Trang 5 của 5 Đầu tiênĐầu tiên ... 345
Kết quả 41 đến 47 của 47
  1. #41
    Ngày tham gia
    Jan 2016
    Bài viết
    6
    Tự sát hay bị giết, cái chết của Henry gây ra một phản ứng dây chuyền.

    Bộ trưởng Cavaignac và Tổng tham mưu trưởng là tướng Boisdeftre xin từ chức. Estethazy trốn sang Anh. Chính phủ chấp nhận biện pháp xử lại vụ án, khiến cho hai Bộ trưởng Chiến tranh tiếp theo lần lượt xin từ chức: vụ án trao cho toà phá án. Ngày 3 tháng 6 năm 1899, trong không khí náo nhiệt, toà phá án huỷ bản án Dreyfus. Đại uý được đưa từ Đảo Quỷ trở về và đưa ra Hội đồng chiến tranh mới tại Rennes. Phiên toà diễn ra từ ngày 7 tháng 8 đến ngày 9 tháng 9 và bản án mới là can phạm có tội nhưng có tình tiết giảm tội. Dreyfus bị tuyên mười năm tù giam. Bản án này gây phẫn nộ và không lô gích, bởi vì nếu anh có tội thì không có tình tiết nào giảm tội được cho anh. Tổng thống Loubet ân xá cho Dreyfus chấm dứt điều vô lý đó.

    Vào lúc khác quân đội tất nhiên sẽ phản ứng rất mạnh. Nhưng Bộ trưởng Chiến tranh vừa mới được trao cho tướng Gallifet. Vị quý tộc cao ngạo nhưng sáng suốt này, quân nhân anh dũng này có uy tín và uy lực đến mức quân đội không nhúc nhích trước bản án. Quân đội chấp nhận thông báo của Bộ trưởng: "Việc rắc rối đã kết thúc". Quân đội biết rằng bộ sẽ bảo vệ mình. Ông đã làm việc đó bằng bức thư gửi lên Thủ tướng Waldeck Rousseau:

    "Tôi cho rằng biện pháp thương xót cao cả này sẽ không được mọi người thông hiểu nếu về nguyện tắc thủ tướng không kiên quyết miễn tố cho các tướng tá có liên quan đến vụ này. Cần mở cánh cửa lãng quên cho họ".

    Phải bảy năm sau Dreyfus mới được Toà án phục quyền và phục chức trong quân đội với hàm thiếu tá. Picquart dũng cảm đã bị bỏ tù gần một năm, được đề bạt cấp tướng và trở thành Bộ trưởng Chiến tranh trong Chính phủ Clémenceau.

    Zola mất năm 1902 được an táng trong đền Panthéon. Ngày hôm đó Dreyfus khi dự đám tang đã bị một tên cuồng tín làm bị thương. Năm 1907, André Dreyfus xin và được chấp nhận về hưu non. Khi nổ ra thế chiến I, ông lại nhập ngũ trong quân đội đã từng làm khổ ông một cách vô lý. Ông được thưởng bắc đẩu bội tinh khi chiến tranh kết thúc. Con trai ông là Pierre nhiều lần được khen thưởng.

    Khi sắp chết, Schwartzkoppen, cựu tuỳ viên quân sự Đức tại Paris, thề bồi rằng chưa hề bao giờ có quan hệ với Dreyfus.


    VÀI DIỄN BIẾN HUYỀN HOẶC HAY BI THẢM CỦA VỤ ÁN


    Chuyện kể vắn tắt của tôi không thể phản ánh được không khí cũng như diễn biến huyền hoặc hay bi thảm của vụ án. Henry giở những thủ đoạn bất lương nhất đôi khi kỳ cục nhất để bảo vệ Estethazy, hoặc để khẳng định tội của Dreyfus. Điệp viên Lajoux của hắn muốn báo cáo cho tướng Boisdeffre rằng Richard Cuers, trưởng lưới tình báo Đức tại Bungari, chắc chắn rằng Dreyfus vô tội, đã phải trốn sang Braxin (năm 1890. Cuers là trưởng lưới tình báo Đức tại Bỉ đã tiếp xúc với Lajoux, được Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp đồng ý cho làm việc với cơ quan tình báo Đức, đã phát hiện bốn điệp viên của Đức cho Phòng Nhì... Sau ba năm làm gián điệp đôi. Phòng Nhì không thể làm vừa lòng Cơ quan tình báo Đức nên quyết định loại bằng cách kết tội anh làm cho địch và thải anh. Lajoux phản đối. Phòng Nhì chủ trương "tiêu diệt" Lajoux bằng cách mua chuộc bà vợ anh. Bà này bỏ chồng nhưng không chịu tố người chồng cũ là phản bội. Phòng Nhì đưa anh vào nhà thương điên. Lajoux phải trốn sang Thuỵ Sĩ. Phòng Nhì tìm thấy và đề nghị cho tiền để anh sang Nam Mỹ với điều kiện không được quay lại Pháp. Lajoux chấp nhận và năm 1897 xuất cảnh sang Braxin).

    Điệp viên Guenée của Henry đã tạo ra ảnh chụp của Schwsrtzkoppen chụp chung với Dreyfus và với Picquart.

    Hai cái chết có lẽ có quan hệ gián tiếp đến vụ án.

    Cái chết thứ nhất là thượng sĩ Lorimier, cấp dưới của Henry, vào tháng tư năm 1899 người ta thấy hắn treo cổ.

    Để làm giả, Henry dùng Leeman tức Lemercier Picard, rất khéo tay. Trong vụ xét xử Zola, ông này hẹn nhà báo để trao cho những phát hiện quan trọng, nhưng ông đã thất hẹn, người ta thấy ông bị bóp chết trong khách sạn Manche.


    SỰ THẬT LÀ THẾ NÀO?

    Ngày nay, ai cũng tin rằng Dreyfus vô tội. Lạ thay chúng ta chỉ có mỗi một điều chắc chắn tuyệt đối đó trong một vụ án biết bao nhiêu sử gia đã nghiên cứu, viết hàng trăm cuốn sách... Chúng tôi có một điều chắc chắn: Estethazy từ ngày 10 tháng 7 năm 1894 đã cung cấp cho tuỳ viên quân sự Đức nhiều tin tức với sự đồng ý của Phòng Nhì. Hắn là gián điệp đôi: liệu hắn có trung thành hay là cung cấp cho Đức nhiều hơn những gì Phòng Nhì cho phép ? Tới đây chúng ta bắt đầu không biết.

    Một khả năng: Esterhazy là người đã viết "tài liệu”. Hắn đã khai trước Tổng lãnh sự Pháp tại Luân Đôn, Schwsrtzkoppen đã khẳng định như thế. Nhưng Schwsrtzkoppen có thể nhầm, và Esterhazy có thể nói dối.

    Trong cuốn Giản yếu của vụ án Dreyfus, Dutrait Crozon đưa tin rằng Estethazy đã thú nhận vì hắn bị "ủy ban Do Thái" mua chuộc. Tôi không tin rằng có cái ủy ban đó, nhưng Ngân hàng Do Thái đã bỏ nhiều tiền để chứng minh Dreyfus vô tội, và Esterhazy là người mua chuộc được.

    Sau đó, ta biết rằng căn cứ kỹ thuật của kế hoạch đầu độc có thể làm bằng chứng cho vụ án rất lớn: năm 1894, cựu sinh viên đại học Bách khoa Ste-Claire Deville mới chế tạo đại bác tốt hơn loại cũ là bắn nhanh và chính xác hơn, từ khẩu mẫu này, ông cùng hai đồng đường khác là Rimailho và Deport, chế tạo ra khẩu đại bác 75mm. Việc chế tạo thứ vũ khí này được giữ bí mật cao độ. Người Đức cũng nghiên cứu chế tạo loại súng lớn này nhưng không được. Đại bác 77mm của họ năm 1914 vẫn là loại đại bác cứng nhắc. Ưu thế của pháo binh Pháp trong thế chiến I là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi. Liệu có thể giả định rằng thất bại đáng ngạc nhiên của Đức xuất phát từ tài liệu giả này khiến cho họ hướng theo hướng sai không? Và tài liệu giả này có thể là "tài liệu về cái hãm thuỷ lực của đại bác 120mm nói trong "tài liệu” không?

  2. #42
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    179
    Để kết thúc, có một điều cần chú ý: tất cả các tham mưu trưởng và Bộ trưởng Bộ Chiến tranh nối tiếp nhau đều ngoan cố không thừa nhận Dreyfus vô tội, tính vô tội này ngày càng rõ ràng hơn. Tháng 9 năm 1898 khi có lệnh xét lại vụ án, hai Bộ trưởng Chiến tranh Zurlinden và Chanoine trước khi được cử làm bộ trưởng đều bênh vực Dreyfus, nhưng chỉ vài ngày lên làm Bộ trưởng liền từ chức ngay, với lý do là họ đều tin rằng đại uý có tội cho nên chống lại việc xét lại bản án. Chắc chắn những viên tướng đó không thể tha hoá và hoàn toàn ngốc nghếch. Vậy hình như trong bộ chiến tranh, có lẽ trong Phòng Nhì có một chứng cứ bí hiểm, không thể công bố và không chối cãi được. Thực ra bây giờ người ta biết chứng cứ đó.

    Từ những điều chắc chắn, nửa chắc chắn, cái có thể và cái đáng chú ý đó nếu nghiên cứu kỹ thấy chúng mâu thuẫn nhau. Vậy ta rút ra kết luận thế nào?

    Thực ra, không kết luận được. Chỉ có thể đưa ra các giả thuyết. Tôi xin nêu ra bốn giả thuyết. Ba cái là của các chuyên gia của giai đoạn lịch sử đó; cái thứ tư chưa ai đưa ra nhưng cũng không phải là cái hay nhất.

    Giả thuyết thứ nhất có ưu điểm là đơn giản, nó không công nhận có đầu độc tin, nhưng có phản bội làm lợi cho Đức, kẻ phản bội là Henry và đồng phạm là Estethazy. Do nhiệt tâm không hợp thời của một điệp viên gây nên trục trặc không dập đi được. Henry có lẽ đã dùng cách chuyển hướng nghi ngờ sang một người vô tội; Dreyfus bị chọn làm vật thế chân vì ba lý do: chữ viết giống chữ của Esterhazy, đang thực tập tại ban tham mưu pháo binh lại đã tốt nghiệp bách khoa, đó là những yếu tố giải thích Dreyfus có thể biết về cái phanh đại bác nổi tiếng; cuối cùng ông ta là gốc Do Thái. Henry hy vọng tố cáo hắn sẽ dễ được mọi người tin vì đang có phong trào bài Do Thái trong quân đội. Đó là một thủ đoạn phối hợp tốt. Nhưng liệu có phải như thế không?

    Có hai yếu tố thuận cho giả thuyết đó; sự kiên trì đặc biệt của Henry bênh vực cho Rochelle; và một đoạn trong cuốn sổ tay của Schwsrtzkoppen kể lại quan hệ cua rông với Estethazy, rằng Estethazy đã đưa cho ông những tài liệu ghi trong "tài liệu” nhưng ông tin đó là những lài liệu thật, ông không thừa nhận rằng ông đã lừa bịp; và vì sau những kết luận về vụ án, ông không thể không biết những quan hệ của Estethazy với Phòng Nhì, ông xem xét sự tiếp tay của Henry và ông kết luận: "Có khả năng".

    Ngược với giả thuyết là ba yếu tố: trước hết là nhân cách của Henry. Đúng là trong vụ án này Henry là kẻ bất nhân. Nhưng hắn áp dụng những quy tắc của môi trường của y: và hắn không han có bộ mặt của tên phản bội; cuộc sống giản dị, hắn không cần tiền, yêu nước đến mức cuồng tín.

    Vậy thì lại sao hắn phản bội ? Schwsrtzkoppen không biết hắn, không thể đưa tiền thưởng thêm của Schwsrtzkopen: mười hai nghìn mác một tháng, đó là do một nguồn tin chắc chắn cho biết. Vậy là ít không đủ để mua một người yêu nước.

    Cuối cùng, nếu Henry phản bội, các tư liệu trong “tài liệu” có thể là xác thực. Đức có thể biết bí mật về chiếc phanh đại bác và nhờ thế họ đủ sức chế tạo một loại đại bác tốt như loại đại bác 75mm. Chúng ta đều biết không có chuyện đó xảy ra.

    Giả thuyết Henry phản bội là phi lý. Giả thuyết đó do các người bênh vực Dreyfus chống quân phiệt là những người cũng chẳng đáng quý hơn những người chống Dreyfus chiến đấu.

    Giả thuyết thứ hai còn đơn giản hơn nữa và tôi cũng định viết cho đơn giản nếu nó không phản ánh ý kiến của Picquart, người biết rõ nhất vụ án và những điều ẩn đằng sau nó. Có một tên phản bội, đó là Estethazy. Giả thuyết này được củng cố thêm bởi Sổ tay của Schwsrtzkoppen trong đó ông ta khẳng định rằng Estethazy đã đưa cho ông những tư liệu của "tài liệu” vào ngày 1 tháng 9 năm 1894.

    Nhưng tại sao Phòng Nhì lại bênh vực Esterhazy mạnh đến như vậy?

    Mặt khác chúng ta cũng vấp phải trở lực như trước. Như vậy tài liệu về chiếc phanh đại bác phải là tài liệu giả. Và ta cũng phải chấp nhận rằng Phòng Nhì đã cực khéo dùng Esterhazy như gián điệp đôi vô ý; nhưng vậy Phòng Nhì phải biết rằng Esterhazy có tội và Dreyfus vô tội; vậy tại sao Phòng Nhì lại khởi tố Dreyfus? Nếu không... Đến đây ta đi vào giả thuyết thứ ba.

    Giả thuyết này cho rằng: Sandherr và Henry có chứng cứ rằng Dreyfus phản bội: hắn đã cung cấp cho Cơ quan tình báo Đức và có thể cả Cơ quan tình báo Nga những tài liệu quan trọng nhất. Ví dụ như kế hoạch tập trung quân đội Pháp tại biên giới khi động viên. Chứng cứ như thế nào? Đó là tài liệu trước đây tôi đã ám chỉ đến nhưng chưa nói rõ tên: "Bức thư Alsace", thư của người cháu kiêm điệp viên gửi cho chú kiêm cục trưởng Phòng Nhì Sandherr, nhà công nghiệp Renné Kullmann tại Mulhouse (Đức). Trong lá thư này, Kullmann phát hiện một tên phản bội quê ở Mulhouse tên là Dreyfus có quan hệ với những nhân viên quan trọng của cơ quan tình báo nước ngoài; những chi tiết của lá thư này cho phép xác định Dreyfus này là Alfrerd Dreyfus. Kullmann là một điệp viên tin được Sandherr và Henry đều tin chắc đại uý Dreyfus phản bội.

    Tại sao không xuất trình "lá thư Alsace"? Bởi vì điệp viên của Sandherr trong lưới Alsace hoạt động trong một địa bàn nguy hiểm thường bị nguy cơ lớn lao đe doạ. Năm 1887, hai nhà buôn Strasbourg đã bị Toà án thượng thẩm Laixich tuyên án tù rất nặng. Năm sau, Charles Appell bị kết án chín năm tù trong một pháo đài; Sandherr không dại gì đưa cháu mình vào nguy cơ bị bắt nếu đưa lá thư của Kullmann và làm chứng cứ dù trước toà án. Ông ta đã cất lá thư đó vào tủ sắt và dặn Henry "về cái này, không bao giờ được tiết lộ ra".

    Chức năng của Phòng Nhì là bắt giữ bọn phản bội. Dreyfus là phản bội một cách nguy hiểm. Sandherr và Henry buộc phải tiêu diệt hắn, nhưng không xuất trình được chứng cứ, vậy họ buộc phải tạo ra chứng cứ giả: cách giải thích về đạo đức học nghiệp vụ đó chắc chắn làm bạn đọc chói tai, cũng như nó đã làm cho tổng công tố Baudouin chối tai, tình trạng lâu ngày phụ thuộc vào Cơ quan tình báo dẫn đến cách đánh giá khác.

    Tạo ra chứng cứ giả nào? Tại sao "tài liệu” thống kê gửi cho Schwsrtzkoppen.

  3. #43
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    10
    Sandherr đọc cho tay chân là Esterhazy "tài liệu” thống kê nổi tiếng ra năm tài liệu (giả) rồi ra lệnh chuyền cho tuỳ viên Đức. Chữ viết của Estethazy giống chữ của Dreyfus. Việc làm này xảy ra ngày 2 tháng 9 "Tài liệu thống kê" được gửi đến Schwsnzkoppen nhưng Sandherr đã báo động trước cho điệp viên Brucker: anh này đã chặn lại từ người bảo vệ toà nhà của tuỳ viên quân sự Đức; như thế là kế hoạch đã giữ được thế hoàn toàn xác thực.

    Đến khi "tài liệu thống kê" không còn là một chứng cứ đầy đủ nữa, người ta liền tạo ra tài liệu giả mới, đó là bức thư của Alexandrine, và những của giả dối khác.

    Dù Sandherr đã dặn không được xuất trình báo cáo của Kullmann, nhưng Henry đã mang nó ra trình cho cấp trên và Bộ trưởng; có thể hắn đã huỷ báo cáo này trước khi hắn tự tử; nhưng có một số sĩ quan đã được xem: họ đã chứng nhận về tài liệu đó trước hai Bộ trưởng Chiến tranh Wulinden và Chanoine, hai ông này đều tin họ; cũng có thể bản báo cáo đó vẫn còn, chứ Henry chưa kịp huỷ.

    Còn Picquart thì sao? Nếu "lá thư Alsace" đè nặng lên Dreyfus, tại sao ông bênh vực cho Dreyfus là vô tội? Picquart quan hệ rất chặt chẽ, thậm chí mười tám tháng cầm đầu Phòng Nhì, nhưng có thể không biết đến lá thư này. Ông không thuộc về êkíp Sandherr - Henry; người ta không tin ông. Các nhà nghiệp vụ học đến đoạn này sẽ thừa hiểu ông đã bị bao vây như thế nào rồi.

    Nhưng Dreyfus có thể có tội không? Không, ngày nay chẳng còn ai tin như thế nữa. Nhưng ông ta là nạn nhân của những sự trùng hợp kinh khủng; ông đã phải trả giá cho một tên Dreyfus khác. Chính vì thế mà trong giả thuyết này ta mới thấy Sandherr, Henry và Phòng Nhì có tội.

    Những nhà nghiệp vụ chắc chắn cũng lên án họ một cách nghiêm khắc, bởi vì các vị đó tuy chấp nhận những hành vi trái với đạo đức cổ điển, nhưng với điều kiện tuyệt đối là không được lầm.

    Khi đọc hồ sơ vụ án, tôi thấy có hai yêu tố lạ lùng.

    Yếu tố thứ nhất là lời tuyên bố của đại uý vệ binh cộng hoà Lebrun-Renaud là người đã dẫn Dreyfus trong chiếc xe đi đến Học viện quân sự để cách chức ông này: Theo Dreyfus thì ông vô tội nhưng có thú rằng ông có trao (cho cơ quan nước ngoài) một vài tài liệu, nhưng chỉ để "làm mồi".

    Tuyên bố này làm cho mọi người lúng túng : một số người cho rằng Lebrun-Renaud không hiểu ý của Dreyfus; theo tôi ý kiến này là đúng một phương pháp mà tôi cho là không nghiêm túc để loại bỏ một lời chứng khó chịu.

    Điều thứ hai làm tôi phải suy nghĩ là thái độ của Dreyfus trước hai hội đồng chiến tranh khi xét xử anh. Lúc nào anh cũng chỉ bào chữa rằng "tôi không có tội". Cách bào chữa này nó mơ hồ và làm thất vọng những người bênh vực anh, kể cả những người nhiệt tình nhất đối với anh. Dreyfus là con người thông minh. Năm 1894 người ta có thể chấp nhận được rằng anh chưa có kinh nghiệm tự bào chữa đối với một bản tố cáo bất ngờ. Nhưng năm năm sau, trong phiên toà thứ hai thì sao lại chỉ nói có như vậy thôi? Trên Đảo Quỷ anh đã bao nhiêu lần được lịch sử của anh thông báo đầy đủ tình hình đã diễn ra như thế nào rồi. Anh đáng lẽ có thể vạch rõ những mánh khoé tố cáo anh; thế mà anh chỉ bám lấy cách tuyên bố lạnh lùng là anh vô tội. Vợ anh là con người trung thành hoàn toàn với anh cũng chẳng nói được gì hay hơn. Bà chỉ nói được có mỗi một câu: "Chồng tôi vô tội", không như em chồng bà là Mathieu Dreyfus đã tố cáo Estethazy.

    Tất cả sự việc khác thường đó trở nên sáng rõ nếu ta chấp nhận rằng Dreyfus đã là kẻ chuyển giao tin giả cho người Đức về chiếc phanh đại bác. Estethazy của.Phòng Nhì có thể bị đốt cháy, và đối với một kế hoạch quan trọng. như thế, có một điệp viên đáng tin. Để làm mồi cho kế hoạch, người ta dùng Dreyfus chuyển cho người Đức vài tư liệu sơ bộ. Đó là hành vi mà Lebrun-Renaud đã tiết lộ, trong thời gian hỗn loạn; nhưng sau đó tỉnh táo lại, anh không nói gì nữa để đảm bảo cho kế hoạch mà anh có trách nhiệm được thành công.

    Điều bi thảm là việc chặn "tài liệu thống kê" lại, vì việc này đã khiến cho kế hoạch bung ra dư luận mà không sao bịt lại được. Đó là rủi ro cho nên mới cần đến việc phải ngăn vách các cơ quan mật vụ.

    Cái được thua của kế hoạch cắt nghĩa thái độ tàn nhẫn của quân nhân và chính phủ. Về phần Dreyfus, anh có thể anh dũng chấp nhận hy sinh sự nghiệp, gia đình, quyền tự do và danh dự.

    Mâu thuẫn trong giả thuyết thứ ba này rất lớn là thái độ của Picquart; ông nắm hết mọi ngóc ngách của vụ án, nhưng ông lại không "chơi" cho hết ván bài. Có phải ông đã phẫn nộ về chỉ đạo kế hoạch không? Về những dục vọng bẩn thỉu đã bung ra không? Về tính chất tàn ác của Phòng Nhì đã bám riết lấy người anh hùng bị hy sinh, nhằm giữ thế thủ và che giấu những cái vật ngày càng lộ rõ hơn?


    VỤ DREYFUS VÀ VIỆC THÀNH LẬP NƯỚC IXRAEN


    Trong tất cả những hậu quả của vụ án Dreyfus, một hậu quả quan trọng nhất lại bất ngờ nhất. Năm 1894 , tờ báo lớn nhất tại Viên, tờ Neue Freie Presse, có một phóng viên tại Paris tên là Theodore Herzl, văn sĩ xuất sắc người Áo gốc Do Thái. Tuy không bao giờ từ bỏ cái gốc của mình, Herzl thuộc vào loại Do Thái bị đồng hoá đến mức ông chủ trương để giả1 quyết vấn đề Do Thái khó chịu thì xoá bỏ thực thể Do Thái bằng cách chuyển toàn bộ người Do Thái đi theo đạo Thiên Chúa: đó là con đường mà con trai ông tên là Hans đi theo.

    Sự kích động điên cuồng bài Do Thái ở một đất nước được ông coi là tự do nhất và độ lượng nhất cho ông thấy giải pháp mà ông đề ra là không thể được, là ở đâu người Do Thái cũng không yên ổn, vì thế muốn cho họ được sống có phẩm cách thì phải có một nước riêng cho họ. Trong một lúc rất hứng khởi, ông viết cuốn "Nhà nước Do Thái" và năm sau (1896) ông lập "Hội đồng Do Thái thế giới". Từ đó trở đi, chủ nghĩa Xiônit phát triển không ai cưỡng nổi đề năm chục năm sau, ngày 15 tháng 5 năm 1948, Nhà nước Ixraen ra đời.

  4. #44
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    VỤ ÁN KỲ LẠ Ở NGA


    Mục tiêu quan trọng khác của cơ quan tình báo Đức là nước Nga. Tuỳ viên quân sự Đức tại Petersboug là đại tá Vuillaume hồi còn ở Paris đã hoạt động tình báo, năm 1885 bị trục xuất khỏi Pháp. Tôi không rõ ông này có phải là tác giả của chiến công quan trọng của ngành tình báo Đức đã tuyển chọn được tướng Xukhomlilôp, Bộ trưởng Chiến tranh của Nga, hay không. Sự phản bội của viên tướng này đã làm cho Nga mất bảy sư đoàn và thảm bại tại Tannenberg. Vụ án này rất kỳ lạ. Sau đây là câu chuyện đã xảy ra.

    Khi là tư lệnh quân khu Kiep, Xukhomlilôp say mê một bà giáo trẻ của trường trưng học thành phố. Ông bảo bà li dị chồng và cưới bà. Vì bà giáo gốc Do Thái, nên việc tái giá này trở thành bê bối cả thành phố đồn ầm lên, và giới quý tộc thành phố đều chê trách.

    Vợ chồng ông tướng hay tiếp đãi đại tá Xecgây Miaxôưêđôp, tư lệnh khu vực biên phòng đối diện với nước Đức. Người ta kể rằng viên đại tá này đã lợi dụng vị trí công tác để mua rẻ những thứ hàng xa xỉ của Pháp nhập lậu rồi biếu cho bà tướng ăn chơi phù phiếm.

    Năm 1909 Xukhomlilôp được đề bạt Bộ trưởng Chiến tranh dù đã vấp phải tai tiếng. Ông điều đại tá Miaxôumôp về Petersbourg.

    Ít lâu sau có tin đồn rằng Miaxôưêđôp khi còn ở biên giới đã nhiều lần sang Đức săn bắn trong các rừng của nhà vua Đức ở Rominten. Điều tra thấy đại tá này đã cung cấp cho Đức những tin tức quân sự có giá trị chiến lược. Thế nhưng Toà án quân sự vẫn xử trắng án cho y. Bản án bị đại Công tước Nicola huỷ. Miaxôưêđôp phải ra toà án khác, bị tuyên án tử hình và bị treo cổ ngay hôm tuyên án.

    Đến tháng 5 năm 1915, Xukhomlilôp bị truy tố trước Toà án quân sự, bị buộc tội đồng phạm với Miaxôưêđôp và bị tuyên án tù chung thân.

    Sau vài chục năm tôi thấy hai vụ án này gây ra nhiều nghi vấn. Nhân cách của Xukhomlilôp xa cách với nhân cách của tên phản bội. Khi ông đứng đầu Bộ Chiến tranh của nước Nga, ông đưa hết tâm trí ra để tổ chức lại quân đội Nga và ông đóng góp rất hiệu nghiệm cho việc cải tiến nhiều lĩnh vực quân sự. Không bao giờ công bố những chứng cứ chính thức về tội lỗi của ông, và khi lên nắm chính quyền, Lênin đã ân xá viên Bộ trưởng này. Cựu tướng quân sống chặng đời cuối cùng trong cảnh nghèo khổ.

    Alêchxây Vaxilep là thủ trưởng cuối cùng cơ quan cảnh sát Nga hoàng kể lại rằng ông dự thẩm phụ trách vụ án này có cho ông xem bức thư thuộc loại chứng cứ không thể chối cãi được để kết tội viên tướng. Đó là bức thư của một nhà buôn ở Kiep gửi cho người vợ nội dung, nói vì trời mưa, đường lầy lội nên không thể đi chơi được.

    - Đây là cách nói mật mã? - Vaxilep hỏi.

    - Hình như không phải.

    - Vậy thì họ định nói gì?

    - Chỉ có quỷ thần mới biết mà thôi - ông dự thẩm trả lời.

    Người buộc tội chính đối với viên tướng là Gutkôp, nghị sĩ viện Đuma, sau cách mạng là Bộ trưởng Chiến tranh và là người đã cắt quyền hành của các sĩ quan để chuyển cho các ủy ban binh sĩ.

    Còn về Miaxôưeđôp thì việc tuyên án và thi hành án ông ta một cách vội vã cho thấy có nhiều điều nghi vấn. Sau Cách mạng, vụ của ông được xử lại và ông được khôi phục danh dự. Nicolai lên làm Cục trưởng Cơ quan tình báo Đức sau vụ án đó, đã viết trong cuốn Geheime Machte những ý kiến hoàn toàn khác. Đúng, đại tá biên phòng đó có đi săn tại rừng nhà vua Đức; nhưng những mời mọc đó không đủ bù lại công trạng của ông; ngược lại ông đại tá này đã đánh lừa chủ nhà để hoàn tất nhiệm vụ của ông: ông là một sĩ quan tình báo của Cơ quan tình báo Nga.

    Tôi không rõ các sử gia Xô Viết đã làm thật rõ vụ án Xukhomlilôp-Miaxôưêđôp hay chưa, nhưng qua nhưng qua những điều ta biết, ta thấy vụ án quá bi thảm.

  5. #45
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    THÀNH CÔNG CỦA PHÁP TẠI ĐỨC

    Sau khi lướt qua một số thành tích của Cơ quan tình báo Đức, ta thử xem tình hình chính xác của Cơ quan tình báo Pháp ra sao. Khó khăn là thủ trưởng cơ quan tình báo Pháp không viết hồi ký tôi đành phải dựa vào một vài tư liệu hoặc vài chuyện kể để làm mối vậy.

    Sau vụ Dreyfus, Chính phủ Pháp không cho quân nhân nắm công tác phản gián nữa vì đã phạm vào quá nhiều khuyết điểm, mà trao việc này cho Bộ Nội vụ phụ trách. Ngày 1 tháng 5 năm 1899 thành lập "Cơ quan kiểm soát lãnh thổ" (Service de surveillance du Territoire) trực thuộc cục An ninh chung (S-reté Générale) với chức năng vô hiệu hoá gián điệp.

    Cơ quan tình báo chính cống cũng bị hậu quả gián tiếp của vụ đó và phải mất mấy năm mới phục hồi được tính hiệu lực của nó. Cuộc khủng hoảng đến năm 1906 mới vượt qua được khi đại tá Dupont có đại uý Frendert Lambling trợ lực lên phụ trách Phòng Nhì. Năm sau; quân đội chẳng bao giờ chịu mất cơ quan phản gián nên đã đề nghị và chính phủ chấp nhận giải thể "Cơ quan kiểm soát lãnh thổ".

    Năm 1913 Bộ Chiến tranh - chứ không phải Bộ Nội vụ ra chỉ thị lập lại Cơ quan phản gián trên cơ sở ngày nay vẫn còn giá trị. Quân đội chịu trách nhiệm chống gián điệp bên ngoài biên giới, cảnh sát phản gián nên trong biên giới đất nước (Kiểm soát qua lại biên giới trấn áp tội phạm chống lại An ninh quốc gia). Phòng Nhì phụ trách việc kiểm soát các đồn cảnh sát biên phòng với một chế độ nhập nhằng bởi vì các đồn này trực thuộc cả Bộ Chiến tranh lẫn Bộ Nội vụ nhưng nhiệm vụ thì mở rộng: ngoài nhiệm vụ phản gián chung còn thêm nhiệm vụ tuyển chọn điệp viên. Nhưng trưởng đội biên phòng thường là người Alsace rất nóng lòng thoát khỏi ách chiếm đóng của Đức, họ đã tận dụng vị trí thuận lợi của mình về địa lý, nên đã đạt được những kết quả đáng chú ý. Tôi xin kể hai biến cố của hoạt động tình báo Pháp trong thời gian trước thế chiến thứ nhất.

    Viên trưởng đồn Lomps là người Alsace có người cha cư trú tại Đức, năm 1871 với chức danh đại diện hãng vang Pháp. Anh học tại Đức rồi làm nghề nhân viên Công ty quốc tế hoá xe lửa có giường nằm, rồi gia nhập cảnh sát Pháp và trở thành trưởng đồn hợp tác với Phòng Nhì.

    Tomps có vài cô bạn thân xinh đẹp và trẻ chấp nhận làm việc cho anh, chắc với điều kiện trả tiền công. Anh trao cho họ trách nhiệm lên Beclin quan hệ với các sĩ quan hoặc sinh viên các Học viện Quân sự để moi tin tức. Các cô này ít ra đã thành công được hai việc, nhất là tại Học viện Pháo binh vì lấy được những tài liệu rất mật.


    KẾ HOẠCH SCHLIEFFEN


    Thành công khác là vụ “Người báo thù”. Năm 1904 , một sĩ quan Đức bắt quan hệ với Phòng Nhì pháp và cung cấp cho Cơ quan tình báo này những tài liệu rất quan trọng.

    Sau đây là lời của tướng Pendezec. Tổng tham mưu trưởng Pháp năm 1904 nói về vụ này:

    Mới đây một sĩ quan có lẽ cấp tướng trong Bộ Tổng tham mưu Đức viết thư cho chúng ta từ Liêge đề nghị cung cấp cho chúng ta vài tài liệu vô càng quan trọng. Cơ quan tình báo của chúng ta liền liên lạc với ông ta qua đại uý Lambling, mà chúng ta đã biết. Tên phản bội đã cung cấp cho ta bản kế hoạch hành quân mới của Bộ Tổng tham mưu Đức kèm theo một bảng ghi chính xác những "khu vực tập trung quân". Chúng ta đã xác minh những tài liệu cũng như lời trình bày của y và tôi thấy có thể tin chắc chắn là chuẩn xác tuyệt đối... Về nhân cách của tên phản bội, chúng ta hoàn toàn không biết gì; chúng ta thậm chí không có cách liên lạc thư từ với y. Ba lần bằng thư gửi từ Liège (ở Bỉ), y hẹn gặp Lambling: lần thứ nhất tại Paris, lần thứ hai tại Bruxelles, lần thứ ba tại Nice, và lần nào cũng tại khách sạn loại sang trọng. Lần nào gặp Lambling y chỉ xuất hiện với cái mặt quấn băng như là y vừa mới bị phẫu thuật, chỉ thấy hắn có bộ ria xám và đôi mắt tinh nhanh. Ngay lần đầu hắn đã yêu cầu không được cho người theo dõi y; y nói với Lambling: "Tôi đã có biện pháp rời khỏi khách sạn trong một tiếng, nếu anh cho cảnh sát theo dõi tôi thì đừng hòng bao giờ gặp được tôi nữa và cũng đừng hy vọng được biết những điều mà tôi còn muốn cho các anh biết...". Nhiều lần y tuyên bố với Lambling rằng : "Tôi hoàn toàn ý thức được điều ô nhục của tôi, nhưng người ta đối xử với tôi còn ô nhục hơn nhiều, cho nên tôi phải trả thù…". Cả ba bức thư y gởi cho ta đều ký là Người trả thù. Tuy thế hắn yêu cầu chúng ta trả công cung cấp tài liệu và chi phí đi lại sáu mươi nghìn quan; ta đã cho y, không mặc cả, bởi vì những điều y phát hiện đều vô giá".

    Tháng 2 năm 1929 Thống chế Pêtanh cho mở cuộc điều tra tại Bộ Chiến tranh để xác minh tính chất và mức độ chính xác về những điều như tôi đã kể trên đây. Kết quả điều tra cho biết tất cả những tài liệu bí mật để trong tàng thư đặc biệt của Cơ quan tình báo đã bị đốt hết theo lệnh trên tháng 8 năm 1914. Vậy những tài liệu của Người trả thù không còn nữa. Nhưng tướng Barthélémy - hồi 1904 là đại uý Phòng Nhì - cũng như những nguồn tin khác cho biết: đó là những tài liệu mang tên "Kế hoạch hành quân Schlieffn" dự kiến của Đức đánh chiếm nước Pháp đi qua nước Bỉ.

    Các tin tức thu được là chuyển giao sau đó bởi Phòng Nhì cho đến năm 1913 chỉ rõ rằng kế hoạch Schlieffen vẫn còn giá trị để thi hành.

    Năm 1914, Bộ Tham mưu và Chính phủ Pháp định giải thích những thất bại ban đầu bằng tuyên bố họ không dự đoán trước được sự phản bội kinh tởm của kẻ thù, việc vi phạm nền trung lập của Bỉ ! Thực ra, các nhà lãnh đạo và những tướng lĩnh Pháp đã được thông báo trước cả chục năm về kế hoạch xâm lược của Đức.


    THẤT BẠI KÉP CỦA PHÁP VÀ ĐỨC


    Vài chuyện kể trên đây cho ta thấy một số mặt tích cực tương đối của Cơ quan tình báo Đức và Pháp. Đúng là Đức đã tỏ ra rất kiên trì chăm chỉ, trừ sai lầm về mạng lưới ở Anh: còn Pháp, cũng tỏ ra là táo bạo và hung hăng khiến cho nó cũng gần được xếp vào hàng danh dự như Intelligence Service của Anh trong thế chiến thứ nhất.

    Nhưng người ta không đánh giá một Cơ quan tình báo chỉ căn cứ vào những thành tích cục bộ hoặc những hoạt động vang dội của nó. Điều cơ bản lại là chất lượng tin tức Cơ quan tình báo trình lên Chính phủ để giúp cho Chính phủ làm chủ được những tình huống nghiêm trọng nhất. Về chỗ này, cả hai Cơ quan tình báo Đức và Pháp đều có đôi cái bất lực tai hại.

    Năm 1914, Đức tung ra mặt trận năm triệu quân được huấn luyện kỹ. Cơ quan tình báo Pháp ước lượng chỉ bằng một nửa con số đó. Sai lầm to lớn đó đã dẫn kế hoạch tấn công của Thống chế Joffre. "Kế hoạch 17" bị thất bại, và suýt nữa gây cho Đồng Minh thua trận nhanh chóng.

    Còn Cơ quan tình báo Đức lại nhận định nước Anh chưa chắc đã tham chiến và Cơ quan này không cung cấp một tin tức gì về sự chuẩn bị và tham gia của quân đội viễn chinh Anh. Nó cũng không dự đoán được ngày tham chiến của Hoa Kỳ.

    Hai Cơ quan tình báo này đối mặt nhau trên con sông Ranh; anh nào cũng phồng mang trợn mắt làm con quái vật hoặc con hổ đáng sợ. Nhưng thực sự chúng chỉ là những con hổ giấy mà thôi.

  6. #46
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Kolberg mua cho người tình một cửa hàng mỹ phẩm, cô đặt cho cửa hiệu cái tên hài hước là Gương Chim chiền chiện, nơi đây cũng là chỗ hoạt động bí mật của Bá tước.

    Marthe vờ bước vào trò chơi của thủ trưởng mới bằng cách cung cấp tin tức lạc hậu do Ladoux cung cấp. Ngược lại cô thu và chuyển về Pháp nhiều tin tức quan trọng: đầu tiên là những mẫu mực bí mật; rồi lý lịch của một điệp viên nguy hiểm quốc tịch Espana tên là Emilio Fuentes đã lợi dụng vỏ bọc là nhà buôn cá chích để lọt vào các cảng của Pháp thu thập tình hình hải quân Pháp; Fuentes bị bí mật bắn chết nhưng Bá tước lại tưởng rằng điệp viên của mình chạy sang hàng ngũ của Pháp. Marthe giả vờ có mang xin Bá tước cho về Pháp nạo thai. Bá tước đồng ý và cho cô dùng đường bí mật qua dãy núi Pirênê để về Pháp.

    Rồi nàng đi vào những việc quan trọng hơn. Trong một chuyến công tác tại Marôc, cô phát hiện ra việc chuyên chở vũ khí cho các lực lượng chống Pháp và Pháp đã chặn được việc này. Kolberg cử cô đi theo chuyến tàu chở những chai đựng bọ cánh cứng nhằm phá hoại các kho lúa mì của phe Đồng Minh thiết lập tại Achentina, cô đã làm cho những con bọ này chết rồi trao cho người nhận.

    Công lớn của cô là thu thập tin tức về kế hoạch tàu ngầm của Đức; cô đã báo cáo việc dùng những loại tàu ngầm mới; những nơi và thời gian tàu ngầm bỏ túi của Đức đến nhận tiếp tế, cô đã báo trước kế hoạch đại tấn công bằng tàu ngầm năm 1918 (của Đức).

    Mùa thu năm 1917 lại một thủ đoạn độc địa nữa phá Cơ quan phản gián Pháp. Ladoux bị tố cáo là phản bội, bị cách chức và bị bỏ tù; ít lâu sau ông được giải oan và thăng thiếu tá; nhưng trong thời gian bị oan, tổ chức của ông bị rối loạn. Marthe Richer không nhận được chỉ thị và cô nhận định báo cáo của cô chẳng ai khai thác sử dụng nữa. Đó là tình huống làm suy sút tinh thần và nguy hiểm nhất đối với điệp viên hoạt động ở nước ngoài. Marthe Richer khôn ngoan rút ra kết luận trong tình huống như thế cô cần ngừng hoạt động. Nhưng cô muốn phục vụ lần cuối cho đất nước của cô; Kolberg và đơn vị của lão là cái chết chính của đại kế hoạch tấn công bằng tàu ngầm năm 1918; cô quyết định việc ra đi của cô phải đánh gục Kolberg.

    Trong một buổi gặp gỡ bi thảm, cô nói thật với viên Tuỳ viên hải quân Đức rằng lúc nào cô cũng lừa dối ông ta và ngay từ những ngày gặp nhau đầu tiên cô đã báo cáo cho Cơ quan phản gián Pháp những hoạt động của ông. Ngay sau đó, cô đã gặp Đại sứ Đức, Hoàng thân Ratibor, và cô cũng kể lại như trên. Để đánh tan những nghi ngờ của Đại sứ, cô đưa chùm chìa khoá két sắt của Kolberg cũng như một vài tài liệu mật cô đã lấy trong két và một tập thư tình của Bá tước đã viết cho cô. Rồi cô yêu cầu Đại sứ phải hứa không được làm gì hại cô, nếu không cô sẽ làm toáng chuyện này giữa Thủ đô Espana. Marthe Richer đã trở về Paris an toàn. Kolberg bị gọi về nước; trên đường hồi hương, lão tự sát.


    NGƯỜI ĐÀN BÀ CÓ ĐÔI MẮT HỔ

    Elisabeth Schragmuller, nữ tiến sĩ triết học trường đại học Fribourg, khi chiến tranh bắt đầu thì cô hai mươi sáu tuổi. Nguyện vọng của cô được phục vụ thiết thực cho đất nước, cô viết thư cho đại tá Nicolai, thủ trưởng Nachrichtendienst để xin nhận công tác, được ra mặt trận càng tốt. Nicolai cử cô sang Bruxelle làm tại phòng kiểm duyệt thư tín. Con mắt sáng suốt của cô giúp cô rút ra được những tin tức có ích qua những bức thư tầm thường để cô gửi lên tướng tư lệnh quân khu Anvers.

    Qua một hai tháng, tướng quân này hỏi tham mưu trưởng: trung uý Schragmuller là ai mà báo cáo chất lượng cao như vậy? Tham mưu trưởng trả lời: không biết. Ông tướng liền gọi trung uý lên. Ông không ngờ đó là một cô gái có bí danh là "cô tiến sĩ". Ông đoán rằng cô này vừa thông minh vừa kiên quyết, nên ông hứa sẽ trao cho cô phụ trách trạm tình báo quan trọng sắp thành lập khi ông chiếm được Anvers. Sau cuộc gặp gỡ đó vài tuần, Anvers bị chiếm vào tháng 10 năm 1914. Cô tiến sĩ được đưa về Baden học tập và điều đến công tác tại Anvers, nơi này có trường thực tập của điệp viên Đức.

    Ngôi nhà này là một toà nhà cũ nhưng đẹp có hai cổng, cửa luôn luôn khép. Lực lượng kháng chiến rất quan tâm phá hoại trường này nhưng không thể đến gần, một thành viên kháng chiến đã bị bắn chết khi lọt vào trường; do đó kháng chiến phải dùng trẻ em để đánh lừa tính cảnh giác của Đức.

    Giám đốc trường là thiếu tá Gross, nhưng người thực sự chỉ huy chính là Cô tiến sĩ.

    Người ta nói nhiều về phương pháp dạy học của cô gái này: họ thêu dệt rằng cô tàn ác... Nhưng thực ra cô không dùng roi vọt, cũng như súng ngắn hoặc dao găm. Cô chẳng cần phải dùng những biện pháp cực đoan đó: chỉ đôi mắt đầy thôi miên của cô đã đủ áp đặt uy quyền của cô rồi. Tuy người ta đặt tên cho cô là "nàng tóc vàng Anvers" cô cũng chẳng đẹp lắm, nhưng đôi mắt của cô thật đặc biệt; tất cả những ai đã tiếp xúc với cô đều nói về đôi mắt này với thái độ vừa thán phục vừa sợ sệt; phần lớn họ so sánh nó với đôi mắt hổ: một vài người còn nói rằng khi cô nhìn họ, họ bị một luồng điện chiếu vào mắt họ; điệp viên Pháp Charles Lucieto là người cứng rắn nhưng đã phải viết về cô như sau: "Nếu tôi sống được ngàn năm và nếu cô đi lẫn trong một đám đông người, tôi vẫn có thể nhận ra cô bởi đôi mắt của cô".

    Chế độ trong trường không tàn ác, nhưng nghiêm khắc; điệp viên học viên trước hết bị nhốt trong buồng ba tuần lễ để nghiền tài liệu. Sau đó chúng được đi thăm trường, buồng bản đồ, buồng ảnh, các tập ảnh chụp các kiểu đại bác, tàu chiến, máy bay, các loại vũ khí khác, thư viện với các kiểu đồng phục. Cuối cùng họ được xuống thăm tầng hầm trong đó có phòng mật mã, phòng thí nghiệm và các xưởng tập phá hoại.

    Thời gian thực tập từ mười đến mười lăm tuần lễ. Như thế là ngắn nhưng cũng đủ đối với điệp viên. Ví dụ nàng Gertrude Wurtz xinh đẹp đã góp phần bắt nhiều nhân viên tình báo của Pháp tại Rottecdam (Hà Lan). Nhưng cũng có thất bại Anne-Marie Lesser, điệp viên nữ nghiện ma tuý, tham vọng đóng giả cô tiến sĩ, bị bắt tại Thuỵ Sĩ.

    Người ta không rõ quốc gia giữa trạm tình báo và nhà trường gián điệp tại Anvers. Nhưng rõ ràng vai trò của cô tiến sĩ là phụ trách cả hai đơn vị này và cô đã phái đi và điều khiển một số học viên cũ của cô. Cô không ngần ngại hy sinh vài điệp viên để giúp cho những điệp viên khác thành công; phương pháp này đã được dùng từ thời cổ đại và đến nay còn nhiều Cơ quan tình báo sử dụng.

    Là thầy giáo và sĩ quan điều khiển, có lẽ cô đã nhiều lần vào vùng địch để công tác, nhất là Paris; theo tôi biết thì cho đến nay chưa có dấu vết gì về những chuyến công tác đó của cô.

    Đại tá Nicolai đã nhận xét toàn bộ hoạt động của cô như sau:

    Đáng chú ý là trong Cơ quan tình báo của chúng ta có một sĩ quan kỵ binh và một phụ nữ đặc biệt có học thức (cô tiến sĩ) là hai cán bộ biết điều khiển diệp viên, kể cả loại khó nhất, mưu mẹo nhất.

    Cũng chính Nicolai đánh giá cô tiến sĩ "đáng hai sư đoàn".

    Chiến tranh kết thúc, cô Tiến sĩ rút về Munich sống với bà mẹ. Cô không lấy chồng và cũng không viết hồi ký. Cơ quan tình báo Pháp theo dõi cô khá lâu; nhưng cô nàng có đôi mắt hổ chỉ còn là một cô gái bình thường.

  7. #47
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    511
    MATA HARI, NGƯỜI ƯA KHOÁI LẠC


    Con gái của một vương công Inđônêxia và một ni cô. Mata Hari tức "Con mắt Ban Ngày", được nuôi dạy tại một ngôi đền ở Giava, cô học múa và học yêu đương ở đây. Một hôm có một sĩ quan Hà Lan đẹp trai và đã đem cô đi.

    Đó là huyền thoại mà cô vũ nữ quảng cáo về mình. Thực ra Gertrude Margarel Zelli sinh tại Leewarden, tại Hà Lan. Cô có sống tại Giava, có lấy một viên sĩ quan, đại uý Mac Leon; nhưng chàng này nghiện rượu và tàn bạo: một hôm trong cơn say mê nhục dục, hắn đã cắn cụt mất đầu vú của cô, đó là lý do khiến cô khi múa phải cài hoa trên ngực. Nhưng theo một quan toà quân sự là người đã nhìn thấy cô trần truồng trong xà lim - vì cô ghét mặc quần áo phạm nhân, ông khẳng định không thấy vết sẹo nào trên vú của cô ta.

    Dù sao thì sau đó Margaret Zelle cũng bỏ người chồng tàn nhẫn và lang thang tại các thủ đô châu Âu bằng nghề vũ nữ và mại dâm. Cô múa giỏi, cô xinh đẹp và nhanh chóng nổi tiếng.

    Trước thế chiến ít lâu, cô biểu diễn tại Beclin và trở thành người tình của một trong các người lãnh đạo cơ quan tình báo Đức Nachrichetendiest. Ông này tuyển cô làm gián điệp với bí số H.21.

    Khi chiến tranh bắt đầu, cô đang ở Pháp. Cô tham gia phục vụ cứu thương tại Vittel; rồi tất cả Paris là nơi cô quen nhiều sĩ quan và nhiều nhân vật quan trọng. Cô thu thập nhiều tin tức rồi chuyển về cho người tình cũ lúc đó đã trở thành thủ trưởng Cơ quan tình báo Đức tại Hà Lan, qua con đường của một cơ quan đại diện nước trung lập. Chính cô đã báo trước cho Đức biết việc Đồng Minh chuẩn bị chiến dịch năm 1916.

    Tuy nhiên, Cơ quan phản giản Pháp bắt đầu nghi ngờ và cho theo dõi cô vũ nữ xinh đẹp này; nhờ quan hệ rộng, cô biết cô bị theo dõi, táo bạo cô đến gặp đại uý Ladoux, trưởng Phòng 5 để xin làm việc cho Cơ quan phản gián Pháp. Cô trình bày rằng cô sẽ đi Hà Lan, cô có thể vào Tổng hành dinh của Đức vì trước kia cô là người tình của thái tử nước Đức, cô có thể được một người bạn thân ở Amstecdam tên là Cramer giới thiệu; như vậy cô sẽ làm lợi cho Pháp nếu Ladoux cho cô liên lạc với một số điệp viên của Pháp để cô hợp tác.

    Mưu mô khá lớn; nhưng Ladoux giả vờ chấp nhận kế hoạch và cho cô sáu địa chỉ trong có năm là giả, còn một là tên của một điệp viên bị nghi ngờ. Rồi ông chúc cô lên đường may mắn, nhưng dặn cô thế nào cũng dùng con đường qua Espana rồi hãy sang Hà Lan - chắc để ông dễ kiểm tra cô ta.

    Con tàu chở cô đi có ghé qua cảng Falmouth. Cô bị cơ quan phản gián Anh giữ lại đưa lên Luân Đôn. Basil Thomson, thủ trưởng Cục cảnh sát đặc biệt của Anh, nghi cô nhưng không có chứng cứ cụ thể nên đành phải tha cô với lời đe rằng nếu không thay đổi cung cách sẽ không thoát nổi bàn tay của ông.

    Ba tuần lễ sau khi Mata Hari rời Paris: điệp viên hiềm nghi là Ladoux cho Mata tên, bị bắt và Đức đã bắn anh ta tại Bruxelles. Chứng cứ về tội trạng của cô vũ nữ thế là đã rõ.

    Sau đó ít lâu, Mata Hari quay lại Espana. Tại nơi này xảy ra một tình tiết khá mờ mịt trong cuộc đời của cô. Theo một số người thì cô liên lạc với viên sĩ quan của Cơ quan tình báo Hải quân tên là Von Kroon; theo những người khác thì cô làm việc với Tuỳ viên quân sự Von Kally; theo Marthe Richer, Mata Hari không có tên trong danh sách điệp viên Đức tại Espana. Nhưng những quan hệ của cô vũ nữ với cơ quan tình báo Đức tại Mađrit cũng đưa cô vào chỗ chết. Rõ là cô có xin tiền của Đức tại Mađrit. Bọn chúng trả lời rằng về Paris mà lấy tiền; họ đã đánh điện trả lời rằng "Gramer sẽ đưa cho H.21 một cái séc qua một cơ quan đại diện nước ngoài". Cả hai bức điện mật đó đều bị Pháp thu và giải mã, cho nên khi Mata Hari trở về Paris liền bị bắt ngay.

    Theo Kurt Singer; người Đức nhận định Mata Hari quá tốn kém và không dùng được nữa vì đã bị "lộ liễu" cho nên họ cố ý vứt bỏ cô nên mới gửi hai bức điện mật nhưng với loại mật mã mà họ biết rằng Pháp đã giải được. Người thi hành chủ trương tệ mạt đó là một sĩ quan trẻ của Cơ quan tình báo Hải quân Đức đóng tại Mađrit mà sau này trở thàch cục trưởng tình báo quân đội Đức tên là Walter Withelm Canaris.

    Tôi không biết Singer dựa trên căn cứ nào để lập luận như thế, nhưng tôi cho rằng lập luận đó không phải không có lý. Cơ quan tình báo Đức tại Madrit có ngân quỹ to lớn, vậy tại sao họ lại từ chối số tiền khoảng mười lăm nghìn pesetas mà Mata Hari đề nghị, mà họ phải đánh hai bức điện giết người như thế, hay là họ có tình ý đen tối gì đây.

    Trong phiên toà vội vã, Mata Hari khai rằng số tiền cô nhận được là tiền bán dâm chứ không phải công làm gián điệp. Điều này có một phần đúng sự thật; vì cô có thói quen trộn lẫn hai loại hoạt động nghề nghiệp gián điệp và bán dâm, tình trạng này làm cho nhiều ông tai to mặt lớn chết dở vì tuy họ chẳng làm lộ bí mật quân sự hoặc chính trị, nhưng vì nằm trong danh sách người tình của cô nàng nên đều bị nghi ngờ.

    Cơ quan tình báo Pháp có đưa ra một bức thư ký tên M... y, cựu bộ trưởng. Phái quân sự nhận định đó là Malvy, và một số lý do khác nghiêm trọng hơn nên Clémenceau kết tội vị cựu Bộ trưởng nội vụ này "đã phản bội lợi ích của nước Pháp". Toà án tối cao xét xử và buộc tội ông Malvy phạm trọng tội rồi tuyên án ông ta bảy năm biệt xứ. Sau này mới vỡ lẽ ra không phải Malvy mà chính là Messimy, cựu Bộ trưởng Chiến tranh.

    Mata Hari bị kết án tử hình. Cô vũ nữ xinh đẹp rất tin tưởng sẽ được những người yêu có thế lực cứu cô. Cũng có người can thiệp thật; Thủ tướng Hà Lan Van dor Linden đã đặc biệt can thiệp với Chính phủ Pháp theo đường ngoại giao nhưng chẳng có kết quả.

    Khi biết mình không còn đường thoát chết, Mata Hari tỏ ra rất can đảm. Ngày 15 tháng 10 năm 1917, vào tuổi bốn mươi mốt, cô đã chết với nụ cười trên môi.

    Mata Hari là con đĩ vĩ đại và điệp viên nữ tí hon. Cô chẳng xứng với sự trừng phạt cũng như huyền thoại của cô. Tóm lại cô không may; chắc cô ước mong sống ít tiếng tăm hơn và lâu dài hơn.

    Trước khi chết, Mata Hari viết một bức thư cho con gái là Banda đang sống với ông bà tại Giava. Số phận bi thảm thay, vì Banda cũng bi bắn chết khi làm gián điệp cho Mỹ tại Triều Tiên, ba mươi ba năm sau người mẹ của cô.



    Hết

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •