Trang 2 của 3 Đầu tiênĐầu tiên 123 CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 28
  1. #11
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    1
    Chiến lược bao vây là mục đích cơ bản của các cuộc hành quân xa. Binh lính vũ trang nhẹ sẽ tiếp cận lãnh thổ địch quân trước tiên và sau đó tiến hành bao vây các pháo đài chính. Bên bao vây sau đó sẽ củng cố vị trí bằng cách lập hàng rào và đào hào xung quanh. Kế đó các tháp canh sẽ được dựng lên và công binh thì tiến hành đào sâu vào chân tường của pháo đài. Việc đào hầm như vậy đòi hỏi tay nghề cao và việc xác định hướng hết sức cẩn thận, và trong thức tế thì thường được người Hồi sử dụng hơn là quân Thập tự. Để bổ sung cho việc phá thành người Hồi sử dụng nhiều loại máy bắn đá khác nhau, một số lớn đến nỗi có thể phá sập các bức tường hoặc các ụ lỗ châu mai . Một số lượng lớn đang kể các máy móc khác thì dùng để bắn vào binh lính thủ thành , quét sạch họ khỏi các vị trí chiến đấu để dọn đường cho cuộc tấn công. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của kẻ tấn công là phải bảo vệ được các máy móc làm từ gỗ này và cả những công binh đào hâm khỏi sự chống trả mãnh liệt của quân thủ thành. Khi một lỗ trống được tạo ra hoặc một tường hầm bị đào xuyên qua, lính thủ thành có một cơ hội để đầu hàng. Nếu từ chối, những cuộc đột kích sẽ được tổ chức liên tục . Và ngay cả khi những tấn công vào vị trí bị phá thủng đang tiếp diễn, chúng vẫn có thể được dừng lại nếu bên trong thành cuối cùng thay đổi ý định và tuyên bố đầu hàng. Việc vây hãm có thể kéo dài hàng tháng và trong một số trường hợp trại lính của quân bao vây có thể trở thành một khu đô thị tạm thời. Phía bên ngoài thành Arce vào năm 1190 tại khu vực đóng quân của Saladin đã có đến 7000 cửa hàng gồm 140 tiệm đóng móng ngựa , và được kiểm soát bằng lực lượng cảnh sát riêng. Một số khu chợ buôn bán cả vải vóc lẫn vũ khí cũ hay mới, cộng thêm ít nhất 1000 nhà tắm nhỏ được điều hành bởi những người Bắc Phi. Trái ngược hoàn toàn với tình trạng tồi tệ đầy bệnh tật của quân Thập tự, vốn phải chịu những đợt tấn công liên tục.

    Những đạo quân Hồi có kỹ thuật thủ thành khá tinh vi, dựa vào truyền thống lâu đời có từ thời tiền Islamic. Kiến trúc burj hay tháp canh là sản phẩm có nguồn gốc từ kiến trúc quân sự Hồi giáo. Các thành lang chiến đấu trên tường thành dân được mở rộng trong khi các bức tường ngày càng cao hơn so với độ dày. Những thay đổi chính về kiến trúc đầu thế kỷ 13 sẽ sớm xuất hiện như là đối trọng với các máy bắn đá mangonel, nhưng chưa xuất hiện vào thời của Saladin. Quân phòng thủ bao gồm thợ xây, công binh, cung thủ, nỏ thủ ,lính phóng hỏa và quân triển khai các máy bắn đá. Nếu sắp bị tấn công quân lính sẽ tiến hành làm ô nhiễm các nguồn nước xung quanh thậm chí gieo rắc bệnh tật vào không khí theo chiều gió bằng xác súc vật thối rữa. Nếu có thể thì quân tấn công sẽ bị chính binh lính thủ thành tấn công trước khi họ kịp lập trại. Nếu cuộc bao vây đã bắt đầu thì quân phòng thủ phải tiến hành đột kích vào ban đêm để phá hủy khí cụ công thành của quân địch, còn nếu phản công vào ban ngày thì phải tiến hành hết sức bài bản .

    Nhiều ý tưởng kể trên cũng được áp dụng trong các cuộc hải chiến. Tuy nhiên vai trò chính của hạm đội của Saladin là vận chuyển binh lính từ Ai Cập sang Syria, và ngan cản sự giao thương giữa các thành bang La tin và Châu Âu. Lính được vận chuyển bằng tàu buôn hay tàu chiến vốn trang bị thêm cung thủ, lính phóng hỏa và cả máy bắn đá. Nếu đối mặt với hạm đội quân địch thì các tàu chiến Hồi giáo sẽ tập hợp thành đội hình lưỡi liềm hay đội hình kết tụ lại, giả vờ thối lui rồi dựa vào địa hình bờ biển để chống trả. Dù sức mạnh hải quân Hồi giáo liên tục xuống dốc trong hơn một thế kỉ, thì vào thế kỷ 13 hải quân Hồi vẫn chiếm thế thượng phong so với quân Byzantine , nhưng cũng không thể so với hạm đội quá mạnh của người Italia lúc ấy. Những con tàu của Saladin đặc biệt giống với tàu của các đối thủ. Tàu chiến tiêu chuẩn là loại shini, nhưng nhiều hàng lớn cũng chạy nhanh nhờ sử dụng tay chèo. Điều này phụ thuộc vào thủy thủ đoàn và như bây giờ chúng ta đã biết rằng những tàu ba cột buồm thật ra đã được đóng bởi những thợ đóng tàu Hồi giáo trước cả một thể kỷ trước khi được người Thiên Chúa sao chép lại. Vào đầu những năm 955 một con tàu lớn có thể dài tới 95 m và rộng 40m . Những con tàu chiến được đóng tại một số nơi tại Ai Cập sau đó được chở bằng lạc đà qua bán đảo Sinai tới vịnh Aqabah vào năm 1170, nhưng đó chỉ là những tàu có kích thước nhỏ. Những con tàu tại Ấn Độ Dương có độ lớn đáng ngạc nhiên. Tàu ở đây thì lại ít cột buồm hơn, một phần vì có gió mùa và chủ yếu là vì nguồn nước khan hiếm nên hạn chế số lượng thủy thủ đoàn. Bánh lái xoay, một phát kiến của người Trung Quốc, được sử dụng bởi các thủy thủ Ả Rập phương đông ít nhất là từ đầu thế kỷ 12.



    Cấu trúc cơ bản của thành Aleppo không thay đổi mấy kể từ TK 12 hay thậm chí là từ Tk 10 dù nó đã được gia cố thêm vào thế kỷ 16. Tháp trong hình là một phần của Giáo đường vĩ đại được xây dựng bởi con trai của Saladin là Al Zahir Ghazi. (hình trên)

    Bên dưới là một đoạn tường thành Cairo nhìn từ phía Burj al Ramla lên phía the Burj al Imam có lẽ được xây khoảng 1183 đến 1207.




    Đoạn tường thành phía bắc của Damacus trải qua 3 thế kỷ phòng ngự của người Roman. Khu vực này nhìn xuống sông Barada giữa Bab
    Tuma và cổng Bab al Salatn không có tháp canh nào. Các tháp canh thường được bố trí ở phía đông , nam và phía tây của thành phố.



    Không gian bên trong hành lang phòng thủ ở Burj al Ramla trong thành Cairo được xây vào cuối triều đại của Saladin.

  2. #12
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Vũ khí của quân Hồi Giáo

    Saladin thống trị ở trung tâm của thế giới Hồi giáo nơi mà rất hiếm nguồn mỏ và nguyên liệu để chế tạo kim loại. Nguồn cung cấp quặng sắt quan trọng ở gần nhất là phía đông Anatolia, mặt khác đế chế của Saladin cũng phải nhập thêm phôi quặng từ các mỏ nhỏ ở vùng núi Beirut và xung quanh Ajlun- cả hai vùng này bị kẹp bởi hai bên là phần đất của người Latin. Việc giao thương xa xôi như vậy, chủ yếu là nhập từ Ấn Độ các loại gang và thép là như cầu thiết yếu của cho đội quân của Saladin. Bất chấp những khó khăn kể trên Ai Cập vẫn có 3 xưởng quân giới quốc gia dưới triều Fatimid mà mỗi xưởng có hơn 300 thợ thủ công , các xưởng này giờ là của Saladin. Ngoài các thanh kiếm dc chế tạo từ Damacus thì Mosul và Baghdad cũng có các chợ vũ khí riêng. Saladin bị trỉ trích vì tịch thu toàn bộ ngựa và quân trang của Nur al Din' sau khi ông này chết, nhưng điều đó thật sự cần thiết đối với một thủ lãnh nhiều tham vọng trong điều kiện khan hiếm khí tài như vậy. Các vũ khí có giá trị như vậy nên kéo theo việc đánh chiếm các kho vũ khí của đối phương , ngay khi một pháo đài La tin đầu hàng, ngay lập tức họ buộc phải giao nộp toàn bộ khí giới lại. Người Hồi cũng đòi hỏi sự cống nạp vũ khí từ các thành bang La tin bao gồm cả giáp cho ngựa, vào tháng giêng năm 1188 đại sứ của byxantine trong một hành động thiện ý đã gửi tặng Saladin 400 giáp lưới dài, 4000 cây thương và 5000 cây kiếm lấy dc từ người Norman-Italy. Kiến cũng được nhập khẩu qua đường thương mãi từ cả Byzantine và Châu Âu - sau này bị cấm hẳn bởi một chiếu chỉ của Giáo hoàng. Nhưng một chiến dịch quy mộ thì đòi hỏi đủ thứ quân nhu khổng lồ.

    Vũ khí dc quân Saladin sử dụng bao gồm giáo, kiếm, chùy, rìu , lao, cung hỗn hợp, nỏ và đôi khi cả dây thòng lọng. Che chắn thì có khiên, áo giáp phiến, áo giáp lưới và cả loại giáp độn vải kazaghand, nón trụ. Hình ảnh phổ biến về chiến binh Saracen mang giáp nhẹ cũng như cầm đao cong là rất khác xa thực tế. Rất nhiều hay phần lớn gươm của người Hồi là loại lưỡi thẳng dù loại đao lưỡi cong dài có gốc người Thổ Trung Á đã xuất hiện ở Ba Tư vào khoảng TK 9, 10. Cung hỗn hợp (composite) từ lâu đã là vũ khí tầm xa chính ở Trung Cận Đông nhưng một thay đổi đánh kể vào thời Thập tự Chinh là ở góc còn gọi là Cung kiểu Hun ( người Hung nô) lượn mềm mại hơn kiểu cuốn ngược của người Thổ Nhĩ Kì. Các kiểu ban đầu khi kéo cho phép tăng cường lực căng nhưng lại phí phạm động năng ở 2 đầu cánh. Cánh cung quá dài cũng gây nên nhiều vấn đề cho kị sĩ cho đến khi loại cung cuốn mới trở nên ngắn hơn , gọn đến nỗi có thể bỏ vào thân ngựa mà lại cung cấp nhiều động năng hơn cho mũi tên. Mặt khác cung kiểu Thổ có lực căng dây quá lớn gây khó khăn cho cả những cung thủ lão luyện nhất. Các thông tin cho rằng cung tên của người Hồi vô hiệu trước áo giáp của quân Thập Tự là hoàn toàn sai lầm, có thể bị quy kết từ chiến thuật quấy rối từ xa nhằm làm bị thương các loại ngựa cỡi hơn là nhằm giết lính của người Hồi. Thực nghiệm cho thấy thực sự thì áo giáp không có mấy tác dụng chống lại cung tên, ngay cả khi tên được bắn từ loại cung dài (long bow ) hay dc sử dụng bởi người Tây Âu. Ngoài ra thì loại giáp phiến của người Thổ lại cho thấy khả năng chịu xuyên tốt hơn nhiều (so với giáp lưới Châu Âu).



    A/ Các mảnh đồng từ lưỡi gươm và dao găm có xuất sứ I ran thế kể 12-14 ((Metropolitan Museum, New York, )

    B/ Chuôi kiếm nạm vào Tk 13-14 ((City Art Museum, St. Louis)

    C/ Chuôi kiếm bọc đồng TK thứ 10 ở Ai Cập trang trí Thiên Sura trong Kinh Koran CXII (ex-Storm Rice Collection)

    D/ Thanh đao cong với chuôi bằng đồng TK 10 ((Metropolitan Museum, New York, )

    Quy mô đội quân của Saladin

    Đến tận hôm này thì đa số đều thừa nhận rộng rãi rằng quân đội Hồi có quy mô rất lớn và những đạo quân Thập tự dũng cảm luôn bị lấn áp về quan số. Điều này không phải là không có cơ sở. Dĩ nhiên tiềm năng nhân lực của các vương quốc Hồi giáo vượt xa so với các tiểu bang La tin tại Syria và Palestine , nhưng nếu tính cả Châu Âu thì phần tham chiến chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ . Tuy nhiên , các lực lượng hỗ trợ vốn được tập trung rất đông nhưng chỉ trong thời gian ngắn dưới trướng các thủ lãnh Askar. Ai Cập có thể huy động được nhiều quân nhất nhưng ngay cả dưới triều Fatimid nơi nhiều nhất thì tối đa cũng không vượt quá ngưỡng 25.000 quân. Buồi đầu làm thống chế Ai Cập dưới quyền Nur al Din thì Saladin thừa kế nhiều trung đoàn mà một thống kê vào năm 1169 cho thấy vào khoảng 8640 quân gồm cả lính thủy, con số đáng tin nhất thì gia đình Saladin sở hữu khoảng 500 lính tinh nhuệ cộng thêm khoảng 3000 lính Thổ. Một bản báo cáo khác dc ghi nhận vào 11/11/1971 thì Saladin cho triệu tập con số 174 sư đoàn kị binh tulb (khoảng 14.000 kị binh) và khoảng 20 sư kị khác đang làm nhiệm vụ ở các vùng xa cộng thêm 7000 lính Arab bedouin hỗ trợ. Đợt giảm quân trước thời Fatimid vào năm 1174 khiến các đơn vị này bị giải thể và quân hỗ trợ bedouin giảm xuống còn 1300. Một thống kê khác vào năm 1181 liệt kê các lực lượng của Saladin gồm 6,976 lính kị tawashi , cộng thêm 1553 lính qaraghulam mamluk. Đây có thể là tổng số lực lượng của các thành phố tại Syria, dù nó không phải là số quân tham chiến trong cùng một chiến dịch. Damascus icó khoảng 1000 quân , tại Hims là 500, Hama khoảng 1,000 và Aleppo có 1,000 quân. Vùng Jazira có từ 2000 đến 4000 trong đó quân thủ thành Mosul là 1500 vào đầu thế kỷ 12.



    "Trận chiến giữa Roland và Faragut " chạm khắc đá trên mặt tiền nhà thờ San Zeno tại Verona 1138, ý tưởng trận đấu kiểu hiệp sĩ khi "gãy thương" thì dùng cả kiếm đã trở thành những mẩu chuyện hiệp sĩ trong vùng Trung Cận Đông.



    Hai hình chạm khắc đầu cột tại nhà Nguyện Monreale Cathedral, đảo Sicilia cuối thế kỷ 12. Nhiều phù điêu tại Monreale miêu tả tỉ mỉ vũ khí và giáp trụ của các chiến binh khác với các vùng miên bắc Châu Âu, điều này phản ánh mối quan hệ mật thiết về quân sự giữa vùng Địa Trung Hải với các vương quốc Hồi giáo, với Byxantine và cả các thành bang Latine.

  3. #13
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    Lực lượng quân Thập Tự

    Hầu hết các dòng tộc ở các Tiểu bang La tin có nguồn gốc bình thường nhưng lại nắm bắt vận mệnh của mình vào đầu TK 12. Dẫu cho không có đủ lính chuyên nghiệp để bảo vệ các lãnh thổ mới chiếm được và các tố chất của tầng lớp hiệp sĩ có vẻ kém xong họ vẫn quyết định cư ngụ tại chỗ. Thậm chí nhưng người Thiên chúa giáo bản địa còn được phong tước hiệp sĩ tại Jerusalem vào TK 12. Điều này cộng với các cuộc hôn nhân giữa các chiến binh Thập tự và phụ nữ Thiên chúa giáo bản địa đã "phương đông hóa " tầng lớp quý tộc Latin tại đây. Tuy nhiên điều này chưa thật sâu đậm và vì thế nhiều người cho rằng về phục trang thì người Byzantine giống phương đông hơn người Latin ở Trung đông. Cùng lúc đó , một làn sóng xâm nhập của nhưng nhà buôn người Italia đổ vào tạo thành mối đe dọa xã hội với tầng lớp quý tộc mới hình thành ở jerusalem. Những hiệp sĩ tự cho có gốc Pháp xem thường các hiệp sĩ có dòng máu Italia và rồi cả hai đều bị kinh miệt là huyết thống lai bới nhóm mới đến từ Châu Âu.

    Mỗi thành bang Latin có lệnh tuyển quân Marechal ,nhưng sức mạnh của nó lại bị giới hạn bởi những luật lệ cổ truyền . Ví dụ như các hiệp sĩ được miễn đánh bộ hoặc ở nơi ngựa của họ không dùng được . Tuy nhiên đàn ông trong các gia đình hiệp sĩ buộc nhập ngũ từ năm 15 tuổi và phục vụ đến 60 tuổi. Mặt khác quyền thừa kế sẽ mất nếu các hiệp sĩ đánh mất thái ấp của mình vào tay kẻ thù. Điều đáng nói là quân đội ở La tin không dựa vào lính đánh thuê như ở Châu Âu. Thay vào đó binh lính được trả tiền hoặc cho thuê đất phong . Quân đội được rút tuyển ra từ các tổ chức phong kiến như Nhà thờ, các chủ đất địa phương, các sĩ quan quân đội. Những nơi này cung cấp hiệp sĩ , kị binh cộng thêm một lực lượng lớn bộ binh. Trong trường hợp khẩn cấp thì một sắc lệnh sẽ được ban bố buộc tất cả các đàn ông phải nhập ngũ. Bộ binh sẽ được tuyển mới từ dân mới nhập cư, phần lớn trong đó là từ Jerusalem. Một số sử liệu không chắc chắn lắm cho rằng các thành bang La tin có sữ dụng lính đánh thuê và phần lớn ki binh Serjeant là thuê từ bên ngoài vùng trung cận đông. Lính đánh thuê phương tây thường phục vụ lâu dài tuy rằng hợp đồng của họ thường được làm mới sau vài tháng. Hình phạt nếu hợp đồng chưa kết thúc là tăng thơi gian phục vụ,hiệp sĩ thì phải bồi thường ngựa và các trang bị khác, một người lính bình thường thì bị xuyên tay bởi thanh sắt nung.

    Nhũng chỉ huy của dòng Hiệp sĩ Templar và Hospitaller thường có khuynh hướng hung hăng với những người mới đến hơn các thủ lãnh địa phương cẩn trọng. Động cơ của họ cũng giống với lính tình nguyện mộ đạo muttawiyah bên phía quân Hồi. Trong số lính địa phương và không phải quý tộc thì vai trò lính Turcopoles là rất quan trọng. Cách thức và tên gọi vốn ảnh hưởng từ Byzantine song nó có nhiều nét tương đồng với đội quân nô lệ mamluk của quân Hồi. Không có một người Hồi nào phục vụ trong quân đội La tin dù họ có tuyển dụng những thư lại hồi giáo. Không có lãnh thổ Do thái nào ở các vùng ngày nay là Irac và Iran, người thiên chúa giáo Syria theo chính thống giáo và dòng Jacobite không được quan tâm ngay cả khi cần họ để dẫn đường.



    Kị binh Ghulam : bên dưới lớp áo giáo của kị sĩ là lớp áo Tutco của người Iran. Nón trụ được tô điểm hoa văn và gắn miếng che cổ bằng da thuộc và Lớp áo giáp phiến rất nhẹ . Anh ta mang cay trượng đầu thú mang thanh gươm cong bên sườn và thêm một thanh kiếm thẳng bản nặng bên dưới yên ngựa. Ảnh của Rob Chapma.




    Bức tranh tường vào khoảng giữa đến cuối TK 12 tại Cressac vùng trung nước Pháp cho thấy các hiệp sĩ Templar giao tranh với quân của Nur al
    Din. Phong cách vẽ khác lạ ảnh hưởng Tây ban Nha hoặc do chính các hiệp sĩ templar mang về từ Trung cận đông.(ảnh của tác giả)




    " Đội quân của Pharaoh ở Biển Đỏ" điêu khắc chạm đá ở nhà thờ San Frediano, Lucca ,cả hai kị sĩ đều mang giáp lưới dài còn ngựa chiến thì mang giáp bọc chân.




    "Quỹ dữ và kẻ tội đồ " chạm đá trên vách nhà thờ Ste-Foy, Conques, khoảng 1120-30 .Bên trái là kị sĩ vũ trang áo giáp lưới toàn thân, chóp mũ của anh ta thể hiện tội lỗi hay niềm kiêu hãnh chiến tranh. Bên phải là lũ quỹ mang chùy xích , cuốc chim và nỏ.

    Tổ chức quân đội Thập tự

    Cũng giống hình mẫu nước Pháp phong kiến, các thành bang La tin cũng theo nguyên mẫu với quyền lãnh đạo quân đội tập trung về Vương triều jerusalem. Quyền lực của vị vua là rất lớn vì cấu trúc quân đội thường trực trong hoàn cảnh chiến tranh xảy ra triền miên. Việc không có khả năng vươn ra vùng duyên hải hoặc đánh chiếm các đảo xung quanh nên việc duy trì một đội quân phòng thủ lớn như vậy khiến cho thật sự không đủ lãnh thổ để cung ứng quân lương xét theo một tiêu chuẩn quân đội phong kiến thông thường. Theo lý thuyết thì Vua có quyền yêu cầu các Hiệp sĩ phục vụ lâu dài nhiều hơn thường thấy ở Châu Âu, tuy nhiên trong thực tế thì thời gian phục vụ thường được điều đình tại Hội đồng tối cao cùng với việc lên kế hoạch cho các chiến dịch. Tuy Vua nắm quyền cao nhất nhưng quyền lực được phân phát tùy theo độ khó khi đương đầu với quân địch có kỷ luật. Vương quốc Jerusalem nói cung là yếu vì những vấn đề nghiêm trọng của một đạo quân vụ thuộc vào lính đánh thuê.

    Vào đầu TK 12, các hiệp sĩ thập tự có đất phong sống tại các đô thành tương tự như các lãnh chúa Hồi giáo. Các thái ấp này hình thành từ 1130 ,lợi tức thu từ cảng, chợ, phí cầu đường ,sản vật thương mại và thủ công. Đổi lại chủ thái ấp phải có nghĩa vụ duy trì một lượng thường trực các hiệp sĩ hoặc các sĩ quan. Trong trường hợp các sĩ quan cũng là Hiệp sĩ thì sẽ được hỗ trợ thêm bởi lính kị binh hỗ trợ Turcopole .

    Cấu trúc chỉ huy quân đội của Jerusalem giống hệt hệ thống ở châu Âu. Ba chức vị quan trọng nhất ở các thành bang lần lượt là Senechal, Connetable và Marecha. Senechal chịu trách nhiệm tất cả các pháo đài ngoại trừ cung điện của Vua, canh gác cũng như tiếp tế. Trong chiến dịch thì Senechal phụ trách ngự lâm quân của Hoàng đế. Connetable là tổng chỉ huy quân đội ngoại trừ khi vua thân chinh, người này cũng tổ chức hàng ngũ các đội bataille , phân loại giao nhiệm vụ từng đội cũng như kiểm tra độ sẵn sàng của các hiệp sĩ, ki binh hỗ trợ hoặc quân tháp tùng. Chỉ những hiệp sĩ mới dc giao chức Connetable ,có trách nhiệm đặc biệt quan trọng. Dưới đó là chức Marechal.

  4. #14
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Cấu trúc chỉ huy quân đội của Jerusalem giống hệt hệ thống ở châu Âu. Ba chức vị quan trọng nhất ở các thành bang lần lượt là Senechal, Connetable và Marecha. Senechal chịu trách nhiệm tất cả các pháo đài ngoại trừ cung điện của Vua, canh gác cũng như tiếp tế. Trong chiến dịch thì Senechal phụ trách ngự lâm quân của Hoàng đế. Connetable là tổng chỉ huy quân đội ngoại trừ khi vua thân chinh, người này cũng tổ chức hàng ngũ các đội bataille , phân loại giao nhiệm vụ từng đội cũng như kiểm tra độ sẵn sàng của các hiệp sĩ, ki binh hỗ trợ hoặc quân tháp tùng. Chỉ những hiệp sĩ mới dc giao chức Connetable ,có trách nhiệm đặc biệt quan trọng. Dưới đó là chức Marechal, thường là vài người người , phụ tá cho vị Connetable . Chức vị này phụ trách việc tuyển lính, kể cả lính đánh thuê , kiếm soát tiền lương , trang thiết bị cũng như tổ chức quân trang, ngựa, vật thồ hàng cho quân đội. Chỉ huy lính Turcoplole , đội lính của Nhà Vua thì nhận lệnh trực tiếp từ quan Marecha , các đội quân turcopole khác mới do các sĩ quan chỉ huy.

    Một hiệp sĩ thường chỉ huy 4 hay 5 kị sĩ Serjeant , nhưng nhìn chung thì Serjeant giống quân dự bị , thường không được tập trung trong buổi tập hợp quân đầu tiên. Số quân chiến đấu tập hợp từ các chư hầu dao động rất lớn. Thái ấp của một nam tước tương tự như Jaffa hay Galilee cung cấp 100 hiệp sĩ trong khi các lãnh chúa nhỏ hơn như " vợ của ngài Gobert Vernier' " chỉ cung cấp một hiệp sĩ duy nhất. Số lượng kị binh Serjeant cũng rất khác biệt ,xứ Patriarch thành Jerusalem cấp 500 lính ,còn lãnh chúa Le Herin (Yarin) chỉ cấp 25 quân,tình hình cũng như vậy đối với quân đánh thuê.

    Quân hiệu tại Latin còn phong phú hơn ở tại một số phần ở Châu Âu. Vương quốc Jerusalem có quốc kì riêng vào cuối Tk 12. Sử gia Hồi giáo Baha al Din mô tả nó như là " ... cờ trông cao như một tháp Hồi giáo đặt trên một xe kéo bởi những con la, nó có nền trắng và những điểm đỏ chính ở giữa, trên đỉnh của ngọn cờ là chữ thập giá " . Nó còn được gọi là carroccio , giống như hình ảnh tập hợp các thành bang Italia trung cổ. Điều đó cũng cho thấy sự thiếu vắng hải quân ở các thành bang Latin mặc dù các thành phố tại duyên hải cũng có đội tàu của mình.

    Chiến thuật của quân Thập Tự

    Đã có "khoa học chiến tranh" tại Châu Âu vào Tk 12 tại Châu Âu, phát triển thêm thành những tư tưởng chiến thuật để phát triển nhiều loại quân khác nhau.Việc lên chiến thuật cho từng trận đánh dẫu vậy cũng không hề dơn giản vì rất khó phản đoán và đầy mạo hiểm. Như thế ,bổ sung cho việc vây hãm, chiến tranh phương Tây xoay quanh việc cướp phá và phục kích mà vốnmang lại rất nhiều kỹ năng chiến thuật. Khi vị trí của một trận đánh lớn được xác định thì nó phụ thuộc rất lớn vào kị binh, làm nổi bật vai trò thống trị của các hiệp sĩ. Truyền thống chiến tranh kiểu này truyền vào các thành bang La tinh ở Syria và Palestine , nơi chỉ diễn ra vài sự thay đổi nhỏ trong tế kỷ 12. Vai trò của bộ binh tháp tùng lính kị vẫn như cũ và điều này mang lại sự lạc hậu không theo kịp các chiến thuật mới ở châu âu chẳng hạn như việc dùng trường thương.

    Các thành bang La tin chịu ảnh hường bởi các láng giềng của họ đến mức nào thì không rõ ràng mấy. Ngay cả các hiệp sĩ thì chủ yếu là phục vụ theo thời hạn, do đó việc này hạn chế họ học hỏi từ các chiến binh chuyên nghiệp người Byzantine, trong khi khác biệt văn hóa không cho phép họ tiếp thu kỹ thuật của quân Hồi. Kinh nghiệm chiến đấu của các hiệp sĩ Latin chống lại quân Hồi là rất tốt, điều này bởi vì lúc ấy rất nhiều lính ở la tin chiến đấu đánh thuê cho Sultan dòng Seljug xứ Atatonia. Điều này cung cấp cho họ những chiến thuật hiệu quả chống lại quân Hồi. Tuy nhiên , chúng lại mang nặng tính phòng thủ , chủ yếu bảo vệ sự sinh tồn của các thành bang hơn là chiến thuật tổng lực tấn công tiêu diệt kẻ thù Hồi giáo. Họ tránh những trận đánh lớn vì cho rằng nếu quân đội bị thiệt hại nặng thì sẽ nguy hiểm cho các thị trấn và pháo đài, đặc biệt là khi gom quân lớn thì số lượng quân phòng thủ sẽ ở mức tối thiểu. Việc duy trì đủ số ngựa chiến cũng là vấn đề nan giải của quân la tin. Trong truyền thống âu châu, trong chiến tranh mà làm bị thương hay giết ngựa cỡi của quân thù thì đượcxem là rất tệ hay rất ngu ngốc. Quân Hồi thì khác, họ tấn công ngựa cỡi bằng thương hay cung tên.

    Thời tiết có tác động lớn trong chiến tranh ở Trung Đông. Do đó việc gom quân thường bắt đầu vào đầu mùa xuân. Quân lính, vật thồ hàng, vật nuôi được gom lại. Quân đội sau đó cắm trại để theo dõi xem kẻ thù có xâm lấn không hoặc sẽ tung ra những cuộc hành quân mà có tên gốc Ả rập là caravan . Theo lề lối kiểu Pháp của các hiệp sĩ Templar, các hiệp sĩ thường dẫn đầu các nhóm quân hộ tống ,nhưng nhóm này sẽ cung cấp thương, khiên và ngựa cho các hiệp sĩ suốt trận chiến ( ngựa chỉ được cỡi trong trận đánh). Việc cần thiết phải duy trì sự gắn kết là rất thuần thục, cũng như vai trò của lính bộ binh trong việc bảo vệ ngựa của hiệp sĩ khỏi tiền quân đối phương. Trên vùng đất trống trải thì đội hinh bố trí kiểu hình vuông với bộ binh bao xung quanh kị binh còn trong vùng núi hay chật hẹp thì đội hình bố trí hàng dọc.

    Các quy định cắm trại được quy định bởi luật cổ Pháp của các hiệp sĩ Templar là rất chuẩn. Các lều của các hiệp sĩ anh em sẽ quây quần xung quanh một lều nguyện lớn. Còn trong các đội quân bình thường thì chính giữa là lều chỉ huy. Lính hầu được cử đi lấy nước và củi đốt và thường không vượt quá tầm nghe của chuông trại. Nếu có báo động thì các lều gần nhất sẽ chống cự còn lại sẽ tập trung về lều chỉ huy để nghe lệnh. Các cuộc cướp phá và trinh sát mang tên gốc Pháp là chevaucher . Khi đó các hiệp sĩ sẽ mang theo giáp cụ phía sau yên, lính hộ tống thỉnh thoảng cũng dc chở phía sau. Lính Turcopole đóng vai trò dẫn đầu trong các cuộc viễn chinh và sẽ thực hiện việc trinh sát nếu quân này gồm cả các hiệp sĩ.

    Khi quân La tin lâm trận, bộ binh sẽ được xếp lên trước kị binh, bi kinh tấn công qua những khe giữa các đội hình lính bộ. Vai trò chủ yếu của lính bộ là bảo vệ ngựa chiến hơn là các kị sĩ,việc này rất cần thiết để hỗ trợ lính kị tấn công có hiệu quả. Mặt khác việc phụ thuộc vào bộ binh khiến quân Latin chậm và không cơ động khi so với quân Hồi. Kích thước và cấu trúc của một đoàn kị binh rất khác nhau nhưng tổng thể thì nó rút hơn hơn nhiều so với ở Châu Âu nhằm thích ứng với kẻ thù nhanh và linh động. Khi chia nhỏ ra như vậy tồn ẩn nhiều nguy cơ bị bao vây và tiêu diệt ngay cả khi lính kị được bảo vệ bởi lớp giáp trụ nặng.

    Dù kiểu tấn công kiểu hiệp sĩ này mang nặng tính phòng ngự nhưng nó vẫn hiệu quả nếu sử dụng hợp lý, tuy nhiên do nghiên về chống lại việc đối phương tấn công nên chiến thuật này khiến quân La tin kém thế chủ động, ít khi ra tay tấn công trước. Khi quân Hồi phát triển các phương án phản công thì chiến thuật này bắt đầu không còn hiệu quả. Kị binh nhẹ Hồi giáo thì lại có thể dễ dàng gom lại, tản ra hoặc quây vòng xung quanh. Khi những sự vận động như vậy không hiệu quả quân Hồi sử dụng chiến thuật giả thua , khi đó sự gắn kết của đội hình kị binh La tin sẽ bị phá vỡ nếu họ cố đuổi theo. Ngay cả bộ binh Hồi vốn rút ra những bài học cay đắng từ đầu Tk 12 cũng đã cố gắng có thể thoát khỏi những đợt công kích như vậy.


    Tương phản hoàn toàn với những thông tin về kị binh, gần như không có mấy thông tin về việc tổ chức bộ binh trong các trận chiến dù các máy móc thì được ghi nhận rộng rãi. Hầu hế những pháo đài thập tự đều không đặt gần biên giới, nhưng cũng rải ra đối mặt với biên giới của người Byxantine và Hồi giáo. Những pháo đài này, vốn được xây rất nhanh có rất nhiều dạng tùy thuộc vào tình huống riêng. Dù TK 12 còn rất ban sơ và chưa phát triển song những pháo đài như vậy vẫn còn tồn tại đến cuối TK 13 hoặc được tái xây dựng bởi các kỹ sư Hồi giáo sau khi nó bị chiếm đóng . Không phải đến tận TK 13, khi mà quân Thập tự đã rơi vào thế phòng ngự , các pháo đài như vậy luôn duy trì khả năng chống lại một cuộc tấn công lâu dài. Mỗi pháo đài như vậy có một chức quan gọi là chatelain cai quản , lính canh bao gồm cả hiệp sĩ và lính Serjeants đảm nhận cả tường thành và cổng chính, trong khi dân trong thành đảm nhận phòng thủ các bờ tường bằng cung hay nỏ.



    "Lính canh của các thầy cả" chạm đá đầu cột ở nhà nguyện San Paolo fuori la Mura, Rome. Hai người đội nón thóp cao có rãnh, Một người mang tấm che bảo vệ cằm còn người quỳ gối mang áo lót bông bên duối lớp áo giáp lưới dài. (ảnh của tác giả)



    hai người giao chiến không mang giáp trụ , điêu khắc đầu cột tại nhà nguyện Monreale Cathedral, Sicily. (ảnh tác giả)


    Điêu khắc đầu cột tại hành lang nhà nguyện Monreale mô tả một cung thủ với bao đựng tên bên hông.



    Bộ binh miêu tả trong bức phù điêu " Kẻ bội phản" tại hầm mộ nhà thờ Pistoia Cathedral . Lính không mang giáp song có nón ,mang giáo và khiên dài bảo vệ từ cằm tới chân.

  5. #15
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    Vũ khí của quân Thập tự


    Các tiểu bang La tinh chưa bao giờ được xem là nơi chuyên về sản xuất vũ khí dù dân trong thành Jerusalem nổi tiếng về nghề chế tạo khiên.Phần lớn vũ khí là được nhập, chủ yếu là từ Italia hay qua các nhà buôn người Ý. Vũ khí thu được của người Hồi cũng được tái sử dụng và Luật dòng đền thậm chí còn nhấn mạnh điều này. Mặt khác vũ khí sử dụng ở thành bang La tin tương tự như vũ khí Tây Âu. Radulfus Niger, khi viết về trận Hattin đã liệt kê thành jerusalem đã được cung cấp như thế nào các loại bàn đạp, dây cương, nón sắt bảo vệ mặt, giáp trụ, kiếm, khiên, thương, ngựa và các máy móc công thành. Luật các của hiệp sĩ dòng đền đầu TK 13 có phản ánh chân thật tình huống đầu TK 12 không vẫn chưa được kiểm chứng. Nhưng theo đó thì một hiệp sĩ sẽ mang giáp lưới dài, nón sắt có vành bên trong có thêm 1 lớp giáp lưới, tấm bọc vai, kiếm, khiên, thương ,chùy, gao găm. Ngựa được phủ tấm bọc, và kị sĩ thường mang thêm 1 túi da đựng bộ giáp lưới của mình . Các lính Serjeant ngược lại với luật dong Đền thường mang giáp lưới ngắn hở tay và không trùm chân để việc di chuyển dễ dàng hơn.

    Thông tin chi tiết về trang bị cho bộ binh rất ít, nhưng trong những bài thơ chansons de geste mô tả họ amng giáp lưới dài, mang rìu cán dài gisarme ,rìu kiểu Đan Mạch, chùy, gươm một lưỡi có thể là dạng khởi nguồn cho loại gươm falchion sau này ,giáo, cung, nỏ ,và lao . Thành kiến của các hiệp sĩ Châu Âu đối với cung thủ có lẽ đã được phóng đại quá mức. Tuy nhiên, nỏ đã dân trở thành một khí cụ chiến tranh thật sự thay cho phục vụ việc săn bắn tiêu khiển. Vào năm 1130, hội đồng cơ mật của Giáo hoàng đã cố gắng loại bỏ cung và nỏ trong các trận chiến trừ trường hợp chống lại quân dị giáo. Những cây nỏ thoạt đầu được làm từ cây kim tước và chúng có cánh dài so với các loại nỏ thời trung cổ sau này. Loại cung hỗn hợp, vốn cho lực bắn mạnh hơn, kết hợp với nỏ vào cuối TK 12 nhưng điều này có ở quân latin hay không thì chưa được kiểm chứng. Không có mấy ảnh hưởng trựctiếp từ nỏ hỗn hợp Trung Đông lên nỏ hỗn hợp Châu Âu cho thấy chúng được chế tạo từ những cách hoàn toàn khác nhau.

    Yên ngựa cũng là một yếu tố thiết yếu cho các kị sĩ. Ngoài lớp da bọc là khung làm bằng gỗ có thêm 2 miếng đệm 2 bên đển gắn bàn đạp , ngựa còn được mang lớp vải đệm, yếm che ngực và một hoặc 2 đai gắn vòng xung quanh. Phần sau phải thật chắc chắng để chịu được lực khi kị sĩ thúc ngựa bằng chuôi giáo ngang.

    Các máy móc chiến cụ của người La tin về cơ bản cũng tương tự người Hồi. Fondifles là gậy ném đá ,một trong số các dụng cụ dùng liệng hay quăng đá, còn máy ném đá lớn thì được chia ra các loại như mangonels và perieres hay petraria. Máy trebuchet là loại bắng đối trọng đáng kinh ngạc. Những thí nghiệm gần đây với trebuchet có đối trọng 200 kg có thể ném quả cầu đá 15 kg ra khoảng cách 180 m, đạng 47kg xa 100m , trúng mục tiêu 6m2. Kiểu periere hay petraria thì dùng hạn chế hơn nhưng thường áp dụng cho các máy dùng lực xoắn tương tự loaị máy của người Roma cổ. Loại máy petraria turquesa ( máy petraia kiểu thổ) được dùng vào năm 1202 là loại dùng lực xoắn điển hình, gần như hoàn toàn tương đồng với loại nỏ bắn tên kiểu qaws ziyar của người Hồi.



    Lính kỵ Serjeant . Vũ khí và áo giáp của người này cho thấy kiểu miên nam Italia hay kiểu của người Siculo-Norman và nó khá nhẹ. Anh ta mang lớp mũ ni bên dưới nón sắt hình trụ và mang bao tay. Kiểu trang trí của bộ yên cương cho thấy ảnh hưởng của Hồi giáo và Byzantine .Tranh của Angus McBride.



    Kiếm của quân cơ đốc .A : ở nhà thờ Maurice, German, khoảng 1198-1215 (Kunsthistorische Museum, Vienna); B: 12th-century Spanish
    sword hilt (Museum Eserjito, Madrid); C: French c. 1157-75 (Royer Collection).



    Phần còn lại của pháo đài Krak (Karak) sau khi bị người Hồi tái chiếm và nó là mẫu điển hình của các pháo đài Thập tự. Tường ngòai và các tháp canh có thể được xây dựng trong cuộc viễn chinh của Reynald of Chatillon . (ảnh của tác giả)

  6. #16
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    KẾ HOẠCH CỦA 2 BÊN

    Vị Sultan cần phải duy trì sức ép mạnh mẽ lên người Latin để tạo uy thế so với các lãnh tụ Hồi giáo khác. Saladin lúc ấy vừa hồi phục sau một cơn bạo bịnh và điều đó khiến ông ta nhận ra cái chết không xa xôi và rằng phải hành động ngay hoặc không bao giờ . Những tháng đầu năm dành cho việc cướp phá và thăm dò thực lực quân địch và làm suy yếu họ. Chỉ một lần lực lượng chính của Saladin vượt giới tuyến và không cướp phá xa hơn nữa. Tất cả nhằm một mục tiêu là dồn ép các lực lượng Thập tự vào một trận chiến quyết định. Nhưng việc ấy cũng phải tiến hành nhanh bởi sẽ rất khó khăn để Saladin duy trì quân đội lâu dài trên mặt trận. Saladin cũng phải tính tới các thủ lãnh thua trận ở trận đánh mùa xuân ở Cresson cách đó một năm, kể từ đó họ là lực lượng hiệu quả nhất bên phía người La tin.

    Thất bại trong những đợt tấn công nhằm lùa quân La tin ra khỏi các pháo đài của họ, Saladin cho tập trung quân tại không xa Tiberius. Bằng việc đó, Saladin đã đặt mình vào thế nguy hiểm khi để mình nằm trong phạm vi tấn công của hai lực lượng quân địch . Nhưng cái bẫy đã khởi động , và người Cơ đốc đã hành quân giải vây cho Tibesrius. Vấn đề bây giờ tùy thuộc vào việc ngăn không cho quân Cơ đốc tiếp cận nguồn nước đây đủ một khi họ rời Sephorie (Saffuriyah) và Saladin đặt cược vào một trận đánh lớn trước khi quân Cơ đốc rời khỏi vùng đất bằng khô hạn đến đến vùng hồ Tiberius. Khu vực diễn ra trận đánh như trông đợi dĩ nhiên đã được các trinh sát của Saladin chọn sẵn. Tất cả đã diễn ra theo đúng ké hoạch của Saladin ngoại từ việc nhiều binh lính Cơ đốc đã thoát ra được khỏi trận đánh hơn họ chờ đợi.

    Những gì xảy ra sau chiến thắng tại Hattin đơn giản là phá hủy quân đội latin bằng việc chiếm càng nhiều pháo đài Latin càng tốt trước khi có một đợt quân Thập tự khác đổ bộ đến. Saladin mở màn ở phía Tây trước bằng việc chiếm đóng cách thị trấn dọc ven biển, trước khi chiếm lấy nơi quan trọng nhất - vùng đất Thánh Jerusalem.





    Về phần mình, sau khi tập trung tất cả lực lượng tại địa điểm đóng quân truyền thống ở Sephorie , Vua Guy đã mắc kẹt với cách đối phó truyền thống chống lại hướng tấn công từ Damacus. Quân đội ở trong các vị trí vững chắc và bằng cách đe dọa các điểm sơ hở của quân đội Saladin họ hy vọng rốt cuộc thì người Hồi sẽ rút lui. Đó là phản ứng để chống lại một cuộc tấn công được báo trước. Thực tế thì sau đó vua Guy đã quyết định giải vây cho Tiberius và giao chiến với quân Saladin trên chiến trường đã được chọn sẵn, một phản ứng đã được tiên liệu trước một cách chính xác. Guy tuy vẫn sợ bị thiệt hại dọc đường bởi quân của Saladin nhưng mặt khác ông ta hy vọng có thể đến kịp tiêu diệt quân Hồi tại vùng phía tây hồ Tiberius, nơi rất khó trốn thoát.

    Như vậy Saladin đã có ưu thế so với quân Latin, dù vậy nơi diễn ra trận đánh sẽ rất thiếu nước dù quân Hồi vẫn duy trì khoảng cách tấn công từ những con suối ở làng Hattin. Như vậy khiến cho Guy đã tiến quân về hướng đó, với bộ binh bảo vệ kị binh, cách duy nhất để tổng tấn công lực lượng chính của Saladin. Tuy nhiên sau đó quân Latin đã thoái lui, dù không rõ tại sao, có lẽ họ đã kém nhuệ khí đi rất nhiều và những cơ khát cồn cào khiến đoàn quân không thể rời xa nguồn nước.

    Sau thảm họa tại Hattin thì tất cả những gì mà phần còn lại của quân Latin có thể làm là cầm cự chờ đợi cứu viện. Mà quân cứu viện thì còn lâu mới đến được dù các thành phố duyên hải luôn có niềm hy vọng rằng quân cứu viện sẽ đến theo đường biển. Điều này lý giải tại sao mà họ thể hiện nỗ lực cầm cự tuyệt vời ,trong đó pháo đài Tyre (Sur) đã thành công.



    "Chedorlaomer bị đánh bại bởi Abraham" tranh tường giữa TK 13 trên trần nhà thờ tại Parma, miêu tả cảnh kị sĩ chiến đấu,dù chỉ người bên trái trong hình là sử dụng cây thương đặt ngang hông .



    "Trận chiến giữa Banu Zabba và Banu Shayba'" bản thảo cuối TK 12 đầu TK 13 Warqa wa Gulshah tại Azarbayjan. Chiến binh đang múa gươm đỡ rừng tên bay đến như mưa.(Topkapi Library,Istanbul, Ms. Haz. 841)

  7. #17
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    DIỄN BIẾN CHÍNH

    Thỏa thuận hưu chiến giữa Saladin và vương quốc Jerusalem mang lại tình cảnh bấp bênh vào đầu năm 1187 ở bờ tây sông Jordan trong khi xa hơn về phía nam Reynald xứ Chatillon vẫn tiếp tục thu thuế vào nhưng người hành hương Hồi giáo di chuyển giữa Ai cập và Syria. Đột nhiên ,mùa đông năm đó Reynald tấn công một đoàn lữ hành lớn, bắt giữ đoàn lữ hành và cả quân hộ tống. Có lẽ ông ta chor ằng một đoàn lữ hành lớn như vậy là vi phạm thỏa ước hưu chiến, hoặc ông ta nghĩ Saladin tiếp tế cho hầu tước Raymond trong cuộc tranh chấp với vua Guy, hoặc ông ta đơn giản chỉ là một kẻ cướp như hầu hết các sử gia Hồi giáo đều tin như vậy. Câu chuyện rằng có một người em gái của Saladin và con cô ta có mặt trong đoàn lữ hành là không đúng sự thật nhưng hành động đó của Raynold, cộng thêm việc vua Guy không có hành động gì để trả người cho Saladin một cái cớ hoàn hảo để tái khởi động cuộc chiến.

    Vào đầu năm Hồi giáo thứ 583 ( 13/3/1187) vị Sultan điều quân từ Damacus tới vùng nhiều nước gần Ras al Mai' và gửi thư yêu cầu các vương quốc láng giềng gửi tình nguyện quân đến chuẫn bị cho cuộc thánh chiến . Một tuần sau ,em trai của ông là Al Adil ,thủ hiến Ai cập dẫn quân từ Cairo đến thẳng Syria. Cùng lúc ,Husam al Din Lu'lu mang 15 tàu gallie từ sông Nile xuôi dòng đến Alexandria. Xa hơn về phía bắc, Taqi al Din mang quân từ phòng tuyến Antioch đến Aleppo. Vào lúc này đang là tháng Hồi giáo Muharram khi có nhiều tín đồ trở về nhà từ Mecca. Vì vậy Saladin cho tụ quân lại tại Ras al Mai' và giao quyền điều khiển cho con trai là Al Afdal và có lẽ e ngại một đợt cướp bóc nữa của Reynold nên ông ta tự mình dẫn quân bản bộ về phía nam Bursa để bảo vệ cho dòng hành hương. Vào ngày 20 tháng tư Taqi al Din tiến quân đến pháo đài Harenc (Harim) , bên phải phòng tuyến Antioch cùng lúc thì một lực lượng nhỏ của Saladin tấn công vùng Oultrejordain . Vào ngày 26 tháng 4, ngày mà đội quân Ai cập của Al Adil dự định đến được Aqabah, Saladin tự mình tấn công thành Krak , bao vây pháo đài để các lực lượng khác tự do tấn công vào các tỉnh lị xung quanh. Saladin cũng lệnh cho Al Afdal tấn công các vùng lân cận phía đông nhưng sau đó hủy mệnh lệnh, bảo Al Afdal đóng quân chờ chỉ thị .

    Trong lúc đó các quý tộc latin cố thuyết phục vua Guy giảng hòa với hầu tước Raymond, người vẫn chiếm đóng vùng đất thuộc về vợ mình tại Tiberius. Một đoàn đại biểu được gửi đi bao gồm Balian d'Ibelin, chỉ huy dòng Cứu thế, Archbishop xứ Tyre, Reynald xứ Sidon và Gerard de Ridefort,chỉ huy dòng Đền. Khởi hành ngày 29 tháng 4, đoàn người di chuyển chậm chạp về Tiberius. Nhưng ngay ngày hôm sau đó, sứ giả của Al Afdal đã đến Tiberius với lá thư của Saladin. Thư viết rất lịch sự xin phép "người bạn", bá tước Raymond cho phép tiền quân của người Hồi băng qua lãnh thổ vào ngày hôm sau. Thư viết , họ mong rằng điều đó không ảnh hưởng đến uy quyền của bá tước ở xứ Galilee , vì họ muốn đến vùng đất của vua Guy ở xung quanh Arce . Không hề biết về đoàn sứ giả đã lên đường kia, Raymond đồng ý với điều kiện người Hồi phải quay lại trong ngày và không được gây tổn hại gì.

  8. #18
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Vào sáng mồng 1 tháng 5, một đội quân Hồi băng qua những bức tường thành Tiberius và rẽ về hướng tây. Nhóm quân từ Jazira được chỉ huy bởi Muzaffar al Din Gokbori ,và một trung đội khác từ Damacus dưới quyền vị amir người Thổ Qaymaz al Najmivà toán của Dildirim al Yaruqi với quân từ Aleppo. Al Afdal thì nắm chủ lực quân đóng lại tại phía đông nam hồ Tiberius. Bá tước Raymond lúc này đã nhận được tin đoàn sứ giả của vua Guy sắp đến và gửi lời cảnh báo gấp cho họ. Lúc này phái đoàn sứ giả không có mặt Reynald xứ Sidon hoặc Balian d'Ibelin người hẹn họ gặp nhau tai la Feve (Al Fulah). Đa phần đoàn sứ giả này đã nghe tin về tiên phong quân Hồi vào đêm hôm trước, thông qua lời cảnh báo của Raymond ở Galilee. Gerard de Ridefort cho tập hợp các hiệp sĩ dòng đền trong khu vực vào đêm 30 tháng 4 và vị chỉ huy dòng Đền mượn thêm 90 hiệp sĩ từ lâu đài Caco (Al Qaqun). Sáng hôm sau Gerard mang những hiệp sĩ này cùng quân bản bộ của mình tới thẳng Nazareth nơi họ nhập với các hiệp sĩ thế tục khác rồi tiến về phía đông hướng đến Nhưng con suối ở Cresson (Ayn Juzah) gần khu vực làng Ayn Mahil hiện nay. Vào lúc này Gerard đã có một lực lượng khoảng 130 hiệp sĩ, một lượng không xác định lính Turcopole và khoảng 400 bộ binh. Lực lượng của Gokbori được cho vào khoảng 7000 ngàn quân dù đấy là con số hơi phóng đại ,có lẽ vào khoảng 700 người là hợp lí.

    Diễn biến trận đánh được ghi nhận cụ thể dù số quân chưa được chính xác. Ngược lại với ý kiến của Chỉ huy dòng Đền và dòng Cứu thế, Gerrald cương quyết tấn công bất ngờ vào quân Hồi. Đây là hành động tự tin thái quá đến mức tự sát, ngày nay các sử gia Hồi giáo cho rằng một trận chiến xáp la cà chớp nhoáng đã diễn ra trong một khu rừng. Các hiệp sĩ dòng Đền và dòng Cứu thế cùng các kị sĩ tiến nhanh và đuổi kịp đối phương dù rằng như vậy họ đã bỏ bộ binh bảo vệ lại phía sau. Đội quân của Dildirim al
    Yaruqi nhận lãnh cú tấn công nhưng họ đã cầm cự xuất sắc. Sau đó Gbkbori và Qaymaz al Najmi phản công với giáo và gươm, kị binh La tin nhanh chóng bị bao vây và tràn ngập. Chỉ Gerard de Ridefort và một nhúm kị binh có thể trống thoát hoặc thoát chết. Quân Hồi sau đó càng quét bộ binh Latin rồi tiến hành cướp bóc các vùng xung quanh. Việc quân của Gokbori sau đó quay trở lại đất của Ramond mà không gây tổn hại gì thêm cho thấy kỉ luật rất tốt của quân Hồi.


    Trận thua tại Các con suối ở Cresson ngày 1 tháng 5 có tác động mạnh mẽ. Dù nó đã khiến vua Guy và Bá tước Raymond gác bỏ mốt bất hòa sang một bên, nhưng Dòng Cứu Thế mất chỉ huy còn dòng đền cũng chịu tổn thất nặng nề. Có thể nhuệ khí của quân La tin chưa bị ảnh hưởng nhưng bên phía quân Hồi thì tăng lên đáng kể. Cùng thời gian này thì hải đội Byzantine của Hoàng đế tiến hành tấn công đảo Cyprus , lảnh thổ của người tranh chấp vương quyền. Chẳng may kẻ nổi loạn này lại là đồng minh của Công quốc Latin Antioch, thế nên Hoàng đế Issac Angelus bị tố cáo là đứng về phe Saladin. Mối liên hệ giữa những người latin và người Chính thống giáo Hy lạp như vậy đã đóng băng trước khi đòn tấn công của Saladin bắt đầu.



    Đỉnh Jabal Tabur (núi Tabor) vươn lên từ những ngọn đồi xứ Galilee, phía xa là làng Ả rập Ayn Mahil gần nơi Các con suối ở Cresson nơi mà quân của Gokbori đánh bại các hiệp sĩ dòng Đền của Gerard de Ridefort vào ngày 1/5/1187.


    HỘI QUÂN


    Xuôi về phía nam quân của Al Adil gia nhập lực lượng nhỏ của Saladin rồi họ quay sang tàn phá vùng Oultrejordain và khuyến khích nông dân di cư về các vùng đất Hồi giáo. Vào cuối tháng 5 thì tất cả những gì Raymond còn giữ được chỉ là lâu đài Krak và Montreal. Tuy nhiên chiến thắng của Gorbori đã làm thay đổi chiến lược của Saladin vì giờ tây quân la tin sẽ tiến về Damacus thay vì giải cứu vùng Oultrejordan. Vì thế Saladin quay ngược lên phía bắc với vài đội quân Ai cập, trong khi Al Adil quay trở về Cai rô, đồng thời lệnh cho Al Adaf chuẩn bị vùng nhiều cỏ và nguồn nước để tập trung một lực lượng lớn quân đội. Cuối cùng khu vực trại của Nur al Din tại Tal 'Ashtarah đã được chọn. Tại đó Saladin và Al Adaf tụ quân vào ngày 27 tháng 5. Một quân lệnh khẩn được ban ra để gom quân vùng Syria và Jaria. Lúc này quân đoàn của Taqi al Din đang bị kìm chân bởi công quốc Antioch hoặc những người Armenia xứ Cicilia nhưng vào đầu tháng Sáu ông ta đạt được thỏa thuận ngừng chiến với họ và đưa lực lượng lớn của mình về phía nam để gia nhập với Saladin. Một cách nhanh chóng các cánh quân từ khắp nơi Syria, Mardin, Nisibin, Diyarbakr và cả những khu vực phía nam Thổ Nhĩ Kì ngày nay cộng thêm Mosul and Irbil phía bắc I rắc đã đến cắm trại tại vùng Tal 'Ashtarah. Đến ngày 24 tháng sáu thì một đại doanh trại Ard tại Tasil đã được thành lập kéo dài vài dặm, quân lực lên đến 12,000 kị binh thiện chiến, cộng thêm các loại quân khác tổng số lên đến 45.000 quân.



    Một lâu đài của quân Thập tự tại Saffuriyah (Sephorie) với của vào chặm đá tinh xảo. Phần trên của nó được xây lại bởi những người Ả rập đại phương dưới quyền Tahar al Umar vào năm 1745. Vào tháng 6 1187 thì quân của Saladin đã hội quân tại những con suối xung quanh đây (ảnh của tác giả)



    Những con suối tại Muzayrib vào đầu mùa xuân. Đất đai màu mỡ phía bắc thung lũng Yarmuk có nhiều con suối như vậy cung cấp nơi đóng quân cho các lực lượng của Saladin. Nơi này không những cung cấp nước cho người mà còn nhiều cỏ cho ngựa chiến. (ảnh của tác giả)


    Các sự kiện kể trên cũng đã đến được vương quốc Jerusalem. Sau trận đại bại tai Suối Cresson bá tước Raymond gởi trả lại toàn bộ lính đã mượn của Saladin và quay sang công khai thần phục vua Guy. Tuy nhiên bên dưới đó vẫn còn âm ỉ những bất mãn, đặc biệt là giữa Raymond và Gerard de Ridefort , chủ soái dòng Temlar. Quân latin bị mất tại Cresson vào khoảng 130 hiệp sĩ và việc Saladin tàn phá Oultrejadan cũng làm suy yếu thêm tiềm lực của họ. Đối diện với tình thế quan trọng này, vua Guy hạ chiếu tuyển mộ toàn bộ người công giáo tòng quân. Cùng lúc Gerard de Ridefort chuyển lượng tiên nhận được từ vua Henry II và ông ta dùng tiên này để tuyển mộ lính đánh thuê, chủ yếu là kị binh Serjeant mà giờ đây chiến đấu như là lực lượng quân đội nước Anh. Đội quân này đóng tại khu vực suối nước xung quanh lâu đài Sephorie (Saffuriyah). Vào cuối tháng sáu, lực lượng này bao gồm 1200 hiệp sĩ, khoảng 4000 kị binh nhẹ Serjeant và Turcopole. Thêm lực lượng bộ binh từ 15.000 đến 18.000 hỗn hợp các loại từ những nỏ thủ thiện xạ đến dân địa phương không có kinh nghiệm tác chiến. Như vậy Saladin đã có lợi thế gấp 2 đến 3 lần về quân số dù quân Hồi kém hơn về quân thiết kị. Các tướng bên phía La tin bao gồm chỉ huy dòng Đền, chỉ huy dòng Cứu thế, Bá tước Tripoli, Reynald de Chatillon, Balian d'Ibelin,
    Reginald xứ Sidon, và Walter Gamier lãnh chúa vùng Caesarea.

    Bên phía đội ngũ của Saladin cũng đã duyệt xong. Taqi al Din nắm phía cánh phải, Gobori bên trái , Saladin ở trung quân kiêm thông lãnh binh tiên phong và hậu quân. Vào ngày 26 họ tiến binh đến Khisfin vùng cao nguyên Golan. Ngày tiếp sau họ tràn đến cực nam cao nguyên ,cắm trại tại
    Al Qahwani, khu vực đầm lầy nằm giữa hồ Tiberius và 2 con sông Jordan và Yarmouk. Những toán quân nhỏ được tung ra băng qua Jordan để tấn công khắp khu vực Nazareth, Tiberius và núi Tabor. Như vậy cuộc xâm lăng đã bắt đầu.

    Vua Guy nắm giữ vị trí thông soái các đạo quân ở Acre cũng đã di chuyển tới Sephorie để chuẩn bị. Thời điểm chính xác quân của Saladin băng qua Jordan có lẽ nhằm ngày 30 tháng 6, họ bao vây Tiberius và cử trinh sát đến Sephorie còn quân chủ lực hạ trại tại Cafarsset (Kafr Sabt). Khu vực này có nhưng con suối nằm giữa, ngăn cách với phía vị trí của quân Latin. Ngày 1 tháng 7, Sladin tự minh tiến quân tới Sephorie, có lẽ hy vọng càn quét lực lượng của vua Guy ra khỏi đây. Cùng này ông tung tiền quân tiến đến Lubia (Lubiyah) vị trí nằm giữa lộ trình giữa Sephorie và Tiberius.

    Ngày mồng 2 tháng 7 ,Saladin tấn công Tiberius với một phần lực lượng có sử dụng cả các chiến cụ công thành , như vậy ông ta cũng đặt mình vào thế nằm giữa quân phòng thủ Tiberius và lực lượng chính quân Thập tự nếu nó tấn công từ Sephorie. Với một bên là hồ lớn và một bên là dốc núi dựng đứng thì sẽ khó rút lui và thoát khỏi đây trong trường hợp thất bại nhất là lực lượng của Saladin chủ yếu là ki binh. May mắn là lực lượng phòng thủ tại Tiberius đã bị rút giảm đáng kể và thành bị đạ bị hạ vào lúc đêm xuống. Quân phòng thủ và nữ bá tước Eschiva -vợ của Raymond rút lui về nơi trú ẩn và tiếp tục kháng cự quân Hồi.



    Bên trái là kị binh Hồi ,bên phải là lính kị Serjeant với cờ hiệu (tranh vẽ của Angus McBride.)



    Phần còn lại của nhà thờ thiên chúa và tường thành góc đông bắc Tiberius nằm về phía nam Tiberius ngày nay. Lực lượng của vị Sultan nằm ở phía xa trên đỉnh đồi
    .

  9. #19
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    37
    Trong lúc này thì vua Guy vẫn chỉ huy hội đồng ở Phephorite. Bá tước Raymond không đồng ý tiến quân để giải vây cho Tiberius vì đó rõ ràng là điều Saladin muốn. Nếu họ cố thủ thì khi đó Saladin phải lựa chọn hoặcrút lui hoặc phải tấn công vào vị trí khiên cố của đối phương. Còn nếu họ tiến quân mà lúc này đang giữa mùa hè, họ sẽ thiếu nước trên đường đi vì không có nguồn cung cấp nào trên sa mạc, Raymond cũng nhấn mạnh rằng họ cũng sẽ không kiếm được thức ăn cho ngựa. Nhiều người trong hội đồng vẫn giữ sự nghi ngờ với Raymond như là kẻ phản bội vì quá khứ liên minh với Saladin của ông ta, còn Gerard de Ridefort thì quy kết ông ta là kẻ hèn nhát không hơn. Đến lúc ấy thì Raymond vẫn thành công khi thuyết phục họ án binh bất động. Suốt tối mồng 2 tháng 7, Gerard de Ridefort liên tục nài nỉ vua Guy bằng đủ lý lẽ cả ngoại giao và quân sự, có lẽ ông ta cũng nhấn mạnh rằng tiền của vua Henry đã được dùng hết mà không tham vấn ý kiến của ông ta nên giờ đây nó không thể bị lãng phí.

    Cuối cùng vào sáng ngày 3 tháng 7, quân Cơ đốc thức dậy vào rạng sáng và được thông báo rằng họ sẽ hành quân đến Tiberius. Có nhiều lộ trình khả dĩ để khởi hành. Họ có thể vòng qua phía nam về hướng Casal Robert (Kafr Kana) sau đó đi về đông bắc để nhập vào đường lớn đến Tiberius gần Touraan (Tur'an) nơi có một con suối nhỏ, hoặc nó có thể thẳng tiến đến Touraan bằng cách đi thẳng hướng bắc sau đó rẽ sang phía đông. Cách vài kilomet phía đông Touraan thì con đường rẽ nhánh, hướng chính đến thằng vị trí của Saladin ở Cafarsset, trong khi nhánh kia cũng đến Tiberius nhưng lươn lên phía bắc đến Lubia và vịnh Hattin . Cách Tiberius khoảng 2 km thì cả hai nhánh đường nhập lại và xuôi theo triền dốc dẫn thẳng xuống hồ. Con đường phía bắc giữa Touraan và Tiberius rẽ nhánh khoảng cách Lubia khoảng 2km. Ở đây có đường mòn lương lên phía bắc về phía bên kia của vịnh Hattin. Con đường dốc đổ xuống theo hướng các dòng suối và đi qua hẻm núi nổi tiến Wadi Hammam để đến hồ nước tại Magdala (Al Majdal).

    Vua Guy chọn hướng đi đến Casal Robert. Đội quân khởi hành vào sáng sớm với với ba quân đoàn trong đó Bá tước Raymond dẫn tiền quân, vua Guy ở trung quân nơi có mang theo vật Thánh tích, cây thập giá được cho là đã đóng đinh chúa Jesus được canh gác bởi các giáo sĩ xứ Acre và Lidde (Lydda). Balian d'Ibelin chỉ huy hậu quân nơi có lực lượng hiệp sĩ dòng Đền. Mỗi quân đoàn đều có kị binh được bảo vệ bởi bộ binh xung quanh. Một vài điềm gở được báo trước xói mòn nhuệ khí của binh sĩ, mà có lẽ họ sẽ còn thất vọng hơn nữa nếu biết mình sẽ tham gia chặng hành quân dài, nóng nực, đầy gió bụi và khát khô cổ họng ngay cả nếu họ không phải gặp địch quân. Khi đoàn quân vừa khởi hành, một phụ nữ Hồi được cho là tâm thần bất định đã hát nguyền rủa họ. Các binh sĩ bức bối bèn cố thiêu cô ta bằng một đống lửa nhưng không thành công nên một binh sĩ đã chẻ cô ta bằng rìu. Còn ngựa chiến thì được kể đã không chịu uống nước trước khi khởi hành, làm trầm trầm trọng thêm vấn đề thiếu nước khi hành quân.

    Lúc này Saladin đang ở bên ngoài thành Tiberius được tin quân địch xuất phát ngay lập tức cho quân trở về nơi đóng trại chính ở Cafarsset chỉ để lại một lực lượng nhỏ canh phòng Tiberius. Các biệt đội được phái đi quấy rồi quân địch trong khi lực lượng chính vẫn chờ đợi cho đến khoảng 10h khi vua Guy đến được Touraan. Một vài nhóm quân cơ đốc tách ra để đến uống nước tại suối Tourraan trong khi lực lượng chính vẫn tiến lên phía trước. Việc không nghỉ để uống nước làm xuống tinh thần binh lính. Sự quấy rối càng được tăng cường khi họ tiến gần đến vị trí của Saladin ở Cafarsset, với cái nóng thiêu đốt, cơn khát trong tiếng trống trận thình thịch của quân Hồi và lúc này một phần ngựa chiến liên tục bị triệt hạ bằng tên. Các cuộc tấn công tái diễn vào buổi chiều càng kéo chậm bước tiến của đoàn quân và khi Bá tước Raymond dẫn tiền quân đến được con đường gần Manescalcia (Miskinah) thì được tin báo hậu quân phía sau đã buộc phải tạm nghỉ chân dọc đường. Đây là bước ngoặc quan trọng đã làm thay đổi kế hoạch của họ.
    Tin chắc rằng họ không thể xuyên phá quân của Saladin phía trước, bá tước Raymond thuyết phục vua Guy rẽ trái theo dường nhỏ đến khu vực có các con suối ở Hattin cách đó chỉ 6 km. Từ chỗ ấy thì họ thể đến kịp hồ Tiberius vào ngày hôm sau.

    Đội quân giờ đây dàn trải ra trên khu vực đất bằng kéo dài chí ít là 2 km với việc Jabal Tur'an kéo dài cánh quân bên sườn trái dọc theo khu vực rừng cây xuôi xuống một ngọn đồi ở làng Nimrin. Bên cánh phải là những khu làng xứ Sejera (Shajarah) và Lubia nằm cạnh khu rừng bên kia sườn đồi. Phía trước là vịnh Hattin mà họ có thể thấy được mặt nước hồ Tinerius bên phải nó. Làn nước mát lạnh trông có vẻ gần đối với những con người tuyệt vọng song sự thật là nó cách xa những 12 km nữa. Quân cơ đốc cố gắng đổi hướng và nhanh chóng rơi vào tình thế bối rối. Saladin chắc chắn luôn có cái nhìn toàn cảnh từ những ngọn đồi phía nam đã nhận ra họ cố làm gì nên đã gởi quân đoàn của Taqi al Din đến để chặn đường đến Hattin. Nếu Taqi al Din vẫn phụ trách cánh trái của Saladin thì quân đoàn này sẽ giao chiến trực diện với quân của Raymond. Raymond cũng biết quân Hồi cố chặn đường đến Hattin nên cố gắng tăng tốc nhưng việc này là không thể. Bối cảnh Taqi al Din tiến công vào cánh trái tiền quân cơ đốc như thế nào chưa được rõ ràng. Có lẽ quân của ông ta bố trí ở nhưng ngọn đồi đông bắc Lubia, khóa con đường chính đến Hattin. Vì nhanh hơn nên họ có lẽ đã tiến sang bên phải ,đâu lưng lại với khu đồi gần làng Nimrin. Như vậy sẽ khóa được con đường từ Manescalcia đến cuối bình nguyên nơi đổ xuống là những con suối ở Hattin. Nhưng đồng thời như vậy cũng lại mở ra lối chính ở phía đông, vì thế Saladin có thể di chuyển trung quân đóng trệch về phía cánh phải. Vị Sultan chắc chắn đã đóng đại bản doanh ở khu đồi gần làng Lubia tối đêm hôm trước.






    Ngôi làng Tur'an ,một trong số ít ỏi khu làng của người Ả rập còn tồn tại sau cuộc càng quét của Isarel. Nằm phái trước ngọn đồi Jabal Tur'an và có con suối duy nhất giữa Saffuriyah và Hattin. Nơi đây đoàn quân của vua Guy đã đi quan vào ngày 3/7/1187 nhưng không dừng lại để uống nước (ảnh tác giả)

  10. #20
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    119
    Gorbori bên cánh quân phía trái của Saladin bố trí quân xung quanh những ngọn đồi gần Sejera có lẽ đã tấn công hậu quân của vua Guy khiến cho ông này phải ra lệnh dừng chân. Các hiệp sĩ dòng Đền cố gắng đột phá vào quân quấy rối để buộc họ rút lui nhưng không thành công. Lúc này Bá tước Raymond thốt lên " Lạy chúa, trận đánh như thế đã định đoạt, chúng ta đã bị phản bội, đất đai đã bị mất rồi !" và cố gắng thuyết phục vua Guy rút quân và đóng trại xung quanh Manescalcia dù nhưng những khác vẫn cố gắng thử tấn công vào vị trí của Saladin như là cơ hội cuối cùng để chiến thắng. Lúc này vị vua đồng ý nghe theo Raymond, có lẽ hy vọng sẽ tấn công về suối Hattin vào ngày hôm sau khi đã sắp xếp lại đội hình. Nhưng quân Hồi tiếp tục quấy phá họ mãi cho đến tận khi đêm xuống.

    Khu vực đồi chỗ quân cơ đốc hạ trại có nhiều cây cối . Quân đoàn của Taqi al Din đóng tại khu bình nguyên giữa Nimrin và vinh Hattin, còn quân của Saladin đóng xung quanh đồi Lubia. Không rõ Gorbori đóng trại ở đâu nhưng có lẽ cũng gần thung lũng nơi họ giao tranh với quân cô đốc. Trong đêm đó thì hai bên ở gần nhau đến nỗi quân canh hai bên có thể nghe thấy nhau. Khát khô và chán nản quân La tin lại phải nghe tiếng trống trận, tiếng cầu nguyên , tiếng hát của quân Hồi trong khi đó điều kiện bên trại quân Hồi hoàn toàn khác hẳn. Đêm đó Saladin cho quân nghỉ tại Cafarsset, bao gồm cả bộ binh. Hơn bốn trăm bao tên đã được phân phát và quân lính cũng được cung cấp quân lương đầy đủ. Bảy mươi con lạc đà chở bao đựng tên đã sẵn sàng chuyên chở cho trận chiến hôm sau. Trong khi quân cơ đốc lả đi vì khát thì quân Hồi lại có từng đoàn lạc đà thồ bao chở nước da dê đến từ Hồ Tiberius. Những túi này được đổ vào hồ chứa trong các trại của quân Hồi. Quân của Saladin cũng thu thập nhiều bụi cây xung quanh khu đồi vốn có nhiều cây kế khô héo (một loại cây dại có hoa màu đỏ hoặc vàng) vào thời điểm đó trong năm. Họ dùng chất đống cây bụi này tung theo chiều gió về phía trại của quân cơ đốc để cản tầm nhìn khi giao chiến.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •