Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 13
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7

    Trận chiến Điện Biên Phủ - Jules Roy

    Tên sách: Trận chiến Điện Biên Phủ
    Tác giả: Jules Roy
    Dịch giả: Ngô Bình Lâm
    Nhà xuất bản: Hà Nội
    Năm xuất bản: 2004
    Số hoá: ptlinh, chuongxedap





    Cet ouvrage, publié dans le carde du Programme de participation à la publication, bénéficie du soutien du Centrel Culturel et de Coopératon de l’Ambassade de France en République Socialiste du Vietnam.


    Cuốn sách này được xuất bản trong khuôn khổ Chuơng trình hợp tác xuất bản với sự giúp đỡ của Trung tâm Văn hóa và Hợp tác của Đại sứ quán Pháp tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.







    Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp
    La bataille de Dien Bien Phu - Jules Roy
    © Edition Albin Michel, S.A-Paris 1989

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Ngày 21 tháng năm 1953

    Hai lỗ mũi nhăn lại, Navarre xua đuổi những mùi vị của Sài Gòn. Vội vã đến để nắm lấy quyền sở hữu mảnh đất được tấn phong và gặp gỡ tướng Salan, người giữ mọi chiếc chìa khóa của mảnh đất ấy, ông đi ra Hà Nội cùng với ngài Letourneau.

    Ông phải nhanh chóng bắt tay vào việc, bởi lẽ một khi các thủ tục xã giao thường lệ đã làm xong, toàn thể bộ máy chỉ huy tối cao ở Đông Dương thời gian qua, tiếp theo Salan, sẽ chui vào những khoang hạng nhất của máy bay và tàu thủy: viên tư lệnh cao cấp của xứ Bắc Kỳ, viên tham mưu trưởng liên quân ở Sài Gòn, viên tư lệnh không quân và tư lệnh ở Lào, ba viên chỉ huy trưởng khu vực trong số năm khu vực ở vùng đồng bằng đóng nắp các hòm con của họ lại. Bản thân ngài Letourneau cũng chuẩn bị rút lui, ông ta nói vậy, chẳng lo lắng gì cho tương lai. Thái độ thẳng thắn, vẻ hiền từ giả tạo, những mưu mẹo khôn khéo của ông chẳng mang lại điều gì: ông không dám làm phiền lòng bất kỳ ai và luôn luôn thấy người ta nhiều mưu mẹo hơn mình.

    Về sau, người ta sẽ trách cứ nền Đệ tứ Cộng hòa là đã không sắp xếp việc hồi hương của những người có trách nhiệm từng đợt một. Thực tế, dưới con mắt nhân từ của viên cao ủy, tướng Salan đã tìm cách thực hành, cùng với những ngày cuối cùng của kíp tướng De Lattre, chính sách đốt sạch, phá sạch dưới bước chân của người kế nhiệm De Lattre. Navarre không phản đối. Có đôi chút ngây thơ, ông tưởng rằng cái khoảng trống lớn ấy sẽ giúp đỡ ông.

    Một sĩ quan cấp tướng duy nhất tự nguyện ở lại với ông: thiếu tướng Cogny, chỉ huy một sư đoàn cơ động ở Bắc Kỳ. Navarre đã nắm được thông tin: Cogny đã thành công trong mọi kế hoạch của mình và đó là con người của vùng đồng bằng sông Hồng. Cogny đang gặp vận may. Navarre đã được Letourneau đồng ý rằng sẽ đề nghị với chính phủ thăng cấp cho Cogny lên trung tướng.

    Trên giải đất rộng mênh mông với 700.000 kilômét vuông, dân số ba mươi triệu người này Navarre đoán rằng những cái bẫy sẽ không thiếu, và rằng những cái bẫy nguy hiểm nhất không phải là những cái mà quân đối phương sẽ giăng ra dưới chân ông. Nhưng thử hỏi có mảnh đất hành động nào lại kích thích hơn mảnh đất của Mourmelon(1) đây? Để cho 375.000 con người của phía quân xanh mà Navarre sắp sử dụng cùng với các đội quân ra đời từ các quốc gia liên hiệp, đối mặt với 125.000 quân chính quy, 75.000 quân địa phương và 150.000 du kích của phía quân đỏ, bãi chiến trường nào đây với những đồng bằng cháy bỏng bị chia cắt thành những ruộng lúa, những khu rừng rậm có hổ và voi, những con sông lớn vươn dài ra biển cả, những rặng núi lô xô, nếp gấp lớn đá vôi bị gió mùa thổi qua, nằm kề bên cạnh Trung Quốc và đường chí tuyến Cancer, và 2.500 kilômét bờ biển vẽ nên một cách kỳ lạ đôi vai, chiếc gáy, hộp sọ và khuôn mặt nhìn nghiêng được vẽ biếm họa của con người Colombey cô đơn, lao đầu xuống biển, chiếc mũi và đôi cánh tay chĩa về phía Singapour!

    Những suy ngẫm của Navarre chuyển theo chiều u ám: cỗ máy người ta vừa mới giao phó cho ông quyền chỉ huy không còn trơn tru nữa. Đạo quân viễn chinh chỉ nhúc nhích theo từng khối lớn, trong tiếng ầm ỹ của xe tăng và xe tải, không thể nào sống nếu không có sự vượt trội ghê gớm về phương tiện, đối mặt với một đối phương cơ động và có mặt khắp nơi một cách đáng sợ, họ nắm được mọi thứ, phần lớn những đòn đánh của đạo quân viễn chinh đều rơi vào khoảng không. Quân sĩ thì mệt mỏi và cái hệ thống điều hành họ lại quá nặng nề. Cuộc chiến giết người một cách mù quáng ngay trên mảnh sân của một quán cà phê, cũng như trên đoạn đê nhỏ bên ruộng lúa; những ngôi làng nhìn bề ngoài hiền lành che giấu những pháo đài; một đứa trẻ dắt trâu ăn cỏ là một lính gác; những bà già miệng móm mém đi rải mìn; những người nông dân biến thành những kẻ bóp cổ các thân hào, nhân sĩ. Để chiếm giữ được hai mươi kilômét đường giao thông, cần phải có nhiều tiểu đoàn, nhiều cụm pháo binh và xe thiết giáp. Các đơn vị này, buổi tối đến, phải rút về các phòng tuyến, bỏ lại khoảng không gian cho đối phương. Nếu như người ta có thể nghĩ rằng, ở đôi nơi, có một phòng tuyến thì chẳng có nơi nào là hậu phương bởi lẽ mọi thứ đều đe dọa và nguy hiểm. Ở nước Pháp, ai đã ngờ tới điều này? Từ Trung Quốc ở kề bên, vũ khí và phương tiện đổ về các sư đoàn của tướng Giáp. Bảy năm trời đã sử dụng và không mài sắc được cái công cụ lẽ ra phải phục vụ cho chiến thắng, và cuộc chiến tranh được tiến hành ở đó là cuộc chiến tranh rẻ tiền cộng với sự trợ giúp của Mỹ.

    Rẻ tiền ư? Nó chi phí một hay hai tỷ mỗi ngày và mỗi con tàu nhổ neo từ Sài Gòn hay từ Hải Phòng bao giờ cũng có một khoang hầm chật ních những chiếc quan tài. Thông qua viên sĩ quan tùy tùng vốn cũng là một người bạn cũ và trở lại Đông Dương trong nhiệm kỳ thứ ba, Navarre được biết đầy rẫy những chuyện phản bội: không một ý kiến nào, không một văn bản cũng như một động thái nào lại không lập tức được thu lượm và bị rò rỉ. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như những kẻ khốn khổ ở trước mặt cũng có xe tăng và máy bay? Có thể là người ta tóm được họ, nhưng từ phía họ, họ có thể lao đầu vào húc bởi lẽ những kẻ khốn khổ đó tin chắc rằng, sớm hay muộn, họ sẽ thắng cuộc và không mảy may sợ chết. Về phía chúng ta, tại sao người ta chiến đấu? Không còn một ai biết được điều đó nữa. De Lattre là người đầu tiên đã tuyên bố: vì nền độc lập của Việt Nam. Nhưng mà mọi người bất cần đến nền độc lập của Việt Nam, bắt đầu ngay từ bản thân nước Việt Nam, vốn đã có độc lập hoặc là chẳng cần gì độc lập. Quân đội Việt Nam(2) lang thang đi tìm kiếm một niềm tin và chính phủ của nó đã quyết định chẳng có quyền lực gì cũng như chẳng có sự trung thực nào. Với 50.000 đồng bạc, người ta được miễn làm nghĩa vụ quân sự. Các sĩ quan trẻ tuổi tốt nghiệp các trường quân sự trước hết lựa chọn ngành hậu cần và các cơ quan quản lý hành chính, ở đó người ta có thể ních dầy túi. Duy nhất những người ra sau cùng, hai tai cụp xuống, đi tới các đơn vị chiến đấu. Thử hỏi, họ có ham muốn gì để đi chết cho ngài Tâm, thủ tướng chính phủ(3), cho tướng Hinh, con trai của ngài Tâm, hay cho đức vua Bảo Đại, người đã hiểu được là triều đại các quốc vương An Nam đã buồn bã kết thúc cùng với ông ta và ông ta chẳng phải phục vụ bất kỳ ai ngoài bản thân ông ta? Từ thống chế De Lattre, còn lại một phòng tuyến các lô-cốt đổ bêtông, nhằm bẻ gãy các đợt sóng tấn công ở vùng ven đồng bằng, ở đó người ta gắn chặt những cái đít nặng và những đầu óc lạc hậu "trong lớp bêtông "cứt" nhất".
    ______________________________________
    1. Moumlelon: Tên một trại lính ở thành phố Marne. nước Pháp - N.D.

    2. Đây là quân đội của ngụy quyền Việt Nam. Trong cuốn sách này từ “quân đội Việt Nam” tác giả đều dùng để nói về quân đội ngụy quyền.

    3. Đây nói chính phủ ngụy quyền lúc đó.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Navarre ngồi vững trong chiếc ghế bành của mình. Nào, nếu như bầu không khí bị ô nhiễm và cái công cụ xộc xệch thì cần phải có mưu kế. Một nụ cười kéo dài hiện lên trên nét mặt của vị tổng chỉ huy mới, khiến cho khuôn mặt hiền từ của ông có pha chút cay đắng.

    Ngày 7 tháng 5 vừa rồi, ngài René Mayer, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã cho gọi Navarre tới phố Varenne. Navarre vừa đi kiểm tra ở nước Đức trở về. Được thống chế Juin - Navarre vốn là tham mưu trưởng của thống chế - báo trước cho biết, Navarre đã trình bày những lý do từ chối của mình: ông chưa từng phục vụ ở Đông Dương và hoàn toàn không có khả năng. Khi mà ngài René Mayer, giữa khung cảnh của những đường thiếp vàng, những tấm thảm bằng dạ và những khu vườn lộng lẫy ở điện Matignon(1), đề nghị ông thay thế tướng Salan, Navarre đã không kịp giải trình những lý lẽ để phản đối: vị chủ tịch Hội đồng bộ trường gạt bỏ tất cả bằng một cái phẩy tay nhẹ. Ngài René Mayer cho là ông có khả năng nhìn mọi việc bằng con mắt mới mẻ và nhanh chóng học hỏi được, ngài tỏ lời khen ngợi tính thận trọng, đầu óc thông minh lạnh lùng và sự khôn ngoan của Navarre. Hiển nhiên, đối với một chức vụ cao cấp như vậy, người ta đã phải tìm kiếm khá lâu trong niên bạ để có được vị tướng bốn sao Henri Navarre, những ý kiến bác bỏ đã không đứng vững được khi mà những tài năng thiếu đến mức như vậy và rằng không một ai hơn được. Tướng Valluy, người duy nhất nắm được vấn đề và là người chịu trách nhiệm về vụ oanh tạc Hải Phòng vào năm 1946 không phù hợp với điều mà ngài René Mayer đòi hỏi Navarre phải tìm ra: một lối thoát trong danh dự cốt để cho chính phủ có thể thương lượng và chấm đứt cuộc chiến tranh. Tăng viện ư? Không có vấn đề đó. Tướng Navarre sẽ không nhận được gì to lớn. Quân lực ư? Ngài René Mayer đọc cho ông nghe bài báo mà ngài Edouard Daladier viết trên một số báo buổi chiều: "Quốc hội sẽ phản đối một việc làm ngớ ngẩn như vậy ".

    Khi rời khỏi điện Matignon, tướng Navarre nghĩ về ngài René Mayer: "Ông ta điên...". Trở về Fontainebleau, ông báo cáo với thống chế Juin:

    - Ngài có nhiều cách để giữ tôi lại, ông bổ sung thêm như vậy ít nhất tôi phải ở cùng với ngài trong hai năm ở Trung Âu.

    - Nghĩa vụ của anh là phải nhận lời, thống chế đáp lại, trước sự sửng sốt của Navarre. Cần phải có một ai đó chịu hi sinh.

    Để động viên ông, thống chế Juin đưa cho ông xem một bản báo cáo của mình sau một chuyến khảo sát mới đây. Trong bản báo cáo này, thống chế tỏ ra lạc quan: để giải quyết bài toán, chỉ cần vài tiểu đoàn và vài tháng trời, nhưng cần phải đề phòng một cuộc tấn công tổng lực ở vùng đồng bằng. Tóm lại, người ta nghĩ rằng quân Việt không có đủ phương tiện để tiến hành một cuộc chiến tranh cơ động và rằng họ có thể gục ngã nếu người ta tràn lên xô đẩy họ. Chẳng phải Navarre đã từng là kỵ binh hay sao?

    Ông nhận lời.

    Navarre là ai? Cái tên phấp phới như một lá cờ tung bay trước gió kể từ năm 1915 khi mà hai anh em có tên Navarre trở nên nổi tiếng trong đội ngũ phi công khu trục. Tuy nhiên, không có mối quan hệ họ hàng nào giữa các phi công và vị tướng, lúc này năm mươi nhăm tuổi, xuất thân từ một dòng họ nhiều đời của những công chứng viên, luật sư và quan tòa vùng Normandie(2).

    Sinh vào một ngày 31 tháng bảy, như vậy đó là một con sư tử. "Bởi vì đó là ý chí của tôi", là câu châm ngôn mà ông hay sử dụng. Về thể chất cũng như tinh thần, đó là một con báo. Chàng kỵ sĩ này không nhỏ bé nhưng mà nửa thân trên mảnh dẻ, hơi ngả ra phía sau, do vì luôn luôn ngồi trên lưng ngựa cho nên dáng điệu của ông không uyển chuyển và ông có vẻ được thoải mái khi đứng trước các tấm bản đồ và các bánh xích của xe tăng hơn là trong các cuộc đua ngựa. Ông không phải là người vung kiếm. Ở ông mọi chuyện diễn ra trong đầu óc; gần như trong toàn bộ sự nghiệp, ông hoạt động trong các đơn vị trinh sát và cơ quan tham mưu.

    Vừa thân thiện vừa xa cách, độ lượng và lạnh lùng, ông có được sự tự chủ hiếm có và một tài khéo léo lớn để chinh phục người khác. Hình như ông giữ kín mọi chuyện kể cả khi ông ngờ vực. Quyết đoán, dút khoát, ông có thể giữ im lặng lắng nghe những lập luận dài dòng mà không bao giờ để mình bị lôi cuốn vào đó. Tự tin, nói nhiều, nếu như việc đó là cần thiết. Cứng rắn, nhanh nhẹn, cái nhìn của ông như một tia chớp chiếu thẳng vào những người đối thoại với mình rồi quay đi, khác hẳn với giọng nói có thể là nồng nhiệt, khoan dung hoặc gay gắt. ông làm cho người ta có cảm tưởng là ông nắm sâu các vấn đề đã được nghiên cứu kỹ lưỡng để cho giải pháp mà ông lựa chọn không vấp phải những sự phản đối.

    Khuôn mặt ông sắc sảo dưới vầng trán nhẵn bóng và mái tóc mầu xám xẹp xuống. Một trong những nét tiểu sử cho thấy rõ là ông không biết âm nhạc và hội họa, và rằng ông yêu lũ mèo. Với nhiệt tình phục vụ ông, người ta đã so sánh ông, do đôi mắt mầu xám và đôi lông mày rậm, với thống chế De Saxe(3), một trong những vị tướng lĩnh vĩ đại nhất một thời đã qua. Cần phải tránh đi quá xa trong việc so sánh, khi mà người ta đề cập tới LỊCH SỬ và rằng kết cục của những tấm thảm kịch đã được biết rõ.
    ______________________________________
    1. Matignon: Tòa nhà xây năm 1721 trên phố Verenne ở Paris. Là trụ sở của Hội đồng Bộ trưởng nước Pháp.

    2. Normandie: Vùng Tây Bắc nước Pháp - Nơi quân đồng minh đổ bộ tấn công quân Đức trong đại chiến Thế giới lần II, 1944 – N.D.

    3. Maréchal de Saxe: Viên tướng nước Pháp (1696 - 1750) là con vua Auguste II. Có trận tháng ở Fontenoy. - N.D.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Ngày 22 tháng năm 1953


    Do vì vẫn chưa có được một cuộc trò chuyện nghiêm túc với Salan, Navarre yêu cầu sĩ quan tùy tùng của mình đề nghị với Salan một chương trình đi khảo sát chiến trường xứ Bắc Kỳ. Trước tiên, ông ấy muốn tới thăm pháo đài Nà Sản, việc duy trì cứ điểm này đang làm cho bộ chỉ huy và một vài thành viên trong chính phủ bận tâm.

    Trong chiến dịch trước đây, tướng Giáp, vốn đã nắm giữ được phần lớn vùng phía Bắc xứ Bắc Kỳ, với ba mươi tiểu đoàn đã chiếm được toàn bộ vùng không gian nằm giữa con sông Hồng và con sông Đà. Trước cuộc tấn công mới của ông ta triển khai về hướng xứ Thái, thử hỏi Salan có thể áp dụng chiến thuật gì đây? Rút các đội quân đồn trú của ông ta ra khỏi xứ Thái để chuyển xuống vùng đồng bằng chăng? Như vậy là sớm hay muộn sẽ mở toang con đường đi sang Lào. Kể từ khi người ta rút bỏ Lạng Sơn và Cao Bằng, mọi việc kiểm soát sự thông thương giữa khu vực mạnh của đối phương và Trung Quốc đã không còn nữa. Một cuộc rút lui mới xuống đồng bằng có nghĩa là thú nhận sự yếu kém. Salan muốn tranh thủ thời gian và khiến cho đối phương bị bất ngờ khi đặt họ đứng trước một con nhím giận giữ khác thường. Để chặn ngang con đường phía Tây và bảo vệ Lai Châu, Salan đã ném từ trên trời xuống một cứ điểm vững chắc ở Nà Sản.

    Thắng lợi của một kế hoạch mà tính táo bạo của nó đã làm cho tôi phải run người lên, lần đầu tiên khi tôi tới thăm cái pháo đài mà Gilles vừa mới nhận quyền chỉ huy, cái pháo đài được xây dựng dựa vào việc tướng Giáp thiếu thốn các phương tiện: hoặc là ông ta không thể kéo pháo binh tới sử dụng ở đó hoặc là việc duy trì ba sư đoàn và các vũ khí nặng ở một khoảng cách rất xa các căn cứ là ngoài khả năng lôgic của ông ta. Tướng Giáp cũng có thể tránh vật chướng ngại, nhưng nếu quay về các căn cứ của ông ta ở Bắc Kỳ để cho mùa mưa qua đi, ông ta có nguy cơ nhìn thấy con nhím ấy nở bung ra, cắt đứt con đường và quấy rối các tuyến giao thông. Theo lôgic tướng Giáp buộc phải tiến đến vật chướng ngại và nhổ bỏ nó đi. Salan tin rằng cuộc tấn công của đối phương sẽ vấp ở đó và do vì không đủ khả năng đảm bảo nhu cầu của năm mươi nghìn chiến binh và dân công để đứng chân tại chỗ, tướng Giáp sẽ rút lui, bị tổn hại mà không thể nuốt trôi một miếng xương quá lớn đối với ông ta. Đòn đánh táo bạo của Salan, tuy nhiên, mang theo một nguy cơ: tướng Giáp có thể đã có bước tiến trong việc chỉ huy các trận đánh; nếu như coi thường các tổn thất, tướng Giáp quyết định tấn công tổng lực thì tham vọng đánh bại quân Việt có thể quay đầu chống lại Salan, biến thành một thất bại thảm hại.

    Hai viên tướng đối thủ đã từng gặp nhau trong những cuộc điều đình được móc nối, sáu năm về trước, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào thời kỳ mà Leclerc đã đặt chính phủ Pháp đứng trước ngã ba đường hoặc là huy động quân số để đánh bại cuộc nổi dậy hoặc là thỏa hiệp với nó. Từ đó được chấp nhận rằng Salan, mà người ta gọi là "anh Ba Tầu”, đã có kinh nghiệm về đối thủ trực tiếp và luôn luôn phá vỡ những ý định của họ. Tính cách bí ẩn, một nụ cười thoáng qua đôi khi xuất hiện trên khuôn mặt dầy dạn phong trần của ông, đôi mắt xám rất linh hoạt, trên ngực mang tấm biển bề thế của những cuống huân huy chương mầu sắc rực rỡ chứng minh ông là viên sĩ quan được tặng thưởng nhiều nhất trong quân đội Pháp, gắn liền với vẻ huy hoàng của vị tổng chỉ huy; Salan nổi tiếng về việc hút thuốc phiện để suy nghĩ tìm ra các sáng kiến. Bị ngăn cách với tướng Giáp bởi cả một vùng rộng lớn những khu vực không thể nào thâm nhập được cùng với những bí mật, Salan tựa như đang chơi ván bài pôkơ với ông Giáp. Vào thời kỳ này, khi những bức điện từ Nà Sản đánh tới, người ta nhìn thấy Salan đưa ngón tay khẽ chạm vào một con voi nhỏ bằng ngà, ông ta thường mang theo trong hành trang và đặt trên bàn làm việc.

    Nét độc đáo của tình hình chiến sự đã thu hút cả một đám đông những phóng viên quốc tế tên tuổi. Lần đầu tiên trong cuộc đối chọi, hai quân đội có nguy cơ đụng đầu dữ dội trên bãi chiến trường, ở cách xa các thành phố và khối người đông đúc giữa các đồng lúa. Người ta quay lại kiểu chiến tranh cổ điển, quay lại với Jules César(1), với Scipion người châu Phi(2) hoặc với Jugurtha(3), người ta nghĩ tới trận chiến ở Zama, ở đó Annibal(4) khiêu khích quân La Mã. Tướng Giáp đã gửi cho bộ đội của ông ta một bản tuyên bố, trong đó ông ta nói với họ rằng, số phận cuộc chiến tranh tùy thuộc vào lòng dũng cảm của họ, bởi vì, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, ông ta đã quyết định, quả vậy, như Salan đã dự kiến, tấn công Nà Sản.

    Qua hai đợt ông ta bị tổn thất ở đó, có khoảng gần một nghìn tử sĩ trên hàng thép rào gai và nhón năm đầu ngón chân để rút lui, bằng lòng với việc kìm chân đội quân đồn trú bằng một vài tiểu đoàn. Salan thắng lợi nhưng chiến thắng có tính chiến thuật đó không có mảy may ý nghĩa quyết định. Một bộ phận của không quân phải dùng để tiếp tế và chi viện cho trận địa, nếu như người ta duy trì lâu hơn nữa, trận địa đó sẽ phơi mình trước những nguy hiểm của một đợt tấn công mới.

    Chính vì Nà Sản vẫn là điểm nhạy cảm của khu vực chiến trường cho nên Navarre cảm thấy phải nhanh chóng tới thăm nơi đó. Trước ngày lên đường sang Đông Dương, ngờ vực rằng mình sắp tiếp nhận một tài sản thừa kế đã nhiễm độc, Navarre đã nói với ngài De Chevigné, Bộ trưởng Chiến tranh rằng: "Việc rút khỏi Nà Sản sẽ là hành động chỉ huy đầu tiên của tôi, và tôi sẽ không lặp lại những trận đánh kiểu như vậy... ". Ngoài ra, Cogny vừa mới khẳng định với ông rằng Nà Sản hiện không còn giúp ích gì nữa. Để đánh giá mọi chuyện bằng một cái nhìn thoải mái hơn, Navarre, thậm chí, không muốn có một thành viên nào của bộ tham mưu xứ Bắc Kỳ đi theo. Với viên phi công hỏi ông muốn bay ở độ cao nào, ông trả lời: "Ở một độ cao mà tôi nhìn thấy được một cái gì đó". Và ông ngồi trong khoang lái của phi hành đoàn để quan sát được tốt hơn.

    Trong vùng lân cận Mộc Châu, ở đó các trận địa pháo cao xạ của quân Việt được bố trí, viên phi công không dám hạ độ cao. Một loạt đạn đột nhiên vây xung quanh chiếc Dakota, một loạt đạn khác chạm vào máy bay nhưng không gây thiệt hại gì nghiêm trọng. Máy bay tới Nà Sản và hạ cánh ở đó, hai cánh lỗ chỗ vết đạn.

    Navarre được tiếp đón bởi một con người nét mặt buồn bã, khô khan, ngờ vực, với bề ngoài bí ẩn: đại tá Berteil. Berleil đã nhận được mọi văn bằng và các thánh lễ trong quân đội; ông ta đã sử dụng thứ ngôn ngữ chậm rãi và trừu tượng của những chức vụ cao cấp mà ông đang chuẩn bị bước tới. Vẻ bề ngoài không giúp ích cho ông. Đây không phải là con người của chiến trận mà là con người của cơ quan tham mưu. Ông ta suy ngẫm, xây dựng các lý thuyết, có vẻ như nắm giữ được những bí mật ghê gớm, có kinh nghiệm về những tính toán của cấp trên và có một niềm tin mà không một chuyện hài hước nào có thể làm cho suy giảm. Chẳng hạn, ông tin rằng Nà Sản đã có ích. Có lẽ bởi vì ông đã chỉ huy nó kể từ khi tướng Gilles, vốn là linh hồn của Nà Sản, ra đi chăng? Có lẽ bởi vì ông không muốn nghĩ rằng mình chỉ có thể là người đóng vai phụ chăng?

    Ông ta dành cho Navarre sự quan tâm đặc biệt và đưa Navarre đi thăm trận địa với một thái độ tôn kính cứng nhắc. Theo bản năng, Navarre cảm thấy ở ông ta một đồng minh. Ông ta không để lộ liễu chuyện này giống như Cogny, ở Cogny người la cảm thấy có quá nhiều cá tính và sự nóng nảy. Vả lại, đối với Berteil, Cogny không phải là một nhà tiên tri. Navarre sẽ nhớ tới Berteil khi cần thiết và sau này đã sử dụng Berteil làm cấp phó cho mình, phụ trách về tác chiến, phối hợp hành động của phòng Nhì và phòng Ba. Thực tế, Berteil nhanh chóng trở thành viên sĩ quan đáng sợ nhất trong đám người vây quanh vị tổng chỉ huy mới. Mặc dù quyết tâm cao độ chấm dứt kế hoạch Nà Sản đến như vậy mà Navarre cũng bị ấn tượng bởi quang cảnh khu trận địa hầm hào, tại đó các tiểu đoàn của tướng Giáp đã kéo tới hít bụi, cũng như bởi sức mạnh, sức khỏe và sự thanh thản mà người ta cảm nhận được ở đó.
    _________________________________________
    1. Jules César: Một tướng giỏi người La Mã (101 - 44 trước C.N). Thắng lợi trong cuộc chinh phục những người Gaulois, và nhiều trận thắng khác. Trở về làm vua ở La Mã.

    2. Scipion I'Africain: tướng giỏi của gia đình Cornélia (235 - 183 trước C.N) - Nhiều trận thắng ở Tây Ban Nha, thắng tướng Annibal của thành phố Carthage (202 trước C.N).

    3. Jugurtha (vua xứ Numidie); sinh năm 154 trước C.N, chống lại người La Mã. Bị Marius đánh bại.

    4. Anninbal: tướng giỏi của thành phố Carthage (247 - 183). Đã đánh chiếm Tây Ban Nha, miền Nam nước Pháp, vượt qua dãy núi Alpes - Trở về Châu Phi, bị L'Apricain đánh bại.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Ngày 16 tháng sáu 1953


    Kế hoạch Navarre là cái gì đây? Không có gì khác ngoài cái mà vị tổng chỉ huy trình bày với các viên tư lệnh các vùng đất, được ông triệu tập tới Sài Gòn, ba tuần lễ sau khi ông tới đó ông đã lần lượt tới thăm họ ở ngay sở chỉ huy của họ trong cái mùa thời tiết đã biến bầu không khí thành một lò lửa. Ông đã lắng nghe họ nói. Ông đã ghi chép vào sổ tay. Ông đã đi ra thực địa. Ông đã kiểm tra các đơn vị của đạo quân viễn chinh, các đồn bốt độc lập, các tiểu đoàn của quân đội Việt Nam. Ông đã nghe thấy tiếng đại bác nổ trong đêm khuya. Ông đã nhìn thấy xác chết của đối phương trên hàng rào thép gai, nhìn thấy những người nông dân cầy ruộng đi sau con trâu của họ, gập đôi người trên đoạn tay cầy hoặc lon ton bước đi trên đường cái, chiếc đòn gánh kĩu kịt trên hai vai. Ông đã điểm lại quân số, bố trí họ trên các tấm bản đồ, cân nhắc đi cân nhắc lại bài toán trong dầu. Ông đã tìm cách quên đi tất cả những gì đã học hỏi được ở châu Âu. Chưa một lúc nào ông có tham vọng đối với cái cương vị mà lời gợi ý của ngài René Mayer và vận mệnh của quân đội mang tới cho ông và không một ai có thể ngờ vực là ông làm việc để giành lấy thêm một ngôi sao, bởi lẽ Navarre là một con người trung thực. Được cảnh báo về những khả năng của con người, thậm chí ông biết rằng ông phải đề phòng đối với các tùy tùng của mình nhiều hơn là đối với đối phương. Tất cả đều phải thúc ép và ông cũng phải tự thúc ép mình giành chiến thắng. Cho đến tận lúc này, ông chưa hề có một quyết định nào. Có những quyết định được đề ra nhưng chưa bao giờ được lựa chọn ở cương vị này, và không phải là ông không biết rằng sẽ có những người phải chết vô ích khi các viên tướng mắc sai lầm. Nhưng mà giờ đây khi ông đã nhận nhiệm vụ chỉ huy, việc này không phải do mánh khóe cầu xin gì, thì ông sẽ chỉ huy.

    Như vậy là ngày 16 tháng sáu, ông trình bày rằng bản thân ông, Navarre, sẽ giải quyết bài toán như thế nào. Trước hết, trong chiến dịch sắp tới, người ta sẽ giữ mức hạn chế thận trọng, cốt để khôi phục lại đạo quân viễn chinh, trả lại tinh thần và sức sống cho đạo quân đó. Việc cần làm là tránh chạm trán quyết liệt với đại bộ phận quân đối phương. Những nguy cơ lớn nhất nằm ở miền Bắc, nhưng vùng đất này nằm chắc chắn trong tay các đơn vị có năng lực; ở đó người ta sẽ tiếp tục cái mà người ta dè dặt gọi là "công cuộc bình định". Và người ta sẽ ngăn ngừa trước những hành động tấn công của đối phương bằng cách đập tan chúng trước khi chúng kịp nổ ra. Miền Nam có nguy cơ sụp đổ nếu như các mối đe dọa hiện ra ở đó được đẩy lên khẩn trương hơn. Nhờ vào một vành đai bao vây thực hiện ở phía bắc vĩ tuyến 18, một cuộc tấn công tương đối dễ dàng sẽ thanh toán các đơn vị thuộc quân khu 5 của Việt Minh, bị ngăn cách với xứ Bắc Kỳ bởi một dãy núi hình thành một đường giới tuyến tự nhiên. Cuộc tấn công này sẽ mang tên Atlante. Ngược lại, trong chiến dịch tiếp sau đó, người ta sẽ tìm kiếm mục tiêu đối chọi. Trước tiên, người ta sẽ tấn công vào các kho lúa gạo, các vùng dự trữ nhân lực và cuối cùng là bản thân khối chủ lực của đối phương để tiêu diệt nó. Ý tưởng này được tướng Salan để lại cho ông thừa kế cùng với Điện Biên Phủ, trở thành nền tảng của kế hoạch.

    Còn về phần quân đội ngụy Việt Nam, Navarre đã lưu ý đến câu nói nhàm chán mà người ta lải nhải trước mặt ông để che giấu tình trạng bất tài của lớp sĩ quan và sự thờ ơ của binh sĩ: quân ngụy Việt Nam sẽ khôi phục mạnh mẽ các đơn vị chiếm đóng chính quy và sẽ cho phép chúng ta tăng cường khả năng tấn công. Đây chính là bản Kinh Thánh của nhà vua Jean(1). Nhưng mà nhà vua Jean thì đã chết rồi và Navarre không lầm lẫn đối với bảng cân đối cụ thể của những con số. Nếu như quân ngụy Việt Nam hiên ngang bước đi trong các cuộc diễu binh thì đối với chuyện đánh nhau họ chẳng thích thú gì. Người ta hiểu được đội quân ấy: khác với Việt Minh, đội quân đó không biết được tại sao, bởi lẽ họ biết quá rõ là vì ai, mà người ta muốn họ chiến đấu.

    Đó là những nét lớn trong chiến lược của Navarre. Chúng mang dấu ấn của một kỵ binh: dựa vào việc phòng ngự để hồi phục sức khỏe về thể chất và tinh thần cho đạo quân viễn chinh, sau đó sẽ áp dụng một tinh thần tiến công, dồn ép đối phương để ngăn cản đối phương tổ chức hành động tổng lực của các sư đoàn và tiêu diệt đối phương ở nơi nào mà không có ưu thế về quân số. "Người ta chỉ có thể chiến thắng bằng cách tấn công" đó là chủ đề của lá thư thứ nhất ông gửi cho đạo quân viễn chinh.

    - Thưa các vị, các vị có ý kiến phản bác gì không?

    Cogny có ý kiến. Tình hình bế tắc trên vùng đồng bằng làm cho ông sợ hãi. Ông cho rằng hệ thống bố trí tĩnh của ông có nguy cơ bị quân đối phương tràn qua một khi xảy ra cuộc tấn công tổng lực. Ông cũng lo ngại việc tổng chỉ huy sẽ rút khỏi vùng đất của ông những binh đoàn cơ động để sử dụng cho cuộc hành binh Atlante, sắp ngốn mất nhiều quân số. Khi ở Bắc Kỳ, Cogny đã trình bày tình hình với tổng chỉ huy cũng với những tấm bản đồ, những bảng thống kê và cũng những ý tưởng đã phục vụ cho việc thuyết trình với thống chế Juin, bốn tháng trước đây. Để cho tổng chỉ huy hiểu rõ tình hình, thậm chí Cogny đã dùng một giọng nói nhỏ nhẹ gần như dịu dàng tỏ rõ một thái độ tôn kính quá mức, những dấu hiệu của tình cảm đó, Navarre đã tiếp nhận với một lòng khoan dung và hơi buồn cười. Điều mà Cogny muốn thật đơn giản, sáng suốt và đúng đắn: trên vùng thượng du, né tránh những trận đánh không nắm chắc phần thắng và chỉ tung vào đó những đơn vị biệt kích hoặc những đơn vị chính quy gọn nhẹ, có thể luồn lách được. ở vùng đồng bằng, nơi tình trạng thối ruỗng đang lan rộng, duy trì một tư thế tấn công thường trực chống lại quân đối phương đang thâm nhập, cuối cùng tung ra những đòn đánh thường xuyên và ầm ĩ ở những vùng ven để làm rối loạn hệ thống tiếp tế hoặc làm lung lay việc đứng chân của các sư đoàn Việt Minh.

    Navare đảm bảo sẽ làm như vậy. Thống chế Juin đã nhắc ông về chuyện đó. Vì vậy ông cố gắng phá vỡ những đòn đánh của đối phương trước khi chúng diễn ra. Ông đã bật đèn xanh cho Cogny một loạt những hành động theo kiểu đó.

    Tất cả những chuyện đó toát lên sức khoẻ, sự sáng suốt, trạng thái thăng bằng. Người ta chỉ có thể thảo luận về thời cơ và hiệu quả của trận tấn công mà Navare muốn chơi sang ở phía nam vĩ tuyến 18, nhưng người ta vỗ tay khi ông bộc lộ ý định sâu xa của mình: "Mục tiêu số một của tôi là xóa bỏ các thói quen. Đạo quân viễn chinh thiếu ý chí tiến công và tính cơ động. Tôi sẽ gắng sức để trả lại cho nó những đức tính đó". Cuộc tiến công này không có vẻ gì là đưa ông tiến thật xa và nó có thể giúp ông lay chuyển cái trạng thái vô cảm đang lan rộng. Một mình chịu trách nhiệm, ông là vị quan toà duy nhất. Điều tốt và rõ ràng, đó là việc ông quyết định và tuyên bố rằng trong chiến dịch sắp mở màn, ông sẽ né tránh trận đánh tổng lực.
    _________________________________________
    1. Bí danh của thống chế De Lattre de Tassigny. N.D.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Ngày 24 tháng bảy 1953


    Cho mãi đến tận lúc này, riêng chỉ có Việt Minh là biết cách xây dựng các kế hoạch và thực hiện những kế hoạch ấy- Navarre bỏ ngoài tai những lời bàn tán ầm ỹ xung quanh kế hoạch của ông ta. "Chiến thắng sẽ đến nếu người ta thúc đẩy nó, sau khi đã loại bỏ mọi chướng ngại vật cản đường". Ông đã nói như vậy.

    Sáng sủa, điềm đạm, khuôn mặt như rạng rỡ lên từ một vầng sáng nội tại, nảy sinh từ trận thắng ở Lạng Sơn, những bức điện khẩn của các phái viên đặc biệt về trận thắng này hãy còn đang rung lên, tướng Navarre trình bày một cách thoải mái, bằng một giọng nói tự tin và rành mạch, ở điện Elysés, bản kế hoạch mang tên mình nhưng sự thực phải nói ông là đồng tác giả cùng với Salan. Cử toạ thật đáng nể? Tổng thống, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tám bộ trưởng, bốn quốc vụ khanh, một thống chế của nước Pháp và bốn vị tham mưu trưởng các quân chủng. Phải chăng Cogny nhờ vào cuộc thử nghiệm vừa ghi được ở Lạng Sơn, cùng với những tiếng vỗ tay hoan hô đã nâng Navarre lên bệ tượng đài? Sẽ là hiểu sai lệch không khí của những cuộc họp chính trị ấy, trong đó mỗi người chăm chú đề phòng những người ngồi bên cạnh mình và bảo vệ lợi ích của bộ mình, của khu vực mình. Chiến thắng non trẻ của Navarre ngược lại, có vẻ như phục vụ cho mục đích của mỗi người, bởi lẽ nó cung cấp dẫn chứng là người ta có thể giành được bước tiến chỉ với những phương tiện mà Navarre hiện có.

    Bị chảy máu, phải đương đầu với những vấn đề của thời hậu chiến và những khoản đầu tư cho các chương trình xây dựng và tổ chức, đất nước tiếp tục mong muốn chấm dứt cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Vị chủ tịch hội đồng bộ trưởng mới không hề giấu giếm rằng chính phủ có ý định bắt tay vào cuộc thương thảo với đối phương ngay sau khi hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được ký kết. Vấn đề sự chi viện của Trung Quốc không có vẻ gì là được chính Navarre xem xét ngay trong phần đầu của bản tường trình, với giả thuyết là nó không gia tăng, lại đã khơi gợi ra được nhiều ý kiến phản bác. Trung Quốc chỉ có thể thay đổi trong một thời gian dài, những kế hoạch đòi hỏi nỗ lực của nhiều triệu con người.

    Trả lời ý định của ông muốn xây dựng một căn cứ không - lục quân ở Điện Biên Phủ để bảo vệ nước Lào, vấn đề phòng thủ mảnh đất này được đặt ra và không được giải quyết Từ đó Navarre kết luận rằng người ta để cho ông con bài trắng. Thực tế, nếu như các viên tham mưu trưởng đã góp ý với chính phủ là không nên bắt buộc Navarre phải bảo vệ nước Lào, tuy nhiên chính phủ lại cũng không dám xóa bỏ cho ông nhiệm vụ đó. Người ta không thể nào "nói ra hay ghi thành văn bản là chúng ta sẽ không bảo vệ nước Lào". Câu nói này là của vị chủ tịch hội đồng bộ trưởng. Trong trường hợp câu chuyện bị rò rỉ, phải chăng người ta sẽ làm ảnh hưởng đến mối quan hệ với các quốc gia liên hiệp? Nhất là, liệu người ta có thể đề ra quyết định đó từ Paris chăng? Nói ngắn gọn, Uỷ ban Quốc phòng chui ngay vào một đám mây mỗi khi có việc đề ra một chỉ thị cụ thể cho viên tổng chỉ huy. Nước Lào ư? Cần phải bảo vệ nó mà như không bảo vệ nó, lại vừa vẫn bảo vệ nó. Không được nói rằng người ta sẽ không bảo vệ nó và phải làm ra vẻ như người ta bảo vệ nó mà vẫn không có bất kỳ điều gì mạo hiểm khi ta bảo vệ nó. Còn về phần vị bộ trưởng tài chính, ông ta tuyên bố phản đối mọi việc làm rỗng ruột kho bạc của ông ta, không một xu cho kế hoạch Navarre.

    Tướng Corniglion- Molinier, bộ trưởng không bộ phát biểu với cách nói hùng hồn và gay gắt vốn có. Sức mạnh của Corniglion nằm ở tính hài hước của ông, bởi lẽ đó là một con người rất tốt bụng. Là phi công, ông đã từng hạ cánh ở Điện Biên Phủ vào năm 1946 cùng với Leclerc.

    - Điện Biên Phủ ư? Ông kêu to lên như vậy trước mặt cử tọa cao cấp lúc đầu vui thích rồi sau sửng sốt.

    - Các vị cứ tưởng tượng ra một sân bay ở giữa quảng trường Mars trong khi kẻ địch chiếm giữ quả đồi Chaillot(1). Hơn nữa, với một cự ly như vậy, cách xa Hà Nội và Hải Phòng, thì các máy bay chỉ có mỗi việc là bay lên và bay về.

    Tướng Navarre đáp lại rằng đây là một quan điểm của phi công không phù hợp với ý kiến riêng của ông về tình thế hiện tại, tuy nhiên nỗi ngờ vực đã nhen nhóm. Ngoài ra, trong khi vẫn thừa nhận rằng ông phải tiến hành một trận đánh rất ác liệt tướng Navarre đã thẳng thắn mà nói rằng trận đánh đó có thể gặp phải những thất bại nặng nề.

    Để kết luận, Uỷ ban Quốc phòng hết lời tán dương bản kế hoạch, tuy nhiên yêu cầu Navarre áp dụng kế hoạch tuỳ theo khả năng của ông và đề ra những kiến nghị tiết kiệm hơn trong một thời hạn khá gần.

    Về sau Navarre nhiều lần nói rằng biên bản cuộc họp này không hề được thông báo cho ông và không phải là ông không biết rằng ngài René Mayer chỉ yêu cầu có mỗi một chuyện: tìm ra một lối thoát trong danh dự và rằng lập trường của ngài Joseph Laniel dù cho có vẻ hết sức nước đôi trước con mắt của ông và rất khó thay đổi, cũng chẳng khác chút nào.

    Không một ai nhấn mạnh để giúp cho vị tổng chỉ huy và viên quốc vụ khanh về quan hệ với các quốc gia liên hiệp tìm ra được một giải pháp đúng. Vị bộ trưởng quốc phòng, ngài René Pléven, phản đối việc đẩy mạnh cố gắng về quân sự nếu như chính phủ thuộc địa Việt Nam vẫn không quyết định xây dựng được một quân đội đích thực và ông yêu cầu rằng một nhiệm vụ rõ ràng phải được xác định cho tướng Navarre, việc này đã không được tiến hành. Đó chính là điều mà ngài Laniel coi như những chỉ thị cụ thể nhất mà một chính phủ có thể đưa ra cho một viên tướng chỉ huy. Thốt ra từ cửa miệng của ngài Laniel, câu nói thật có duyên. Ngài Laniel là một người thợ dệt thật thà của vùng Calvados(2), được ông bố thúc đẩy bước vào con đường hoạt động chính trị và trở thành bộ trưởng nhờ vào trò chơi của tình bạn và những công việc giúp ích cho người khác. Ở cái tuổi sáu mươi tư, các biến cố đã đưa ông trở thành một chủ tịch hội đồng bộ trưởng cũng như chẳng bao lâu sau đưa ngài Coty trở thành tổng thống nước cộng hòa, người này cũng như người kia đều là những mẫu số chung nhỏ nhất của các đảng chính trị.

    Ngài Laniel không phải là một ai đó, cũng không phải là một vật gì đó, mà là một con số không. Nội các của ông được cấu tạo, cũng như các bài diễn văn của ông nhờ vào những cái kéo cắt và lọ hồ dán. Ở điện Matignon, người ta không gọi ông là "Chủ tịch" cũng chẳng gọi là "Ông chủ” mà là "Cái ông Joseph khốn khổ".
    ________________________________________
    1. Đồi Chaillot: Tòa nhà xây trên đồi Passy năm 1878, nhân cuộc triển lãm năm đó. Xây lại năm 1937. – N.D.

    2. Calvados: một vùng của xứ Normandie (Tây Bắc nước Pháp). Một vùng công nghiệp giàu có. – N.D.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Ngày 25 tháng bảy 1953


    Navarre không tỏ vẻ quá ư khó chịu, ngày 24 tháng 7, đó là một thực tế. Có lẽ ông không đáng giá là người ta đã tán thành toàn bộ bản kế hoạch của mình, nhưng ông tin chắc là người ta không bác bỏ nó. Ông không nổi nóng, ông không đe dọa xin từ chức. Ông không điện cho Sài Gòn để thay đổi các quan điểm về cách thức tiến hành các trận đánh. Ngày hôm sau nữa, Navarre đã hạ lệnh nghiên cứu, trong trường hợp có một cuộc tiến công của đối phương trên vùng thượng lưu sông Mékong, một hành động phòng ngừa có nội dung là bất ngờ chiếm lấy vị trí Điện Biên Phủ.

    Navarre đã xem và sửa chữa bản mật lệnh này trước khi rời khỏi Sài Gòn và chắc chắn là ở ngay Paris. Do vì ông không có mặt ở Đông Dương cho nên chính đô đốc Auboyneau là người ký bản mật lệnh ấy, bởi lẽ đô đốc có thâm niên lâu hơn tướng Bodet, phó tư lệnh. Thủ tục quân sự không quan trọng: tác giả, chính là Navarre, ông vừa mới cụ thể hóa theo cách hiểu của ông những chỉ thị mà ông không nhận được.

    Thử hỏi Navarre sẽ có lỗi ở chỗ nào khi hi vọng có được những phương tiện mà người ta mặc cả với ông? Liệu có ai dám trách cứ ông vì đã muốn giành thắng lợi trong chiến tranh hoặc vì gần như đặt ra một việc đã rồi trước một chính phủ vốn chưa bao giờ bắt buộc ông phải đệ trình báo cáo trước khi lao vào bất cứ một việc gì? Bản mật lệnh ngày 25 tháng 7, khi được chuyển tới trên bàn các vị bộ trưởng và các tham mưu trưởng, không gây ra bất kỳ một xúc động nào, tuy nhiên nó đã chứng tỏ rằng Navarre không hề thay đổi các ý định của mình và rằng ông đang chuẩn bị đánh chiếm Điện Biên Phủ, ở Paris người ta chẳng biết nơi đó là cái gì và do bản năng, người ta không muốn.

    Vậy thì, ai là người dẫn dắt cuộc chiến tranh này? Chẳng có ai cả. Làm thế nào một trận đánh, như trận đánh Điện Biên Phủ lại sắp sửa nổ ra? Có phần nào là tình cờ. Tướng Navarre, người có nhiệm vụ duy nhất là tìm ra cho quốc gia một lối thoát trong danh dự đã hành động theo ý mình, với điều kiện không đòi hỏi thêm bất kỳ một sự tăng viện nào. Là một nhà quân sự giỏi, ông phải hiểu được điều đó. Người ta hiểu rằng ông thấy bất bình khi phải tung đạo quân viễn chinh ra theo ý kiến của cái viên cao ủy thiếu năng lực, những vị bộ trưởng chịu trách nhiệm về những mối quan hệ mơ hồ với các Quốc gia Liên hiệp, các tên gọi lạc quan, dưới cái tên ấy người ta tập hợp các chính phủ ma của Việt Nam, Lào và Cămpuchia, và những ủy ban quốc phòng địa phương. Nếu như, vì tình cờ, một vị bộ trưởng có điều gì ngờ vực về cơ sở đúng đắn của các hoạt động quân sự, ông ta sẽ xin ý kiến của vị chủ tịch hội đồng bộ trưởng, ông này không dám cho ý kiến và đành nghe theo. Còn về các phương tiện, quân số và vũ khí thì thuộc về ba quân khu, cùng với không quân và hải quân, các đơn vị này đều rất hà tiện xương máu của họ: và tiền bạc thì thuộc về Bộ Tài chính, bộ này không nhè ra một tí gì. Dưới triều đại của mười chín chính phủ kế tiếp nhau, chuyện vẫn là như vậy.

    Từ bảy năm trời nay, mọi chuyện diễn ra như vậy. Một vị tổng chỉ huy duy nhất, tướng De Lattre, đã nổi giận và gạt bỏ các cấp trung gian, không phải là để có được những mệnh lệnh mà ông sẽ không đồng ý tiếp nhận mà là để đòi hỏi người ta phải khuất phục những mong muốn của ông ta; tiếng nói của ông đã vang tới tận châu Mỹ, ông tới đó thuyết giáo về cuộc thập tự chinh của thế giới phương Tây. Khi ông chết, bầy ếch nhái lại trở lại vị trí cùng với bản đồng ca của chúng, và Salan đã thận trọng bước đi xuyên qua bãi lầy của những con đường thứ bậc. Navarre đã chấp nhận việc chỉ huy trong những điều kiện như vậy. "Cần phải có ai đó hi sinh thân mình", thống chế Juin đã nói như vậy. Sau này, Navarre sẽ viết một cuốn sách để tự bào chữa. Nói về tình hình chính trị, về tinh thần tư tưởng của đạo quân viễn chinh Pháp và của quân ngụy Việt Nam về hoàn cảnh, về quyết tâm chiến thắng và về niềm tin của đối phương, cuộc phân tích mà ông viết ra là đúng đắn và rõ ràng. Ông đã nhìn đúng. Ông không hề có chút ảo tưởng nào. Nhưng mà đó là một cuốn sách xuất hiện sau những biến cố chứ không phải là một cuốn nhật ký hành quân. Ngày chủ nhật cuối cùng của tháng bảy 1953, trước khi lên đường trở lại Đông Dương, trong một bữa ăn trưa ở chỗ các bạn hữu, Navarre đã nhắc lại câu mà ông đã nói với ngài De Chevigné để làm an lòng ông ấy: "Tôi sẽ không phạm phải các sai lầm của những người tiền nhiệm". Khi trở lại Sài Gòn, ông vẫn giữ nguyên những ý kiến ấy và ông chuẩn bị mở màn trận Điện Biên Phủ, cũng như Salan đã mở màn trận Nà Sản.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Tháng tám 1953


    Cogny lúc đầu, hình như nhìn nhận việc di chuyển các tiểu đoàn từ Nà Sản lên Điện Biên Phủ theo cách nhìn, số lượng là số lượng và giá trị là giá trị. Ông ta viết cho Navarre: “Tôi không tin tưởng tuyệt đối vào giá trị của trận địa hầm hào để bịt chặt một hướng. Luang Prabang cách Điện Biên Phủ hai trăm kilômét: chúng ta mạo hiểm một Nà Sản mới trong những điều kiện xấu hơn". Và ông ta đề nghị nhiều cách giải quyết, bởi lẽ hoàn cảnh đã không còn giống như một tháng trước đây, để rút đơn vị đồn trú ở Nà Sản bằng đường bộ hay đường không, vừa bỏ lại tại chỗ một tiểu đoàn cuối cùng, tiểu đoàn này sẽ tan vỡ và chạy ra các khu du kích.

    Thực tế, cuộc rút bỏ cuối cùng này được quyết định ngày 5 tháng tám ở Hà Nội, nhân cuộc viếng thăm của Navarre đến đây từ hôm trước để chủ trì một cuộc duyệt binh và trao tặng các huân huy chương của trận Lạng Sơn. Navarre gắn thêm một chiếc lá cọ lên các huân chương chữ thập chiến tranh của Cogny, De Gilles, của đại tá Ducournau hăng hái sôi nổi nhiệt tình, người chỉ huy trận đánh; của trung tá Raberin, người đã cùng với binh đoàn cơ động của mình đi đón các đơn vị quân dù. ông gắn lên lá cờ hiệu của tiểu đoàn dù thuộc địa số 6, tiểu đoàn này do Bigeard chỉ huy, bản thân Bigeard trong bộ trang phục dã chiến, hai tay áo xắn ngược lên, người thẳng đơ, mái tóc cắt ngắn dưới một chiếc mũ nồi mầu đỏ đầy vẻ khiêu khích, giống như chiếc mào con gà sống, một nụ cười thoảng qua trên vành môi. Navarre cũng thế, đôi lúc ông mỉm cười, kể cả khi ông gắn huân chương lên vầng ngực đồ sộ của Cogny, đến nỗi tưởng như ông phải nhón mười đầu ngón chân để rướn người lên mới với tới. Vào thời kỳ này, ở Bắc Kỳ, người ta như sống trong lò lửa. Mồ hôi đầm đìa nửa thân trên mọi người, thấm đẫm những chiếc áo sơmi. Những chiếc quần vải, nhanh chóng nhầu nát, bay phấp phới. Trong những giây phút khác, Navarre tựa như chìm đắm trong một vẻ trang nghiêm, nếu không phải là buồn bã. ông không phải là con người của những nghi lễ quân sự lớn. Cây gậy chỉ huy bọc da ông cầm trong bàn tay trái làm cho ông thấy vướng víu. Cogny, về phía mình, chỉ có nghĩ tới Nà Sản. Điện Biên Phủ ư? ông đã xếp cái kế hoạch này lùi vào phía sau khá xa của việc bố trí lại thế trận ở Lai Châu và theo ông nghĩ, Navarre cũng thế.

    Với mục đích đánh lừa quân Việt, những bức điện giả đã được viên tư lệnh trận địa ở Nà Sản đánh đi yêu cầu tăng viện cho mình ba tiểu đoàn. Để nhử mồi các đài quan sát, quân dù sẽ nhảy xuống từ những chiếc Dakota đầu tiên, sau đó máy bay dân dụng bắt đầu việc chở quân rút đi theo nhịp điệu cứ sáu phút xếp xong một máy bay, đúng theo yêu cầu của cơ quan vận tải quân sự. Người ta cũng đưa đi theo gần một nghìn hai trăm nông dân người Thái và ba trăm thân hào trong vùng lân cận đã từng hợp tác với người Pháp: đàn ông, đàn bà, con trẻ trèo lên các khoang máy bay cùng với hành lý, bát đĩa, những chiếc chảo chất đầy quần áo cũ, chai lọ, trong lúc đó những chiếc B26 và máy bay khu trục bay lượn trên các đỉnh núi kế bên, sẵn sàng nổ súng vào mọi vật động đậy.

    Bất chấp những cơn giông nổ ra mỗi đêm và gây trở ngại cho chuyến đi, đến cuối buổi chiều ngày 11 tháng tám chỉcòn lại khoảng vài chục người phải bốc đi, trong lúc đó các máy bay khu trục phá hủy các kho đạn dược và những chiếc xe tải. Cogny tuyên bố ở Hà Nội: "Tôi thấy sung sướng hơn là buổi chiều ở Lạng Sơn". Henri Amouroux sau này hỏi viên thiếu úy Makowiak, người trở về sau cùng:

    Anh sẽ làm gì nếu như chiếc máy bay của anh không thể hạ cánh được?

    - Tôi sẽ đi bộ để quay về.

    Việc Việt Minh không có phản ứng là do một sự cố nhỏ nhưng lại có tầm vóc lớn: máy thông tin trên đài quan sát của đối phương bị hỏng hóc. Sửa chữa xong, máy vô tuyến chuyển đi các bức điện đã bị dồn đống lại, trái ngược với trật tự về thời gian...

    Khi mà bộ chỉ huy quân Việt biết được tầm quan trọng của thông tin đó thì đã quá muộn để hành động. Cogny đã có lý khi nói rằng thắng lợi vượt quá mọi hi vọng. Phải chăng về cơn mưa những lời ca ngợi đổ xuống các viên tướng của họ ngày hôm sau, các phi công phải mắc nợ việc làm ngớ ngẩn của một chiến sĩ thông tin đối phương. Mười năm sau, khi tôi đặt ra câu hỏi cho tướng Giáp, ông vừa mỉm cười vừa trả lời:

    - Một trong những nguyên tắc chiến lược của chúng tôi là tìm cách giành quyền chủ động, Navarre đã nói rất nhiều về việc giữ vững quyền chủ động của ông ta. Các đơn vị bao vây Nà Sản số lượng không nhiều lắm và thời kỳ đó không nằm trong thời kỳ các hoạt động lớn của chúng tôi. Chúng tôi đã nghĩ là nếu Navarre rút bỏ cứ điểm Nà Sản, thì việc đó sẽ thuận lợi cho chúng tôi.

    Con người lạc quan này, tôi thấy hình như che giấu một chút bực mình nào đó.

    Với việc rút bỏ Nà Sản, một thắng lợi mới được ghi vào bản thành tích của Navarre. Trước ngưỡng cửa của chiến dịch đã mở màn, tướng Giáp quyết định nhổ bỏ cứ điểm kể cả nếu như ông phải tung ra những đợt xung phong bước qua tất cả, bởi lẽ tướng Giáp biết rằng người ta không tính đến số người chết khi mà thắng lợi nằm ở cuối trận đánh và các binh sĩ của ông chấp nhận cái chết với một niềm phấn khích. Điều đó đã làm cho chúng tôi cảm thấy ớn lạnh xương sống. Người ta có thể giả định một cách đúng đắn rằng việc rút bỏ Nà Sản thành công đã mang đến cho đối phương một nỗi thất vọng khá là cay đắng mà tướng Giáp chỉ tìm cách để che giấu. Người ta sẽ quan tâm đến điều đó. Người ta chuẩn bị cho ông ta một đòn phản kích.

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Theo đúng lôgíc, các sự kiện hiện ra như vậy trước mắt một nhà sử học, nhìn theo trật tự thời gian, ông cảm thấy choáng váng. Bởi lẽ câu trả lời lùi hoãn của Cogny nói với Navarre là trong ngày 6 tháng mười một. Ấy vậy mà các phiếu ghi chép ở cơ quan tham mưu của Cogny chỉ trích kế hoạch Điện Biên Phủ lại ghi ngày mồng 4. Như vậy là ngày hôm ấy, Cogny đã chuẩn bị để nói "Không" với tổng chỉ huy. Cần phải thú nhận rằng nếu như đã có những ý kiến phản bác thì cái câu "Không" ấy đã không được thốt ra. Do bởi vì trong đầu óc của vị tổng chỉ huy vẫn chưa phải là khái niệm Điện Biên Phủ cứ điểm vững chắc mà là Điện Biên Phủ "bước sơ thảo". Cogny, người đã run lên cho Nà Sản; Gilles, người đã chỉ huy ở đó và đã cúi gục vầng trán võ sĩ trước những trận tấn công của quân Việt, không có quyền cảnh báo Navarre về những gì chờ đợi ông ta ở Điện Biên Phủ. Điều mà Cogny không dám công khai nói ra, ông ta gửi gắm nó vào ngòi bút của tham mưu trưởng của mình: "Tôi tin chắc rằng Điện Biên Phủ, dù ta muốn hay không, sẽ trở thành một vực thẳm dành cho các tiểu đoàn, không có khả năng tỏa rộng ra xung quanh, ngay sau khi chỉ cần bị một trung đoàn vây chặt lại... Những hậu quả của một quyết định như vậy có thể rất nghiêm trọng ". Nhưng mà Cogny đã phục tùng bởi vì kỷ luật luôn luôn là sức mạnh chủ yếu của các quân đội và không một ai có thể trách cứ ông là đã miễn cưỡng tuân lệnh. Ngoài ra, vốn nổi tiếng là một trong số những cấp dưới bướng bỉnh, làm thế nào ông lại đã có thể không nghe lời một con người mà ông vẫn còn chưa hiểu rõ?

    Có vực thẳm dành cho các tiểu đoàn mà người ta dự báo ấy: hẳn là không thể nhầm lẫn, các viên tướng đã thì thầm nhắc đến bằng cách đối chiếu với những gai góc của các quy tắc, các chỉ thị, các bản hướng dẫn và của tôn ti trật tự. Đối với Cogny, con người vùng Normandie ấy vốn thường lật đi lật lại những lý lẽ và các câu chữ của mình, địch thủ chính là vị tổng chỉ huy, hơn là quân Việt. Về ngôi sao thứ ba và cương vị chỉ huy của ông ta, Cogny phải chịu ơn Navarre, nhưng không phải là ông không biết rằng Navarre, được báo trước là ông không hay ho gì đang rình đợi những phản ứng của ông và giữa hai viên tướng, một ván bài tế nhị đã bắt đầu. Tất nhiên, ngày 6 tháng mười một, trước mắt Cogny đã có những tờ phiếu nặng trĩu của cơ quan tham mưu của ông, nhưng ông giả bộ tạm thời không để ý đến chúng, bởi lẽ ông đã yêu cầu các sĩ quan của mình gấp rút hoàn thành báo cáo. Tiếp sau, ông đánh hơi thấy một cái bẫy trong đoạn cuối của bản mật lệnh đặc biệt ngày 2 tháng mười một. Ông tự nhủ là cái ông Navarre này, quá ngây thơ, sau này có thể sẽ đổ vấy cho ông phải chịu trách nhiệm về những việc đã không được thực hiện; và Cogny không trả lời là "Không", trong nỗi khiếp sợ bị buộc tội là nhát gan hay là bỏ lỡ cơ hội giành một chiến thắng. Nói cho cùng cái quyết định đang nói đến, thuộc phạm vi chiến lược là lĩnh vực phụ trách của tổng chỉ huy, và nữa, Cogny có thể cung cấp lực lượng tăng viện bởi lẽ tướng Giáp hình như đã từ bỏ cuộc tấn công vùng đồng bằng. Rút cục là một trong số người đầu tiên, Cogny đã muốn có Điện Biên Phủ. Và trận đó phải thành công.

    Không có điều gì đơn giản đến như thế! Để khám phá điều này, không cần phải nghiên cứu các tài liệu, năm mươi năm về sau, mà chỉ cần phỏng vấn các diễn viên của tấn thảm kịch. Xuất hiện gần như là tình cờ, cái tên Điện Biên Phủ dần dà có sức nặng. Từ ý tưởng này đến ý tưởng khác, từ mưu mẹo này đến mưu mẹo khác, từ tham vọng này đến tham vọng khác, người ta đã trôi dạt đến những mối hiểu lầm to lớn. Navarre đã nhận được một nhiệm vụ không rõ ràng. Điều rõ ràng là ông phải đương đầu với tướng Giáp và người ta sẽ buộc tội ông về tất cả những thất bại mà ông gặp phải. Cũng còn là vì ông tự cảm thấy, tựa như bất đắc dĩ, phải chịu trách nhiệm về danh dự của nước Pháp về quân sự, với ý thức về tất cả những gì diễn ra sau đó đối với đất nước, một khi ông từ chối. Và Navarre không phải là con người để từ chối nhiệm vụ.

    Không có gì dễ dàng trong việc thai nghén cuộc phiêu lưu này nhưng thật bõ công để người ta cố gắng hiểu rõ.

    Ngày 11 tháng mười một, đại tá Nicot, tư lệnh không quân vận tải của đạo quân viễn chinh nhận được lệnh tập trung toàn bộ máy bay của mình. Thông minh, dũng cảm, kiên quyết, Nicot không muốn phạm phải sai lầm. Ông nắm vững các đội bay và các phương tiện của mình; ông biết có thể chờ đợi gì ở đó. Có chút đầu bò đầu bướu nhưng phẩm chất thật là tốt trong một nhiệm vụ như vậy!

    Nicot không chỉ tuyên bố rằng đoàn máy bay vận tải không đủ khả năng đảm bảo việc tiếp tế thường xuyên cho Điện Biên Phủ, mà ông còn ghi rõ trong một bản báo cáo mà tôi đã được đọc. Navarre lắng nghe không có phản ứng gì. Corniglion Molinier đã từng nói đến vấn đề đó, theo cách nói khác: các phi công thường muốn rằng các nhiệm vụ phải tùy thuộc vào kỹ thuật, trong khi Navarre đòi hỏi điều ngược lại.

    Chuyện đảo ngược kỳ lạ hay là chuyện linh cảm? Phải chăng thái độ càu nhàu khó chịu của Nicot phản đối kế hoạch Điện Biên Phủ đã khiến cho Cogny đột nhiên thấy lo ngại hay là vấn đề bước vào công việc cụ thể. việc tiếp xúc với thực tế do việc nghiên cứu tình thế và do bởi màn sương mù và trận mưa bất ngờ đổ xuống vùng đồng bằng xung quanh Hà Nội? Liệu Cogny có đột ngột tự hỏi rằng nếu nh được rút bỏ gánh nặng Nà Sản, phải chăng ông ta sẽ rơi vào một cái bẫy đáng sợ hơn? Khi lại lên máy bay đi Sài Gòn để xác định kế hoạch chi tiết của trận đánh, đại tá Berteil nắm chặt trong cặp tài liệu một lá thư riêng, trong đó Cogny tuyên bố dứt khoát phản đối kế hoạch của tổng chỉ huy, tuy không đi đến chỗ từ chối không thực hiện kế hoạch đó.

    Kể từ lúc này, mọi việc đã rõ ràng. Navarre không thể mạo hiểm sáu tiểu đoàn quân dù ngược với ý kiến của những con người phụ trách việc chỉ huy và tiếp tế cho các tiểu đoàn đó Ngoài ông ra, ai là người mạo hiểm trong chuyện đó? Thôi được, nếu như ông không thấy khó chịu với những ý kiến phản đối thì ông không tính đến chúng, ông đã có quyết định. Theo đúng lôgic và theo đúng tôn ti trật tự, việc tuân lệnh hay là từ chức đó là việc của những người khác.

    Cogny chịu trận và không từ chức. Dù sao, viên trung tướng trẻ tuổi này đã làm hết sức mình để tổng chỉ huy quan tâm đến những mối nguy hiểm đang chờ đợi ông. Nhưng mà tạm thời lúc này những mối nguy đó không vượt quá những mối nguy của bản thân kế hoạch Castor. Ngoại trừ những phức tạp đột biến, các tiểu đoàn sắp được thả xuống có thể thu hồi về một tháng sau đó.

    Sự thực, Cogny bao giờ cũng sợ mình mắc sai lầm, không làm trọn nhiệm vụ của bản thân, một nhiệm vụ vốn không đơn giản, và bỏ mặc quân sĩ trong cảnh rắc rối. Vậy là, cũng cái ông Cogny, trong tháng sáu, đã thúc đẩy Navarre đánh chiếm Điện Biên Phủ, sẽ chao đảo giữa ý thức kỷ luật quân sự bảo ông phải tuân lệnh và lòng yêu nước thúc giục ông, bằng việc từ chức, để tố giác một sai lầm to lớn mà ông từ chối tham dự. Nhưng làm thế nào mà con người của những cánh đồng vùng đồng bằng lại hiểu được rằng ông đang đi lạc đường cùng với các đơn vị chưa được chuẩn bị, ở cách xa trụ sở của mình, hướng tới một trận đánh, sắp làm cho ông phải thua thiệt?

    Đối với đại tá Nicot. cảnh tượng rõ ràng hơn: người ta không thể vi phạm quá lâu những thông số về tải trọng của các máy bay, về các điều kiện sử dụng trước hoàn cảnh khí tượng hoặc chiến thuật mà không có nguy cơ bị gẫy cánh ở đó. Trong mọi trường hợp, việc đánh giá của đại tá Nicot, dựa vào kinh nghiệm của Nà Sản hoàn toàn đúng đắn và dựa trên những cảnh báo mà không quân, kể từ một năm nay, đã gửi cho Salan cũng như Navarre, về vấn đề Điện Biên Phủ. Sự thực chẳng bao lâu nữa sẽ xuất hiện.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    297
    15 tháng mười một 1953


    Theo sáng kiến của chính mình, ngài Marc Jacquet, quốc vụ khanh phụ trách mối quan hệ với các Quốc gia Liên hiệp, và như vậy là phụ trách chỉ đạo cuộc chiến tranh, đến Sài Gòn. Phải chăng ông đã bị ấn tượng về những quyết định được lựa chọn hai hôm trước, trong cuộc họp của ủy ban Quốc phòng mới mà ông có tham dự? Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chỉ có lời chúc ông có chuyến đi tốt lành. Ở Đông Dương, ngài Jacquet đại diện cho chính phủ, ít nhất là trong việc tiếp nhận các văn kiện, thư tín. Nếu như trong đầu óc của Navarre còn tồn tại những ý nghĩ lộn xộn thì ông có mặt ở đó để giảm thiểu chúng. Ấy vậy mà, ngài Jacquet khẳng định với Navarre rằng nếu như Việt Minh đến được Luang Prabang, cú sốc giáng xuống công luận ở nước Pháp sẽ lên án việc tiếp tục cuộc chiến tranh. Nếu như viên cao ủy có ý kiến trái ngược với bộ trưởng của ông ta, thì bộ trưởng sẽ đề cao vấn đề đó trong bản báo cáo ngoại giao mà tôi đã được đọc. Đối với Navarre, như vậy là vấn đề không còn gì phải nghi ngờ: cả trong tâm hồn và ý thức, ông tự coi là bắt buộc phải bảo vệ nước Lào và không một ai nói ngược lại.

    Làm như thế nào đây? Với những phương tiện mà ông có trong tay, việc bảo vệ nước Lào không phải là dễ dàng. Thành phố được xây dựng ở giữa rừng rậm, trong lưu vực sông Mékong, hai bên bờ toàn những núi cao; đường băng sân bay thì ngắn, các vùng phụ cận không được lát phẳng. Khôn ngoan hơn hết, cần phải ngăn chặn việc tiếp cận Luang Prabang không phải là bằng một chuỗi kế tiếp các chướng ngại mà đối phương sẽ lần lượt phá vỡ hết cái này đến cái khác mà là ngăn chặn ở cách đó hai trăm kilômét trên vùng Tây Bắc, trong lòng chảo Điện Biên Phủ, nơi mà Salan là người đầu tiên khoe khoang những lợi thế với Navarre.

    Về sau người ta đã trách móc Navarre là trước khi hành động không nắm được ủy ban Quốc phòng, cơ quan ở Paris chịu trách nhiệm chỉ đạo cuộc chiến tranh, và ngài Jacquet có cảm tưởng rằng Navarre, vốn không cho ông biết những ý nghĩ bí ẩn của mình, hình như bận tâm nhiều đến khía cạnh chiến lược của kế hoạch của mình hơn là trường hợp đặc biệt của nước Lào. Navarre cũng biết rằng cái ủy ban Quốc phòng này sẽ họp lại dễ dàng như một nhóm bạn bè chơi bi-a, rằng ông sẽ hỏi xin thêm những chỉ dẫn mới và sẽ chờ đợi những quyết định của ủy ban. Vả lại, phải chăng Navarre thật tha thiết nhận được những chỉ dẫn rõ ràng? Chính ngài Jacquet là người phải đề ra câu hỏi. Còn về cái lời trách móc kia mà người ta nêu ra với ông là đã không tính toán các trận đánh sát hợp với những phương tiện có trong tay, thì Navarre thực tâm tin là mình có thể mua được món đồ hảo hạng này bằng số tiền mình có. Điện Biên Phủ đối với ông, không đắt giá hơn Nà Sản đối với Salan. Vào thời kỳ ông sắp quyết định tung các đội quân dù xuống Điện Biên Phủ, những ý đồ của tướng Giáp càng lộ rõ thêm: đại bộ phận đội quân chiến đấu của đối phương chuyển mình hướng sang nước Lào. Đứng chân ở Điện Biên Phủ, Navarre sẽ khiêu khích đối phương. Chỉ có ai không hiểu tướng Giáp mới tưởng tượng ra rằng ông ta sẽ không tung ra hết lực lượng để rửa sạch mối hận thất bại của mình ở Nà Sản.

    Chắc chắn, Navarre đã không nhìn nhận các vấn đề đơn giản đến nh¬ thế. Những ý tưởng rõ ràng nhất được thể hiện trong ngôn ngữ của Học viện Chiến tranh, làm rối rắm và nặng trĩu các trí nhớ, những văn kiện và mật lệnh siêu hình phủ kín nhiều đống giấy đánh máy. Một con mèo không còn là con mèo, những con đường mòn có thể sử dụng được, những khoảng không gian mở ra trước mặt các tiểu đoàn, các binh đoàn cơ động và các đơn vị thiết giáp, không quân làm tròn mọi nhiệm vụ, bất chấp các điều kiện khí tượng. Nhưng mà trên đất liền, những con người vẫn là những con người và những quả núi vẫn là những quả núi. Để ngăn chặn được các sư đoàn đang hành tiến một cách vô hình, ban đêm hay ban ngày hòa lẫn vào cây rừng, Navarre chỉ nhìn thấy một hành động: bám đánh đối phương trước khi họ xuất phát hoặc ngay lập tức sau đó cắt đứt các tuyến đường liên lạc của họ để buộc họ phải quay trở lại, rồi mở một trận đánh tổng lực mà trong kế hoạch của mình, Navarre đã tuyên bố là muốn né tránh. Nói về cách giải. quyết này, về sau Navarre đã viết: “Vậy là cách giải quyết đó hứng lấy một nguy cơ hết sức rộng lớn ". Và thừa nhận một phần nào trách nhiệm. Dù sao, ở trước mặt ngài Jacquet, ông chỉ để lộ ra niềm lạc quan của mình. Có một Navarre bí ẩn.

    Như vậy là Navarre tin rằng bằng việc chiếm đóng Điện Biên Phủ, ông ta sẽ trực tiếp bảo vệ các khu vực bị uy hiếp. Vả lại, thử hỏi ông ta mạo hiểm điều gì? Viên tham mưu trưởng của ông, viên phó tư lệnh phụ trách tác chiến của ông, các kỹ thuật viên và các chuyên gia thuộc kíp của ông, tất cả, tiếp sau Salan, đều nhắc lại với ông rằng ở một khoảng cách xa các căn cứ của họ như vậy, Việt Minh không có khả năng đứng chân được lâu dài. Giọng nói tin tưởng, đôi môi khẽ bĩu ra, các sĩ quan phòng Nhì của ông cho ông biết là các sư đoàn của tướng Giáp cần phải sống bằng gạo, số gạo này do các dân công vác trên vai tiếp tế, và hầu như mất hết trên dọc đường vận chuyển. Navarre đã tìm được dẫn chứng về chuyện đó, sát tới từng kilômét và từng kilôgam, trong một tài liệu nghiên cứu rất bí mật của người tiền nhiệm về tình hình đối phương. Điều mà không một ai ở Học viện Chiến tranh nhận thức được, đó là việc tồn tại của một đội quân chiến đấu lại có thể được đảm bảo bởi năm mươi nghìn dân công, mỗi người vận chuyển vài kilôgam gạo: điều mà một vị tướng tổng chỉ huy đã trải qua suốt cuộc đời binh nghiệp trong các cơ quan mật vụ, huống chi là một đại tá say sưa với những chức vụ mới đầy uy quyền của mình, người đã nghiền ngẫm Clausewistz(1) chứ không phải hoàng tử De Ligne(2) hoặc đại tá Ardant du Picq(3), cũng đều không ngờ tới, đó là tải trọng của đoàn dân công có thể tăng lên hơn mười lần nhờ sử dụng những phương tiện thô sơ và tài tình: những chiếc xe đạp ấy xuất xưởng từ nhà máy Saint Étienne hoặc những xưởng máy của hãng Peugeot mà Việt Minh sử dụng từ năm 1951, bộ chỉ huy Pháp không thèm chú ý tới nhiều lắm, lại là những công cụ có khả năng thồ được ba trăm ki lô gạo. Càng hay, Navarre, vốn chưa bao giờ mạo hiểm cuộc đời mình, nếu không phải là trong những ván bài bridge, giữa bầu không khí thật thà, trang trọng của những cuộc tiếp khách cấp tỉnh, và còn đặt cược ít hơn, khi mạo hiểm mà không hay biết cuộc đời của hàng nghìn con người và nay đặt cược, trong lúc hiệp định đình chiến ở Triều Tiên đã được ký kết từ ngày 27 tháng bẩy, quả quyết rằng sự viện trợ của Trung Quốc sẽ không gia tăng.

    Ở Paris, ngày hôm đó, theo sáng kiến của vị bộ trưởng quốc phòng, ngài René Pléven và của tướng Ely, tham mưu trưởng liên quân, viên phó đô đốc Cabanier, tổng thư ký ủy ban Quốc phòng lần lượt được tổng thống và chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng triệu tới gặp và yêu cầu ông ta đi gấp sang Sài Gòn. Giải pháp cho cuộc chiến tranh lúc này chỉ còn xuất hiện trong cuộc thương lượng và người ta nghĩ tới việc nối lại việc tiếp xúc với Việt Minh, việc này có thể bị ảnh hưởng bởi những kế hoạch dự định của tướng Navarre. Tướng Ely trình bày dài dòng tình thế hiện tại với đô đốc, người được ủy thác một nhiệm vụ mà người ta không dám giao phó cho các công văn ngoại giao.
    _______________________________________
    1. Clausewistz: tướng và học giả quân sự nước Phổ (1780 - 1831)- Chống lại đạo quân của Napoléon. Thành lập Viện Hàn lâm Chiến tranh ở Beclin (Đức)

    2. Hoàng tử Ligne: Tướng quân sự. sinh ở Bruxelles (1735 - 1814). Phục vụ quân đội Áo rồi quân đội Nga. Tác giả nhiều cuốn sách.

    3. Ardant du Picq: Nhà văn quân đội Pháp (1821- 1870) - tác phẩm có ảnh hưởng lớn đền quân đội thời kỳ 1914 – 1918.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •