Trang 3 của 5 Đầu tiênĐầu tiên 12345 CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 47
  1. #21
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    TIÊU DIỆT CƠ SỞ NGUYÊN TỬ BÍ MẬT

    Tháng 4 năm 1940 Hít-le đánh chiếm Na-uy. Ở phía nam Na-uy, trong tỉnh Tê-lê-mác, nhà máy sản xuất nước nặng duy nhất trên thế giới lúc bấy giờ, rơi vào tay bọn phát xít.

    Sau khi Đồng Minh bắt đầu thí nghiệm chế bom nguyên tử, họ sợ người Đức sẽ đến đích trước và cuộc chạy đua bắt đầu.

    Cao nguyên Hác-đăng-gec-vi-đa, cao một ngàn mét về phía nam Na-uy, trong thế chiến thứ hai là nơi diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt trong cuộc chạy đua chế tạo bom nguyên tử. Đây là cao nguyên lớn nhất và hẻo lánh nhất ở Bắc Âu. Mùa đông rét buốt đến mức độ người bình thường không thể chịu đựng được. Trên mảnh đất hoang vu này, ẩn sâu trong dãy núi cao là nhà máy nước nặng No-xơ-hi-rô. Trong bước đầu nghiên cứu nguyên tử, nước nặng là rất cần thiết. Chiếm được nhà máy này, người Đức đã đi trước được một bước trong việc chế bom nguyên tử. Chính vì vậy mà sau khi chiếm Na-uy, một tốp năm trăm người Đức đã đến chiếm lĩnh ngay nhà máy. Chỉ vài tuần sau, mức sản xuất đã tăng lên nhanh chóng, từ năm trăm ký đến năm ngàn ký một năm, tăng gấp mười lần.

    Đến hè 1941, lần đầu tiên tình báo Anh mới nắm được thông tin về những gì đã xảy ra ở đây. Và người ta bắt đầu quan tâm đặc biệt đến điểm này. Việc phá hoại nhà máy và tiêu huỷ các kho dự trữ được ưu tiên hàng đầu. Soóc-sin ra lệnh cho không quân liên tục oanh tạc mục tiêu số một này.

    Nhưng Không quân Hoàng gia trả lời rằng mục tiêu nằm sâu kín trong một hàng rào núi đồi nên các máy bay hiện có không thể nào oanh tạc được. Chính phủ Na-uy lưu vong ở Anh cũng không đồng tình với kế hoạch ném bom. Các nhà khoa học cho rằng thường dân các vùng lân cận sẽ đứng trước một hiểm hoạ to lớn nếu các kho chứa a-mô-ni-ác bị nổ tung. Vậy thì việc phá hoại nhà máy chỉ có thể thực hiện bằng các đơn vị com-măng-đô đột nhập. Bộ tham mưu hỗn hợp Anh - Na-uy cùng nhau thực hiện kế hoạch này.

    Tháng 3 năm 1942 phong trào kháng chiến Na-uy báo động cho Luân Đôn biết là người Đức đang sản xuất nước nặng rất nhiều và nhiều thùng chứa đang được chuẩn bị để mang về Đức. Nội các chiến tranh Anh ra lệnh phải hành động gấp. Soóc-sin lệnh cho Bộ Tư lệnh hỗn hợp tổ chức ngay việc phá hoại nhà máy. Bốn lính Na-uy được luyện tập đặc biệt ở Anh. Họ sẽ bắt liên lạc với kỹ sư E-na, nội tuyến trong nhà máy. Sau đội tiền trạm ấy, lính Anh sẽ nhảy dù xuống vùng phụ cận và sẽ bất ngờ triệt phá nhà máy. Tháng 9 năm 1942, ba lần đội tiền trạm Na-uy đều vỡ kế hoạch vì thời tiết quá xấu. Ngày 19 tháng 10 năm 1942, nhóm tiền đạo mang biệt hiệu "Chim én" nhảy dù xuống một ngọn đồi và hồ ao. Họ mang theo các trang thiết bị để thực hiện kế hoạch, nặng khoảng năm tấn. Tuyết dầy đặc và trơn, mỗi ngày họ chỉ đi được vài cây số. Cuối cùng ngày 6 tháng 11, họ đến được khu vực hoạt động. Họ ở trong một căn nhà nghỉ hè bỏ trống và liên lạc với Luân Đôn bằng vô tuyến điện. Nhưng mãi mấy ngày sau mới bắt liên lạc được. Trong thời gian này, ở Anh đội biệt động đang tiếp tục luyện tập. Họ sẽ đi bằng tàu lượn, mỗi tàu chở mười bảy người. Sau khi phá xong nhà máy, họ sẽ tìm cách trốn thoát, vượt qua núi để sang Thuỵ Điển. Phần lớn họ đều là công binh và lính tình nguyện.

    Ngày 17 tháng 11 năm 1942, hồi mười bảy giờ, hai máy bay ném bom đến miền bắc Ê-cô-xơ, mỗi chiếc kéo theo một chiếc tàu lượn. Đến nửa đêm, cơ sở ở địa phương nhận được một tín hiệu yếu ớt của một máy bay ném bom. Nhưng sau đó thì mất hút. Nó không bao giờ trở về nữa. Ít phút sau, máy bay ném bom thứ hai báo tin: "Chiếc tàu lượn bị đâm vào sườn núi".

    Viên chỉ huy SS ở Na-uy báo cáo về Béc-lanh: "Ngày 20 tháng 11, hồi ba giờ sáng, một máy bay Anh kéo theo một tàu lượn đã đâm vào núi. Người ta chưa hiểu nguyên nhân của tai nạn này. Tất cả phi hành đoàn đều chết. Tất cả đều là quân nhân, trong đó có một người da đen. Mười bảy người trên tàu lượn có thể là những điệp viên. Ba người đã chết. Sáu người bị thương nặng. Họ mang theo nhiều tiền Na-uy. Chẳng may là bộ chỉ huy đã cho xử bắn ngay tất cả những tên sống sót nên không thể nào hiểu chúng đến đây để làm gì".

    Ngày nay, những người lính biệt động ấy đang an nghỉ ở nghĩa trang phía tây Ô-xlô. Hôm sau, bọn Đức lại phát hiện ra những người còn sống sót của chiếc tàu lượn thứ hai. Họ cũng bị xử bắn ngay sau khi thẩm vấn. Nhưng người Đức biết được ý đồ của Anh. Kết quả là nhà máy nước nặng được tăng cường canh phòng và các khu vực xung quanh nhà máy đều chôn mìn.

    Luân Đôn không chịu thất bại. Bộ Tham mưu lại ra lệnh phá nhà máy. Nhiều thanh niên Na-uy được luyện tập tại Anh để trở về làm nhiệm vụ. Trong thời gian đó, tiến sĩ Giô-ma Bơ-rong, nguyên kỹ sư trưởng nhà máy đã đến Luân Đôn. Ông ta mang theo rất nhiều ảnh và chỉ rõ những điểm yếu của nhà máy dễ phá hoại nhất. Ngoài ra còn có một nhân vật khác cũng rất am hiểu nhà máy, đó là nhà vật lý Na-uy Tơ-rông-xtát, người đã từng là cố vấn chuyên môn trong thời gian xây dựng nhà máy.

    Luân Đôn không chịu thất bại. Bộ Tham mưu lại ra lệnh phá nhà máy. Nhiều thanh niên Na-uy được luyện tập tại Anh để trở về làm nhiệm vụ. Trong thời gian đó, tiến sĩ Giô-ma Bơ-rong, nguyên kỹ sư trưởng nhà máy đã đến Luân Đôn. Ông ta mang theo rất nhiều ảnh và chỉ rõ những điểm yếu của nhà máy dễ phá hoại nhất. Ngoài ra còn có một nhân vật khác cũng rất am hiểu nhà máy, đó là nhà vật lý Na-uy Tơ-rông-xtát, người đã từng là cố vấn chuyên môn trong thời gian xây dựng nhà máy.

    Như vậy là mọi việc đều được chuẩn bị một cách rất tỉ mỉ, chuẩn xác. Nhà máy xây dựng trên một ngọn đồi, xung quanh là thung lũng sâu. Thông thường người ta đến nhà máy bằng hai ngả, hoặc là qua một chiếc cầu treo vượt qua một vực sâu khoảng năm mươi mét, hoặc là đi bằng đường sắt. Muốn đến nhà máy bằng lối đường sắt thì phải đi qua vực sâu rồi đi dọc theo đường sắt. Sau hai hầm kho, con đường sắt chạy vào khu vực nhà máy. Có hai cánh cửa sắt đóng, có xích và khoá. Khi đã đi qua cổng, người ta đi thẳng một cách tự do vào mục tiêu quân sự quan trọng ấy. Hai nhà bác học Na-uy cũng chỉ rõ lối vào duy nhất không có bảo vệ. Sáu người Na-uy thực tập và làm quen với mọi ngõ ngách. Đội tiền nhiệm vẫn nằm chờ trong căn nhà nghỉ hè bỏ trống trên đỉnh núi. Căn nhà được nguỵ trang bằng tuyết, một cành cây nhô ra ngoài dùng làm ăn-ten. Họ chỉ liên lạc với thế giới bên ngoài bằng vô tuyến điện. Nhưng pin yếu dần nên việc liên lạc với Luân Đôn thường bị gián đoạn.

  2. #22
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    7
    Điện báo viên còn sống sót kể lại:

    "Tôi thuộc nhóm tiền nhiệm. Ngay thời gian đầu, một bi kịch đã diễn ra: Các tàu lượn của Anh bị tai nạn. Cái chết của ba mươi hai người lính Anh và phi hành đoàn đối với chúng tôi là một đòn cân não khá mạnh. Chúng tôi dùng giầy trượt tuyết và gậy chống làm ăng-ten nhưng hiệu quả rất hạn chế. Dần dần đường liên lạc trở nên tốt hơn. Chúng tôi bắt được mối với nội bộ nhà máy. Qua một kỹ sư, chúng tôi nhận được nhiều thông tin quý về việc chế tạo nước nặng, các biện pháp bảo vệ mới của người Đức, các địa điểm đặt đại liên và các bãi mìn...".

    Cuối cùng ngày 23 tháng 1 năm 1943, họ nhận được tin là phải chuẩn bị sẵn sàng, khi nào có tiếng động cơ máy bay ném bom của Anh thì dùng tín hiệu ánh sáng báo cho các bạn chiến đấu biết khu vực có thể nhảy dù.

    Ngày 16 tháng 2 năm 1943, sáu người biệt động xuất phát, mỗi người mang theo một lọ nhỏ thuốc độc... bởi vì ai mà biết trước được!

    Nhóm biệt động nhảy xuống vào lúc nửa đêm, trên một khoảng đất rộng đầy tuyết phủ, cách nhóm tiền nhiệm khoảng bốn mươi kilômét. Một trận bão tuyết lớn làm cho nhóm biệt động gặp nhiều khó khăn trong việc tìm các thùng tiếp tế. Những thùng này cũng được ném xuống bằng dù cùng một thời gian với họ. Phải bảy ngày sau, họ mới gặp hai người trượt tuyết của nhóm tiền nhiệm. Cả đội được chuyển về chỗ trú ẩn chung.

    Thứ năm 25 tháng 2, họ cùng nhau đi về hướng nhà máy. Họ phải đi bảy mươi kilômét trên tuyết và càng gần hy vọng nhà máy, tình hình càng nguy hiểm. Cả mười người lại đều bận quân phục Anh, có nguỵ trang bằng vải trắng. Một người đi trước để nhận phương hướng. Những người khác trú lại cách nhà máy ba kilômét. Tại đây người ta khẩn trương chuẩn bị các dụng cụ phá hoại và phương án chiến đấu. Người tiền trạm trở về với những tin tức không vui lắm: Việc canh phòng được tăng cường trên cầu treo, xung quanh nhà máy, bên cạnh các ổ đại liên còn có thêm các đèn pha.

    Cả đoàn trao đổi kỹ càng về phương án đột nhập. Nên vào nhà máy bằng con đường nào? Ai qua cầu treo thì tiện hơn nhưng sẽ bị bọn lính gác phát hiện. Thôi thì đành phải đi con đường vất vả hơn, tụt xuống vực sâu rồi lại leo lên.

    Thứ bảy 27 tháng 2 năm 1943, khoảng hai mươi hai giờ, họ bắt đầu đi xuống vực. Sau đó lại leo lên.
    Nhưng rất may là tuyết bắt đầu tan nhẹ, họ không bị trượt ngã. Đến đầu đường sắt, họ chia làm hai nhóm: nhóm bảo vệ và nhóm phá hoại. Nhóm bảo vệ gác xung quanh để đề phòng lính Đức.

    Cuộc tiến công bắt đầu lúc quá nửa đêm. Họ khôn khéo và nhẹ nhàng tiến đến cổng nhà máy, cắt cổ khoá. Sau đó họ đi vào các khu vực nhà máy, đặt các gói thuốc nổ và châm lửa đầu dây dẫn. Nhóm phá hoại vừa ra khỏi thì cũng bắt đầu có một loạt tiếng nổ cực mạnh.

    Cả đoàn gặp lại nhau ở địa điểm hẹn trước và bắt đầu cuộc rút lui. Vừa đến bên bờ suối thì tiếng còi báo động vang lên.

    Sáng hôm sau viên chỉ huy SS đến nhà máy. Chúng bắt giữ năm mươi con tin. Nhưng sau đó viên tướng chỉ huy đến và cho thả con tin. Hắn cho rằng vụ phá hoại này là một hoạt động hoàn toàn có tính chất quân sự chứ không có liên quan gì đến thường dân. Hắn phải thừa nhận rằng đây là một vụ phá hoại tài tình, chưa từng thấy.

    Sau vụ này, người Đức ngờ rằng có một lực lượng quân đội Đồng Minh đang bí mật ở gần đấy.

    Hơn ba ngàn quân được tung ra để lùng sục. Tất cả mọi nhà đều bị khám xét, nhiều nhà bị đốt. Một vài trận ném bom trên cao nguyên đã kết thúc chiến dịch tìm kiếm ấy.

    Trong lúc đó, năm người trong đội phá hoại đã vượt sang được Thuỵ Điển, sau mười bốn ngày vượt trên bốn trăm kilômét trong những điều kiện thời tiết cực kỳ khắc nghiệt. Sau đó họ trở về Anh bằng máy bay.

    Ngay sau đó, người Đức lại tăng cường các biện pháp bảo vệ. Chúng mở rộng các bãi mìn, làm các chướng ngại vật trên mọi đường đi. Nhiều đường được nguỵ trang rất cẩn thận. Khoảng sáu tháng sau, tin tình báo lại được chuyển đến Luân Đôn và không có gì là đáng khích lệ: Nhà máy đã được tu sửa và người Đức lại đẩy mạnh sản xuất hơn trước.

    Nhưng lần này Soóc-sin không nghĩ đến việc dùng đội biệt động nữa. Người Mỹ sẽ dùng máy bay ném bom. Các cuộc oanh tạc ban ngày sẽ diễn ra vào giờ nghỉ giữa trưa để không nguy hiểm cho công nhân Na-uy.

    Ngày 16 tháng 11 năm 1943, một trăm năm mươi nhăm pháo đài bay cất cánh đi Na-uy. Đúng mười một giờ ba mươi, trận bão bom đầu tiên giội xuống các công trình nhà máy. Trận bom đã phá huỷ chiếc cầu treo, các đường ống và khu vực thuỷ phân. Nhưng các kho chứa nước nặng nằm sâu dưới các hầm bê tông cốt thép thì không bị phá. Tuy vậy, công trình chính, công trình năng lượng bị phá huỷ hoàn toàn, do đó nhà máy không thể vận hành được nữa.

    Người Đức quyết định chở số nước nặng về Đức. Cuối tháng 1 năm 1944, ba mươi chín thùng vuông chứa khoảng mười bốn tấn nước nặng đã sẵn sàng lên đường. Luân Đôn nhận được tin cấp báo. Soóc-sin ra lệnh phá huỷ bằng được tất cả các thùng ấy. Ba mươi chín thùng được chở bằng tàu hoả và sau đó đi qua hồ Tin bằng tàu thuỷ. Cơ quan tình báo Anh biết được chiếc tàu thuỷ mà người Đức sẽ dùng. Một buổi sáng chủ nhật, ngày mà người Đức bắt đầu vận chuyển, một điệp viên Na-uy đã có mặt rất sớm ở trên tàu cùng vài người bạn đi theo để bảo vệ. Người Đức đã sao nhãng việc canh phòng ở địa điểm họ cho là an toàn rồi. Điệp viên Na-uy chui xuống dưới hầm tàu và đặt gói chất nổ trong bụng tàu. Đó là gói Pơ-oát-xtic cực mạnh, đặt ngay ở chỗ mà sau khi nổ, chiếc tàu hoàn toàn không chạy được nữa. Giờ giấc được tính toán chính xác. Đúng mười giờ bốn mươi lăm phút, chiếc tàu thuỷ đang đi ở khu vực sâu nhất của hồ thì nổ, chiếc tàu bị phá tan, năm mươi ba người ở trên tàu cùng các thùng nước nặng rơi sâu xuống đáy hồ lạnh giá. Như vậy là cuộc đấu tranh ai thắng ai trong cuộc chạy đua chế bom nguyên tử đã chấm dứt.

  3. #23
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    169
    BẢN MẬT MÃ GỬI GIÁM ĐỐC FBI TỪ MÁT-XCƠ-VA

    Ngày 30 tháng Giêng năm 1933, sau khi An-đôn-phơ Hit-le lên nắm chính quyền Đức, mọi hoạt động của các cơ quan dân sự và quân sự "Đệ tam Quốc xã" được tăng cường ráo riết trên lãnh thổ Mỹ. Những hoạt động này theo đuổi hai mục đích. Mục đích thứ nhất là khai thác triệt để, tối đa tiềm năng công nghiệp nặng và tiềm năng khoa học của Mỹ nhằm đáp ứng các nhu cầu nâng cao tiến độ sản xuất vũ khí và kĩ thuật quân sự cho lực lượng vũ trang phát-xít. Trước hết phải nói đến công nghệ sản xuất nhiên liệu tổng hợp, nhựa hoá học, tiếp theo là việc thu mua các nguyên liệu hiếm, những cỗ máy gia công công cụ có độ chính xác cao và những dụng cụ, máy đo lường để chế tạo động cơ xe tăng và ôtô.

    Mục đích thứ hai là giới chóp bu Đệ tam Quốc xã chuẩn bị trước số lượng lớn các toán điệp viên và biệt kích có khả năng thực hiện các vụ phá hoại ở hậu phương đối phương (Mỹ) sau khi bắt đầu nổ ra chiến tranh. Về điều này người Đức đã đạt được thành công đáng kể.

    Những đại diện chính thức lúc bấy giờ của Đức ở Mỹ đã gây được ảnh hưởng đáng kể vào đời sống chính trị Mỹ. Ví dụ, thời kì đó, một nam tước vô liêm sỉ và dâm đãng như Man-phrét Phôn Kin-lin-gơ đã trở thành tổng lãnh sự Đức ở Xan-phran-xi-xcô, hắn là một trong những kẻ cầm đầu các đội xung kích(CA), giết người, đã tham gia tổ chức đốt nhà Quốc hội Đức cùng với các tên Gơ-ring và Rêm được mệnh danh là công cụ khủng bố và đàn áp chủ nghĩa phát-xít.

    Kin-lin-gơ tích cực thúc đấy thành lập liên minh Đức- Mỹ ở miền duyên hải phía tây nước Mỹ. Đây là một tổ chức thân phát-xít, đã đặt ra cho mình mục tiêu mở rộng hoạt động công nghiệp quân sự tại vùng này, như công nghiệp hàng không, xe tăng, pháo, đại bác, tàu chiến. Trong một thời gian ngắn, hắn đã làm náo loạn hoạt động các ngành quốc phòng Mỹ một cách ngoạn mục khiến cục trưởng Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) thời gian đó là Et-ga Hu-vơ đã yêu cầu trục xuất hắn khỏi nước Mỹ.


    PHRI-XƠ MẶT LẠNH Và NHŨNG THÀNH PHẦN KHÁC

    Những chiếc ghế tổng lãnh sự cao quý đó chỉ bị bỏ trống trong một thời gian rất ngắn. Phri-xơ Vi-dơ-man một người đàn ông cao ngồng, ít nói, sắc mặt lạnh ngắt được điều đến nắm giữ vị trí này. Những bức điện thư biểu dương do đích thân Hít-le ký, gửi tới Phri-xơ chứng tỏ hắn đã làm tròn những nhiệm vụ của mình. Quốc trưởng bày tỏ lòng biết ơn đến ngài Vi-đơ-man vì những đóng góp trong việc thiết lập và phát triển các mối quan hệ hữu nghị với những tập đoàn tài chính công nghiệp hải ngoại và với tổ chức mạng lưới gián điệp biệt kích.

    Phri-xơ tuyệt nhiên không đáp ứng được vai trò là người đại diện tiêu biểu của đế chế Đức nghìn năm cả về hình thức bên ngoài lẫn lối tư duy. Thế nhưng ông có một ưu thế độc tôn, có thể gọi đó là một công trạng so với những quan chức của "liên minh". Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Vi-đơ-man có được vinh dự lịch sử chỉ huy tiểu đoàn bộ binh trên mặt trận phía Tây, nơi có binh nhất Xích-lơ-gru-bơ (họ tên thực của Hit-le) làm người tuỳ phái. Chính tay binh nhất này một năm sau trở thành lãnh tụ dân tộc và đế chế Đức.

    Quốc trưởng đã không quên người chỉ huy mặt trận của mình. Năm 1934, Phri-xơ Vi-đơ-man gia nhập đảng Quốc xã và được Hít-le cử làm trợ lý trong bộ máy của mình cho đến năm 1938. Sau khi đánh giá cao về sự trung thành, tận tuỵ của thủ trưởng cũ, Hít-le đã điều Phri-xơ đến Luân Đôn cùng với sự uỷ nhiệm đặc biệt. Tại xứ sở sương mù, Vi-đơ-man phải thực hiện một sứ mệnh đòi hỏi hết sức khôn khéo, tế nhị: bí mật thông báo cho huân tước Ga-li-phắc, bộ trưởng các vấn đề nước ngoài về những ý đồ của Hít-le, muốn thôn tính vùng Xe-dét-ty thuộc chủ quyền của Séc-xlô-va-ki-a. Năm 1939, "Phri-xơ mặt lạnh" được chỉ định làm tổng lãnh sự ở Xan-phran-xi-xcô.

    Những kết quả hoạt động của các nhà ngoại giao Đức, mật thám và các chính trị gia đã tác động nhanh và mạnh đến việc cung ứng nguyên liệu chiến lược từ Mỹ đến Đức như nhôm, đồng, măng-gan, vô-phram, ni-ken... Đồng thời, lượng thông tin khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất các sản phẩm siêu nặng cho mục đích chiến tranh được "xuất biên", ồ ạt đổ vào Đức. Tập đoàn xăng dầu "Ethil gasoline" cùng với "General motors" được phép của chính phủ Mỹ đã chuyển giao cho người Đức bí quyết đặc chế AAA phụ gia tối quan trọng nhằm tăng số lượng Octan trong xăng máy bay cho động cơ thế hệ mới.


    HÀNH ĐỘNG CỦA ĐỘI QUÂN THỨ NĂM


    Khi Đức tấn công Xô Viết, nhiều tổ chức phát xít đã không dấu nổi sự vui mừng và niềm hân hoan của mình. Một cơ quan thuộc ủy ban dân tộc "Người Mỹ là trên hết" tờ "Người đưa tin" đưa hàng tít lớn "Các dân tộc châu Âu trong cuộc chiến với những người Nga cộng sản. Mười bảy quốc gia "nối vòng tay lớn" cùng với đế chế Đức trong cuộc thập tự chinh chống Liên Xô". Có khả năng hành vi đê tiện của các tổ chức thân phát xít đã "bịt được mắt" cơ quan tư pháp Mỹ, mặc dù thời gian đó Mỹ là một nước hậu thuẫn lớn cho đồng minh của mình là Anh trong cuộc chiến với Đức, còn những tàu ngầm Đức đã đánh chìm hàng chục tàu thương mại vận tải vũ khí, khí tài qua biển Át-lan-tích.

    Mùa xuân năm 1942, một tàu vận tải cỡ lớn có tên "Kolmar" rời cảng Phi-la-đen-phi-a đến Ác-kha-gen-xcơ chở khối lượng vũ khí hạng nặng, đạn dược, thuốc nổ, những khí tài quân sự khác cho Hồng quân. Sau vài ngày rời cảng tàu gặp phải bão biển, các vũ khí hạng nặng bị giật tung khỏi vị trí trượt trên khắp boong tàu, khá nhiều thuỷ thủ bị chết và bị thương. Số thuỷ thủ còn lại đề nghị thuyền trưởng cho tàu quay lại cảng bởi số hàng trên tàu phần lớn đã bị nhấn chìm và tàu đã bị hư hỏng nặng. Nhưng "Kolmar" đã không bao giờ quay lại được cảng: tàu đã bị trúng ngư lôi của tàu ngầm Đức khi chỉ còn cách cảng 16 hải lý. Chỉ một số thuỷ thủ đoàn được cứu sống.

    Sự kiện tương tự cũng xảy ra với một con tàu khác tàu "Damboil". Nhưng "Damboil" có phần may mắn hơn, đã quay lại được cảng một cách cực kỳ khó khăn sau khi đã phải trút phần lớn số xe tăng xuống đáy đại dương.

    Các cơ quan phản gián quân sự của FBI rất quan tâm tới những sự kiện này. Họ nghiên cứu khá kỹ nguyên nhân tai nạn và thảm hoạ xảy ra với những con tàu vận tải đến châu Âu này. Sau hai tháng, 8 tàu tải trọng siêu nặng bị hư hỏng nặng hoặc bị nhấn chìm, kể cả 2 tàu nêu trên: tàu "Independence-Holl", "West-Jafferen", "Effinhem", “City of Flint", "Joan de Lorranto" và "Tintigl".

    Vấn đề đã được làm sáng tỏ, công việc bốc xếp hàng quân sự lên những con tàu trên do duy nhất một công ty đảm nhiệm, ông chủ của công ty này là người Đức. Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất, hắn đã bị vạch trần tham gia các đường dây tội phạm với cơ quan tình báo Đức. Hiển nhiên, các cơ quan luật pháp Mỹ đã thẳng tay trừng trị không thương tiếc kẻ chủ mưu xếp số hàng cẩu thả trên các tàu vận tải: một số bị treo cổ, số khác ngồi ghế điện...

    Nhưng hoá ra FBI cùng với mạng lưới chi nhánh phản giản của nó vẫn không thể phát hiện triệt để những hành vi của nhóm biệt kích trong các nhà máy, kho vũ khí và tại các căn cứ, bởi những lỗi hỏng hóc tiềm tại trong các loại vũ khí, đạn dược và khí tài chỉ được phát hiện trong quá trình sử dụng chiến đấu và trên chiến trường. Nhiều loại vũ khí khí tài không thể hoạt động, các thiết bị nổ hoạt động không theo đúng chu trình, những sự cố không rõ nguyên nhân và rất khó phân loại... Cùng lúc đó những thông báo tương tự được gởi về tới gấp từ các đơn vị chiến đấu, nhưng mọi việc dường như vẫn giậm chân tại chỗ. Câu hỏi "ai, ở đâu, cụ thể từ khi nào thực hiện hành vi phá hoại này" thực sự đã làm cho FBI rối loạn. May mắn thay một "quý nhân"... từ Ba-cu đã ra tay cứu giúp họ.

  4. #24
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    BẢN MẬT MÃ GỬI GIÁM ĐỐC FBI TỪ MÁT-XCƠ-VA

    Vào trung tuần tháng 5 năm 1942 , trên mặt trận Xô-Đức tình hình hết sức bất ổn. Sau khi tập hợp các lực lượng trù bị với số lượng lớn, với mục đích đánh lạc hướng bộ chỉ huy quân sự Xô-viết về hướng tấn công chủ lực, quân đội Đức đã bao vây một quân đoàn lớn của Hồng quân gần thành phố Khác-cốp, ở vùng Bắc-ven-xki, chọc thủng hành lang ngang trận tuyến vào sâu tới 200km. Trong lần đột phá khẩu vào sâu trong lãnh thổ Xô-viết nhiều sư đoàn xe tăng phát-xít được huy động, đi chuyển theo ba hướng.

    Hướng thứ nhất tấn công qua Vô-rô-nhe-rơ theo hướng đông Mát-xcơ-va, phối hợp tác chiến với đơn vị "Trung tâm" khép chặt vòng vây xung quanh Mát-xcơ-va. Hướng thứ hai xuyên thảo nguyên Xan-xcơ tiến thẳng vào Xta-lin-grát với mục đích cắt đứt tuyến đường huyết mạch vận chuyển dầu mỏ từ Cáp-ca-dơ đến các nhà máy lọc dầu của Nga. Hướng thứ ba là hướng Cáp-ca-dơ từ hướng Rô-xtốp tấn công thành phố Mi-nhe-ra-nư-e Va-dư, vượt các đèo trọng yếu thuộc dãy núi Cáp-ca-dơ để chiếm các xí nghiệp khai thác dầu mỏ ở Mai-cốp, Grô-đnưi và Ba-cu. Từ đó có thể với tay tới các khu vực dầu mỏ Mê-xô-pô-ta-mi-a, Mô-xun và Ki-cúc (I-rắc).

    Tại hướng tấn công thứ nhất quân Đức chỉ tiến vào được trung tâm thành phố Vô-rô-nhe-rơ, không thể tiến thêm được hơn do gặp phải sự chống trả kiên cường quyết liệt của các chiến sĩ Hồng quân. Ở hướng tấn công trọng yếu quân đội phát-xít đã tiếp cận Vôn-ga, chiếm những vùng lao động Xta-lin-grát, nhưng Hít-le đã thất bại trong việc cắt đứt nguồn dầu dọc theo sông Von-ga dẫn đến các sà lan chở dầu. Nhiều tiểu đoàn tinh nhuệ thông thạo địa hình đồi núi thuộc sư đoàn "Ê-đen-vây-xơ" không tài nào chiếm được các đèo của dãy núi quan trọng Cáp-ca-dơ, còn các đơn vị tiêu binh phát-xít đã nhận định: không thể chiếm được khu dầu mỏ Grô-đnưi, mặc dù chúng chỉ cách đó khoảng 60km.

    Trong cơn tức giận bất lực đến điên khùng trước sự kháng cự ngoan cường của Hồng quân trên mặt trận, Hít-le ra lệnh cho Gơ-ring Héc-man thả bom rải thảm các cơ sở khai thác dầu mỏ và các nhà máy lọc dầu ở Ba-cu và Grô-đnưi. Để thực hiện việc này, nhiều máy bay tại các căn cứ trên bán đảo Crưm và Ta-man đã được huy động vào cuộc, đồng thời tập trung đánh đòn chủ lực vào toàn Ba-cu, các ga đầu mối, cảng, các cơ sở xí nghiệp khai khoáng, các nhà máy.

    Khi đó Xta-lin đã hạ lệnh thành lập Vùng phòng không đặc biệt (PVO) nhằm bảo vệ Da-cáp-ca-dơ (ngoại Cáp ca-dơ). Cần phải lưu ý rằng thời điểm đó ở Liên Xô chỉ có một vùng phòng thủ phòng không ở Mát-xcơ-va để bảo vệ toàn thủ đô và trung tâm công nghiệp thủ đô.

    Vùng phòng thủ phòng không mới Da-cáp-ca-dơ trải dài từ vùng hạ lưu sông Đông đến biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ và I-ran và từ bờ biển Đen đến bờ biển Ca-xpi từ tây sang đông. Chốt giữ một vùng rộng lớn này là những trung đoàn phòng không thiện xạ nhất cùng nhiều máy bay tiêm kích. Trong các đợt phản công các đòn không kích tập trung của máy bay Đức, nhiều pháo thủ cao xạ và phi công dũng cảm đánh trả, bắn hạ hàng chục oanh tạc cơ của Đức mỗi ngày như "Unkers-88" và "Henkal-111".

    Lực lượng cao xạ Hồng quân đã sử dụng những vũ khí được chế tạo ngay trong nước hiện đại nhất khi đó như pháo 85 ly bán tự động, và pháo 37 ly tự động của Mỹ. Tất cả mọi việc diễn ra trôi chảy và hiệu quả cho đến khi các vũ khí tự động của Mỹ bắt đầu nảy sinh những hỏng hóc khó hiểu. Hoá ra là các oanh tạc cơ của Đức thường không bị "dính đạn" của các pháo cao xạ cỡ nhỏ, mặc dù xạ thủ các khẩu đội và tiểu đoàn thao tác. Những làn đạn pháo cao xạ do Mỹ chế tạo không phát nổ ở một độ cao quy định; thường xuyên rơi xuống đất mới phát nổ, khiến không ít chiến sĩ đã phải hy sinh. Mát-xcơ-va vô cùng lo lắng trước những hiện tượng trên, hơn nữa nguyên nhân lại thường không thể xác định ngay tại trận địa.

    Để tìm hiểu toàn bộ tình hình ở Ba-cu, thiếu tá công binh Ghê-oóc-ghi Xa-lát-cô, một chuyên gia giàu kinh nghiệm và am tường thiết bị nổ thuộc học viện quân sự pháo binh Ph.E.Đdec-gin-xki đã được biệt phái đến. Chính Học viện này từ cuối tháng 10 năm 1941 đã được chuyển sơ tán về Xa-mác-can và tiếp tục hoạt động cho đến nay, còn một số chuyên gia cao cấp đặc biệt được giữ lại Mát-xcơ-va để thành lập nhóm đặc biệt (NIG) chuyên nghiên cứu tất cả các loại pháo, đạn pháo và vũ khí của đối phương.

    40 năm sau đó, vào năm 1986 người ta mới biết đến sự tồn tại và những kết quả nghiên cứu của nhóm NIG sau khi cuốn sách "NIG phá giải những bí ẩn" của I-li Xi-man-chúc được xuất bản.

    Khi tới Ba-cu, Ghê-oóc-ghi lập tức ra ngay cảng biển - mục tiêu trọng yếu của máy bay Đức, vào ngay trận địa phòng cao xạ không pháo, nơi đặt những cỗ pháo 37 ly, ghi chép lại các số liệu: năm sản xuất, số hiệu nhà máy; xác định rõ những chi tiết dấu hiệu đặc biệt, những vết dập trên vỏ đạn. Công việc còn lại là đợi máy bay Đức đến. Và anh đã không phải đợi lâu.

    Chiếc máy bay trinh thám tầm xa "Henkel" xuất hiện đầu tiên - dấu hiệu về một cuộc tấn công chớp nhoáng của phi đội oanh kích trọng yếu. Các pháo thủ cao xạ bắn xối xả hoả lực mãnh liệt, thân máy bay xuất hiện những đụn khói trắng do đạn pháo "nổ". Nhưng bằng mắt thường cũng thấy rõ không phải toàn bộ số đạn pháo bắn lên đều nổ, ngay cả trong quá trình rơi xuống đất. Những quả đạn pháo này là sự nguy hiểm khôn lường, bởi với khối lượng gần 20kg và tốc độ bay là 900m/s chúng có thể gây ra thiệt hại lớn trên mặt đất.

    May mắn thay, người ta đã tìm thấy được hai quả đạn pháo chưa nổ. Sau khi tháo kíp nổ 2 quả đạn pháo. Ghê-oóc-ghi đã phát hiện ra lỗi "giấu mặt" trong đường ren của ống kíp nổ. Đây chính là nguyên nhân những quả đạn pháo không nổ trên một độ cao định trước, mà chỉ nổ khi đập vào đất. Sự việc đã quá rõ ràng, lỗi quả đạn pháo được tạo ra do chính bàn tay đầy kinh nghiệm của nhóm biệt kích. Mọi công việc tiếp theo đều diễn ra thuận lợi. Với sự giúp đỡ của các chiến sĩ khẩu đội pháo, thiếu tá công binh Xa-lat-cô đã tháo gỡ kiểm tra những quả đạn pháo còn lại trong hòm. Kết quả thu được là toàn bộ đạn pháo thuộc lô hàng này đều bị lỗi ở kíp nổ.

    Ngay chiều hôm đó, một bức mật mã được chuyển về Mát-xcơ-va, tới Bộ dân uỷ quốc phòng Liên Xô, mô tả chi tiết, nguyên nhân không phát nổ của những quả đạn pháo cùng với những chỉ dẫn của nhà máy chế tạo, kho chứa và nơi thực hiện công đoạn lắp ráp. Đến lượt mình, Bộ dân uỷ về các vấn đề nước ngoài đã chuyển thông tin trên đến sứ quán Mỹ ở Mát-xcơ-va, từ đây một bản mật mã được chuyển về Oa-sinh-tơn cho giám đốc FBI Ét-ga Hu-vơ. Chẳng bao lâu sau các nhân viên FBI và Cục phản gián binh đã bắt quả tang, tóm gọn một nhóm lớn các điệp viên và biệt kích thuộc Cục an ninh đế chế Đệ Tam Quốc xã... buộc chúng phải ra hầu toà.

    Vậy còn ngài Phri-xơ Vi-đơ-man, cựu chỉ huy mặt trận của Hít-le? Hắn đã phải nhanh chóng khăn gói từ trước đó rời khỏi nước Mỹ. Vào tháng 6 năm 1941, do những hành vi mờ ám, hắn đã bị chính quyền Mỹ trục xuất. Cuốn hộ chiếu ngoại giao là vị cứu tinh duy nhất giúp "Phri-xơ mặt lạnh" không phải tra tay vào còng năm 1945, hắn kết thúc sự nghiệp của mình ở Trung Quốc, cũng chính là nơi người Mỹ đã tóm được hắn. Điều đáng nói ở đây là chính quyền Mỹ đã bất lực trước cái gọi là quyền bất khả xâm phạm về ngoại giao của Vi-đơ-man. Sau khi chiến tranh kết thúc, hắn đã mãn hạn tù theo bản án của toà án quân sự Nu-rem-be. Năm 1963, Vi-đơ-man đã cho ra mắt cuốn bồi ký về Hít-le dưới tiêu đề: "Kẻ muốn chỉ huy".

    Câu chuyện dài về việc xoá sổ nhóm biệt kích người Đức hoạt động bí mật khá thành công trên đất Mỹ kết thúc. Vai chính trong chuyện này chính là bản mật mã được gửi đi từ Ba-cu cho Oa-sinh-tơn, năm 1942.

    Sau những sự kiện trên, các bộ phận phòng không cao xạ phòng tuyến Da-cáp-ca-dơ, hay như người ta gọi khi đó là Phòng tuyến phòng không Ba-cu, bắt đầu nhận được những thùng đạn pháo chất lượng tuyệt hảo. Điều này đã giúp bảo vệ thủ đô Cộng hoà A-déc-bai-dan không bị xâm hại và tàn phá bởi không lực Hít-le như các thành phố công nghiệp của Anh - Luân Đôn, Se-phin và Côn-ven-tri đã từng phải hứng chịu. Và một điều không thể nào quên, chiến công, vinh quang có phần đóng góp của thiếu tá kỹ sư công binh Ghê-oóc-ghi Xa-lát-cô.

  5. #25
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    CUỘC ĐẤU TRÍ QUYẾT LIỆT GIỮA KẺ ĐI SĂN, NGƯỜI ĐI SĂN



    BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÊN LỬA VÀ ĐÔI NÉT VỀ HẠM ĐỘI TÀU NGẦM XÔ-VIẾT


    Nhằm đối phó với việc Mỹ ngày càng trắng trợn đe doạ xâm lược Cu-ba và triển khai tên lửa hạt nhân tầm trung nhằm vào nước mình từ các nước Tây Âu như Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ trong các năm 1958-1959, ban lãnh đạo Liên Xô cùng các lãnh tụ cách mạng Cu-ba đã quyết định triển khai tên lửa hạt nhân tầm trung tại Cu-ba vào cuối năm 1962. Ngày 15 tháng 9 năm 1962, chiếc tàu vận tải hạng nặng Pô-ta-va của Liên Xô chuyên chở những quả tên lửa hạt nhân tầm trung đầu tiên đã tới đích và dỡ hàng tại cảng Ma-ri-en, Cu-ba. Theo kế hoạch, việc xây dựng các trận địa chiến đấu cho loại tên lửa tầm trung R-11M (được biết đến tại phương Tây dưới tên gọi SS-N-4) sẽ được hoàn tất vào cuối tháng 10 năm 1962 tại khu vực San Cri-stô-ban. Khi đó, tầm tấn công huỷ diệt của loại tên lửa này sẽ bao trùm toàn bộ lãnh thổ nước Mỹ.

    Sau khi phát hiện lên lửa hạt nhân Liên Xô được triển khai trên lãnh thổ Cu-ba, ủy ban tình báo vũ trụ và tên lửa Mỹ (GMAIC) đã quyết định kiểm chứng và thông báo vụ việc cho tồng thống Mỹ Giôn F.Ken-nơ-đi. Sau nhiều lần cân nhắc, ngày 20 tháng 10 năm 1962, Tổng thống Ken-nơ-đi đã ra lệnh phong toả đường biển và đường không quanh lãnh thổ Cu-ba, không cho phép bất cứ người hay phương tiện nào được phép tới hay rời khỏi nước này. Để hỗ trợ cho chiến dịch phong toả. Mỹ đã huy động một lực lượng hải quân và không quân hùng hậu. Đồng thời, lực lượng hạt nhân Mỹ trên khắp thế giới cũng được đặt trong tình trạng sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh hạt nhân tổng lực với Liên Xô.

    Về phần Liên Xô, ngoài số tên lửa hạt nhân đã được triển khai trước tại Cu-ba thì phương tiện duy nhất có thể chọc thủng vòng phong toả hải quân vào lãnh thổ Mỹ là hạm đội tàu ngầm. Mặc dù được biên chế trong các hạm đội hải quân trên các khu vực biển chiến lược, nhưng theo chức năng, lực lượng tàu ngầm Xô-viết được chia làm hai loại: tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược và tàu ngầm chiến đấu.

    Tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược là loại tàu ngầm được sử dụng chủ yếu cho mục đích tấn công hay trả đũa hạt nhân vào lãnh thổ đối phương. Do hạn chế kỹ thuật thời đó, loại tàu ngầm này chỉ mang được 3 quả tên lửa hạt nhân tầm trưng R-13 (tầm bắn trên 1.000km) và phải nổi lên mặt nước khi muốn phóng tên lửa. Việc chuẩn bị phóng được tiến hành ngầm dưới nước trong khoảng thời gian 1 giờ, và tổng thời gian từ khi phóng xong 3 quả lên lửa tới khi lặn xuống là 16 phút. Còn tàu ngầm chiến đấu là loại tàu ngầm được trang bị ngư lôi để tiêu diệt các tàu ngầm và tàu nổi của đối phương, đồng thời bảo vệ các tàu đồng đội. Điểm chung duy nhất giữa hai loại tàu ngầm này là chúng đều được trang bị một số ngư lôi gắn đầu nổ hạt nhân. Tới đầu thập kỷ 1960, một số thế hệ tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược (thuộc lớp 658, 659) và tàu ngầm chiến đấu (thuộc lớp 627 KIT) Xô-viết đã được trang bị động cơ chạy bằng năng lượng nguyên tử, giúp tăng cường khả năng chiến đấu của chúng trên các vùng biển xa. Trong khi đó, các tàu ngầm chạy bằng động cơ điện và đi-ê-den gặp khó khăn hơn rất nhiều trong các chuyến công tác dài ngày. Trước khi cuộc khủng hoảng tên lửa diễn ra, lực lượng tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược của Liên Xô có tổng cộng 23 chiếc, với 16 chiếc thuộc biên chế Hạm đội Biển Bắc và 7 chiếc thuộc hạm đội Thái Bình Dương. Trong khi đó, lực lượng tàu ngầm chiến đấu Xô-viết nhiều hơn gấp 5 lần. Tại hạm đội Biển Bắc, lực lượng tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân được biên chế về Sư đoàn tàu ngầm số 16 thuộc Hải đoàn 12, đóng căn cứ tại 2 quân cảng Ô-ly-ê-ny-a và Y-a-ghi-en-nôi. Các tàu ngầm tấn công hạt nhân chiến lược thường được giao nhiệm vụ tuần tra trên các vùng biển khác nhau gần các mục tiêu và được hộ tống bởi các tàu ngầm chiến đấu.

    Chuẩn bị cho việc triển khai tên lửa hạt nhân tại Cu-ba. Liên Xô đã tính tới ưu thế về khoảng cách và lực lượng của hải quân Mỹ. Để bảo đảm sứ mạnh răn đe và trả đũa hạt nhân khi cần thiết, lực lượng tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược Xô-viết đã được huy động tối đa. Tháng 5 năm 1962, Bộ Quốc phòng Liên Xô đã bí mật thành lập Sư đoàn tàu ngầm chiến lược số 18, chuyên hoạt động trong khu vực biển Ca-ri-bê và các vùng biển quanh nước Mỹ. Sư đoàn tàu ngầm số 18 gồm 9 tàu ngầm thường mang tên lửa hạt nhân chiến lược lớp 629, 2 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hạt nhân chiến lược lớp 611, và hơn 20 tàu ngầm chiến đấu thuộc các lớp 627 và 641.


    CUỘC ĐẤU TRÍ QUYẾT LIỆT GIỮA KẺ ĐI SĂN VÀ NGƯỜI BỊ SĂN

    Ngay từ đầu, nhiệm vụ của Sư đoàn tàu ngầm chiến lược số 18 đã dược xác định là bảo vệ hoạt động triển khai tên lửa và lãnh thổ Cu-ba khỏi sự đe doạ tấn công từ phía Mỹ, đồng thời răn đe và trả đũa hạt nhân khi có khủng hoảng. Với số lượng gần 30 đầu đạn hạt nhân gắn trên tên lửa với hơn 100 ngư lôi mang đầu nổ hạt nhân, sư đoàn tàu ngầm chiến lược số 18 có đủ khả năng tiêu diệt hầu hết các thành phố đông dân, hải cảng quan trọng và phần lớn lực lượng hải quân Hoa Kỳ. Trước khi cuộc khủng hoảng diễn ra, luôn có từ 2 đến 4 chiếc tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược của Sư đoàn 18 tuần tra dọc theo hai bờ biển Hoa Kỳ. Tới khi Mỹ thiết lập phong toả hải quân, Sư đoàn tàu ngàm chiến lược số 18 đã tăng cường số lượng tàu ngầm tuần tra, đồng thời sử dựng các chiến thuật khác nhau để vượt qua hệ thống chống ngầm dày đặc của đối phương nhằm tiếp cận khu vực trực chiến. Ngoài số tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân chiến lược vẫn thực hiện các nhiệm vụ răn đe và trả đũa hạt nhân thường lệ, nhiệm vụ của đội tàu ngầm chiến đấu đã mở rộng từ hộ tống các tàu mang tên lửa hạt nhân chiến lược, tới việc theo sát các tàu sân bay và tàu chiến quan trọng của hải quân Mỹ để tiêu diệt chúng khi cần.

    Về phía Mỹ, nhận thức rõ mối nguy hiểm từ hạm đội tàu ngầm Xô-viết, hải quân Mỹ đã tiến hành tổng hợp nhiều chiến thuật chống ngầm khác nhau. Bên cạnh các trạm tình báo vô tuyến, ra-đa hải quân và thám âm tầm xa, hải quân Mỹ đã bố trí các đội máy bay và tàu săn ngầm phục kích tại nhiều điểm trọng yếu khác nhau, nơi các tàu ngầm chạy điện và dầu đi-ê-den của Liên Xô phải nổi lên để nạp điện hoặc thông khí. Đối với các tàu ngầm Xô-viết đang ở chế độ lặn thì theo thông lệ quốc tế, tàu săn ngầm Mỹ chỉ được phép thả đạn nổ ngầm loại nhỏ để ép các tàu ngầm xâm phạm lãnh hải hoặc khu vực phong toả phải nổi lên mặt nước. Tuy nhiên, rất nhiều sự cố nghiêm trọng cho cả hai bên đã xảy ra trong quá trình săn đuổi.

  6. #26
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    20
    Theo Ni-cô-lai Sum-kốp, thuyền trưởng tàu ngầm chiến đấu B-130, thì tàu ngầm của ông được giao nhiệm vụ tiếp cận và sẵn sàng tiêu diệt các tàu chiến Mỹ đang thiết lập hàng rào phong toả hải quân trước các tàu vận tải Liên Xô. Khi hoạt động ở độ sâu 20 mét, tàu B-130 bị các tàu săn ngầm Mỹ phát hiện và rượt đuổi bằng đạn nổ ngầm. Do điện trong ác-quy đã cạn và hệ thống bánh lái độ sâu bị kẹt nên tàu B-130 di chuyển rất chậm ra khỏi khu vực quần thảo của các tàu chiến Mỹ. Khi tới độ sâu 160 mét, khoang 6 của tàu bị rò rỉ nước từ đường ống làm mát động cơ, khiến hệ thống điện đoản mạch và gây cháy. Nhờ sự nhanh trí của một thuỷ thủ trực khoang này, sự cố rò rỉ nước đã được ngăn chặn và tàu B-130 thoát khỏi nguy cơ bị đắm.

    Sự cố thứ hai được xem là nguy hiểm nhất cho cuộc khủng hoảng tên lửa liên quan đến tàu ngầm tấn công B-59. Trong quá trình trốn chạy sự truy đuổi của các tàu Mỹ, lượng dưỡng khí trên tàu cạn kiệt khiến tâm lý của các thuỷ thủ và sĩ quan rất căng thẳng. Sau khi tàu chiến Mỹ thả đạn nổ ngầm hạng nặng để ép tàu nổi, thuyền trưởng tàu ngầm B-59 Va-len-tin Sa-vit-xky đã nổi nóng và ra lệnh chuẩn bị phóng ngư lôi hạt nhân. Rất may là sau đó ông bình tĩnh trở lại, huỷ lệnh phóng rồi cho tàu nổi lên.

    Các vụ việc tương tự kiểu trên nhưng khác nhau về cấp độ cũng đã diễn ra với các tàu ngầm Xô-viết khác của Sư đoàn tàu ngầm chiến lược số 18. Theo thống kê của hải quân Liên Xô, có tất cả hơn 80 vụ chạm trán giữa lực lượng tàu ngầm Xô-viết và các tàu chiến săn ngầm của Mỹ trong thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng tên lửa Cu-ba. Trong cuộc săn đuổi quyết liệt này, nguy cơ chiến tranh hạt nhân luôn sẵn sàng bùng nổ, nếu một trong hai bên không biết tự kiềm chế.




    KẺ PHẢN BỘI TỆ HẠI NHẤT CỦA TÌNH BÁO QUÂN SỰ XÔ-VIẾT

    Giống như điệu Mơ-nu-ê của thế kỷ XVIII, vũ điệu của các điệp viên cũng rất chậm rãi và mang đậm tính nghi thức. Bộ phận phản gián của FBI thích gọi đây là "thả khăn mùi soa", một ám hiệu bày tỏ sự quan tâm tới một tình báo viên Xô-viết. Tín hiệu này ẩn ý: chúng tôi biết anh là một điệp viên và nếu anh cảm thấy không hạnh phúc với cuộc sống, chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ. Dù điệp viên này có "nhặt khăn" hay để kệ nó, họ luôn tỏ vẻ không hề quan tâm.

    Vũ điệu này dính líu tới một người đàn ông được FBI đặt cho mật danh TOP HAT - bắt đầu xoay chuyển tháng 10 năm 1959 tại trụ sở Liên hiệp quốc tại Niu Y-oóc. Phái đoàn ngoại giao của Liên Xô có rất nhiều nhân viên KGB và GRU, phần lớn tuổi đời còn trẻ và đầy hứa hẹn. Chẳng có nhiều phi vụ béo bở gì quanh trụ sở này, nhưng đây là một nơi thực tập rất tốt cho các điệp viên để sau này có thể xoay xở với những nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm hơn bội phần.

    TOP HAT ở đây là Đmi-tri F.Pô-ly-a-kốp và được FBI đánh giá là "con cá lớn". Năm 1951, nhan viên GRU 31 tuổi này lần đầu tiên được đến Niu Y-oóc, trong phái đoàn Liên hiệp quốc Xô-viết với vỏ bọc ngoại giao. Vì với tuổi đời còn khá trẻ mà đã nhận được chức vụ cao cũng như trọng trách (thu thập bí mật tình báo công nghệ của Mỹ) nên rõ ràng anh sớm muộn cũng nắm vị trí trọng yếu trong GRU. Năm 1956, sau khi hoàn thành nhiệm kỳ ở Liên hợp quốc và trở về Mát-xcơ-va. Pô-ly-a-kốp đã nằm trong danh sách theo dõi sát sao của FBI.

    Ba năm sau, Pô-ly-a-kốp trở lại Liên hợp quốc nhận nhiệm kỳ mới cũng như đem lại cho FBI khám phá thú vị: người này đang bất mãn chế độ, nguyên nhân chủ yếu là vì tiền bạc. Dù đã mang quân hàm đại tá và mỗi năm nhận được 10.000 USD nhưng phần lớn số tiền này phải gửi về cho chính quyền Liên Xô.

    Cùng lúc, cuộc sống xa hoa Niu Y-oóc cũng ảnh hưởng không nhỏ tới anh ta.

    Năm 1960 , Pô-ly-a-kốp đã lộ rõ ý định của mình trong lần chạm trán với 2 nhân viên phản gián FBI. Câu chuyện diễn ra vào một buổi sáng trên khu phố không có người Nga nào qua lại. Giống như những bạn học cũ lâu ngày mới gặp mặt, hai nhân viên FBI chỉ pha trò và tán gẫu về gia đình và hẹn gặp lại nếu như Pô-ly-a-kốp gặp "trục trặc" và cần thương thảo. Pô-ly-a-kốp không hứa hẹn gì nhưng cũng không phủ nhận cuộc gặp mặt này vì kiểu gì anh ta cũng phải báo cáo cho cấp trên.

    Nói cách khác, FBI đã "thả khăn mùi soa" và Pô-ly-a-kốp đã đi đến quyết định sau cùng. Tại một địa điểm tiếp tân ngoại giao, anh đã đến gặp một nhân viên ngoại giao Mỹ và tỏ ý muốn nói chuyện với FBI. Một chương mới trong chiến tranh lạnh đã mở ra và kéo dài liên tục trong 25 năm sau đó.

    Rất bình thản, Pô-ly-a-kốp cho biết, anh ta không hành động vì tiền nhưng cũng rất vui lòng nếu được đáp ứng một số yêu cầu vật chất. Số là Pô-ly-a-kốp rất mê sưu tầm những khẩu súng cổ làm thủ công Anh ta đã có lần nhìn thấy một khẩu súng như vậy ở một cửa hiệu tại Đại lộ 5. Giá của khẩu súng quả thật ngoài tầm đồng lương đại tá, nên Pô-ly-a-kốp thường xuyên qua cửa hàng đó đứng ngắm khẩu súng rất lâu. Pô-ly-a-kốp rất hạnh phúc nếu FBI lấy đây làm món quà ra mắt.

    Và 6.000USD đã được chi ra để tỏ lòng thành của Mỹ. Ngay lập tức, Pô-ly-a-kốp chứng tỏ, đầu tư tiền bạc vào tình báo là con đường khôn ngoan nhất.

  7. #27
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    152
    VỀ SỰ KIỆN "MÙA XUÂN 1968” Ở TIỆP KHẮC CŨ

    Cuối năm 1967, đầu 1968 tại Tiệp Khắc đã diễn ra hàng loạt sự kiện nóng bỏng mà đỉnh điểm là việc Liên Xô đưa quân đội vào nước này vào tháng 8 năm 1968. Tháng 11 năm 1967 diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, trong đó phái "cải cách" đứng đầu là Đúp-xếch (Dobchek) đòi tách đảng khỏi chính quyền và tiến hành các cải cách kinh tế - chính trị. Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Tiệp Khắc lúc bấy giờ là Nô-vết-nưi, kiêm chức Chủ tịch nước, đã không đủ sức ngăn cản trào lưu này. Tháng 3 năm 1968, chức Bí thư thứ nhất của Nô-vốt-nưi bị mất về tay Đúp-xếch; chẳng bao lâu sau chức Chủ tịch nước cũng chuyển giao cho tướng Xvô-bô-đa. Đến ngày 5 tháng 4, Ban chấp hành Trung ương thông qua "cương lĩnh hành động tháng 4" với nội dung "cải cách toàn diện các mặt đời sống đất nước". Ít lâu sau, Chec-nich, một trong những nhà lãnh đạo phái cải cách được bầu làm Thủ tướng. Đến đây, thực chất chính quyền ở Tiệp Khắc đã lọt vào tay phong trào dân chủ "Mùa xuân Pra-ha".

    Tin tức này nhanh chóng bay về Mát-xcơ-va.

    Từ nhiều năm nay, trong một bộ phận dân chúng và giới lãnh đạo Tiệp Khắc đã nhen nhóm ý tưởng khôi phục "truyền thống Trung Âu”, xem xét lại chính sách đối ngoại theo hướng thân phương Tây hơn và xa rời Mát-xcơ-va hơn. Vào thời kỳ ấy, thái độ thất thường này đối với Crem-li là không thể chấp nhận được, nhất là đôi khi chính sách này có biểu hiện của tư tưởng bài Xô, dẫn đến nguy cơ tạo khoảng trống trong vùng đệm ở phía Tây Liên Xô. Nhiều chính khách nước ngoài thường chê các nhà lãnh đạo Liên Xô thời kỳ này là trì trệ, xơ cứng trong việc nhận thức nhiều vấn đề, nhưng cũng phải công nhận rằng trong những vấn đề tương tự các diễn biến ở Tiệp Khắc họ lại tỏ ra rất nhạy cảm và đưa ra những phản ứng nhanh đến kinh người.

    Vào thời kỳ đó, căn phòng của Đại sứ Liên Xô tại Tiệp Khác Si-nốp hầu như sáng đèn suốt ngày đêm. Đôi mắt vị đại sứ thâm quầng vì mất ngủ và mệt mỏi. Ông căng thẳng và chăm chú theo dõi diễn biến tình hình, và rồi các sự kiện thay nhau diễn ra ngày càng khẳng định một dự cảm của ông và Ban lãnh đạo KGB: ở đây không còn là những "tìm lòi về lý luận trong việc điều hành nhà nước Xã hội chủ nghĩa" như các nhà lãnh đạo Tiệp Khắc giải thích, mà có lẽ là một khuynh hướng nguy hiểm mà không thể gọi bằng một cái tên nào khác ngoài "tàn dư phản cách mạng" đang thai nghén và lớn lên.

    Hạ tuần tháng 2, trong dịp dẫn đầu đoàn đại biểu đến Pra-ha mừng quốc khánh Tiệp Khắc, nhà lãnh đạo Liên xô L.Brê-giơ-nep cũng cảm thấy bất an. Mặc dù đã gửi điện chúc mừng Bí thư mới của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc là Đúp-xếch, nhưng rõ ràng những lời hay ý đẹp trong bức điện không phản ánh tâm trạng thực của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông cho rằng đã đến lúc không thể không có hành động.

    Ngày 23 tháng 3, ngày thứ 2 sau khi Nô-vốt-nưi bị cách chức Chủ tịch nước, bất ngờ Brê-giơ-nep cho mời, mà thực chất là triệu tập các nhà lãnh đạo Ba Lan, Cộng hoà dân chủ Đức, Bun-ga-ri, Hung-ga-ri và Tiệp Khắc đến Mát-xcơ-va để bàn biện pháp ngăn cản hành động "quá nóng" của Tiệp Khắc, nhắc nhở Đúp-xếch về "nguy cơ đang tiềm ẩn trong tình hình phức tạp" ở nước ông có thể đe doạ lợi ích khối Vác-xa-va và bày tỏ quyết tâm phối hợp hành động chống lại các phần tử chống Chủ nghĩa xã hội.

    Phát biểu tại cuộc gặp mặt, Đúp-xếch đã cảm ơn lòng tốt của các đồng nghiệp, song lại cho rằng sự lo lắng và ý định "phối hợp hành động" của các nhà lãnh đạo khối Vác xa-va là không cần thiết vì Đảng Cộng sản Tiệp Khắc "được đại đa số quần chúng ủng hộ và các cải cách đang diễn ra là vì lợi ích của Chủ nghĩa xã hội". Kết quả là thông cáo chung vẫn đưa ra những lời hết sức nhẹ nhàng là “tăng cường quan hệ giữa các nước Xã hội chủ nghĩa trên cơ sở hữu nghị, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”.

    Trong khi đó, tại Tiệp Khắc không khí vẫn sôi sùng sục Người ta ăn mừng chiến thắng của các cầu thủ đội tuyển khúc côn cầu trước đội tuyển Liên Xô trong trận chung kết của Đại hội thể thao Ô-lim-pic mùa đông tưng bừng một cách cố ý. Hàng ngàn người đổ ra đường; các nhân vật bất đồng chính kiến ngày xưa nay bỗng dưng xuất hiện như nấm, họ diễn thuyết ở mọi nơi trong thành phố, những kẻ bị xử "oan” trong các vụ việc trước đây công khai phát biểu chống Chủ nghĩa xã hội...

    Đúng vào lúc đang tưng bừng như thế thì cuối tháng Tư có chuyến viếng thăm đến Tiệp Khắc của nguyên soái Liên Xô Ia-ku-bốp-xki, Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang khối Vác-xa-va; đây là chuyến thăm thứ 2 của nguyên soái kể từ đầu năm. Sứ mạng của nguyên soái Ia-ku-bốp-xki là thế nào thì không mấy ai rõ, thế nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Tiệp Khắc lại đưa ra lời giải thích rất hàm hồ làm mọi người hiểu rằng, nguyên soái đề nghị sớm tổ chức cuộc tập trận của liên quân trên lãnh thổ Tiệp Khắc Tin này làm u ám cả Pra-ha và cứ như cơn ác mộng bao trùm Tiệp Khắc: "Cho họ vào rồi họ có đi không?".

    Đêm 3 tháng 5, trong màn đêm của không khí hội hè, một chiếc máy bay cất cánh từ sân bay ở ngoại ô Pra-ha nhằm hướng Mát-xcơ-va. Trên máy bay là Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Tiệp Khắc Đúp-xếch, Chủ tịch Quốc hội Sma-cốp-xki, Thủ tướng Chec-nich và Bí thư trung ương Bi-lác. Họ khẩn cấp được mời đến gặp ban lãnh đạo Liên Xô. Không ai biết nội dung cuộc hội đàm kéo dài liên tục 36 tiếng đồng hồ, song lời lẽ trong thông cáo chung thì nhạt nhẽo và rất khách sáo. Thái độ úp mở của Đúp-xếch trong cuộc gặp gỡ báo giới sau hội đàm làm người ta hồ nghi có một điều gì đấy không bình thường sắp xảy ra.

    Ngày 7 tháng 5, Hãng Thông tấn Liên Xô TASS ra tuyên bố phủ nhận tin của báo chí Tiệp Khắc về sự dính líu của cơ quan an ninh Liên Xô đến cái chết của Man-ich, một trong những phần tử "cải cách", coi đó là bịa đặt và gây chiến. Ngày 8 tháng 5, đại sứ Ba Lan tại Pra-ha đến Bộ Ngoại giao Tiệp Khắc kháng nghị việc báo chí, đài phát thanh và truyền hình Tiệp Khắc đưa tin không thiện chí về tình hình nội bộ Ba Lan. Đêm 8 tháng 5, lãnh đạo các nước khối Vác-xa-va, trừ Đúp-xếch, được mời đến Mát-xcơ-va hội đàm bí mật; trọng tâm là vấn đề Tiệp Khắc. Ngày hôm sau, 9 tháng 5, kỷ niệm 23 năm ngày Liên Xô giải phóng Pra-ha khỏi quân Đức phát xít, có tin một số đơn vị quân đội Liên Xô đang hành quân theo hướng biên giới Tiệp Khắc qua lãnh thổ Ba Lan. Cả Pra-ha căng lên như một dây đàn trước những lời đồn đoán rằng sắp có một cuộc can thiệp vũ trang. Thế nhưng, ngày lễ qua đi mà tình hình vẫn yên ổn.

  8. #28
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    2
    Sau này các nhà phân tích đưa ra hai giả thuyết liên quan đến sự kiện này: Có thể đây chỉ là hành động của ban lãnh đạo Liên Xô nhằm nhắc nhở phía Tiệp Khắc; cũng có thể đã có quyết định giải quyết vấn đề bằng sức mạnh quân sự trong hai ngày 9 và 10 tháng 5, song phải hoãn lại vì chưa có được sự thống nhất ý kiến; duyên cớ chính trị để can thiệp vũ trang lại chưa đầy đủ...

    Ngày 17 tháng 5, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.Cô-xư-ghin đến thăm Tiệp Khắc. Ông gặp gỡ các nhà lãnh đạo Tiệp Khắc, đi tắm nắng ở khu điều dưỡng Ka-rô-vich. Đây được xem như nỗ lực cuối cùng của Liên Xô giải quyết vấn đề bằng con đường hoà bình. Thế nhưng, một chuyến thăm khác lại không báo hiệu điềm lành, đó là chuyến đi của Thứ trưởng Quốc phòng, nguyên soái Ku-li-cốp, với kết quả là thoả thuận về việc tiến hành một cuộc diễn tập quân sự quy mô lớn của quân đội khối Vác xa-va trên lãnh thổ hai nước Ba Lan và Tiệp Khắc.

    Ngày 18 tháng 6, cuộc diễn tập bắt đầu với sự tham gia của 10.000 binh sĩ Liên Xô, bao gồm đại diện của tất cả các quân binh chủng quan trọng. Trước đó, một sư đoàn xe tăng Liên Xô đã bí mật hành quân qua lãnh thổ Ba Lan và tiến sâu 40km vào lãnh thổ Tiệp Khắc. Ngày 3 tháng 7, cuộc diễn tập kết thúc sau khi đã đạt được "các mục tiêu dự kiến". Tuy vậy, rất nhiều binh lính Liên Xô vẫn đóng lại trên đất Tiệp Khắc và theo xác nhận của cơ quan tình báo Tiệp Khắc thì việc nghe trộm các cuộc nói chuyện của lãnh đạo cấp cao Tiệp Khắc diễn ra ráo riết, sơ đồ về các mục tiêu quan trọng ở Pra-ha cũng được tình báo Liên Xô vẽ xong. Mối đe doạ đối với "mùa xuân Pra-ha" bắt đầu hiện hình.

    Thế nhưng các nhà cải cách Tiệp Khắc có vẻ như không muốn dừng lại. Ngày 27 tháng 6 xuất hiện kiến nghị có chữ ký của 70 nhà hoạt động xã hội, được gọi là "Tuyên ngôn 2000 chữ". Bản kiến nghị bày tỏ sự lo lắng vì "quá nhiều phần tử bảo thủ ủng hộ chế độ chuyên chế cực quyền còn nằm trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản và nhà nước Tiệp Khắc, làm tiến trình phục hưng bị đe doạ"; kêu gọi nhân dân "ủng hộ một Đảng Cộng sản tốt hơn và trung thực hơn, ủng hộ và bảo vệ tiến trình phục hưng dân chủ và đứng dậy cầm vũ khí". "Tuyên ngôn" lập tức gây phản ứng gay gắt của Crem-li. Brê-giơ-nép gọi điện thoại cho Đúp-xếch, chính thức phản đối tuyên ngôn phản cách mạng này và yêu cầu Đảng Cộng sản Tiệp Khắc làm rõ lập trường của họ về vấn đề này. Ngày 8 tháng 7, Brê-giơ-nep gửi thư yêu cầu Đúp-xếch tham gia Hội nghị những người đứng đầu các nước khối Vác-xa-va để thảo luận về "mối đe doạ với Chủ nghĩa xã hội ở Tiệp Khắc mà Tuyên ngôn 2000 chữ gây ra". Được sự ủng hộ của Đoàn Chủ tịch Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, Đúp-xếch đã khước từ lời mời và đề nghị phải tiến hành hội đàm song phương trước, sau đó mới tiến hành hội nghị cấp cao.

    Ngày 15 tháng 7, Hội nghị nguyên thủ khối Vác- xa-va vẫn diễn ra tại thủ đô Ba Lan mà không có đoàn Tiệp Khắc tham gia. Hội nghị thông qua tuyên bố với lời lẽ cứng rắn: "Chúng ta không thể đồng ý để các thế lực thù địch lôi kéo các bạn của chúng ta xa rời con đường Xã hội chủ nghĩa; đây không còn là công việc riêng của các bạn Tiệp Khắc mà là công việc chung của các nước khối Vác- xa-va". Song Pra-ha vẫn tỏ ra ương bướng, không chịu khuất phục. Thay mặt Trung ương Đảng, Đúp-xếch viết thư trả lời "Tuyên bố Vác-xa-va" là Đảng Cộng sản Tiệp Khắc sẽ kiên trì đường lối của mình và rằng ở Tiệp Khắc không có tình hình phản cách mạng như Tuyên bố đề cập.

    Tuy vậy, phía Liên Xô vẫn chưa hết kiên nhẫn. Liên tiếp trong 4 ngày, từ 29 tháng 7 đến 1 tháng 8, tại một thị trấn nhỏ của Tiệp Khắc nằm gần biên giới ba nước Xô- Tiệp-Hung, đã diễn ra các cuộc hội đàm căng thẳng giữa Brê-giơ-nép và toàn thể đoàn Chủ tịch Đảng Cộng sản Tiệp Khắc. Cứ sáng sớm, một đoàn tàu hoả đặc biệt lại chở đoàn Liên Xô đến hội nghị, chiều tối lại chở về. Lập trường hai bên đã ở thế đối đầu, hội nghị bế tắc rồi lại khai thông, suýt tan vỡ rồi lại tái nhóm họp. Brê-giơ-nép lên án Tiệp Khắc phản bội sự nghiệp của Chủ nghĩa cộng sản, phục vụ cho lợi ích của Chủ nghĩa đế quốc; cảnh cáo "tự do báo chí" đang đe doạ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, gây nguy cơ xa rời khối Vác-xa-va và khối SEV... Còn Đúp-xếch một mực nhấn mạnh mục tiêu duy nhất của các cải cách ở Tiệp Khắc là xây dựng "Chủ nghĩa xã hội nhân đạo". Cuối cùng, đến ngày 1 tháng 8 hai bên vẫn ra được thông cáo chung với nội dung rất tẻ nhạt và chung chung như "chống đế quốc, chống xét lại, đoàn kết, trung thực".

    Tối hôm đó, trở về Pra-ha, vây quanh bởi các uỷ viên ĐCT mỏi mệt cau có, giọng khản đặc, Đúp-xếch nói với các phóng viên rằng ông ta mang về tin tức tốt lành, mọi người Tiệp có thể ngủ yên. Quả thật, đối với ban lãnh đạo Tiệp Khắc, dường như đây là một thắng lợi cho dù tạm thời. Báo chí phương Tây cũng ầm ĩ lên tiếng ca ngợi thắng lợi của cải cách ở Tiệp Khắc. Người Tiệp đổ ra nước ngoài nghỉ phép, kể cả phó Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao. Bản thân Đúp-xếch cũng hiểu rằng đây chỉ là bước đệm trước khi giông tố xảy ra, song ông ta đã sai lầm về thời gian. Đúp-xếch nói với ban lãnh đạo và bạn bè: "Chúng ta đã giành được 3 đến 6 tháng để xả hơi", nhưng trên thực tế Liên Xô chỉ cho ông ta có 3 tuần.

    Ngày 11 tháng 8, Quân đội Liên Xô bắt đầu cuộc diễn tập mới gần phía Đông, Đông Nam và phía Bắc Tiệp Khắc. Ngày 14 tháng 8 các đơn vị Liên Xô đóng tại Cộng hoà dân chủ Đức báo động khẩn cấp. Ngày 16 tháng 8 nguyên soái Liên Xô Ku-li-cốp bay đến Đông Béc-lin và sau đó là Vác-xa-va thị sát tình hình.

    Trước đó, trong hai ngày 9 và 10 tháng 8. Tổng thống Nam Tư Ti-tô đến thăm Tiệp Khắc. Vị Tổng thống đã từng dám đối đầu với Mát-xcơ-va và được thủ đô Pra-ha đón tiếp như một vị anh hùng này đã khuyến khích ban lãnh đạo Tiệp Khắc tiếp tục cải cách, dựa nhiều hơn vào Nam Tư cùng các nước Không liên kết và rút khỏi khối Vác xa-va. Vài ngày sau, Pra-ha lại được qua một đêm đầy vui vẻ khi lãnh tụ Ru-ma-ni N.Xê-au-xéc-xku, người thường không chịu lép vế trước ông anh cả Liên Xô, đến thăm và cũng bày tỏ sự đồng tình ủng hộ họ. Nhưng đây là đêm vui vẻ cuối cùng.

    Ngày 17 tháng 8 nhà lãnh đạo Hung-ga-ri I.Ka-đa, một người tốt bụng, khẩn cấp mời Đúp-xếch sang thành phố biên giới Kmac-nô hội kiến. Người ta cho rằng động thái này cũng nằm trong kịch bản của Liên Xô nhằm một lần nữa cảnh cáo Đúp-xếch trước khi có hành động dứt khoát. Ka-da trách cứ Đúp-xếch và truyền đạt yêu cầu của Brê-giơ-nép là phải cách chức những người theo phái tự do trong ban lãnh đạo Tiệp Khắc. Ka-đa cũng tiết lộ một cách bóng gió về một cuộc can thiệp quân sự đang được khẩn trương chuẩn bị. Đúp-xếch vẫn không tin; Ka-đa thất vọng nói trước lúc hai người chia tay: "Lẽ nào đồng chí lại không biết đối thủ là người thế nào?".

  9. #29
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    236
    Đến lúc này thì Đúp-xếch thực sự cảm thấy nguy cơ đã đến gần. Ngay chiều hôm ấy, sau khi từ Kmac-nô trở về, ông ta triệu tập Hội nghị Trung ương. Song đã quá muộn. Trong đêm 17 tháng 8, trong khi Bộ chính trị Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đang họp để thông qua chương trình cho Hội nghị Trung ương sẽ bắt đầu ngày hôm sau thì chiếc máy bay đầu tiên chở các chuyên gia "ổn định trật tự" của Liên Xô đã hạ cánh xuống sân bay Pra-ha.

    Ngày 18 tháng 8, Brê-giơ-nép lần lượt gọi điện cho các nhà lãnh đạo Cộng hoà dân chủ Đức, Ba Lan, Hung- ga-ri và Bun-ga-ri là Un-brich, O-mun-ca, Ka-đa và Gip-cốp thông báo báo lãnh đạo Liên Xô đã trả lời cho quân đội tiến vào Tiệp Khắc. Ngày 19 tháng 8, Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô họp khẩn cấp và bí mật, phê chuẩn hành động quân sự này. Cùng ngày Thủ tướng Cô-xư-gin thông báo cho Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn rằng Liên Xô sẵn sàng gặp Mỹ ở cấp cao nhất để thảo luận với Mỹ vấn đề Việt Nam và giải trừ quân bị; đây thực ra chỉ là biện pháp "gây nhiễu" của Crem-li. Ngày 20 tháng 8 năm 1968, Liên Xô bắt đầu triển khai một hành động quân sự được xem là thành công nhất trong lịch sử đương đại.

    Chiều đêm đó, sân bay Lu-ki ở Pra-ha nhận được tín hiệu xin hạ cánh khẩn cấp của 2 máy bay dân dụng Liên Xô đang trên đường tới Nam Tư vì lý do trục trặc kỹ thuật. Theo thông lệ quốc tế, vì Lu-ki là sân bay quốc tế nên không thể từ chối những yêu cầu tương tự. Điều kỳ lạ là tất cả hành khách của chuyến bay đều mặc đồng phục màu xanh, nhưng cảnh sát sân bay bỏ qua hiện tượng này vì cho rằng đây là những vận động viên đi thi đấu quốc tế.

    Mười một giờ đêm, không có bất cứ thông báo nào, liên quân Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Ba Lan, Hung-ga-ri và Bun-ga-ri bất thình ***h tràn vào Tiệp Khắc từ 4 hướng Đông, Nam, Bắc và Đông Bắc, dẫn đầu là sư đoàn cơ giới tinh nhuệ của Liên Xô đã ém sẵn từ đợt diễn tập trước đó. Đồng thời, các "hành khách" trên 2 máy bay bị "trục trặc kỹ thuật" - họ chính là các chiến sĩ đặc nhiệm Liên Xô - lấy vũ khí để sẵn trong các va-li hành lý và nhanh chóng đánh chiếm sân bay. Hai chiếc máy bay "hỏng hóc" bắt đầu hoạt động như những ra-đa. Dưới sự dẫn đường của hai bộ ra-đa này, các máy bay vận tải cỡ lớn AN-2 nhanh chóng hạ cánh cùng xe tăng, xe bọc thép chở quân, đại pháo, xe tải và các nhu yếu phẩm. Những chiếc xe hơi gọn nhẹ chở các nhân viên sứ quán (lúc này đại sứ Liên Xô ở Tiệp Khắc là K.Trec-nen-cô, sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô) dẫn đường cho các đoàn xe bọc thép từ sân bay tiến thẳng đến các mục tiêu quan trọng trong thành phố Pra-ha: dinh Tổng thống, toà nhà Trung ương Đảng và Chính phủ, bưu điện, nhà ga xe lửa, các công trình quân sự quan trọng, cây cầu bắc qua sông... Chưa đầy 24 giờ, Tư lệnh chiến dịch báo cáo về Mát-xcơ-va là các cánh quân với tổng cộng lên đến 500.000 binh sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ, toàn bộ lãnh thổ Tiệp Khác bị đánh chiếm, hầu hết các nhà lãnh đạo "cải cách" chủ chốt bị bắt giữ.

    Quân đội các nước Vác-xa-va còn đóng lại ở Tiệp Khắc lại một thời gian nữa, cho đến khi ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc do G.Hu-xắc đứng đầu ổn định được tình hình.

    Đêm 20 tháng 8, đúng lúc các binh đoàn xe tăng của khối Vác-xa-va đang tiến vào Tiệp Khắc, đại sứ Liên Xô tại Oa-sinh-tơn xin gặp Tổng thống Mỹ L. Giôn-xơn và thông báo việc Liên Xô đưa quân vào Tiệp Khắc. Đại sứ nhấn mạnh đây là công việc nội bộ của phe Xã hội chủ nghĩa, không là mối đe doạ đối với khối NATO. Các nước Anh, Pháp, Trung Quốc và một số quốc gia khác cũng được thông báo về sự kiện này.

    Điều thú vị là tình báo NATO không hề hay biết gì về việc điều động quân quy mô lớn cũng như ý đồ đưa quân vào Tiệp Khắc của Liên Xô và đồng minh. Đến đầu tháng 8, khi mọi việc trở nên rõ ràng thì họ lại phán đoán rằng đó chẳng qua chỉ là hành động hù doạ và gây sức ép đối với Đúp-xếch. Ban lãnh đạo Liên Xô đã nhìn thấy trước sai lầm này của NATO; cũng như họ đã nhìn thấy trước phản ứng của Mỹ và NATO khi sự việc đã xảy ra; cùng lắm là "lấy làm tiếc và lên án".

    …Tổng thống Giôn-xơn triệu tập Hội đồng an ninh Quốc gia họp suốt đêm. Điều mà Mỹ quan tâm lúc này không còn là Tiệp Khắc nữa, mà liệu Liên Xô có nhân cơ hội này tiến quân tiếp về phía Tây hay không. Ngày hôm sau, Giôn-xơn tuyên bố: "Thật đáng tiếc là Liên Xô và đồng minh đã tiến hành xâm lược một nước không có khả năng tự vệ, đàn áp nhân quyền, và như vậy đã vi phạm Hiến chương Liên Hợp quốc. Nhân danh nhân loại mong muốn hoà bình, tôi yêu cầu Liên Xô và các nước khối Vác-xa-va rút toàn bộ quân đội ra khỏi Tiệp Khắc". Tiếp đó, trong buổi họp báo sáng 22 tháng 8, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ nói: "Hành động này làm tổn hại đến quan hệ Đông-Tây, song chúng tôi chưa xem xét vấn đề trả đũa hay trừng phạt.”

    Người Nga đã đúng trong các phán đoán của họ. Nước Mỹ đang để cho 60 vạn tinh binh của họ sa lầy ở Việt Nam, không còn bụng dạ và sức lực nào để đối địch với 50 vạn quân khối Vác-xa-va sung sức và được trang bị hiện đại. Sau này nhiều chuyên gia quân sự cho rằng để đánh chiếm Tiệp Khắc, thực ra không cần đến số quân đông và mạnh đến như vậy. Chẳng qua là Liên Xô không để cho người Tiệp Khắc có ý nghĩ dám kháng cự, đồng thời còn cho phương Tây hiểu rằng nếu họ phát động chiến tranh ở châu Âu thì họ sẽ không có cơ hội chiến thắng. Hơn nữa, lúc này Oa-sinh-tơn lại đang say sưa với liều thuốc mê "hội đàm cấp cao nhất" mà Thủ tướng Cô-xư-ghin mồi cho họ trước đó. Họ đang muốn sự hoà dịu trong quan hệ Đông-Tây, vì thế mà họ muốn quên nhanh đi sự kiện Tiệp Khắc như một đoạn nhạc không vui trong một màn diễn lớn.

    Về phía người Tiệp Khắc, thêm một lần nữa họ hiểu "tình hữu nghị" với phương Tây là thế nào đối với họ. Đúng 30 năm trước đó, các ông bạn lớn ở phương Tây cũng đã bỏ mặc họ cho nước Đức quốc xã giày xéo sau Hiệp định Mu-nich. Lúc bấy giờ, Tổng thống Be-nac của Tiệp Khắc đã nói một cách đau khổ với nội các của mình: "Các nước lớn giờ đây không còn coi các nước nhỏ là thành viên bình đẳng. Họ đã phản bội chúng ta. Giờ đây chúng ta hãy tự quyết định lấy vận mệnh của mình."

  10. #30
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    DIOMID ĐIỆP VIÊN HUYỀN THOẠI


    TUYỂN MỘ

    Lần đầu tiên Cơ quan tình báo đối ngoại của Liên Xô để ý đến Blake là tại Bắc Triều Tiên, sau khi ông bị phía Bắc Triều Tiên bắt giữ ở Seoul vào tháng 6-950. Vasily Dozhdalev, một người có khả năng nói thông thạo giá về Blake. Dựa trên bản đánh giá này, Nikolai Borisovich Rodin, biệt danh Korovin, liền được tiếp tục cử sang Triều Tiên và đạt được một thoả thuận với Blake về sự cộng tác trong tương lai cũng như những phương cách duy trì sự tiếp xúc giữa Blake với Tình báo Liên Xô. Các tài liệu mà Blake chuyển giao cho KGB đều dưới mật danh Diomid. Mùa xuân năm 1953, Blake là một trong số những tù binh người Anh được Bình Nhưỡng trao trả cho phía Anh. Sau khi quay trở về Luân Đôn, Blake đã có một kỳ nghỉ hè tại Hà Lan, nơi ông gặp gỡ với Rodin. Tại đó, hai người đã thoả thuận về những cuộc gặp gỡ tiếp theo ở Anh.

    Trong khi đó, Tình báo Liên Xô tại Mát-xcơ-va phải lựa chọn người sẽ chịu trách nhiệm phụ trách Blake. Xét đến tầm quan trọng của điệp vụ này, người đó phải là không bị Cơ quan Phản gián Anh biết mặt. Anh ta cũng phải có những kiến thức cơ bản để có thể thực hiện công việc dưới vỏ bọc công khai ở Sứ quán Liên Xô. Đồng thời, người này phải có kinh nghiệm hoạt động chiến địch, nắm vững các kỹ năng giám sát và chống giám sát. Cuối cùng, người được chọn là Sergel Aleksandrovich Kondrashev, một sĩ quan tình báo trẻ tuổi. Để chuẩn bị cho sứ mệnh của mình ở Luân Đôn, Kondrashev phải đọc kỹ các hồ sơ của Diomid, nghiên cứu tỉ mỉ bản đồ thành phố Luân Đôn, xem xét các báo cáo giám sát tại Anh. Công việc của Kondrashev trong việc giám sát Sứ quán Mỹ tại Mát-xcơ-va rất có ích trong trường hợp này, bởi vì cũng như người Mỹ, Kondrashev buộc phải tìm mọi cách để thoát khỏi sự giám sát của đối phương.

    Trong cuộc gặp gỡ ở Hà Lan giữa Rodin và Blake, KGB biết rằng Blake sẽ được đưa về làm việc ở Ban Y trong Cục tình báo Anh, theo lời của Blake, là nơi "có thể tiếp cận được với những chiến dịch mật mang tính kỹ thuật chống lại người Nga". Mặc dù dự án xây dựng đường hầm Berlin - được tình báo đặt mật danh là chiến dịch Gold - nhằm lắp đặt các thiết bị nghe lén vào đường cáp thông tin của Liên Xô trên phần lãnh thổ Đông Berlin do Liên Xô kiểm soát của CIA được bảo mật vô cùng kỹ lưỡng nhưng nó đã không thể thoát được cặp mắt của Diomid.


    ĐIỆP VIÊN KGB THAM DỰ CUỘC HỌP CỦA CIA

    Tháng 10 năm 1953, Kondrashev tới Luân Đôn dưới vỏ bọc Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Liên Xô phụ trách quan hệ văn hoá. Kondrashev làm đủ mọi thứ việc linh tinh, từ sắp xếp lịch biểu diễn cho danh cầm violon nổi tiếng Davitd Oistrakh cho tới việc mua vé cho những nhân vật VIP tới dự các hoạt động thể thao. Kondrashev cũng hoạt động như một nhân viên KGB địa bàn tạm thời cho đến khi Sergel Leonidovich Tikhvinsky tới thay thế cho Nikolai Borisovich Rodin. Nhưng trách nhiệm chính của Kondrashev là chiến dịch liên quan đến Diomid: chỉ có duy nhất Kondrashev biết tên thật cũng như vị trí công tác của nguồn tin quý báu này.

    Cuộc gặp đầu tiên của Kondrashev với Diomid diễn ra vào cuối tháng 10 năm 1953. Đây là cuộc gặp gỡ để hai người làm quen với nhau, thoả thuận về những cuộc gặp tiếp theo cũng như bàn cách đáp ứng nhu cầu của Blake muốn có một chiếc máy ảnh để chụp lại những tài liệu mật qua tay ông. Trong cuộc gặp này, Blake đã chuyển cho Kondrashev danh sách sơ bộ những chiến dịch cài đặt máy nghe trộm mà SIS đã tiến hành chống lại những người Xô-viết Trong số này, có cả chiến dịch Silver, cũng là một đường hầm mà SIS đã đào ở Viên, thủ đô nước Áo. Nhưng Blake chưa nắm được chi tiết nào về đường hầm nghe lén sắp được đào ở Berlin.

    Việc chỉ đạo hoạt động của Blake ở Luân Đôn không phải là việc dễ dàng. Trung tâm tình báo Mát-xcơ-va kiểm soát mọi bước của chiến dịch, không cho phép nhân viên KGB địa bàn có những sáng kiến hoặc hành động có thể dẫn tới việc làm chệch hướng quá trình đã được hoạch định từ trước. Một lần, Blake không xuất hiện tại cuộc gặp gỡ thường kỳ và cũng không có mặt ở buổi gặp dự bị đã được thoả thuận trước. Khi sự vụ này được báo về Mát-xcơ-va. Trung tâm chỉ thị là hãy chờ cho đến buổi gặp thường kỳ tiếp theo. Khi Blake vẫn không xuất hiện ở buổi gặp này, Kondrashev liền đề nghị cho phép được gặp Blake trên đường Blake đi tới cơ quan. Mát-xcơ-va từ chối và chỉ thị tiếp tục chờ cho tới lần gặp gỡ sau đó. Lần này, Blake hẹn gặp tại một rạp chiếu phim ở Luân Đôn và giải thích cho Kondrashev lý do ông vắng mặt trong mấy buổi gặp trước. Hoá ra Blake lo ngại về việc Petrov, một điệp viên của KGB khi đó vừa mới đào thoát sang Australia, là người biết về mối liên hệ giữa Blake với Tình báo Xô-viết. Blake muốn biết chắc chắn rằng SIS không tiến hành các hoạt động giám sát mình. Ngoại trừ mỗi lần trục trặc này, còn lại Kondrashev đã thường xuyên gặp gỡ với Blake mà không có một sơ sẩy gì cho tới khi Blake rời Luân Đôn vào năm 1955.

    Trong những làn đi gặp Blake, Kondrashev luôn tìm được một lý do hợp lý nào đấy để rời khỏi sứ quán nhằm đánh lừa được sự giám sát của SIS. Chẳng hạn để chuẩn bị cho một cuộc gặp quan trọng diễn ra vào ngày 18 tháng 1 năm 1954, là người phụ trách các vấn đề văn hoá ở sứ quán, với lý do tiễn một đoàn vận động viên cờ vua của Liên Xô. Kondrashev hộ tống đoàn vận động viên ra sân bay. Thời gian còn lại trong ngày, Kondrashev đi mua sắm, xem phim. Trong suốt quá trình này, Kondrashev hai lần dùng một nhân viên KGB địa bàn khác kiểm tra xem có sự theo dõi hay không ở những địa điểm đã định trước trên lộ trình của mình. Cuộc gặp với Blake diễn ra ở tầng trên của một chiếc xe buýt. Sau khi nhận được những tài liệu của Blake chuyển cho, Kondrashev còn kiểm tra xem có đuôi bám theo không ở mấy trạm dừng tiếp theo nữa trước khi được một nhân viên KGB đón lên một chiếc xe đỗ ở gần đó.

    Blake đã chuyển cho Kondrashev một bản sao chính xác biên bản cuộc họp diễn ra từ ngày 15 đến 18 tháng 12 năm 1953 ở Luân Đôn giữa các đại diện của CIA và SIS bàn về dự án tuyệt mật đường hầm nghe lén ở Berlin, được tình báo Mỹ đặt mật danh là "Gold". Blake nằm trong danh sách những người đại diện cho SIS tham gia cuộc họp này. Bản mã hoá tài liệu về cuộc họp ngay lập tức được chuyển về Mát-xcơ-va, nhưng mãi đến ngày 12 tháng 2 năm 1954, toàn bộ tài liệu mới được đưa ra để xem xét. Đích thân Kondrashev soạn và chụp lại bản báo cáo rồi gửi về Mát-xcơ-va theo đường túi thư ngoại giao dưới dạng phim âm bản. Nhưng đến những bản sao biên bản các cuộc họp sau đó, Blake chuyển cho, do khá rõ nét nên Kondrashev chuyển thẳng chúng về Mát-xcơ-va mà không cần chụp lại nữa. Dưới các bản báo cáo gửi về đều ký mật danh của Kondrashev là Rostov.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •