Trang 3 của 3 Đầu tiênĐầu tiên 123
Kết quả 21 đến 28 của 28
  1. #21
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    ĐẠI CHIẾN TẠI HATTIN



    Bình minh ngày 4/7 đoàn quân cơ đốc thức dậy chuẩn bị khởi hành. Bá tước Raymond lại nắm tiền quân, bổ sung thêm quân từ Antioch. Quân Latin đã nhụt chí xong Saladin không cản trở quá trình chuẩn bị của họ, có lẽ ông ta không chắc họ sẽ cố gắng tiến về làng Hattin hay là tấn công liều chết về phái đóng quân của mình. Không rõ khi nào thì quân Hồi đốt khói của các đám cây bụi, có thể lúc trước khi quân địch chuẩn bị đội hình hoặc lúc bắt đầu giao tranh hoặc khi các đạo quân cơ đốc rút lui về vịnh Hattin. Những đống lửa này đã được Saladin cho chuẩn bị cẩn thận từ trước sắp xếp theo thứ tự khi quân địch tiến đến. Những đống lửa cuối cùng được đốt bởi quân tình nguyện, còn thay phiên nhau chuẩn bị đống củi là nhóm quân đặc biệt của Saladin muttarpiya, tuy đông nhưng không trải qua huấn luyện. Quân Hồi cũng đầu độc nguồn nước ngầm từ nước hố đào từ đêm hôm trước.

    Vài hiệp sĩ có kinh nghiệm phục vụ cho quân Hồi thúc dục vua GUy phải tấn công ngay vào vị trí của Saladin nhưng bị gạt bỏ, đoàn quân tiến thẳng về Hattin cách đó vài dặm đường. Tình hình xấu đến nỗi sáu hiệp sĩ và vài lính serjeant đã từ bỏ hàng ngũ và đầu quân cho Saladin đồng thời báo cho ông ta biết đấy là thời cơ thuận lợi để tấn công. trong số này có Baldwin de Fotina, Raulfus Bructus và Laudoicus de Tabaria. Lúc này Saladin tung quân trung tâm và có thể cả quân cánh trái của Gorbori tấn công. Quân dòng Đền chống trả và cánh quân tiên phong của Raymond cũng giao chiến với quân bên mạn phải của Taqi al Din đang chận đường. Sử gia duy nhất miêu tả cảnh quân thập tự sắp sửa phá được vòng vây là Ibn Khallikan khi viết trong tiểu sử về Gokbori và Taqi al Din "cả hai vị tướng, ông ta viết, đều cố gắng giữ trận địa trong lúc quân đội đang tan tác và rút lui. Binh lính sau đó biết rằng hai vị chỉ huy vẫn cố bám trụ quyết chiến bèn quay lại tấn công và cuối cùng người Hồi đã chiến thắng ". Saladin cũng mất một tướng trẻ yêu của mình, một vị amir tên là Manguras ngay lúc bắt đầu giao tranh, ông này tham chiến bên cánh phải là thống chế xứ Hama dưới quyền Taqi al Din. Manguras vượt lên trước và giao chiến tay đôi với một hiệp sĩ vô địch nên ngã ngựa và bị chặt đầu. Các nguồn khác thì nói anh này bị bao vây và bị hạ bởi số đông.

    Quân cơ đốc tấn công theo đội hình tiêu chuẩn với những hàng bộ binh gồm cả cung thủ nỏ thủ để bảo vệ kị binh. Kị binh đã đầy lùi đợt tấn công đầu tiên của Saladin nhưng lại mất nhiều ngựa chiến. Tệ hơn là bộ binh đã bị phá vỡ và một số chạy dạt về phía đông. Các nguồn Hồi giáo cũng đồng tình rằng các binh sĩ khát nước đã bỏ chạy về phía hồ Tiberius dù nơi này xa hơn nhiều so với suối Hattin. Các sử gia Cơ đốc lại viết rằng binh lính tìm nơi trú ẩn tại vịnh Hattin nhưng các nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng họ không thể làm điều đó khi phải vượt qua đội quân của Saladin. Joshua Prawer ,một chuyên gia về trận đánh thì cho rằng Saladin đã dùng toàn bộ lực lượng bao vây quân cơ đốc với cả cánh quân của Taqi al Din bên cánh trái và Gorbori bên cảnh phải còn lực lượng trung tâm của Saladin tấn công vào phía trái quân cơ đốc. Nhưng Saladin đóng trại ban đêm tại Lubia ở phía nam , và mục tiêu tối thượng của ông ta là ngăn quân cơ đốc tiếp cận với nguồn nước cả ở làng Hattin phía đông bắc hay về phía hồ Tiberius phía đông.

    Lý giải hợp lý sẽ là Taqi al Din khóa đường đến Hattin bằng cách chốt tại cửa vịnh cho đến đồi Nimrin còn quân trung tâm của Saladin sẽ trải từ cửa vinh đến đồi Lubia để chận đường đến Tiberius trong khi quân đoàn của Gorbori sẽ đóng giữa đồi Lubia và núi Jabal Tur'an để chận đường rút lui về phía tây đến làng Touraan. Dựa lựng vào phía núi là chiến thuật phổ biến trong kỵ binh Thổ. Ngược lại thì đóng xung quanh một ngọn đồi trung tâm mới là chiến thuật đặc trưng của bộ binh. Rõ ràng Saladin lo ngại việc quân latin có thể thoát về Tiberius nên ông ta ra quân lệnh bằng mọi giá phải chặn họ lại. Thế nên đợt tấn công đầu tiên của Raymond đã làm lỏng mối liên kết giữa Saladin và cánh quân của Taqi al Din. Nếu điều này xảy ra thì bọ binh đang bỏ chạy về phía đông có thể đến được hồ Tiberius vốn có thể nhìn thấy được phía bên phải của vịnh. Nếu muốn chặn đường đó Saladin sẽ cho quân tràn qua cánh phải. Trong cố gắng để lập tường phòng thủ vua GUy đã ra lệnh dừng quân hạ trại tuy nhiên tình cảnh quá rối loạn nên chỉ có 3 lều được lập gần chân núi đâu đó phía tây ,tây nam gần Vịnh. Khói từ các đống cây bụi cũng phát huy hiệu quả, làm cay mắt quân cơ đốc và làm cơn khát nước thêm khô khát. Mùa này gió thổi từ hướng tây và quân muttawiya lợi dụng khi họ đốt lửa từ các khu đồi giữa Jabal Tur'an và Nimrin.Số quân Hồi xung quanh vinh Hattin cũng phải chịu đựng khói này, nếu không lẽ tạo khoảng trống giữa Saladin và Taqi al Din.

  2. #22
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Cùng lúc này Bá tước Raymond xứ Tripoli thực hiện cuộc tấn công mở đường máu để chạy về phía bắc và thoát được cảnh bị tiêu diệt hoàn toàn. Đây
    cũng không hẳn là hành động phản bội mà đúng hơn là ý định phá vỡ vòng vây và cố chạy về phía nguồn nước ở làng Hattin. Cuộc tấn công này có thể là mệnh lệnh của vua Guy. Một điều chắc chắn là Taqi al Din và đoàn quân thiên chiến của ông ta thay vì ngăn cản Raymond đã vòng sang một bên và cho phép người của Raymon chạy thoát qua khe núi. Một vài nhà nghiên cứu lại cho rằng những bộ giáp quá nặng của các hiệp sĩ TK 12 có thể đã khiến họ bị động lực di chuyển kéo trượt xuống làng Hattin, điều này thật kì cục. Quân của Taqi al Din ngay lập tức vòng lại vị trí cũ và bịt ngay đỉnh khe núi khiến Raymond không thể quay ngược và tấn công ngược lên đỉnh dốc chật hẹp. Như vậy là Raymond không con đường nào khác là chạy thoát xuống các cánh đồng bên dưới về phía Wadi Hammam để đến hồ Tiberius hoặc chạy lên phía bắc thành Tyre.

    Trận địa của quân Cơ đốc giờ đây rối loạn hàng ngũ và phần lớn bộ binh đã chạy về phía vịnh Hattin và cho cụm lại ở khu vực phía bắc. Đây là điểm đáng chú ý vì khi Taqi al Din cho quân di chuyển lên đồi Nimrin để mở lối thoát cho Raymond thì ông ta đã nới lỏng hoặc để trống một ngõ phía nam vịnh Hattin giữa lực lượng của mình và Saladin. Có lẽ quân lính đã di chuyển theo hướng đông bắc để giúp cuộc đột kích của Ryamond hoặc đơn giản là họ chạy theo vì hy vọng có đường thoát thân. Nhưng lần này lối thoát đã bị bít lại nên họ đã bị dạt về phía mỏm phía bắc vịnh. Sĩ khí đã phá sản hoàn toàn và bộ binh tại mỏm phía bắc không chịu đến chiến đấu bên cạnh lực lượng kị binh lúc này vẫn còn đánh nhau dữ dội tại khu vực ba bãi cắm trại ở chân đồi. Vua Guy cũng ra lệnh, thậm chí các giáo trưởng van nài họ rằng họ phải bảo vệ Thánh Giá nhưng bộ binh trả lời " Chúng tôi không xuống đó đâu vì chúng tôi quá khát, và chúng tôi sẽ không chiến đấu nữa ". Khi đó thì đám ngựa chiến không được bảo vệ bị hạ bởi cung tên của quân địch và các hiệp sĩ phải chiến đấu trên mặt đất.

    Đến nước này thì vu Guy chẳng thể làm gì ngoại việc ra lệnh cho các hiệp sĩ cố giữ vị trí ở khu vực phía nam vịnh. Lều trại của hoàng gia vốn đỏ chói dễ dàng nhìn thấy từ rất xa từ phía nam Vịnh. Thánh Giá thì bị mất trong đám loạn quân, có thể là bị chiếm bởi quân của Taqi al Din. Có nguồn nói rằng Taqi al Din sau khi cho Raymon thoát qua đã quay lại tấn công dữ dội, giáo trưởng xứ Acre người bảo vệ Thánh Giá bị giết, Thánh Giá sau đó được giáo trưởng xứ Lidde mang đi rồi cuối cùng lọt vào tay Taqi al Din. Vài nhà nghiên cứu lại cho rằng Thánh Giá được khi giáo trưởng xứ Lidde mang chạy về phía nam Hattin và bị mất khi Taqi al Din tấn công. Dù như thế nào thì việc để mất thánh tích cũng làm sụp đổ tinh thần.

    Người Hồi giờ đây tấn công vinh Hattin từ mọi hướng, khu vực đồi dốc phía bắc và phía đông quá dốc cho kị binh dù có đường nhỏ lên từ phía bên kia mỏm phía bắc. Bộ binh Hồi tấn công vào bộ binh latin ở phía bắc hatiin vào đầu buổi chiều và số này nếu không chết, hoặc bị hất xuống vực buộc phải đầu hàng. Saladin lệnh cho Taqi al Din tấn công vào vị trí phòng thủ cuối cùng của các hiệp sĩ ở phía nam Vịnh. Việc này quá khó khăn dù không phải là không thể để ki binh tấn công lên các triền dốc phía nam và Saladin tự mình đảm đương luôn khu vực này. Vì vậy , có vẻ là trong khi bộ binh Hồi tấn công ở mỏm phía bắc thì Taqi al Din dẫn quân leo dọc theo sườn dốc thoai thoải ở phía tây để di chuyển vào trung tâm. Vì sự vận động này nên các hiệp sĩ vẫn còn ngựa đã tái lập nhóm, có lẽ ở khu vực bình nguyên rộng và thực hiện được những đợt phản kích mãnh liệt. Một trong số họ thúc ngựa đến được gần vị trí của Saladin và thét lên " cút đi với quỷ dữ " . Có lẽ các hiệp sĩ cơ đốc vẫn hy vọng cố giết được Saladin để nắm lấy chiến thắng trong giây phút cuối cùng. Nếu quân cơ đốc đến được gần như vậy thì có lẽ lúc này trung tâm lực lượng Hồi đã di chuyển về phía tây nam khu vịnh. Hai lần quân Hồi tấn công ngược sườn đồi và cuối cùng giành được quyền kiểm soát khu vực yên ngựa giữa các mỏm đèo. Al Afdal trẻ tuổi đi bên cánh phải cha mình hét lên " chúng ta đã chinh phục được họ". Nhưng Saladin trả lời " Im lặng. Chúng ta sẽ chưa đánh bại họ cho đến khi trại cuối cùng bị phá vỡ ". Ngay khi ông quay sang thúc kị binh tìm đường lên đỉnh phía nam thì người nào đó đã cắt được dây thừng và trại chính của vua Guy sụp đổ .

    Điều đó, đúng như lời Saladin dự kiến, là dấu hiệu kết thúc trận đánh. Quân cơ đốc kiệt sức quăng mình nằm trên đất và để bị bắt giữ không chống cự. Một số lớn hiệp sĩ trang bị tốt bị giết hoặc bị thương còn số ngựa bị mất và tổn thất của bộ binh còn cao hơn nữa. Không có thông tin về diễn biến canh quân bên trái của Gorbori vào giai đoạn cuối trận đánh. Quân đoàn này có lẽ không tham dự trận đánh khi quân Cơ đốc bị bao vây hoàn toàn bởi cánh quân của Saladinv và Taqi al Din. Bên cạnh đó thì một số hiệp sĩ ở hậu quân bao gồm cả Balian d'Ibelin, thoát được ở cuối trận đánh. Reginald xứ Siddon cũng thoát được vào lúc ấy. Điều này có thể cho thấy một số điểm bất cẩn trong cách dùng quân của Gorbori nhưng các sử gia Hồi giáo thường lờ đi vì không muốn phủ bóng mờ lên chiến thắng huy hoàng.



    Thế trận Hattin khoảng từ trưa đến đầu buổi chiều



    Khung cảnh từ phía bắc vịnh Hattin nhìn về hướng tây, ngọn đồi ở gần nhất có lẽ là nơi xác binh sĩ Hồi được hỏa táng. Ở phía bên kia ngọn đồi là hẻm núi nơi Bá tước Raymond dẫn quân chạy thoát thân sau khi quân đoàn của Taqi a I Din chuyển dịch sang một bên mở lối cho họ . Ở phía xa nữa có thêm một khe núi và những khu rừng cây xung quanh tàn tích của ngôi làng Nimrim.(ảnh tác giả)



    Hẻm núi nhìn về hướng các dòng suối ở Hattin nơi mà kị binh của Bá tước Raymond chạy thoát. Ngôi mộ của Nabi Shu'ayb (Jethro) ngày nay là chốn linh thiên của người Ả rập Druze



    Thế trận Hattin vào buổi chiều

  3. #23
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Trong số những người bị bắt giữ có cả vua Guy, em của ông ta Geoffrey de Lusignan,đại quan Connetable là Amalric de Lusignan, Marquis William de Montferrat, Reynald xứ Chatillon, Humphrey de Toron, chỉ huy dòng Đền, chỉ huy dòng Cứu Thế, giáo trưởng xứ Lidde và nhiều lãnh chúa địa phương khác. Hầu hết các chỉ huy của vương quốc ngoại trừ bá tước Raymond, Balian d'Ibelin và Joscelyn de Courtnay đã rơi vào tay Saladin. Rộng lượng tỏ ra hào hiệp sau chiến thắng oai hùng, vị Sultan sai mang cho vua Huy một li nước ngọt mát lạnh. Nhưng sau khi uống vua Guy lại chuyển ly cho Reynald xứ Chatillon, người mà Saladin đã thề lấy mạng. Theo phong tục của người Ả rập thì nếu một người được nhận thức ăn và nước uống từ người bắt giữ mình thì anh ta sẽ được vô hại. "Nước uống được chuyển cho tên tội phạm này mà chưa có sự đồng ý của ta" ,vị Sultan quan sát thấy " như vậy phép miễn tội của ta cũng không giành cho hắn". Reynald biết ngày tàn của mình đã tới nên trả lời các câu hỏi của Saladin với thái độ kiêu căng khiến vị Sulatan không còn giữ được sự kiên nhẫn. Hoặc đích thân Saladin giết chết Reynold tại chỗ hoặc ông ta đã ra lệnh cắt đầu lãnh chúa vùng Oultrejordain . Saladin sau đó dùng tay nhúng máu kẻ thù rồi quét lên mặt mình như là dấu hiệu ông ta đã thực hiện việc báo thù. Không ngạc nhiên gì là những kẻ bị bắt còn lại hết sức kinh hoảng nhưng sau các hành động mang tính biểu trưng như thế của Saladin ,họ biết họ đã được an toàn. kẻ thắng và kẻ chiến bại nghĩ đêm tại chiến trường và sáng hôm sau ngày 5 tháng 7, Saladin chuyển quân về thành Tiberius nơi mà nữ bá tước Eschiva cũng đã đầu hàng.

    Tất cả các lính Turcopoles bị giết hay tại trận vì phản bội niềm tin của đạo Hồi. Phần còn lại của tù nhân được chuyển đến Damacus vào ngày 6 tháng 7 nơi mà Saladin ra một quyết định gây ảnh hưởng đến danh tiếng nhân đạo của mình. Các hiệp sĩ dòng Đền và cứu thế được lựa chọn hoặc cải sang đạo Hồi hoặc bị xẻo thịt. Cải đạo dưới sự đe dọa là ngược lại với luật Hồi giáo nhưng Saladin có vẻ thấy rằng để nhưng thủ lãnh quân sự này, vốn sùng đạo và lập thệ bằng máu này tồn tại là quá nguy hiểm, hơn 230 người đã bị giết chết. Một số thì chấp nhận cải đạo và một người thuộc dòng Đền gốc Tây Ban Nha sau này đã trở thành chỉ huy pháo đài tại Damacus vào năm 1229. Nếu sống sót sau trận Hattin thì ông này quả là người rất cao tuổi. Một số hiệp sĩ và chỉ huy được nộp tiền chuộc thân còn hầu hết bộ binh phải trở thành nô lệ.

    Có lẽ khoảng 3000 quân lattin thoát được ở trận Hattin và chạy dạt vào các pháo đài hay khu làng xung quanh đó. Một thời gian sau Saladin cho xây dựng phía nam mỏm Hattin một đài ghi công Qubbat al Nasr - Vòm Chiến Thắng nhưng ngày nay không còn lại gì dù phần móng của nó gần đây đã được khai quật. Lính Hồi tử trận được hỏa thiêu trong dnah dự nhưng không rõ địa điểm ở đâu. Một vị trí có khả năng là khu mộ táng Hồi giáo Shaykh al Lika (Trận chiến của người xưa) ở phía tây bắc Vịnh nhìn về suối Hattin.



    Dốc thoải đầy đá cuội ở sườn tây của khu vực võng hình yên ngựa ở mỏm Hattin, nơi mà có lẽ quân Cơ đốc dùng như rào chắn để chốn lại kị binh Hồi



    phía nam mỏm Hattin nhìn từ phía bắc, nơi các hiệp sĩ cơ đốc chiến đấu khi mất hết ngựa do tên của quân Hồi. Trại của vua Guy lập ở phía bắc khu đồi hoặc ở khoảng yên ngựa chính giữa.



    Sườn dốc dựng đứng phía tây nhìn từ khu vực trũng yên ngựa giữa mỏm Hattin. Ngay cả kị binh nhẹ của Saladin cũng không thể vận động được và nơi đây có lẻ bộ binh Hồi đã tấn công. Ở phía xa là núi Wadi Hammam mọc lên từ hồ Tiberius




    Đỉnh cao nhất của mỏm Hattin nhìn từ phía nam, nơi mà vua Guy cùng các hiệp sĩ đã kháng cự lần cuối cùng, xa ở phía bắc là nơi bộ binh latin bỏ chạy.




    Con đường mòn quanh co dẫn từ đỉnh phía nam vào khu vực uyên ngựa giữa hai đỉnh đồi. Nơi đây quân đoàn của Taqi al Din bên cảnh phải và quân của Saladin tổng tấn công lần cuối khiến toàn bộ quân địch đầu hàng.

  4. #24
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Thanks bác đã dịch cuốn này.

    Tuy nhiên có 1 số chỗ trật nghĩa. Ví dụ:


    Lính hỗ trợ kị binh kiểu Thổ. Người này mang áo khoác kiểu hai cổ , đội mũ lông có chỏm dài phía sau đặc trưng của chiến binh. Anh ta đang kéo loại tên majra dùng để băn tầm gần. Ảnh của Angus McBride.
    Nguyên văn:


    Turcoman auxiliary cavalry. This tribeman wears a Typical Turkish double-breast coat over a mail hauberk and has a fur-lined hat of the tribal elite.His bow include a majra (arrow-guide for shooting short darts).
    Đầu tiên, Turcoman nói cho rõ ra là người Đột Quyết Man ở Trung Á và Trung Đông, có thể gọi là tổ tiên của người Thổ ở Anatolia sau này (do đó có tên Thổ Nhĩ Kì-Turkey), cần tránh nhầm lẫn. Gọi là tribeman- "dân bộ tộc" là vì đây là quân auxiliary, bình nhật sinh sống làm ăn như người du mục, đến thời chiến thì cả bộ tộc được thuê hoặc yêu cầu tham chiến, chứ ko gắn liền với cơ chế hành chính nào.

    Gọi thế là để phân biệt với những người du mục rời bỏ bộ tộc đi tham gia quân đội chính qui, thường trực, ta gọi nôm na là "đánh thuê" [IMG]images/smilies/10.gif[/IMG]. Lực lượng kị binh Tawashi của triều Ayyubid bao gồm những người này kèm theo 1 số mamluk (hay còn gọi là ghulam).

    Kế nữa, double breast là kiểu áo ngực có hai vạt đắp lại, tương tự áo Tàu vậy. Mà thực ra cái áo này do ai học ai thì cũng phải xem lại...

    Mail hauberk là áo giáp chain mail dài tới đùi và giữa tay, bác sót câu này.

    "fur lined hat of the tribal elite"- ý là loại nón viền lông dành cho thành viên cao cấp của bộ tộc.

    Khúc cuối: His bow include a majra (arrow-guide for shooting short darts) - có nghĩa là "cây cung của anh ta còn kèm theo bộ phận dẫn tên gọi là majra, chuyên dùng để bắn mũi tên ngắn".

    (Thực tế cái này majra này là để cây cung có thể dùng tạm nỏ, để tăng độ chính xác khi snipe).

  5. #25
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    thank bác savaran góp ý về dịch thuật

  6. #26
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Đến Jerusalem vào trước 20 tháng 9 , Saladin và các công binh có thời gian nghiên cứu tường thành ở đây trong lúc quân đội lập trại. Bình minh ngày hôm sau họ tấn công góc tây bắc của tường thành khoảng giữa hai cổng Bab Yafa (David Gate) and the Bab Dimashq (St. Stephen Gate). Cả hai bên đều hò reo xông trận và tên bắn xối xả về phía quân thủ thành. Tất cả các thầy y trong thành phố được trưng dụng để nhổ tên từ những người chết hay bị thương. Tác giả khuyết danh của cuốn De Expugnationae Terrae Sanctae kể lại rằng mình bị tên bắn trúng ngay sống mũi và rằng "đầu kim loại của nó còn ở đó mãi về sau " . Nhiều laoị máy bắn đá Mangonels thi nhau bắn phá công, tường và tháp canh trong khi công binh của quân Cơ đốc ở hai tháp David và Tancred cố gắng bắn trả. Quân phòng ngự cũng chiến đấu điên cuồng và đôi lần xông ra phản kích phá khí khí tài và đẩy lính của Saladin về vị trí doanh trại. Một số phần phòng thủ bị bắn phá dữ dội bởi các máy bắn đá nhưng vẫn chưa đủ để mở một lỗ thủng. Hai bên giằng co nhau suốt năm ngày trời. Ánh nắng buổi sáng ngược về phía quân tấn công mang lại chút lợi thế cho phe phòng ngự nhưng vào buổi chiều tình thế ngược lại. Công binh Hồi thậm chí còn dùng máy mangonels bắn cát theo chiều gió để thổi vào mắt quân phòng ngự giúp cho các đội tấn công chiếm tường thành. Quân Hồi chịu tổn thất lớn, mất vị amir Izz al Din Isa, người sở hữu lâu đài tuyệt đẹp Jabar nhìn xuống dòn sông Euphrates ở phía bắc Syria.



    Đến ngày 25, Saladin nhận thấy quân mình không đạt được tiến triển gì ở bức tường phía tây nên cho cuộc tấn công dừng lại. Các máy mangonels được tháo dỡ, lều bạt được căng lên và quân đội rút về bên kia khu đồi. Có lúc quân phòng thủ tưởng cuộc vây hãm đã kết thúc xong vào ngày 26 quân Hồi tái xuất hiện ở phía bắc thành phố. Vì trông tầm cảnh giác của quân canh nên lính Hồi lập tức dựng hàng rào zaribas từ những cây oliu đốn gần đó để bảo vệ vị trí của mình. Từ đây họ tấn công khu vực tường thành phía bắc cũng như một số vị trí phía bắc của tường phía đông. Nỗ lực chính nhằm vào khu vực Bab Dimashq ,một điểm yếu cố hữu của tường thành ở đây nhưng một phần vị trí này lại có hai lớp tường thành kéo dài từ phía đông cửa Bab Sahirah (Herod's Gate). Vẫn còn có một lối nhỏ để thâm nhập ở khu vực phía đông bắc dọc theo các bức tường đủ chỗ cho một đội đột kích nhưng quá khó khăn vì kẹp giữa tường thành đôi.

    Khoảng 40 máy mangonels dựng dựng lên để bắn đá và đạn naft (cầu lửa Hy Lạp) . Có ít nhất một máy Chebuchet đời mới mạnh hơn dùng đối trọng mà theo cận vệ của Balian d'Ibelin's là Ernoul thì nó bắn tường thành ba lần mỗi ngày đến nỗi công binh Hồi phải làm cái mới khác. Ngày hôm sau Saladin tung ra ba tiểu đoàn công binh được trang bị giáp , họ dùng khiên để che chắn và được cung thủ bắn tên lửa hỗ trợ. Khi đến được hào thành họ bắt đầu phá hủy chân đế của tường thành. Những khí tài phức tạp được dựng lên tại chỗ, một số được che bằng tấp lợp gỗ chắc chắn, bên dưới đó các thợ công binh Hồi đào đứt phần móng tường. Một đường hầm đào trong hai ngày dài hơn 30m được chống bằng gỗ sau đó được đốt bỏ đã làm sập một mảng lớn tường thành vào ngày 29 tháng 9. Để đề phòng những cuộc phản kích từ cổng Bab Dimashq Saladin để một lực lượng lớn quân thiết kị túc trực sẵn sàng. Quân thủ thành thì bị mưa tên lửa ngăn cản việc họ bắn hạ công binh đối phương còn đạn từ các máy bắn đá rơi xuống khiến họ không thể gia cố chống lại đường hầm. Như vậy là không tồn tại cái gọi là mỏ đá của Solomon ở khu tường phía bắc giữa cổng Bab Dimashq và Bab Sahirah vì nếu công binh Hồi có thể đào hầm bên dưới thành phố thì họ đã làm việc mà chẳng bị trừng phạt gì.

    Một cuộc phản công tuyệt vọng của tất cả quân Jerusalem với những ai còn ngựa và khí giới qua cổng Bab Ariha (Jehosaphat Gate) nhưng cũng không rõ tại sao họ lại chọn cổng này vì nó dẫn ra lối đi dốc xuống thung lũng Kidron. Có lẽ họ hy vọng băng được qua thung lũng để tấn công vào vị trí chỉ huy của Saladin ở núi Olives đối diện. Cũng có thể họ cố theo lối vòng dưới tường thành để đến tháp Laqlaq để đánh vào sườn quân Hồi. Dù ý định là gì thì nó cũng bị nghiền nát bởi quân thiết kị của Saladin.

    Về phía 60.000 dân trong thành, kể cả người lánh nạn lẫn người Latin, người Syriac-Jacobite, dân Chính thống giáo có nhiều ý kiến khác nhau nên và không nên làm gì lúc này. Giáo trưởng Heraclius và các lãnh chúa hứa thưởng 5000 đồng 'bezants' , một số tiền khổng lồ và cấp khí giới cho mỗi đội 50 lính kị serjeant để phòng thủ lỗ hổng ở tường thành chỉ trong một đêm. Không ai chịu đồng ý vì rõ ràng là cuộc tấn công quyết định của Saladin đã đến gần. Mặc khác, một số đại diện công dân muốn tiến hành cuộc tấn công tự sát vào ban đêm thà chết trên chiến trận còn hơn chịu thảm sát trong các bức tường thành. Nhưng Heraclius khuyên cản họ, nhấn mạnh rằng việc hy sinh như vậy giúp họ được lên thiên đường nhưng cũng sẽ bỏ mặc phụ nữ và trẻ em ngược lại truyền thống Cơ đốc giáo.

    Vào ngày 30 tháng 9 Balian d'Ibelin với tư cách cá nhân là bạn của Saladin được cử đến để gặp Saladin lúc ông này đang tiếp kiến các cộng đồng Thiên chúa không phải người Latin ở thành Jerusalem. Mối quan hệ giữa người La tin và người Syriac-Jacobite chưa bao giờ tốt đẹp và giờ đây đối với người Chính thống giáo cũng thế. Joseph Batit, một phụ tá thân cận của Saladin là người Chính thống giáo sinh ra tại Jerusalem đang thương thuyết với các đạo hữu để mở một công ra ở phía đông bắc nơi có đông cộng đồng này sinh sống.
    Cuộc thương thuyết của Baliant khó khăn nhưng không kéo dài. Hai lần ông này xin tiếp kiến đều bị từ chối trong khi đó một cuộc tấn công của quân Hồi vào lỗ hổng bị đẩy lùi. Ngày hôm sau Balian trở lại thì được tin Saladin đang bàn bạc với các quan amir và cố vấn tôn giáo của mình. Có nên vùi dập thành phố Thánh và tàn sát những người phòng thủ như chính họ đã làm với người Hồi và Do Thái vào năm 1099 ? Saladin nhắc nhở Balian cách để đầu hàng trong danh dự tránh như cách mà phái đoàn của Jerusalem đã bị từ chối trong kinh miệt bên ngoài thành Ascalon. Ông ta cũng nhấn mạnh đã thề sẽ đoạt cho kì được Jerusalem và mình luôn là người biết giữ lời.

    Có lẽ tin rằng nếu tỏ ra yếu đuối sẽ làm tình hình tệ hơn nên Balian cũng dọa rằng nếu cần thiết quân trong thành có thể tự tay giết chết gia đình mình, giết gia súc và cả 5000 tù nhân Hồi vẫn năm trong tay họ, phá hủy vật báu, hủy luôn Đền Đá và Giáo đường Aqsa - một trong những công trình thiên liêng của đạo Hồi - và sẽ liều chết tấn công " như thế chúng tôi sẽ chết vinh quang hay chiến đấu như hiệp sĩ" . Dù lời đe dọa này nói lên sự cuồng tín của những hiệp sĩ thập tự chinh thứ nhất còn ở trong thành hay là một canh bạc tuyệt vọng thì cũng không ai biết được. Nhưng có vẻ như cả Saladin và thuộc cấp không ai muôn tiến hành thảm sát như vào năm 1099 . Thay vào đó đề nghị đầu hàng trong hòa bình được chấp thuận vào ngày 2 tháng 10, ngày mà cờ hiệu của Saladin tung bay trên thành Jerusalem và các vị quan amir tin cẩn chốt đóng ở từng cổng thành.

  7. #27
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3


    "Tháp David" một phần tường thành Jerusalem nhìn từ bên trong thành phố. Phần dưới là công trình của dân Thập tự còn phần trên có lẽ xuất hiện từ thời Ottoman gia cố phòng thủ cho Jerusalem vào TK 16.



    Tháp Laqlaq ở góc phía đông của khu tường phía bắc Jerusalem. Cuộc Thập tự chinh thứ nhất năm 1099 và Quân Saladin vào 1187 đều phá vỡ phòng thủ của Jerusalem ở vị trí gần bên phía phải nơi này.



    Không giống như Asqalan và các thành phố duyên hải khác ,Jerusalem nhét đầy các con phố chật hẹp và các khu nhà. vào tháng 9 năm 1187 nơi đây tập trung đông đảo những con người hoảng loạn. Khi thành phố đầu hàng vào 2 tháng 10, người Hồi đã quay trở lại để cải đạo cho các công trình vốn bị người Cơ đốc La tin chiếm đóng gần 1 thế kỷ. Công trình quan trong nhất là Thánh đường Aqsa ở cuối bức ảnh, và bên phải là đền Dome of Rock nhìn xuống con đường Bab al Qattan-ayn (ảnh của tác giả)


    Người Cơ đốc không phải La tin có thể ở lại nhưng những kẻ xâm lăng Thập tự phải ra đi. Mỗi người phải nộp 10 đồng dinar, phụ nữ 5 đồng và trẻ em 1 đồng. Tổng số 30.000 bezant được phân phát cho 7000 người nghèo không thể tự nộp tiền chuộc thân. Các chỉ huy quân đội rõ ràng không vui vì việc đem của cải của mình cấp cho người nghèo chuộc thân nên cũng có nghi ngờ rằng làm thế nào Heraclius có thể thuyết phục bọn họ. Người latin cố mang tất cả tài sản có thể mang đi nhưng phần nhiều được bán trong các chợ suq al askar vốn luôn đi theo đội quân của Saladin. Đến ngày thứ 40 vẫn còn nhiều người nghèo mắc kẹt vì không có tiền chuộc thân. Trong khi những người Cơ đốc giàu có chất đầy của cải lên đường đi đến bờ biển. Saladin tự mình trả tiền chuộc thân cho rất nhiều người nghèo. Các vị amir của Saladin phẫn nộ vì tư cách của bọn Cơ đốc giàu có nên thuyết phục Saladin tịch thu toàn bộ của cải bên ngoài cổng Bab Yafa (Jaffa Gate). Saladin từ chối phá vỡ hiệp ước nhưng vẫn còn tới hơn 15.000 người mắc kẹt khi thời hạn chết đến.

    Vài quý bà của Vương quốc cũng được tìm thấy trong thành phố. Sibylla, vợ của vua Guy bị bắt giữ và bị chuyển về gặp ông này ở thành phố Neapolis (Nablus). Stephanie, vợ góa của Reynald de Chatillon, được đề nghị nhận lại con trai bị bắt trong trận Hattin đổi lấy sự đầu hàng của hai pháo đài Krak và Montreal. Khi Hai nơi này từ chối bà ta đã gửi con trai lại cho Saladin và như tự ái với hành động này Saladin cho phép bà ta nhận lại con mình. Trước khi các khoảng chuộc được trả hết thì người Hồi đã trở lại thành phố Thánh để cải đạo cho nó. Nhiệm vụ đầu tiên của họ là phải làm sạch rất nhiều công trình để thích hợp cho việc thờ phụng trở lại. Vào ngày 9 tháng 10 năm 1187 , Saladin và nhiều sức sắc tôn giáo tiến vào Jerusalem để làm lễ cầu nguyện salat tại Thánh đường Al Aqsa. Các công trình lớn được tái phân phát trong khi phần lâu đài từng được sử dụng bởi giáo trưởng Heraclius được giao cho các sufis để làm nhà nguyện. Trụ sở của dòng Cứu Thế được dùng làm trường đại học tôn giáo trong khi phần lớn các nhà thờ được chuyển sang các khu vực cơ đốc.

    Việc Jerusalem thất thủ chưa có nghĩa là cuộc chiến đã kết thúc. Một chiến dịch không được miêu tả lại được tiến hành phía đông Jordan và khu vực chiếm đóng của người Cơ đốc xung quanh thung lũng Yarmuk bị tái chiếm. Ở xa về phía nam tại Oultrejordain hai pháo đài Montreal và Krak chưa bị hạ cho mãi tới năm 1188 và 1189. Trong khi đó quân phòng thủ ở Tyre cũng củng cố và cố thủ bên trong tường thành được xây dựng trên một bãi đá vốn chỉ có lối tiếp cận chật hẹp qua một eo nhỏ đầy cát. Họ cũng được tiếp tế bởi các tàu từ ngoài biển vào. Saladin lên kế hoạch mở lại cuộc tấn công thành Tyre và quay trở lại đây với một lựv lượng nhỏ vào 12 tháng 11. Phần còn lại của đạo quân đến để bao vây pháo đài vào 30 ngày sau đó. Đó là một trận đánh khó khăn, phe tấn công được trang bị nhiều máy móc đã dùng để tấn công kẻ địch khi trước . Dải đất quá hẹp nên các thuyền cơ đốc mang đầy tên, nỏ, máy bắn đá tập trung hai bên để tấn công vào sườn quân Hồi. Cuộc vây hãm thất bại và kéo dài với việc quân Hồi thỉnh thoảng tấn công và quân phòng thủ thường xông ra phá vây, trong số này có cả các hiệp sĩ Tây Ban Nha, mặc phục trang màu xanh lá với cặp sừng hươu trên nón vốn nhận được lời tán dương từ cả Saladin.

  8. #28
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Giờ đây chỉ còn cách khống chế mặt biển để khuất phục được thành Tyre, vì vậy một đội 10 tàu galley và một số tàu hộ tống xuất phát từ Acre dưới quyền chỉ huy của Abd al Salam al Maghribi, một thủy thủ dày dặn xứ Bắc Phi. Đây là một điều mạo hiểm tại mùa đông vào thời điểm này,khi mà thơi gian đi biển trên Địa Trung Hải thường vào khoảng từ tháng 4 đến cuối tháng 10, nhưng hải đội của người Hồi đã buộc được các tàu galley phải thu hết vào cảng. Lúc này mùa đông ập đến và trại của bên tấn công biến thành bài bùn lầy lội khiến bệnh dịch bùng phát.

    Rồi một thảm họa trên biển lại xảy đến. Một đội 5 tàu galley, đang trong phiên canh gác đêm 29/30 tháng 12, đang lơ là khi hoàng hôn buông xuống thì bị tập kích và bắt giữ bởi 17 tàu galley và khoảng 10 tàu nhỏ của người Cơ đốc phóng ra từ Tyre. 5 tàu galley và số tàu hộ tống lập tức rút về Beirut vì không còn đủ sức để đối đầu. Những tàu này sau đó bị truy kích đến cuối cùng các thủy thủ phải thoát lên bờ và đánh chìm tàu theo lệnh của Saladin, chỉ duy nhất chiếc lớn nhất , được tả là " như ngọn núi nhỏ" , vốn được điều khiển bởi các thủy thủ kinh nghiệm là trốn thoát được. Kéo theo đó là thêm một đợt tấn công thất bại nữa vào pháo đài khiến Saladin mở một hội nghị triệu tập tất cả các quan amir của mình. Một số muốn tiếp tục còn một số cho rằng quân đội đã mỏi mệt và binh lính muốn về nhà. Ngày hôm sau, ngày đầu năm mới 1188, Saladin giải tán các đội quân và dẫn quân bản bộ của mình trở về Acre.

    KẾT QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ

    Các sự kiện của năm 1187 làm shốc cả tây Âu, việc để mất Jerusalem trở thành nỗi hỗ thẹn đối với toàn thể người Cơ đốc. Vào ngày 20/10 Giáo hoàng Urban III qua đời, 9 ngày sau người kế nhiệm là Gregory VIII viết thư thúc dục tín đồ giành lại vùng đất bị mất và làm phát sinh đợt Thập tự chinh lần thứ 3.Nhưng vào 19/12 giáo hoàng Gregory lại qua đời. Trong lúc này thì việc thất bại tại Tyre là một thảm họa đối với Saladin, nó cung cấp căn cứ tuyệt vời cho đợt Thập tự chinh lần 3 để chiếm lại một phần Vương quốc vào năm 1191. Dù được khôi phục thì Vương quốc cũng không thể như trước được nữa. Trận Hattin đã phá hủy cấu trúc phong kiến và nền móng vương triều của nó mãi mãi. Ảnh người của người Tây Âu vào vương quyền cũng tăng mau chóng.

    Về phía người Hồi thì việc giải phóng Jerusalem đã nâng cao uy thế của Saladin lên tột bật. Trong cơn phấn khích nhiệt tình một đoàn bôn đã thực hiện lộ trình đầu tiên đến Cairo theo tuyến đường duyên hải, lần đầu tiên sau 78 năm mà không phải chịu đóng lê phí.

    Đánh giá quân Hồi Giáo

    Trận Hattin là trận phản công điển hình mà Saladin bố trí dựa vào nhiều chiến thuật thiết lập liên hoàn khác nhau. Sĩ khí của quân Hồi vượt trội là do quân Cơ đốc quyết định dân thân vào cuộc hành quân dài, mệt mỏi, đói khát nhưng dù đó là sai lầm của quân Cơ đốc thì Saladin vẫn luôn có ưu thế về chiến thật. Trận đánh ngã ngũ khi hai đội quân đánh giáp mặt, với hậu cần tốt hơn, trinh sát nhanh hơn, khả năng thay đổi vị trí và sự gắn kết đội hình và có thể cả thông tin liên lạc tốt hơn người ta có thể nghĩ rằng quân Hồi chắc chắn giành thắng lợi nhưng trong nhiều trận đánh khác họ lại không thường như vậy. Năng lực đánh xáp la cà của quân Hồi bị bôi xấu nhiều vì cho rằng họ mang giáp nhẹ, sử dụng vũ khí nhẹ và ngựa nhỏ hơn kẻ thù. Hai ý đầu quá ư đơn giản còn ý thứ 3 thì hoàn toàn sai lầm. Kết quả của trận Hattin là vì lẽ Saladin đã khiên quân thù phải giao chiến nơi ông ta muốn, vào lúc ông ta muốn và bằng cách ông ta muốn.

    Đánh giá quân Cơ đốc

    Nhuệ khí và quân lực của quân Cơ đốc đã bị hao hụt đáng kể trong trận đánh ở suối Cresson. Và nhưng sự kiện xung quanh trận đánh nhỏ hơn này cũng chôn vùi uy tín của Bá tước Raymond xứ Tripoli. Ý kiến của Sir Charles Oman cho rằng quân La tin có thể đến được nguồn nước ở Wadi al Hammam, nhiều km phía bắc Hattin là hoàn toàn sai lầm. Thực tế sai lầm lớn nhất của vua Guy là chọn hành quân về phía đông Shephorite. Nếu đã quyết định như vậy thì bằng mọi giá họ phải đón đánh cho được quân Saladin ở vị trí bất lới mà họ sẽ xử dụng các chiến thuật truyền thống hiệu quả. Sự thất bại không phải quân Hồi được cải tiến mà là do sự mệt mỏi của bộ binh, họ ko theo kịp và không thể bảo vệ ngựa cho các hiệp sĩ. Giáp cho ngựa cũng được sữ dụng nhưng cũng rất hiếm vào năm 1187.Việc đó mặt khác cũng cũng hạn chế vũ khí mang theo của kị binh . Vẫn có một số người cho rằng hiệp sĩ có nhiều ưu thế trong trận đánh. Đặt giả sử ta phải chiến đấu ở vùng Trung Đông thì theo Baha al Din , bạn và là người viết tiểu sử của Saladin thì " một hiệp sĩ trong điều kiện có ngựa tốt thì không thể bị đánh hạ...mặc áo giáp lưới từ đầu đến chân, có vẻ như không mũi tên nào là bị thương anh ta... nhưng khi ngựa bị giết , anh ta sẽ bị trói tay và bị bắt làm tù binh".

    ---HẾT---

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •