Trang 1 của 13 12311 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 127
  1. #1
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    18

    Yamamoto và những trận đánh lịch sử trên Thái Bình Dương

    Yamamoto và những trận đánh lịch sử trên Thái Bình Dương
    nguồn quansuvn.net
    LỜI NÓI ĐẦU


    Khi Nhật Bản bắt đầu hồi sinh sau đệ nhị thế chiến, dân chúng Mỹ có cái nhìn vô tư hơn đối với cuộc chiến, và càng ngày càng có nhiều người bắt đầu đòi hỏi những câu chuyện xoay quanh cuộc chiến nầy được nói thẳng ra. Nhiều quyển sách có giá trị đã được một số cựu phi công Hải Quân Hoàng Gia viết, phản ảnh trung thực sự hiểu biết về những trận không chiến mà các tác giả đã từng tham dự.

    Nhiều người bạn đã thúc giục tôi kể lại câu chuyện về hải chiến thời ấy. Đây không phải là một việc làm dễ dàng, bởi các thủy thủ khu trục hạm chỉ được huấn luyện để chiến đấu mà không được huấn luyện về viết văn. Thật vậy, quyển sách nầy không thể ra đời nếu không có sự hợp tác hết lòng của một số đông thân hữu mà tôi không thể nào đề cập hết ra đây. Tuy nhiên tôi có thể nói là tất cả những người có tên trong quyển sách nầy đã được tôi đích thân phỏng vấn, hoặc đã tình nguyện cung cấp chuyện riêng của họ cho tôi.

    Tôi đặc biệt ghi ơn người bạn của tôi, Ko Nagasawa, giữ chức vụ Tổng Tư Lịnh của Tân Hải Quân Nhựt khoảng thời gian từ 1954 đến 1958, là người không chỉ sẵn lòng cung cấp cho tôi các câu chuyện của chính ông, mà còn chỉ thị cho Phân Bộ Lịch Sử của hải quân hợp tác với tôi.Tất cả các sử gia của hải quân đã đóng góp rất nhiều vào quyển sách nầy bằng cách cho phép sử dụng các kết quả tìm tòi và nghiên cứu của họ, điều khiến tôi luôn luôn nhớ đến.

    Tôi tin quyển sách nầy sẽ cung hiến một quan điểm trung thực của phía Nhật Bản, có thể bổ túc cho nhiều quyển sách giá trị của người Mỹ đã viết trước đây, nhưng có một điều đáng buồn là hầu hết các tài liệu liên quan đến Nhật Bản đều thiếu chính xác. Khi viết, các tác giả người Mỹ dựa vào các cuộc thẩm vấn những người còn sống sót hoặc cựu chiến binh, do chính những kẻ chiến thắng thực hiện vào thời gian sơ khởi của cuộc chiếm đóng, thành thử những chứng liệu của họ thường quá chủ quan.

    Khi viết quyển sách nầy, tôi đã cố gắng tránh chủ quan càng nhiều càng tốt, và để làm như thế, tôi phải đưa ra sự phê phán nghiệt ngã, không chỉ đối với chính tôi, mà còn đối với những thân hữu đã giúp đỡ tôi hết lòng. Thói quen của con người, và cũng là sự thất bại của mọi sĩ quan trong quân đội, là thường cố che đậy mọi lỗi lầm nếu không của chính mình thì cũng của bạn bè. Thật vậy , tôi đã thấy khổ tâm khi phải tránh sự thất bại nầy.

    Sự phê phán và sự chân thật của tôi có thể gây nhiều tổn thương cho các đồng nghiệp của tôi, và có thể cho những người đã chiến đấu chống lại tôi.Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng những đọc giả như thể sẽ có một cái nhìn bao dung, và xin cố hiểu rằng thâm tâm tôi không muốn gây phiền lòng cho riêng ai một ai.

    Được sống sót sau khi chiếc tuần dương hạm Yahagi của tôi bị đánh chìm ở Okinawa vào tháng 4 năm 1945, tôi được bổ nhiệm về trường huấn luyện Ngư Lôi Đỉnh Kawatana gần Sasebo và Nagasaki. Chức vụ chỉ huy mới của tôi là trông coi về công cuộc huấn luyện du kích chiến, dự phòng chống lại các cuộc đổ bộ của người Mỹ lên lãnh thổ của Nhật Bản.

    Lịnh đầu hàng của Nhựt Hoàng Hirohito ngày 15 tháng 8 năm 1945 đã đến tôi trong khi tôi đang đảm trách công việc huấn luyện một số thanh niên Nhựt cải trang thành phụ nữ hoặc tăng ni, cũng có mục đích dự phòng chận lại các lực lượng xâm chiếm, ở căn cứ Kawatana. Tôi đã giao nộp căn cứ nầy cho một lực lượng đặc nhiệm thuộc hải quân Hoa Kỳ, do Đại Tá Francis D.McCorkle chỉ huy, vào ngày 25 tháng 9 năm 1945.

    Viên Đại Tá Hoa Kỳ đối xứ tôi trong tư cách một người bạn hơn là một kẻ chiến thắng, điều nầy làm tôi ngạc nhiên. Ông ta yêu cầu tôi tặng ông ta một máy tính tốc độ của một trong những chiếc Ngư Lôi Đỉnh tự sát Shinyo đang đậu ở quân cảng Kawatana. Tôi bắt buộc phải làm hài lòng ông ta.

    Từ khi chiến tranh chấm dứt, tôi làm việc cho một công ty chuyển vận muối. Hai đứa con gái lớn của tôi kết hôn năm 1954, chồng của chúng, một là sĩ quan hàng hải, một là công chức. Con trai tôi, Mikito, đã vào Đại Học, vợ tôi, Chizu, mạnh khỏe và hạnh phúc.

    Đông Kinh, ngày 25 tháng 2 năm 1958

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    14
    TAMEICHI HARA


    Phần đầu truyện

    1
    Toàn thể Hải Quân Hoàng Gia Nhật gồm: 25 hàng không mẫu hạm, 12 Thiết giáp hạm, 18 tuần dương hạm hạng nặng, 26 tuần dương hạm hạng nhẹ, 175 khu trục hạm và 95 tiềm thủy đỉnh.

    Nhưng các khu trục hạm nhỏ bé, bất kì thời gian nào cũng không quá 130 chiếc, mới đích thực gánh mọi nặng nhọc nhất của cuộc chiến. Chúng là con ngựa của Hải Quân hoàng gia.

    Những các khu trục hạm nhỏ bé này không chỉ đơn giản được giao nhiệm vụ của các tầu chiến mà còn phải lãnh nhiệm vụ hộ tống cho các cuộc chuyển vận và có khi phải hộ tống hàng nhiều tháng trong cuộc chiến, đặt biệt từ đầu năm 1943 đến giữa năm 1944, khi hầu hết các đại chiến hạm của Nhật được “giữ gìn cẩn thận” tại một địa điểm an toàn cách xa các khu vực chiến đấu.

    Khu trục hạm Nhật đã từng tham dự rất nhiều trận hải chiến dữ dội và đạt nhiều thắng lợi vẻ vang vào những ngày đầu của cuộc chiến. Những chiến thắng này đã chứng minh tài điều động khu trục hạm của người Nhật vượt trội hằn Đồng Minh.

    Tuy nhiên, từ giữa năm 1943 các khu trục hạm Nhật đã hoạt động hết tháng này sang tháng khác mà không được bảo trì hoặc tu bổ đúng mức và vấn đề bồi dưỡng thủy thủ cũng khiếm khuyết cho nên các tàu chiến hữu hiệu này dần mất ưu thế trước các tàu chiến đồng loại của Đồng Minh. Hơn nữa, công việc phát triển các trang bị khoa học của Đồng Minh đã đạt đến mức độ đáng kinh ngạc, và họ hơn nữa đã dần dần nắm ưu thế trên không.

    Tuy nhiên, các Khu Trục Hạm Nhật vẫn chiến đấu dũng cảm và ngoạn mục cho đến tàn cuộc chiến. Tôi nghĩ những thành tích của chúng đáng được ghi nhắc lại cho hậu thế. Mặc dầu những trận chiến của khu trục hạm không thể so sánh được với những trận hải chiến qui mô và lừng danh chẳng hạn như biển San Hô, Midway, Mariana hoặc Leyte Gulf có cả sự tham gia của phi cơ và các chiến hạm chủ lực, nhưng những nổ lực và thành công của các khu trục hạm trong các trận hải chiến hơn, đang dần dần bị quên lãng, cũng có tầm mức giá trị đáng kể cần phải được ghi lại chi tiết.

    Các hàng không mẫu hạm đã giữ vai trò đầu trong trận Trân Châu Cảng, có thể nói một thành công, cũng như các cuộc hành quân qui mô song đã đưa đến thảm bại hoàn toàn cho Nhật ở Midway, Marianas và Vịnh Leyte.

    Các tàu chiến lớn của Nhật được Bộ Tư Lệnh Tối Cao nâng niu và “giữ gìn” bằng mọi giá, cho dù ngay khi gặp phải những tình thế tồi tệ nhứt. Như đại chiến hạm Musashi 72400 tấn, tiêu thụ nhiên liệu gấp 80 lần chiếc khu trục hạm lớn, chỉ tham chiến một lần và bị đánh chìm ở vịnh Leyte mà không có dịp may để sử dụng 9 khẩu 450 ly nhằm vào bất kì một mục tiêu giá trị nào.

    Yamato 72800 tấn chiếc tàu chị của Mushashi, chỉ tham chiến được 2 lần. Tại Leyte, chiếc tàu này bị các hàng không mẫu hạm hạng nhẹ của Hoa Kỳ chận đứng. Và cùng năm đó trên đường tham dự nhiệm vụ tự sát ở Okinawa, nó bị đánh chìm ở Đông Hải, cách bờ biển Nhật Bản hơn 100 dặm.

    Chỉ có những khu trục hạm nhỏ của Nhật hoạt động liên tục trong suốt cuộc chiến và trong nhiệm vụ hộ tống các đại chiến hạm. Chúng đã đánh chìm nhiều chiến hạm, tàu ngầm, các chuyển vận hạm chuyển vận tiếp tế và binh sỹ của địch quân.

    Nhiệm vụ thích thú nhất của tôi trong Hải Quân Hoàng Gia có lẽ là khoảng thời gian lênh đênh trên các khu trục hạm và cũng có thể nói đó là nhiệm vụ mà tôi theo đuổi trong suốt cuộc chiến. Lúc ấy các bạn hữu trong Hải Quân Hoàng Gia đã gọi tôi là “hạm trưởng huyền diệu” và chiếc khu trục hạm Shigure của tôi mang biệt danh “Kiên cố”. Tôi không nghĩ rằng tôi đáng được hưởng những lời khen ngợi nầy. Những sỹ quan thuộc 129 khu trục hạm của Nhật bị đánh chìm, cũng giống như nhiều lực lượng hải quân khác đã ra đi vĩnh viễn lúc tài ba của họ còn đang phát triển và nhiều người trong số nầy vượt xa tôi. Thật ra sự sống sót của tôi chẳng qua là vấn đề may mắn.

    Giữa những kẻ sống sót như tôi, tôi tin rằng có những người tài ba bằng hoặc hơn tôi, nhưng họ không được để cập đến các thành tích chiến đấu của họ, dĩ nhiên họ đã làm theo câu châm ngôn: “ Bại tướng không nên nhớ đến các cuộc chiến đấu của mình”.
    Riêng tôi, tôi quyết định “thách thức” với câu châm ngôn này, không phải cho chính tôi, mà để những chiếc khu trục hạm và những người đã từng chiến đấu với chúng, mà gây cho họ niềm tin thích đáng. Cho họ thấy rằng cuộc bại trận nầy không hề gây tổn thương đến niềm tin và thành quả họ đạt được. Nếu quyển sách này có vẻ như đã nói về cái tôi quá nhiều, xin đọc giả hiểu một cách đơn giản là tôi chỉ muốn cố gắng thể hiện một “mẫu người khu trục hạm của Nhật Bản ”, với những việc làm thích đáng, cũng như các lỗi lầm của hắn, ngoài ra chẳng còn hàm ý nào khác.

    Quyển sách nầy không thể nào ghi lại tất cả câu chuyện của từng khu trục hạm một. Đặt biệt, tôi đã bỏ qua không để cập đến khu trục hạm Yukikaze, chiếc tàu đã dự tám cuộc hành quân và các trận hải chiến quan trọng trong những ngày cuối của cuộc chiến, nhưng vẫn còn tồn tại. Bởi lẽ theo ý kiến của tôi, các thành tích của Yukikaze trong khoảng thời gian từ 1941 đến 1944, đại tá Hải Quân Hoàng Gia Ryokichi Ranma, là người đủ tư cách để làm việc này. Tôi hi vọng ông sẽ viết đầy đủ chi tiết về chiếc Yukikaze qua các dữ kiện của riêng ông.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    2
    Vào ngày 7 tháng 4 năm 1945, tuần dương hạm hạng nhẹ Yahagi đã chịu đựng một cuộc tấn công kéo dài 90 phút của các phóng pháo Avenger và chiến đấu cơ Hellcat của Hoa Kỳ. Chiếc tàu đã trúng 6 thủy lôi, 12 quả bom 250 cân Anh, và nhiều loại bom khác. Hình phạt này tỏ ra quá nhiều cho chiếc tàu dù nó đã chiến đấu dũng cảm .

    Sáng sớm hôm đó, Yahagi khởi hành từ biển Nhật Bản với 8 khu trục hạm và thiết giáp hạm khổng lồ Yamato. Mục tiêu của các chiếc tàu này là Okinawa. Nơi đây, một cuộc tấn công tự sát sẽ được tung ra nhằm vào các lực lượng xâm chiếm của Hoa Kỳ. Rõ ràng đây là một cuộc tấn công tự sát, bởi các tàu chiến của Nhật chỉ mang theo đủ nhiên liệu cho lượt đi mà thôi.

    Bấy giờ cách bờ biển Nhật Bản không đầy 100 dặm, địch quân đã tung ra một cuộc tấn công dữ dội, chận đầu lực lượng đặc nhiệm Yamato và hạ gục tuần dương hạm hạng nhẹ Yahagi.

    Là hạm trưởng của Yahagi, tôi đứng trên đài chỉ huy vào lúc các lượn sóng đã mấp mé đến chân. Cùng đứng với tôi là Phó Đô Đốc Keizo Komura, Tư Lệnh lực lượng hộ tống. Quanh chúng tôi đầy rẩy sự hủy diệt do cuộc tấn công của địch gây ra. Trong lòng chiếc Yahagi, xác người lẫn lộn với các mảnh vỡ, không một vật gì còn nguyên vẹn sau cuộc không kích như vũ bảo. Chiếc tàu nghiêng về tả mạn 30 độ và chìm nhanh chóng. Phó Đô Đốc Komura không bị thương, riêng tôi mặc dù máu chảy xuống ướt bàn tay trái, tôi cũng không hề có cảm giác gì gọi là bị trúng đạn.

    Nhìn quanh lần cuối cùng, tôi thấy thiết giáp hạm Yamato, cách phía trước tôi khoảng 6 km, vẫn còn chiến đấu. Hai trong số các khu trục hạm của chúng tôi chìm. Ba chiếc khác đang bốc cháy dữ dội, hạ dần xuống nước và sau đó mất tăm hẳn. Ba chiếc còn lại đang chạy theo hình chữ chi một cách tuyệt vọng.

    “Đi”, Phó Đô Đốc Komura nói. Tôi gật đầu. Chúng tôi tháo giày và nhảy xuống nước. Ngay lúc đó chiếc tàu chìm xuống, cuốn chúng tôi theo tận dưới đáy Đông Hải. Vực nước xoáy chiếc tàu chìm tạo ra đã nắm cứng lấy chúng tôi như một bàn tay vô hình có sức mạnh khủng khiếp. Tôi vùng vẫy một cách vô ích. Tôi ngộp thở và nuốt liên hồi. Oanh tôi tối đen như mực. Tôi đã chết? Chưa, tôi lại cố gắng vùng vẩy. Tôi không sao nhớ được đã trãi qua bao nhiêu phút, nhưng đó là một thời gian rất dài đối với tôi, thình lình bàn tay có sức mạnh khủng khiếp đó buông tôi ra. Một làn ánh sáng mỏng manh phía trên tôi, chứng tỏ tôi đang trồi lên mặt nước. Một dòng bọt từ mũi tôi túa ra và tôi lại uống nước. Tôi đạp mạnh và vùng vẩy để bắt buộc bóng tối nhường lối cho bầu trời xanh và ánh nắng. Tôi giật nẩy mình vì trồi lên mặt nước một cách quá đột ngột. Choáng váng đầu óc trống rổng, tôi chỉ biết thả trôi trên mặt nước. Nhưng tôi nghe và nhìn thấy chiếc Yamato vẫn còn đang chiến đấu. Phi cơ của Hoa Kỳ quây quần như một bầy muỗi phía trên và chung quanh chiếc tàu, và những trái hỏa tiển chỉ tử được phóng ra, nhưng chiếc tàu vẫn tiếp tục chống trả. Cảnh tượng đầy phấn khởi nầy đã giúp tôi rời khỏi con ngơ ngác. Nhưng cảnh tượng trước mắt chẳng tồn tại lâu, vì tiếp liền đó, một cột lửa và khói trắng vĩ đại từ chiếc tàu bốc lên, che khuất mọi vật. Riêng cuộn khói bốc cao khoảng 6000 thước. Khi khói tan, tôi không còn thấy gì trên mặt nước nữa. Đại chiến hạm Yamato, niềm kiêu hãnh của Hải Quân Hoàng Gia Nhật, đã biến mình vào biển cả, điều này có nghĩa là vận mạng của Hải Quân Hoàng Gia đã cáo chung.

    Tôi rùng mình. Những giọt lệ nóng dâng đầy đôi mắt và chảy xuống má tôi. Tôi bám lấy một mảnh vụn và trôi lênh đênh một cách buồn bả.

    Vận mạng của tôi cũng cáo chung. Từ đầu cuộc chiến Thái Bình Dương cho đến nay, tôi đã thực hiện hơn 100 hải xuất và, trong khi một số bạn bè của tôi đã vĩnh viễn ra đi, tôi luôn luôn trở về với những chiến thắng. Giờ đây tôi mới nếm mùi cay đắng của chiến bại lần đầu tiên trong đời binh nghiệp của tôi.

    Khi tôi biết mình chẳng có bất kì dịp may sống sót nào ở hiện tại, những hình ảnh của quá khứ bổng nhiên tràn ngập trong trí tôi.

    Tôi nhớ lại cuộc thảo luận đầy sôi động trong ngày hôm qua giữa 3 vị Đô Đốc và 10 hạm trưởng về mạng lịnh được gọi là chuyến đi cuối cùng của hải quân Nhựt. Không ai trong chúng tôi hi vọng nhiệm vụ thành công. Thiết giáp hạm Yamato cùng với tuần dương hạm Yahagi của tôi và 8 khu trục hạm khác phải trực chỉ Okinawa với số nhiên liệu vừa đủ cho lượt đi. Chúng tôi, với nhiệm vụ tự sát, sẽ tiêu diệt những gì mà chúng tôi có để chống lại hạm đội của Hoa Kỳ ở Okinawa. Nhưng chúng tôi đã bị đánh gục ngay trên khỏng không tới nửa đường đến mục tiêu.

    Tôi thấy hình ảnh những người trong gia đình tôi một cách sống động. Bổng nhiên khuôn mặt của tôi như bị một màng mưa mờ che phủ. Tôi ứa nước mắt. Tôi gào to: “Vĩnh biệt Chizu. Em là một người vợ hiền, một bà mẹ tốt của các đứa con của chúng ta. Vĩnh biệt 2 chị em Yoko và Keiko, và Mikito, con trai của ba. Sau khi cha của các con ra đi vĩnh viễn, quê hương của các con trở thành xứ chiến bại, các con sẽ phải chịu đựng cảnh khốn cùng không sao nói được. Ôi! Hãy quên người cha của các con! Hãy cố nhớ lại ba là một kẻ chiến đấu và đã làm tất cả những gì tốt nhứt mà một người có thể làm được.”

    Sau đó, tôi nghe một giọng hát cất cao. Tôi không cô độc. Tôi nhìn quanh, nhận thấy nhiều chiến hữu khác đang lập lờ trên sóng nước. Dần dần tiếng hát của họ họp đoàn, bất chấp các tiêu lịnh huấn luyện đã cấm chỉ họ làm như thế. Qua tiếng hát đầy dẫy thê lương, tôi nghe như thấp thoáng bài “Chiến sỹ ca” xưa cũ”
    Nếu tôi rời xa biển cả
    Tôi trở về như một xác chết nổi trôi
    Nếu nhiệm vụ gọi tôi lên núi
    Đồng cả xanh sẽ là áo khoác thân tôi
    Và đã nguyền hiến thân phục vụ Thiên Hoàng
    Tôi sẽ không chết yên bình giữa thê nhi êm ấm
    Lệ tôi ngừng ứa, và tôi khép đôi mắt lại để hồi tưởng các con thơ, những ngày còn cấp sách đến trường, những người bạn sinh viên sĩ quan của tôi, những cuộc chiến đầy vinh quang ở biển Java, Solomon….

  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    PHẦN MỘT
    MỘT SAMURAI CHÀO ĐỜI

    1
    Tôi chào đời vào ngày 16 tháng 10 năm 1900, ở ngoại ô thành phố Takamatsu, nằm trên bờ biển phía bắc đảo Shikoku, đối diện với quang cảnh ngoạn mục của biển Nhật Bản .

    Gia đình tôi thanh bạch. Tôi là con út trong số năm anh chị em. Cha mẹ tôi cắm cúi trên mảnh đất nhỏ bé của hai người từ sáng sớm đên mờ tối. Như hầu hết nông dân Nhật Bản, một trong những xứ có mực độ dân số cao nhất thế giới. Huê lợi kiếm được không đủ nuôi sống gia đình, vì vậy mà cha tôi phải thức trắng đêm để làm thêm một số nông cụ thô sơ mang đi bán.

    Hình ảnh vất vả đêm ngày của song thân tôi có lẽ là hình ảnh mà tôi không bao giờ quên được. Hai người có rất ít hoặc không có thì giờ để chơi đùa với anh chị em chúng tôi. Ngay khi còn bé nhỏ, hai anh trai và hai chị gái tôi đã phải sớm tiếp tay tìm miếng sông cho gia đình.

    Lúc tôi ra đời, ông nội tôi, Moichiro Hara, đã gần 70 tuổi. Ông trông nom và chơi đùa với tôi. Hồi còn trai trẻ, ông nội tôi là một Samurai với đầy đủ ý nghĩa, và tôi là đứa cháu chịu rất nhiều ảnh hưởng của ông.

    Từ năm 1871, dân chúng Nhật được chia làm bốn thứ bậc hoặc bốn giai cấp. Các lãnh chúa phong kiến đều thần phục Thiên Hoàng.

    Trước thời gian đó, giai cấp cầm quyền là giới Samurai. Giòng họ tôi cũng thuộc giai cấp nầy, và đã phục vụ cho lãnh chúa Takamatsu hàng nhiều thế kỷ. Nhiệm vụ của các Samurai thời bình là quản trị các vấn đề địa phương và đảm nhiệm công việc huấn luyện quân sự liên tục để đề phòng khi tai biến. Ngược lại, đời sống của họ được các lãnh chúa bảo đảm. Cũng vì vậy giới Samurai có vẽ kiêu hãnh, và sống tách rời hẳn với 3 giai cấp khác là sĩ, nông, thương.

    Với địa vị vác các đặc ân, một Samurai sẽ nhận thấy khó mà thích ứng với một nghề mới nào khác. Vì vậy, hầu hết Samurai khi từ giã nghề cũ để chuyển saqng nghề buôn bán đều gặp thất bại hoàn toàn. Ông tôi cũng không thoát khỏi thông lệ. Bám vào mảnh đất nhỏ bé do lãnh chúa chu cấp, là tất cả những gì mà ông tôi có thể làm sau khi giã từ nghề cũ. Kỳ lạ làm sao, cuộc đời tôi lại có những nét gần gũi với cuộc đời người ông hóa lẫn nầy. Rời khỏi Hải Quân Hoàng Gia sau khi Nhật Bản đầu hàng trong cuộc chiến thế giới thứ hai, ngoài danh nghĩa cựu đại tá hải quân ra, tôi không còn một cái nghề nào khác.

    Lực lượng Đồng Minh chiếm đóng không chỉ bãi bỏ hẳn tất cả ngân khoảng cấp dưỡng cho các cựu sĩ quan mà còn cấm họ giữ bất kì chức vụ công nào. Do đó, nhiều năm sau chiến tranh gia đình tôi đã phải sống đấp đổi bằng cách cầm cố đồ đạc và làm các công việc lao động chân tay. Dù vậy, tôi không bao giờ hối tiếc sự chọn lưa nghiệp dĩ hải quân của tôi. Ông tôi đã dạy tôi nhiều bài học mà tôi luôn ghi ơn. Những bài học nầy giúp tôi chiến thắng và cho phép tôi tồn tại trong chiến bại ở cuộc đại chiến đó. Lời cáo phó của các thuộc cấp tôi trong suốt thấp hơn bất kì hạm trưởng nào khác tương đương kinh nghiệm chiến đấu thuộc Hải Quân Hoàng Gia Nhật Bản.
    Ông nội tôi đối xử tốt với tôi lạ lùng. Vì mẹ tôi bận rộn, ông phải săn sóc và trông nom tôi trong suốt thời thơ ấu. Khi tôi bắt đầu đi chập chững, ông thường dẫn tôi loanh quanh cạnh các ngôi đền, dỗ dành, chơi đùa và mua bánh cho tôi.

    Khi tôi bắt đầu biết nói, ông kể cho tôi nghe các câu chuyện của giới võ sĩ đạo không bao giờ dứt. Sau này mẹ tôi có nói lại lúc ấy ông đã hi vọng tôi sẽ phục hồi danh vọng của dòng họ, vì theo ông, tôi là đứa trẻ thông minh nhứt trong những đứa trẻ lên năm.

    Bây giờ tôi có thể nhắm mắt nhớ lại hình ảnh ông lão đầu bạc như bông ngồi thật thẳng, trong dáng điệu của một Samurai, mỗi sáng và mỗi chiều trước bàn thờ của giòng họ. Bàn thờ với các bài vị của tổ tiên chúng tôi cũng như của vị lãnh chúa vùng Takamatsu, là Vorichika Matsudaira. Nghi lễ hàng ngày nầy không bao giờ thay đổi hoặc gián đoạn, cho đến khi ông tôi ngã bệnh nặng.

    Trước giờ phút lâm chung, với sự hiện diện của tất cả những người trong gia đình, ông gọi tôi đến và ra dấu cho tôi lại gần. Lúc đó tôi lên sáu, song thân đã dẫn tôi lại đứng cạnh giường bệnh, cầm đôi tay nhỏ bé của tôi đặt lên đặt vào tay người ông. Ông quơ tay nắm lấy thanh kiếm võ sĩ đạo của ông và đặt vào đôi tay nhỏ bé của tôi. Ông thều thào: “ Tamei, thanh kiếm này là của cháu. Hãy lắng nghe lời dặn dò cuối cùng của ông.”

    Mọi người vẫn yên lặng. Giọng người sắp chết đứt quảng: “ Tameichi Hara! Cháu là cháu một người Samurai, cháu phải nhớ điều này: một Samurai đã chọn đời sống như vậy, hắn luôn luôn phải chuẩn bị để chết. Nhưng cháu đừng có diễn dịch sai lầm lời dạy nầy. Không bao giờ nên cố theo đuổi chăm chăm một cái chết dễ dàng như vậy, vì việc này sẽ chống lại tinh thần thực sự của Bushido.

    Ông đã nói với cháu nhiều lần về sự toàn vẹn ở một Samurai là cố gắng hết sức để hoàn thành các nhiệm vụ của họ. Cháu hãy cố gắng để làm như thế. Luôn luôn ý tứ và nổ lực gấp đôi những gì tốt nhứt mà cháu đã có.”

    Mặc dù lúc ấy tôi quá nhỏ để hiểu thấu đáo những gì mà ông tôi nói, nhưng lời nói của người hấp hối đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi, khiến tôi nhớ rõ và không sao quên được.

    Năm sau đó, tôi vào học trường mẫu giáo và đều dẫn đầu lớp trong suốt sáu năm theo học, và tôi đã đem danh dự đầu tiên đến cho gia đình khi rời khỏi trường nầy.

    Gia đình tôi vẫn khốn khổ. Hai anh tôi, một người lớn hơn tôi 10 tuổi 1 người lớn hơn tôi 8 tuổi, đã tiếp tục phụ việc với cha mẹ tôi. Hai người anh nầy và hai người chị của tôi, không ai học quá bậc tiểu học. Nhìn thành tích học tập của tôi, các anh chị tôi đã thuyết phục cha tôi cho tôi tiếp tục lên bậc trung học. Họ nói: “Chúng có sẽ cố gắng kiếm tiền cho em con ăn học.”. Vì đó mà tôi mới có thể tiếp tục con đường học vấn. Tôi không bao giờ quên sự hi sinh to lớn này của gia đình tôi.

    Tôi phải qua một kì thi tuyển vào trung học và may mắn thay, tôi có tên trong năm học sinh được chấm điểm đậu. Trường này làm một trong những trường danh tiếng nhứt của Nhật Bản , chỉ thâu nhận những học sinh ưu tú. Trải qua năm năm theo học ở đây, tôi không thể nào chiếm nổi các hạng danh dự, nhưng tôi cũng đứng được ở mười hạng đầu trong số 150 học sinh của lớp.
    Khi qua khỏi bậc trung học, tôi phải nghĩ đến một nghề nghiệp nào đó. Hiển nhiên tôi thích theo đuổi việc học lên cao hơn nữa. Nhưng muốn theo học tại các trường cao đẳng và đại học, cần phải có nhiều tiền, mà gia đình tôi thì không thể nào chịu đựng nổi. Tôi chỉ có thể tiếp tục con đường học vấn ở các viện do Chánh phủ đài thọ tài chánh. Điều nầy lúc ấy có nghĩa là tôi phải chọn một trường đào tạo giáo sư hoặc quân sự. Tôi có dòng máu Samurai, tôi đã chọn một trường quân sự. Tôi không quên những lời cuối cùng của ông nội tôi.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    2
    Tôi tốt nghiệp trường trung học Takamatsu và tháng 3 năm 1938. Tôi ghi danh dự thi vào cả hai trường Hàn Lâm Viện Lục Quân ở Đông Kinh và Hàn Lâm Viện Hải Quân ở Eta Jima, gần Hiroshima. Sở dĩ tôi ghi danh cả hai trường vì tôi ít có hi vọng được Hải Quân tuyển chọn…

    Sở thích của tôi là hải quân, nhưng nếu thất bại, Lục Quận sẽ thâu nhận tôi, bởi vì tôi không thể chờ đợi thêm một năm nữa để tham dự kì thi tuyển tới.

    Ông nội tôi là một kị sỹ, tại sao hải quân lại hấp dẫn tôi nhiều như vậy? Có lẽ tinh thần của tôi đã đơn giản đáp ứng truyền thống địa phương của tổ tiên tôi. Thành phố Takamatsu và ngoại cảnh của nó có một ý nghĩa đặc biệt cho binh chủng hải quân, vì chính nơi nầy đã khai sanh ra hải quân Nhật Bản.

    Biển Nhật Bản đã cung hiến cho nước Nhật những mà Aegean (vùng biển nằm giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hi Lạp) đã cung hiến cho Hi Lạp.

    Đời sống sơ khởi của dân chúng Nhật đều phát triển và xoay quanh biển này, với hàng nhiều ngàn hòn đảo nhỏ đầy cảnh sắc của nó, giống như nền văn hóa của Hy Lạp đã bắt đầu trên các bờ biển Aegean.

    Trận hải chiến quan trọng đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản xảy ra gần bờ biển Takamatsu vào tháng giêng 1185. tháng sau đó, một lực lượng hải quân được thành lập gồm toàn những người Takamatsu, và lực lượng nầy đã giữ vai trò chánh trong cuộc chiến thắng ở Dan-no-ura thuộc biển Nhật Bản, một trận đánh lớn chưa từng thấy trong lịch sử của quốc gia Nhật Bản.

    Vào thế kỷ thứ XIII, khi một hạm đội Mông Cổ khổng lồ với 200.000 binh sỹ của Thành Cát Tư Hãn âm mưu đổ bộ lên Nhật Bản từ phía Bắc Kyushu, một lần nữa, lực lượng hải quân Takamatsu đã giữ vai trò chánh yếu trong tiêu diệt địch quân ở bờ biển Nhật Bản. Michiari Kono, một vị Đô Đốc lừng danh của Nhật, sinh quán gần Takamatsu, là người đầu tiên leo lên soái hạm Mông Cổ sau khi đắc thắng trong trận hải chiến khủng khiếp vào năm 1281. tất cả các quyển lịch sử của Nhật đều có ghi lại kì tích này. Lần đó, toàn thể hạm đội Mông Cổ bị đánh tan ở vịnh Hakata. Sau nầy, các hạm đội Nhật còn thực hiện nhiều “hải xuất phục thù” từ biển Nhật Bản tiến đánh lục địa Trung Hoa.

    Hạm đội Nhật Bản thời trung cổ nầy đã thi hành các nhiệm vụ có tính cách giống như xung kích quân của thời tân tiến. Khác với hạm đội Mông Cổ vì không có ý định chiếm giữ thường trực đất Trung Hoa, nên hạm đội Nhật không mang theo số lượng quân đông đảo. Các thủy thủ cảm tử Nhật sẽ bất thần đổ bộ lên đất liền, đột kích chớp nhoáng các lực lượng Trung Hoa, và rút lui ngay sau khi đốt phá. Lịch sử Trung Hoa đã cho thấy những xung kích quân Nhật nầy đã đạt được nhiều kết quả trong các cuộc tấn công vào duyên hải Trung Hoa ở thế kỷ thứ XVII và đã tiếp tay lật đổ nhiều triều đại của họ, trong đó có triều đại nhà Minh nổi tiếng là cường thịnh.
    Di sản hải quân của tỉnh lỵ sinh quán chắc chắn là yếu tố chính gây cảm hứng cho sự chọn nghiệp của tôi.

    Hàn Lâm Viện Hải Quân ở Eta Jima là một trong những trường có kì thi tuyển chọn kỹ càng với điểm số cao nhất ở Nhựt. Những thanh niên nhiệt huyết, những người thi rớt kì thi tuyển chọn đầu tiên ở trường này phải đợi đến 1 năm sau hoặc có thể là hai năm để đợi thêm cơ hội khác để thi lại. Nhưng gia đình của tôi thì không thể để tôi đợi thêm 1 năm sau nếu không qua được kì thi. Vì vậy tôi cũng ghi danh vào Hàn Lâm Viện Lục Quân.

    Kì thi tuyển chọn vào học viện Lục Quân chỉ được tổ chức ở các thành phố chính trên toàn quốc. Vào tháng 4, một tháng sau khi tôi tốt nghiệp trung học Takamatsu. Tôi đến Marugame để dự thi tuyển chọn vào Hàn Lâm Viện Lục Quân, bài thi dễ dàng với tôi và tôi chắc rằng tôi sẽ vượt qua với số điểm cao.

    Tháng sau đó tôi đến Honshu bằng đường thủy từ thành phố Takamatsu để dự kì thi tuyển chọn vào Hàn Lâm Viện hải quân được tổ chức ở Hiroshima. Cùng lúc này trường trung học Takamatsu có tổ chức một chuyến tham quan Honshu, nhưng tôi không thể tham gia được vì lí do tài chánh.

    Chuyến đi đầu tiên trong đời của một thanh niên thôn quê 18 tuổi thật sự sôi động, một mình lên thành phố lớn Hiroshima, một thành phố lớn nhất phía Bắc Honshu, sầm uất nhộn nhịp, các con đường sang trọng rộng rãi đã làm tôi ngơ ngác.

    Tôi ở trong một khách sạn trong có vẻ hiện đại nhất nhưng nằm xa những khu nhộn nhịp. Kinh nghiệm thuê phòng lần đầu tiên của tôi tỏ ra kém khôn ngoan. Ở các khách sạn của Nhật các bữa ăn của khách được người phục vụ nữ phục vụ ngay trong phòng. Người phục vụ cho tôi khoảng 20 tuổi, đẹp và thân thiện. Nhưng vì quá thân thiên đã làm tôi căng thẳng.

    “Anh có muốn uống chút rượu mạnh không?” cô gái hỏi.

    “ Không, thưa cô. Tôi chưa đủ tuổi uống rượu và hơn nữa ngày mai tôi phải dự thi vào Hàn Lâm Viện hải quân Eta Jima.” Tôi trả lời.

    “Oooo!” cô gái trầm trờ. “ Anh chuẩn bị thi vào Hàn Lâm Viện hải quân! Tuyệt vời! Anh sẽ trở thành một sĩ quan chói sáng! Anh sẽ quay lại khách sạn này trong bộ quân phục hải quân chứ! Em rất muốn gặp lại anh.”

    Cuộc nói chuyện này làm tôi không được thoải mái. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với người con gái nào từ trước đến giờ ngoài các chị tôi. Điều đó là tôi nổi nóng khi cô gái cứ đặt ra những câu hỏi cho tôi. Khó khăn lắm tôi mới phun ra từng từ khi trả lời cô ấy, và thở phào nhẹ nhõm khi cô quay gót đi. Tôi mở vài quyển sách mang theo ra, tâm trạng lo âu và cố gắng học thêm chút ít trước khi thi. Tôi lật sách tới lui hàng giờ mà vẫn không tập trung được. Người khách phòng kế bên đang uống rượu thi với người phục vụ. Giữa những lúc uống họ hát. Thật kinh khủng. Tôi nhận ra là mình đã chọn sai khách sạn.

    Tôi chịu thua đến nửa đêm và gọi xuống lễ tân yêu cầu họ chuẩn bị giường ngủ cho tôi. Các khách sạn ở Nhật Bản không có giường ngủ trong phòng. Khi khách cần nghỉ ngơi người phục vụ sẽ trãi một tấm nệm ở giữa phòng cho khách nghỉ.

    Người nữ phục vụ năng nổ lại xuất hiện để chuẩn bị giường ngủ cho tôi. Thay vì rút lui sau khi xong việc, cô ta lại giúp tôi thay đồ và chuẩn bị quần áo cho tôi, tôi thật sự bối rối.
    Cô ta phớt lờ giọng nói cà lăm tỏ vẻ không đồng ý của tôi và bắt đâu masage lưng cho tôi. Tôi đành nhượng bộ.

    “Anh chàng trai trẻ ơi!” cô ta nói với giọng chế nhạo “Trông anh rất căng thẳng, anh cần được massage. Nếu anh không thư giãn và thoải mái ngày mai anh sẽ thi trượt”

    “Tên em là Noriko người tỉnh Yamaguchi” cô nói tiếp. “Em đã làm việc ở khách sạn này suốt 3 năm rồi. Thỉnh thoảng cũng gặp nhiều rắc rồi vì không phải khách nào cũng lịch sự như anh.”
    Tôi lặng im, mặc dù cô ta massage rất thoải mái nhưng lời nói của cô ta còn gây căng thẳng cho tôi hơn.

    “Em không có nhiệm vụ tối nay” cô ta thì thầm “ Anh có thể giữ em lại.”.

    Tiếng nói của cô gái thật trầm, nhưng đối với tôi lại vang như tiếng sấm động. Tôi hoảng sợ. “Cô muốn nói gì?” tôi to giọng.

    “Ồ! Nầy anh chàng tuổi trẻ ơi, anh đừng nên đóng trò thì hơn! Một anh chàng đẹp trai như anh phải biết qua hàng tá gái là ít. Tốt hơn là đêm nay anh nên giải trí để ngày mai đủ bình tỉnh mà đối phó với các bài thi.”

    “Ồ! Xin cô rời đây giùm tôi,” tôi van nài. Tôi chưa bao giờ biết qua một cô gái nào cả. Trong đời tôi, tôi cũng chưa từng nói chuyện với một cô gái nào cả, ngoại trừ các chị tôi. Cuộc thi ngày mai tối quan trong đối với tôi.”

    “Anh có vẻ nghĩ em là một con điếm,” nàng nói, giọng xúc động và giận dữ. “Em tự nguyện ở đây với anh bởi vì em cảm thấy yêu anh khi mới gặp. Em cũng biết theo luật của nhà trường anh sẽ bắt buộc phải từ chối các cô gái khác trong bốn năm anh theo học ở Eta Jima. Em sẽ không tiết lộ vụ nầy cho các đồng nghiệp của em đâu. Anh nghe đó! Tất cả các phòng kề cần đều yên lặng. Họ ngủ hết rồi.”

    Tình cảnh nầy đối với tôi thật quá lắm. Tôi thành thật van xin cô gái rời khỏi phòng. Cuối cùng, cô ta bước ra với một cái nhìn đầy vẻ khinh thị.

    Tai nạn nầy đã phá rầy giấc ngủ của tôi. Hôm sau tôi vào trường thi một cách uể oải vì thiếu ngủ. Tôi không cảm thấy một chút tin tưởng nào vào các bài thi mà tôi đá làm. Tôi trở về Takamatsu với sự chán nản và thất vọng.

    Khoảng mười ngày sau tôi nhận được giấy báo cho biết đã qua được kì thì ở hàn lâm viện Lục Quân và sẽ trình diện Đông Kinh vào tháng 8. Nhưng tôi đã đạt được ước nguyện: hải quân đã nhận tôi. Tôi la hét và nhảy nhót vui mừng khi nhận được điện tín thông báo sau nầy.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    6
    3
    Eta Jima, Annapolis (thành phố của tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ) của Nhật Bản là một thánh địa, một điểm hội tụ của những mộng ước cho nhiều triệu thanh niên Nhật thời chiến. Mỗi năm, nhiều trăm thanh niên đầy nhiệt huyết, mỗi người đều có thành tích học vấn và những giấy tời chứng nhận tốt, đã đổ xô đến Eta Jima để tranh nhau vài chức vụ công hoặc tư. Người ta hy vọng một thế hệ chọn lọc như thế cũng sẽ sản xuất các sĩ quan hải quân sáng chói. Nhưng nhiều người đã tốt nghiệp từ ngôi trường huấn luyện sĩ quan hải quân duy nhứt nầy đã không tỏ ra một cái gì gọi là sáng chói, và một số đã hoàn toàn thất bại trong các hành động mà quốc gia đã đặt hy vọng vào họ.

    Những gì tôi nói về Hàn Lâm Viện hải quân và một hệ thống của nó không phải nhằm để đưa ra một sự buộc tội. Tôi chỉ trình bày tất cả sự thật để tùy nghi đọc giả phán xét.

    Tôi nhập học ngày 26 tháng 8 năm 1918. ngày đó tôi vận một bộ quân phục màu trắng với bảy nút đồng sáng chói, mang một thanh đoản kiếm xinh xắn, giống như ông nội tôi đã mang lúc còn trẻ. Tôi đã trở thành một Samurai thật sự.

    Ba ngày sau khi tôi nhập học, hôm đó lúc tôi sắp sửa bước vào phòng ngủ, một sinh viên năm thứ 3 đã hét lớn. “Nghiêm!” khi tôi làm theo lời hắn, hắn nhanh nhẹn tiến đến và hỏi một cách giận dữ: “Tại sao anh không chào tôi?”

    Tôi không biết trả lời sao. Tôi có gặp hắn trước đó bao giờ đâu.

    “Coi chừng!” hắn gầm lên. “Đứng cho vững và chuẩn bị. Tôi bắt đầu tẩy sạch tánh vô lễ của anh đây.”

    Hắn nắm tay và đánh vào mặt tôi hơn một chục lần. Nếu tôi không được lưu ý trước, tôi đã đo đất với cú đấm đầu tiên của hắn. Sự đối xử nầy đã gây cho tôi sự xúc động mảnh liệt. Với mặt mày bầm vập và rướm máu, tôi lê bước vào phòng ngủ.

    Ngày kế đó, trong bữa ăn sáng, một sinh viên huynh trưởng khám phá ra bộ quân phục của tôi cài nút không đúng cách, và tôi lại nhận thêm một chục cú đấm vào khuôn mặt đã sưng vù của tôi. Lần trừng phạt thứ nhì nầy mạnh tay hơn lần đầu. Tai trái tôi trở nên điếc câm.

    Khi một sinh viên vi phạm kỷ luật, tất cả các sinh viên khác trong trung đội của anh ta phải đứng xếp hàng và lãnh mỗi người một cú đấm vào mặt. Tất cả các sinh viên đều nếm mùi hệ thống kỷ luật độc đoán nầy, hầu như không có lúc nào “thiếu thốn”. Mỗi ngày Chúa Nhựt, 180 sinh viên mới nhập học phải lên võ trường để nghe “thuyết pháp” hàng bốn năm tiếng đồng hồ liền dưới ánh nắng mặt trời. Sĩ quan quân trường và các phụ tá của họ, tức các các sinh viên huynh trưởng, đảm trách cuộc thuyết pháp. Bài học ngày Chúa nhựt nầy hầu hết được chấm câu bằng những cú đấm như mưa bấc.

    Sau vài tháng trui rèn theo kiểu đó, những kẻ mới đến đều trở thành những con cừu non ngoan ngoãn. Khuôn mặt của mọi người đều mang dấu vết tàn phá của những mà họ phải chịu đựng. Tai tôi điếc hẳn từ đó đến bây giờ.

    Một số người đã từng bị đối xử theo lối kỷ luật nghiêm khắc nầy lúc còn ở ngoài đời, họ sẽ không lấy gì làm xúc động. Trong một số gia đình Nhật Bản, người cha muốn trừng trị con mạnh tay cách nào cũng được. Nhiều trường học thôn quê thầy giáo đối xử với học sinh có thể nói là tàn nhẫn.

    Tôi lại khác hơn. Tôi là một đứa con hãnh diện của một gia đình Samurai. Không ai trong gia đình muốn đánh tôi đến một roi. Trường tôi theo học cũng không bao giờ áp dụng các phương pháp kỷ luật nghiệt ngã như vậy.

    Có lẽ vì vậy tôi có phần nào hư hỏng, và có lẽ vậy mà tôi không thích ứng kiệp với nghiệp binh. Bất cứ kỷ luật nào ở Eta Jima đối với tôi cũng đầy vẻ xúc phạm khiến cho tôi phải hờn giận. Ngay cả hiện tại tôi vẫn còn nhớ lại những ngày ở Hàn Lâm Viện hải quân với dư vị chua chát.

    Chắc chắn các sinh viên huynh trưởng của tôi là lũ vô tri, thích thú khi được hành hạ kẻ khác, hả dạ khác thường lúc ra tay khủng bố những người mới vào. Cả bây giờ tôi vẫn thấy chán ghét khi gặp lại mấy khuôn mặt nầy, ngay cả khi chúng tôi đang chia sẽ các công việc nặng nhọc, sự khốn khổ do chiến tranh gây ra, và có cùng sự may mắn được sống sót.

    Tiếng kèn đánh thức chúng tôi vào lúc 5h30 sáng, và chúng tôi học hỏi tập tành kéo dài đến 9h tối mà không có một phút giây nào để nghỉ ngơi. Trong thời gian nầy, ngày Chúa nhựt vẫn phũ phàng như những ngày thường.

    Những người mới vào chấm dứt giai đoạn 1 và sinh hoạt có phần thoải mái hơn, các hình phạt thường lệ chấm dứt theo với năm nhứt của chúng tôi.

    Cuối tuần không có sinh viên nào được phép đi ra khỏi các vùng phụ cận của thành phố. Thường thường ngày Chúa nhựt chúng tôi phải leo núi, lội bộ quanh đảo hoặc ngồi cú rủ trong câu lạc bộ.

    Một trong những bạn đồng khóa xuất sắc nhứt của tôi là Ko Nagasawa, quê ở miền Bắc nước Nhật. Anh ta có thể nói là một tay có nhiều đặt tính vượt trội, và hình như hăn chẳng thèm lưu ý đến kỷ luật bịnh hoạn của Hàn Lâm Viện. Sau mỗi lần nhận lảnh hình phạt tàn bạo bởi các huấn luyện viên hoặc các sinh viên huynh trưởng, Ko Nagasawa vẫn pha trò một cách tỉnh bơ, khiến tôi phải “kinh hoảng”.

    Ko Nagasawa và tôi thay phiên nhau dẫn đầu 180 sinh viên. Khi ra trường, Ko Nagasawa phục vụ xuất sắc ở lanh vực tham mưu và chỉ huy trong suốt cuộc chiến Thái Bình Dương. Năm 1954, anh gia nhập vào tân hải quân Nhật Bản và trở thành Thủy sư Đô Đốc vào năm 1956 (giử chức vụ Tổng Tư Lịnh Tân Hải Quân Nhựt từ năm 1954 đến năm 1958). Những ngày ở Eta Jima, Ko Nagasawa được tất cả bạn đồng khóa kính mến, nhưng không một ai tiên đoán con đường hoạn lộ của anh lại tiến đến bực ấy.

    Tôi biết có một số bạn tôi đã nhìn những ngày ở Hàn Lâm Viện hải quân của họ với nhiều luyến tiếc. Nhưng riêng tôi, bởi vì “cô độc” chịu đựng hình phạt thể xác ở đây, tôi không thể nào chia xẻ cảm nghỉ của họ.

    Lúc đó, tôi thường nhận được thơ nhà mang đến những tin tức rối rắm. Đó là những phiền muộn khác trong những ngày tôi ở Hàn Lâm Viện hải quân. Bức thơ đầu tiên báo cho biết tin buồn người chị lớn của tôi là Uta chết vì bệnh lao. Và bởi lẻ chị tôi đã bỏ lại hai đưa cháu thơ dại, nên gia đình thuyết phục người chị kế của tôi là Kiyo chấp nối với người anh rể. Kiyo viết cho tôi biết chị không đồng ý, nhưng sau đó chị bất ngờ nhượng bộ. Vì tôi rất được chị Kiyo thương mến, nên việc nầy đã gây lo nghĩ cho tôi rất nhiều.

    Một năm sau, chị Kiyo bỏ chồng và các cháu, trở về với gia đình. Vào lúc đó một hành động như vậy không thể chấp nhận được với một người đàn bà Nhật có đức hạnh. Nhưng tôi không bao giờ qui tội cho chị tôi. Tôi biết rằng chị tôi có những lý lẽ riêng mà chị ấy cho là phải.

    Những biến cố như vậy, cộng thêm đời sống ép thể xác như hiện tại khiến hầu hết ba năm học đầu tiên của tôi đắm chìm thường xuyên trong âu sầu và chán nản. Trong năm cuối cùng, Hàn Lâm Viện có một tân chỉ huy trưởng. Đó là Phó Đô Đốc Kantaro Suzuki, một vĩ nhân thực sự trong đời tôi.

    Phó Đô Đốc Suzuki vừa nhận chức đúng 3 ngày, ông đã triệu tập ngay một phiên họp toàn trường. Mở đầu buổi nói chuyện, với một giọng phẩn nộ, ông cấm chỉ tất cả những kỹ luật khắc nghiệt đã được áp dụng. Ông nói: “ Trường nầy được thành lập để đào tạo những sỹ quan ưu tú, không phải là chuồng nuôi súc vật.”

    Từ đó, Suzuki đưa ra một loạt cải tổ, quét sạch toàn thể hệ thống cũ của Hàn Lâm Viện. Ông tìm cách khuyến khích sáng kiến của sinh viên, vì vậy họ rất hứng khởi trong việc học hỏi. Dĩ nhiên tất cả hình thức đối xử dã man không còn nữa.

    Do đó, tôi có cảm giác Phó Đô Đốc Suzuki sẽ còn làm được nhiều việc hơn nữa. Nhưng chẳng may cho nhà trường Suzuki không ngồi lâu. Kích thước ông quá lớn đối với Eta Jima và ngay cả Hải Quân Hoàng Gia. Ông về hưu sớm để trở thành nội thần của Thiên Hoàng. Năm 1945, ông cầm đầu Nội Các trong thời gian xảy ra cuộc đầu hàng Đồng Minh của Nhật Bản. Sau Kantaro Suzuki, các Đô Đốc tiếp nhiệm chỉ huy Eta Jima đều tầm thường và những cải tổ của Suzuki dần dần bị lãng quên.

    Vào tháng 16 tháng 7 năm 1921, tôi ra trường với hạng 40 trong tổ số 150 sinh viên. Song thân tui vui mừng và kiêu hãnh khi biết tin nầy. Tuy nhiên, tôi biết, đáng lẽ ra tôi phải đạt được thành quả tốt đẹp hơn

  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    4
    Năm tôi nhập học ở Eta Jima là năm đánh dấu cuộc chiến thế giới lần thứ nhứt chấm dứt. Trong cuộc chiến nầy Nhật Bản đứng về phe Đồng Minh. Quốc gia không chịu đựng sự tàn phá của chiến tranh, và các thương gia Nhật đã làm giàu vượt mức trong suốt cuộc chiến.

    Đình chiến và thế giới hòa bình, nhưng nước Nhật lại lâm và cảnh xuống dốc thảm hại. Ngay ở Eta Jima mặc dù tách biệt với thế giới bên ngoài, nhưng do tình trạng tổng quát, sự sa sút kinh tế ở đây nhìn thấy rất rõ rệt.

    Trong năm tôi ra trường, lực lượng hải quân của năm cường quốc lúc nầy là Anh, Mỹ, Pháp, Ý và Nhật đã đi đến một thỏa hiệp qui định sức nặng tối đa cho các tàu chiến của họ.

    Khó học của tôi gồm 150 sinh viên tốt nghiệp, được phân phối thực tập trên hai khu trục hạm Izumo và Yagumo, trọng tải 6000 tấn, chiếc tàu này là sức mạnh chánh của Nhựt trong cuộ chiến Hoa – Nhật năm 1894 – 1895. Bất kì loại tàu nào đã 25 tuổi đời thật khó mà hoạt động hữu hiệu. Với tuổi đó, một tàu chiến trở thành một gánh nặng hơn là một tài sản quốc gia.

    Tuy nhiên bọn trẻ chúng tôi lại không kìm hãm nổi sự thích thú của mình. Bởi chúng tôi được biết không bao lâu nữa chúng tôi sẽ thực hiện một chuyến đi vòng quanh thế giới. Không vật gì có thể nhận chìm được cảm giác bềnh bồng của chúng tôi lúc ấy. Các chiếc tàu trông già nua đáng sợ, nhưng không ai trong chúng tôi để ý đến điều nầy.

    Trong vòng một tháng, hai khu trục hạm thao luyện trong các hải vực quanh Yokosuka. Công việc cá nhân và tập thể của chúng tôi đã đỡ phần vất vã. Nhiều người trong chúng tôi bắt đầu nhìn lại những ngày ở Eta Jima, như nhìn lại thời gian ở mẫu giáo của họ.

    Trong Hải Quân Hoàng Gia Nhựt có một câu nói cũ kỷ: “Thứ bậc của hải quân được xếp hạng từ sỹ quan đến hạ sỹ quan, trâu bò (có nghĩa là lính trơn) và cuối cùng là mới đến các sỹ quan mới ra lò.” Nói khác đi, đời sống tổng quát của một sỹ quan vừa ròi khỏi Eta Jima, và nhận được công việc sơ khởi của họ trên tàu còn khốn khổ hơn bất kì một anh lính mới nào.

    Chiến hạm Nhựt khi chế tạo không bao giờ để ý đến các tiện nghi nào dành chp chổ ngụ của các sĩ quan mới tốt nghiệp. Chổ ăn ngủ của họ và binh sỹ trên tàu không khác gì nhau. Ban đêm nếu muốn ngủ họ phải căn võng. Thức ăn gồm có cơm và lúa mạch, với một chút ít cá hoặc thịt.

    Đời sống của các tân binh trơn hiển nhiên là khốn khổ nhưng ít ra họ cũng có một công việc riêng để học hỏi và chăm chú vào công việc đó. Trái lại một sĩ quan mới ra trường phải học hỏi mọi công việc trên tàu, từ công việc đun nồi xú de cho đến công việc đo giác cự, và phải học cho chính xác. Chúng tôi không có thời gian nào gọi là thời gian riêng của chúng tôi cả.

    Sau một tháng huấn luyện liên tục theo nguyên tắc, hai chiến hạm già nua rời Yokosuka sang Hoa Kỳ, khởi đầu chuyến viễn du thế giới. Hải quân đã hấp dẫn nhiều thanh niên Nhựt phần lớn là do dịp may được đi đó đi đây như thế nầy.

    Khi hai chiến hạm nhổ neo, các sĩ quan mới đã mừng rỡ reo hò ầm ỉ/. Chúng tôi nghĩ là đã thoát khỏi kiếp đọa đày. Chúng tôi đã lầm lẫn biết bao. Chúng tôi không chịu nghĩ đến các lượn sóng tàn nhẫn của Thái Bình Dương đang chờ đón chúng tôi.

    Hai ngày sau khi rời khỏi Yokosuka, tất cả chúng tôi đều nằm liệt. Ngay cả tôi, một thanh niên có sức khỏe như voi, cũng nôn thốc nôn tháo ngay bước đầu của chuyến viễn du.

    Nửa tháng sau, chúng tôi đến Honolulu, sức khỏe của các sĩ quan mới đều xuống dốc trầm trọng. Tôi cảm thấy muốn cúi xuống hôn mặt đất để cảm ơn Thượng Đế. “Cá heo” tên riêng của tôi thời đi học, hình như trong tình cảnh nầy không còn thích đáng một chút nào. Và con cá nầy chỉ bị trừng trị trong hai tuần lễ mà sụt đến 30 cân Anh ( khoảng 14 kí lô). Nhiều người khác cũng chẳng kém gì tôi.

    Phó Đô Đốc Hanroku Saito, chỉ huy chuyến đi, quyết định lưu lại Hạ uy Di một tuần lễ. Một phần của quyết định nầy là để đáp lại sự tiếp đón nồng nhiệt và lòng hiếu khách của dân chúng Nhựt trên đảo, nhưng phần quan trọng hơn là để cho bọn “tân binh” chúng tôi lấy lại phong độ.

    Hải cảng kế đến là San Diego, từ đó chúng tôi chuyển về hướng Nam, xuyên qua kinh đào Panama và đến New York vào ngày 29 tháng 10 năm 1921. Cuộc họp giải trang của năm cường quốc đang diễn ra ở Hoa Thịnh Đốn. Việc các chiếc tàu cổ lổ của chúng tôi đến Hoa Kỳ vào thời gian đặt biệt nầy có lẽ nằm trong sự tính toán.

    Trong thời gian nầy, Nhựt đã tìm cách che đậy năng lực thật sự của hải quân. Các thiết giáp hạm Nago và Mutsu, hoàn tất vào năm 1920 và 1921, trang bị tám trọng pháo 300 ly, được cho là có trọng lượng 32600 tấn và tốc độ tối đa chỉ 23 hải lý. Nhưng sự thật, hai chiến hạm nầy có trọng lượng 35000 tấn và tốc độ tối đa gần 27 hải lý, vượt trội hẳn chiếc Maryland cùng loại của Hoa Kỳ.

    Nhật Bản cũng không khoe khoang về chiếc Hosho, hàng không mẫu hạm tối tân đầu tiên trên thế giới, hoàn tất năm 1921, trọng lượng 9494 tấn, mà cũng không tiết lộ cho thế giới biết về chiếc Shimakaze, một khu trục hạm tuyệt hảo loại mới, được võ trang 4 khẩu 120 ly và 6 ống phóng thủy lôi, và có thể đạt đến tốc lực tối đa 40 hải lý.

    Trong khi đó Nhựt mang biểu diễn quanh duyên hải Hoa Kỳ hai đống sắt vụn trên mặt nước, do một bọn sĩ quan vụng về mới ra trường điều khiển.

    Khi chúng tôi đến Nữu Ước, hầu hết dân chúng ở đây đều đón tiếp chúng tôi niềm nở. Chẳng hạn như trong một buổi dạo cảnh, tôi và ba người bạn ghé vào thương xá Wanamarker, một người Mỹ rất vui vẻ và lịch sự, có lẽ là giám đốc, mời chúng tôi chụp chung một tấm ảnh. Rất tiếc là tôi không nhớ tên ông ta.

    Trong bốn anh em chúng tôi chụp chung trong ảnh nầy, chỉ có Matao Machida, sau nầy là Đại tá, đứng ở góc trái và tôi là còn sống sót. Machida trở thành một sỹ quan kỹ thuật, đặt biệt trong lãnh vực quang học. Hiện tại Machida sống ở Đông Kinh, một trong những ủy viên quản trị của công ty máy ảnh Canon. Ông cũng là người chế loại máy ảnh và các thấu kính cực vi nổi tiếng đương đại.

    Từ Nữu Ước chúng tôi băng qua Đại Tây Dương. Chúng tôi chọn hải trình nầy, gian nan hơn Thái Bình Dương, bởi lúc ấy chúng tôi đã làm quen với biển cả. Chúng tôi thăm viếng Anh và nước Pháp, trước khi xuyên ngang Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương, hướng về quê nhà. Chúng tôi trở về Nhựt ngày 9 tháng 5 năm 1922 sau thời gian gần 7 tháng vắng mặt.

    Thời gian đó, kết quả Hội Nghị Hoa Thịnh Đốn được công bố. Hải Quân Hoàng Gia Nhựt không hài lòng với kết quả nầy, và đưa đến một số sỹ quan cao cấp xin từ nhiệm.

    Thỏa hiệp giải trang đạt được ở Hoa Thịnh Đốn vào năm 1921 chỉ cho phép Nhựt duy trì tổng số trọng lượng của toàn thể tàu chiến là 315.000 tấn, Pháp 175000 tấn, Ý Đại Lợi 81.000 tấn, nhưng trái lại Anh và Mỹ tổng số lên đến 525.000 tấn cho mỗi xứ. Sức mạnh của hàng không mẫu hạm giới hạn cho Nhật tổng số 81.000 tấn, 60.000 tấn cho Pháp và Ý, và đến 135.000 tấn cho Anh và Mỹ. Nhưng riêng khu trục hạm và thiết giáp hạm, thỏa hiệp đã đặt ra kích thước và giới hạn cho mỗi chiếc là 10.000 tấn nhưng không giới hạn số lượng.

    Thỏa hiệp đã khiến nhiều sĩ quan hải quân Nhựt rơi nước mắt. Thiết giáp hạm Tosa, trọng lượng 39.900 tấn hạ thủy năm 1921, phải phá bỏ, và chiếc tàu em của nó là Kaga được biến cải thành một hàng không mẫu hạm. Tuần dương hạm Akagi và thiết giáp hạm Amagi, cùng trọng lượng 34.363 tấn cũng được biến cải thành hai hàng không mẫu hạm. Nhưng trong thời gian xúc tiến việc biến cải nầy, chiếc Amagi bị trận động đất năm 1923 chôn vùi. Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt cũng bắt buộc bãi bỏ các đồ án của bốn thiết giáp hạm, mỗi chiếc 47.500 tấn. Các đồ án nầy hoàn tất năm 1921 sau nhiều tháng nổ lực to tát của một số kỹ thuật gia.

    Hải quân Nhật đã nhìn hội nghị Hoa Thịnh Đốn có tánh cách thuần túy chính trị, mà qua kết quả đã cho thấy Nhật đại bại trên lãnh vực nầy. Một số dân chúng nhớ lại sự chế tài của luật di trú bài Nhật ở California vào năm 1913, việc nầy khiến cho mối liên kết giữa Nhật và các cường quốc Anglo Saxon rạn nứt sau Đệ Nhứt Thế Chiến. Dân chúng Nhật cũng nhớ lại tổ chức Liên Minh Quốc Gia đã bị Hoa Kỳ tẩy chay, sau khi liên minh nầy được hình thành và do chính Hoa Kỳ điều khiển.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Qua tình trạng tinh thần nầy, Nhật đã bắt đầu xem Hoa Kỳ như là một “kẻ thù ngấm ngầm”. Các sỹ quan trẻ, và các sỹ quan mới ra trường như tôi, không có một thẩm quyền nào để đo lường đúng mức sự xét đoán nầy, nhưng trên phương diện lý thuyết, các sỹ quan cao cấp của chúng tôi đã “khua động” bên tai chúng tôi hàng ngày.

    Sau chuyến viễn du không lâu, tất cả sĩ quan thuộc khóa của tôi chánh thức mang cấp bậc Thiếu úy hải quân. Tôi và bốn sĩ quan được bổ nhiệm phục vụ trên tuần dương hạm Kusaga. Trong vai trò mới, chúng tôi lập tức đối diện với nhiều vấn đề cần phải quan tâm, chớ không phải riêng “kẻ thù ngấm ngầm” mà thôi.

    Tôi không mấy phấn khởi với nhiệm vụ mới. Tôi nhớ câu châm ngôn Nhật Bản: “Ít ra bạn phải trải qua mười năm mới mong trở thành một thủy thủ lành nghề”. Kasuga không già nua hơn Izumo hoặc Yagumo, nhưng chiếc tàu nầy cũng từng chứng kiến trận chiến Nga – Nhật vào năm 1904 – 1905. Tôi tự nhủ: “Anh vẫn còn là một tay mơ. Đừng mơ ước một chiến hạm tối tân như Nagato. Hãy kiên nhẫn! Kể từ khi anh bước chân vào Eta Jima, tính ra chỉ mới sáu năm mà thôi.”

    Tôi trình diện Kasuga vào tháng 5năm 1922. Chiếc tàu được phái sang Nga Sô. Chúng tôi lại thực hiện một chuyến viễn du nữa. Tuy nhiên lần đi nầy không phải có tánh cách huấn luyện đơn thuần. Nhiệm vụ của Kasuga là bảo vệ cư dân Nhật ở Tây Bá Lợi Á lúc bấy giờ đang gặp khốn đốn do cuộc cách mạng hậu chiến của Nga Sô gây ra. Năm 1920, nhiều trăm người Nhật đã bị loạn quân Nga Sô tàn sát ở Nikolaievsk. Hai năm sau đó, Tây Bá Lọi Á vẫn còn trong tình trạng hổn loạn.

    Từ khi hạm đội Nga Sô bị Nhật Bản tiêu diệt vào năm 1904 – 1905, người Nga không có loại tàu chiến nào chống lại nổi chúng tôi. Vì vậy, chiếc Kasuga của chúng tôi không phải bắn một phát súng nào cả, và kinh nghiệm mà tôi nhận được cũng không hơn gì khi tôi ở trên chiếc Yagumo.

    Chuyến đi vào các hải vực phía Bắc là chuyến đi vào trong sương mù dầy đặc đầu tiên của tôi. Vào tháng sáu, chúng tôi đổ bộ lên Vladivostok, hải cảng của Tây Bá Lợi Á nổi tiếng với nhiều ngọn đồi dốc thẳng khiến tôi gợi nhớ đến Nagasaki của Nhật Bản. Cuộc nội chiến của Nga đã gây cho dân chúng ở đây nghèo đói. Những gì tôi thấy ở Vladivostok trái ngược hẳn những gì tôi thấy ở Nữu Ước và các thành phố hải cảng thịnh vượng của các quốc gia chiến thắng khác. Điều này khiến cho tôi suy nghĩ rằng một quốc gia không bao giờ nên để cho bại trận. Lúc đó tôi không bao giờ tưởng tượng Nhật Bản cũng sẽ chịu chung số phận của dân Bạch Nga trong vòng không đầy 23 năm sau đó.

    Sau Vladivostok, chúng tôi viếng thăm Odomari, hải cảng cực Nam của Sakhalin do Nga nhượng cho Nhật Bản sau cuộc chiến 1904 – 1905. Lúc đó không ai có thể tưởng tượng hải cải uể oải tồi tàn nầy sẽ được người Nga thâu hồi vào năm 1945 và biến thành căn cứ hải quân quan trọng Korsakov ngày nay.
    Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hải Quân Hoàng Gia không sử dụng các loại tàu tân tiến và chạy nhanh trong cuộc hành quân không có đối thủ ở Tây Bá Lợi Á nầy. Nhưng các sĩ quan có khả năng về chánh trị được chọn để cầm đầu cuộc hành quân, bởi vì lúc đó giữa Nga và Nhật không xảy ra chiến tranh, và cuộc hành quân liên quan đến nhiều vấn đề tế nhị.

    Hạm trường Kasuga là Đại Tá Mitsumasa Yonai, một nhân vật vĩ đại thứ hai mà tôi được phục vụ dưới quyền. Như Đô Đốc Suzuki, người đã đưa ra nhiều nhát chổi cải cách ở Eta Jima, Yonai là vị chỉ huy mà tôi kính nể cao độ nhứt. Nhưng giữa hai nhân vật nầy có nhiều điểm khác nhau rõ rệt. Đô Đốc Suzuki thích nói thẳng vào mặt, mạnh bạo và ồn ào, còn Yonai ít nói. Dù tuổi đã gần tứ tuần, ông vẫn còn đẹp trai và hấp dẫn. Suốt sáu tháng phục vụ trên chiếc Kasuga, tôi không bao giờ thấy ông rầy mắng một sĩ quan nào. Tuy nhiên tinh thần phục vụ của thủy thủ đoàn rất cao. Ai ai cũng nể phục ông, và xem ông như là một trong những người lãnh đạo tài giỏi nhứt của Hải Quân Hoàng Gia Nhật Bản.

    Đại tá Yonai và Đô Đốc Suzuki chỉ có một điểm giống nhau: không dung túng các phương pháo kỷ luật tàn nhẫn. Hành vi mẫu mực của Yonai đã quá đủ để ông chỉ huy mà không cần phải áp dụng phương pháp kỷ luật nào khác.

    Các sĩ quan trẻ tuổi chúng tôi thoạt đầu đã kinh ngạc khi thấy vị chỉ huy trưởng gần gũi với chúng tôi trong suốt những giờ nghỉ ngơi. Ông ưa thách chúng tôi thay phiên nhau vật lộn với ông. Sau những năm tập tành ở Eta Jima nhu đạo của chúng tôi đã thuộc vào hạng khá nên thoạt đầu chúng tôi có hơi rụt rè, chỉ sợ quá mạnh tay với “sếp”. Nhưng chúng tôi sớm sáng mắt, không một ai trong chúng tôi quăng nổi ông xuống đất. Ông đứng bất động như một hòn đá tảng, và không hề phản công, những bước tiến của chúng tôi dù ác liệt đến đâu cũng đều dội ngược ra hết.

    Trong chuyến đi nầy tôi được tha dự một bữa tiệc đầu tiên trong cuộc đời tôi tại một nhà hàng trên bờ biển. Chủ nhân bữa tiệc nầy là viên thị trưởng và cũng là chỉ huy trưởng hải quân địa phương. Nhiều Geisa xinh đẹp, mặc Kimono đủ màu sắc, hòa đàn, ca múa và rót sake cho khách và chủ. Họ ăn nói khôn khéo và duyên dáng khiến buổi tiệc thêm phần sống động. Các vũ nữ xinh đẹp nầy đã làm cho tôi hoa cả mắt.

    Trong các tiệc tùng của người Nhật thường có một trò vui gọi là “kampai” (uống cạn). Người nầy đứng dậy tiến đến một người khác với ly sake để mời uống. Người được mời tiếp lấy ly rượu và uống cạn, đoạn rửa ly bằng nước lạnh và rót rượu mới lại. Nếu người nào từ chối ly rượu mời nầy có nghĩa là người đó tự nhận mình đã say.

    Tôi thấy vừa chủ vừa khách có hơn bốn năm chục người lần lượt kampai với Đại Tá Yonai, và ông không từ chối một ai hết. Khi hầu hết thực khách đều ngã nghiêng, nếu không nói là bò càng dưới đất, Yonai vẫn ngồi thẳng đứng như một Samurai thực sự. Khả năng mọi mặt của ông không thể nào lường được, giống như khả năng nhu đạo của ông.

    Trước khi được bổ nhiệm chỉ huy Kasuga, Yonai giữ chức vụ tùy viên hải quân tòa đại sứ Nhựt ở Mạc Tư Khoa và ông đã từng uống rượu Vodka với người Nga. Yonai cũng nói tiếng Nga sành sỏi.
    Cuối một bữa tiệc như thế, tôi hết sức nể phục khi nhìn thấy Yonai ngồi chẳng khác một thanh sắt, trong khi những người khác múa rối. Các geisa thường bu quanh Yonai và cố mang hết tài nghệ ra để gây chú ý và làm hài lòng ông hạm trưởng nghiêm nghị và đẹp trai. Nhưng ông hạm trưởng nầy không bao giờ “dây dưa” với một cô nào cả.

    Thật kém may mắn cho nước Nhựt khi một người như Yonai chỉ phục vụ một vài chuyến đi trên tàu. Hải Quân Hoàng Gia thường hay chỉ định các chức vụ trên bờ, trong các tổng Hành Dinh, cho những sĩ quan có khả năng, và do đó những sĩ quan tài ba lại thường thiếu kinh nghiệm hải hành.

    Đô Đốc Suzuki xin về hưu trước khi cuộc chiến Thái Bình Dương bùng nổ, ông không chịu đưa ra một tiếng nói nào liên quan đến chiến thuật, chiến lược và chánh sách của hải quân. Yonai đã lên tiếng chống đối chiến tranh, nhưng ông không thể nào đương đầu nổi với tập thể đông đảo các sĩ quan Lục Quân bài ngoại quá khích, và vì vậy ý kiến của ông chẳng được ai để ý đến.

    Bấy giờ có một câu chuyên gây nhiều bàn tán ở Nhựt. Đó là câu chuyên Đô Đốc Yamamoto, Tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp, muốn nhường chức vụ lại cho Yonai để rảnh tay điều động lực lượng tấn công Trân Châu Cảng. Yonai từ chối. Nhưng tôi tin rằng Yonai có thể làm được mọi việc, cũng như ông có thể làm hay hơn Yamamoto trong chức vụ có tánh cách quyết định đó.

    Chuyến đi của tôi trên tuần dương hạm Kusaga kết thúc vào ngày 30 tháng 3 năm 1923, sau khi tôi xin theo học tại một trường đào tạo chuyên viên. Tôi ý thức rằng nếu muốn trở thành một sĩ quan như Yonai, tôi phải học hỏi nhiều hơn nữa. Từ tháng 4 đến tháng 12, tôi theo học khóa huấn luyện về thủy lôi và pháo thuật ở Yokosuka.

    Trong lúc tôi đang theo học, Nhật Bản bị nhiều cơn động đất tàn phá nặng nề. Trận động đất xảy ra trong vùng phụ cận Đông Kinh và Yokohama vào ngày 1 tháng 9 năm 1923 khiến cho 2 nơi nầy bị tàn phá gấp bội các cuộc hỏa hoạn gây ra. Sự thiệt hại cũng nặng nề hơn các cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ trên hai thành phố nầy trong thời đệ nhị thế chiến. Thiết quân luật kéo dài một tháng trong khu vực được ban hành, và tôi được cắt đặt nhiệm vụ bất ngờ để duy trì việc thi hành lịnh nầy.

  9. #9
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    24
    Một ấn tượng khó quên đối với tôi trong thời gian bi thảm đó: sự giúp đỡ mau lệ của Hoa Kỳ cho hai thành phố Nhật bị tàn phá nầy. Các tàu chiến Hoa Kỳ đã đổ xô đến bờ biển Đông Kinh với nhiều loại tiếp tế thiết yếu. Hành động đầy thiện chí nầy khiến lý thuyết chống lại “kẻ thù ngấm ngầm” mà tôi nhận được đã bị lung lay.

    Trong năm cuối cùng tôi ở Eta Jima có nhiều quyết định về vấn đề định nghiệp sĩ quan. Trong thập niên 1920 sự nghiệp của sĩ quan hải quân Nhựt theo các phương thức như sau: các sĩ quan được bổ nhiệm về Tổng Hành Dinh là những người có học bạ đặc sắc nhứt tại các trường chuyên viên hoặc Hàn Lâm Viện, và họ sẽ được nhận vào học tiếp ở trường Cao Đẳng Tham Mưu. Yonai và Yamamoto thuộc vào nhóm nầy. Các sĩ quan đồng hạng nhì trong các trường Chuyên viên hoặc Hàn Lâm Viện sẽ được bổ nhiệm phục vụ trên các thiết giáp hạm và tuần dương hạm, nhưng thường họ không được theo học thêm ở trường Cao Đẳng Tham Mưu. Các sĩ quan đồng hạng ba được bổ nhiệm về các khu trục hạm, và được huấn luyện thêm về loại tàu nầy. Các sĩ quan đồng hạng năm se trở thành phi công (hải quân) sau khi tình nguyện theo học ở trường huấn luyện phi công. Cuối cùng là các sĩ quan được xếp hạng thường sẽ được bổ nhiệm phục vụ trên các hổ trợ hạm và ngoài sự tốt nghiệp ở Eta Jima ra, họ se không được theo học một trường đào tạo chuyên viên nào khác.

    Vấn đề huấn luyện phi công, chỉ rút từ các sĩ quan hải quân tốt nghiêp hàng năm, bấy giờ được xem là một vấn đề có vẻ vô lý. Mười lăm năm sau vấn đề nầy có nhiều thay đổi đáng lưu ý khi nghề bay hấp dẫn cả đến những sĩ quan đứng đầu các khóa huấn luyện. Nhưng việc thay đổi đã quá trể, và vì vậy có thể giải thích tại sao Nhật Bản đã thất bại trong việc điều chỉnh từ ưu thế thiết giáp hạm sang ưu thế hàng không mẫu hạm, bởi lẽ các sĩ quan ưu tú đều dồn về Bộ Tư Lịnh Tối Cao, và mặc dù họ chỉ biết về thiết giáp hạm, nhưng tiếng nói của họ lại có tánh cách quyết định đối với binh chủng hải quân. Tiếng nói của các sĩ quan không quân chuyên nghiệp không được nghe đến vào thời gian ấy.

    Chẳng hạn người cầm đầu Không Lực hải quân Nhựt trong cuộc chiến thế giới thứ hai là phó Đô Đốc Takijiro Onishi đã không đậu được kì thi vào trường Cao Đẳng Tham Mưu, giống như tôi, và cũng vì vậy mà tôi được chỉ định phục vụ trên các khu trục hạm. Nhưng có điều phải nhìn nhận là các sĩ quan xuất sắc chưa hẳn là những người chiến đấu giỏi.

    Hồ sơ học vấn của tôi ở Yokosuka kém cõi, việc nầy hoàn toàn do lỗi của tôi. Ngoài sự thõa mãn, sau thời gian chịu đựng kham khổ ở Eta Jima và các nhiệm vụ kế tiếp, có lẽ còn do sự ganh đua đầy trẻ con với Đại Tá Yonai (sau nầy là Đô Đốc), tôi tập tành nhậu nhẹt. Nhưng tôi uống quá nhiều và thường chếnh choáng khi bước vào lớp học. Điều nầy chắc chắn phải lảnh điểm xấu.

    Khi rời khỏi trường tôi được chỉ định phục vụ trên mặt biển trở lại. Tôi than van khi biết nhiệm sở của tôi là chiếc Hatsuyuki, một khu trục hạm cổ lộ hạng ba, đã hai mươi tuổi thọ, và trọng lượng chỉ có 381 tấn. Hatsuyuki ở thời đại tân tiến nầy chỉ có thể là một khu trục hộ tống hạm hoặc một tàu săn tiềm thủy đỉnh hơn là khu trục hạm chiến đấu. Nhưng chiếc tàu nầy có thể đạt đến tốc độ 29 hải lý, so với 18 hải lý của Kasuga. Tốc độ của nó đã mê hoặc tôi. Đó là chiếc tàu nhanh nhất mà tôi được phục vụ kể từ ngày ra trường. Hơn nữa, nhiệm vụ mới nầy, tôi còn được thêm một chuyến viễn du nhỏ nữa: Hatsuyuki đậu ở hải cảng Arthur, hải cảnh hải quân nằm ở cực Nam Mãn Châu, để bảo về kiều dân Nhật sinh sống ở Mãn Châu và Hoa Bắc. Trong một năm, chúng tôi chạy vòng quanh bán đảo Kwantung, và buông neo hết Yingko đến Tientsin.

    Thời gian nầy đời sống trên tàu của tôi có nhiều thay đổi lớn. Là một thiếu úy, và là một trong những sĩ quan chỉ huy chiếc tàu, tôi được giao điều động 60 thủy thủ. Đời sống trên chiếc tàu chiến nhỏ như thế không phải luôn dễ thở. Sự ăn uống tồi tệ. Thủy thủ đoàn không bao giờ được tắm rửa cho thỏa thích, và ngay cả đến nước rửa mặt chúng tôi cũng thiếu, vì vậy mà không ai lưu tâm đến việc cạo râu. Gặp phải các mặt biển thường có mưa giông, chiếc tàu không lúc nào nằm yên, và có lúc chúng tôi phải chạy nhanh nhiều giờ để chống chọi lại thời tiết. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn giống như một đại gia đình ai ai cũng nhẵn mặt nhau. Kỷ luật gò bó không còn cần thiết nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy như được ở nhà và thích thú với nhiệm vụ. Tôi hài lòng bởi quyết định chọn nghiệp của tôi ở hiện tại.

    Tháng 12 năm 1924, tôi được thăng cấp Trung úy và thuyên chuyển đến chiếc Sanae, một khu trục hạm trọng lượng khoảng 1000 tấn. Công việc của tôi trên chiếc tàu nầy cũng không khác gì trên chiếc Hatsuyuki, và suốt một năm, chúng tôi chạy quanh Mãn Châu và Hoa Bắc.

    Tháng 12 năm 1925, tôi được bổ nhiệm về chiếc Amatsukaze, một khu trục hạm hàng đầu, trọng lượng 1300 tấn, một sự bổ nhiệm mà tôi đã thèm thuồng từ lâu. Đây là chiếc tàu chiến đấu đầu tiên tôi được đặt chân lên trong 7 năm kể từ khi tôi vào Eta Jima. Amatsukaze đạt tốc lực tối đa đến 37.5 hải lý. Tôi không còn là một tay mơ nũa, tôi đã trở thành một sĩ quan hải quân thực sự. Đó là vinh dự phi thường và thành đạt to tát.

    Những năm sau nầy tôi mới nhận thấy mình đã sai lầm biết bao.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    5
    Danh hiệu các chiến hạm đối với đọc giả ngoại quốc chắc có âm thanh xa lạ. Trong suốt cuộc chiến Thái Bình Dương có nhiều người Tây phương gọi một chiếc tàu Nhật là “Maru”. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng tất cả chiến hạm hoặc tàu bè khác của Chánh Phủ Nhật không kèm chữ Maru ở cuối danh hiệu. Chữ Maru lúc đó chỉ được các tàu hàng hoặc tàu đánh cá Nhật sử dụng mà thôi.

    Maru nghĩa đen là vòng tròn, tròn trịa hoặc bầu bỉnh. Dân Nhựt thời trung cổ thường dùng chữ Maru để đặt tên cho con trai của họ lúc nhỏ. Chẳng hạn như Hideyoshi Toyotomi, chiến tướng lừng danh thế kỷ thứ XVI, thường được so sánh với Nã Phá Luân, có tên ấu thời là Hiyoshi Maru, chữ Maru ở đây có nghĩa là “cậu bé hoàn hảo ( hoặc đầy may mắn) và rạng rỡ như mặ trời”. Và tên ấu thời của Yo****sune Minamoto, danh tướng thế kỷ XII, là Ushiwaka Maru , có nghĩa là “khỏe mạnh như một con bò con”.

    Dân Nhựt, theo lối nhân cách hóa, đã thêm chữ Maru phía sau danh hiệu con tàu của họ. Từ 100 năm qua, chữ Maru không còn sử dụng kèm với danh hiệu của tàu bè Chánh Phủ nữa. Chiến hạm Nhật, cũng như nhiều quốc gia khác, đã được phân ra từng loại để đặt tên. Do đó, một người nếu quen với hệ thống nầy chỉ cần nghe qua cái tên có thể biết ngay đó là thiết giáp hạm, tuần dương hạm, khu trục hạm, v.v…
    Các thiết giáp hạm Nhựt thường lấy tên của các tỉnh lỵ cổ hoặc núi non. Thiết giáp hạm danh tiếng Yamato mang tên Nara, tỉnh lỵ và cũng là kinh thành cổ nhứt ở miền Trung Honshu. Nara xưa kia còn được sử dụng để chỉ toàn thể nước Nhựt. Và việc đặt tên chiếc Yamato cho thấy Hải Quân Hoàng Gia kiêu hãnh về sự đồ sộ của chiếc tàu nầy là dường nào. Tàu em Yamato là thiết giáp hạm Musashi, mang tên tỉnh lỵ phía Bắc Đông Kinh. Nhưng đặt biệt các thiết giáp hạm Haruna, Kirishima, Kongo Hiei lại mang tên các ngọn núi. Bởi nguyên thủy các chiếc tàu nầy là tuần dương hạm được biến cải thành thiết giáp hạm vào năm 1930, và chúng vẫn giữ y tên cũ .

    Các tuần dương hạm nặng thường mang tên núi và các tuần dương hạm nhẹ mang tên sông ngòi. Các hàng không mẫu hạm có những tên thích hợp với “nghề bay”. Hàng không mẫu hạm Hosho, được đóng năm 1921, có nghĩa là Phi Phượng. Hiryu và Soryu, tham dự cuộc tấn công Trân Châu Cảng, có thể dịch là “Phi Long” và “Thanh Long”. Riêng 2 hàng không mẫu hạm mang tên Kaga và Akagi, cùng bị đánh đắm với 2 con rồng ở Midway vào tháng 6 năm 1942, mang tên một tỉnh lỵ và núi. Điều nầy dễ hiểu bởi chiếc đầu là một thiết giáp hạm và chiếc sau là tuần dương hạm biến cải thành hàng không mẫu hạm.

    Tiềm thủy đỉnh và tàu săn tiềm thủy đỉnh cho đánh số với các mẫu tự phía trước. Những tiềm thủy đỉnh lớn mẫu tự đặt ở đầu con số là “I” và những tiềm thủy đỉnh nhỏ là “RO”. Tất cả tàu săn tiềm thủy đỉnh đều đặt ở đầu con số bằng hai mẫu tự “SC”.

    Các khu trục hạm mang tên khí tượng học chẳng hạn như Hatsuyuki (Tuyết đầu mùa), Fubuki (Bão tuyết), Shimakaze (Gió hải đảo), Amatsukaze (Thiên Phong), Akitsuki (Thu nguyệt), Fuyutsuki (Đông Nguyệt) hoặc Yugumo (Tà vân). Các khu trục hạm nhẹ mang tên các loại cây, trái và hoa, chẳng hạn như Sanae (Hạt lúa), Sakura (Anh đào) hoặc Kaba (Mộc phong).

    Khi một chiến hạm Nhật bị phế thải một tàu mới thay thế thường mang tên chiếc tàu cũ, không hề thêm bất kì con số nào có ý nghĩa như “II” chẳng hạn. Thành thử tôi phục trên hai chiếc tàu khác nhau, nhưng cùng mang tên Amatsukaze.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •