Trang 1 của 5 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 47
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    102

    Bí mật vụ Trân Châu Cảng (Nhiều tác giả)

    BÍ MẬT VỤ TRÂN CHÂU CẢNG
    (NHỮNG VỤ ÁN NỔI TIẾNG THẾ GIỚI)

    Nhiều tác giả - Nhiều người dịch
    NXB Công an Nhân dân 2004

    Số hóa: hoi_ls








    MỤC LỤC:

    *DÀN NHẠC ĐỎ HAY LÀ HAI MẶT CỦA CHIẾC HUÂN CHƯƠNG VÀNG
    *KHÁM PHÁ BÍ MẬT BOM BAY V1 VÀ V2
    *NƯỚC MẮT KẺ TỬ TÙ
    *CUỘC SĂN LÙNG CHIẾN HẠM KHỔNG LỒ TIRPITZ CỦA ĐỨC QUỐC XÃ
    *NGƯỜI NHÁI - THUỶ LÔI Ý TRONG QUÂN CẢNG ALẾCDĂNGĐƠRI
    *TẠI SAO HÍT LE KHÔNG SANG LUÂN ĐÔN ?
    *SỐ PHẬN NGƯỜI HÙNG MANG SỐ HIỆU A.54
    *BÍ ẨN VỀ PHÁO ĐÀI CUỐI CÙNG CỦA GƠ-BEN
    *VỤ ÁM SÁT HÂY-RÍCH VÀ TRANG SỬ ĐẪM MÁU LI-ĐI-XƠ
    *ĐIỆP VIÊN VÀ TÌNH YÊU
    *NGƯỜI BẠN GÁI CỦA KLAUS FUCHS VÀ VỤ TIẾT LỘ BÍ MẬT BOM NGUYÊN TỬ
    *BÍ MẬT VỤ TRÂN CHÂU CẢNG
    *TIÊU DIỆT CƠ SỞ NGUYÊN TỬ BÍ MẬT
    *BẢN MẬT MÃ GỬI GIÁM ĐỐC FBI TỪ MÁT-XCƠ-VA
    *CUỘC ĐẤU TRÍ QUYẾT LIỆT GIỮA KẺ ĐI SĂN, NGƯỜI ĐI SĂN
    *KẺ PHẢN BỘI TỆ HẠI NHẤT CỦA TÌNH BÁO QUÂN SỰ XÔ-VIẾT
    *VỀ SỰ KIỆN "MÙA XUÂN 1968” Ở TIỆP KHẮC CŨ
    *AI ĐÃ ĐƯA VỢ CHỒNG RÔ-DEN-BÉC LÊN GHẾ ĐIỆN ?
    *DIOMID ĐIỆP VIÊN HUYỀN THOẠI
    *CƠ QUAN RẤT BÍ MẬT CỦA RISƠLIƠ
    *VỤ DREYFUS VÀ PHÒNG NHÌ
    *NHỮNG CON HỔ GIẤY
    *NỮ ĐIỆP VIÊN TRONG THẾ CHIẾN THỨ NHẤT





    LỜI GIỚI THIỆU

    Cho đến nay đã có nhiều sách, báo, phim ảnh viết về những vụ án, những hoạt động gián điệp nổi tiếng trong thế chiến thứ hai. Đằng sau cuộc “đại chiến” đẫm máu và tàn bạo nhất trong lịch sử thì trong hậu trường của các nước tham chiến cũng diễn ra một cuộc chiến tranh có một không hai.

    Đáng chú ý là đại bộ phận những sách trên đều thuộc loại tiểu thuyết, truyện, rất hấp dẫn vì đầy tưởng tượng và hư cấu. Nhiều bạn đọc ngày nay rất thú vị về những truyện vụ án ly kỳ, có tính chất “sáng tạo" nhưng cũng có bạn muốn được biết các sự thật lịch sử.

    Ở châu Âu đã hình thành một loại sách truyện vụ án tư liệu mới. Loại sách này được bạn đọc châu Âu ham thích chính vì các sự kiện, tình huống thật hấp dẫn, minh hoạ bằng những lời kể của nhiều nhân chứng lịch sử.

    Các tác giả, đã để nhiều năm đi sưu tầm các tư liệu lịch sử về những vụ án lớn, những hoạt động tình báo được lưu giữ trong hai mươi lăm Cục lưu trữ và Phòng lưu trữ của nhiều nước, đã gặp gỡ, trò chuyện với một trăm hai mươi nhân chứng, có khi hai địch thủ ngày trước, nay gặp lại và trò chuyện với nhau ngay trên địa bàn hoạt động của họ thời chiến tranh. Để phát hiện sự thật, các tác giả đã đi một quãng đường dài, tổng cộng là hàng trăm nghìn ki-lô-mét.

    Những truyện tư liệu lịch sử trong tập sách này đã được nhiều nước quay thành phim và đã được giải nhất trong Liên hoan phim vô tuyên truyền hình thế giới lần thứ IX tại Mông-tơ Các-lô.

    Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một loại sách viết về thế chiến thứ hai kiểu hiện đại như vậy. Mong rằng loại hình mới về sách tư liệu này sẽ đáp ứng được yêu cầu chính đáng của các bạn : biết rõ sự thật trong nguyên bản lịch sử của nó.

    Trong điều kiện eo hẹp về nhiều mặt, chúng tôi chỉ có thể chọn giới thiệu ở đây một số vụ việc tiêu biểu trên các chiến trường châu Âu, châu Á, châu Phi và chủ yếu là châu Âu.

    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.


    NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

  2. #2
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    44
    DÀN NHẠC ĐỎ HAY LÀ HAI MẶT CỦA CHIẾC HUÂN CHƯƠNG VÀNG

    Năm 1942, Mát-xcơ-va là nơi tập trung nhiều mạng lưới tình bác có chân rết ở hầu hết các nước châu Âu, kể cả ở Bộ Tổng tư lệnh tối cao của Hít-le. Trong hậu trường của cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu, có sự phối hợp hoạt động của tất cả các điệp viên các nước nhằm chặn đứng các tham vọng điên cuồng của phát xít. Nói đến các mạng lưới ấy không thể không nói đến "Dàn nhạc đỏ" và những hoạt động xuất quỷ nhập thần của điệp viên Ba Lan Tơ- rep-pe.

    Mùa xuân 1926, cảnh sát Ba Lan bắt giam anh thợ trẻ hai mươi hai tuổi Lê-ô-pôn Tơ-rep-pe, vì tội kích động thợ thuyền đình công. Sau mấy tháng ngồi tù, được phóng thích, anh đến Vác-sa-va.

    Tơ-rep-pe đã học lịch sử và văn học ở Trường Đại học Cơ-ra-cô-vi nhưng trong hoàn cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế lúc bấy giờ, ở Vác-sa-va anh chẳng kiếm được việc làm và chỗ ở ổn định. Anh quyết định sang Pa-le-xtin. Ở đây anh làm công nhân nông nghiệp rồi đi học nghề thợ điện. Anh gia nhập Đảng Cộng sản vì nguyên nhân đó anh bị Chính quyền Anh bắt vì tội hoạt động chính trị. Sau khi được trả lại tự do, vào đầu những năm 30, anh bí mật sang Pháp.

    Chính ở Pa-ri, anh đã liên lạc được với các cơ quan mật vụ Liên Xô và gia nhập một mạng lưới tình báo Xô Viết. Mạng lưới này đặt dưới sự chỉ đạo của một người chỉ huy tài năng, hoạt động có hiệu quả hơn ba năm, chỉ thất bại khi bị một tên phản bội tố giác.

    Tơ-rep-pe đã chạy sang được Liên Xô kịp thời. Đến Mát-xcơ-va, người ta đưa anh vào Học viện quân sự và học nghề tình báo. Năm 1935, anh trở lại Pháp. Trong ba năm, anh làm nhiệm vụ con thoi giữa Liên Xô và các nước phương Tây.

    Mùa thu 1938, anh đến cư trú ở Bơ-rúc-xen (thủ đô Bỉ) với quốc tịch Ca-na-đa. Từ đó anh bắt đầu thành lập mạng lưới tình báo. Dưới cái vỏ hoàn toàn hợp pháp, anh xác lập các quan hệ buôn bán với nhà doanh nghiệp Lê-ô mà anh từng quen biết ở Pa-le-xtin. Tơ-rep-pe cùng với Lê- ô tổ chức một hãng Liên doanh. Hãng này chẳng mấy chốc đã có các chi nhánh ở Bỉ, Pháp, Hà Lan và Bắc Âu. Mùa hè năm 1939, Xta-lin ký một hiệp định với Hít-le và mạng lưới của Tơ-rep-pe vừa mới được thành lập được lệnh hướng các hoạt động về phía nước Anh.

    Thế chiến thứ hai bùng nổ. Khi các đoàn quân Đức kéo vào Bỉ tháng 5 năm 1940 , cùng đi với các đoàn xe bọc thép của Đức, ngoài vài nhà ngoại giao Bun-ga-ri còn có cả hai nhà doanh nghiệp quan trọng của Bỉ: Tơ-rep-pe và Lê-ô. Họ có cơ hội để tập trung các tài liệu cần thiết cho một bản báo cáo chi tiết chiến lược và chiến thuật chiến tranh chớp nhoáng. Trước khi các nhà quân sự Đức có thể tổng kết để gửi cho Tổng tư lệnh tối cao thì Mát-xcơ-va đã biết rõ vấn đề này trong từng chi tiết.

    Cùng lúc đó, người ta gửi đến cho Tơ-rep-pe hai sĩ quan Xô Viết để giúp việc: Ma-ka-rôp cháu của Bộ trưởng Ngoại giao Mô-lô-tôp với quốc tịch U-ru-goay và đại uý Xu-ku-lôp, sau này lấy bí danh là Kent, đóng vai sinh viên U-ru-guay. Năm 1937 cả hai đều được chuyển sang Tây- ban-nha để chiến đấu chống Fran-co. Ở Bỉ, Kent thuê mấy gian phòng làm chỗ làm việc và thành lập một công ty xuất nhập khẩu gọi là Si-mex-co.

    Tháng 8 năm 1940, Tơ-rep-pe đã đổi tên là Gin-be, chuyển một bộ phận mạng lưới tình báo của anh sang Pa-ri và để lại cho Kent và Si-mex-co mạng lưới ở Bỉ. Trong thời gian ấy, Tơ-rep-pe được chỉ định là người lãnh đạo mạng lưới tình báo Xô Viết trên toàn lãnh thổ Tây Âu và được phong một quân hàm tương đương với cấp tướng của Hồng quân.

    Sau khi các tài sản bị chính quyền chiếm đóng tịch thu, Lê-ô cũng chạy sang Pa-ri. Chỉ trong vòng vài tháng, nhà doanh nghiệp này đã tổ chức lại toàn bộ mạng lưới mới này và cung cấp được tài chính cho nó.

    Một nhân vật thứ ba xuất hiện: Hi-lê-kat. Y cũng gốc Ba Lan và cũng như Lê-ô, là bạn thân của Tơ-rep-pe từ thời ở Pa-le-xtin.

    Các nhân viên gọi Tơ-rep-pe là vị chỉ huy lớn. Từ tháng 5 năm 1941, từ Pa-ri anh đã có thể báo cho Mát-xcơ- va biết một thành công lớn của anh: anh đã thu thập được tất cả các tin tức có liên quan đến việc Đức xâm lăng Liên Xô. Những tài liệu ấy là chắc chắn.

    Thường thì Xta-lin khi nào cũng tỏ ra tin ở công việc của Tơ-rep-pe, nhưng lần này ông ta lại nghi ngờ anh có thể là nạn nhân của sự khiêu khích mà chính phủ Anh đang thực hiện. Cuộc xâm lược của Hít-le bắt đầu ngày 22 tháng 6 năm 1941 mới khẳng định giá trị chính xác của các thông tin của Tơ-rep-pe. Từ đó mạng lưới tình báo bắt đầu làm việc sôi nổi. Càng ngày Pa-ri càng trở thành nơi tập trung các tin tức từ mọi vùng của châu Âu gửi đến.

    Và cũng từ Pa-ri phát đi các luồng tin của Tơ-rep- pe. Mạng lưới hoạt động của Tơ-rep-pe rất được Xta-lin tin tưởng.

    Mùa thu đã đến bên bờ sông Xen. Ngày 16 tháng 10 năm 1941, trong khi Chính phủ Xô Viết và Đoàn ngoại giao phải rời thủ đô đến Quy-bi-xép cách ba trăm kilômét về phía Đông trước sự đe doạ tấn công vào Mát-xcơ-va của quân Đức. Cũng chính thời gian đó, Toà án Thương mại quận sông Xen cũng ghi vào sổ thương mại Pa-ri tên công ty xuất nhập khẩu Simex dưới ký hiệu 285031S.

    Công ty đặt trụ sở trên lầu một ngôi nhà số bảy tám đường Chams E-ly-dê, một đường phố có tiếng ở Pa-ri. Đồng thời có tất cả người phòng thuê tại nhiều quận khác nhau ở Pa-ri, vừa làm trụ sở phụ vừa là nơi ẩn giấu, điều bí mật đó chỉ có ban lãnh đạo Si-mếch biết.

    Với công ty Si-mex-co, thủ đô Bơ-rúc-xen là địa điểm chuyển tiếp của tất cả các thông tin. Tại Béc-lanh cũng có các đài phát của mạng lưới Xô Viết khác, do vậy Mát-xcơ-va ra lệnh: Từ Béc-lanh sang Bơ-rúc-xen phải dùng nhân viên liên lạc và từ Bơ-rúc-xen sẽ phát về trung tâm để chuyển đến Mát-xcơ-va.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Chúng tôi quan sát thấy những bệ nghiêng mà phía cuối ngẩng lên cao và hướng về phía biển. Vì khu vực này không thuộc phạm vi của tôi, tôi tìm những người có trách nhiệm và hỏi họ xem đã trông thấy những chiếc bệ kỳ lạ như thế này bao giờ chưa và theo họ thì chúng dùng để làm gì. Người ta trả lời tôi rằng họ đã trông thấy những cái đó. Họ ngờ rằng những chiếc bệ ấy nhằm mở rộng khu vực sân bay.

    Tôi trở về cơ quan, có phần nào không thoả mãn về những điều đã phát hiện ra. Tôi quan sát lại các tấm ảnh và trong đầu luôn luôn bị ám ảnh bởi những chiếc máy bay không người lái. Tôi báo cho vị chỉ huy đang ở Luân Đôn và mời ông ta khi trở về gặp tôi. Ông ta đã tìm gặp tôi ngay. Khi tôi chỉ cho ông xem các tấm ảnh, ông ngồi im lặng hồi lâu. Tôi ngờ rằng ông ta cho là tôi đã nhầm. Tôi mạnh dạn hỏi: "Ông có nghĩ rằng những chiếc bệ ấy dùng để phóng những chiếc máy bay nhỏ không?". Ông ta trả lời: "Tôi biết có những bệ phóng như vậy!". Ông nói với một ý thức hiểu biết rõ ràng bởi lẽ ông đã biết đến các công trình như vậy ở Pháp. Lúc bấy giờ là ngày 1 tháng 12 năm 1943.

    Trước đó một vài ngày, ngày 28 tháng 11, một máy bay trinh sát do một phi công trẻ có tài năng Mê-ri-phi-en lái, đã bay đi chụp ảnh thành phố Béc-lanh. Nhưng thời tiết lại rất xấu, Béc-lanh bị bao phủ sau các đám mây dày đặc. Anh ta tiếp tục chụp ảnh các vùng phụ trên bờ biển Ban- tích, nơi mà thời tiết tốt hơn. Một trong những vùng ấy chính là vùng căn cứ Pen-nơ-mun-đơ. Đúng vào buổi chiều sau khi việc phát hiện ra các bệ phóng đang làm cho tôi hết sức quan tâm và vị chỉ huy vừa nhớ lại những điều ông đã trông thấy ở Pháp thì cũng là lúc các bức ảnh mới được gửi đến cho tôi. Mê-ri-phi-en đã chụp những bức ảnh rất kịp thời. Các bệ phóng hiện ra trên các tấm ảnh và trên các bệ ấy rõ ràng có những chiếc máy bay nhỏ. Thật ra tấm ảnh không nét lắm nhưng do chúng tôi đã trông thấy chiếc máy bay và các bệ phóng trên những tấm ảnh khác , chúng tôi dám chắc rằng chúng tôi đã không nhầm. Giây phút thật là xúc động. Chứng cớ đã rõ ràng là các công trình dọc theo bờ biển Măng-sơ đều dùng để phóng bom bay. Sau đó lập tức chúng tôi phát hiện ra tầm cỡ của quả bom. Các chuyên gia đã tính được kích thước, sức nặng và sức công phá của chúng. Và lúc bấy giờ người ta đã có thể lập một kế hoạch cụ thể để đề phòng.

    Ngoài việc máy bay trinh sát hàng ngày đi chụp mọi khu vực của miền Bắc nước Pháp, Bộ Tổng tham mưu Anh đã thành lập ngay lập tức một tiểu ban gọi là Cơ-rốt- xbô có nhiệm vụ hoàn toàn tập trung vào cuộc chiến đấu chống lại mọi thứ vũ khí bí mật của Đức quốc xã. Soóc-sin đích thân làm trưởng tiểu ban này và quyết định đầu tiên là lập tức giội bom xuống tất cả các công trình hiện có ở Pháp.

    Theo các báo cáo của không quân hoàng gia, nhiều công trình đã được bảo vệ và nguỵ trang rất khéo léo. Người ta ngờ rằng có một vài công trình là giả tạo, một số khác đã được sửa chữa sau các trận ném bom. Một số nữa hoàn toàn ở trong màn bí mật.

    Phía bên kia bờ biển Măng-sơ, đến tháng 3 năm 1944, tất cả đã sẵn sàng đón nhận các vũ khí trả thù của Hít-le. Các đơn vị cao xạ được tăng cường dọc bờ biển. Ngoài ra khu vực "đại Luân Đôn" được bao bọc bởi một vòng hai ngàn quả khí cầu. Ngày 2 tháng 5 năm 1944, người ta được tin chắc chắn là người Đức không còn có ý định xây dựng lại các bệ phóng đã bị bom phá huỷ.

    Ngạc nhiên về cái tin ấy, Soóc-sin ra lệnh chụp ảnh lại một lần nữa - xin nói thêm, đây là lần thứ tư - toàn bộ miền Bắc nước Pháp. Người ta thấy rằng từ đã lâu, người Đức không còn sử dụng các công trình to lớn, đồ sộ mà các máy bay bỏ bom khổng lồ của Đồng Minh đã mất bao nhiêu công sức để công phá. Ngược lại chúng đang xây dựng bí mật những bệ phóng nhỏ, gọn nhẹ, có thể di chuyển được và nguỵ trang cực kỳ khéo léo khiến cho máy bay đối phương rất khó phát hiện.

    Khoảng sau bốn giờ sáng ngày 13 tháng 6 năm 1944 , đội tuần tra của một trạm quan sát không quân ở vùng Kent, phía Nam nước Anh, nghe "một tiếng rít giống như tiếng gầm thét" và thấy bay qua trên đầu họ một "chiếc máy bay tí hon", sau đuôi phụt ra những tia sáng màu da cam. Đã quá muộn để các súng cao xạ hoặc các máy bay chiến đấu có thể ngăn cản vật lạ ấy. Nó bay vút đi một cách ngang nhiên và chỉ vài phút sau, lao xuống một thành phố nhỏ, cách mục tiêu là Tô-ơ Bơ-rit-giơ khoảng ba mươi hai kilômét.

    Trong mười ngày đầu bắn phá, ba trăm bảy mươi quả bom bay V1 đã đánh trúng Luân Đôn. Sau đó các biện pháp phòng không đã được tổ chức lại: máy bay chiến đấu tìm cách chặn các bom bay V1 ngay trên biển Măng-sơ. Tất cả các súng cao xạ đều di chuyển đến dọc bờ biển. Một vòng dày khinh khí cầu bao bọc thành phố Luân Đôn. Khoảng giữa hàng rào cao xạ bờ biển và hàng rào khinh khí cầu máy bay tiềm kích bay tuần tra thường trực. Các biện pháp đề phòng có hiệu quả đến nỗi trong một ngày, chín mươi bảy quả bom bay bắn sang thì chỉ có bốn quả vượt được các hàng rào để lao xuống thủ đô Luân Đôn.

    Ngoài ra hàng vạn người dân Luân Đôn thoát chết chính là nhờ kỹ thuật bom bay của Đức còn có chỗ chưa hoàn hảo. Từ khi quả bom lao xuống cho đến lúc nổ, còn có một vài giây khiến người ta có thể chạy ngay đến chỗ ẩn nấp. Một yếu tố quan trọng nữa là trong thời gian phóng bom bay, người Đức không biết được cụ thể hiệu quả. Chúng phải dựa vào các tin tức trên báo hàng ngày của Anh phát hành sau các trận phóng bom để dự đoán kết quả của vũ khí bí mật. Nhưng đến một lúc chúng cũng thiếu nốt phương tiện ấy: các tin đăng trên báo nói rất ít và rất lờ mờ. Nguồn tin cuối cùng là do các nhân viên phản gián làm việc ở Anh. Nhưng thời gian này, cơ quan mật vụ Anh đã khôn khéo chặn tất cả các sóng điện phát ra ngoài. Vì vậy mà tám mươi phần trăm các vụ phóng đều chệch mục tiêu.

    Nhưng người Đức không phải chỉ có V1. Ngày 19 tháng 9 năm 1939, mười chín ngày sau khi cuộc thế chiến thứ hai bùng nổ, Hít-le lần đầu tiên tuyên bố trước thế giới, qua một bài phát biểu trên đài phát thanh, là nước Đức có một thứ vũ khí chưa ai biết đến. Hít-le không nghĩ rằng câu nói đơn giản ấy đã lập tức làm nổ ra cuộc chiến đấu của Đồng Minh chống thứ vũ khí bí mật ấy, cuộc chiến đấu kéo dài từ đầu cho đến những ngày cuối cùng của cuộc chiến và cái giá phải trả là hơn hai ngàn chín trăm phi công Đồng Minh phải hy sinh tính mệnh, hàng trăm máy bay ném bom bị bắn rơi và khoảng năm trăm ba mươi triệu đô-la bị tiêu phí.

    Đài BBC đã ghi âm ngay bài phát biểu của Hít-le và chuyển đạt cấp tốc cho Chính phủ.

    Thủ tướng Săm-béc-lanh ( Thủ tướng Anh trước Soóc-sin) giao cho cơ quan tình báo Anh nghiên cứu ngay đó là thứ vũ khí gì. Giáo sư Vic- to Giôn chỉ huy bộ phận nghiên cứu khoa học của cơ quan phản gián, một bộ phận mới thành lập của không quân Anh, kể lại:

    "Đầu tháng 9 năm 1939, tôi nhận trách nhiệm chỉ đạo một cơ quan thông tin khoa học. Phải nói rằng chúng tôi hoàn toàn chưa biết một tí gì về những điều đã xảy ra ở Đức trên bình diện khoa học, kỹ thuật. Chúng tôi phải tìm cách lấp lỗ hổng ấy.

    Vừa mới nhậm chức thì tôi đã nhận ngay được một bưu kiện do sứ quán Anh ở Ô-xlô (Na-uy) gửi về Luân Đôn. Câu chuyện về bưu kiện ấy hơi rắc rối. Một hôm trong thùng thư của sứ quán Anh, người ta thấy một lá thư nói rằng "Nếu các ông muốn biết về những hoạt động khoa học kỹ thuật ở Đức thì các ông chỉ cần thay đổi một chút trong lời mở đầu các buổi phát thanh của đài BBC hướng về Đức". Nếu tôi nhớ không nhầm thì người ta đề nghị thay lời mở đầu thông thường bằng câu: "A-lô! Đây là Luân Đôn". Tác giả của bức thư vô danh sẽ biết rằng chúng tôi cần có những thông tin về tình hình khoa học kỹ thuật ở Đức và sẽ tìm cách thông báo cho chúng tôi biết.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    4
    Chúng tôi thay đổi ngay lời mở đầu buổi phát thanh BBC và hôm sau, trong thùng thư sứ quán lại có một lá thư thứ hai. Tuỳ viên hải quân Anh mang lá thư ấy về Luân Đôn. Một sĩ quan bước vào phòng tôi và nói: "Đây lá thư cho ông". Y đặt bưu phẩm lên bàn. Tôi tự hỏi không biết trong này có cái gì: rất có thể đây là một cái bẫy. Nó có thể nổ tung khi mở ra chăng? Tôi mở bưu phẩm cực kỳ thận trọng. Nó không nổ tung, mặc dầu bên trong là một tên lửa. Tên lửa này do người vô danh gửi kèm theo một bản báo cáo. Người ấy viết rằng đây là bộ phận mà người Đức đang thực hiện và sẽ dùng để chế tạo một loạt tên lửa có điều khiển để chống máy bay.

    Tên lửa không cần phải đụng vào máy bay mới nổ, chỉ cách một quãng cần thiết nó đã nổ. Ngoài tên lửa, trong thư còn có nhiều thông tin khác. Một thông tin có liên quan đến hai loại ra-đa mà người Đức đã thực hiện. Chính nhờ loại ra-đa này, kẻ địch đã hạ được nhiều máy bay của Anh trong hai trận oanh tạc vừa qua. Đương nhiên những thông tin đó làm cho chúng tôi hết sức quan tâm. Sau đó chúng tôi lại được biết người Đức đã chế tạo được các thuỷ lôi có điện nam châm. Ngoài ra có một cơ sở gọi là Pen-nơ-mun-đơ rất quan trọng. Tác giả bức thư không nói gì rõ về điểm này nhưng ở một giai đoạn khác trong bản báo cáo, anh ta ngầm ý nói rằng ở đó có một tên lửa tầm xa, đường kính tám mươi xăng-ti-mét, người Đức vừa mới hoàn thành. Một thông tin khác có liên quan đến việc hoàn tất một phương pháp mới nhằm đo đạc các khoảng cách trên không mà anh ta gọi là thước đo vô tuyến của phi công. Người ta có thể sử dụng các máy ấy ở mặt đất để điều khiển các máy bay ném bom. Thông tin này cực kỳ quan trọng, sau này loại máy ấy được gọi là máy Y.

    Chúng tôi lưu giữ tất cả các thông tin ấy và đương nhiên là cơ sở Pen-nơ-mun-đơ đối với chúng tôi có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng cũng như hiện tượng người Đức đang thể nghiệm các loại tên lửa lớn.

    Nhưng bản báo cáo lại gặp số phận không may. Nó quá đẹp và chứa đựng quá nhiều thứ, có liên quan đến bao nhiêu lãnh vực, từ ra-đa đến tên lửa rơi đến các máy bay Jung-ke 88 dùng làm máy bay ném bom - điều mà lúc bấy giờ chúng tôi chưa hề biết đến. Vì vậy mà các bộ, ban lãnh đạo hải quân, bộ không quân và nội các chiến tranh, lúc đọc bản báo cáo, nói chung đều có thái độ ngờ vực. Nhất là ban lãnh đạo hải quân biểu lộ thái độ hoàn toàn không tin tưởng: người ta cho rằng ở Đức làm gì có người nào lại biết được lắm thứ như vậy. Bản báo cáo chỉ là một mánh khoé của cơ quan mật vụ Đức nhằm cung cấp cho người Anh những tin thất thiệt làm cho người Anh sao nhãng, không chú ý đến những gì đang thật sự xảy ra ở Đức. Riêng phần tôi, tôi không tán thành quan điểm ấy và tôi cứ lưu giữ bản báo cáo. Các bản sao khác, tôi chắc là đều bị huỷ hết".

    Số lượng lớn các bản vẽ và kế hoạch trong báo cáo, khối lượng quá lớn các thông tin khoa học mà một người riêng rẽ không thể nào biết hết được, những tri thức quá xa sự thật khiến người ta nghĩ đến một cuốn tiểu thuyết của G. Véc-nơ v.v... Tất cả những điều đó làm cho các cơ quan chuyên môn ở Luân Đôn xem bản báo cáo là một trò bịp của cơ quan tuyên truyền Đức. Vì vậy người ta cho vào hồ sơ lưu trữ. Thế nhưng giáo sư con rể của Soóc-sin, ở Bộ Tiếp tế lương thực, đã nhiều lần tìm "báo cáo Ô-xlô" để nghiên cứu.

    Năm 1936, ở Đức người ta đã bắt đầu xây dựng trung tâm nghiên cứu Pen-nơ-mun-đơ và chú ý nghiên cứu các loại tên lửa lớn. Chính ớ đây người ta đã thể nghiệm loại tên lửa lớn đầu tiên, sau này gọi là bom bay V2.

    Nhưng sau khi cuộc chiến bắt đầu, công việc đã ngừng lại. Nó ngốn quá nhiều ngân sách của không quân. Vả chăng sau các chiến thuật chiến tranh chớp nhoáng thành công, Hít-le nghĩ rằng không cần phải có tên lửa cũng có thể chiến thắng được.

    Chỉ đến ngày 20 tháng 8 năm 1941, Hít-le mới ra lệnh tiếp tục nghiên cứu V2 bởi lẽ sau những trận oanh tạc các thành phố lớn của không quân Anh, và Mỹ bắt đầu cung cấp vũ khí cho Liên Xô thì cuộc chiến bắt đầu chuyển sang một cục diện mới. Đức dốc sức vào việc chế tạo vũ khí bí mật.

    Quả bom bay V2 đã phóng lên thành công ngày 3 tháng 10 năm 1942. Nó nặng gần mươi hai tấn, dài khoảng mười hai mét, đường kính một mét năm mươi, chứa một tấn thuốc nổ và có thể bay xa ba trăm bốn mươi kilômét. Có nhiều tín đồn đại về vũ khí bí mật của Đức nhưng hãy còn mơ hồ nên ít người chú ý. Mãi đến cuối 1941, ba bản báo của một nhà hoá học Đan Mạch gửi đến Luân Đôn mới chỉ rõ Pen-nơ-mun-đơ là một trung tâm nghiên cứu vũ khí cực kỳ quan trọng. Cơ quan tình báo của phong trào kháng chiến Ba Lan cũng khẳng định tin này.

    Giáo sư Giôn kể lại:

    "...Khoảng tháng 12 năm 1942, chúng tôi bắt đầu chú ý đến "báo cáo Ô-xlô" và tên lửa tầm xa. Nhà kỹ sư hoá học Đan Mạch cho chúng tôi biết là ở Béc-lanh, ông đã bất ngờ nghe được mẩu chuyện giữa hai kỹ sư nói về một thứ vũ khí mới có thể bắn từ bờ biển Ban-tích và có thể đi xa tới hai trăm kilômét. Chúng tôi bắt đầu lo ngại. Đầu năm 1943, nhiều bản báo cáo khác cũng nói về vấn đề ấy. Đúng là một cái gì đó đang diễn ra trên bờ biển Ban- tích. Một hôm viên sĩ quan trợ lý bỗng nhiên nói với tôi: "Này giáo sư, chúng ta cần phải chú ý một cách nghiêm túc đến các tên lửa ấy đấy. Ông xem đây", y đưa cho tôi bản ghi âm cuộc nói chuyện của hai viên tướng Đức trong nhà tù. Máy ghi âm được giấu kín ở một góc phòng giam. Một viên tướng nói: "Chắc có điều gì trục trặc về các tên lửa. Tôi đã trông thấy chúng cách đây mười tám tháng và viên chỉ huy đã nói với tôi là sẽ dùng sau một năm. Hình như chúng mình đang ở gần Luân Đôn, ấy thế mà tuyệt nhiên chẳng nghe thấy gì cả. Chắc là có gì trục trặc đây".

    Chúng tôi nghĩ, đúng là cần phải làm ngay một cái gì. Và thế là Pen-nơ-mun-đơ lâu nay bị lãng quên, nay bóng nhiên trở thành một đối tượng được đặc biệt chú ý. Chúng tôi tìm đủ mọi cách để phát hiện xem có phải ở đấy kẻ địch đang chế tạo tên lửa xuyên lục địa không".

    Tháng 3 năm 1943 cơ quan nghiên cứu hàng không được báo động. Mặc dầu vậy, người ta vẫn nghĩ rằng đó là một kiểu phao tin của người Đức để làm cho người Anh hoảng sợ và phung phí vào những cuộc oanh tạc vô ích.

    Đến tháng 6 năm 1943 thì người Anh đã có đủ chứng cớ để kết luận rằng: tại Pen-nơ-mun-đơ kẻ dịch đã chế tạo ra những cái ngoài sức tưởng tượng của người Anh.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    11
    ...Ngày 7 tháng 7, mấy tuần trước cuộc oanh tạc khổng lồ của không quân Anh, Hít-le đã ra lệnh thực hiện khẩn trương kế hoạch sản xuất loại bom bay V2. Y cho rằng vụ oanh tạc là do có kẻ phản bội. Cơn tức giận của Híl-le tác động đến cả đội ngũ không quân Đức. Sau cú điện thoại của Hít-le với Gơ-rinh, Bộ trưởng không quân, viên tướng tham mưu trưởng không quân có trách nhiệm bảo vệ Pen-nơ-mun-đơ đã phải tự sát.

    Người Đức bắt đầu tìm cách nguỵ trang bằng nhiều cách, nhất là phao tin đình chỉ sản xuất vũ khí bí mật. Các công xưởng đều đưa sâu xuống dưới đất làm thành một mê cung những hang động kéo dài hàng cây số.

    Việc xây dựng khu vực này đã phải trả giá bằng sinh mệnh của hàng chục nghìn tù binh khổ sai. Bắt đầu từ ngày 1 tháng 9 năm 1943, ở đây người ta bắt đầu sản xuất V2 theo hệ thống dây chuyền và chỉ cần kiểm tra lại một lần cuối cùng các cơ chế tự động. Mặc dầu bọn SS kiểm tra cực kỳ nghiêm ngặt, các tù binh vẫn thực hiện được sự phá hoại từ bên trong. Có đến gần một phần ba V2 không bay được đến Luân Đôn, hoặc nổ ngay trên dàn phóng hoặc đi chệch đường bay.

    Suốt mùa hè 1943, nhiều công trình bê-tông cốt thép mọc lên trên miền Bắc nước Pháp, đó là những bệ phóng tương lai của V2. Qua phong trào kháng chiến Pháp, các tù binh đã tìm cách thông báo cho Anh về nguy cơ sắp xảy đến. Anh và Mỹ đã huy động tất cả các máy bay ném bom để công phá các công trình gồm hàng triệu thước khối xi-măng cốt sắt.

    Một tốp máy bay oanh tạc bốn động cơ của Mỹ dã thất bại mặc dầu mang đầy chất nổ và được điều khiển tự động bằng vô tuyến sau khi các phi công đã nhảy dù xuống biển Măng-sơ. Người em của Tổng thống tương lai Ken-nơ-đi, trung uý phi công, đã hy sinh vì chiếc máy bay nổ tung quá sớm, lúc còn bay trên đất Anh. Nhà bác học Oa-li đã sáng chế ra một loại bom mười tấn để phá các công trình của Đức dày hàng chục thước bê-tông cốt sắt.

    Hít-le giao trách nhiệm bảo vệ vũ khí bí mật V2 cho đội SS. Chúng nguỵ trang thành những khu dân cư bình thường, những đàn bò bằng gỗ trên bãi cỏ, những người nộm trước các quán hàng và đó đây phấp phới các quần áo phơi trên dây. Các đại liên và pháo cao xạ đều được nguỵ trang hết sức khéo léo. Từ tháng 11 năm 1943, tất cả đều đã sẵn sàng. Mặc dầu đã có nhiều báo cáo, phía Đồng Minh vẫn nghĩ rằng đây là một xí nghiệp chế tạo máy bay sơ tán. Cho đến một hôm cuối năm 1943, một chiếc xe du lịch chở ba người khách bị tai nạn. Ba người Đức đều bị thương nặng và được mang cấp cứu tại bệnh viện. Một số công chức cao cấp đến hỏi thăm. Chỉ vài giờ sau, cả ba đều chết. Sự quan tâm đặc biệt của người Đức đối với ba vị khách thường dân, sự luyến tiếc đối với cái chết của họ đã đánh thức tính tò mò của các nhân viên bệnh viện. Cơ quan mật vụ Ba Lan (công trình của Đức xây dựng trên đất Ba Lan bị tạm chiếm) phát hiện ra rằng đó là ba chuyên gia bậc thầy của việc chế tạo vũ khí bí mật. Đồng Minh phái ngay các điệp viên đến khu vực này. Người nhân viên gác rừng đã tiết lộ cho họ biết nhiều sự việc lạ lùng xảy ra ở đây từ hồi mùa thu. Mỗi buổi sáng, một chiếc máy bay lượn mấy vòng trên khu rừng rồi sau đó biến mất. Tiếp theo là một tiếng nổ như sét và một quả đạn khổng lồ bay thẳng đứng từ từ lên khỏi rừng, cuối cùng tan biến trong không khí sau một tiếng nổ mạnh. Các điệp viên cũng chụp được nhiều bức ảnh. Họ cùng quan sát thấy những chuyến tàu hoả chở các thứ bom khổng lồ ấy đi đến một địa điểm khác.

    ...Ngày này qua ngày khác, khu vực yên tĩnh ấy bị xáo động dữ dội bởi những tiếng nổ xé tai, có ngày đến bốn lần. Các quả bom bay thể nghiệm gieo rắc cái chết và sự tàn phá trên một khu đất chừng sáu mươi mét vuông, có nhiều xóm làng và thành phố. Bọn địch rải truyền đơn để giải thích đánh lạc hướng quần chúng.

    Ở Luân Đôn người ta hết sức quan tâm theo dõi từng chi tiết nhỏ các hoạt động ở vùng này. Bộ tư lệnh đòi hỏi các cơ quan gián điệp phải tìm cách sưu tầm các bộ phận của tên lửa.

    Một hôm, cuối tháng 5 năm 1944, một người nông dân báo cho biết địa điểm của một tên lửa rơi mà không nổ. Người ta vội vàng đến tận nơi chụp ảnh và tìm cách giấu tên lửa vào một chỗ kín. Bọn Đức mở một cuộc tìm kiếm trên một khu vực rộng lớn, nhưng ba ngày sau thì xem như thất bại và công việc tìm kiếm bị bỏ.

    Một chiếc máy bay vận tải Đakôta được bí mật phái đến và chở các bộ phận của V2 về Luân Đôn. Ma-rêc- xen đi trên chiếc Đakôta kể lại nỗi gian truân như sau:

    "Giờ xuất phát trở về của chiếc Đakôta thật là bi kịch. Đó là đêm 25 rạng 26 tháng 7 năm 1944 . Đêm rất yên tĩnh. Mặt trận cách xa không là bao. Bỗng có tiếng động cơ máy bay, chiếc Đakôta lượn một vòng trên đầu chúng tôi rồi hạ cánh.

    Mọi thứ đều được nhanh chóng chuyển lên máy bay. Và động cơ bắt đầu nổ. Nhưng chiếc máy bay vẫn đứng yên. Chắc là có chuyện gì đó, viên phi công tắt máy, nhảy ra ngoài và yêu cầu tất cả chúng tôi cùng xuống. Các bạn bè của tôi quan sát các bánh xe, người ta hỏi viên phi công xem đã mở máy hãm ra chưa? Lại thử cho máy bay cất cánh. Tát cả chúng tôi lại lên nhưng đâu vẫn hoàn đấy. Động cơ nổ ầm ầm, nhưng máy bay vẫn không nhúc nhích. Thật là khủng khiếp. Chúng tôi lại phải bước xuống, té ra bánh máy bay bị lún xuống đất bùn.

    Mọi người đều nổi cơn gai ốc. Cả bãi cỏ rực sáng dưới ánh đèn pha của máy bay, tiếng nổ của động cơ lại càng âm vạng mạnh mẽ hơn trong đêm khuya.. Bất cứ lúc nào bọn Đức cũng có thể ập đến. Chúng đóng quân ở gần đấy thôi. Chúng tôi vội vàng chặt các cành cây rồi đem đặt trước máy bay. Chúng tôi lại nhảy vội lên, và phi công lại cho nổ máy. Lần này tiếng động cơ nổ còn mạnh hơn, đuôi máy bay đã bắt đầu nhích lên... nhưng máy bay vẫn đứng nguyên tại chỗ, không nhích lên được một bước.

    Mọi việc lại bắt đầu từ đầu. Chúng tôi lại phải nhảy xuống. Viên phi công tắt đèn pha. Bánh máy bay đã lún sâu xuống bùn. Đoàn phi hành dự định phải đốt cháy máy bay.

    Tất cả chúng tôi đều kinh hoàng. Chúng tôi đã mất bao nhiêu công phu chuẩn bị, đã chờ máy bay đến gần hai tuần lễ và sống những giờ phút cực kỳ nguy hiểm. Tất cả những điều đó cuối cùng đều vô ích hay sao? Tôi mang một bao nặng đầy những báo cáo mật, tôi nhất định phải đến Luân Đôn càng sớm càng tốt. Các bạn bè của tôi cũng đều như vậy cả. Chúng tôi đứng im lặng như chôn chân xuống đất. Nhưng các bạn trong phi hành đoàn chưa chịu bó tay. Người thì lấy tay móc đất bùn dưới bánh máy bay, người thì đi tìm các tấm gỗ, thân cây khô đặt lên mặt đất. Sau khi móc hết đất bùn, người ta luồn các phiến gỗ xuống dưới bánh máy bay. Và chúng tôi lại leo lên. Động cơ lại nổ rền vang, chiếc máy bay bắt đầu lăn bánh, mỗi lúc một nhanh và cuối cùng nó cất cánh".

    Sau đó, chiếc Đakôta hạ cánh xuống Luân Đôn. Các bộ phận của tên lửa được nghiên cứu hết sức tỉ mỉ. Điều rõ ràng đối với loại tên lửa này là không thể phá đường bay của nó bằng cách gây nhiễu ra-đa. Hơn nữa không thể nào ngăn cản đường bay của nó khi nó đã đạt tốc độ siêu âm.

    Ngày 3 tháng 9 năm 1944, sau mười tám giờ, có một tiếng nổ cực mạnh ở vùng ngoại ô Luân Đôn. Hai mươi ngôi nhà bị phá huỷ, nhiều người bị chết và bị thương nặng. Có tin đồn là một ống dẫn hơi lớn bị vỡ. Đó là cách người ta giải thích về quả bom bay V2 đấu tiên phóng xuống Luân Đôn.

    Tám tuần lễ sau, ngày 10 tháng 11 năm 1944, Soóc-sin mới tuyên bố trước Nghị viện rằng những vụ nổ cực mạnh trong mấy tuần qua, mỗi vụ phá huỷ hàng chục ngôi nhà, là hoàn toàn không có liên quan gì đến các ống dẫn hơi đốt.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    5
    NƯỚC MẮT KẺ TỬ TÙ

    Một buổi sáng đầu năm - ngày 8 tháng Giêng năm 1949 nhân dân Pa-ri xôn xao bàn tán về cái tin vừa niêm yết trước Toà án: bà Ma-tin Ca-rê bị kết tội tử hình. Bà Ma-tin Ca-rê là ai? Và tại sao một người đàn bà lại phải lãnh án tử hình?

    Ma-tin Ca-rê là một phụ nữ xinh đẹp, vóc người thon thả, mái tóc nâu mượt mà, hai hàm răng trắng nõn, đều đặn và cặp mắt dường như khi nào cũng có cái nhìn sâu thẳm.

    Mác-xen A-sa, viên sĩ quan đóng vai trò nòng cốt trong cơ quan tình báo Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai và là tay chân của tướng Gioanh, tuyên bố trước toà án:

    "Ma-tin Ca-rê đã lập được nhiều thành tích giúp quân đội Pháp. Trong những năm bà ấy làm việc với chúng tôi, bà đã khám phá được nhiều kế hoạch chiến dịch của quân Đức".

    Năm 1939 Ca-rê còn sống ở An-giê-ri. Đó là một cô gái có tính cách đặc biệt, biểu hiện trong cả những đường mi đậm nét, trong đôi môi đầy đặn và cả khi cô ấy ngồi bắt chéo chân, đôi chân nổi lên những bắp thịt rắn chắc và sống động.

    Cô gái lấy chồng là một sĩ quan Pháp, viên sĩ quan đã hy sinh trên chiến trường châu Âu. Sau đó cô quyết định sang sinh sông sở Pa-ri. Sau thất bại của Pháp năm 1940 đã đẩy cô phiêu bạt xuống miền Nam, ở Tu-lu-dơ. Ở đây Ca-rê có sáng kiến tự mình tổ chức một trung tâm để cứu giúp những người bị nạn. Một hôm cô tiếp xúc với một người đàn ông đang tỏ ra cần sự giúp đỡ của cô. Đó là một sĩ quan Ba Lan vừa mới trốn khỏi nhà tù của phát xít Đức, có một cái bên Ba Lan rất khó gọi (tên Ba Lan của viên sĩ quan này là Roman Czerniawski), Ca-rê gọi anh ta bằng cái tên Ác-măng. Còn anh thì gọi cô là "Con Mèo của tôi" vì nét duyên dáng hiếm có của cô.

    Sau này Ác-măng kể lại: Khi bọn Đức chiếm Ba Lan, tháng chín năm 1939, tôi là đại uý trong không quân Ba Lan. Tôi được lệnh rời khỏi Vác-sa-va bay vội vã qua Ru-ma-ni rồi sang Pháp. Ở đó tôi nhanh chóng được đào tạo để làm việc cho cơ quan phản gián. Sau khi Pháp thất bại, tôi chạy đến Luy-nê-vin và ở nhờ tại nhà bà Rơ-nê Boóc-ni. Khi tôi ra đi, bà ta giao lại cho tôi tất cả giấy tờ của người chồng bà đã chết là Ác-măng Boóc-ni... Chính từ đó mà anh ta mang cái tên Ác-măng. Từ mùa hè năm 1940, với cái tên ấy, viên sĩ quan Ba Lan bắt đầu tổ chức mạng lưới điệp viên gọi là mạng lưới Anh-te A-li-ê và tìm cách bắt liên lạc với Luân Đôn (Lúc bấy giờ Luân Đôn được xem là Thủ đô chống phát xít của châu Âu).

    Vào khoảng giữa tháng 9 năm 1940, Ác-măng làm quen được với Ma-tin Ca-rê trong một quán cà phê. Ác- măng tâm sự với cô gái muốn lập một mạng lưới kháng chiến làm công tác tình báo để góp phần đánh bại bọn Đức. Ca-rê nhiệt tình hưởng ứng.

    Thế là cuộc chiến bắt đầu. Cả nước Pháp đang sống trong cảnh hoảng loạn, Ca-rê xông xáo khắp nơi để thực hiện ý đồ. Bước đầu "Con mèo" đã khai thác được những tin quan trọng.

    Trong tập Nhật ký, Ca-rê đã ghi lại một buổi gặp gỡ với tên sĩ quan Đức trong một quán cà phê:

    "Một viên sĩ quan phát xít đi lại phía tôi và nói:

    - Thưa bà, tôi có thể ngồi cùng bàn với bà không? Tôi muốn hỏi thăm bà về một vài điều cần biết về thành phố này.

    Ca-rê trả lời:

    - Được lắm, thưa ông. Tôi cũng muốn hỏi ông một câu hỏi.

    - Vâng, xin bà cứ hỏi.

    - Ông mặc quân phục Đức những hình như ông không phải là phi công phải không? Tôi không thấy ông đeo phù hiệu.

    - Đúng thế thưa bà, tôi là người mà ở nước Pháp của bà người ta gọi là sĩ quan hậu cần của không quân...".

    Họ uống rượu sâm banh với nhau và sau đó còn cùng nhau đi uống nhiều chỗ khác nữa.

    Trong Nhật ký, Ca-rê ghi tiếp:

    "Tôi cố hết sức thật tỉnh ráo. Ngoài ra không tự hạn chế mình một điều gì hết".

    Khi gặp Ác-măng, "Con Mèo" báo tin là bọn Đức sắp sửa tiến quân qua Tây Ban Nha. Tuy nhiên cô vẫn ở lại để tiếp tục theo dõi công việc chuẩn bị của bọn Đức. Khi cô nhận thấy rằng việc chuẩn bị ấy đang chậm dần lại thì cô cũng là người đầu liên báo đi cái tin quan trọng là bọn Đức đã từ bỏ ý đồ xuyên qua Tây Ban Nha để chiếm Gi- bơ-ran-ta. Khi gặp lại Ác-măng, cô cảm thấy cực kỳ hạnh phúc vì đã đem lại cho chàng những tin vô cùng quý giá.

    Ca-rê viết trong Nhật ký: "Tôi yêu Ác-măng quá. Tôi gọi anh ta là “Tô-tô bé nhỏ của em" và tôi nói với anh ta: “Thưa đại tướng, xin tuân thủ mọi mệnh lệnh của đại tướng". Chúng tôi ôm hôn nhau thắm thiết... Sống với anh, tôi có cảm tưởng như được bay lên cao... tôi tin anh ta một cách tuyệt đối...".

    Đối với Tổng hành dinh của Tìn báo Anh, mạng lưới của "Con Mèo" có uy tín lớn vì đã khai thác được nhiều tin quan trọng. "Con Mèo" đã tổ chức cho quân Anh thả dù tiếp tế lương thực, vũ khí cho các vùng kháng chiến. Mạng lưới của cô trải rộng ra hầu hết các vùng bị chiếm đóng.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    1
    Thoạt đầu sáu chiếc tàu ngầm mini được lựa chọn để công phá tàu Tirpitz ở Al-ta từ mùa xuân năm 1943 . Nhưng việc luyện tập đòi hỏi nhiều thì giờ hơn cho nên phải hoãn đến mùa thu.

    Bộ chỉ huy định ngày tấn công là 1 1 tháng 9. Các quả mìn được gắn vào tàu ngầm. Tất cả đều ở tư thế sẵn sàng.

    Ngày 10 tháng 9, chỉ còn lại hai mươi bốn giờ. Bộ chỉ huy nhận được tin là ở Al-ta hiện có cả tàu Sác-nóc cùng với tàu Tirpit. Một thành viên kháng chiến Na-uy đã báo tin ấy. Anh ta tên là Ra-bi, ở trong gác chuông của một ngôi nhà thờ nhô lên cao trên bến Al-ta. Ngày đêm anh theo dõi các tàu Đức ra vào và nhiều khi chụp được cả ảnh. Từ đài quan sát ấy, hàng ngày anh đánh.điện về Luân Đôn. (Bốn năm sau, năm 1947 , Ra-bi đã nổi tiếng về chuyến vượt Thái Bình Dương trên một chiếc bè cùng với Hây-e-đan).

    Để bảo vệ chiếc tàu Tirpitz, người Đức đã dùng rất nhiều biện pháp nghiêm ngặt: Đèn pha và súng đại bác đặt rất nhiều trên các mỏm đồi xung quanh, các bãi biển đều thả mìn, các tàu cảnh vệ túc trực ngày đêm, các trạm quan sát khắp nơi... Lối vào cảng có dăng lưới dài ba trăm mét, các lưới chống thuỷ lôi xung quanh tàu chăng sâu xuống mười lăm mét dưới mặt nước. Nước ở đây lại không sâu nên tàu ngầm rất khó vào.

    Trên tàu Tirpitz cũng canh phòng và bảo vệ rất chu đáo. Thuỷ thủ đoàn luôn sẵn sàng chiến đấu chống các cuộc tiến công bất ngờ.

    Ngày 11 tháng 9 năm 1943, hồi mười sáu giờ, gió mạnh và biển động, chiếc tàu ngầm đầu tiên xuất phát. Sau đó tiếp tục năm chiếc nữa. Các tàu ngầm mini phải đi dưới nước, đề phòng máy bay trinh sát của Đức phát hiện. Mỗi tàu ngầm có hai nhóm để thay nhau vì hành trình như vậy rất mệt.

    Trước khi vào bờ biển Na-uy thì chiếc X9 bị đắm. Một vài vết dầu lan trên mặt biển rồi là mất hút. Nó không bao giờ trở về nữa. X8 cũng chịu một số phận như vậy.

    Chiều ngày 20 tháng 9 năm 1943, sau chín ngày luồn dưới nước biển, các tàu ngầm còn lại chuẩn bị tiến công; X5, X6, X7 đều rời khỏi các tàu ngầm kéo chúng.

    Theo kế hoạch, sau khi tiến công, các tàu ngầm mini phải trở lại với các tàu kéo. Trong lúc các tàu mini tiến công địch thì các tàu kéo ra ngoài khơi chờ đợi ở khu vực đã định.

    Thuyền trưởng Pơ-la-xơ kể:

    “Khoảng hai mươi mốt giờ mười lăm phút, tôi xem xét lại một lần chiếc tàu ngầm và chúng tôi phải tránh một bãi mìn. Chúng tôi nổi lên mặt nước. Đêm rất yên tĩnh. Phía đông có một dãy núi. Trăng chiếu sáng trên mặt tuyết. Rạng sáng, chúng tôi lại lặn xuống nước và ở dưới nước suốt ngày. Nhìn vào bản đồ, chúng tôi thấy cần phải tiến về phía nam. Hai bên là hai dãy núi, chúng tôi như đi vào một chiếc ống. Ở phần hẹp nhất, chính là nơi tàu Tirpitz thả neo. Trên bản đồ có vẽ các mạng lưới nhưng tôi biết chắc rằng có những lới bọn Đức mới đặt mà chúng tôi không thể biết. Nhưng chúng tôi cố không nghĩ đến những nguy hiểm ấy.

    Ngày 21 tháng 9, đêm đến, chúng tôi lại ngoi lên mặt nước. Tôi chờ các tàu khác đến để có thể cùng nhau chiến đấu như đã dự kiến, vào lúc sáu giờ ba mươi phút sáng mai... Tôi băn khoăn chờ đợi nhưng mãi chẳng thấy gì. Vậy thì tôi phải chiến đấu một mình.

    Sau đó, trước mặt tôi là mạng lưới chống tàu ngầm đầu tiên. Mạng lưới này tất nhiên phải có một chỗ nào đó để hở vì các tầu tuần tiễu và các tàu nhỏ của Đức phải ra vào luôn. Thế là may mắn, bỗng nhiên chúng tôi đến đúng chỗ ấy và chúng tôi vượt qua. Chúng tôi thoáng thấy một bóng tàu tuần tiễu của Đức và chúng tôi chui ngay xuống nước. Tàu ngầm chúng tôi không xuống quá hai mươi ba mét và bỗng nhiên tôi thấy rõ ràng nó va vào một mạng lưới. Chúng tôi không tiến lên được nữa, mạng lưới rất chắc.

    Nhiều phút trôi qua. Nếu các tàu ngầm mini khác mà tôi đoán là đã tiếp cận với Tirpitz, cho mìn của họ nổ thì chúng tôi cũng ăn đòn. Bỗng nhiên tàu của chúng tôi lại được tự do. Chúng tôi nổi ngay lên mặt nước, gần như thẳng đứng. Tôi băn khoăn nhìn vào ống nhòm. Tàu Tirpitz trước mặt chúng tôi, sừng sững như một quả núi, chỉ cách nhau chưa đầy hai mươi mét. Không có mạng lưới nào ngăn cách chúng tôi với nó nữa.

    Chúng tôi lại lặn xuống và vào khoảng ba mét chiều sâu thì đụng vào thành tàu Tirpitz, gần dưới chân máy của nó. Chiếc tàu mini lướt nhẹ dưới thân tàu khổng lồ. Chúng tôi thả mìn, sau đó từ từ lùi lại...

    Chúng tôi muốn xuống sâu ba mươi mét để tìm lại chỗ chúng tôi đã vượt qua mạng lưới để vào. Nhưng xuống đến mười tám mét chiều sâu thì bị kẹt. Mìn của chúng tôi sẽ nổ sau một tiếng đồng hồ. Sau tám giờ, những chiếc mìn của những tàu ngầm khác cũng đều có thể nổ bất cứ lúc nào. Cần phải vượt ngay hàng rào của mạng lưới. Chúng tôi lại cố gắng nổi lên để cho khoảng cách giữa chúng tôi và nơi mìn nổ càng xa càng tốt. Đúng lúc đó có một tiếng nổ kinh hoàng. Chúng tôi bị bật ra khỏi mạng lưới nhưng thất vọng thấy tàu Tirpitz vẫn y nguyên trên mặt nước. Lúc ấy bọn Đức bắn vào chúng tôi xối xả cả bằng đại bác nhẹ và đại liên. Vỏ tàu chúng tôi bị thủng. Chúng tôi lại buộc phải lặn xuống và đi dưới nước sâu. Nhưng nước theo các lỗ thủng chảy ào vào tàu. Chúng tôi không còn cách nào khác là phải bỏ lại con tàu. Nhưng làm thế nào để ra ngoài? Với tư cách là người chỉ huy; tôi phải nhảy vào nguy hiểm đầu tiên. Tôi cởi áo Pun-lô-vơ trắng ra. Vừa ngoi lên khỏi mặt nước, bọn Đức lại tiếp tục bắn vào con tàu. Tôi thấy ở bên phải có một chiếc cầu con dài. Tôi bơi thẳng đến đó. Đến nơi, ngoảnh nhìn thì chiếc tàu ngầm mini X7 đã biến mất".

    Ngoài thuyền trưởng Pơ-la-xơ, một người khác của tàu X7 cũng thoát chết. Ngoài X7 chỉ có X6 là vượt qua được các hàng rào để đặt mìn dưới thân tàu Tirpit. Thuyền trưởng X6 nổi lên quá gần chiến hạm nên bị bắt cùng với cả đội X6 bị đắm.

    X10 không đi đến mục tiêu được vì giữa đường máy bị hỏng không sửa chữa được. Nó trở lại chiếc tàu kéo. Sau đó theo lệnh của Luân Đôn, chiếc tàu ngầm mini bị phá bởi vì sắp có bão to.

    X5 khi cách Tirpitz gần năm trăm mét thì bị trúng đạn đại bác cực nhanh nên bị đắm. Cả đội không một người nào sống sót.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    Cuốn sách nhật ký trên tàu Tirpitz đã ghi lại những sự kiện trong buổi sáng ấy như sau:

    "22 tháng 9. Mạng lưới chắn mở ra cho các tàu và thuyền kéo qua lại. Trạm nhận tin bận đến bảy giờ. Sự canh phòng bị giảm sút. Ban đêm mọi biện pháp cảnh giới đều tuân thủ đúng lệnh trên. Một hạ sĩ quan thấy bên trong mạng lưới, cách đất liền khoảng hai mươi mét,.một hình đen, tròn, dài, giống một chiếc tàu ngầm. Viên chỉ huy phó và sĩ quan bảo vệ được thông báo có phần hơi muộn, khoảng năm phút vì vật trông thấy được xem là một con cá".

    Đô đốc Han May-e, chỉ huy tàu Tirpitz, nhớ lại:

    "Ngày 22 tháng 9 năm 1943, chiến hạm của chúng tôi đậu ở phía bắc Na-uy, bên trong mạng lưới chắn. Tôi đang ăn sáng thì vị chỉ huy phó chạy vội đến báo với tôi rằng có một vật giống như một con tàu ngầm nhỏ vừa được phát hiện bên trong mạng lưới chắn. Chính bản thân ông ấy cũng không tin điều đó. Lần này chắc cũng lại là một báo động sai lầm thôi. Đã có biết bao nhiêu lần như vậy rồi? Tôi cũng hoài nghi như ông ta. Dẫu sao thì cũng cần phải ra lệnh báo động ngay. Vị chỉ huy phó bước ra. Một vài giây sau, chuông báo động réo lên. Tôi vội vàng khoác áo ngoài, vị chỉ huy phó trở lại phòng tôi, báo cho biết là đã bắt buộc một chiếc tàu ngầm nổi lên mặt nước. Bốn người Anh đã bị bắt. Người ta đang đem chúng lên tàu.

    Sau còi báo động, tất cả mọi người chạy vội về vị trí chiến đấu. Tôi đứng trên cầu tàu. Vừa đi tôi vừa nghĩ xem cần làm gì bây giờ đây. Tôi nghĩ đến những quả mìn đặc biệt. Có lẽ không phải là thuỷ lôi bởi vì khoảng cách ngắn như vậy thì dùng thuỷ lôi không có hiệu quả. Điều tôi có thể làm là chuyển dịch ngay con tàu càng nhanh càng tốt. Con tàu thả hai neo. Người ta ra sức nhổ một neo; trong vài phút, con tàu đã chuyển ra xa được khoảng từ ba mươi đến bốn mươi mét. Người ta cũng làm như vậy ở phía sau lưng nhưng không làm được ngay. Phía sau dường như chiếc tàu không nhúc nhích được chút nào. Có lẽ đã đến hai mươi phút từ khi có lệnh báo động. Bỗng nhiên, một tiếng nổ khủng khiếp ! Một cột nước khổng lồ tung lên phía trước. Tôi mừng quá, cám ơn Thượng đế, quả mìn đã nổ và bề ngoài hình như chiếc tàu không việc gì. Nhưng sau đó tôi được báo là con tàu có bị hư hại và một quả mìn thứ hai đã nổ ở phía sau, bên dưới chiếc tàu. Tàu Tirpitz bị hư hại nhiều... cần phải sửa chữa lâu. Công việc sửa chữa được tiến hành ngay tại chỗ, ở Na-uy... Nhưng việc sửa chữa kéo dài, chiếc tàu chỉ có thể sẵn sàng làm nhiệm vụ đầu tháng 3 năm 1944, khoảng hơn năm tháng sau khi bị tiến công. Nó lại trở lại hoàn toàn như cũ, hết sức hoàn thiện".

    Từ thời gian đó, Tirpitz được giấu kín trong cảng Tơ-rông-xô. Người ta mong rằng dần dà người Anh cũng không quan tâm đến đó nữa. Thật ra trong một thời gian lâu Bộ Tư lệnh Hải quân Anh không nắm rõ được hiện trạng của chiếc chiến hạm khổng lồ ấy. Tàu Tirpitz có bị hư hại nghiêm trọng nhưng không bị đắm và còn có thể hoạt động tốt.

    Mặc dầu người ta biết chỗ ẩn giấu nó từ lâu nhưng đến 12 tháng 11 năm 1944 , người ta mới quyết định tấn công. Nó bị oanh tạc bằng loại bom năm tấn được chế tạo đặc biệt. Chiếc chiến hạm bị đánh lật sấp, chổng vó lên trời. Gần một nửa thuỷ thủ đoàn bị vùi chết trong chiếc quan tài thép khổng lồ ấy.

  9. #9
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    NGƯỜI NHÁI - THUỶ LÔI Ý TRONG QUÂN CẢNG ALẾCDĂNGĐƠRI (AI CẬP)


    Từ hè năm 1941, mục tiêu chính của hạm đội Anh ở Địa Trung Hải là tiêu diệt các đoàn tàu của Đức và Ý chuyên chở binh lính của phe trục đến chiến đấu ở Bắc Phi. Để đối phó với tình hình ấy, mùa thu 1941, Đức chuyển từ Đại Tây Dương sang Địa Trung Hải một số lớn tàu ngầm của Đức là một tai hoạ lớn đối với Đồng Minh trên các đại dương. Anh vốn là cường quốc số một về Hải quân cũng phải điêu đứng về cái nạn tàu ngầm của Đức. Chúng được điều sang Địa Trung Hải để bảo vệ các đoàn tàu tiếp tế vũ khí và lương thực cho quân lính ở Bắc Phi dưới quyền chỉ huy của tướng Rô-men.

    Ngày 13 tháng 11 năm 1941, chiếc hàng không mẫu hạm lớn nhất của Anh là Ark Royal bị trúng thuỷ lôi ở gần Gi-bơ-ran-ta. Đoàn tàu hộ tống tìm mọi cách để cứu nhưng thất bại. Chiếc hàng không mẫu hạm khổng lồ, sau mấy tiếng đồng hồ, đã bị đắm.

    Mười hai ngày sau, lại một tàu nữa của hạm đội Anh bị tàu ngầm Đức đánh đắm. Ngày 24 tháng 11, phần lớn hạm đội Anh ở quân cảng A-lêc-dăng-dơ-ri gồm ba chiến hạm Ê-li-da-bét, chiến hạm Bác-ham và chiến hạm Va-li-ăng phải xuất kích để chặn đoàn tàu tiếp tế của phát xít.

    Buổi trưa ngày hôm sau, một tiếng nổ cực lớn làm cho cả đoàn tàu nghiêng ngả. Một tàu ngầm Đức đã phóng ba quả thuỷ lôi vào chiến hạm Bác-ham. Bị hư hại nặng, thuỷ thủ đoàn đã làm hết sức mình để cứu chữa Nhưng lại một tiếng nổ nữa long trời lở đất đã làm tan chiếc chiến hạm, một đám mây đen khổng lồ bay lên trời, chiến hạm bị lật sấp và bị đắm cùng với gần chín trăm thuỷ thủ.

    Như vậy trên Địa Trung Hải, người Anh chỉ còn có hai chiến hạm. Đối địch với chúng là năm chiến hạm lớn của Ý, những chiến hạm được xem là hiện đại nhất. Đô đốc Anh Cu-nin-gam, sau những tổn thất nặng nề, hạ lệnh cho các chiến hạm còn lại vào ẩn ở cảng A-lêc-dăng-dơ-ri để chờ một dịp xuất kích khác. Quân cảng A-lêc-dăng-dơ- ri của Anh ở Ai Cập (Bắc Phi) là một quân cảng được bảo vệ tốt. Xung quanh hàng mấy cây số, có những bãi mìn lớn. Sâu dưới mặt nước mười mét có một hệ thống báo động tự động. Tàu vào phải đi qua một lối nhất định và được canh phòng cẩn mật. Các đội tuần tiễu xung quanh bờ biển luôn luôn sẵn sàng tác chiến. Vòng quanh các chiến hạm, người ta thả sâu xuống nước các mạng lưới thép chống thuỷ lôi. Chốc chốc đội bảo vệ lại ném xuống nước những quả lựu đạn chống tàu ngầm. Cả một hệ thống đại bác và cao xạ vây quanh quân cảng. Ban đêm các đèn pha chiếu sáng trên mặt biển hàng mấy cây số.

    Hai chiến hạm cực lớn Ê-li-da-bét và Va-li-ăng thả neo trong quân cảng. Các thuỷ thủ đoàn có cảm giác được bảo vệ một cách an toàn.

    Đã gần giữa tháng 12 năm 1941, thuỷ thủ của hạm đội Anh cũng như hạm đội Pháp ở A-lêc-dăng-dơ-ri chuẩn bị ngày lễ thiên chúa giáng sinh.

    Tàu Ê-li-da-bét và tàu Va-li-ăng là nòng cốt của hạm đội Anh ở Địa Trung Hải, trọng tải đến ba mươi hai ngàn tấn. Lúc bấy giờ, đó là những chiến hạm đầu tiên có các đại bác ba trăm tám mươi ly, chạy bằng ma dút chứ không phải bằng than. Mỗi chiến hạm có một ngàn thuỷ thủ. Mặc dầu nhẹ hơn một phần ba so với hai chiến hạm khổng lồ Đức Bi-xmắc và Tir-pitz, hai chiến hạm Anh vỏ tàu cũng dày như của Đức. Chính trên tàu Ê-li-da-bét, năm 1918 đã ký kết văn bản đầu hàng của Đức với quân đội Đồng Minh.

    Trong tháng 12 năm 1941, sáu sĩ quan Hải quân Ý sắp kết thúc đợt luyện tập đặc biệt để phá hạm đội Anh trong quân cảng A-lêc-dăng-dơ-ri.

    Cho đến nay, đã hai lần hạm đội Ý định vào cảng A-lêc-dăng-dơ-ri nhưng không vào được.

    Phương tiện mà người Ý sẽ dùng để công phá các chiến hạm Anh là một sáng chế mới của Ý: Một quả thuỷ lôi dài năm mét rưỡi, đường kính năm mươi xăng-ti-mét, trên đó có thể chở hai người có động cơ điện, chạy không có tiếng động, tốc độ bốn kilômét một giờ. Đường kính hoạt động khoảng mười sáu kilômét, có thể lặn sâu xuống đến ba mươi mét. Phía giữa thuỷ lôi là một khoang chứa nước, cho phép nó lặn xuống hoặc nổi lên tuỳ ý. Những người nhái - thuỷ lôi mang theo bộ Đa-vit để thở, có thể ở dưới nước khoảng sáu giờ liền (bộ Đa-vít do Anh sáng chế và Ý chế tạo).

    Thuỷ lôi được tàu ngầm dắt vào khu vực cần hoạt động. Khi ấy, người nhái - thuỷ lôi sẽ tách ra khỏi tàu ngầm và đi về phía mục tiêu. Gặp nguy hiểm, trong vài giây nó có thể lặn sâu xuống nước và tiếp tục hướng về tàu địch. Cần phải khéo léo lắm mới lọt qua các mạng lưới chống tàu ngầm và thuỷ lôi. Hoặc phải lặn xuống bên dưới mạng lưới, hoặc phải nổi lên trên. Nếu cả hai khả năng đều không thực hiện được thì người nhái - thuỷ lôi sẽ tìm cách cắt đứt lưới. Sau đó sẽ chui xuống dưới thân tàu địch. Sau khi đã mắc thuỷ lôi vào chỗ hiểm của thân tàu và đặt kim nổ, hai người sẽ bơi ra.

    Kế hoạch dự định ba thuỷ lôi như vậy sẽ được đưa vào quân cảng A-lêc-dăng-đơ-ri. Một chiếc sẽ phá tàu Ê-li- da-bet, một chiếc phá tàu Va-li-ăng và chiếc thứ ba phá một hàng không mẫu hạm.

    Trong lúc các sĩ quan hải quân luyện tập thì một cơ quan đặc biệt của hạm đội Ý nghiên cứu các bản đồ, các bức ảnh trinh sát để lập một sa bàn chi tiết về quân cảng A-lêc-dăng-dơ-ri là rất quan trọng. Nhờ đó người Ý phát hiện ra các điểm sơ hở trong hệ thống phòng thủ của địch.

    Tất cả các đặc điểm của tàu Ê-li-da-bét cũng được nghiên cứu đầy đủ trên một mô hình riêng. Người xây dựng mô hình tuyệt đối không được phép bịa đặt một chi tiết nào hoặc bỏ trống để dành cho sự may rủi. Một hệ thống mật mã riêng đã được hoàn tất để bảo đảm sự liên lạc giữa các máy bay trinh sát với tàu ngầm trước khi những người nhái - thuỷ lôi xuất phát. Ngày 30 tháng 12 năm 1941, mọi công việc chuẩn bị đều hoàn tất. Kế hoạch bắt đầu triển khai. Khi hướng về A-lêc-dăng-dơ-ri thì thời tiết bỗng nhiên trở nến xấu làm cho các tàu ngầm rất vất vả. Hơn nữa càng gần địch thì càng nguy hiểm vì bắt đầu có các bãi mìn.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    Thiếu lá Ý Đơ- la-pen, người chỉ huy chiến dịch, thuật lại :

    “A-lêc-dăng-dơ-ri, đêm 18 tháng12năm 1941. Chúng tôi có ba nhóm sẵn sàng chuẩn bị tấn công địch. Khoảng tám giờ tối, tàu ngầm lặn xuống, chúng tôi cho thuỷ lôi tách ra. Trời lạnh và tối. Tất cả đều im lặng. Chúng tôi bắt tay vào việc. Biển rất bẩn vì thuỷ triều đang lên. Tôi đã từng chiến đấu ba lần, hai lần ở A-lêc- dăng-dơ-ri và một lần ở Gi-bơ-ran-ta. Tôi thấy vấn đề giữ vững tinh thần là rất quan trọng. Chúng tôi bơi trên mặt nước để vào cảng. Một việc làm khá dễ dàng, nhất là một đèn pha lại bật sáng. Tôi nhận ra vị trí hiện tại của mình: Chúng tôi đã đến gần các mạng lưới cảng của đối phương. Đó là một trong những kẻ thù của chính chúng tôi".

    Những người nhái - thuỷ lôi đã trông thấy bóng bọn lính gác trên cảng. Thỉnh thoảng chúng lại ném những quả lựu đạn chống tàu ngầm xuống nước. Những người nhái - thuỷ lôi húc phải một mạng lưới rất cứng: Ba lần lưới thép. Họ lặn xuống, tìm một lỗ hổng và thấy nhiều mìn nổ được cặp vào các lưới.

    Nếu dùng kéo bàng hơi ép để cắt lưới thì sẽ gây tiếng động. Họ lại nổi lên mặt nước, hy vọng vượt qua phía trên lưới. Đến nửa đêm thì bỗng nhiên đèn pha lối vào cảng bật sáng. Các mạng lưới được mở ra để cho một chiếc tàu chở hàng và ba tàu chống thuỷ lôi đi vào. Người Ý bèn lợi dụng ngay thời cơ để lẻn vào trong cảng mà không ai biết. Đơ-la-pen hướng về phía bên trái, tiến lại gần chiến hạm Va-li-ăng. Anh len lỏi lướt nhanh giữa đoàn tàu của hạm đội Pháp cũng đang thả neo trong cảng. Cách Va-li- ăng độ vài chục mét, anh đụng phải lưới bảo vệ. Anh vượt lên phía trên lưới và lại gần chiếc tàu khổng lồ.

    Thiếu tá Đơ-la-pen kể tiếp:

    "Tôi lặn xuống khoảng bốn hoặc năm mét bên thân tàu định dừng lại quan sát một lúc. Muốn như vậy phải làm cho chiếc thuỷ lôi dừng lại nhưng các ngón tay của tôi đều lạnh cứng, không cử động được. Đến nỗi tôi đành chịu và cứ để cho thuỷ lôi áp sát vào thân tàu. Sau đó chúng tôi đi ra xa một quãng. Bỗng nhiên chiếc thuỷ lôi dừng lại... Một ý nghĩ loé sáng trong đầu làm cho tôi hoảng: cái im lặng xung quanh tôi hiện nay là cái im lặng không bình thường. Tôi tìm người hạ sĩ quan cùng đi với tôi: nhưng y đã biến mất.

    Lập tức tôi nghĩ ngay chắc là y gặp sự cố gì rồi bởi vì chúng tôi đã lặn xuống quá sâu. Tôi cho rằng thế là hết, chẳng còn có thể làm gì được nữa. Tôi đã trông thấy một dây cáp thép quấn vào xung quanh chiếc chong chóng của thuỷ lôi khiến cho nó bất động. Sau nhiều năm chuẩn bị và luyện tập, chúng tôi chỉ còn cách cái đích cuối cùng có vài bước ấy thế mà hỏng hết. Tôi tìm mọi cách kéo chiếc thuỷ lôi ra. Nó dài đến bảy, tám mét và trọng lượng khá nặng. Nhất là nó lại ngập trong bùn của cảng, một thứ bùn rất trơn. Kéo nó ra quả thật là một việc làm cực kỳ khó khăn, mệt nhọc. Thế nhưng tôi đã kéo nó được đến dưới thân tàu. Khi đã chắc chắn là ở dưới thân tàu rồi, tôi rời khỏi thuỷ lôi và đặt kim nổ chậm. Quả là lúc bấy giờ tôi đã kiệt sức. Tôi ngoi lên mặt nước. Có kẻ nào đó bắn về phía tôi. Tôi bèn leo lên một chiếc phao treo xung quanh tàu. Ở đó tôi đã tìm thấy viên hạ sĩ quan của tôi. Tôi cho anh biết là nhiệm vụ đã xong và chỉ còn chờ nổ. Chúng tôi rất lo vì dưới thân tàu đã đặt thuỷ lôi. Thật chẳng có gì thú vị nếu chúng tôi lại được làm khách trên chiếc tàu ấy.

    Trước tiên chúng tôi lại tìm cách chạy trốn. Lên đến bờ, người ta hỏi chúng tôi đến đây làm gì và lẽ dĩ nhiên là tôi chẳng trả lời. Sau đó một viên sĩ quan Anh, tay cầm súng, hỏi chúng tôi. Y nói là y rất bực bội vì bị chúng tôi đánh thức dậy quá sớm. Tôi không hề nói với y là chúng tôi đã làm gì.

    Người ta bèn đưa chúng tôi xuống tàu, nhốt ở căn hầm ngay phía trên chỗ chúng tôi vừa đặt thuỷ lôi. Một vài thuỷ thủ Anh tỏ ra rất thân thiện với chúng tôi. Nước da họ hơi xanh và chắc chúng tôi còn xanh hơn thế vì chúng tôi biết cái sự thật mà họ không thể biết như chúng tôi được".

    Hai người nhái - thuỷ lôi phụ trách tàu Ê-li-da-bét cũng hoàn thành nhiệm vụ. Họ còn trải lên mặt biển một số bom cháy để sau khi nổ tàu, dầu ma-dút chảy ra thì mặt biển sẽ bốc cháy. Sau tám giờ làm việc và đi lại dưới nước, họ phải cố gắng lắm mới bò được lên đất liền và cất giấu các trang bị mang theo.

    Nhóm thứ ba phụ trách tàu hàng không mẫu hạm gặp sự cố. Họ bơi loanh quoanh dưới nước tìm bóng của tàu hàng không mẫu hạm. Nhưng chiến hạm này đã được lệnh chuyển sang Thái Bình Dương, trước đó đúng hai mươi bốn giờ. Hai người nhái - thuỷ lôi bèn tìm đến chiếc tàu chở dầu Xa-go-na trọng tải bảy ngàn năm trăm năm mươi tấn và đặt thuỷ lôi dưới bánh lái. Sau đó họ cũng trải bom cháy lên mặt biển. Nhưng họ bị lính bảo vệ bắt khi ra khỏi cảng.

    Như vậy là tất cả chất nổ đã được đặt xong. Bây giờ đã quá muộn để người Anh thực hiện các biện pháp đề phòng".

    Thiếu tá Đơ la-pen kể tiếp:

    "Chỉ còn từ mười đến hai mươi phút nữa thì sẽ nổ tung tất cả. Tôi đề nghị được nói chuyện với thuyền trưởng. Người ta dẫn tôi đến gặp viên sĩ quan. Tôi nói với y là y không thể cứu vãn được chiến hạm, nó sắp bị nổ tung. Nhưng nếu y muốn thì có thể cứu được thuỷ thủ đoàn. Một lần nữa viên thuyền trưởng hỏi tôi đã đặt thuốc nổ ở đâu. Tôi từ chối không trả lời. Thế là y lại bắt dẫn tôi vào căn hầm cũ, ngay trên chiếc thuỷ lôi sắp nổ. Lần này chỉ có một mình tôi. Khi bước cầu thang xuống hầm, tôi thấy mấy thuỷ thủ Anh đã biến mất. May thay - ngày nay tôi biết đó là điều may - tôi ngồi một mình ở đấy và chờ đợi những giây phút dài đằng đẵng, những giây phút hấp hối mà tôi nghĩ là cuối cùng của đời tôi. Dầu sao tôi đã làm tròn nhiệm vụ. Tôi cắn chặt răng - thật không dễ dàng chút nào để tự chủ khi biết rằng mình sắp bị chết vì chính thuốc nổ của mình đã đặt. Nhưng tôi đã chịu đựng được. Bởi vì tôi muốn chứng tỏ cho thuỷ thủ Anh biết rằng thuỷ thủ Ý cũng dũng cảm không kém họ.

    Đến một lúc, tôi tính toán thì biết là đã đến giờ nổ. Tiếp liền đó là một tiếng nổ dữ dội. Sau một phút bị ngất, tôi thấy mình nằm dưới nước. Chiếc tàu bị vỡ và tôi thoát chết. Tôi tìm cách leo lên tàu rồi đi dọc thành tàu. Còn có những người ở trên tàu, khi tôi đi qua họ chào tôi. Đến đầu mũi tàu, tôi trông thấy viên thuyền trưởng. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ nét mặt của ông ta và đôi mắt ông nhìn tôi không chớp trong lúc chiếc tàu đắm dần. Chắc chắn đây là một con người rất có bản lĩnh và là một thuỷ thủ giỏi. Tôi đang đứng nhìn đuôi tàu, mặt trời đã nhô lên cao. Cùng lúc ấy, chiếc tàu nổ tung".

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •