Trang 1 của 3 123 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 28
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0

    Trận Hattin 1187- Chiến công vĩ đại của Saladin

    Trận Hattin 1187- Chiến công vĩ đại của Saladin

    Xuất bản : Osprey Military

    Tác giả : David Nicolle

    Dịch : Đàm Hà Khánh



    MỞ ĐẦU

    Tình trạng các thành bang La tin




    Vào năm 1180 , các lãnh thổ được thành lập từ Cuộc Thập Tự Chinh thứ nhất đã không còn là các "Vương quốc thập tự" nữa bởi con cháu của thế hệ thập tự chinh đầu tiên đã không còn có gắng mở rộng lãnh thổ thay vào đó họ đang cố chiến đấu để tồn tại và bảo vệ Miền Đất Thánh khỏi các cuộc chinh phục của Đạo Hồi. Quyền lãnh đạo cũng dần dần chuyển giao cho những người có khuynh hướng cùng chung sống với các sắc dân Hồi Giáo xung quanh.

    Vương quốc Jerusalem vẫn là thành bang quan trọng nhất trong số các thanh bang La tin ở Syria và Palestin. Mặc dầu một số địa hạt tại Edessa (Urfa) đã rơi vào tay người Hồi , công quốc Antioch thì chịu ảnh hưởng của Byzantine và ngay cả tiểu quốc Tripoli cũng chống lại quyền lực của Jerusalem. Vào đầu những năm 1180, Vương quốc Jerusalem có dân số từ 400.000 đến 500.000 người, không quá 120.000 là người La tinh (người Ki tô Châu Âu nguyên thủy) ,phần còn lại bao gồm cư dân Ki tô bản địa, người Hồi , người Do Thái và người Samaritan. Cán cân quyền lực giữa các lãnh chúa và người thống trị Jerusalem vào đầu thế kỷ 12 không thật sự rõ ràng nhưng có vẻ Vua Chúa và tầng lớp Phong kiến dưới quyền đang mất dần ảnh hưởng vào tay giới lãnh chúa địa phương. Mặt khác các thủ lãnh quân sự khác (Các hiệp sĩ thánh chiến Templar và Hospitaller) đang mở rộng quyền lực bằng cách xây dựng thêm nhiều pháo đài, những nơi giúp họ đồn trú hiệu quả .

    Việc phòng thủ Vương quốc Jerusalem về lý thuyết là trách nhiệm của tất cả người Châu Âu Thiên Chúa giáo ,nhưng trên thực tế các Tiểu quốc La tin chỉ biết tự lực cánh sinh từ sau thất bại của cuộc Thập tự chinh thứ 2 vào năm 1148. Những gì các nhà lãnh đạo cần lúc này là các chiến binh chuyên nghiệp và nguồn hỗ trợ về tài chính, chứ không phải các đoàn quân Thánh chiến ô hợp ,những người sẽ gây nhiều rắc rối khi họ trở về nhà. Trong bối cảnh Byzantin thì bị thất bại thảm hại dưới tay người Thổ Seluk trong trận Myriokephaalon năm 1176 và cuộc thảm sát người La tin ở Costantinople diễn ra 8 năm sau đó, nghĩa là sự trợ giúp từ phía Đế quốc Byzantine chỉ là ảo ảnh. Bản thân Jerusalem cũng đối mặt với nhiều vấn đề nội tại bên trong vương quốc. Một vài cộng đồng người Armenia đến định cư ở Palestin, những người Thiên chúa giáo Maronite (nhánh thiên chúa giáo tại Syrie) vốn thiện chiến thì sống tại vùng núi, cách xa trung tâm quyền lực ,còn phần đông người Thiên Chúa giáo Syriac-Jacobite thì vẫn tồn tại sự nghi kị đối với người La tin. Việc người La tin chấp nhận thói quen trang phục và các sống của người bản địa chỉ ở bề nổi còn hố sâu văn hóa giữa người La tin và người bản địa vẫn không thể hàn lấp và tồn tại mãi về sau. Mối quan hệ giữa các thành bang La tin và các láng giềng Hồi giáo chìm đắm trong thù địch , hòa bình sẽ là bất khả thi vì các bên đều bám víu vào hệ tư tưởng của mình và không bên nào chấp nhận đối phương. Quan điểm này dựa trên thắng lợi dễ dàng của cuộc Thập tự Chinh thứ nhất ,cho rằng ưu thế quân sự của các Thành bang La tin cực kì vững chắc. Điều này nâng cao sĩ khí của họ nhưng cũng sớm mang lại những thảm họa quân sự. Cho đến khi những hồ nghi chợt ập đến và nữa sau thế kỉ 12 chứng kiến việc xây dựng rất nhiều pháo đài để phòng thủ.

    Biên giới phía đông của Vương quốc jerusalem bao gồm những khu vực riêng biệt. Ở phía bắc (thung lũng Litani) là những pháo đài ấn tượng. Khu vực trung tâm từ núi Hermon (Jabal al Shaykh) dọc theo cao nguyên Golan đến thung lũng Yarmuk được phân chia với những người thống trị Damacus. Người Hồi giáo cho rằng khu vực này trải dài đến tận khu đồi Balga xung quanh Amma, nhưng trong thực tế người La tin đã chiếm lĩnh được khu vực đồng bằng phì nhiêu giữa con sông Yarmuk và khu đồi Ajlun. Về phía nam là khu vực Oultrejordain ( bờ đông sông Jordan-Transjordan ) nằm giữa sông Jordan, biển Chết, sa mạc Araba và về phía tây là con đường chiến lược nối liền Amma đến Aqabah. Nắm giữ Oultrejordain , những người La tin đánh thuế vào nhưng thương nhân từ Syria đến Ai cập, thậm chí cả những người hành hương hay du hành từ phía nam đến Mecca và Medina. Sau đó vào đầu những năm 1170 khi Saladin tái chiếm khu vực phía nam Montreal (Shawbak) , thật sự đã gây ra tác động tâm lý mạnh mẽ "Giải phóng tuyến hành hương" ít nhất là từ phía Ai cập, không còn phải đóng khoảng thuế nhục nhã cho bọn ngoại giáo.





    Hình Ác quỷ chạm khắc trên đầu cột nhà thờ Lễ truyền tin tại Nazareth , phản ánh sự hình dung của người La tin về kẻ thù Hồi giáo của họ- với khiên bằng da, không có giáp cá nhân ,nhấn mạnh cung tên. (ảnh tại bảo tàng London)

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    Việc tăng cường tấn công liên tục của Saladin cho phép mở rộng lãnh thổ của Hồi giáo đến sát các thành bang La tin. Chỉ duy nhất xa về phía Bắc là còn lại vài đồng minh thân cận của người La tin, đó là lãnh thổ người Thiên Chúa Cilician Armenia. Có thêm một thay đổi quan trọng nữa của đạo Hồi tại Trung Đông . Khái niêm thánh chiến -Jihad- chiến tranh chống lại ngoại giáo của Đạo Hồi vốn bị lãng quên một thời gian dài nay dc làm sống lại vào đầu thế kỷ 12 bởi các học giả Sunni. Thánh chiến trở thành những chiến dịch có tổ chức để chiếm lại Miền đất thánh, cũng giống như các chiến binh Thập tự đã từng đi chinh phục trước đây. Việc này dẫu sao cũng không cùng hình thức vì Đạo Hồi có truyền thống ép buộc quân thù phải cải đạo dưới lưỡi gươm. Tuy nhiên thế kỷ 12 chứng kiến các thái độ cực đoan hơn nhiều, đặc biệt không khoan nhượng đối với các dân theo Thiên chúa bản địa. Phong trào này của người Sunni phát động cũng nhắm cả vào người Shi'a thiểu số.

    Việc đánh mất Jerusalem vào tay quân Thập tự cũng gia tăng tầm quan trọng của thành phố này đối với người Hồi giáo , dâng tràn sau khi áng văng chương fada'il ca ngợi Thành phố thánh ra đời. Trách nhiệm của những lãnh tụ cũng dc vạch rõ trong các cuốn sách " Tấm gương cho các Hoàng tử" mà nội tiếng nhất trong số đó là cuốn sách dc viết vởi các học giả Syria sống gần đất thánh khoảng 1 năm sau cái chết của Saladin. Điều này trở thành chi tiết quan trọng trong Thánh chiến Jihad và dù thánh chiến quan trọng nhất vẫn là chống lại quỷ dữ trong trái tim của mỗi người nhưng việc chiến tranh chống lại các kẻ vô thần giờ đây đã trở thành ưu tiên thứ 2 của Jihad. Thật sự thì những người sống trong các thành phố ở Syria, đặc biệt tại Aleppo ở phía bắc, vốn có truyền thống khoa học về công cụ công thành , vào thế kỷ 12 đã xây dựng nhiều pháo đài của người Hồi giáo Syria. Trong lúc đó người Ả rập Bedouin xung quanh sa mạc vẫn duy trì sức mạnh vốn có tuy nhiên quyền lãnh đạo dần rơi vào tay những người Thổ mới đến, giờ đây cũng chỉ muốn dc yên thân. Người Ai cập về cơ bản vẫn đang chống chọi lại tầng lớp thống trị họ. Việc Ả rập hóa đất nước này bắt đầu diễn ra từ thời vương triều Fatimid ,những người thống trị Ai cập từ năm 969 , và người Bedouin Ả rập ở Ai cập càng phát triển hơn sau khi Saladin thiết lập kiểm soát Ai cập vào năm 1171.

    Mối tương tác giữa đạo Hồi với Châu Âu, đúng hơn là với các thành bang La tin tại Syria cũng thay đổi. Sức mạnh hải quân Hồi giáo tại Địa trung Hải tụt dốc thảm hại trong khi các quốc gia cộng hòa của thương nhân người Italia như Pisa, Genoa và Venice thống trị các tuyến hàng hải. Saladin , người thống trị cuối của Ai cập thời trung cổ muốn có ý định phục hồi sức mạnh của hải quân , một ý định hoàn toàn phá sản. Kẻ chiếm lĩnh Ai cập chỉ có thể chống lại các cuộc cướp bóc của quân Thập tự hoặc cướp biển mà thôi .


  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Saladin thiết lập thống trị phần lớn Trung Đông sau hàng thập kỷ chiến tranh và ngoại giao. Từ cội nguồn sức mạnh của mình tại Ai cập, ông ta và người thân , dòng họ Ayyubids ,đã chinh phục Yemen (1173), Damacus (1174) và Aleppo (1183). Vào năm 1186 Saladin cũng chiếm dc Jania (đông Syria , đông nam Thổ nhĩ Kỳ và phía bắc I rắc), một khu vực giàu có sẽ cung cấp nhiều nhân lực cho chiến tranh. Các lãnh chúa La tin có thể tự tin nhưng họ cũng nhìn sự phát triển của Saladin với ánh mắt báo động, và họ cũng gởi các phái bộ về Châu Âu để tìm thêm nguồn hỗ trợ. Vua Henry II của Anh là người có mối liên hệ lâu dài dù sự giúp đỡ của ông ta thiên về tài chính hơn là quân sự. Một khoản thuế mới dc bổ sung tại Jerusalem và Henry ,như muốn chuộc một phần lỗi lầm trong việc sát hại Becker ,đã hứa cung cấp 200 hiệp sĩ trong vòng một năm đến jerusalem. Năm năm sau đó ông ta gửi 1 rương tiền đến Jerusalem và vào 1185 lời hứa còn tăng hơn nữa. Thật sự tổng số các quà tặng này có thể lên tới 30.000 tiền đồng, một khoản tiền khổng lồ thời đó, và điều này sẽ đóng góp vai trò cốt yếu trong chiến dịch Hattin sắp tới.

    Các thành bang La tin tiến hành thống kê dân số để xác định lại nhân lực chiến tranh thật sự của họ, trong khi các khoản thuế tăng lên và các pháo đài dc gia cường. Tầm quan trọng chiến lược của vùng Oultrejordan cũng dc xác định vì giờ đây Saladin đã thống trị Ai cập và Syria. Lúc này Reynald xứ Chatillon , người dc phục vụ bởi những nhóm du mục rất có hiệu quả lên kế hoạch lên kế hoạch phá vỡ vòng vây của người Hồi giáo xung quanh các thành bang La tin, và có lẽ thậm chí muốn vươn ra tận Ấn độ dương vì bị ảo tưởng bởi sự giàu có của tuyến đường thương mại này. Khoảng năm 1181-1182, Reynald cướp phá Hijaz , và sự hỗ trợ mà ông ta nhận dc từ các bộ lạc địa phương khiến Saladin lo lắng. Cuộc viễn chinh ngoạn mục của ông ta vào Biển Đỏ bằng hải quân tuy có kết cục bất hạnh nhưng cũng làm chấn động thế giới Hồi Giáo và càng khắc họa hình ảnh của Saladin như là kẻ bảo vệ Miền đất Thánh ở Mecca và Medina. Vị Sultan phản công ngay lập tức, và thêm lần nữa vào năm 1183. Đáp lại, người Thiên Chúa tăng cường quân đội, nhưng chọn thế thủ khi từ chối đụng độ Saladin trong một chiến trường chọn trước. Chiến thuật này tỏ ra hiệu quả và người Hồi phải rút quân. Tuy nhiên các đợt tấn công gây tổn thất lớn và nhiều người đổ lỗi cho bá tước Raynold, người đề xuất chiến thuật bị động này vì đã lỡ một cơ hội để tiêu diệt Saladin.

    Mỏ sắt cũng quan trọng như nguồn nước và từ vùng Jabal Ajlun đến Oultrejordan có rất nhiều mỏ như vậy. Những ngọn đồi này đã thuộc quyền kiểm soát của Saladin từ năm 1184 và vị Sultan cử Izz al Din Usamah , thống đốc trước đây của vùng núi giàu khoáng sản tại Beirut đến để xây một pháo đài mới nhằm kiểm soát Ajlun. Dù Hồi Giáo đang lấn chiếm Vương quốc Jerusalem, Salading phải đối mặt với nhiều vấn đề tại phía đông. Một đợt hạn hán lớn xảy ra tại Palestine mang lại thời gian đình chiến 4 năm cho cả 2 phe. Điều này không phải là hòa bình ở tất cả các mặt trận. Vào năm 1185 Vương công xứ Antioch cướp phá vùng đất láng giềng Cilician trong khi tại phía đông nam Anatolia một trận đánh đẫm máu khiến Alexius bị bắt giữ tại các tiểu bang Latin khi ông ta đang trên đường về nhà. Tình trạng căng thẳng tương tự cũng xảy ra ở phía đông của Saladin. Vào năm 1180 vị Caliph mới Al Nasir giành dc ngai vàng tại Baghdad có gắng khôi phục quá khứ huy hoàng của vương triều Abbasid, tham vọng của ông ta lập tức va chạm với những kế hoạch của Saladin ở phía bắc I rắc và mối quan hệ giữa hai thủ lãnh Hồi giáo bị đóng băng.





    Thành Rabath bên ngoài Ajlun dc xây bởi Saladin, bố trí trên mặt bằng hình vuông, các tháp canh ở 4 góc dc thêm vào vào thế kỷ 13. Hình dc chụp bởi không lực Đức vào năm 1918 (Royal Jordanian Geographical Centre)

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Tại Jerusalem vị vua bị bệnh hủi , Baldwin IV, chết vào năm 1185 và vào tháng tám 1186 đứa con thừa kế của ông ta là Baldwin V cũng chết theo đẩy vương quốc vào sự khủng khoảng trầm trọng. Vị quan nhiếp chính, Bá tước Raymond xứ Tripoli bị trục xuất sau một sự kiện táo bạo của một nhóm các Cận thần, những người theo đuổi một chính sách cứng rắn đối với đạo Hồi. Họ đưa Sibylla, chị của Baldwin IV lên ngôi hoàng hậu và như vậy chồng của bà ta, một quý tộc Pháp tên là Guy de Lusignan đã trở thành vị tân vương. Những tháng sau đó rất nhiều quý tộc không đồng ý với hành động trên và bản thân bá tước Raymond cũng tỏ ý bất phục đối với Guy de Lusignan . Ông ta trở về Tiberius , thủ phủ của thái ấp của mình ở vùng Galilee mà ông ta nhận dc từ bên phía vợ của ông ta là Eschiva . Dĩ nhiên là Saladin chú ý theo dõi sự khủng hoảng kể trên. Ông ta cho thả một số hiệp sĩ của Raymond bị bắt làm tù binh thậm chí cho quân của mình hộ tống Raymond đi Tiberius. Trong lúc đó, có vẻ như Vua Guy muốn tấn công Raymond. Sau đó đến lượt hoàng tử Raymond III xứ Antilock cũng từ chối thừa nhận vua Guy ,dù ông ta muốn làm việc đó sau khi gây chiến với Saladin.



    Hình chạm khắc vốn không phổ biến trong thế giới Hồi giáo tuy nhiên cũng xuất hiện trong một số tiểu quốc của Saladin. Ngoài cùng bên trái là tượng người mang chim ưng đi săn tạc trên lối vào đền Qala'at al Rabadh, có lẽ là Izz al Din Usamah một thủ lãnh dưới quyền Saladin. Bên cạnh là mô típ trang trí lối vào ở thành Qala'at al Jindi tại Sinai. Thành này dc xây dựng hoàn tất trong thời gian diễn ra trận Hattin. Các mô típ tương tự cũng dc tìm thấy ở thành Fatimid Bab al Nasr tại Cairo , dc xây đúng một thế kỷ trước đó.

    Bên dưới là hình chiến binh tạc đá tại Sinjar phía tây bắc I rắc , hình thành vào khoảng thế kỷ 12 có mô tả vũ khí của các chiến binh tinh nhuệ Mamluk
    (Bảo tàng quốc gia I rắc, Baghdad)


    CHÂN DUNG CÁC ĐỐI THỦ

    Các chỉ huy của quân Hồi Giáo


    Saladin được cả Châu Âu công nhận rộng rãi là một người có đức tính mẫu mực và là một anh hùng. Gần đây có một số ý kiến trái ngược miêu tả ông ta như là một người đầy tham vọng, tàn nhẫn và là một nhà chính trị mưu mẹo và không phải là một chỉ huy thiên tài như vốn có. Thường thì sự thật vốn lẫn lộn nhiều thái cực song tất cả đều công nhận Saladin là con người vĩ đại nhất trong thế kỷ 12 tại vùng Trung cận đông. Tổ tiên của Saladin, vương triều Ayyubid vốn có gốc là người Kurd, phục vụ dưới quyền Nur al Din ,một người Thổ cai trị Syria và phía bắc I rắc. Bản thân Saladin cũng dc nuôi dưỡng và giáo dục về quân sự trong triều đình Thổ trong vương triều Ả rập ở Syria, dù ông ta khởi đầu sự nghiệp tại Ai cập. Là người cai trị ông ta luông lắng nghe những lời khuyên, đặc biệt về những vấn đề chính trị và vận dụng vào bộ máy quân sự của mình. Các sử gia Hồi giáo tương đại luôn lý tưỡng hóa Saladin, khắc họa nhân cách của ông như là một người có lòng vị tha, mộ đạo, yêu công lý ,khoan dung và là một chiến binh dũng cảm. Họ có thể cường điệu quá mức không không thể nghi ngờ rằng Saladin gây nên một ấn tượng sâu sắc đối với những người xung quanh ông ta. Thậm chí ngay cả kẻ thù Ki tố giáo cũng tin tưởng vào danh dự của Saladin.

    Đối nghịch với những hình ảnh lãng mạn truyền thống thì Saladin hoàn toàn không phải là thủ lãnh "ngây thơ" trong chiến tranh. Ông ta từng là sĩ quan tham mưu dưới trướng Nur al Din và đã trực tiếp tham dự vài trận đánh trước khi trở thành người thống trị Ai cập vào năm 1169. Saladin không giữ chức vụ này về danh nghĩa đến năm 1171 thậm chí Ai cập về lý thuyết vẫn là một phần trong vương quốc của Nur al Din đến sau khi ông ta chết năm 1173. Là thủ lãnh quân sự , Saladin luôn có ý thích mạo hiểm và ông ta có sự thấu hiểu sâu sắc đối với các chiến lược rộng lớn. Bên cạnh đó ông ta cũng mắc phải vài sai lầm, ví dụ như ông ta đã để cho người La tin quây về cố thủ tại Tyre (Sur) sau khi đã đại thắng ở trận Hattin.



    1/ Saladin. Vị Sulatan đội nón trụ màu vàng bên dưới áo choàng trắng. Ông ta mặc áo giáp nỉ theo kiểu kazaghand .Thanh gươm của ông ta hiện dc lưu giữ tại bảo tàng quân sự Istabul.

    2/Kị binh Tawashi : một trong những loại lính tinh nhuệ nhất trong các trận sáp chiến. Họ được vũ trang nặng không kém gì các hiệp sĩ thập tự.

    3/ Lính vệ binh Ayyubid : phục trang theo kiểu Ba tư và Thổ ,không có giáp cá nhân.

    (minh họa Angus McBride)




    Đây là một phần của cổng Bab al Tillism tại Baghdad đã bị phá hủy trong một vụ nổ vào năm 1917. Nó khắc họa chân dung vị thũ lãnh trong trang phục Thổ , bím tóc dài , áo thắt ngang lưng với khăn trùm đầu , 2 tay giữ 2 con rồng (ảnh Photograph via the Staatliche Museen zu Berlin)

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    Dù vậy Saladin vẫn hiện thân của sự quý phái , bi kịch và là một anh hùng ngoại giáo trong các câu chuyện kể ở phương Tây. Danh tiếng của ông ta lớn đến nỗi ngay cả người La tin cũng không chấp nhận hình ảnh của ông như là một người Saccaren tầm thường. Một vài truyền thuyết cho rằng Saladin là cháu trai của một công nương người Pháp bị ép lấy một dũng sĩ người Thổ tên là Malakin. Ông ta được kể là " ...sống rất thọ và yêu thương vợ mình " . Họ không có con, ngoại trừ người con gái dc gọi là Người đẹp bị giam cầm, người đã sinh ra một người Thổ quý phái , niềm kiêu hãnh , sự thông thái, và một lãnh chúa chinh phục.

    Saladin đặt rất nhiều kì vọng vào người cháu trai, Taqi al Din ,người được các sử gia Hồi giáo đương đại mô tả là rất sùng đạo. Điều này có thể là sự thật song đa số đều công nhận ông ta có tính can đảm , thích tự mình cầm quân đánh trận. Taqi al Din đã chứng tỏ dc năng lực của mình rất lâu trước trận Hattin, bằng chiến công ở trận Hama (chống lại quân Hồi giáo Aleppo và Mosul) vào năm 1175. Giờ thì Saladin luôn tin tưỡng giao cho ông ta những nhiệm vụ khó khăn nhất, thương là phụ trách cánh quân phía phải, trong chiến thuật truyền thống ở vùng Trung Đông, là cánh tấn công chủ lực trong khi cánh trái đóng vai trò phòng thủ.

    Là một chỉ huy quân sự nổi bật, Taqi al Din cũng rất hăng hái và cố chấp. Tham vọng chính trị của ông ta muốn vươn ra ngoài vùng trung tâm Syria, tỉnh Hama ,nơi ông ta trấn giữ từ năm 1187. Saladin luôn thấu hiểu sự thèm khát mãnh liệt của Taqi al Din muốn giành quyền tự chủ , có lẽ ông ta quá hiểu tính cách vốn có của giòng họ mình , nhưng bản thân Saladin vẫn giữ quyền thống trị Ai cập khi đi viễn chinh. Taqi al Din muốn thống trị một tiểu quốc ở Bắc phi, tuy nhiên Saladin lo ngại điều đó sẽ làm mất đi quá nhiều binh lính tinh nhuệ. Bị từ chối chức vụ thống trị Ai Cập ,Taqi al Din nổi loạn với Saladin và công khai gây hấn với con trai của Saladin là Al Afdal. Đến lúc ấy Saladin phải hòa giải với người cháu hiếu chiến, cấp thêm vùng đồi núi biên giới xung quanh Mayyafariqin ở Anatolia vào thái ấp của Taqi al Din ở Hama. Tại đây kẻ chiến binh trẻ tuổi kia có cơ hội mở rộng thêm lãnh thổ mà không va chạm với các họ hàng của mình . Dù vậy Taqi al Din vẫn hầu như rời bỏ Saladin suốt cuộc chiến tranh ở lần Thập tự chinh thứ 3 , rồi chết bất thình ***h 17 tháng trước cái chết của Saladin.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    0
    Muzaffar al Din Gokbori là một amir - vị tướng khác của Saladin. Giống như các amir khác , ông ta cũng sở hữu một vùng đất phong rộng lớn và dựa và nguồn thu ở đó để trả cho lính của mình . Gbkbori , còn gọi là " Sói xanh Thổ Nhĩ Kì " , là con trai của lãnh chúa vùng Irbil. Cha ông ta từng là về tôi trung tín dưới trướng Zangi vĩ đại, người đã chinh phục Edessa vào năm 1144 ,bước đầu tiên đẩy lùi được quân Thập tự. Bản thân Gokbori cũng phục vụ con trai của Zangi là Nur al Din, và trở thành lãnh chúa vùng Harran vốn là tỉnh Edessa của người La tin. Vào năm 1175 ông ta dẫn quân ở mạn phải chống lại Saladin trong trận Hama nhưng sau cái chết của Nur al Din triều đại Zang cũng sụp đổ theo và một Anh hùng Hồi giáo mới đã xuất hiện- Saladin. Sự quy thuận của Gokbori góp phần chủ chốt trong thắng lợi của Saladin. Và nó cũng là một bước cờ nguy hiểm vì nếu Saladin thất bại, bản thân Gokboti sẽ mất tất cả. Khi Saladin đánh bại nhà Zangi và sát nhập tỉnh lị Edessa (Urfa) thì Gokbori cũng dc thưởng vùng Samat. Ông ta cũng gả một người em gái của mình là Al Sitt Rabia Khatun cho Sói xanh thổ nhĩ kì.

    Kĩ năng quân sự của Gokbori được thừa nhận rộng rãi. Sử gia Al Isfahani mô tả ông ta như là " một người gan dạ, một anh hùng trên nhiều phương diện, con sư tử luôn tiến về phía trước, một thủ lãnh mạnh mẽ và kiên định" . Ông ta được xem là tiểu vương nổi bất nhất từ sau trận Hattin và dù đất phong ban đầu của ông ta là nhận dc từ Taqi al Din, ông ta được thưởng thêm vùng đất cũ của cha mình xung quanh Irbil. Ông ta cai trị nó đến khi mất vào tuổi 81. Tại Syria, Gokbori dc nhớ đến như là một chiến binh vĩ đại, nhưng tại Irbi ,nay là vùng đất của người Kurd phía Bắc I rắc ông ta dc xem như là người bảo trợ cho các học giả như là sử gia Ibn Khallikan. Ông ta cho xây trường học, bệnh viện, nhà tế bần, nhà nghỉ cho các lữ hành và lái buôn. Ông ta cũng là lãnh chúa đầu tiên bảo trợ cho lễ hội Mawlid al Nabi (ngày sinh của tiên tri Muhammad) ,có lẽ là bắc chước theo lễ của công đồng Ki tô giáo sống tại Irbil. Năm năm sau cái chết của ông ta, người Mông Cổ xuất hiện phá hủy toàn bộ thành quả của Gokbori , chỉ còn lưu lại vài dấu vết trong các viên gạch trang trí tại nhà thờ Hồi giáo ở Irbil.

    Ít được biết đến hơn là Hajib Husam al Din Lu'lu. Ông ta hầu như chắc chắn là một mamluk (chiến binh có xuất thân nô lệ- ND), cái tên lu'lu có nghĩa là Ngọc trai , giành để gọi nô lệ. Ông ta cũng có thể có gốc gác Armenia, ngay cả tước vị Hajip ( tùy tướng) của ông ta cũng không nói lên nhiều. Khi triều Famitid còn cai trị Ai cập, Lu'lu đã là một cận thần tước Hajib là một chức quan quan trọng dù không phải tướng lãnh. Còn trong triều Seljuq ở Iran thì Hajib là chức quan thống lãnh quân đội.

    Theo một sử gia thì Husam al Din Lu'lu là một shaykh hay người rất sùng đạo. Tên tuổi của ông ta có được khi chỉ huy quân đội dưới quyền Saladin ,khi đánh bại Reynold xứ Chatilon ,kẻ táo tợn thực hiện chuyến đi cướp phá ở Biển Đỏ vào năm 1183 và đích thân thống lãnh hải quân trong trận thủy chiến bắt sống Gibelet (Jubayl) 4 năm sau đó. Sau khi dẫn hạm đội đến giải vây ở Acre năm 1189 ,Lu'lu gần như không dc nhắc đến. Khi đó ông ta chỉ huy khoảng 2700 tinh binh xứ Acre chống lại đợt càn quét của Richard the Lionheart vào năm 1911 ?. Một viên quan có tên Husam al Din vẫn phục vụ dưới quyền Al Adil vào năm 1194 nhưng ta không chắc đó có phải là một người hay không.

    Dù ông ta có chết tại Acre hay không, hoặc rút lui sau khi hạm đội Ai cập tại Địa Trung Hải tan vỡ , hoặc chuyển sang phục vụ cho Al Adil thì những chiến công của ông ta xứng đáng dc ca ngợi bên cạnh Saladin trong những vần thơ của thi sĩ Ibn al Dharawil. Thư kí của Saladin là Al Isfahani cũng dành những lời tán dương cho Lu'lu như sau " sự dũng cảm của ông ta cũng dc cả kẻ thù công nhận, lập nên chiến công hiển hách, ông ta vượt trội đối thủ khi giao chiến ... luôn hăng hái thực hiện nhiệm vụ và là một nhân cách đáng tin " . Ibn al Athir , một sư gia kém hoa mỹ hơn đơn giản miêu tả Husam al Din Lu'lu như là "một vị tướng dũng cảm ,khôn ngoan và dễ chịu " và là " một người dũng cảm và kiên định, một chỉ huy quân sự và hải quân lão luyện ".

  7. #7
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    1
    Các Lãnh đạo quân Ki tô



    Bức khảm bằng ngà nữ hoàng Melisende's Psalter ở Jerusalem khoảng 1131-43. Miêu tả người thống trị Jerusalem tuyến bố là người kế thừa của vua David. Các chiến binh được khắc họa là hình ảnh của người Byzantine và Hồi giáo với áo giáp , đặc biệt là hình ảnh "Sự dũng cảm" chiến thắng " Sự tham lam" bên dưới, phía bên phải là David và Goliath.(British Museum, London)

    Hầu hết các nguồn sử liệu đều không ủng hộ Guy , vua của Jerusalem (1186-92), người đã đánh mất Jerusalem vào tay người Hồi giáo. Guy và những hiệp sĩ người Pháp của ông ta cũng không được ưa thích bởi các quý tộc La tin địa phương. Ông ta khá điển trai và chiếm được cảm tình của Nữ hoàng Sibylla của Jerusalem, dù vậy cũng không chắc rằng ông ta là người yếu đuối và nhẹ dạ như những gì các sử gia miêu tả. Vai trò của ông ta chỉ nổi bật sau trận Hattin. Các sử gia truyền thống vẫn khắc họa Guy là một bailli (Quan nhiếp chính) thiếu năng lực suốt khủng hoảng năm 1183 , không mấy giàu có cho đến khi ông ta trở thành Vua . R.C. Smail , sử gia sau này công nhận vai trò của Guy khi đẩy lùi dc Saladin vào 1183. Mặt khác ông ta quá phụ thuộc vào bạn bè , nhưng người thường xuyên tranh chấp với nhau và không có những lời khuyên khôn ngoan. Kết quả là vua Guy thường đổi ý bất chợt vào những thời điểm quyết định.

    Điều hiển nhiên là cơ bản quyền lực của vua Guy ko vững mạnh, cũng như các luật lệ của Jerusalem phản ánh thể chế của nên quân chủ phong kiến Châu Âu hơn là các điều kiện thực tế của các tiểu bang La tin. Và ngay cả cách chỉ huy của Guy cũng nặng lý thuyết hơn thực tế, ông ta thường xuyên phải tham khảo ý kiến của các cận thần trước khi đưa ra quyết định. Sự hỗn loạn, oán giận, bất phục tùng lan tràn khắp vương quốc và Guy hiếm khi xiết chặt được kỷ luật. Mặt khác những quyết định cuối cùng và những chiến lược được Guy thông qua ,ngay cả trong trận Hattin, đều theo kiểu những chiến thuật cũ vốn hiệu quả trong quá khứ.

    Theo nhiều cách khác nhau thì Bá tước Raymond III xứ Tripoli là một nhân vật chứa đựng đầy bi kịch trong suốt chiến dịch Hattin. Có thể là lãnh đạo sáng suốt nhất của người la tin , ông ta luôn cố đạt được sự chung sống hòa bình với các láng giềng Hồi giáo. Ông ta cũng dc xem như nhà lãnh đạo quân sự có chiến lược tốt nhất trong số các lãnh đạo Ki tô giáo. Chịu kết cục nhục nhã như là một kẻ phản bội, người phải chịu trách nhiệm về thất bại của quân Ki tô trước Saladin , ông ta về vườn và chết trong đau khổ trong vài tháng sau biến cố đó.

    Raymond trở thành Bá tước xứ Tripoli ở tuổi hai mươi sau khi cha ông ta bị chết dưới tay của Isma'ili "kẻ ám sát". Vào năm 1175 tài năng và kinh nghiệm giúp ông ta trở thành người thành đạo của các thủ lĩnh địa phương và là sự lựa chọn tự nhiên để cai trị Jerusalem nhân danh vị vua hủi đang hấp hối Baldwin IV. Trong vai trò này, Raymond chứng tỏ dc tính nhẫn nại, cẩn trong và khéo léo trong các thỏa hiệp với các phe phái trong vương quốc và các láng giềng. Các tính toán của Raymond cũng nhắm đến một tình huống sắp thay đổi, một khả năng thích nghi hiếm thấy trong bối cảnh Jerusalem lúc đó. Tám năm bị cầm tù ở Aleppo giúp ông ta có khả năng nói tiếng Ả rập lưu loát và có sự hiểu biết sâu sắc về đạo Hồi , thêm vào đó là sự khâm phục hơn là oán giận những người đã giam cầm mình. Raymond chưa từng xem người Hồi như là kẻ thù thực sự mà ngược lại là các láng giềng bình đẳng, dù vẫn cạnh tranh với sự quan tâm chung về thu hoạch ,lượng mưa ít ỏi và thương mại. Vì những điều đó ngược lại người Hồi giáo cũng rất tôn trọng Raymond ,xem ông ta như là người dũng cảm và khôn ngoan nhất trong số các thủ lĩnh La tin. Nhưng khi xung đột xảy ra, ông ta không có nhiều cơ hội để cứu vãn vương quốc và nếu vua Guy nghe theo lời khuyên của ông ta thì đã có thể tránh được trận Hattin hoặc có thể chiến thắng.

    Trong số các nhân vật lãnh đạo của câu chuyện Jerusalem bị thất thủ, không ai đáng nói bằng Reynald. Cách nhìn truyền thống miêu tả ông ta như là kẻ liều lĩnh táo tợn, phóng khoáng , phiêu lưu bạt mạng , người đã đến Các tiểu bang với hai bàn tay trắng vào năm 1153 cho đến khi chinh phục được công nương Constance xứ Antioch. Có thể ông ta vô kỷ luật và quá dữ dội nhưng Reynald lại nắm bắt được các yếu tố địa chiến lược một cách ngạc nhiên. Chẳng may cho vương quốc Jerusalem là tầm nhìn của ông ta vượt quá khả năng kinh tế và quân sự của người La tin. Không như Raymond xứ Tripoli, người đã trải qua nhiều năm bị giam cầm bởi người Hồi, thời gian Reynald bị giam cầm tại Aleppo (1161-75) càng khiến ông ta thù hận điên cuồng với người Hồi giáo cùng với sự hiểu biết sâu sắc về địa lý khu vực. Ông ta thật sự là một chiến sĩ Thập tự cuồng tín. Và người Hồi thì gọi ông ta là 'Arnat' - kẻ thù số một của họ.

    Vào thời gian Reynald được phóng thích, vợ ông ta là Constance cũng qua đời. Chẳng mất thời gian, ông ta cưới tiếp người thừa kế của Krak (Karak) và mặc nhiên trở thành lãnh chúa vùng Oultrejordain. Tại đây ông ta dân dần xây dựng chính quyền riêng và có lẽ hy vọng một ngày kia sẽ trở nên độc lập, giống như tỉnh Tripoli hay Công quốc Antioch.

    Balian lãnh chúa xứ Rama (Ramlah), đến từ một gia đình danh giá bậc nhất trong các tiểu bang La tin. Khởi nguồn từ dòng họ d'Ibelin dân, trở thành tầng lớp quý tộc mới xuất thân từ hàng ngũ các hiệp sĩ thập tự chinh, những người đã kiến tạo nên vương quốc vào đầu thế kỷ 12. Vào năm 1180, Balian d'Ibelin trở thành lãnh chúa địa phương được tôn trọng nhất và hưởng quyền gần như tự trị phía nam vùng Palestine. Được các bên tin tưởng ,ông ta đóng vai trò hòa giải trong cuộc đàm phán của vua Guy và bá tước Raymond xứ Tripoli. Ông ta cũng đóng vai trò đàm phán với người Hồi giáo và bản thâm Saladin cũng coi ông ta như một người bạn.

    Tuy vậy Balian vẫn là một người Ki tô và phục vụ tận tụy cho Vương quốc. Được Saladin phóng thích sau trận Hattin, ông ta đã thề là sẽ không bao giờ cầm quân chống lại vị Sultan. Tuy nhiên sau này ông ta dc giải trừ lời tuyên thệ này bởi giáo trưởng của Jerusalem và đảm nhận vị trí chỉ huy phòng thủ thành phố thánh nơi ông ta chứng tỏ nghị lực và quyết tâm phi thường. Điều này nói lên sự tôn trọng lẫn nhau giữa ông ta và Saladin, tài năng đã tạo cầu nối cho sự khác biệt tôn giáo , rằng vị Sultan có thể hiểu được lý do Balian phá bỏ lời thề và tha thứ cho ông ta khi Jerusalem cuối cùng thất thù vào ngày 2 tháng 10 năm 1187.



    Bức 'Exultet Roll' ở Benevento phía nam Italia vào thế kỷ 12, miêu tả vị Vua trao ấn kiếm cho tướng sĩ, phong cách protospatharius theo thời kì Byzantine-Hy Lạp . Trang phục và vũ khí phản ánh sự pha trộn của người Đông Byzantine và kiểu Hồi giáo, có lẽ phổ biến ở các thành bang La tin tại Trung Đông. (Biblioteca Casanatense, Ms. 724. Bl. 13, Rome; N. Murgioni photograph)



    Mảng trang trí bằng vữa cuối TK 12 đầu TK 13 ở Ba tư miêu tả kị sĩ chiến đấu với giáo bằng 2 tay, họ mặc giáp phiến loại jawshan ,người bên phải mang miếng hộ thủ bảo vệ tay.(Museum of Art, Seattle)

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    8
    LỰC LƯỢNG HAI BÊN

    Lực lượng của Saladin: Sự tuyển mộ


    Những đạo quân Hồi Giáo trung cổ có sự tổ chức tốt hơn nếu so với các đạo quân Thậo tự chinh và trên một số phương diện như cấu trúc ,chiến thuật, truyền thống thì gần giống với kiểu Romano-Byzantine cổ xưa hoặc đế chế Ba Tư. Chiến tranh bùng nổ khắp nơi yêu cầu những người lính chuyên nghiệp dù những người tình nguyện vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc chống lại quân Thập tự. Việc sở hữu ngựa là một vinh dự trong xã hội Hồi giáo, cũng giống như ở Châu Âu. Mặt khác các thành phần tinh hoa của đạo Hồi tập trung trong các đô thị ít nhất là từ thế kỷ thứ 9 chứ không phân tán khải rác trong các pháo đài như ở giới quý tộc Phương Tây. Những người lính bình thường thì cư sống bên trong các bức tường thành và một số cắm trại bên ngoài. Người Thổ và người Kurd là lực lượng chính trong quân đội thì khá thô lỗ nếu so sánh với xã hội của các Tiểu vương Ả rập trong vương triều Fatimid ,còn cư dân đô thị thì xem họ như người man rợ nhưng cần thiết để bảo vệ các tuyến đường giao thông. Những người này xuất thân từ những gia đình quân nhân lâu đời nơi những người lính trẻ được trau dồi kĩ năng lãnh đạo cũng như các chiến thuật cần thiết từ những người thân trong gia đình. Không giống như những binh lính mamluk chuyên nghiệp có xuất thân nô lệ , những chiến binh tự do thường có các hoạt động khác như buôn bán trong thời bình. Một số leo lên những chức vụ cao trong quân đội, nhưng trong thời của Saladin thì hầu hết các lãnh đạo là nhưng chiến binh tự do hơn là lính nô lệ mamluk.

    Các thành phần khác nhau trong quân đội Hồi giáo ở thế kỷ 12 không dễ để đánh giá ,chẳng hạn như nguồn gốc xuất thân của các chỉ huy không nói lên được nhiều. Các đạo quân của Saladin phát triển từ nên móng quân đội của Zangid, và cũng giống như các tiểu quốc phân tán ra từ Đế chế của người Seljuq vào đầu thế kỉ 12 , nó có sự quân sự hóa cao độ và có nền văn hóa, chính trị và tinh thần quân đội mang bản sắc phương đông. Lực lượng mà Nur al Din gửi đến Ai Cập vào năm 1169 , khi ấy Saladin còn giữ chức sĩ quan tham mưu , gồm 6000 người Thổ ,2000 lính Kurd và một phần nhỏ gồm 500 mamluk tinh nhuệ. Dựa vào đội quân này Saladin đã chiếm được Ai cập vài năm sau đó. Lúc đầu ông ta giữ lại một số quan lại dưới triều Fatimid nhưng đã bị thay thế một thời gian ngắn sau đó.

    Tại Syria và khu vực Jazira ,Saladin thi hành chính sách tuyển mộ tân binh từ chính các đối thủ bại trận của ông ta . Lòng trung thành của những tân binh này được khuyến khích bởi ý thức về asabiyah (danh dự gia đình) và quân đội của Saladin sớm chứng minh kinh nghiệm cũng như kỹ luật tốt hơn hẳn các đội quân Hồi giáo phương đông tại Antonia hay Ba Tư. Khi chính quyền của Saladin mở rộng, quân đội tại các địa phương tại các tỉnh cũng được nhân lên. Số quân được tuyển mới thường khác với lực lượng riêng của vị Sultan. Aleppo cung cấp các nhánh quân người Thổ chẳng hạn như Yiiriik, Damascus thì tuyển quân từ các nhánh Ả rập ở trung tâm Syria , và người Kurd thì tập trung chủ yếu ở Mosul. Dù vậy nòng cốt của các lực lượng này là các lính nô lệ chuyên nghiệp mamluk. Trung thành tuyệt đối với chủ nhân, người đã mua , giáo dục và giải phóng cho họ, những chiến binh này trở thành cấm quân cho các Calib triều Abbasid hàng thế kỉ . Giờ đây Saladin kết hợp cả truyền thống của triều Abbasid cũ và triều Fatimid chủ yếu mua những nô lệ người Thổ vô thần có gốc Châu Á . Thành phần tinh nhuệ này gia nhập cấm binh của Saladin chuyên trông coi các kho tàng chính, canh gác các đồn bốt quan trọng và thường đóng tại trung quân trong các trận đánh.

    Nhóm lớn nhất trong quân đội là thành phần người Thổ , những người đã chi phối các yếu tố quân sự tại Syria từ đầu TK 12. Một số đã di cư đến miền bắc Syria vào năm 1120, nhưng phần lớn lính Thổ là tuyển mộ từ khu vực Diyarbakr. Thành phần quan trọng thứ 2 là người Kurd thường là các kị sỹ hoặc cung thủ dù nhìn từ bên ngoài thì họ không sử dụng chiến thuật cung-kị như các nhánh người Thổ. Saladin tuyển mộ họ rải rác hoặc từ các bộ lạc khác nhau nhưng các kị sĩ này thường tấn công thành một khối trong chiến trận. Thành phần thứ 3 là những người Ả rập . Đã có sự phục hồi trở lại đời sống du mục ở phía bắc Syria tiếp theo sự phục hưng quân sự Byzantine vào thế kỷ 11. Dù người Ả rập du mục sở hữu nhiều ngựa nhưng họ lại có ít cung thủ, chiến đấu chủ yếu dùng giáo hay gươm. Dù vậy nhưng người Ả rập Benduin cũng cung cấp kị binh hỗ trợ thiết yếu cho những lãnh tụ tại Syria vào thế kỷ 12 dù họ bị nghi ngại sâu sắc từ bộ phận người Ả rập định cự hay cư dân đô thị. Những người beduin đóng vai trò đặc biệt như chiến binh qufl , đột kích bộ binh địch đặc biệt là quấy nhiễu thông tin liên lạc của đối phương hoặc trong các đơn vị lisus , kị binh cơ động dùng để cắt đứt nguồn hậu cần của đối phương.

    Những muttawiyah hay người sùng đạo tình nguyện chỉ phục vụ trong thời gian ngắn nhưng cũng có thể rất hiệu quả đặc biệt là khi dùng để quấy rối hậu quân đối phương. Không giống như quân ahdath là lính trong các thành thị, những kẻ tình nguyện thật sự rất khó để quản lí . Trong khi lính ahdath dễ dàng tuyển mộ từ tầng lớp dân nghèo trong các đô thị . Vào thế kỷ 12 thì việc kiểm soát an ninh trong các đô thì là rất quan trọng , dù đôi lúc phải sử dụng cả quân đội chính quy trong trường hợp khẩn cấp. Dưới triều Fatimid thì lính ahdath trong các đô thị ở Palestine bao gồm cả người Do Thái lẫn Hồi giáo , còn dưới thời của Saladin thì thành phần của ahdath không rõ. Trong các lính địa phương khác thì thường bao gồm loại lính rajjalah bị khinh miệt. Loại bộ binh đặc biệt là loại chuyên nghiệp, ngay cả khi phục vụ bán thời gian ,và thành phố Aleppo sung túc thì nổi tiếng về các chiến binh có tinh thần hài hước. Vào năm 1170 khi người Thổ Seluq tấn công Aleppo , quân phòng ngự đã quấn những kiện vải lụa sung quanh những tháp canh vững chải nhất và gửi một thông điệp đến người Thổ là các máy bắn đá của họ đang bị đau đầu . Aleppo vẫn rất nổi tiếng vào thời Saladin về các thợ đá và kỹ sư , thậm chí cổng thành của Aleppo còn được chăm sóc riêng bởi các nhân viên được chính phủ trả lương. Công binh đến từ miền Khurasan xa xôi cũng phục vụ dưới trướng Saladin, và vị Sultan cũng cực kì ưu thích những tổ lính hỏa công đến từ triều Calib Abbasid ở Baghdad. Trong khi đó lính Bắc Phi cung cấp các đơn vị lính thủy , lực lượng mà Saladin luôn thiếu, những người Maghribis (Bắc Phi) được xem là những thủy thủ tài giỏi nhất trong thế giới Hồi giáo.



    Bên trái : trang bị của một hiệp sĩ nghèo rất khác với hiệp sĩ giàu có, anh ta mang cái nón kiểu cũ che mũi và tấm khiên lớn giành cho các trận đánh bộ binh, có lẽ để công thành. Bên phải: nét mới trong các bộ giáp ở TK 12 là các tấm giáp bảo vệ tay và chân. Một vài nón trụ có các tấm che trùm kín mặt. Bên dưới tấm áo giáp dài hiệp sĩ này còn đeo tấm đệm aketon hay còn gọi là gambeson



    Tranh tường ở Capella Palatina, thành phố Palermo . Gần bên phải là một kị sĩ Ả rập với giáo và khiên thuôn dài. Kị sĩ bên dưới thì đang tận hưởng thú vui đi săn bằng chim ưng đặc trưng của giới quý tộc. Phía trên góc bên phải là hình một kị sĩ Ả rập với giáo và khiên tròn, cưỡi lạc đà có lẽ vào những năm 1140. Những chiến binh như trên có lẽ đã phục vụ như là kị binh hỗ trợ trong các đạo quân của Saladin, nhưng người kị sĩ này dc vẽ bằng tranh tường vào thời kì những người Norman còn cai trị Sicily. Bên dưới góc phải là một kị sĩ Ả rập đội mũ lông thú




    Bên góc trái một tấm gương đồng ở Ba tư vào khoảng thế kỷ 12 miêu tả một kị sĩ sử dụng trường thương để săn thú, anh ta cũng mang một tấm khiên lớn. (Louvre Museum, Paris).

    Bên góc phải là một tượng gốm vào cuối TK 12 đầu TK 13 tuyệt đẹp miêu tả kị sĩ đang chiến đấu với một con rắn khổng lồ , tượng cao khoảng 1m được khia quật tại Raqqa phía đông bắc Syria. Anh ta gươm bản rộng và cầm khiên tròn nhỏ qalqan kiểu Thổ được đan bằng sợi mây và vải bông.


    Bên dưới " Trận chiến của Rabi chống lại thân phụ của Warqa", tranh vẽ trong sách Warqa wa Gulshah cuối TK 12 đầu TK 13. Nó có thể được vẽ ở Azarbayjan và miêu tả vũ khí, áo giáp và trang phục của những người Thổ Saljuq quý tộc giống như ở Trung Đông. (Topkapi Library, Istanbul, Ms. Haz. 841)

  9. #9
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    Sự tổ chức của lực lượng Saladin

    Lực lượng của Saladin được chia thành nhiều đơn vị với các kích cỡ khác nhau theo từng thời kì. Nhỏ nhất là đơn vị jarida (70 lính) và tulb (70-200 lính) sử dụng cờ và kèn hiệu riêng . Đơn vị jama'a là đội hình chiến thuật bao gồm 3 đơn vị jarida (?) . Loại sariya thì là một nhóm ad hoc bao gồm khoảng 20 kị binh thường sử dụng để mai phục, trong khi saqa là nhóm quân tiền phương dùng để trinh sát. Không giống người La tin , người Hồi có hệ thống cấp bậc amir (sĩ quan) , sắp xếp theo cấp bậc từ isfahsalar (chỉ huy quân đội) xuống tới hajib (các sĩ quan). Đó là các chức amir hajib, amir jandar, khazindar ( toàn quyền của một tỉnh quan trọng) amir kabir (đại sĩ quan) và amir . Chức vụ ra'ischỉ huy quân ahdath trong khi chức shihna tương tự cảnh sát trưởng. Binh lính được trả bằng đồng jamakiyah (lương) hoặc thưởng iqta (cấp đất) tương tự như đất phong của các quý tộc Châu Âu. Hệ thống thương được phân phát bởi Diwan al jfaysh (Bộ chiến tranh). Cơ quan Diwan al jfaysh này cũng thống kê danh sách binh lính , nơi họ đồn trú và giữ các bản báo cáo để nắm tình hình huấn luyện cũng như trang bị của quân lính. Binh lính đăng tuyển được cung cấp vũ khí miễn phí từ các xưởng của chính phủ, nhưng nếu để mất họ sẽ phải đền lại bằng cách trừ vào lương. Bất cứ thay đổi nào về cấp bậc, địa vị, hay đơn vị đều phải được đăng kí lại.

    Quy định iqta hay đất phong là yếu tố sống còn của hệ thống quân sự này. Nó thực sự là một hệ thống thuế đất mà trong đó người được thưởng sẽ được chia một phần lợi tức để chắc chắn rằng các khoảng thuế đều được thu đầy đủ. Một yếu tố quan trọng hàng đầu để phân biệt iqta với các đất phong ở Châu Âu là khu đất có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào. Được sở hữu đất iqta thì muqta (người chủ) phải trang bị và duy trì một số quân lính nhất định. Một số đất iqta rộng lớn được chia cho các dòng họ lãnh đạo, một số là các thành trị , lâu đài , các quận chiến lược ban tặng cho các sĩ quan hàng đầu.
    Kế đó là các nông trại hoặc thái ấp phân phát cho các chức quan amir thấp hơn. Các khoảng lương và trợ cấp cũng được gọi là igta. Giá trị của các khu đất phong là rất khác biệt ,thậm chí ngay trong một khu vực. Sau cái chết của Saladin vài chục năm, một thống kê cho thấy
    các đất iqta có khoảng 250 lính kị ,một số khác gồm cả các khu thành thị như Nablus và Jinin hỗ trợ 120 lính kị, một số khu nhỏ hơn có khoảng 70 lính kị. Các khu đất xấu hơn thì trở thành đất phong cho lính ajnad hay kị binh hỗ trợ người bedouin. Các quan Muqtas sống trên các vùng đất màu mỡ nhất ngoại trừ trường hợp họ bị thất sủng.

    Trong số các đơn vị thì lính nô lệ mamluk là loại tinh nhuệ nhất được sử dụng làm đội cận vệ askar. Là kẻ hầu cận trung thành và tự hào về dòng dõi của mình ,đội hình askar cũng được giao quản lí các máy móc công thành, các kho vũ khí và những cơ sở thiết yếu khác. Đội hình halqa thì có quy mô lớn tương tự một trung đoàn. Đội hình tawashiya dưới thời Saladin bao gồm cả lính mamluk lẫn lính kị binh tự do mà mỗi người sẽ có ngựa riêng, lính hầu hoặc mamluk hộ tống, khoảng 10 gia súc chở hành lý và có khoảng trợ cấp riêng để tậu vũ khí. Được xem là trung đoàn hạng nhất có nghĩa là sẽ được ở gần lãnh tụ trong chiến dịch. Mỗi tawashiya được phân công phục vụ trong quân đội một số tháng trong một năm. Lính ajnad hay lính từ các thuộc địa có địa vị thấp hơn tuy nhiên vẫn có khả năng vũ trang thành lính kị binh dù một số thường được huấn luyện thành lính kị bắn cung. Lính bộ binh là loại có địa vị thấp nhất, dù đóng vai trò quan trọng trong việc bao vây. Hầu hết là cung thủ, nỏ thủ hoặc là lính giáo mang khiên. Lính janib có thể sử dụng như một loại bộ binh lưu động cưỡi ngựa , đôi khi cưỡi lừa , nhưng đơn vị thực sự tinh nhuệ nhất trong số các lính bộ là lính nafatin ( lính hỏa công) . Tất cả các bộ binh chuyên nghiệp đều được trả lương, ít nhất là trong các chiến dịch. Tương tự như vậy đối với các lính công binh như naqqabun ( đào hầm hay công binh), hajjarun (thợ xây), and najjarun (thợ mộc).



    Lính Jarwajaraya là loại bộ binh hỗ trợ, một lính tình nguyện như trên vũ trang khá đơn giản và trang phục gần như dân thường , đa số các lính tình nguyện đều không có kiếm. Một ngọn lao anh ta cầm là laoị thiết kế để xuyên giáp và cái khiên là loại januwiyah của lính bộ binh (tranh của Angus
    McBride.)




    Một tượng ki binh nhỏ ở Ba tư vào cuối TK 12 đầu Tk 13. Mẫu trên cho thấy người này mang quyền trượng , mang khiên sau lưng, và sư tử nhỏ đi săn phía sau yên ngựa.(Metropolitan Museum of Art, New York)



    Hình ảnh hai chiến binh trên gạch đất nung khoảng giữa TK 13 ở Kashan- Ba tư. Người phía trước mang tấm khiên tròn nhỏ, người phía sau nâng cây giáo bằng cả hai tay. (Museum of Oriental Art, Rome, inv. 1056)



    Kỵ binh Ả rập bedouin dừng cuộc đấu giữa hai người du hành. Ảnh trên lấy từ sách Maqamat of Al Hariri được làm tại Mosul năm 1256 cho thấy hình ảnh giáo dài đặc trưng của người Ả rập.




    Những hình ảnh từ một giá đỡ nến ở Ba tư đầu TK 13, hình trên tả người đàn ông từ phía sau ,hình dưới tả kị binh với đao cong và giáp phiến jawshan, bên phải là lính bộ binh với đao cong và khiên tròn nhỏ ((Victoria & Albert Museum, inv.1593-1888)


    Dù đó chỉ là các lực lượng hỗ trợ nhưng đó là phần khác biệt so với quân La tin. Quan trọng hàng đầu là phải có hệ thống liên lạc tốt , hệ thống truyền tin của chính phủ sử dụng bồ câu hoặc lính liên lạc, trong khi lính trinh sát phụ trách việc cảnh báo ở biên giới với tốc độ cực nhanh. Cũng quan trọng không kém là việc phân phát các vũ khí, và đa số các thành thị đều có chợ vũ khí và rất nhiều thành phố như Aleppo, Damascus, Cairo và Mosul có hẳn xưởng đúc vũ khí riêng. Vũ khí được trang bị cho binh lính lấy từ các zardkhanah (kho) trước khi bắt đầu chiến dịch. Khi hành quân thì áo giáp và vũ khí được để tập trung trong các trại thuql . Việc này khiến cho binh lính nhẹ và có thể hành quân nhanh tuy nhiên cũng rất tai hại nếu để lộ tin tức tình báo và bị tấn công bất ngờ. Thông thường thì trại thuql sẽ được giao cho một viên quan amir có kinh nghiệm và đáng tin cậy. Trại thuql cũng kết hợp chung với lính hỏa công, thợ rèn để sửa vũ khí, chiến cụ ,các công binh và các giám sát viên . Bộ phận không chiến đấu trong trại thuql bao gồm người hầu, người giữ ngựa, người chăn dắt la hay lừa , người giữ lạc đà, thủ thư , chức quan tôn giáo và các bác sĩ, y tá. Một kiểu chăm sóc y tế khá chuyên nghiệp tương tự như một bệnh viện dã chiến. Việc phân phát các chiến lợi phẩm luôn được điều chỉnh hết sức cẩn thận trong quân đội Hồi giáo, một phần năm nộp về cho chính quyền và phần cho lại được phát cho binh lính. Phần lớn số này sau đó được thu mua bởi các nhà buôn tại suq al 'askar (chợ của quân đội) là một phần trong khu trại hàng hóa. Chợ suq al 'askar này cũng cung cấp vũ khí và các nhu yếu phẩm khác khi cần thiết.

    Phục trang, quần áo và các huy hiệu phân biệt các cá nhân và các nhóm bên trong đội quân của Saladin. trong khi vương triều Ayyubid và Thổ để tóc dài, người Ả rập ngoại trừ người bedouin thì cạo đầu. Hầu hết các chiến binh Hồi để râu hoặc ria mép. Các thủy thủ của Saladin thì được lệnh cạo râu khi vượt qua vùng kiểm soát của người La tin. Mũ trụ cao màu vàng sử dụng bởi các thành viên dòng dõi Ayyubid trong khi người Thổ Trung Á mang áo choàng phía ngoài mà đã trở thành phổ biến trong tầng lớp thống trị. Đại lưng hiyasa được kết bằng những chuổi kim loại đặc trưng của bộ phận tinh nhuệ nhất trong khi các sĩ quan khác mang nón sharbush, một loại nón bằng lông cứng nhô lên phía trước. Một đai tiraz bằng vải thêu những câu đề tặng sẽ được các thủ lãnh trao tặng cho người có công như là huy hiệu để ghi nhớ lòng trung thành. Những câu đề tặng đầu tiên xuất hiện trên các tấm khiên vào thế kỉ 11 và dần trở nên phổ biến sau đó. Một số biểu trưng và màu sắc cho thấy ảnh hưởng của Ba Tư, có lẽ là từ sử thi Shahnamah, nhưng có lẽ chưa có các hệ thống huy hiệu cho tới tận vương triều của người Mamluk vào giữa TK 13. Nhưng biểu trưng này để tưởng thưởng cho các cá nhân, không mang tính kế tục và cũng không mang tính biểu tượng thông trị như hệ thống huy hiệu ở Châu Âu.

    Lá cờ hiệu của Taqi al Din theo các kị sĩ Thập tự thì trông giống như những cái quần, nhưng thực chất cái mà nhưng người Âu bất lịch sự kia nhìn thấy là những cờ hiệu đã được những người Thổ và Ba Tư sử dụng trong hàng trăm năm ,đó có thể lá cờ mang hai thanh kiếm " Thanh kiếm của Ali" hay lá cờ biểu trưng của tộc người Thổ tamga. Lính của Taqi al Din cũng thường hành quân với cờ vàng, màu ưa thích của vương triều Ayyubid. Dù vậy , đó không phải là màu đặc trưng của đạo hồi (trắng, xanh lá cây, đen ,đỏ ) vốn hay sử dụng sau này. Trong khi người Ả rập và người Kurd sử dụng nhiều loại cờ hiệu khác nhau thì người Thổ trung thành với kiểu cờ tuq truyền thống hay cờ dạng đuôi ngựa.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Chiến thuật của quân Hồi giáo


    Saladin vẫn sử dụng chiến thuật tấn công kiểu razzia xưa cũ tại Ả Rập Trung Cận Đông dù có một ít biến đổi. Những đội hình hỗn hợp kị và bộ binh kiểu cũ được thay bằng các nhóm kị bắn cung mamluk nhỏ tinh nhuệ hơn với kị binh hỗ trợ sử dụng chiến thuật đột kích nhanh của người Thổ , phân tán và tấn công liên tục. Viện huấn luyện trận mạc của Hồi giáo thời trung cổ vốn nặng về lý thuyết hơn thực hành, nhưng việc sắp xếp một trận đánh, cắm trại , tiến hành bao vây hay phản công vốn rất quen thuộc trong các vương triều Fatimid, Ayyubid ,và ngay cả triều đại Mamluk. Chiến lược bao vây của Saladin y hệt như các bậc tiền bối triều Fatimid ,trong đó việc sử dụng kị binh linh hoạt hơn nhiều so với quân Thập tự. Kị binh của Saladin cũng có khả năng chống lại đợt càn quét của kị binh năng Thập tự trong điều kiện thuận lợi. Kỹ năng quan trọng này gần như là bắt buộc trong bối cảnh thế kỷ 12. Những áng văn chương ca ngợi hình ảnh ngọn giáo, vốn có thể sử dụng một hoặc cả hai tay ,có thể đâm thủng giáp đối phương cả phần chân hay người. Một khi thương bị gãy, kị binh sẽ sử dụng thanh gươm của mình. Chỉ có người Thổ là đặc biệt xem trọng cung tên hơn .

    Sự vận động của kị binh cho phép mở màn và duy trì một đợt tấn công, giả vờ bỏ chạy, xoay vòng bao vây quân thù, dồn dép và tổ chức đợt tấn công mới. Lính cung kị thì được huấn luyện để cưỡi ngựa, lạc đà và sử dụng cung tên. Lợi thế về việc phát triển nhiều loại cung tên khác nhau hay sử sử dụng găng tay đặc biệt cho phép bắn xa vẫn còn đang được tranh luận. Cũng tương tự như vậy là việc phóng lao trên lưng ngựa. Việc huấn luyện bộ binh ít được chú ý hơn, nhưng cung thủ thì được đào tạo để tham gia trận chiến một cách bài bản. Một số chuyên viên quân sự sau đó nhận thấy việc bộ binh có thể phải tham chiến ở xa , khi đó họ phải nhận biết được sự nguy hiểm từ đội hình quân địch báo hiệu sắp sửa tấn công, hay việc bao vây và truy duổi kị binh địch, cũng như làm thế nào để làm phân tán và hoảng sợ ngựa của quân thù.

    Một khi đã vào đất địch bất kì quân đội nào cũng phải chừa cho mình một đường thoái lui. Riêng những đội hình nhỏ cơ động thì được sử dụng để cướp phá quấy rối và làm quân địch hoảng sợ. Kị binh hỗ trợ người Ả Rập beduin đặc biệt xuất sắc trong việc quấy rối, đặc biệt trên những vùng đất quen thuộc của họ. Nếu cuộc đột kích được tiến hành vào ban đêm, khi có bão , nhiều mây hay trời mưa là tốt nhất. Nếu gặp đối thủ mạnh thì tốt nhất là tấn công vào lúc bình minh, khi họ đang mê ngủ và thiếu chuẩn bị. Một trận chiến quyết định thường được tránh nhưng khi họ chọn được địa điểm thích hợp thì rất khó để nói rằng quân đội của Saladin chỉ thiên về lý thuyết.

    Cận vệ jandariyah vốn bố trí xung quanh vị thủ lĩnh tuy Saladin thường đặt trung đoàn halqa tốt nhất của mình đóng ở trung quân, quân halqa cũng được triển khai trong các đội hình độc lập. Kị binh nằng thường được dùng để càn quét cũng rất tương tự như kị sĩ Thập tự, và giống như các Hiệp sĩ, họ cũng được chia thành các tiểu đội nhỏ tulb. Tuy vậy cung kị mới là chiến thuật hữu hiệu nhất của kị binh. Nó cho phép phá vỡ đội hình đối phương từ khoảng cách xa bằng cách bắn vào ngựa và bộ binh. Ở cự li gần thì cung kiểu composit của người Ả Rập có thể xuyên thủng hầu hết các áo giáp vào TK 12. Bộ binh Hồi giáo vốn không mấy quan trọng vào cuối TK 11 nhưng họ vẫn được sử dụng trong một trận đánh tổng lực hoặc dùng trong chiến tranh bao vây. Dù bộ binh được các sử gia Ả Rập thường gọi là harafisha (đám lộn xộn), thì chiến thuật của Saladin thường dựa vào việc chia cắt kị binh với bộ binh địch, ngay cả khi đối đầu với các đồng hương Hồi giáo của mình. Việc tận dụng địa hình được sử dụng tối đa . Shirkuh từng lùa kị binh La tin vào vùng cát trũng không thể phản công vào năm 1167, còn Saladin thì sử dụng tal (khu đô thị bỏ hoang, kiểu nhà Trung Đông) để dấu lực lượng mai phục của mình. Nhưng chiến thuật tinh vi nhất trên chiến trường thật sự là thông tin liên lạc, về mặt này người Hồi giáo tốt hơn nhờ các nhạc cụ, cờ hiệu hay sử dụng những tiếng kêu thét kiểu jawush hay munadi.




    Lính hỗ trợ kị binh kiểu Thổ. Người này mang áo khoác kiểu hai cổ , đội mũ lông có chỏm dài phía sau đặc trưng của chiến binh. Anh ta đang kéo loại tên majra dùng để băn tầm gần. Ảnh của Angus McBride.



    Hình trạm trên cửa sổ giáo đường tại Kubachi, Daghestan vào cuối TK 11 đầu TK 12 . Đặc biệt chỉ có tại những khu vực người Thổ cư trú mới xuất hiện các hình trạm khác trên các công trình tôn giáo. Hình chiến binh trên đặc trưng của người Thổ trung Á với bao đựng tên hình hộp ngay bên hông.(Metropolitan Museum of Art, New York; author's photograph)



    Một đĩa sứ ở Ba tư vào chuối TK 12 đầu TK 13 cho thấy hình ảnh của một chiến binh mang khiên vát nhọn trang trí ca rô. Có lẽ là loại januwiyah, hoặc là loại chuyên giành cho bộ binh. Cái khăn đội đầu và cán của thanh kiếm thằng là kiểu của người Hồi Trung Đông trước rất lâu thời đại của triều đại của người Thổ Saljuq . (Keir College, London, inv. 151)




    "Quân đội I ran rời bỏ pháo đài Furua" một hình ảnh trong sử thi Shahnamah tại Ba Tư đầu TK 13 trên một mảnh gạch vỡ. Bốn chiến binh mang nón trụ có phần mở rộng che cổ, kị sĩ dẫn đầu mang áo giáp dài , người thứ hai mang cây quyền trượng gurz rất to , bên góc bên phải một người mang hai cây cờ cuốn lại trong khi một người khác đang đánh cái trống được chở bởi con la.(Museum of Fine Arts,Boston )




    Tranh vẽ " Phòng thủ pháo đài" xuất hiện trong bản viết tay Mozarabic tại Atatolia khoảng 1100, nó cho thấy hình ảnh rõ ràng của loại máy bắn đá nhỏ lu'ab một kiểu của laoị máy bắn mang-onel sử dụng rộng rãi bởi người Hồi lẫn người thiên chúa Tây Ban Nha tại Trung Đông. (Biblioteca Nazionale, Turin, inv. J. II. l, ff. 189v-190r)



    Một chiến binh với khăn đội đầu và thanh kiếm thằng. Anh ta có thể là mang dây kiếm chéo qua vai chứ ko phải đai lưng. Hình ảnh xuất hiện trong một văn kiện về y tế tại I rắc vào khoảng 1224. (Freer Gallery of Art, Washing-ton, inv. 575121)

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •