Trang 3 của 13 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 127
  1. #21
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    PHẦN HAI
    Từ Trân Châu Cảng đến Guadalcanal


    I
    Ngày 9 tháng 11 năm 1941 là một ngày mà tôi không thể nào quên được. Ngày đó, có khoảng 200 tàu chiến của Hạm Đội Hổn Hợp Nhựt qui tụ về Vịnh Hiroshima. Toàn thể Hạm Đội Hổn Hợp tập trung vào một nơi như thế được xem là hiện tượng bất thường.

    Tôi là Hạm Trưởng của khu trục hạm Amatsukaze (Thiên Phong) một trong bốn chiếc tàu cùng loại vừa được chỉ định gia nhập vào Hải đội 6, Phân đội 2 khu trục hạm Đệ Nhị Hạm Đội.

    Hôm đó, một sáng mùa thu êm đềm, các tàu chiến buông neo bất động trên mặt Vịnh. Mặt nước trong suốt như gương, phản chiếu dãy núi xanh rì ở chân trời xa xa. Lũ hải âu bay lượn quanh quẩn trên các chiếc tàu. Mọi vật đều êm ả và bình lặng.

    Lúc 9 giờ sáng, một hồi còi hiệu rút lên từ soái hạm Nagato, khiến muôn mắt hướng về phía nó. Tín hiệu bằng cờ cho biết: “ Tất cả chiến hạm W.Y.Z.”. Ám hiệu nầy là một ám hiệu bất thường, có nghĩa: “ Tất cả sĩ quan chủ huy đến trình diện soái hạm.”. Hoạt động nhộn nhịp trên mỗi chiếc tàu xảy ra. Vài phút sau đó, trên một chiếc ca nô, tôi đến trình diện Nagato. Trên sân tàu rộng lớn của soái hạm, hàng trăm sĩ quan đã đứng đầy, già trẻ lẩn lộn.

    Giữa những người hiện diện, tôi nhận thấy các thượng cấp của tôi: Đề Đốc Raizo Tanaka, Tư Lịnh phân đội 2 khu trục hạm, và phó Đô Đốc Nobutake Kondo, Tư Lịnh Đệ Nhứt Hạm Đội. Mọi người đều có dáng vẻ nghiêm trọng. Mặc dù trong tiết thu mát mẻ, không khi vẫn như ngột ngạt oi bức.

    Lúc 9 giờ 30, ba tiếng chuông reo vang, tất cả thủy thủ đều biến dạng, chỉ còn các Hạm Trưởng có cấp bậc Trung Tá trở lên. Sự bất thường nầy cũng khiến cho sự căng thẳng gia tăng.

    Trung tá Hajime Yamaguchi, một trong những tùy viên của tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp, đứng gần một cái bực cao, nói lớn:

    “ Xin quí vị lưu ý! Tổng Tư Lịnh đến.”

    Tất cả chúng tôi đều đứng thẳng và im phăng phắc khi Đô Đốc Isoroku Yamamoto bước lên sàn tàu. Khi ông tiến đến cái bực, trong khung cảnh lặng yên, tiếng bước chân của ông vang lên rất rõ. Đô đốc Yamamoto chào đáp lễ chúng tôi và bắt đầu lên tiếng:

    “ Tôi rất hân hoan gặp gỡ tất cả quí vị ở đây. Hạm đội hổn hợp của chúng ta đã hoàn tất mọi chuẩn bị để sẵn sàng lâm chiến. Trong thời gian chờ đợi, chúng ta sẽ tiếp tục trui rèn trên căn bản đó.

    “ Tình hình gần đây cho thấy có thể bắt buộc Nhật Bản phải ra tay chống lại Anh, Mỹ, Úc và Hòa Lan, hơn là để cho cuộc phong tỏa kinh tế của họ bóp nghẹt chúng ta.”

    Sự khủng hoảng đã đến mức độ trầm trọng hơn bao giờ hết trong lịch sử của chúng ta, điều nầy đã nhìn thấy rõ ràng. Một khi quốc gia quyết định lâm chiến chống lại Đồng Minh, bổn phận của chúng ta, Hạm Đội Hổn Hợp, là bảo vệ quốc gia và đánh bại kẻ thù. Nhiệm vụ nầy có thể đạt được thành quả, nếu mỗi cá nhân trong quí vị dốc hết nổ lực của mình.”

    Yamamoto nó thật vắn tắt, và qua một giọng thật trầm, nhưng chẳng khác nào tiếng sấm động. Mọi sĩ quan choáng váng. Tôi cảm thấy như bị chôn chân.

    Khi ngừng nói, Đô Đốc Yamamoto nghiến chặt hai hàm răng lại và nhìn quanh, như có tìm đôi mắt của từng người một. Ông có vẻ hòa dịu hơn khi ông chậm rãi rời khỏi bục.

    Phó Đô Đốc Matome Ugaki, Tham Mưu Trưởng của Yamamoto lên tiếng kế đó. Ông đưa ra một phân tách về tình hình, các hậu quả do việc phong tỏa tàu bè đi lại của Đồng Minh. Nhật Bản đang lâm vào cảnh thiếu hụt dầu hỏa, quặng sắt, cao su, kẻm, nikel và đất thiết phàn, vì gặp phải khủng hoảng về vấn đề cung cấp. Ông cho biết, theo quả quyết của Bộ Tư Lịnh Tối Cao, Nhựt sẽ sụp đổ trong vòng một hoặc hai năm nữa nếu tình thế hiện tại vẫn tiếp tục. Ông nói rằng Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã tiến đến quyết định cuối cùng là đưa ra một chiến lược trả đủa, nhằm chống lại sự bóp nghẹt của Đồng Minh.

    “ Có thể cuộc hội họp của tất cả các sĩ quan thuộc Hạm Đội Hổn Hợp nầy…” tới đây Ugaki hơi ngần ngừ, và sau đó tiếp “… là cuộc họp cuối cùng trong khung cảnh như thế nầy…”

    “Kể từ bây giờ chúng ta sẽ đảm nhiệm một công việc khó khăn nhứt. Đây không phải là sự cố gắng tập tành thông thường, mà là sự nghỉ ngơi thích hợp cho binh sĩ của các ông, và các ông phải luôn luôn theo dõi công việc nầy. Không được để tiêu hao một người nào vì làm việc quá mức. Mỗi người chúng ta phải sẵn sàng… luôn luôn sẵn sàng, ngay cả đối với cái chết nữa.”

  2. #22
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Một nỗi yên lặng bao trùm lấp khi Ugaki dứt lời. Trung tá Yamaguchi tuyên bố buổi họp chấm dứt, và Đô Đốc Yamamoto bắt đầu cuộc họp riêng với Bộ Tham Mưu của ông.
    Tôi vẫn đứng bất động, những câu nói cảu Yamamoto và Ugaki vẫn còn âm vang trong tai tôi. Tôi phải chờ ca nô mang tôi trở lại chiếc Amatsukaze. Thình lình tôi như lâm vào trạng thái hôn mê và dần dần bước hướng về khoảng giữa của chiếc soái hạm. Tôi nhứt quyết đến gặp riêng Ugaki.

    Khi tôi đang bước, một vị đô đốc xuất hiện và tôi đưa tay chào như máy. Đó là ông bạn tốt của tôi. Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo, Tư Lịnh Đệ Nhứt Không Hạm Đội. Ông chào đáp lể và cười khi gọi tên tôi. Chúng tôi trao đổi một vài câu. Khi ông bước đi, đôi vai rộng của ông như nghiêng về phía trước, trạng thái nầy khiến tôi nghĩ ra nụ cười của ông vừa rồi là một nụ cười gượng gạo. Tôi kinh ngạc. Nagumo từ trước đến nay là một người vồn vã, gặp bạn cũ là ông nhảy xô với những cử chỉ, lời nói thật thân thiết và ồn ào.

    Trạng thái kì lạ của ông Phó Đô Đốc hăng hái nầy đã khiến tôi hoang mang khi bước xuống cầu thang hẹp, tiến về phía phòng của Phó Đô Đốc Ugaki.

    Tôi gõ của và bước vào sau tiếng nói rổn rang cho phép của Ugaki

    Tôi hỏi thẳng:

    “Thưa đô đốc, Đô Đốc có thể dành cho tôi một vài phút không?”

    “Được Hara,” ông đáp. “Hãy ngồi đi.”

    Tôi ngần ngừ, và sau một giây yên lặng, tôi tiếp “Thưa đô đốc, hành vi của tôi có thể khiến Đô Đốc cho là tôi quá vô lễ, nhưng khi đến gặp đô đốc, tôi đã đắn đo cân nhắc. Tôi hi vọng Đô Đốc sẽ hiểu biết cho tôi.
    Tôi cũng hi vọng đô đốc không xem tôi như là một kẻ chống đối hoặc nhút nhát trước… những mạng lịnh cương quyết đã được ban ra…”

    “Tôi hiểu anh, Hara. Đừng rào đón nữa. Hãy nói thẳng những gì anh muốn nói. Có phải anh muốn thảo luận với tôi về cuộc chiến sắp được hải quân Nhựt phát động chống lại Đồng Minh không?”

    “Dạ đúng, thưa Đô Đốc. Tôi chỉ là một chuyên viên khu trục hạm, kiến thức hạn hẹp, và chắc chắn tôi không đủ tư cách thảo luận một quyết định đã được thượng cấp đưa ra. Xin đô đốc tha thứ những lời thẳng thắn của tôi, nhưng thực sự tôi hoàn toàn bi quan trước tình thế sắp xảy ra. Chúng ta có thể tránh né cuộc chiến toàn diện bằng cách chọn một lối khác hơn là tấn công vào Phi Luật Tân? Và nếu nói là vì nguồn tài nguyên mà chúng ta bắt buộc phải chọn hành động tấn công, chúng ta nhắm cả vào Hòa Lan có thích đáng hay không?”

    Ugaki cười gượng gạo, giống như Nagumo. Sau đó ông hắn giọng nói: “tôi nói anh nghe Hara. Ý kiến của anh được chia xẻ bởi một số sĩ quan cấp cao khác, nhưng tất cả đều bị gạt ra ngoài. Quyết định đã được đưa ra. Một việc mà tôi cần nhấn mạnh: chúng ta tạo ra quyết định chỉ để chuẩn bị đối phó với tình thế tệ nhứt mà thôi. Như anh biết, đô đốc Kichisaburo Nomura, đại sứ của chúng ta ở Hoa Thịnh Đốn đang cố gắng mở các cuộc đàm phán để dàn xếp lần cuối cùng. Nhà ngoại giao chuyên nghiệp Saburo Kurusu cũng sẽ sang Hoa Kỳ giữ nhiệm vụ cố vấn đặc biệt cho Nomura, và cả hai sẽ nổ lực gấp đội trong cuộc đàm phán nầy. Chúng ta không gây chiến tranh, nhưng nếu không còn cách nào để chọn, chúng ta phải đánh, và phải đánh nhanh và mạnh. Đó là giải pháp cuối cùng mà Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã chọn.”

    Tôi ngồi bất động, biết rằng không còn gì để thảo luận vấn đề nầy thêm nữa. Tôi kiếu từ, và Ugaki nói: “Anh hãy cẩn trọng. Anh là sĩ quan khu trục hạm tài ba nhứt của hải quân. Chúng tôi sẽ tùy thuộc vào anh. Mong gặp lại anh, Hara.”

  3. #23
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Cuộc gặp gỡ đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa tôi và Ugaki. Ông sống sót khi 2 oanh tạc cơ hai máy Betty chở Yamamoto và Bộ Tham Mưu bị một số chiến đấu cơ P38 của Hoa Kỳ tấn công vào tháng 4 năm 1943. Cuộc tấn công xảy ra gần Bougainville, ở Solomon. Cả hai oanh tạc cơ đều bị bắn rơi, và Yamamoto thiệt mạng. Nhưng Ugaki sống sót cho đến gần ngày cuối cùng của cuộc chiến và tử trận khi hướng dẫn các oanh tạc cơ tự sát tấn công Okinawa (có thể Hara đã nhầm, Đô Đốc Ugaki đã dẫn đầu một nhóm các phi công không chấp nhận lệnh đầu hàng và tất cả đều hướng ra biển trên máy bay của mình và không ai có thể biết đoàn phi cơ nầy đã bay đi đâu….). Đó là cuộc tấn công Kamikaze cuối cùng trong cuộc chiến Thái Bình Dương.

    Cho đến hiện tại, tôi vẫn không hiểu có phải Ugaki nằm trong nhóm người chống đối phương thức tấn công Trân Châu Cảng hay không. Tuy nhiên, tôi luôn luôn có cảm giác ông và Nagumo chống đối. Yamamoto đã chứng tỏ sự cương quyết qua việc lựa chọn phương thức nầy, nhưng bên trong ông có vẻ như chống đối khi xét đoán: “ Hải quân chỉ đủ sức chiến đấu hai năm.”. Yamamoto cũng từng ngõ ý mong muốn các nhà ngoại giao Nhựt sẽ tìm kiếm một nền hòa bình danh dự trước khi thảm kịch xảy ra.
    Sau khi hội kiến Ugaki, tôi trở lại sân tàu, vẫn trong trạng thái bàng hoàng. Các sĩ quan trẻ con đứng quanh quẩn bên nhau, và tôi nghe một Thiếu tá lên giọng khoác lác: “Những người khu trục hạm chúng ta phải đi tiên phong và đánh cho địch quân manh giáp không còn. Có thể cả cuộc chiến sẽ dựa vào sự chiến đấu của chúng ta.”

    Tôi gục gặc đầu và tự nhũ: “Hắn nói vậy mà đúng” Tôi trở về Amatsukaze, vào phòng riêng và quơ lấy cuốn sách Tôn Tử binh pháp trên giá sách. Đây là quyển sách chứa đựng triết lý và chiến lược của Trung Hoa thời cổ, được xem là Thánh Kinh của các nhà quân sự Đông phương hơn 2500 năm nay.

    “Nghệ thuật lãnh đạo cuộc chiến là một vấn đề sống còn của quốc gia, một con đường đưa đến sự hủy diệt hay tồn tại. Vì thế, nghệ thuật nầy đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách tỉ mỉ mọi khía cạnh của nó.”

    Chương thứ ba của quyển sách đã kết luận:

    “Khi chiến tranh phát khởi, điều quan trọng duy nhứt đối với ta là phải bảo toàn quốc gia hơn là đánh bại một quốc gia khác. Bảo vệ đơn vị của mình quan trọng hơn là khắc phục đơn vị của địch quân. Một chỉ huy trăm trận trăm thắng chưa hẳn là một vị chỉ huy giỏi. Một vị chỉ huy vĩ đại thật sự là một vị chỉ huy chiến thắng địch quân mà không cần phải dụng binh.

    “Anh không cần phải kinh sợ dầu phải có đánh hàng trăm trận, nếu anh tri bỉ, tri kỷ. Nếu anh biết rõ mình mà không biết rõ địch quân, thì có ngày anh phải trả giá mọi chiến công mà anh gặt hái được. Nếu anh không biết mình và cũng không biết người chắc chắn anh sẽ đánh đâu thua đó.”

    Các lời khuyên nầy cũng chẳng làm tôi vơi bớt nỗi phiền muộn. Tôi cho rằng quyển sách có vẻ triết lý thái quá và quăng sang một bên. “Cái túi khôn” nầy chỉ có thể thích hợp cho một vị vua hoặc một vị Tổng tư lịnh, nhưng vô bổ được một sĩ quan cấp bậc nhỏ nhoi như tôi. Niềm bi quan trong tôi vẫn không ngớt.

    Trong khi theo dõi các biến cố đang xảy ra, tôi càng thêm thất vọng, xem như cuộc chiến đã được các nhà lãnh đạo quân sự quyết định rồi. Cuộc họp lịch sử trên soái hạm Nagato trùng hợp với sự từ chức của Thủ tướng Konoye và toàn thể Nội Các của ông. Người kế nhiệm ông là tướng Hideki Tojo. Tôi hiểu rằng sự thay đổi ngay vào thời gian đầy khủng hoảng nầy là một điềm xấu báo trước.

    Trãi qua nhiều ngày, tôi dò dẫm tìm đường lối chuẩn bị bản thân sẵn sàng đón nhận cuộc chiến toàn diện. Sau binh thơ Tôn Tử, tôi tìm hiểu đọc nhiều binh pháp của Hải Quân Hoàng Gia, nhưng cũng chẳng có quyển nào soi đường cho tôi. Tôi tự hỏi: “Tôi đã biết năng lực của địch và năng lực của chính tôi chưa?”.

  4. #24
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    Tôi được cho là một sĩ quan khu trục hạm tài ba nhứt. Tôi luôn luôn chiến thắng trong các buổi diễn tập “kẻ thù” luôn luôn bị “dứt điểm” với những trái thủy lôi chính xác của tôi. Thông thường, tôi chỉ cần sử dụng phân nữa trong tổng số tám trái thủy lôi trang bị đầu phóng là mục tiêu đã được thanh toán. Điều nầy đã chứng tỏ năng lực của tôi, nhưng còn năng lực của kẻ thù?

    Tôi chỉ hiểu mù mờ. Nếu các giới hạn qui định của hội nghị giải trang Luân Đôn vẫn còn hiệu lực, việc nầy đáng nghi ngờ sau khi Nhật Bản xé bỏ thỏa hiệp năm 1934, tính ra nếu lực lượng hải quân của Hoa Kỳ và Anh Quốc phối hợp thì cứ 10 của họ chống lại 3 hoặc 3.5 của Nhật Bản. Như vậy có nghĩa là tôi phải đánh chìm ít nhứt 4 tàu chiến của địch mới mong duy trì một lần sống sót. Nếu mỗi sĩ quan Hạm Trưởng Hải Quân Hoàng Gia Nhựt đều làm được như thế, chúng tôi có thể ngang ngửa với địch quân. Nhưng đây chỉ là ảo tưởng. Như Phó Đô Đốc Nagumo từng nói với tôi nhiều lần rằng tiềm năng kỹ nghệ đáng sợ của Hoa Kỳ là một yếu tố bất lợi không thể đo lường đối với Nhật Bản. Tất cả những vấn đề nầy khiến tôi đắm chìm vào sự u ám và bi quan.

    Nỗi dằn vặt kéo dài thêm nhiều ngày nữa cho đến cuối cùng tôi mới trở lại thân phận thực sự của tôi: tôi là một quân nhân, không phải một sĩ quan cao cấp, điều nầy có ý nghĩa dứt khoát rằng nhiệm vụ của tôi phải chuẩn bị chiến đấu để bảo toàn binh sỹ và giữ gìn khu trục hạm của tôi. Tôi không thể cho phép tôi chui đầu vào guồng chỉ rối của cuộc chiến sắp xảy ra, mà phải sẵn sàng chiến đấu với tất cả năng lực trong vài trò giới hạn của tôi.

    Có vẻ lạ lùng khi tôi nói rằng vào lúc ấy, năm 1941, chính quyển tự truyện cổ “Go Rin Sho” của Masashi Miyamoto viết cách đây 3 thế kỷ là quyển sách đã soi sáng mọi thắc mắc và phục hồi sự trầm tĩnh của tôi. Nội dung quyển sách chứa đựng lời tự thuật của một kiếm khách phi thường, đã chiến thắng 66 trận quyết đấu, và sau đó trở thành nhà văn kiêm triết gia vĩ đại nhứt của Nhật Bản.

    So với binh thơ Tôn Tử, quyển tự truyện của Miyamoto hoàn toàn khó hiểu. Nếu dịch nguyên văn quyển sách nầy, chắc đọc giả Tây Phương cũng khó mà lãnh hội nổi. Miyamoto sanh năm 1584 và sống trong một thời đại đầy loạn lạc. Vào thời đó một kiếm sĩ mới xuất thân muốn gây tên tuổi hẳn phải thách đấu những kiếm sĩ đã từng nổi danh khác so tài. Cuộc so tài nầy không phải là một môn thể thao đơn giản, mà cả hai tay kiếm đều đấu với nhau chí mạng. Kiếm của họ thường làm bằng thép hoặc gỗ. Đối với một cao thủ về kiếm thuật, thanh kiếm gỗ trong tay họ hữu hiệu không khác mấy so với kiếm thép.

    Chiến thắng 66 lần liên tiếp của Miyamoto, một kỉ lục chưa từng thấy, được ông kể lại tỉ mỉ trong quyển tự truyện nầy. Ông đã đánh bại các đối thủ qua yếu quyết : “Xoay sở tùy theo tình thế, không để bị trói buộc vào bất kì công thức hoặc nguyên tắc nào.”Bí quyết này chỉ có những cao thủ thượng thừa mới dám áp dụng trong các cuộc so tài thí thân, vì chỉ sơ sẩy một đường tơ là có thể mất mạng ngay.

    Quyển truyện nầy đã thức tỉnh tôi, nó đã giải đáp tất cả những gì mà tôi đang dò dẫm. Xoay sở tùy theo tình thế có thể giúp tôi vượt qua sức mạnh ưu việt của Đồng Minh. Hiện tại, tôi có thể tin rằng tôi đã tạo được những thành tích rực rỡ và tồn tại sau cuộc chiến Thái Bình Dương, là do tôi đã áp dụng bí quyết của Miyamoto.

  5. #25
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    2
    Cuộc hành quân “Giai đoạn I” được ban lịnh vào ngày 7 tháng 11 năm 1941.

    Hạm Đội Hổn Hợp nhanh chóng phân tán trong vòng trật tự. Khu trục hạm của tôi, với ba chiếc khác thuộc hải đội 6 lặng lẽ tiến vào quân cảng hải quân Kure. Nhưng tôi không biết các thành phần chính thuộc Đệ Nhất và Đệ Nhị Hạm Đội chạy về hướng Bắc, tụ họp ở Hitokappu Wan (Vịnh Tanaka) ở Kurite. Các thành phần nầy họp thành một lực lượng Đặc Nhiệm Nhật Bản (Lực Lượng Đặc Nhiệm có nghĩa là một lực lượng hải quân bao gồm chiến hạm mọi loại, hàng không mẫu hạm và thủy binh hoặc Thủy Quân Lục Chiến), một lực lượng vĩ đại nhứt chưa từng thấy bao giờ.

    Các chiếc tàu của chúng tôi phải trãi qua một cuộc kiểm soát cẩn thận ở Kure. Những gì lặt vặt không cần thiết và những thủy thủ bịnh hoạn đều được lịnh mang lên bờ. Số thủy thủ khiếm khuyết nầy lập tức được thay thế. Chỉ có những sĩ quan chỉ huy mới biết rõ cuộc hành quân đang phát triển, riêng thủy thủ đoàn chỉ biết họ sẽ thực hiện một hải xuất huấn luyện ở Nam Thái Bình Dương.

    Bộ Tư Lịnh Tối Cao bãi bỏ mọi đặc ân, đình chỉ tất cả phép tắc. Tôi đã được nghỉ phép lần cuối cùng hồi tháng 9, và tôi đã đáp chuyến xe lửa tốc hành 16 tiếng đồng hồ từ Kure về gia đình tôi ở Kamakura, một thành phố bờ biển gần Yokosuka. Nhưng chuyến đi dài dằng dặc đầy mệt mỏi đã được đền bù. Hai đứa con gái của tôi nhảy nhót chào đón ngày tôi về, hớn hở bên hai chị là Mikito, đứa con trai hai tuổi vừa biết nói của tôi. Tôi chỉ lưu lại nhà một ngày tròn. Đám con trẻ đã buồn bả khi tôi ra đi, chính tôi cũng buồn bã không kém gì chúng. Tôi ghì ghặt từng đứa một và nó: “Ba của các con sẽ sớm trở về”. Hy vọng gặp lại con trước khi “hành quân” đã không còn may mắn nào nữa.

    Cuộc Hành Quân “Giai đoạn II” được ban lịnh vào ngày 21 tháng 11 năm 194.

    Ngày kế đó, toàn thể Lực Lượng Đặc Nhiệm của Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo đã tập trung đầy đủ trong Vịnh dầy đặc sương mù Ekorofu ở quần đảo Kurile. Vào ngày 23 tháng 11, tám khu trục hạm của hai Hải đội 16 và 24 âm thầm thoát ra khỏi cảng Kure và hướng mũi về eo biển Terashima. Bốn ngày liên tiếp, các giàn phóng thủy lôi và mọi loại vũ khí khác trên tàu chúng tôi đều trong tư thế sẵn sàng. Các bác sỹ bận rộn săn sóc, khám sức khỏe và chích thuốc cho thủy thủ đoàn.

    Hai Hải đội của chúng tôi lại di chuyển khỏi eo biển Terashima và trực chỉ ra Thái Bình Dương vào lúc 6 giờ chiều ngày 26 tháng 11. Cùng thời gian nầy Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo cũng rời khỏi Vịnh Tankan và nhắm hướng Hạ Uy Di. Điểm đến của chúng tôi là Palau, một trong các hòn đảo Nam Hải thuộc quyền của Nhật Bản. Tất cả các sĩ quan chỉ huy đều được thông báo cho biết việc thành lập một Lực Lượng Đặc Nhiệm nhỏ ở Palau để tấn công đảo Mindano thuộc Phi Luật Tân, cùng lúc với cuộc tấn công Trân Châu Cảng.

    Trên hải trình 2.000 dậm khởi từ Terashima, các công điện chuyển đi bằng vô tuyến của chúng tôi đều bị đình chỉ, kể cả Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo, nhưng các nhận viên nhận tin vẫn tiếp tục hoạt động. Khi các chiếc tàu của chúng tôi rời khỏi hải phận của Nhật Bản, chúng tôi nghe được một tin tức loan đi trên đài phát thanh: “Báo chí cho biết ngày 26 tháng 11, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Cordell Hull đã trao một công hàm cho hai vị Đại Sứ Nhật Kichisaburo Nomura và Saburo Kurusu. Theo sự hiểu biết, hình như Hoa Kỳ quyết định duy trì các cuộc hòa đàm.”
    Vào ngày 28 tháng 11, chúng tôi nhận được một công điện từ Bộ Chỉ Huy địa phương chuyển đi: “Hai tiềm thủy đỉnh không rõ quốc tịch, nhưng có thể là của Hoa Kỳ, được ghi nhận di chuyển về hướng Bắc, thuộc hải phận phía Đông Đài Loan.”

  6. #26
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Cuộc “Hành quân giai đoạn II” đã giao quyền cho các sĩ quan chỉ huy đưa ra các hành động đối nghịch chỉ khi nào xét ra tối cần thiết. Qua máy liên lạc nội bộ trên tàu, tôi truyền lịnh cho các sĩ quan phụ trách máy Sonar (dụng cụ khám phá tiềm thủy đỉnh): “Lưu ý! Lưu ý! Theo báo các các tàu ngầm địch có thể đang hoạt động gần đây.”

    Tiếng đáp lại thật điềm tỉnh của một tay nghề nghiệp: “Tất cả sona đều thích hợp. Nếu phát hiện điều gì sẽ thông báo ngay.”

    Ngày 1 tháng 12, truyền tin của chúng tôi bắt được công điện nầy: “ Sáu chiến hạm thuộc lực lượng Hải Quân Anh, bao gồm thiết giáp hạm “Prince of Wales” hiện đang trên đường sang Viễn Đông.”

    Tất cả không khí căng thẳng đều chấm dứt khi hòn đảo Palau xanh rì nhô ra chân trời. Cùng ngày, lúc 1 giờ trưa, chúng tôi chạy vô hải cảng của hòn đảo nầy. Chỉ trong vòng năm ngày, khí hậu mùa Đông đã chuyển sang khí hậu mùa Xuân đối với chúng tôi. Bóng dừa rợp mát trên bãi biển là nơi trú ẩn đầy yên tỉnh và thoải mái. Nhưng tôi không hưởng cảnh nầy được lâu. Không khí ở hải cảng Palau căng thẳng. Nhiều tàu lớn chạy vào buông neo, trong số đó có cả những chiếc tàu chuyển vận. Các cuộc tập dượt của thủy thủ trên những chiếc tàu nầy vẫn tiếp tục. Bóng dáng của cuộc chiến tranh đã xuất hiện trong tầm tay.

    Đứng trên đài chỉ huy, ý nghĩ đầu tiên của tôi là đặt các điểm canh gác trên bờ, tuy nhiên sau đó tôi nhận thấy việc làm nầy vô ích, và tôi ra lịnh thả lỏng thủy thủ đoàn. Mọi người cũng được nhận chỉ thị tắm rửa sạch sẽ, lần đầu tiên chúng tôi có dịp tắm rửa kể từ ngày rời khỏi Kure một tuần trước đây. Lợi dụng dịp nầy, tôi cũng mang một số sĩ quan của tôi đi xem địa hình địa vật của hải cảng, và luôn tiện đi lang thang cho dản gân dản cốt. Chúng tôi cũng dùng xuống nhỏ ngao du đây đó, cả ngày lẫn đêm.

    Buổi chiều ngày hôm sau, 2 tháng 12, chúng tôi nhận được một công điện “lịch sử” từ Tổng hành dinh Hạm Đội Hổn Hợp: “Niitaka Yama Nobore I.208”.

    Câu tiếng Nhựt nầy có nghĩa đen: “Leo lên núi Nitaka (ngọn núi cao nhứt ở Đài Loan) I208”. Tôi đọc ngấu nghiến công điện nầy và cảm thấy hồi họp nhu lúc sắp dỡ xem các tài liệu đóng dấu tối mật. Nghĩa bóng của câu nầy: “ Cuộc chiến chống Đồng Minh sẽ được phát động vào ngày 8 tháng 12.”

    Ngay sau đó, tất cả các Hạm Trưởng được lịnh của Đề Đốc Raizo Tanaka, tập họp quanh ông để lãnh các chỉ thị tấn công Davao. Trong lời nói vắn tắt, Tanaka, thường lập đi lập lại câu: “Các anh phải nhớ rằng cuộc hòa đàm vẫn còn tiếp tục ở Hoa Thịnh Đốn. Chúng ta phải chuẩn bị để nhận một công điện đình chỉ toàn thể cuộc hành quân không biết gởi đến vào lúc nào, nếu cuộc hòa đàm đạt được kết quả. Sau đó, chúng ta chỉ còn một việc để làm: quay tàu trở về Nhật Bản.”

    Tôi lên tiếng: “ Thưa Đề Đốc, ở đây, Palau chỉ cách phía Đông căn cứ then chốt Davao của Hoa Kỳ 500 dậm, và chỉ cách Đông Nam căn cứ hải quân quan trọng khác của họ là Guam 700 dậm. Với khoảng cách khá gần như vậy, một số tàu chiến của chúng ta tụ họp ở đây, thì thế nào Hoa Kỳ cũng phái các tiềm thủy đỉnh của họ theo dõi chúng ta. Chúng ta hành động như thế nào, nếu chúng ta chạm mặt với các tàu ngầm nầy.?”

    Tanaka đáp: “Chúng ta buộc phải đánh, đánh chìm, cho dù giai đoạn II của cuộc Hành Quân chỉ cho phép chúng ta đưa ra các hành động thù nghịch khi nào gặp trường hợp tối cần thiết.”

  7. #27
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Cuộc họp chấm dứt, các Hạm Trưởng lặng lẽ trở về tàu của họ. Nhưng không khí lặng lẽ nầy khó mà duy trì được trong tình trạng hiện tại. Sự hiểu biết về năng lực chiến đấu của Đồng Minh khiến tôi vẫn bi quan, và tôi cũng nhận thấy kế hoạch được đưa ra hình như có vẻ gì không thật.

    Tôi chờ đợi, có thể làm mong mõi, cuộc hành quân nầy cuối cùng sẽ được lịnh chấm dứt. Một câu trong binh thơ Tôn Tử lảng vảng trong trí tôi: “Một vị chỉ huy vỉ đại thật sự là vị chỉ huy chiến thắng địch quân mà không phải dụng binh.”. Tôi không ngờ rằng Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhật đã xem công hàm ngoại trưởng Hull trao ngày 1 tháng 12 có tánh cách như tối hậu thơ đòi hỏi Nhật đầu hàng trước khi chiến đấu, và vì vậy Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã quyết định khai chiến với Hoa Kỳ.”

    Suốt 3 ngày, từ 3 đến 5 tháng 12, chúng tôi tập dượt ráo riết trong vòng hải cảng, và cuối cùng các chiến hạm đều được xem xét lại tỉ mỉ, tất cả những gì không cần thiết được mang lên bờ.
    Lúc 1 giờ 30 khuya 6 tháng 12, sáu khu trục hạm của chúng tôi và một tuần dương hạm rời khỏi hải cảng rộng lớn Palau. Chúng tôi được giao phó nhiệm vụ “tẩy sạch” tiềm thủy đỉnh của địch quân để dọn đường cho một hàng không mẫu hạm và hai tuần dương hạm hạng nặng đến Mindanao. Nhiều chuyển vận hạm vẫn nằm chở trong hải cảng Palau để tham dự vào các thành phần tấn công khác nhằm vào Phi Luật Tân và quần đảo East Indie (một nhóm đảo nhỏ ở Thái Bình Dương) thuộc Hòa Lan.

    Với đội hình hàng dọc, chúng tôi rời khỏi hải cảng Palau, hướng về phái Tây một đỗi và sau đó đổi sang đội hình “cài răng lược” lướt ngang mặt biển với các máy dò tìm tàu lặn. Không có dấu vết đáng lưu ý, cho đến 4h chiều ngày đầu tiên, sĩ quan sonar mới báo động:

    “Hình như có một tiềm thủy đỉnh ở 60 độ hữu mạn, cách 2500 thước.”

    Tôi cho chiếc tàu hướng đến mục tiêu và ra lịnh: “Chuẩn bị phóng chất nổ ngầm!” Đồng thời, chiếc tàu của tôi rít một hòi còi dài và các cây cờ ám hiệu ABX (có nghĩa là “chúng tôi tấn công với chất nổ ngầm”, được kéo lên, để lưu ý các chiến hạm bạn biết hoạt động của chúng tôi.
    Sĩ quan sonar lại báo cáo: “Mười độ tả mạn, cách 2000 thước. Âm thanh bắt được chắc chắn là của tiềm thủy đỉnh”.

    Tôi điều chỉnh hướng tiến của Amatsukaze, và gia tăng tốc độ lên 12 hải lý. Nhìn quanh, tôi thấy tất cả các thuộc cấp đều sẵn sàng và họ chỉ chờ chỉ thị của tôi là hành động. Sĩ quan sonar tiếp tục báo cáo các giác độ và khoảng cách khi chúng tôi dần đến mục tiêu. Tôi bị căng thẳng và nổi hứng thú của một tên thợ săn bò sát lại con mồi. Khi chiếc tàu tiến đến khoảng cách vừa vặn để tấn công, tôi biết giây phút quyết định đã đến. Tôi la to: “Gia tăng tốc độ 21 hải lý”. Chất nổ ngầm chỉ có thể được thả sau khi một chiếc khu trục hạm gia tăng tốc độ, vì nếu không làm như vậy thì chính chất nổ được thả xuống sẽ hủy diệt chiếc tàu. Nhưng ngay giây phút cuối cùng để ban lịnh “dứt điểm”, miệng tôi bỗng nhiên cứng lại. Thay vào đó, tôi la to: “Đình chỉ thả chất nổ! Đình chỉ thả chất nổ!”.

  8. #28
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Đó là một trong những quyết định quan trọng nhứt mà tôi đã đưa trong suốt cuộc chiến. Hành động của tôi vào lúc đó chắc khó ai hiểu được, và người ta sẽ nghĩ là tôi đã cải lịnh trên.

    Quyết định của tôi căn cứ trên những lý lẽ sau đây: Không 0 giờ (tức giờ tấn công) được đặt ra vào ngày 8 tháng 12, nghĩa là còn 2 ngày nữa. Chiếc tàu ngầm chưa tỏ dấu hiệu nào gọi là thù địch. Ngay cả khi nhận được báo cáo khám phá tàu ngầm, tư tưởng của tôi đã xung đột dữ dội. Tôi xem hòa bình là trọng, vì vậy ý nghĩ đầu tiên thoáng qua đầu tôi, là với hành động hiện tại của tôi có thể khiến cơ hội tiến đến hòa bình đổ vỡ. Hơn nữa, thái độ của tôi lúc đó là sự cân nhắc có tánh cách chiến thuật. Tấn công mục tiêu ngầm không phải đạt được kết quả dễ dàng, đặt biệt khi mục tiêu đã có sự đề phòng trước. Nếu mục tiêu thoát khỏi cuộc tấn công, kết quả sẽ hoàn toàn trái ngược. Nói một cách khác, nếu chiếc tàu ngầm không bị hủy diệt, nó sẽ thông báo về bản doanh và mọi tàu chiến của Hoa Kỳ sẽ được báo động để tung ra một cuộc phản công. Khi một người đã có sự lưỡng lự trước một quyết định như thế, như tôi đã từng rút kinh nghiệm qua các buổi diễn tập, chắc chắn người đó sẽ không bao giờ bắn trúng mục tiêu. Vì vậy, tôi đã ra lịnh đình chỉ ngay cuộc tấn công.

    Lúc ấy từ tuần dương hạm Jintsu 5950 tấn, Đề Đốc Raizo Tanaka đang theo dõi tôi. Ông không hề hỏi tôi về hành vi kỳ dị của tôi ngày hôm đó. Có lẽ ông đã hiểu và chia xẻ cảm nghĩ của tôi.
    Sau khi chấm dứt cuộc săn đuổi chiếc tàu ngầm, khu trục hạm của tôi quay về nhập bọn với các chiến hạm khác. Lúc đó hàng không mẫu hạm Ryuji, với hai tuần dương hạm hạng nặng và hai khu trục hạm, rời khỏi Palau đến kết hợp với chúng tôi. Lực Lượng Đặc Nhiệm gồm 12 chiến hạm bây giờ di chuyển theo đội hình hàng dọc, với tốc độ 18 hải lý trực chỉ về phía Tây. Chúng tôi đã sớm ra ngoài đại dương bao la, đất liền đã biến mất khỏi tầm mắt và ngoài chúng tôi không còn bóng dáng chiếc tàu nào khác nữa. Từng đoàn cá heo hết lượt nầy đến lượt khác đuổi theo tàu chúng tôi, nhưng ngoài các sinh vật nầy, trước mắt chúng tôi chỉ có trời và nước.

    Tôi ra lịnh tập hợp thủy thủ đoàn trên sàn tàu và cho họ biết nơi đến và nhiệm vụ của họ. Tất cả đều không có một phản ứng nào khi nghe tin nầy khiến tôi kinh ngạc. Hiển nhiên là họ đã đoán biết chuyến đi sau khi được huấn luyện đặc biệt.

    Sĩ quan và thủy thủ trở lại phận sự của họ. Tôi ngồi trên đài chỉ huy chăm chú nhìn Davao và ngoại cảnh của nó trên bản đồ. Chiếc tàu lặng trang và đại dương im lìm. Đêm tối dần và tất cả đều yên bình. Đoàn tàu lướt đi âm thầm, đèn đuốc đều được lịnh tắt hết.

    “Thưa Hạm Trưởng, có một công điện…”

    Tôi xoay người sang một thủy thủ chạy việc. Thủy thủ Takeo Murata 18 tuổi, phục vụ trên tàu chỉ một tháng nay. Anh ta là một trong những người đã thay thế các thủy thủ đau yếu. Murata chào tôi và đứng nghiêm.

  9. #29
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    5
    Tôi nói: “Cám ơn Murata” và mở mảnh giấy anh ta vừa trao. Tôi cảm thấy phấn chấn khi nghĩ mảnh giấy nầy sẽ chứa đựng phản lịnh của cuộc hành quân đang diễn tiến. Nhưng đó chỉ là một tin tức tình báo.

    “Một tàu chở thủy phi cơ cùng một lớp với loại tàu Bristol và một khu trục hạm Hoa Kỳ bỏ neo ở hải cảng Davao lúc 6 giờ chiều ngày 6 tháng 12.”

    Tôi thở dài và tiếp tục nhìn đại dương đen thẩm.

    “Thưa Hạm Trưởng, một công điện…” Murata lại xuất hiện, mồ hôi nhỏ giọt trên khuôn mặt non chẹt của anh ta. Anh ta phải chạy từ phòng truyền tin lên đây. Một gã được việc! Tôi bổng nghe buồn bã, không ngờ gã con nít nầy lại đang chia sẽ vận mạng của cuộc chiến với những người đáng cha anh.

    Nội dung công điện: “Không có tàu nào của địch quân được phát hiện ở Legaspi lúc 7 giờ tối ngày 6 tháng 12.” Hia công điện kế tiếp là mẫu tin báo chí: “Hai vị Đại Sứ Nomura và Kurusu đã trao cho Ngoại Trưởng Hull và Tổng Thống Roosevelt một đề nghị được xem là cuối cùng…” và Phát Ngôn Viên của Bộ Ngoại Giao Nhựt hôm nay cho biết tàu chở hành khách Tatsuta Maru, đã rời Yokohama tuần rồi để đến Los Angeles, vừa được chỉ thị ghé thăm viếng Mễ Tây Cơ. Hiện tại tàu này đã sắp xếp ngày đến Los Angeles là ngày 14 tháng 2, và sẽ rời khỏi nơi đây vào ngày 16 tháng 2 để đến Manzanillo vào ngày 19…”

    Chắc chắn không có chứng cớ nào cho thấy cuộc chiến đang chuyển động qua các diễn biến vừa nới. Nhưng có ai ngờ rằng chiếc tàu Tatsuta Maru sẽ được lịnh quay về Nhật Bản 30 tiếng đồng hồ sau đó?

    Ngày hôm sau, 7 tháng 12, vẫn là một ngày yên tĩnh như thường lệ. Chỉ có mạch máu của tôi là bị căng thẳng do các công điện như loại đã nhận được vào đêm trước. Đêm thứ hai trên đại dương, kim đồng hồ của tôi chỉ đúng nửa đêm, và ngày ló dạng, nhưng không có một lịnh phản hành quân nào được gởi đến. Chúng tôi vẫn còn cách xa tuyến xuất phát cuộc tấn công, cách phía Đông mũi San Augustin 50 dậm và phía Đông Davao 100 dậm.

    Tôi bổng nghe mệt mõi sau hai ngày và hai đêm ngồi trên đài chỉ huy, nên sau khi giao quyền chỉ huy cho Đại úy Toshio Kayama, hoa tiêu trưởng trẻ tuổi nhưng đầy đủ khả năng của tôi, tôi đã thiếp ngủ trên ghế ngồi. Những hạt nước giá lạnh đã đánh thức tôi dậy khi đoàn tàu của chúng tôi chạy vào vùng mưa bảo mù mịt trên đại dương đen thẩm. Lúc ấy là 3 giờ 30 sáng của ngày D, tức ngày 8 tháng 12 năm 1941. Ngủ thiếp trong giờ khắc quan trọng thế này quả là ngu ngốc biết bao! Tôi tự rủa thầm và gọi phòng truyền tin mang lên cho tôi các công điện mới. Không có công điện nào hết. Cơn mưa bão lướt qua, và cơn buồn ngủ của tôi lại kéo đến. Tôi lấy làm tức giận, vì như thế làm sao tôi còn đủ sáng suốt để theo dõi cuộc chiến trên đà bùng nổ.

    Vào bình minh, khoảng 5 giờ sáng, hai mươi oanh tạc cơ hạng nhẹ và chiến đấu cơ cất cánh từ hàng không mẫu hạm Ryujo. Bây giờ chúng tôi đã ở ngay tuyến xuất phát cuộc tấn công, nghĩa là cách phía Đông mũi San Augustin 50 dậm và phía Đông Davao 100 dậm. Hình ảnh của các phi cơ Nhật đã khiến tôi tỉnh táo và phấn khởi. Bao nhiêu cảm giác thiếu nồng nhiệt của tôi đối với cuộc chiến sắp xảy ra, bây giờ, đứng trên đài chỉ huy của khu trục hạm Amatsukaze, tôi thấy đã tan biến, và tôi cương quyết dứt khoát thi hành các mạng lịnh được đưa ra.

  10. #30
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    40
    Sau khi các phi cơ của Ryujo xuất phát, các khu trục hạm Hayashio, Kuroshio và Oyashio rời bỏ đội hình di chuyển cũ, gia tăng tốc độ lên 30 hải lý, chạy hướng về phía trước để tham dự một cuộc tấn công phối hợp nhằm vào các lực lượng Hoa Kỳ ở Luzon. Tám chiếc còn lại, một chiếc rẽ về phía Đông, một chiếc rẽ về phía Tây, cách 1500 thước, và giữ đội hình bất thường nầy để chờ đợi các phi cơ của hàng không mẫu hạm Ryujo trở về.

    Ryujo là hàng không mẫu hạm duy nhứt sử dụng trong cuộc hành quân Phi Luật Tân. Nguyên trước đó tàu nầy được dự định phối hợp với 2 hàng không mẫu hạm biến cải khác vào cuộc tấn công Luzon, nhưng vì khả năng chở phi cơ của chúng quá giới hạn, thành thử cuối cùng có quyết định sử dụng phi cơ ở phi trường Formosa cho cuộc tấn công nầy. Do đó, Ryujo đến Palau và hai hàng không mẫu hạm kém khả năng hơn quay về trở về Nhật.

    Ánh nắng mặt trời lúc ẩn lúc hiện trên đại dương. Gió đứng hẳn. Chúng tôi ướt đẩm mồ hôi sau bốn tiếng rưởi đồng hồ chạy tới chạy lui trên biển. Mười chính chiếc phi cơ trở về hàng không mẫu hạm Ryujo lúc 9 giờ 30. Chiếc thứ 20, một oanh tạc cơ, bị trục trặc máy móc và đâm chúi xuống biển. Sau đó, chúng tôi nghe tin phi hành đoàn của chiếc phi cơ nầy đã được khu trục hạm Kuroshio cứu thoát.

    Cuộc tấn công Davao của lực lượng đặc nhiệm hoàn toàn thất bại. Phi cơ và khu trục của chúng tôi đã chui đầu vào cái túi rỗng. Hai tàu chiến của Hoa Kỳ, bỏ neo tại hải cảng theo báo cáo, đã biến mất trước khi lực lượng của chúng tôi đến. Chỉ có hai thủy phi cơ của Hoa Kỳ bỏ lại trên bãi biển và bị máy bay của chúng tôi xạ kích hủy diệt. Sau đó, máy bay của chúng tôi quần trên không phận Davao hơn hai tiếng đồng hồ, nhưng không gặp một phi cơ của Hoa Kỳ nào cất cánh từ phi trường này hoặc bất kì phi trường khác để nghinh chiến. Đó là một cuộc hành quân kì quái nhất.

    Thái độ của lực lượng Hoa Kỳ ở Davao ngày hôm đó vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Dù thái độ của lực lượng Hoa Kỳ như thế nào, ít ra họ cũng phải báo cáo cho Tổng Hành Dinh của họ biết về cuộc tấn công mạnh mẻ của chúng tôi. Nhưng Tổng hành dinh của Hoa Kỳ ở Manila đã tọa thủ bàng quang, và ngay cả cuộc tấn công phi trường Clark ròng rã suốt bốn tiếng đồng hồ của các phi cơ Nhật xuất phát từ Formosa, tiếp liền sau cuộc tấn công Davao của chúng tôi, họ cũng chẳng cho bất kì một máy bay nào của họ cất cánh để chống trả lại.

    Sự thiếu chuẩn bị của Không Lực Hoa Kỳ ở phi trường Clark vẫn còn nằm trong vòng bí mật. Như Louis Morton viết trong cuốn The Fall of Philippines (Phi Luật Tân thất thủ): “ Tất cả các lực lượng Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân đều biết cuộc tấn công Trân Châu Cảng nhiều tiếng đồng hồ trước đó khi các oanh tạc cơ Nhật xuất hiện trên không phận Luzon. Cuộc tấn công Davao là dấu hiệu cho thấy Nhật quyết ý đập tan các hải đảo có căn cứ không quân quan trọng của Hoa Kỳ tọa lạc, và cuộc tấn công Luzon ngay buổi sáng cùng ngày cho thấy rõ quyết ý nầy của Nhật.

    Theo lời của Đại Tá Campbell, phi trường Clark đã nhận được tin phi cơ Nhật sẽ đến trước khi xảy ra cuộc tấn công. Đại tá Euband lại nói rằng việc biết trước nầy không hề có. Một số sĩ quan khác lại cho biết các hệ thống liên lạc đều gián đoạn trong suốt thời gian nguy cấp nầy. Qua những chi tiết trái ngược do các nhân chứng cung cấp, vấn đề trên vẫn còn nằm trong vùng tăm tối…”.

    Tám năm sau biến cố, tướng Arnold đã viết rằng: “ ông chưa bao giờ nhận được câu chuyện thật ở Phi Luật Tân. Nhưng các kết quả của cuộc tấn công ai ai cũng đồng ý: 18 trong tổng số 35 chiếc B17, oanh tạc cơ chiến đấu tối tân của Hoa Kỳ vào thời đó bị hủy diệt, 35 chiếc P40, 3 chiếc P35, khoảng 30 phi cơ quan sát mọi loại và nhiều oanh tạc cơ hạng nhẹ cũng bị thiệt mất.” Như vậy, “sau một ngày của cuộc chiến” Morton viết, “với năng lực bị cắt hết phân nữa, Không Lực Viễn Đông của Hoa Kỳ không còn được xem là một lực lượng chiến đấu hữu hiệu nữa.”. Thiệt hại của Nhật Bản: 7 chiến đấu cơ.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •