá "Duke" Windsor lập và tự phá một kỷ lục về tốc độ bay ngang là 1.015,428 dặm mỗi giờ vào ngày 21 tháng 8 năm 1956, phá kỹ lục cũ 822 dặm mỗi giờ của F-100 Super Sabre thuộc Không lực Hoa Kỳ.

    Một chiếc F8U-1 thời kỳ đầu được cải tiến thành máy bay trinh sát hình ảnh, trở thành chiếc F8U-1P đầu tiên, sau này là RF-8A được trang bị máy ảnh thay cho pháo và tên lửa.
    Những đơn vị trên hạm đội đầu tiên
    Phi đội đầu tiên của hạm đội bay Crusader là VF-32 tại căn cứ không lực Hải quân Cecil Field, Florida, vào năm 1957, bố trí đến Địa Trung Hải cuối năm đó trên chiếc tàu sân bay USS Saratoga (CV-60)'. VF-32 được đặt tên lại là "Swordsmen" (Kiếm sĩ) cho hạp với tên Crusader (Thập Tự Quân). Hạm Đội Thái Bình Dương nhận được những chiếc Crusader đầu tiên tại căn cứ không lực Hải quân Moffett Field ở Bắc California và phi đội VF-154 "Grandslammers" (sau đổi tên là "Black Knights") bắt đầu hoạt động những chiếc F-8 của họ. Trễ hơn trong năm 1957 tại San Diego, Phi đội VMF-122 nhận được những chiếc Crusader đầu tiên cho Thủy quân Lục chiến.

    Vào năm 1962 Bộ Quốc Phòng chuẩn hóa việc đặt tên hiệu các máy bay quân sự theo trình tự của Không quân. Do đó, F8U trở thành F-8, và phiên bản F8U-1 gọi là F-8A.
    Những đơn vị trên hạm đội đầu tiên
    Phi đội đầu tiên của hạm đội bay Crusader là VF-32 tại căn cứ không lực Hải quân Cecil Field, Florida, vào năm 1957, bố trí đến Địa Trung Hải cuối năm đó trên chiếc tàu sân bay USS Saratoga (CV-60)'. VF-32 được đặt tên lại là "Swordsmen" (Kiếm sĩ) cho hạp với tên Crusader (Thập Tự Quân). Hạm Đội Thái Bình Dương nhận được những chiếc Crusader đầu tiên tại căn cứ không lực Hải quân Moffett Field ở Bắc California và phi đội VF-154 "Grandslammers" (sau đổi tên là "Black Knights") bắt đầu hoạt động những chiếc F-8 của họ. Trễ hơn trong năm 1957 tại San Diego, Phi đội VMF-122 nhận được những chiếc Crusader đầu tiên cho Thủy quân Lục chiến.

    Vào năm 1962 Bộ Quốc Phòng chuẩn hóa việc đặt tên hiệu các máy bay quân sự theo trình tự của Không quân. Do đó, F8U trở thành F-8, và phiên bản F8U-1 gọi là F-8A.

    Phục vụ hạm đội
    Crusader trở nên máy bay tiêm kích ban ngày cơ bản, hoạt động trên các tàu sân bay. Thời ấy, các phi đoàn trên tàu sân bay trãi qua một loạt các kiểu máy bay ngày và đêm khác nhau, vì sự tiến bộ nhanh chóng của động cơ và thiết bị bay. Một số phi đội sử dụng kiểu máy bay trong thời gian rất ngắn trước khi được trang bị kiểu máy bay mới tính năng tốt hơn. Crusader là chiếc máy bay đầu tiên sau chiến tranh Triều Tiên có thời gian sử dụng với hạm đội tương đối dài giống như chiếc F-105, một thiết kế hiện đại, và có lẽ đã được phục vụ lâu hơn nữa nếu cuộc chiến tại Việt Nam không làm tiêu hao do chiến đấu và thiệt hại trong sử dụng.

    Phiên bản Crusader trinh sát không vũ trang hoạt động trên tàu sân bay dưới hình thức một chi đội (detachment) biệt phái từ các Phi đội VFP-62 hay VFP-63 để cung cấp khả năng trinh sát hình ảnh. Trong Sự kiện Tên lửa Cuba năm 1962, RF-8 đã bay những phi vụ trinh sát hình ảnh tầm thấp cực kỳ nguy hiểm trên không phận Cuba.

    Tai nạn
    Crusader không phải là máy bay dễ điều khiển, và hay xảy ra tai nạn khi hạ cánh trên tàu sân bay khi nó bị mất thăng bằng và hư hại bánh đáp trước. Không ngạc nhiên chút nào khi tần suất tai nạn tương đối cao so sánh với những máy bay thời đó như A-4 Skyhawk và F-4 Phantom II. Dù sao, máy bay cũng có những khả năng đáng phục, được chứng minh khi nhiều lần những phi công không may được phóng lên bằng máy phóng trong khi cánh còn gập lại. Chiếc Crusader vẫn bay được trong tình trạng đó, cho dù phi công được yêu cầu giảm tải trọng bằng cách bỏ rơi vũ khí và nhiên liệu rồi quay lại tàu



    Phục vụ tại Việt Nam
    Khi xung đột xảy ra trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, chính là những chiếc Crusader của Hải quân đầu tiên đối đầu với MiG Không quân Quân đội Nhân dân Việt Nam vào tháng 8 năm 1965. Mặc dù MiG được cho là đã bắn rơi 1 chiếc Crusader, tất cả các máy bay đều trở về an toàn. Vào lúc đó, Crusader là máy bay không chiến tốt nhất mà Hoa Kỳ có để chống lại những chiếc MiG nhanh nhẹn của Bắc Việt Nam. Hải quân đã nâng cấp vai trò "tiêm kích đêm" của nó trong phi đoàn thành vai trò tiêm kích ngăn chặn trong mọi thời tiết. Chiếc F-4 Phantom II, được trang bị để chống máy bay ném bom từ tầm xa bằng tên lửa như AIM-7 Sparrow là vũ khí đối không duy nhất, và không đặt nặng độ cơ động trong thiết kế. Các nhà chuyên môn tin rằng thời đại của cận chiến đã kết thúc vì tên lửa đối không sẽ bắn hạ đối thủ trước khi nó đến gần đủ để cận chiến. Khi không chiến xảy ra trên bầu trời Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến 1968, rõ ràng là cận chiến chưa kết thúc và F-8 Crusader với đội bay được huấn luyện kỹ để không chiến là yếu tố để thành công.

    Cho dù là "máy bay tiêm kích bắn pháo" cuối cùng, F-8 chỉ dành được 4 thắng lợi với pháo — còn lại là do tên lửa AIM-9 Sidewinder, một phần là do xu hướng dễ bị kẹt của cơ cấu nạp đạn trên khẩu pháo Colt Mark 12 dưới tác động của lực G khi cơ động cận chiến tốc độ cao.Dù sao, Crusader được Hoa Kì ghi nhận có tỉ lệ thắng:thua cao nhất trong mọi máy bay Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, 19:3. Trong số 19 máy bay bị hạ, có 16 chiếc MiG-17 và 3 chiếc MiG-21.Tuy nhiên các phi công Việt Nam lại tuyên bố đã bắn rơi 11 chiếc F-8

    Những phục vụ cuối cùng trong Hải quân
    Phiên bản Crusader chiến đấu cuối cùng phục vụ trong Hải quân được nghỉ hưu khỏi phi đội VF-191 và VF-194 trên tàu sân bay USS Oriskany (CV-34) vào năm 1976 sau gần hai thập kỷ phục vụ là một kỷ lục của Hải quân. Phiên bản trinh sát hình ảnh RF-8G tiếp tục phục vụ thêm 11 năm nữa tại phi đội VFP-63 cho đến năm 1982, và lực lượng Hải quân Dự bị sử dụng RF-8 trong các phi đội VFP-206 và VFP-306 choh đến khi giải tán VFP-306 (1984) và VFP-206 ngày 29 tháng 3-1987, khi những chiếc Crusader hoạt động cuối cùng được chuyển cho Bảo tàng Quốc gia Hàng không và Không gian

    NASA
    Nhiều chiếc F-8 cải tiến được NASA sử dụng vào đầu những năm 70, thử nghiệm tính khả thi của kỹ thuật điều khiển bằng dây dẫn kỹ thuật số (digital fly-by-wire) và cánh siêu-tới hạn.

    Hải quân Pháp

    F-8E(FN) là kiểu Crusader cuối cùng được sản xuất và 42 chiếc được Hải quân Pháp (Aéronavale) đặt hàng để sử dụng trên những chiếc tàu sân bay mới Clemenceau (R 98) và Foch (R 99). Chiếc Phantom II trở nên quá to cho những chiếc tàu sân bay nhỏ của Pháp, nên Crusader đã được chọn. Một chiến dịch đánh giá được thực hiện trên chiếc Clemenceau vào ngày 16 tháng 3 năm 1962 bởi 2 chiếc F-8 của phi đội VF-32 từ tàu sân bay Mỹ USS Saratoga.

    Crusader Pháp trang bị vũ khí tương tự như F-8E Hải quân Mỹ, nhưng hệ thống cánh nhỏ được cải tiến và có thể mang 2 tên lửa Pháp Matra R.530 hay SRM hoặc 4 tên lửa tầm nhiệt Matra R550 Magic thay chỗ Sidewinder. Phi đội 12.F được tái hoạt động ngày 15 tháng 10 năm 1964 với 12 chiếc, và ngày 1 tháng 3 năm 1965 phi đội 14.F được nhận máy bay thể thay thế những chiếc Corsair cũ.

    Trong tháng 10 năm 1974 (trên chiếc Clemenceau) và tháng 6-1977 (trên chiếc Foch), máy bay của phi đội 14.F tham gia những phi vụ Saphir tại Djibouti. Ngày 7 tháng 5 năm 1977, trong phi vụ huấn luyện, hai chiếc Crusader bay độc lập trong tuần tra chống lại những chiếc F-100 Super Sabre thuộc Không quân Pháp thuộc phi đội "4/11 Jura" đặt căn cứ tại Djibouti. Chỉ huy đội bay phát hiện 2 máy bay tiêm kích và tiếp cận không chiến (như bài tập huấn luyện), nhưng nhanh chóng gọi đồng đội đến hỗ trợ vì đã tiếp cận 2 chiếc Mig-21 Fishbed của Yemen. Hai máy bay tiêm kích Pháp đã bật cần gạt vũ khí chính lên vị trí "mở", nhưng cuối cùng mọi người quay về căn cứ. Đây là lần duy nhất Crusader Pháp tham gia đối đầu trong chiến đấu.

    Crusader của Hải quân Pháp đã bay những phi vụ chiến đấu tại Li-băng năm 1983 hộ tống những chiếc máy bay cường kích Super Etendard. Tháng 10 năm 1984, Pháp gửi tàu sân bay Foch với phi đội 12.F đến ngoài khơi bờ biển Libya trong chiến dịch Mirmillon, trong một mâu thuẫn với Đại tá Ghaddafi. Tình hình căng thẳng leo thang tại vùng vịnh Ba Tư, do chiến tranh Iran-Iraq, dẫn đến việc bố trí lực lượng đặc nhiệm quanh chiếc Clemenceau cùng phi đội 12.F. Năm 1993 bắt đầu những phi vụ tại các nước thuộc Nam Tư cũ, Crusader bay từ cả 2 tàu sân bay đang tuần tra trong biển Adriatic, những phi vụ này kết thúc vào tháng 6-1999 bằng chiến dịch Trident trên Kosovo.

    Những chiếc Crusader được làm mới (nhưng không hiện đại hóa) bắt đầu từ năm 1991, 17 chiếc còn lại được kéo dài thời hạn sử dụng bao gồm năng cấp hệ thống điện tử, trong đó có hệ thống cảnh báo laser và được đặt tên lại là F-8P, P thay cho "Prolonge" (kéo dài) và không nên nhầm với F-8P của Philippines). Mặc dù Hải quân Pháp tham gia những chiến dịch năm 1991 trong Chiến tranh Vùng Vịnh và tại Kosovo năm 1999, những chiếc Crusader được giữ ở tuyến sau và sau đó được thay thế bằng Rafale M vào năm 2000, là những phục vụ quân sự cuối cùng của nó.

    Không quân Philippines
    Cuối năm 1977, chính phủ Philippines mua 35 chiếc F-8H cũ của Hải quân Mỹ trước đây đang chứa tại căn cứ không quân Davis-Monthan, Arizona. 25 chiếc được Vought tân trang và 10 chiếc còn lại được dùng làm phụ tùng thay thế dự trữ. Phía Mỹ huấn luyện phi công Philippines trên chiếc TF-8A như là một phần của thỏa thuận này. Những chiếc F-8 ngừng bay năm 1988 và cuối cùng ngừng phục vụ vào năm 1991 sau khi chúng bị tổn hại nghiêm trọng do vụ núi lửa Pinatubo phun trào, và từ đó được chào bán dưới dạng phế thải.



    Các phiên bản

    F8U-1 (XF-8A) - hai chiếc nguyên mẫu không trang bị vũ khí.
    F8U-1 (F-8A) - phiên bản sản xuất đầu tiên, 30 chiếc đầu tiên gắn động cơ J57-P-12, sau đó thay bằng động cơ J57-P-4A mạnh hơn, có 318 chiếc được chế tạo.
    YF8U-1 (YF-8A) - một chiếc F8U-1 sử dụng để thử nghiệm phát triển.
    YF8U-1E (YF-8B) - một chiếc F8U-1 cải tiến thành kiểu nguyên mẫu của F8U-1E.
    F8U-1E (F-8B) - bổ sung tính năng hoạt động trong mọi thời tiết một cách giới hạn nhờ radar AN/APS-67, ngăn rocket được gắn kín vì không bao giờ dùng đến, bay lần đầu ngày 3 tháng 9 năm 1958, 130 chiếc được chế tạo.
    YF8U-2 (YF-8C) - hai chiếc F8U-1 dùng thử nghiệm động cơ J57-P-16.
    F8U-2 (F-8C) - trang bị động cơ J57-P-16 lực đẩy có đốt sau 16.900 lbf (75 kN), thêm vây bụng dưới thân để khắc phục sự mất ổn định trệch hướng, đế hình Y cho phép gắn hai tên lửa Sidewinder mỗi bên thân, bay lần đầu ngày 20 tháng 8 năm 1957, 187 chiếc được chế tạo. Phiên bản này đôi khi được gọi tên là Crusader II.[6]
    F8U-2N (F-8D) - phiên bản hoạt động trong mọi thời tiết, gói rocket không điều khiển được thay bằng thùng nhiên liệu bổ sung, trang bị động cơ J57-P-20 lực đẩy có đốt sau 18.000 lbf (80 kN), hệ thống hạ cánh tự động duy trì tốc độ khi tiếp cận, bay lần đầu ngày 16 tháng 2 năm 1960, 152 chiếc được chế tạo.
    YF8U-2N (YF-8D) - một chiếc được sử dụng để phát triển kiểu F8U-2N.
    YF8U-NE - một chiếc F8U-1 cải tiến thành kiểu nguyên mẫu của F8U-2NE.
    F8U-2NE (F-8E) - trang bị động cơ J57-P-20A, radar AN/APQ-94 trong một chóp mũi lớn, một gù lưng giữa hai cánh chứa thiết bị điện tử dành cho tên lửa AGM-12 Bullpup, tải trọng tăng lên đến 2.270 kg (5.000 lb), ghế phóng kiểu Martin-Baker, bay lần đầu ngày 30 tháng 6 năm 1961, 286 chiếc được chế tạo.
    F-8E(FN) - phiên bản tiêm kích chiếm ưu thế trên không dành cho Không lực Hải quân Pháp (Aéronavale), tăng cường đáng kể lực nâng của cánh nhờ tăng diện tích và độ lệch cánh lái, cánh ổn định được mở rộng, 42 chiếc được chế tạo.
    F-8H - phiên bản nâng cấp F-8D với khung máy bay và càng đáp chắc hơn, 89 chiếc được tái chế.
    F-8J - phiên bản nâng cấp F-8E, tương tự F-8D nhưng với các cải tiến cánh giống như F-8E(FN), các đế "ướt" mang các thùng nhiên liệu phụ bên ngoài, gắn động cơ J57-P-20A, 136 chiếc được tái chế.
    F-8K – phiên bản nâng cấp F-8C mang được tên lửa Bullpup và gắn động cơ J57-P-20A, 87 chiếc được tái chế.
    F-8L - phiên bản nâng cấp F-8B những đế gắn dưới cánh, 61 chiếc được tái chế.
    F-8P – 17 chiếc F-8E(FN) của Aéronavale trãi qua đại tu toàn bộ vào cuối những năm 1980 để kéo dài thời gian phục vụ thêm 10 năm. Cuối cùng chúng được nghỉ hưu năm 1999.[7]
    F8U-1D (DF-8A) - một số chiếc F-8A được cải tiến thành máy bay kiểm soát để thử nghiệm tên lửa hành trình SSM-N-8 Regulus. DF-8A cũng được cải tiến để sử dụng như là mục tiêu giả (F-9 Cougar) và được phi đội VC-8 sử dụng tại căn cứ Không lực Hải quân Roosevelt Rds, Puerto Rico.
    DF-8F - một chiếc F-8A nghỉ hưu được cải tiến cho nhiệm vụ kéo mục tiêu giả.
    F8U-1KU (QF-8A) - một chiếc F-8A nghỉ hưu được cải tiến thành mục tiêu giả lập điều khiển từ xa.
    YF8U-1P (YRF-8A) - những chiếc nguyên mẫu được sử dụng trong việc phát triển phiên bản trinh sát hình ảnh F8U-1P.
    F8U-1P (RF-8A) - phiên bản trinh sát hình ảnh không vũ trang của kiểu F8U-1E, 144 chiếc được chế tạo.
    RF-8G - những chiếc RF-8A được hiện đại hóa
    XF8U-1T - một chiếc XF8U-2NE dùng cho việc đánh giá phiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi.
    F8U-1T (TF-8A) - phiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi dựa trên F8U-2NE, khung máy bay được kéo dài thêm 0,61 m (2 ft), vũ khí trang bị bên trong được rút gọn còn hai khẩu pháo, gắn động cơ J57-P-20, bay lần đầu tiên ngày 6 tháng 2 năm 1962. Không quân Hoàng gia Anh khởi đầu đã quan tâm đến một phiên bản của TF-8A gắn động cơ Rolls-Royce Spey, nhưng sau đó đã chọn Phantom II thay thế. Chỉ có một chiếc TF-8A được chế tạo, cho dù có nhiều chiếc F-8A nghỉ hưu được chuyển đổi sang kiểu máy bay huấn luyện hai chỗ ngồi tương tự.
    F8U-3 Crusader III - thiết kế mới dựa trên một phần nhỏ từ những phiên bản của F-8, được chế tạo để cạnh tranh với F-4 Phantom II, gắn động cơ J75-P-5A công suất có đốt sau 131 kN (29.500 lbf), bay lần đầu tiên ngày 2 tháng 6 năm 1958, đạt được tốc độ Mach 2,6 trong các cuộc bay thử nghiệm, bị hủy bỏ sau khi chế tạo được 5 chiếc vì Phantom II đã thắng gói thầu của Hải quân.

    Các nước sử dụng

    Pháp
    Không lực Hải quân Pháp
    Philippines
    Không quân Philippines
    Hoa Kỳ
    Hải quân Hoa Kỳ
    Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
    NASA

    Đặc điểm kỹ thuật (F-8E)




    Đặc điểm chung
    Đội bay: 1 người
    Chiều dài: 16,53 m (54 ft 3 in)
    Sải cánh: 10,87 m (35 ft 8 in)
    Chiều cao: 4,80 m (15 ft 9 in)
    Diện tích bề mặt cánh: 34,8 m² (375 ft²)
    Kiểu cánh: NACA 65A006 mod root, NACA 65A005 mod tip
    Diện tích cản: 0,46 m² (5,0 ft²)
    Hệ số nâng/lực cản: 0,0133
    Tỉ lệ dài/rộng cánh: 3,42
    Trọng lượng không tải: 7.956 kg (17.541 lb)
    Trọng lượng có tải: 13.000 kg (29.000 lb)
    Tải trọng vũ khí: 2.300 kg (5.000 lb)
    Động cơ: 1 × Động cơ Pratt & Whitney J57-P-20A turbo phản lực có tăng áp, lực đẩy: 47,6 kN (10.700 lbf), lực đẩy có tăng áp: 80,1 kN (18.000 lbf)
    Nhiên liệu chứa: 5.102 L (1.325 US gal)
    Đặc tính bay
    Tốc độ lớn nhất: 1,86 Mach (1.975 km/h; 1.225 mph) ở độ cao 11.000 m (36.000 ft)
    Tốc độ đường trường: 915 km/h (495 knot; 570 mph)
    Tầm bay tối đa: 2.795 km (1.735 mi) với thùng dầu phụ
    Bán kính chiến đấu: 730 km (450 mi)
    Trần bay: 17.700 m (58.000 ft)
    Tốc độ lên cao: 162,3 m/s (31.950 ft/min)
    Áp lực cánh: 377,6 kg/m² (77,3 lb/ft²)
    Tỉ lệ lực đẩy/khối lượng: 0,62
    Tỉ lệ lực nâng/lực cản: 12,8
    Vũ khí
    4 × pháo 20 mm Colt Mk 12 gắn dưới thân — với 125 quả đạn mỗi khẩu.
    Tên lửa:
    4 × Tên lửa đối không AIM-9 Sidewinder
    2 x Tên lửa đối đất AGM-12 Bullpup
    Rocket: 8 × Rocket Zuni gắn trên 4 đế cánh
    Bom:
    12 × bom 110 kg (250 lb) hoặc
    4 × bom 450 kg (1.000 lb) hoặc
    2 × bom 900 kg (2.000 lb)

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    F-9 Cougar

    Chiếc Grumman F9F Cougar (được đổi tên thành F-9 Cougar theo Hệ thống định danh máy bay Thống nhất năm 1962) là một kiểu máy bay tiêm kích hoạt động trên tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ. Dựa trên kiểu Grumman F9F Panther trước đây, Chiếc Cougar đã thay thế chiếc Panther kiểu cánh ngang bằng một thiết kế cánh xuôi hiện đại hơn. Hải quân Mỹ đã xem chiếc Cougar chỉ là một phiên bản nâng cấp của chiếc Panther (cho dù chấp nhận một cái tên chính thức mới) nên tên hiệu của chiếc Cougar được bắt đầu với F9F-6 và cao hơn.
    Kiểu Máy bay tiêm kích
    Hãng sản xuất Grumman
    Được giới thiệu 20 tháng 9 năm 1951
    Hãng sử dụng chính Hải quân Hoa Kỳ
    Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
    Hải quân Argentine
    Số lượng được sản xuất 1.966
    Được phát triển từ F9F Panther



    Thiết kế và phát triển
    Chiếc nguyên mẫu, kiểu Panther được cải tiến, được nhanh chóng sản xuất và chiếc nguyên mẫu thứ nhất XF9F-6 bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 20 tháng 9 năm 1951. Nó đã gây ngạc nhiên cho giới chức Hải quân (vốn đã rất ngần ngại áp dụng một kiểu thiết kế cánh xuôi để hoạt động trên tàu sân bay) rằng chiếc Cougar hoạt động dễ dàng hơn trên tàu sân bay so với chiếc Panther. Chiếc máy bay vẫn còn bay dưới tốc độ âm thanh, nhưng con số Mach đã được cải thiện đáng kể từ 0,79 lên 0,86 ở độ cao mặt biển và đến 0,895 ở độ cao 10.000 m (35.000 feet), cũng như cải thiện đáng kể tính năng bay. Không giống chiếc Panther, chiếc Cougar không bị chiếc Mikoyan-Gurevich MiG-15 Liên Xô vượt qua, nhưng chúng đã quá trễ để tham gia hoạt động trong Chiến tranh Triều Tiên.

    Lịch sử hoạt động
    Phiên bản Cougar duy nhất có tham hoạt động chiến đấu lại là kiểu máy bay huấn luyện TF-9J; chúng được sử dụng trong vai trò chỉ huy trên không, hướng dẫn không kích các vị trí của đối phương tại Nam Việt Nam trong những năm 1966 và 1967. Kiểu F9F-8 được rút khỏi hoạt động của các đơn vị tiền phương vào năm 1958-1959, được thay thế bằng chiếc Vought F8U Crusader và Grumman F11F Tiger. Các đơn vị trừ bị tiếp tục sử dụng chúng cho đến giữa những năm 1960, nhưng phiên bản này không tham gia Chiến tranh Việt Nam.

    Lực lượng quân đội nước ngoài duy nhất sử dụng chiếc F9F Cougar là Argentina, vốn cũng sử dụng những chiếc F9F Panther. Hai chiếc máy bay huấn luyện F9F-8T được sở hữu vào năm 1962, và phục vụ cho đến năm 1971. Hải quân Argentina, sau nhiều lần cố gắng thất bại, đã xoay sở để được giao hai khung máy bay do tận dụng một cơ hội "nhầm lẫn" quan liêu, nhưng phía Mỹ đã từ chối cung cấp phụ tùng thay thế trong những năm sau đó. Cougar trở thành máy bay phản lực đầu tiên vượt bức tường âm thanh tại Argentina

    Các phiên bản

    XF9F-6
    Chiếc nguyên mẫu F9F Cougar. Có ba chiếc được chế tạo.
    F9F-6
    Phiên bản sản xuất đầu tiên, được giao từ giữa năm 1952 đến tháng 7 năm 1954. Trang bị bốn pháo M2 20 mm trước mũi và mang được hai bom 454 kg (1000 lb) hoặc thùng nhiên liệu vứt được 570 L (150 US gallon) dưới cánh. Đa số được trang bị ăn-ten dẫn đường UHF dưới mũi, một số có vòi tiếp nhiên liệu trên không. Được đặt lại tên là F-9F vào năm 1962. Có 646 chiếc được sản xuất.
    F9F-6P
    Phiên bản trinh sát với máy ảnh trước mũi thay cho các khẩu pháo. Sau khi được rút khỏi hoạt động thường trực, nhiều chiếc được sử dụng làm mục tiêu không người lái để huấn luyện chiến đấu đặt tên là F9F-6K, hoặc là máy bay điều khiển mục tiêu giả đặt tên là F9F-6D. Hai kiểu này được đặt lại tên tương ứng là QF-9F và DF-9F vào năm 1962. Có 60 chiếc được sản xuất.
    F9F-6PD
    Tên đặt lại cho những chiếc F9F-6P cải biến thành máy bay điều khiển mục tiêu giả.
    F9F-9K2
    Là phiên bản cải tiến các mục tiêu giả F9F-6K. Chúng được đặt lại tên là QF-9G vào năm 1962.
    F9F-7
    Phiên bản Cougar sản xuất hàng loạt tiếp theo. Trang bị động cơ Allison J33 thay cho kiểu Pratt & Whitney J48, nhưng loại J33 lại tỏ ra kém mạnh mẽ và kém tin cậy hơn so với J48. Đa số được cải biến lại để trang bị động cơ J48, nên không thể phân biệt chúng với những chiếc F9F-6. Chúng được đặt lại tên là F-9H vào năm 1962. Có 168 chiếc được sản xuất.
    F9F-8
    Là phiên bản máy bay tiêm kích cuối cùng. Thân được kéo dài thêm 200 mm (8 in), cánh được cải tiến có bề rộng và diện tích cánh lớn hơn nhằm cải thiện tính năng bay ở tốc độ thấp và góc tấn lớn cũng như thêm chỗ cho các thùng nhiên liệu. Chúng được giao từ tháng 4 năm 1954 đến tháng 3 năm 1957; đa số được trang bị vòi tiếp nhiên liệu trên không, và những chiếc được sản xuất đời sau có khả năng mang bốn tên lửa không-đối-không AIM-9 Sidewinder dưới cánh. Đa số những chiếc sản xuất đời đầu sau đó được cải biến theo cấu hình này. Một số chiếc được gắn thiết bị ném bom nguyên tử. Chúng được đặt lại tên là F-9J vào năm 1962. Có 601 chiếc được sản xuất.
    YF9F-8B
    Chiếc nguyên mẫu tiêm kích-tấn công một chỗ ngồi. Có một chiếc F9F-8 được cải biến thành YF9F-8B. Sau được đặt lại tên là YAF-9J.
    F9F-8B
    Phiên bản F9F-8 được cải biến thành máy bay tiêm kích-tấn công một chỗ ngồi. Sau được đặt lại tên là AF-9J.
    F9F-8P
    Phiên bản trinh sát hình ảnh, được giao hàng từ năm 1955 đến năm 1957. Chúng chỉ phục vụ một thời gian ngắn cho đến năm 1960, nhưng một số được giữ lại trong các phi đội trừ bị. Có 110 chiếc được sản xuất.

    [IMG]p://lichsuvn.info/hlv/uploads/f9f-2.gif[/IMG]

    Máy bay huấn luyện
    F9F-8T
    Hải quân Mỹ sở hữu phiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi này từ năm 1956 đến năm 1960. Chúng được sử dụng trong việc huấn luyện nâng cao, huấn luyện vũ khí và huấn luyện tàu sân bay, và phục vụ cho đến năm 1974. Chúng được trang bị một cặp pháo 20 mm và có thể mang đủ tải trọng bom hay tên lửa. Chúng được đặt lại tên là TF-9J vào năm 1962. Có 377 chiếc được sản xuất.
    YF9F-8T
    Tên gọi một chiếc F9F-8 được cải biến thành chiếc nguyên mẫu hai chỗ ngồi dùng trong việc phát triển phiên bản huấn luyện F9F-8T. Sau được đặt lại tên là YTF-9J.
    NTF-9J
    Tên gọi hai chiếc TF-9J được sử dụng trong các nhiệm vụ thử nghiệm đặc biệt..

    Các nước sử dụng
    Argentina
    Hải quân Argentina
    Hoa Kỳ
    Hải quân Hoa Kỳ
    Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
    Đặc điểm kỹ thuật (F9F Cougar)
    Đặc tính chungĐội bay: 01 người
    Chiều dài: 12,9 m (42 ft 2 in)
    Sải cánh: 10,5 m (34 ft 6 in)
    Chiều cao: 3,7 m (12 ft 3 in)
    Diện tích bề mặt cánh: 31,3 m² (337 ft²)
    Lực nâng của cánh : 298 kg/m² (61 lb/ft²)
    Trọng lượng không tải: 5.382 kg (11.866 lb)
    Trọng lượng có tải: 9.116 kg (20.098 lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 11.232 kg (24.763 lb)
    Động cơ: 1 x động cơ Pratt & Whitney J48-P-8A turbo phản lực, lực đẩy 8.500 lbf (38 kN) với phun nước
    Đặc tính bay
    Tốc độ lớn nhất: 1.041 km/h (647 mph)
    Tầm bay tối đa: 2.111 km (1.312 mi)
    Trần bay: 12.800 m (42.000 ft)
    Tốc độ lên cao: 29,2 m/s (5.750 ft/min)
    Vũ khí
    4 x pháo M2 20 mm (0,787 in) 190 viên đạn mỗi khẩu
    2 × bom 450 kg (1.000 lb)
    6 × rocket 127 mm (5 in)
    4 × tên lửa không-đối-không AIM-9 Sidewinder

  7. #7
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    F9F Panther

    Chiếc Grumman F9F Panther là kiểu máy bay chiến đấu phản lực đầu tiên của hãng Grumman và là chiếc thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ. Panther là kiểu máy bay tiêm kích phản lực của Hải quân được sử dụng rộng rãi nhất trong Chiến tranh Triều Tiên. Nó đã thực hiện 78.000 phi vụ và ghi được chiến công không chiến đầu tiên của Hải quân Mỹ trong cuộc chiến tranh này khi bắn rơi một chiếc máy bay tiêm kích Yakovlev Yak-9 của Bắc Triều Tiên. Tổng số máy bay F9F được sản xuất là 1.382 chiếc, với nhiều phiên bản được xuất khẩu sang Argentina.
    Kiểu Máy bay tiêm kích - ném bom
    Hãng sản xuất Grumman
    Chuyến bay đầu tiên 24 tháng 11 năm 1947
    Hãng sử dụng chính Hải quân Hoa Kỳ
    Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
    Hải quân Argentine
    Số lượng được sản xuất 1.382



    Thiết kế và phát triển
    Những nghiên cứu phát triển được tiến hành tại hãng Grumman được bắt đầu lúc gần kết thúc Thế Chiến II khi những động cơ phản lực đầu tiên xuất hiện. Chiếc nguyên mẫu Panther, do phi công thử nghiệm Corky Meyer điều khiển, thực hiện chuyến bay đầu tiên vào ngày 24 tháng 11 năm 1947.[1] Động lực được cung cấp bởi một phiên bản của động cơ turbo phản lực Rolls-Royce Nene chế tạo theo giấy phép nhượng quyền bởi Pratt & Whitney dưới tên gọi J42. Vì không có đủ chỗ giữa cánh và thân để chứa đủ nhiên liệu cho kiểu động cơ phản lực khát nhiên liệu, các thùng nhiên liệu được thêm vào gắn cố định trên đầu chót cánh, lại tình cờ làm tăng tốc độ lộn vòng của chiếc máy bay.[2] Kiểu máy bay được chấp thuận cho hoạt động trên tàu sân bay từ tháng 9 năm 1949. Trong giai đoạn phát triển, Grumman quyết định thay đổi động cơ cho chiếc Panther, chọn kiểu động cơ Pratt & Whitney J48-P-2, một phiên bản chế tạo theo giấy phép nhượng quyền của kiểu Rolls-Royce Tay. Một động cơ khác cũng được thử nghiệm là kiểu Allison J33-A-16, một kiểu phát triển bắt nguồn từ động cơ Rolls-Royce Derwent.
    Từ năm 1946, một phiên bản cánh xuôi được xem xét đến, và sau khi có sự quan tâm về tính năng yếu kém của chiếc Panther so với các đối thủ MiG tại Triều Tiên, một phiên bản cải biến chiếc Panther (Thiết kế 93) đưa đến kết quả một biến thể cánh xuôi của chiếc Panther, chiếc Grumman F9F Cougar, vốn được giữ lại số hiệu thiết kế của chiếc Panther.

    Lịch sử hoạt động

    Hải quân Hoa Kỳ
    F9F-2, F9F-3 và F9F-5 phục vụ khá nổi bật tại Chiến tranh Triều Tiên, bắn rơi hai máy bay Yakolev Yak-9 và năm máy bay Mikoyan-Gurevich MiG-15 trong khi bị thiệt hại một chiếc F9F. Ngày 3 tháng năm 1950, Trung úy Leonard H. Plog thuộc Phi đoàn Tiêm kích VF-51 lái chiếc F9F-3 đã ghi chiến công đầu tiên khi bắn rơi một máy bay Yak-9. Chiếc MiG-15 đầu tiên bị bắn rơi vào ngày 9 tháng 11 năm 1950 do Thiếu tá William (Bill) Amen thuộc Phi đoàn Tiêm kích VF-111 "Sundowners" lái một chiếc F9F-2B. Hai chiếc nữa bị bắn rơi ngày 18 tháng 11 năm 1950, còn hai chiếc nữa bị bắn rơi ngày 18 tháng 11 năm 1952.[5] Panther là kiểu máy bay tiêm kích phản lực và tiêm kích-ném bom chủ yếu của Hải quân trong cuộc xung đột Triều Tiên.

    Panther được rút khỏi phục vụ ngoài tiền tuyến vào năm 1956, nhưng được giữ lại trong vai trò huấn luyện và với các đơn vị trừ bị cho đến năm 1958, một số lượng nhỏ phục vụ cho đến những năm 1960.

    Hải quân Argentine
    Khách hàng nước ngoài duy nhất từng mua chiếc Panther là Hải quân Argentine, đã mua lại 24 chiếc máy bay cũ của Hải quân Mỹ vào năm. Những máy phóng trên chiếc tàu sân bay duy nhất của Argentine lúc đó, chiếc ARA Independencia (V-1), được xem là không đủ mạnh để phóng được F9F, nên những chiếc máy bay được đặt căn cứ trên đất liền.

    Những chiếc Panther của Argentine tham gia vào đợt tổng động viên trong sự kiện xung đột biên giới giữa Argentina với Chile năm 1965 nhưng đã không có xung đột quân sự. Chúng được đưa ra khỏi phục vụ vào năm 1969 do thiếu linh kiện phụ tùng và được thay thế bằng chiếc A-4Q Skyhawk

    Các phiên bản

    XF9F-2
    Hai chiếc nguyên mẫu đầu tiên
    XF9F-3
    Chiếc nguyên mẫu thứ ba
    F9F-2
    Phiên bản sản xuất đầu tiên, trang bị động cơ J42.
    F9F-2B
    Phiên bản có các đế dưới cánh dành cho bom và rocket. Tất cả những chiếc F9F-2 sau này được cải tiến như vậy, và ký hiệu B được loại bỏ.
    F9F-2P
    Phiên bản trinh sát hình ảnh không vũ trang sử dụng tại Triều Tiên.
    F9F-3
    Phiên bản trang bị động cơ Allison J33, được sản xuất để phòng hờ việc thất bại của kiểu động cơ J42, có 54 chiếc được chế tạo. Tất cả được chuyển sang động cơ J42 sau đó.
    XF9F-4
    Chiếc nguyên mẫu dùng trong việc phát triển phiên bản F9F-4.
    F9F-4
    Phiên bản có thân dài hơn, trữ lượng nhiên liệu nhiều hơn và trang bị động cơ J33. Đa số được tái trang bị động cơ J42. F9F-4 là máy bay đầu tiên áp dụng thành công hơi thổi, trích xuất giữa máy nén động cơ và buồng đốt để vận hành các khe nắp, giúp giảm được tốc độ chòng chành ở lực đẩy 9kt để cất cánh và 7kt khi hạ cánh.
    F9F-5
    Phiên bản F9F-4, nhưng trang bị động cơ Pratt & Whitney J48, có 616 chiếc được chế tạo.
    F9F-5P
    Phiên bản trinh sát hình ảnh không vũ trang với mũi dài hơn, có 36 chiếc được chế tạo.
    F9F-5K
    Sau khi F9F Panther được rút ra khỏi hoạt động thường trực, một số chiếc F9F-5 được chuyển đổi sang làm máy bay mục tiêu giả không người lái.
    F9F-5KD
    Dùng làm máy bay hướng dẫn cho các mục tiêu giả F9F-5K. Được đặt tên lại là DF-9E vào năm 1962.

    Các nước sử dụng
    Argentina
    Hải quân Argentine
    Hoa Kỳ
    Hải quân Hoa Kỳ
    Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ

    Đặc điểm kỹ thuật (F9F-2 Panther)
    Đặc tính chung
    Đội bay: 01 người
    Chiều dài: 11,3 m (37 ft 5 in)
    Sải cánh: 11,6 m (38 ft 0 in)
    Chiều cao: 3,8 m (11 ft 4 in)
    Diện tích bề mặt cánh: 23 m² (250 ft²)
    Lực nâng của cánh : 350 kg/m² (71 lb/ft²)
    Trọng lượng không tải: 4.220 kg (9.303 lb)
    Trọng lượng có tải: 6.456 kg (14.235 lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 7.462 kg (16.450 lb)
    Động cơ: 1 x động cơ Pratt & Whitney J42-P-6/P-8 turbo phản lực, lực đẩy 5.950 lbf (26,5 kN)
    Đặc tính bay
    Tốc độ lớn nhất: 925 km/h (500 knot, 575 mph)
    Tầm bay tối đa: 2.177 km (1.175 nm, 1.353 mi)
    Trần bay: 13.600 m (44.600 ft)
    Tốc độ lên cao: 26,1 m/s (5.140 ft/min)
    Tỉ lệ lực đẩy/khối lượng : 0,42
    Vũ khí
    4 x pháo Browning M2 20 mm (0,787 in), 190 viên đạn mỗi khẩu
    910 kg (2.000 lb) bom gắn trên đế dưới cánh
    6 × rocket 127 mm (5 in) gắn trên đế dưới cánh

  8. #8
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    1
    F11F/F-11 Tiger

    Chiếc Grumman F11F/F-11 Tiger là một kiểu máy bay tiêm kích một chỗ ngồi hoạt động trên tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ trong những năm 1950 và 1960. Chiếc máy bay này nguyên được đặt tên là F11F Tiger vào tháng 4 năm 1955 theo cách đặt tên cũ của Hải quân, nhưng được đổi tên thành F-11 Tiger theo Hệ thống định danh máy bay thống nhất được đưa ra áp dụng vào năm 1962.

    Chiếc F11F/F-11 được đội thao diễn hàng không Blue Angels của Hải quân Mỹ sử dụng từ năm 1957 đến năm 1969. Grumman Aircraft Corporation đã chế tạo khoảng 200 chiếc Tiger, và chiếc cuối cùng được giao hàng vào ngày 23 tháng 1 năm 1959.

    Kiểu Máy bay tiêm kích
    Hãng sản xuất Grumman
    Chuyến bay đầu tiên 30 tháng 7 năm 1954
    Được giới thiệu 1956
    Hãng sử dụng chính Hải quân Hoa Kỳ
    Được chế tạo 1954-1959
    Số lượng được sản xuất 200



    Thiết kế và phát triển
    Nguồn gốc của chiếc F11F (F-11) Tiger được bắt đầu từ một dự án đầu tư riêng của Grumman vào năm 1952 nhằm hiện đại hóa chiếc F9F-6/7 Cougar bằng cách bổ sung lý thuyết quy luật khu vực và các tiến bộ khác. Dự án này của nội bộ công ty Grumman được biết đến dưới tên G-98, và đến cuối cùng đã hoàn toàn khác biệt so với chiếc Cougar.

    Tiềm năng của kiểu thiết kế về tính năng bay siêu âm và giảm lực cản ở tốc độ cận âm đã dấy lên được sự quan tâm của Hải quân. Đến năm 1953, việc tái thiết kế đã đưa đến một kiểu máy bay hoàn toàn mới chỉ mang dáng dấp họ hàng với chiếc Cougar. Kiểu cánh mới có cánh phụ mép trước (slat) suốt bề rộng cánh và cánh nắp ở mép sau cánh, trong khi việc điều khiển lộn vòng lại dựa vào các tấm lái ngang thay vì các bánh lái lượn truyền thống. Để xếp được trên các tàu sân bay, cánh của chiếc F-11 Tiger được gấp bằng tay xuôi xuống. Được chuẩn bị cho tính năng bay ở tốc độ siêu âm, cánh đuôi được thiết kế di động toàn bộ. Động cơ trang bị là kiểu turbo phản lực Wright J65, một phiên bản chế tạo theo giấy phép nhượng quyền của kiểu động cơ Armstrong Siddeley Sapphire.

    Cơ quan Hàng không Hải quân đã chịu ấn tượng đáng kể về kiểu thiết kế nên đã đặt hàng hai chiếc nguyên mẫu, đặt tên là XF9F-8 cho dù chiếc máy bay rõ ràng là một thiết kế mới. Làm cho vấn đề càng thêm lẫn lộn, chiếc nguyên mẫu lại được đặt lại tên là XF9F-9 trong khi tên gọi XF9F-8 lại dành cho một kiểu thiết kế gần gủi hơn với kiểu Cougar chính thống. Do phiên bản có đốt sau của loại động cơ J65 chưa sẵn sàng, chiếc nguyên mẫu bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 30 tháng 7 năm 1954 với một động cơ không có đốt sau. Cho dù như thế, chiếc nguyên mẫu đã gần đạt được tốc độ Mach 1 ngay trong chuyến bay đầu tiên. Chiếc nguyên mẫu thứ hai được trang bị động cơ đốt sau, đã trở thành chiếc máy bay siêu âm thứ hai của Hải quân (sau chiếc Douglas F4D Skyray). Vào tháng 4 năm 1955, chiếc máy bay được nhận tên gọi mới là F11F-1 (sau này trở thành F-11A sau khi áp dụng Hệ thống định danh máy bay Thống nhất vào năm 1962). Việc thử nghiệm hoạt động trên tàu sân bay được bắt đầu vào ngày 4 tháng 4 năm 1956 khi một chiếc F11F-1 Tiger hạ cánh và được phóng lên từ tàu sân bay USS Forrestal.

    Cùng với chiếc máy bay tiêm kích F-11A (F11F-1), Grumman cũng đề nghị một phiên bản tiên tiến hơn trên cùng khung máy bay được biết đến dưới tên gọi F11F-1F Super Tiger. Đây là kết quả của công trình nghiên cứu vào năm 1955 nhằm trang bị kiểu động cơ mới General Electric J79 lên khung máy bay F-11. Hải quân đã quan tâm đến kế hoạch này nên đã chấp thuận cải biến hai chiếc F11F-1 phiên bản sản xuất có cửa hút gió mở rộng hơn và trang bị kiểu động cơ turbo phản lực YJ79-GE-3, và kiểu máy bay này được đặt tên là F11F-2. Chiếc máy bay này bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 25 tháng 5 năm 1956, đạt được tốc độ Mach 1,44 ở một trong những chuyến bay của nó. Sau khi bổ sung thêmnhững miếng đệm 60° ở gốc cánh, thân được kéo dài thêm 35 cm (13,5 in), một phiên bản động cơ J79 được nâng cấp, chiếc F11F-2 đạt được tốc độ rất ấn tượng Mach 2,04 và một trần bay 24.466 m (80.250 ft ). Không may là Hải quân đã không yêu cầu đưa chiếc này vào sản xuất. Chiếc F11F-2 sau đó được đổi lại tên là F11F-1F, nhằm nêu lên đặc tính phiên bản F11F-1 sản xuất với kiểu động cơ đặc biệt. Thất bại trong việc đạt được hợp đồng sản xuất cùng hải quân Mỹ, Grumman tiếp thị kiểu Super Tiger cho các khách hàng nước ngoài. Không quân Đức, Không lực Phòng vệ Nhật Bản và Không quân Hoàng gia Canada đã tỏ ý định quan tâm đến nó, nhưng sau đó đã đặt mua kiểu Lockheed F-104 Starfighter thay thế.

    Lịch sử hoạt động
    Trong phục vụ, chiếc Tiger đã hoạt động trên các tàu sân bay USS Ranger, USS Intrepid, USS Bon Homme Richard, USS Forrestal, và USS Saratoga. Sự nghiệp phục vụ của chiếc F-11 chỉ kéo dài được bốn năm vì tính năng bay của nó kém hơn so với chiếc Vought F-8 Crusader và kiểu động cơ J65 tỏ ra kém tin cậy. Do đó, Hải quân đã hủy bỏ mọi đơn đặt hàng cho phiên bản trinh sát hình ảnh F11F-1P và chỉ có 199 chiếc phiên bản tiêm kích F-11A (F11F-1) được chế tạo. Chiếc máy bay được rút khỏi hoạt động trên tàu sân bay vào năm 1961, tuy nhiên chúng tiếp tục được sử dụng trong vai trò huấn luyện tại Beeville và Kingsville, Texas, cho đến cuối những năm 1960. Học viên được huấn luyện bay nâng cao trên những chiếc F-9 Cougar, và sau khi hoàn thành đợt học đó, họ được nếm qua khả năng bay siêu âm trên chiếc Tiger trước khi chuyển loại sang những chiếc máy bay tiêm kích hạm đội.

    Chiếc F-11 Tiger đã chịu tiếng xấu là máy bay phản lực đầu tiên đã tự bắn rơi mình. Vào ngày 21 tháng 9 năm 1956, trong khi bắn thử các khẩu pháo 20 mm, phi công Tom Attridge đã bắn hai loạt đạn vào khoảng không trong khi đang bổ nhào nông. Do lưu tốc và đường đạn của đầu đạn giảm dần, chúng sau đó đã giao nhau với đường bay của chiếc Tiger vốn đang tiếp tục hạ thấp, và gây hư hỏng đến mức làm rơi chiếc máy bay. May mắn là phi công đã sống sót.[1][2]

    Trong khi sự nghiệp tiêm kích của chiếc F-11 khá ngắn ngũi, Đội thao diễn hàng không Blue Angels đã thao diễn trên những chiếc máy bay này từ năm 1957 cho đến năm 1969, khi những chiếc Tiger được thay thế bởi những chiếc McDonnell Douglas F-4 Phantom II.

    Các phiên bản
    YF9F-9
    Tên ban đầu của chiếc nguyên mẫu.
    F-11F-1
    Phiên bản máy bay tiêm kích một chỗ ngồi dành cho Hải quân Hoa Kỳ, Được đổi tên thành F-11A vào năm 1962.
    F11F-1P
    Tên dự định đặt cho phiên bản trinh sát dành cho Hải quân. Bị hủy bỏ.
    F-11F-1F Super Tiger
    Phiên bản F11F-1 trang bị động cơ J-79-GE-3
    F-11F-2
    Tên ban đầu của phiên bản F11F-1F

    Các nước sử dụng : Hoa Kì

    Đặc điểm kỹ thuật (F11F-1/F-11A)
    Đặc tính chung
    Đội bay: 01 người
    Chiều dài: 14,3 m (46 ft 11 in)
    Sải cánh: 9,6 m (31 ft 8 in)
    Chiều cao: 4,0 m (13 ft 3 in)
    Diện tích bề mặt cánh: 23 m² (250 ft²)
    Lực nâng của cánh : 420 kg/m² (85 lb/ft²)
    Trọng lượng không tải: 6.500 kg (14.330 lb)
    Trọng lượng có tải: 9.650 kg (21.280 lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 10.900 kg (24.000 lb)
    Động cơ: 1 x động cơ Wright J65-W-18 turbo phản lực có đốt sau, lực đẩy 7.400 lbf (32,9 kN), lực đẩy có đốt sau 10.500 lbf (46,7 kN)
    Đặc tính bay
    Tốc độ lớn nhất: 1.170 km/h (Mach 1,1, 727 mph) ở 11.000 m (35.000 ft)
    Tốc độ bay đường trường: 929 km/h (577 mph)
    Tầm bay tối đa: 2.050 km (1.110 nm, 1.275 mi)
    Trần bay: 12.800 m (42.000 ft)
    Tốc độ lên cao: 27 m/s (5.315 ft/min)
    Tỉ lệ lực đẩy/khối lượng : 0,49
    Vũ khí
    4 x pháo Colt Mk 12 20 mm, 125 viên đạn mỗi khẩu
    4 đế cánh dành cho:
    tên lửa không-đối-không AIM-9 Sidewinder
    bom
    rocket không điều khiển
    thùng nhiên liệu phụ 577 L (150 US gal)
    Các nước sử dụng

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Lockheed YF-12

    Lockheed YF-12 là một nguyên mẫu máy bay tiêm kích đánh chặn của Hoa Kỳ, YF-12 được Không quân Hoa Kỳ thử nghiệm đánh giá như một phát triển của mẫu máy bay trinh sát tuyệt mật của CIA là A-12 OXCART, cũng từ mẫu máy bay này đã sản sinh ra loại máy bay SR-71 Blackbird nổi tiếng.

    Kiểu Tiêm kích đánh chặn
    Hãng sản xuất Lockheed Corporation
    Chuyến bay đầu tiên 7 tháng 8 1963
    Tình trạng Hủy bỏ
    Hãng sử dụng chính Không quân Hoa Kỳ
    Số lượng được sản xuất 3
    Chi phí máy bay 15-18 triệu USD (dự kiến)
    Được phát triển từ Lockheed A-12

    [IMG]p://lichsuvn.info/hlv/uploads/yf-12 01.jpg[/IMG]

    Thiết kế và phát triển
    Chương trình YF-12 của Không quân Hoa Kỳ (USAF) được phát triển từ thiết kế máy bay gián điệp Lockheed A-12 OXCART được sử dụng cho CIA và bay lần đầu tiên vào ngày 26 tháng 4-1962, chiếc YF-12A đầu tiên bay vào ngày 7 tahsng 8-1963 .[2] Sự tồn tại của máy bay không được chính thức thừa nhận cho đến 29 tháng 2-1964.[3] Lockheed đã tạo ra sự chú ý của không quân Mỹ vào dự án YF-12 sau khi dự án XF-108 Rapier bị hủy bỏ, một máy bay đánh chặn với tốc độ Mach 3 dự định sẽ thay thế những chiếc F-106 Delta Dart trong biên chế. Nó được phát triển dựa vào A-12 để có thể giảm chi phí so với XF-108, sau nhiều thiết kế và công trình phát triển trên YF-12, nguyên mẫu trình diễn đã hoàn thành và không quân đã đồng ý trả tiền để chế tạo YF-12. Vào năm 1960, không quân Mỹ đồng ý chuyển đổi những chiếc A-12 sẵn có từ số 11 đến số 13 thành cấu hình tiêm kích đánh chặn YF-12A.

    Những thay đổi chính liên quan đến việc sửa đổi phần mũi máy bay để lắp đặt radar điều khiển hỏa lực Hughes AN/ASG-18 trước đây phát triển cho XF-108, và thêm một buồng lái nữa cho thành viên phi hành đoàn điều khiển radar kiểm sát hỏa lực. Phần mũi của máy bay được sủa đổi đã khiến kiểu dáng khí động học của máy bay cũng phải thay đổi, bộ thăng bằng ở bụng được thêm vào dưới thân máy bay và vỏ động cơ cần ổn định và chắc chắn hơn. Cuối cùng, những khoang trong thân trước đó trên A-12 dùng để lắp thiết bị trinh sát được thay đổi để mang 4 tên lửa Hughes AIM-47 Falcon (GAR-9).



    Thử nghiệm và đánh giá

    Kết quả thử nghiệm rất ấn tượng: những chiếc YF-12A đạt kỷ lục tốc độ 2.070.101 mph (3331.505 km/h) và kỷ lục độ cao là 80.257,86 ft (24.462,6 m), những kỷ lục này đều diễn ra vào ngày 1 tháng 5-1965[3], và kết quả trình diễn hứa hẹn đây là hệ thống vũ khí duy nhất. 6 lần bắn tên lửa AIM-47 đều thành công, quả cuối cùng bắn từ YF-12 khi nó đang bay với vận tốc Mach 3.2 trên độ cao 74.400 feet (22.677 mét) với một mục tiêu không người lái cách mặt đất 500 feet (152 m). Năm 1965, Không quân Mỹ đặt hàng chế tạo 93 F-12B, nhưng đã bị hủy bỏ do ngân sách bị cắt giảm bởi Bộ trưởng quốc phòng lúc đó là Robert McNamara. Lý do căn bản để hủy bỏ dự án này là vào cùng thời điểm này, phần lớn các quan chức của Hoa Kỳ đều tin rằng Liên Xô không có một máy bay ném bom nào đủ nhanh, khiến các quan chức Mỹ đủ tin tưởng tiếp tục đầu tư cho máy bay đánh chặn ở tốc độ Mach 3. Chương trình này đã hủy bỏ vào thời điểm đó, nhưng YF-12 tiếp tục bay trong nhiều năm trong Không quân Hoa Kỳ và NASA như một máy bay nghiên cứu.

    Ba chiếc A-12 mang số hiệu 60-6934, 60-6935, 60-6936 đã được chuyển đổi thành YF-12A. Chiếc mang số hiệu 60-6934 đã hư hại bên ngoài bởi lửa tại Căn cứ không quân Edwards trong khi đang hạ cánh, nó đã gặp rủi ro vào ngày 14 tháng 8-1966; nửa sau của nó được cứu kịp thời và phần này được kết hợp với phần nửa trước của một khung máy bay thử nghiệm tĩnh của Lockheed để tạo ra một chiếc SR-71C duy nhất. Chiếc SR-71C này (tên riêng "The Bastard" (con hoang) do phi công đặt, nó không thể bay thẳng hoàn hảo, và đòi hỏi phi công phải giữ sức ép mạnh vào bánh lái ở tốc độ tuần tra) hiện nay đang trưng bay tại một bảo tàng tại Căn cứ không quân Hill. Đây là chiếc SR-71 duy nhất trong số những chiếc SR-71 vẫn còn mang bộ thăng bằng ở bụng dưới vỏ bảo vệ động cơ – một chi tiết chỉ có trên YF-12. Chiếc YF-12 số 60-6936 bị mất vào ngày 24 tháng 6-1971 do hỏa hoạn trong khi bay, một ống nhiên liệu bị vỡ; cả hai phi công đều nhảy dù an toàn ở phía bắc căn cứ không quân Edwards.



    Chiếc YF-12A số 60-06935 là chiếc duy nhất còn tồn tại; nó được triệu hồi về kho vào năm 1969 để tham gia vào công việc nghiên cứu công nghệ tuần dương siêu âm do USAF/NASA thực hiện, nó chuyển đến Bảo tàng Quốc gia Không quân Hoa Kỳ tại Căn cứ không quân Wright-Patterson gần Dayton, Ohio vào 17 tháng 11-1979.[3] Giai đoạn đầu của chương trình nghiên cứu công nghệ này bao gồm kiểm tra những mục tiêu được tập trung vào để trả lời một số câu hỏi để bổ sung cho B-1. Những mục tiêu của Không quân bao gồm khảo sát hiệu quả sử dụng trong một môi trường chiến thuật, và làm cách nào AWACS có thể điều khiển máy bay siêu âm. Phần ngân sách không quân dự tính là 4 tỷ USD. Các thử nghiệm của NASA nhằm trả lời các câu hỏi như làm sao hiệu suất đầu vào động cơ ảnh hưởng đến khung máy bay và sự tương tác đẩy, tiếng ồn ở phần biên máy bay, hơi nóng chuyển đổi dưới điều kiện tốc độ Mach cao, và độ cao có thể đạt được ở tốc độ siêu âm. Ngân sách của NASA cho hai năm rưỡi dự kiến là 14 triệu USD.[4]

    Chiếc YF-12 thứ tư, "YF-12C", thật sự là chiếc SR-71A (61-7951) thứ hai. Máy bay được cho NASA mượn để thử nghiệm lực đẩy sau khi mất chiếc YF-12A (60-6936) vào năm 1971. SR-71A được tái chỉ định như YF-12C và được định cho một số hiệu seri 60-6937 không có thật. YF-12C được NASA sử dụng cho đến tháng 9-1978, sau đó nó quay trở lại không quân. Ngày nay, chiếc máy bay này được trưng bày tại Bảo tàng không quân Pima ở Tucson, AZ.[5]

    Danh sách máy bay YF-12 Số hiệu Kiểu Số phận
    60-6934 YF-12A Biển đổi thành SR-71C 64-17981 sau hỏa hoạn năm 1966
    60-6935 YF-12A Bảo tàng không quân, Wright-Patterson AFB, OH
    60-6936 YF-12A Mất, 24 tháng 6 1971

    Thông số kỹ thuật (YF-12A)



    Đặc điểm riêng
    Phi đoàn: 2
    Chiều dài: 101 ft 8 in (30.97 m)
    Sải cánh: 55 ft 7 in (16.95 m)
    Chiều cao: 18 ft 6 in (5.64 m)
    Diện tích cánh: 1.795 ft² (167 m²)
    Trọng lượng rỗng: 60.730 lb (27.604 kg)
    Trọng lượng cất cánh: 140.000 lb (63.504 kg[2])
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 124.000 lb (56.200 kg)
    Động cơ: 2× Pratt & Whitney JTD11D-20A tỷ lệ đường re lớn
    Lực đẩy khô: 20.500 lbf (91.2 kN) mỗi chiếc
    Đốt nhiên liệu lần hai: 31.500 lbf (140 kN) mỗi chiếc
    Hiệu suất bay
    Vận tốc cực đại: Mach 3.35 (2.275 mph, 3.661 km/h[2]) 80.000 ft
    Tầm bay: 3.000 mi (4.800 km)
    Trần bay: 90.000 ft (24.000 m)
    Vận tốc lên cao: n/a
    Lực nâng của cánh: n/a
    Lực đẩy/trọng lượng: n/a
    Vũ khí
    3× tên lửa không đối không Hughes AIM-47A
    Hệ thống điện tử
    Radar điều khiển hỏa lực Hughes AN/ASG-18
    Máy bay YF-12 trưng bày
    Chiếc YF-12A duy nhất còn lại được trưng bày tại:

    Bảo tàng Quốc gia Không quân Hoa Kỳ, tại Căn cứ không quân Wright-Patterson, gần Dayton, Ohio.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    F-14 Tomcat

    Grumman F-14 Tomcat (mèo đực) là một loại máy bay siêu âm, có 2 động cơ, 2 chỗ, cánh cụp cánh xòe. Trong suốt thời gian phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ (1972-2006), nó thể hiện là một máy bay chiến đấu vượt trội trên không, dùng vào do thám, ném bom và chặn đánh trên không. Nó được phát triển sau sự sụp đổ của dự án F-111B, nó trở thành dòng đầu tiên trong loạt máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ được phát triển sau những trận không chiến với MiG ở Việt Nam.

    Được đưa vào sử dụng trong hải quân năm 1972, thay thế cho F-4 Phantom II. Được xuất khẩu cho Vương quốc Iran năm 1976. Nó được rút khỏi biên chế của Hải quân Hoa Kỳ vào 22-9-2006, và được thay thế bởi F/A-18E/F Super Hornet. Đến 2006, Không quân Cộng hòa Hồi giáo Iran vẫn sử dụng F-14 nhưng đã cũ do không có phụ tùng thay thế.
    Kiểu Máy bay tiêm kích đánh chặn /đa năng
    Hãng sản xuất Grumman Aircraft Engineering Corporation
    Chuyến bay đầu tiên 21 tháng 12-1970
    Được giới thiệu 1974
    Tình trạng Phục vụ tích cực
    Hãng sử dụng chính Không quân Hoa Kỳ
    Không quân Cộng hòa Hồi giáo Iran
    Số lượng được sản xuất 712
    Chi phí máy bay 38 triệu USD năm 1998



    Lịch sử về F-14 Tomcat

    F-14 Tomcat được tạo nên để thay thế cho dự án F-111B, hải quân thay đổi dự án Tactical Fighter Experimental (TFX). Hải quân có nhu cầu về những phi đội máy bay chiến đấu với vai trò ngăn chặn máy bay ném bom của Liên Xô trước khi những máy bay của Liên Xô phóng tên lửa vào tàu sân bay. Hải quân rất cố gắng chống lại dự án TFX, khi mà nhu cầu sát nhập máy bay chiến đấu của hải quân vào không quân nhằm tăng khả năng tấn công của không quân, họ sợ rằng sự sát nhập sẽ tạo ra sự yếu kém của máy bay chiến đấu. Sự lo lắng này đã ăn sâu khi mà đô đốc Connolly lấy sự phát triển F-111A làm mục tiêu chính và nhận ra nó không thể đạt tốc độ siêu âm và có đặc điểm hạ cánh kém. Vào tháng 5-1968, hội đồng hải quân quyết định cắt tiền đầu tư cho F-111B, trong thời gian ngắn đã đưa ra dự án RFP cho Naval Fighter Experimental (VFX), một loại máy bay chiến đấu có 2 chỗ với vận tốc Mach 2.2 và giữ vai trò thứ yếu trong sự chống đỡ trên không. Có 5 công ty tham gia bỏ thầu, McDonnell Douglas và Grumman đã được chọn vào tháng 12-1968, và Grumman đã nhận được hợp đồng vào tháng 1-1969. Grumman là một thành viên trong dự án F-111B, công việc được sớm bắt đầu và dự án sớm nhận được sự nhạo báng, sự dự đoán giá thành sẽ lớn khi họ thấy Grumman là thành viên trong dự án F-111B, một khi mà hải quân vừa thay thế dự án F-111B.

    Grumman đã dùng lại đồ án động cơ TF-30 từ F-111B, dù hải quân có ý định dùng động cơ F401 cho máy bay của họ được phát triển bởi Pratt & Whitney. Dù khả quan hơn F-111B, nó vẫn là loại máy bay chiến đấu to lớn và nặng nề của Hoa Kỳ của thời kỳ này, nó có kích cỡ đáp ứng đòi hỏi để mang được loại rada lớn AWG-9 và tên lửa AIM-54 Phoenix, cũng lấy từ F-111B. Để làm giảm bớt giá thành, F-14 sẽ dùng cơ cấu hạ cánh, ống dẫn không khí và cánh của Grumman A-6 Intruder.

    Trên sự công nhận hợp đồng dành cho F-14, Grumman đã thành công trong việc mở rộng phát triển nó ở Calverton, Long Island, New York để dễ dàng trong những bài kiểm tra và đánh giá công nghệ cánh để đánh chặn. Rất nhiều lần thử nghiệm trên không ở Long Island Sound thành công trước một vài tai nạn nhỏ. Dưới sự bảo trợ của bộ trưởng quốc phòng lúc ấy là McNamara, hải quân đã chấp nhận sử dụng F-14.

    F-14 bay chuyến đầu tiên vào 21-12-1970, 22 tháng sau khi Grumman nhận được hợp đồng, và sau đó được chuyển sang Initial Operational Capability (IOC) năm 1973. Trong khi thủy quân lục chiến để mắt tới F-14, tiến xa hơn tới việc gửi phi công tới VF-124 để đào tạo.



    Lịch sử hoạt động

    Hải quân Hoa Kỳ
    F-14 bắt đầu thay thế cho F-4 Phantom II trong hải quân vào tháng 9-1974 phi đội VF-1 Wolfpack và VFA-2 Bounty Hunters trên tàu sân bay USS Enterprise (CVN 65), và đã tham gia vào sự kiện di tản của người Mĩ khỏi Sài Gòn. F-14 tiêu diệt mục tiêu đầu tiên vào 19-8-1981 trong sự kiện vịnh Sidra (Gulf of Sidra), 2 chiếc F-14 thuộc phi đội VF-41 giao chiến với 2 chiếc Su-22 Fitters của Libya. F-14 tránh khỏi những đợt tấn công săn đuổi của tên lửa tầm nhiệt AA-2 Atoll và bắn trả lại, hạ cả 2 máy bay chiến đấu của Libya. F-14 của hải quân Hoa Kỳ còn không chiến với MiG-23 "Floggers" của Libya trong vịnh Sidra (Gulf of Sidra incident) ngày 4-1-1989 một lần nữa, 2 chiếc F-14 thuộc phi đội VF-32 đã hạ 2 chiếc MiG-23 Floggers.
    F-14 được công nhận rỗng rãi, nó được cải tiến và được giới thiệu trong tháng 3-1987 với phiên bản F-14A+. Bụng máy bay được cải tiến nhằm thay thế động cơ TF30 bằng động cơ khác mạnh hơn General Electric F110-400. Tất cả F-14A+ được thiết kế lại từ F-14B có thể vào tháng 1-1991. Dọc theo chương trình F-14B những cải tiến đã khởi đầu cho sự kết hợp giữa ngành điện tử hàng không và hệ thống vũ khí, sự cải tiến đã làm cho F-14 trở nên trở nên mạnh hơn trước những cuộc cạnh tranh khác. F-14D, được sản xuất từ chương trình cải tiến năm 1991 trong sự giảm dần số lượng, nó được trang bị động cơ General Electric F110-400 giống F-14B, hệ thống rada mới AN/APG-71, Airborne Self Protection Jammer (ASPJ-hệ thống làm nhiễu), Joint Tactical Information Distribution System (JTIDS-hệ thống sắp xếp thông tin do thám), Infrared Search and Track (IRST-dò tìm bằng tia hồng ngoại) và điều chỉnh lại hệ thống bay.

    Đến năm 1994, tất cả biến thể của F-14 đã thể hiện năng lực tấn công của mình, chúng đều được trang bị hệ thống đi biển ban đêm bằng tia hồng ngoại LANTIRN, tưong thích hệ thống nhìn ban đêm và hệ thống bảo vệ mới LAU-138 BOL Chaff. Đến khi gần hết hạn sử dụng, F-14 vẫn tiếp tục được cải tiến.

    Những chiếc F-14 đã tham gia vào chiến dịch bão táp sa mạc năm 1991 trong Chiến tranh vùng Vịnh, nhiệm vụ chủ yếu của nó bị hạn chế trong hộ tống và do thám trên không. F-15 Eagles được ưu tiên trao nhiệm vụ trong chiến dịch đáp trả bằng không quân của Hoa Kỳ đối với Iraq năm 1991. Bất cứ vật thể nào tỏa ra nhiệt đều bị rada cảnh báo AWG-9/APG-71 phát hiện, khi máy bay chiến đấu của Iraq bị phát hiện, lập tức những chiếc F-14 có mặt, có lẽ do rút ra được những bài học trong chiến tranh với Iran khi mà Iran sử dụng phi đội F-14 của họ tham chiến, nên những máy bay của Iraq lập tức từ bỏ ý định tấn công khi thấy F-14 và tên lửa AIM-54. F-14 phải chịu tổn thất đầu tiên ngày 21-1-1991, 1 chiếc F-14A cải tiến thuộc phi đội VF-103 bị bắn hạ bởi tên lửa SA-2 trong khi đang thực hiện nhiệm vụ hộ tống gần sân bay quân sự Al Asad ở Iraq. 2 phi đều may mắn thoát nạn nhờ hệ thống ghế phóng và được lực lượng đặc nhiệm của không quân giải thoát nhưng viên sĩ quan hoa tiêu đã bị Iraq bắt giữ trở lại và bị giam cầm đến hết cuộc chiến. F-14 có thắng lợi cuối cùng trong chiến tranh vào ngày 7-2-1991 khi một chiếc F-14A thuộc phi đội VF-1 bắn hạ một chiếc Mil Mi-8 của Iraq bằng tên lửa AIM-9 Sidewinder.



    Năm 1995, những chiếc F-14 thuộc phi đội VF-14 và VF-41 đã tham gia vào chiến dịch ném bom Bosna và Hercegovina (NATO gọi là Operation Deliberate Force), năm 1999 là chiến dịch không kích Nam Tư (Operation Allied Force) và năm 1998, phi đội VF-32 và VF-213 tham gia vào chiến dịch cáo sa mạc (Operation Desert Fox). Ngày 15-2-2001, bom thông minh JDAM (Joint Direct Attack Munition hay Vũ khí tấn công điều khiển chung) được trang bị vào kho vũ khí của F-14. Ngày 7-10-2001, F-14 thực hiện một số cuộc tấn công đầu tiên đánh dấu sự mở đầu cho chiến dịch tự do lâu dài (Operation Enduring Freedom) ở Afghanistan và lần đầu tiên F-14 sử dụng Bom JDAM vào ngày 11-3-2002. F-14 thuộc các phi đội VF-2, VF-31, VF-32, VF-154 và VF-213 cũng tham gia vào chiến dịch Iraq tự do (Operation Iraqi Freedom). Vào ngày 10-12-2005, F-14D thuộc phi đội VF-31 và VF-213 được cải tiến với thiết bị ROVER (Remotely Operated Video Enhanced Receiver), hệ thống này là một thiết kế sáng tạo được ứng dụng trên phương tiện bay không người lái, cho phép kết nối hình ảnh trực tiếp từ máy bay được xử lý bằng hệ thống Forward Air Controller (FAC) đến các hệ thống dưới măt đất thông qua FAC's laptop. Những chiếc F-14 thuộc phi đội VF-31 và VF-213 được triển khai làm nhiệm vụ lần cuối cùng trên tàu sân bay [[USS Theodore Roosevelt]] năm 2005.

    Sự thay thế cho F-14

    Khi F-14 được phát triển, người ta phải lựa chọn giữa trọng lượng của nó hay là 80.000 lb của F-111B, F-14 vẫn có một kích thước lớn và giá tiền khá cao vào thời điểm đó. Chương trình thí nghiệm máy bay chiến đấu hải quân được khôi phục lại năm 1970, với mục đích hạ thấp giá thành thay thế cho F-4 Phantom và A-7 trong hạm đội của hải quân. Và F/A-18 Hornet đã nổi lên là một máy bay chiến đấu có đủ khả năng đáp ứng mọi yêu cầu.Bộ hải quân Hoa Kỳ đã không chấp nhận đề xuất của Grumman nâng cấp F-14 lên kiểu D, một kiểu máy bay của thế kỷ 21. Thay vào đó, hải quân chọn F/A-18E/F làm vai trò bảo vệ trên không và tấn công thay thế cho F-14.



    Sự nghỉ hưu của F-14
    F-14 đã hoàn thành nhiệm vụ của nó khi rút khỏi biên chế của hải quân. Một số chiếc được giữ lại phục vụ đến năm 2008 nhưng đã bị công kích đòi đưa chúng về nghỉ, nhưng tất cả F-14A và F-14B đã về nghỉ, chỉ còn 2 phi đội VF-31 Tomcatters và VF-213 Black Lions với những chiếc F-14 thuộc lớp D, sẽ phục vụ đến hết 10-3-2006 tại sân bay hải quân Oceana.

    Nhiệm vụ cuối cùng của F-14 được hoàn thành vào ngày 8-2-2006, khi 2 chiếc F-14 cất cánh từ tàu sân bay [[USS Theodore Roosevelt]] để thực hiện phi vụ thả bom ở Iraq. Và chiếc máy bay thực hiện nhiệm vụ ném bom cuối cùng thuộc phi đội VF-31 được lái bởi trung tá Bill Frank, 1 chiếc F-14D thuộc VF-213 được lái bởi đại úy William G. Sizemore. Trong suối quá trình được triển khai trên tàu USS Theodore Roosevelt, VF-31 và VF-213 cùng hoàn thành 1.163 chuyến bay làm nhiệm vụ với tổng số 6.876 giờ bay, sử dụng 9.500 pounds vũ khí trong quá trình bay do thám, giám sát trên không trong chiến dịch Iraq tự do (Operation Iraqi Freedom). Vào ngày 10-3-2006, 22 chiếc F-14 đáp cánh xuống sân bay hải quân Oceana, nơi triển khai đội hình chiến đấu lần cuối cùng của F-14. Phi công và sĩ quan rada (RIO-radar intercept officers) thuộc phi đội VF-213 sẽ được đào tạo chuyển tiếp sang sử dụng loại Super Hornet, được huấn luyện bằng F/A-18F (2 chỗ phiên bản huấn luyện) vào tháng 4-2006, và họ có thể dùng thành thạo F/A-18F vào tháng 9-2006. VF-31 vẫn giữ lại F-14 đến tháng 9 cho sự triển khai trên tàu sân bay cho đến khi bị loại bỏ. Phi công thuộc VF-31 sẽ được đào tạo sử dụng loại Super Hornet bằng phiên bản huấn luyện 1 chỗ F/A-18E vào tháng 10-2006. Phi đội VF-31 sẽ sử dụng thành thạo máy bay chiến đấu mới vào tháng 4-2007. Sau ngày 22-9-2006, những phi đội F-14 sẽ về vườn tại Davis-Monthan "Boneyard".

    Không quân hoàng gia Iran/Không quân cộng hòa hồi giáo Iran

    F-14 được cung cấp cho Không quân Hoàng gia Iran (từ 1979 là Không quân Cộng hòa Hồi giáo Iran) trong thời kỳ cầm quyền của nhà vua Iran Mohammad Reza Pahlavi.

    Đầu những năm 1970, Không quân Hoàng gia Iran (IIAF) đã tìm kiếm một loại máy bay chiến đấu cao cấp có khả năng ngăn chặn máy bay do thám MiG-25 của Liên Xô. Sau chuyến viếng thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Nixon tới Iran năm 1972, trong suốt quá trình Iran đề nghị nhận được sự giúp đỡ kỹ thuật quân sự từ phía Hoa Kỳ, IIAF đã tính toán kỹ lưỡng trong việc chọn F-14 Tomcat và F-15 Eagle. Theo sự đàm phán sơ bộ với Lầu Năm Góc, làm nền tảng cho việc ứng dụng rada AWG-9 và hệ thống vũ khí tên lửa AIM-54 Phoenix tốt nhất, Iran đã chọn F-14. Có sự chọn lựa từ phía Iran, hầu như trong năm sau đó, công ty Grumman đã đưa ra sự chào hàng tới nhà vua Iran, cuối cùng sự cạnh tranh đã thể hiện sự ganh đua giữa Eagle và Tomcat. Tiếp sau cuộc biểu diễn của 2 chiếc F-14, vào thàng 1-1974 nhà vua đã đặt hàng 30 chiếc F-14 và 424 quả tên lửa AIM-54 Phoenix trong kế hoạch "Vua Ba tư" đáng giá 300 triệu USD. Chỉ vài tháng sau kế hoạch đã được mở rộng ra tăng thêm 50 chiếc F-14A và 290 quả tên lửa AIM-54. Tổng số Iran đã đặt hàng 80 chiếc Tomcat và 714 quả tên lửa Phoenix, số tăng thêm sẽ được thay thế động cơ trong 10 năm, hoàn thành việc giao hàng, và cơ sở vật chất (xây dựng sân bay quân sự lớn Khatami, trong sa mạc gần Esfahan) cuối cùng lên tới 2 tỉ USD, đây là đơn đặt hàng lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

    Chiếc F-14 đầu tiên được hoàn thành tháng 1-1976, đã giảm bớt thiết bị điện tử trong đó, nhưng được thay thế với động cơ TF-30-414. Trong những năm sau, hơn 12 chiếc đã được cung cấp cho phía Iran. Trong lúc ấy, việc huấn luyện những nhóm phi công Iran đầu tiên đang thực hiện ở Hoa Kỳ, phi công phải trải qua sự huấn luyện theo một giáo án nghiêm ngặt, một trong những bài đánh giá là bắn hạ máy bay không người lái ở độ cao 50.000 feet bằng tên lửa AIM-54. Những bài kiểm tra phụ được thêm vào năm 1977, tháng 10-1978, 2 phi công Iran lái F-14 chặn máy bay do thám MiG-25 của Liên Xô đang trên đường làm nhiệm vụ trên bờ biển Iran trong vịnh Caspian, đã làm cho Liên Xô ngừng lại việc bay trên bầu trời Iran.



    Sau sự kiện lật đổ vua Shah, chế độ của giáo chủ Ayatollah Khomeini đã dừng hầu hết các kế hoạch quân sự trước đó. Nhiều tàu chở hàng lớn đã phải nằm dưới sự giám sát, bao gồm cả những chiếc Tomcat của Iran. Chiếc Tomcat thứ 80 bị hải quân hoãn trao cho Iran. Theo bản báo cáo trái ngược của Tom Cooper, những chiếc F-14 của Iran đã bị phá hủy theo sự ra đi của vua Shah. Sự kiện lật đổ vua Shah đã dẫn đến vết đen trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và Iran, khiến cho Iran phải chịu lệnh cấm vận của Hoa Kỳ, bao gồm cả việc chuyển giao máy bay chiến đấu và tên lửa. Một vài tin đồn cho rằng trước khi cách mạng xảy ra, một số tên lửa AIM-54 Phoenix đã được bán cho Liên Xô, và chúng đã có ảnh hưởng đến tên lửa tầm xa Vympel AA-9 của Liên Xô. Hầu hết chứng cớ không ủng hộ cho luận điệu trên, bản báo cáo tình báo đã nêu ra rằng người Iran không chỉ một lần sử dụng tên lửa Phoenix trong các trận chiến và nó có khả năng chống lại máy bay chiến đấu của kẻ địch. Iran ngay lúc bây giờ đã có một phiên bản cải tiến của AIM-54, họ đã thay thế AIM-54 bằng tên lửa không đối không R-73 của Nga.

    Trong kế hoạch "Chim Ưng" ("Sky Hawk"), Iran đã điều chỉnh tên lửa MIM-23 HAWK chống lại F-14. IRIAF cố gắng sử dụng bom chùm Mk.83 với F-14 và phát triển nó thành máy bay oanh tạc trong các trận chiến. Nguồn tin chưa kiểm chứng cho biết một phi đội F-14 đã bay sang Nga với toàn bộ máy bay và người Nga đã nghiên cứu chúng dưới sự cho phép của Iran để duy trì bảo dưỡng đồng thời nâng cấp - bao gồm cả rada, động cơ, và thiết bị điện tử của Nga. Cả Iran và Nga đều từ chối xác nhận thông tin này.

    Các biến thể
    Có tất cả 712 chiếc F-14 được sản xuất từ năm 1969 đến năm 1991 tại xưởng sản xuất của Grumman tại Bethpage, Long Island, New York.

    YF-14A : mẫu thử đầu tiên và dựa vào nó để sản xuất 12 chiếc đầu.
    F-14A : phiên bản máy bay đánh chặn trong mọi thời tiết 2 chỗ cho hải quân Hoa Kỳ. Sự cải tiến đã thêm vào khả năng mang theo nhiều vũ khí hơn. 545 chiếc F-14A đã được cung cấp cho hải quân Hoa Kỳ và 79 chiếc cho Iran. 102 chiếc F-14A cuối cùng được cung cấp với động cơ cải tiến TF30-P-414A. Thêm vào đó chiếc F-14A thứ 80 được chế tạo cho Iran, nhưng đã chuyển giao cho hải quân Hoa Kỳ.
    F-14A+ hay F-14B : bản cải tiến với động cơ GE F110-400. Rất nhiều thiết bị điện tử đã được trang bị. 38 máy bay mới được sản xuất và 48 chiếc F-14A được cải tiến thành phiên bản F-14B. Vào những năm 1990, 67 chiếc F-14B được bảo dưỡng để tăng tuổi thọ, cải tiến hệ thống tấn công và hệ thống bảo vệ điển tử.
    F-14D Super Tomcat : bản cải tiến cuối cùng của F-14. Động cơ TF-30 cũ được thay thế bằng động cơ GE F110-400, giống như F-14B. Hơn nữa F-14D có hệ thống điện tử hoàn toàn mới, buồng lái mới và thay thế rada AWG-9 bằng rada mới APG-71. 37 chiếc đã được sản xuất và 18 chiếc F-14A đã được nâng cấp thành phiên bản D.



    Biên chế của F-14

    Các phi đội có sử dụng F-14 trong hải quân Hoa Kỳ (USN)

    VF-1 Wolfpack (giải thể 30-9-1993)
    VF-2 Bounty Hunters (thay thế với F/A-18F 1-7-2003)
    VF-11 Red Rippers (thay thế với F/A-18F 5-2005)
    VF-14 Tophatters (thay thế với F/A-18E 1-12-2001)
    VF-21 Freelancers (giải thể 31-1-1996)
    VF-24 Fighting Renegades (giải thể 20-8-1996)
    VF-31 Tomcatters (thay thế với F/A-18E 10-2006)
    VF-32 Swordsmen (thay thế với F/A-18F 1-10-2005)
    VF-33 Starfighters (giải thể 1-10-1993)
    VF-41 Black Aces (thay thế với F/A-18F 1-12-2001)
    VF-51 Screaming Eagles (giải thể 31-3-1995)
    VF-74 Bedevilers (giải thể 30-4-1994)
    VF-84 Jolly Rogers (giải thể 1-10-1995)
    VF-101 Grim Reapers (giải thể 15-9-2005)
    VF-102 Diamondbacks (thay thế với F/A-18F 1-5-2002)
    VF-103 Sluggers/Jolly Rogers (thay thế với F/A-18F 1-5-2005)
    VF-111 Sundowners (giải thể 31-3-1995)
    VF-114 Aardvarks (giải thể 30-4-1993)
    VF-124 Gunfighters (giải thể 30-9-1994)
    VF-142 Ghostriders (giải thể 30-4-1995)
    VF-143 Pukin' Dogs (thay thế với F/A-18E đầu 2005)
    VF-154 Black Knights (thay thế với F/A-18F 1-10-2003)
    VF-191 Satan's Kittens (giải thể 30-4-1988)
    VF-194 Red Lightnings (giải thể 30-4-1988)
    VF-201 Hunters (thay thế với F/A-18A 1-1-1999)
    VF-202 Superheats (giải thể 31-12-1999)
    VF-211 Fighting Checkmates (thay thế với F/A-18F 1-10-2004)
    VF-213 Black Lions (thay thế với F/A-18F 1-5-2006)
    VF-301 Devil's Disciples (giải thể 11-9-1994)
    VF-302 Stallions (giải thể 11-9-1994)
    VX-4 Evaluators (giải thể 30-9-1994)
    VX-9 Vampires (đang hoạt động gồm F/A-18C/D/E/F, EA-6B, AV-8B, và AH-1)

    Các phi đội F-14 trong không quân cộng hòa hồi giáo Iran (IRIAF)
    Phi đội số 72: F-14A, 1976 - 1980
    Phi đội số 73: F-14A, 1977 - giữa 1990
    Phi đội số 81: F-14A, 1977 - đến ngày nay
    Phi đội số 82: F-14A, 1978 - đến ngày nay
    Phi đội số 83: F-14A, đổi tên từ phi đội số 73

    Thông số kỹ thuật (F-14D Super Tomcat)



    Thông số chung
    Phi đoàn: 2 (phi công và sĩ quan rada)
    Dài: 61 ft 9 in (18.6 m)
    Chiều dài cánh: cánh xòe 64 ft, cánh cụp 38 ft (19 m / 11.4 m)
    Cao: 16 ft (4.8 m)
    Diện tích cánh: 565 ft² (54.5 m²)
    Cánh máy bay: NACA 64A209.65 mod root, 64A208.91 mod tip
    Trọng lượng rỗng: 42.000 lb (19.000 kg)
    Trọng lượng cất cánh: 61.000 lb (28.000 kg)
    Trọng lượng mang tối đa: 72.900 lb (32.805 kg)
    Động cơ: 2× General Electric F110-GE-400 động cơ phản lực cánh quật đẩy, lực đẩy 13.810 lbf (72kN) với nhiên liệu thường, 27.800 lbf (126kN) với nhiên liệu phụ trội

    Đặc tính
    Vận tốc cực đại: Mach 2.34, 1.544 mph (2.485 km/h)
    Phạm vi hoạt động: 576 dặm (927 km)
    Trần bay: 50.000+ ft (16.000+ m)
    Vận tốc: 45.000+ ft/min (230+ m/s)
    Lực nâng của cánh: 113.4 lb/ft² (553.9 kg/m²)
    Lực đẩy/khối lượng: 0.91

    Vũ khí
    Mang được 13.000 lb (5.900 kg), vũ khí gồm:

    Súng: 1× M61 Vulcan 20 mm Gatling Gun
    Tên lửa: AIM-54 Phoenix, AIM-7 Sparrow , AIM-9 Sidewinder không đối không
    2× AIM-9 + 6× AIM-54
    2× AIM-9 + 2× AIM-54 + 3× AIM-7
    2× AIM-9 + 4× AIM-54 + 2× AIM-7
    2× AIM-9 + 6× AIM-7
    4× AIM-9 + 4× AIM-54
    4× AIM-9 + 4× AIM-7
    Bom: GBU-10, GBU-12, GBU-16, GBU-24, GBU-24E Paveway I/II/III LGB, GBU-31, GBU-38 JDAM, Mk-20 Rockeye II, Mk-82, Mk-83 và Mk-84

    Thiết bị điện tử : Hughes AN/APG-71 radar
    AN/ASN-130 INS, IRST, TCS






Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •