Trang 13 của 13 Đầu tiênĐầu tiên ... 3111213
Kết quả 121 đến 127 của 127
  1. #121
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    186
    Sau sáu tuần huấn luyện khổ nhọc, Shigure được chỉ định vào công tác phòng duyên ở Truk. Công tác này bao gồm việc bảo vệ những chuyển vận hạm ra vào hải cảng và ngăn ngừa tiềm thủy đĩnh của địch quân len lỏi tấn công. Công tác nhẹ nhàng này không hề làm cản trở chương trình huấn luyện của chúng tôi.

    Trong khi đó, tình hình chung của cuộc chiến không mấy sáng sủa đối với Nhật Bản. Sau khi triệt thoái khỏi Guadalcanal, lực lượng Nhật rút về trú đóng tại một chuỗi đảo khác nằm ở phía trên quần đảo Solomon. Nhưng khả năng tấn công của địch càng lúc càng mạnh mẽ và nhanh chóng hơn khả năng phòng thủ của Nhật Bản.

    Đô đốc Mineichi Koga, kế nhiệm Đo đốc Yamamoto trong chức vụ Tổng Tư Lệnh Hạm Đội Hỗn Hợp vẫn tiếp tục theo đuổi chiến thuật của vị tiền nhiệm. Ông đã áp dụng chiến thuật tấn công lẻ tẻ, bằng cách phân tán các tuần dương hạm và khu trục hạm ra từng nhóm nhỏ. Chiến thuật “tiêu hao” này được tung ra cả ngày lẫn đêm, đã gặt hái được một số chiến thắng nhỏ, nhưng vẫn không xoay nổi dòng thủy triều của cuộc chiến.

    Cùng với việc triệt thoái ra khỏi vùng Guadalcanal, những lực lượng tinh nhuệ của Nhật đóng tại quần đảo Solomon rút về New Georgia. Tại đây, Nhật có những căn cứ trên hòn đảo chính Munda và các đảo phụ cận Kolombangara. Trong khu vực này, Nhật có khoảng chừng 10.500 quân. Ngày 30 tháng 6 năm 1943, lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ đã chĩa một mũi dùi vào khu vực này, qua các cuộc đổ bộ lên phía Bắc hai đảo Rendova và Vangunu. Các cuộc đổ bộ này là mối đe dọa trầm trọng cho những căn cứ của Nhật Bản trong khu vực, do đó Đô đốc Koga đã phải ra lệnh tăng cường đến mức tối đa cho các đạo quân trú phòng. Các khu trục hạm của chúng tôi được chỉ định vào công việc chuyển quân tăng cường này. Những chiến hạm vừa chở đầy người và đồ tiếp liệu, vừa phải đối đầu với địch quân vượt trội trong những trận đánh dữ dội xảy ra vào những ngày 4,6,12 và 19 tháng 7. Tưởng rằng với sự cách biệt rõ rệt giữa lực lượng hai bên, phần thất bại sẽ nghiêng về phía chúng tôi. Nhưng trái lại, những chiến hạm nhỏ bé nhưng can đảm này đã gặt hái được những thành tích lớn. Đặc biệt nhất là chiến công sáng chói của 5 khu trục hạm tại Vịnh Kula vào đêm 12 tháng 7.

    Trong cuộc quần thảo tại Vịnh Kula, lực lượng Nhật gồm có tuần dương hạm hạng nhẹ Jintsu và các khu trục hạm Yukikaze ( đồng đội cũ của tôi) , Hamakaze, Mikazuki, Ayanami và Yugure chống lại với một lực lượng địch gồm đến 3 tuần dương hạm hạng nhẹ, hai của Hoa Kỳ và 1 của New Zealand, và 10 khu trục hạm. Trận chiến bắt đầu lúc nửa đêm, khi tuần dương hạm Jintsu đáp nhầm lại tín hiệu cho một tàu Hoa Kỳ và bị đánh chìm ngay lập tức bởi một hỏa lực tập trung mãnh liệt.

    Trận chiến tiếp diễn, tuần dương hạm Leander của Hoa Kỳ bị chiến hạm Nhật phóng ngư lôi loại ra khỏi vòng chiến. Lực lượng Đồng Minh vấp phải một sai lầm khi chia lực lượng ra làm hai nhóm vào lúc ấy. Một trong hai nhóm đã thất bại nặng khi lâm chiến với các khu trục hạm Nhật. Năm khu trục hạm Nhật đã lướt sóng tung hoành giữa nhóm tàu thứ hai này của địch quân, và đã loại ra khỏi vòng chiến hai tuần dương hạm St Louis và Honolulu, đồng thời đánh chìm khu trục hạm Gwim. Trong cơn hỗn loạn của trận chiến, hai khu trục hạm của Hoa Kỳ là Woodworth và Buchanan va chạm nhau. Các chiến hạm Nhật quay mũi về căn cứ, tuy bị thiệt hại, nhưng là thiệt hại trong chiến thắng.

  2. #122
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    Đối với Nhật, việc mất mát tuần dương hạm Jintsu, so với sự thiệt hại mà khu trục hạm Yukikaze và các đồng đội gây ra cho ba tuần dương hạm và 3 khu trục hạm Đồng Minh, có vẻ đắt giá hơn nhiều.

    Tại Truk tôi cảm thấy có một chút ganh tị khi nghe được chiến công của khu trục hạm Yukikaze. Chiếc Yukikaze cùng hạ thủy một lượt với chiếc Amatsukaze của tôi hồi cuối năm 1942, nhưng nó chưa đạt được một chiến công hiển hách nào trước đó, chỉ được thành tích là chiến hạm duy nhất còn tồn tại trong trận hải chiến Bismarck mà không hề mang một thương tích nào. Nhờ trận hải chiến tại Vịnh Kula chiếc Yukikaze trở thành một trong những khu trục hạm nổi tiếng. Tôi định tâm cho chiếc Shigure của tôi ganh đua chiến công với chiếc Yukikaze khi chúng tôi được lệnh di chuyển đến Rabaul vào ngày 20 tháng 7.

    Tôi rất sung sướng nhận được lệnh di chuyển. Từ trước đến sau, tôi chỉ là một Chỉ huy trưởng Hải đội trên danh nghĩa, vì tất cả các chiến hạm của tôi đều phân phối cho các bộ chỉ huy khác, ngoại trừ chiếc Shigure. Hai trong số khu trục hạm của tôi là chiếc Yugure và Ariake bây giờ đang ở Rabaul. Do đó khi nghĩ đến ba chiến hạm dưới quyền tôi sẽ gặp nhau, tự nhiên tôi thấy phấn khởi. Tôi cũng biết được chiếc Yugure vừa trở về từ trận đánh vinh quang ở Vịnh Kula với nhiều thành tích đáng kể. Với kinh nghiệm đã qua, chiếc tàu này sẽ là một tài sản quý giá của Hải đội.

    Toàn thể thủy thủ đoàn Shigure đều chia sẻ cảm giác này với tôi, và tinh thần của họ lên cao khi nghe tin những thành tích mà chiếc Yugure đã gặt hái được.

    Chịu đựng sự huấn luyện gian khổ trong suốt bốn tháng trời ròng rã, tất cả mọi người đều mệt mỏi, nhưng trước viễn tượng sẽ được dịp thử sức với địch quân ngoài mặt trận, nỗi mệt mỏi này đã tan biến.

    Chất đầy những bộ phận phi cơ mà Rabaul rất cần đến, chiếc Shigure hướng về phía Nam với tốc độ đều đặn 18 hải lý. Tôi không thể nào tưởng tượng được rằng chỉ qua bốn tháng huấn luyện, đã làm biến đổi một thủy thủ đoàn thiếu tinh thần, làm việc rời rạc trước đây, trở thành một thủy thủ đoàn làm việc hăng say, có tinh thần đồng đội cao độ. Trong suốt thời kỳ huấn luyện, tôi tiết kiệm những lời khen thưởng, nhưng họ cũng đã thi hành bổn phận một cách tốt đẹp. Kinh nghiệm thực tế đã dạy cho tôi hiểu rằng hành động thật sự sẽ giúp cho ta hiểu biết nhiều hơn là hàng ngàn lần thao dượt. Có lẽ tôi cần phải tiết kiệm lời khen thưởng cho đến lúc nào họ thật sự chịu đựng được một cách can đảm trước khói lửa, và tôi cũng hy vọng nhờ vào những thử thách cam go, sự yếu kém của họ sẽ được điền khuyết. Bây giờ tôi thèm khát được chiến đấu. Khu trục hạm Yukikaze đã thành công, Shigure cũng sẽ thành công.

    Đoạn hải trình đến Rabaul không có gì xảy ra, và chúng tôi cập bến vào ngày 23 tháng 7. Tôi lập tức trình diện Tổng hành dinh ở đây. Một sĩ quan tham mưu đã lặng lẽ trao tôi một bản tin. Tôi xem vội vã và chết điếng người. Bản tin cho biết hai khu trục hạm Yugure và Kiyonami đã bị đánh chìm tại phía Nam Choiseul vào ngày 20. Hai chiếc tàu này nằm trong thành phần các khu trục hạm có nhiệm vụ vận chuyển đồ tiếp tế đến Kolombangara, bị gián đoạn một tuần lễ trước đó và đang được cố gắng thực hiện lại. Toàn thể thủy thủ đoàn mất tích, gồm 228 người của chiếc Yugure và 240 người của chiếc Kiyonami. Như vậy, tính ra địch quân đã phục thù được tổn thất của họ tại Vinh Kula trong vòng có một tuần lễ.

  3. #123
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Ngay sau khi chiếc Shigure đổ hàng xong xuôi, tôi báo cho thủy thủ đoàn biết câu chuyện đã xảy ra cho hai chiếc khu trục hạm bất hạnh trên. Toàn thể thủy thủ lắng nghe một cách im lặng, và theo tôi ghi nhận, họ đã bắt đầu cảm thấy tất cả những gì mà họ đã phải chịu đựng trong lúc tập dượt không phải là vô ích.

    Hải đội 27 Khu trục hạm vẫn còn đặt dưới quyền chỉ huy của tôi, dầu chỉ trên danh nghĩa. Nhưng khu trục hạm Ariake cùng với hai chiếc khác trở về vào ngày 21, sau khi thành công trong nhiệm vụ chuyển vận đến Kolombangara kế tiếp chuyến đi thất bại của Yugure và Kiyonami. Cả ba đã chọn hải trình Vịnh Vella để di chuyển thay vì Vịnh Kula. Lực lượng hùng hậu của địch, gồm 4 tuần dương hạm và 3 khu trục hạm, vẫn còn lảng vảng tại Vịnh Kula, nhưng không sao phát giác được tung tích của 3 khu trục hạm Nhật, cho mãi đến khi chúng tiến được vào mặt này và ra đi ở mặt kia của đảo Kolombangara.

    Rabaul, căn cứ tiếp liệu cho tất cả lực lượng Nhật Bản trấn đóng trên quần đảo Solomon và New Guinea, là địa điểm đã xảy ra những trận đánh khốc liệt nhất vào mùa hè 1943. Khu trục hạm Shigure được phép tạm nghỉ xả hơi, nhưng tất cả thủy thủ đoàn luôn luôn nằm trong tình trạng ứng chiến trong suốt 6 ngày, và sau đó được lệnh cùng 3 chiến hạm khác, thuộc Phân đội 4 Khu trục hạm, lãnh nhiệm vụ chuyển vận đồ tiếp tế đến Kolombangara lần nữa.

    Chúng tôi bắt buộc phải sử dụng hải trình xuyên qua Vịnh Vella mà cách đây 10 ngày chiếc Ariake đã di chuyển. Hải trình này rất “an toàn” như Tổng hành dinh Rabaul đã cho chúng tôi biết.

    Tuy nhiên chúng tôi phải dè dặt bởi vì, theo như nhận xét của riêng tôi, việc lặp lại thường xuyên một phương thức đã từng được sử dụng thường rước lấy thảm họa. Chúng tôi không tin được các tuần dương hạm và khu trục hạm của địch quân có thể lại phí phạm một cách vô ích thời gian và nhiên liệu tại Vịnh Kula. Thảm kịch đã xảy đến cho hai chiếc Yugure và Kiyonami có lẽ là một bằng chứng khá đủ để không cho phép chúng tôi xem thường khả năng của đối phương một cách khờ khạo như thế.

    Ngày 1 tháng 8, chúng tôi rời hải cảng Rabaul ra khơi theo đội hình hàng dọc. Chiếc Amagiri lãnh nhiệm vụ hướng dẫn và thám báo nên không chở theo gì cả. Ba khu trục hạm theo sau, Hagikaze, Arashi và Shigure, đều chất đầy người và hàng hóa. Tổng số lên đến 900 binh sĩ và 120 tấn tiếp liệu. Chuyến ra khơi thực sự lần đầu tiên trong năm này, tôi cảm thấy âu lo. Trong thời gian tôi vắng mặt, các hải vực thuộc miền trung Solomon này là nơi nhận chìm rất nhiều khu trục hạm nổi tiếng của Nhật. Ba khu trục hạm Kagero, Huroshio và Oyashio, từng tạo những chiến công oanh liệt ngoài khơi đảo Savo cho Đề đốc Tanaka, đã bị phi cơ địch và mìn nhận chìm vào ngày 8 tháng 5 năm 1943. Nagatsuki, chiếc tàu đã cùng tham chiến với tôi tại biển Java, và chiếc Niizuki đã vùi sâu trong hải vực này hồi tháng 7. Hatsuyuki, người hùng của trận Savo vào tháng 10 năm 1942, đã nổ tan xác và chìm sâu xuống biển cả mênh mông gần Bougainville vào ngày 17 tháng 7 năm 1943.

  4. #124
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Những tiếng cười hân hoan vang lên trên các khu trục hạm Nhật, lúc chúng tôi tiếp tục xả hết tốc lực trên đoạn hải trình còn lại để trở về căn cứ. Cảm thông được niềm vui của mọi người, nhưng tôi không thể hòa mình cùng với họ, vì đầu óc của tôi vẫn còn lảng vảng hình ảnh của chiếc PT-109 lúc tàu tôi lướt ngang qua.

    Chiếc tàu này đã làm tôi nhớ đến chiếc Terutsuki bị đánh chìm vào tháng 12 năm 1942, bởi các trái ngư lôi do hai ngư lôi đĩnh địch có trọng tải 50 tấn phóng ra. Có lẽ chúng tôi cũng chịu chung số phận với chiếc khu trục hạm Terutsuki đêm nay, nếu địch quân nhận ra chúng tôi và phản ứng trước một vài phút sớm hơn.

    Chúng tôi giảm tốc độ lại khi ra khỏi Vịnh Vella, và sau đó trở về căn cứ Rabaul an toàn. Thủy thủ đoàn của chúng tôi vẫn còn phấn khởi với chiến công vừa qua, nhưng tôi thì rất dè dặt và lo ngại. Sự lo ngại thật sự đã đến với tôi, khi tôi đến trình diện tại tổng hành dinh và nhận một tin tức chính thức.

    “Khu trục hạm Mitkazuki (thuộc Hải đội 30 Khu trục hạm) và Ariake (thuộc Hải đội 27 Khu trục hạm) trong lúc thi hành sứ mạng chuyển vận đến Tuluvu, New Britain. Đã mắc cạn gần mũi Gloucester vào ngày 27 tháng 7, và hôm sau cả hai đã bị các oanh tạc cơ B-25 oanh kích hủy diệt hoàn toàn, nhưng chỉ có 7 thủy thủ thiệt mạng.”

    Tôi buồn bã quay trở về khu trục hạm Shigure. Một lần nữa, tôi lại trở thành vị hải đội trưởng chỉ có một khu trục hạm dưới tay. Tai biến dồn dập biết bao. Không đầy một tháng, năm chiến hạm đã từng tạo nên những chiến công lẫy lừng chỉ còn lại hai chiếc.

    Hai chiếc Mikazuki và Ariake vụng về, đần độn đến bậc nào mà cho đến nỗi phải bị mắc cạn? Mệt mỏi và mất tinh thần, đêm đó tôi đã nốc cạn rất nhiều chai sake, Thiếu tá Yamagachi đã cùng tôi đối ẩm để chia sẻ nỗi đau buồn cùng cực với tôi. Nhưng ông ta chỉ lưu lại một giờ đồng hồ, và sau đó tôi độc ẩm suốt đêm.

    Hai ngày sau, lúc sáng sớm ngày 4 tháng 8, Đại tá Kaju Sugiura, chỉ huy trưởng Hải đội 4 Khu trục hạm, đạt giấy mời Yamagachi và tôi đến soái hạm của ông để dự một phiên họp.

    Đó là một buổi sáng đầy nắng. Chúng tôi dùng ca nô chạy đến khu trục hạm Hagikaze. Bàn ghế của buổi họp đặt trên sàn tàu, phía trên căng một tấm vải nhỏ để che nắng.

    Hai chúng tôi đến muộn hơn hết. Các hạm trưởng và sĩ quan thuộc các khu trục hạm khác có mặt trên tàu tiếp đón chúng tôi một cách thân mật.

    Đại tá Sugiura, huynh trưởng của tôi ở Eta Jima và đã tốt nghiệp Trường Tham Mưu Cao Cấp, sau khi chào hỏi mọi người, ông bắt đầu ngay phiên họp, Ông nói: “Thưa toàn thể quý vị, tôi rất vui mừng thông báo cùng quý vị rõ, chúng ta đã thành công mỹ mãn trong sứ mạng chuyển vận đến căn cứ Kolombangara vừa qua. Sự thành công này sở dĩ đạt được là nhờ sự cộng tác chặt chẽ của quý vị. Bộ Tư Lệnh Tối Cao Lục quân và Hải quân rất hài lòng, và nhờ tôi chuyển đến quý vị lời khen nồng nhiệt nhất. Đồng thời, thượng cấp ra lệnh tiếp tục công tác chuyển vận vào ngày mốt. Khu trục hạm Kawakaze sẽ thay thế khu trục hạm Amagari bị móp ở mũi vì chạm phải ngư lôi đĩnh của địch quân. Tôi yêu cầu quý vị cho biết ý kiến, và điều cần đề nghị tôi cũng rất mong quý vị nêu ra.

  5. #125
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Nhìn chung quanh bàn họp, tôi nhận thấy toàn thể các hạm trưởng thuộc quyền Sugiura lắng nghe một cách bình thản. Không một ai đứng lên phát biểu ý kiến nhằm chống lại Đại tá Sugiura. Trong buổi họp, tôi là người duy nhất mang cùng một cấp bậc Đại tá, và cũng là một Hải đội trưởng, dù chỉ một chiếc, như Sugiura, nên tôi đứng dậy và lên tiếng:

    “Thưa Đại tá, tôi hiểu Đại tá muốn nói gì khi bảo rằng chúng ta cần phải tiếp tục thi hành sứ mạng của chúng ta. Điều đó, thưa Đại tá, có phải Đại tá muốn nói rằng chúng ta cần phải thi hành công tác theo cùng một hải trình mà chúng ta đã sử dụng trong chuyến vừa qua?”

    “Đúng vậy, thưa Đại tá Hara. Chúng ta cũng sẽ đi ngang qua Vịnh Vella và eo biển Blackett. Chúng ta xuống hàng tại căn cứ Kolombangara vào lúc 23h30 ngày mốt, y như lần trước chúng ta đã thực hiện.”

    “Xin lỗi Đại tá, tôi nghĩ rằng lặp lại một phương thức mà chúng ta đã sử dụng là một hành động không mấy khôn khéo. Chúng ta đã sử dụng hải trình ngang qua Vịnh Vvella hai lần rồi. Tôi tự hỏi chúng ta không thể sử dụng một hải trình khác được sao? Riêng eo biển Blackett đã là hải trình không an toàn, vì nó đầy dẫy đá ngầm và có những khoảng rất nông, đó là chưa nói đến chuyện phải qua eo biển Gizo như thế nào trước khi vào được Blackett mà không bị địch quân phát giác?”

    “Thưa Đại tá Hara, tôi đồng ý quan điểm của Đại tá, nhưng tôi đã lỡ ban theo chỉ thị của thượng cấp. Do đó, việc thay đổi hải trình theo như Đại tá vừa nói, sẽ đưa đến việc thay đổi toàn bộ hệ thống liên quan đến công tác mà chúng ta đảm nhận, nhất là về phương diện liên lạc. Như Đại tá đã rõ, hệ thống liên lạc của Lục quân chúng ta vô cùng yếu kém. Nếu eo biển Blackett bất lợi đối với chúng ta thì nó cũng nguy hiểm đối với địch quân. Các ngư lôi đĩnh của địch có thể chạm vào đá ngầm trước khi chúng đương đầu với chúng ta.”

    Ba hạm trưởng của Đại tá Sugiura gật đầu nhè nhẹ, tỏ ra họ đồng ý những điều mà vị chỉ huy của họ vừa phát biểu. Những phản đề nghị của tôi rõ ràng đều bị tất cả mọi người có mặt trong buổi họp chống đối, ngoại trừ Yamagami. Tôi cảm thấy hơi choáng váng. Bên tai tôi lại văng vẳng những câu trong quyển tự truyện của Musashi Miyamoto”

    “Lập lại một phương thức đã từng sử dụng quả là tệ hại, và còn tệ hại hơn nữa nếu lặp lại lần thứ ba……. Khi đối phương nghĩ mình đánh cao, mình đánh thấp. Khi đối thủ nghĩ thấp, mình sẽ đánh cao. Đó là bí quyết của kiếm thuật.”

    Đại tá Sugiura không phải là người xa lạ gì với tôi. Chúng tôi đã là bạn nhau từ nhiều năm nay. Ông được thượng cấp tín nhiệm và có nhiều biệt nhãn đối với ông. Có nhiều dấu hiệu cho thấy ông sẽ được thăng cấp Đề đốc. Một người có tương lai như vậy thì khi nào lại dám cãi lại mệnh lệnh của cấp trên đưa xuống.

    Đại tá Sugiura phá tan sự im lặng và tiếp tục lên tiếng một cách rất hòa hoãn:

    “Đại tá Hara, nếu Đại tá bằng lòng thì tôi sẵn sàng giao nhiệm vụ thám báo cho chiếc Shigure. Như vậy Đại tá sẽ được rảnh tay và khỏi phải lo lắng về vấn đề chuyển vận nặng nhọc. Nhiệm vụ này trước đây do chiếc Amagiri đảm trách và hiện được chiếc Kawakaze thay thế, nhưng thủy thủ đoàn của chiếc tàu này lại thiếu kinh nghiệm. Tôi mong rằng với tài khéo léo và kinh nghiệm sẵn có của Đại tá, Đại tá sẽ hoàn tất công tác một cách tốt đẹp trong nhiệm vụ thám báo.”

  6. #126
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    13
    Đây lại là một lời đề nghị chứng tỏ sự khôn khéo của Đại tá Sugiura. Ông ta muốn đẩy tôi, kẻ duy nhất chống đối lệnh hành quân, vào thế không thể từ chối trước một trách nhiệm quan trọng như vậy trong cuộc hành quân này.

    Tất cả mọi người đều nhìn về tôi chờ xem sự phản ứng. Tôi trả lời một cách chân thành: “Tôi cảm ơn sự lưu tâm của Đại tá đối với tôi, nhưng rất tiếc tôi không thể nào chấp nhận sự đề nghị của Đại tá.”

    Tất cả những người tham dự trong buổi họp đều ngạc nhiên. Các hạm trưởng có mặt đều áy náy lúc nghe tôi trả lời như vậy. Tôi tiếp tục: “Khu trục hạm Shigure, một chiếc tàu chậm chạp, cũ kỹ, nhiều tuổi nhất trong số 4 khu trục hạm tham dự cuộc hành quân này. Bộ máy 42.000 mã lực của Shigure đã đến thời kỳ phải sửa chữa, do đó tôi sợ nó không đạt nổi tốc độ 30 hải lý. Giao nhiệm vụ thám báo cho nó thật không thích hợp chút nào. Tôi đề nghị nên giao nhiệm vụ này cho Trung tá Koshichi Sugioka, hạm trưởng khu trục hạm Arashi. Chiếc tàu của ông còn mới, và với dàn máy 52,000 mã lực, nó có thể đạt đến tốc độ 35 hải lý dễ dàng.”

    Trong lúc bầu không khí im lặng bao trùm buổi họp, Sugiora vẫn ngồi lặng lẽ và đôi mắt của ông ngó lặng chỗ khác. Cuối cùng, nột cách trầm tĩnh, Đại tá Sugiora đã phá tan bầu không khi im lặng với ý kiến nhân nhượng:

    “Được rồi, thưa toàn thể quý vị, soái hạm Hagikaze sẽ đi đầu và lãnh nhiệm vụ thám báo. Tuy nhiên vẫn phải chia sẽ gánh nặng trong nhiệm vụ chở binh sĩ và đồ tiếp liệu. Ba chiếc Arashi, Kawakaze và Shigure theo sau, chiếc nọ cách chiếc kia 500m. Bằng lòng chưa, thưa Đại tá Hara?”

    Tôi bằng lòng với sự xếp đặt này, vì nhận thấy Đại tá Sugiura chiều lòng tôi như vậy đã là quá mức. Buổi họp chuyển sang bàn cãi những vấn đề khác thuộc về chuyên môn.
    Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ rời khỏi Rabaul vào sáng sớm để có thể đến được vùng luôn luôn nằm dưới mắt của trinh sát cơ địch xuất phát từ căn cứ Russells khi đêm xuống. Đại tá Sugiura cho biết rằng tầm hoạt động của phi cơ Hoa Kỳ tại căn cứ này là 300 dặm.

    Tin tức của Đại tá Sugiura có lẽ đúng trước đây một tuần, nhưng chúng tôi không thể nào cứ cho rằng bây giờ những chiến đấu cơ địch không thể xuất phát từ căn cứ tiền phương của chúng ở Rendova. Căn cứ này bắt đầu hoạt động từ tháng 7. Ngoài ra, lực lượng chúng tôi còn có thể bị các tiềm thủy đĩnh địch phát giác. Tuy nhiên, điều này không đáng quan tâm mấy.

    Cuộc họp này kéo dài 2 giờ. Tôi giữ thái độ im lặng và lo âu khi rời buổi họp về Shigure. Yamagari nói với tôi:

    “Thưa Đại tá, tôi rất lấy làm khâm phục sự can đảm của Đại tá, qua những ý kiến mà Đại tá đã phát biểu trong buổi họp. Nhưng tôi e rằng tất cả những sĩ quan thuộc hải đội 4 sẽ không bao giờ lưu tâm đến quan điểm của Đại tá.”

    “Đây không phải chỉ là vấn đề can đảm mà tôi phải phát biểu trong buổi họp, như ý nghĩ của mọi người. Nhưng chính vì mạng sống của nhiều người mà tôi phải nói lên những điều đó. Cuộc hành quân thật ra rất vô lý, nhưng bây giờ tôi chỉ biết làm một việc đơn giản là cầu nguyện cho chúng ta được nhiều may mắn trong sứ mạng mà cấp trên giao phó.”

  7. #127
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Tôi luôn nghĩ đến buổi họp vừa qua với nỗi buồn sâu xa. Tôi sẽ không bao giờ khuất phục trước chính sách điên rồ của giới chỉ huy tối cao. Giả sử mà quan điểm của tôi được họ lưu ý đến thì hàng ngàn mạng người sẽ được cứu sống ở cuộc hành quân đang phát động và những cuộc hành quân sắp được phát động sau này.

    Tuy nhiên, tập đoàn chỉ huy tối cao của binh chủng Hải quân có khi nào lại chú ý đến quan điểm của tôi. Sau đó, tôi biết được những lời chống đối rất hữu ích của tôi trong cuộc họp kể trên còn tạo nên rất nhiều chỉ trích trong giới sĩ quan tại căn cứ Rabaul.

    Vào 3h sáng ngày 6 tháng 8, chúng tôi rời căn cứ Rabaul tiến về hướng Nam. Mặt biển lặng sóng, bầu trời nhiều mây, thỉnh thoảng những cơn mưa luồng chợt đến, và xen vào đó là ánh nắng chiếu loáng thoáng từng khoảnh trên đại dương.

    Lúc 14h30, chúng tôi di chuyển ngang qua đảo Boka. Một trinh sát cơ địch xuất hiện, nhưng rồi mất hút trong mây. Truyền tin của tôi cho biết vừa chặn bắt được một công điện được mã hóa. Có lẽ đây là công điện của phi cơ địch báo cáo hướng tiến của chúng tôi về bộ chỉ huy. Thật ra, cuộc hành quân này không làm cho địch quân phải ngạc nhiên.

    Tôi tiếp tục theo dõi soái hạm Hagikaze, để xem Đại tá Sugiura đối phó với tình hình như thế nào. Tôi rất buồn lòng khi thấy chúng tôi vẫn tiếp tục đi theo một lộ trình, và với tốc độ như cũ, dầu rằng địch quân đã phát hiện chúng tôi. Tôi nghiến chặt răng và thi hành nhiệm vụ.

    Lúc 19h, chúng tôi tiến vào eo biển Bougainville, xoay hướng 140 độ và gia tăng tốc độ lên 30 hải lý. Hai giờ hai mươi phút sau đó, chúng tôi tiến thẳng vào mặt Đông Bắc của đảo Vella Lavelle. Chiếc Shigure rơi về phía sau, chứng tỏ nó không đủ sức chạy mãi với tốc lực 30 hải lý. Sĩ quan hoa tiêu là Trung úy Toshiro Tsukihara báo cáo với tôi: “Thưa Đại tá, chúng ta ở mãi tuốt đằng sau chiếc Kawakaze đến 1000m, Làm thế nào gia tăng tốc độ để giữ khoảng cách 500m?”

    “Không,” tôi lớn tiếng, “như thế này được rồi. Thật là điên khùng để giữ khoảng cách 500m. Đừng bắt máy chạy nhanh hơn nữa.”

    Căn cứ Kolombangara hiện ra thấp thoáng ở mạn phải chiếc Shigure, với ngọn núi cao ngút bao phủ toàn mây đen. Ở mạn trái, tôi không nhìn thấy gì cả ngoài một màu đen kịt mà từ đó địch quân có thể xuất đầu lộ diện bất cứ lúc nào. Tôi cảm thấy hơi nao núng.

    Tôi lớn tiếng ra lệnh: :”Sẵn sàng chiến đấu. Tất cả trọng pháo và ngư lôi nhắm về mạn trái, đặt súng ở tầm 3.000m, ngư lôi ở tầm sâu 2m, giác độ 20. Tăng cường gấp đôi các vị trí quan sát.”

    Mười phút năng nề trôi qua, tôi vẫn nhìn chăm chú về mạn trái xem coi có dấu hiệu hoặc chuyển động nào của địch quân hay không. Tầm nhìn của tôi không xa hơn 2.000m. Sự căng thẳng trên tàu chợt bị xé tan khi tiếng nói từ phòng kiểm soát vang lên qua ống liên lạc nội bộ. Đó là tiếng nói của Đại úy Doi hỏi tôi xem tất cả những ống phóng ngư lôi có phải di chuyển hết từ mạn phải sang mạn trái theo lệnh hay không?

    Tôi la lên: “Không”.

    Và tiếp đó tôi giải thích rõ hơn: “Không di chuyển Doi, ở mạn phải nhìn rất rõ, chúng ta có thể nhìn thấy cả những lớp san hô của đảo Vella Lavella. Nhưng ở mạn trái, chúng ta không thể nào nhìn xa quá 2.000m, chúng ta không biết địch quân ở đâu mà mò. Hãy cứ giữ vị trí các ngư lôi như cũ và riêng hướng tả mạn, sẵn sàng phóng bất cứ lúc nào.”

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •