Trang 3 của 6 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 58

Chủ đề: Lịch sử Gestapo

  1. #21
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    0
    Trong những năm đấu tranh giành quyền lực, N.S.D.A.P đã phải đối mặt với hơn 40.000 đơn kiện. Đến cuối năm 1932, số nhân viên của N.S.D.A.P chịu án tù tổng cộng lên tới 14.000 năm và phải nộp phạt 1.500.000 Mác. Ban I.A đã có vai trò tương tự trong những sự truy tố như vậy. Ngày 13-4-1932 cảnh sát tiến hành công việc chống lại S.A và S.S trong toàn nước Đức, vì có đạo luật khẩn cấp cấm các tổ chức này. Người ta khám xét khắp nơi, các nhà trường của S.A, trong doanh trại, ban tham mưu và những đội chiến đấu quốc xã bị cấm cho đến khi chính phủ Von Papen hủy bỏ lệnh cấm ấy.

    Trong vụ này, Diehls phạm nhiều lỗi hơn các đồng nghiệp bởi chính Diehls đã sốt sắng hành động vì các lợi ích của họ. Diehls là người đầu tiên hiểu rằng hoàn cảnh đã đảo ngược, rằng bọn Quốc xã ít lâu nữa sẽ trở thành chủ nhân nước Đức.

    Tháng 8, Goering trở thành chủ tịch Reichstag và Diehls hiểu mình đã không nghĩ lầm. Hắn liền chạy chọt ngầm với ông chủ tịch mới bằng cách đem nộp cho Goering những hồ sơ mật trong đó có các tin tức, tài liệu dùng để làm mất danh dự đối thủ. Biết rõ giá trị nghề nghiệp của mình, Diehls đã trình bày với Goering cách làm thế nào để có sức mạnh, cách nào để điều tra tin tức, để xâm nhập... để có thể trở thành lực lượng cảnh sát chính trị mà Diehls hằng mơ ước, nghĩa là có tất cả mọi sức mạnh. Goering hoan nghênh những việc làm của Diehls.

    Ngay sau đó y áp dụng kín đáo những cách làm bí mật của Diehls. Chỉ riêng với lực lượng bí mật này Goering có thể làm thất bại đội quân huênh hoang của Roehm.

    Hình như Diehls còn có một vài thủ đoạn khác để hắn áp dụng. Goering xênh xang ở Reichstag hay trong lâu đài của mình, thích được tôn xưng trong các cuộc họp, thích làm ra vẻ vị chúa tể vĩ đại. Nhưng thật khốn khổ cho y, y túng tiền. Trong khi đó Diehls lại có khả năng thâm nhập khắp nơi, có quan hệ với các sở giao dịch chứng khoán. Những thông tin mà Diehls thu được cho phép Goering có thể lợi dụng để duy trì dễ dàng vai vế của mình. Diehls trở thành người tin cậy của Goering.

    Khi bọn Quốc xã nắm được quyền hành, các biện pháp đầu tiên được áp dụng cho cảnh sát. Đã từ lâu Diehls lên danh sách những cảnh sát theo Cộng hòa để loại trừ.

    Từ ngày 8-2, nghĩa là ngày thứ ba của chế độ Quốc xã cuộc thanh loại bắt đầu được tiến hành.

    Khi chỉ còn hơn một phần ba số cảnh sát cũ được xét là vô hại, người ta đã đưa họ bổ sung cho số cảnh sát Quốc xã vững vàng được chọn lọc trong đảng hay trong S.A và S.S.

    Diehls được cử đứng đầu lực lượng cảnh sát mới này. Tuy có một điều đáng ngờ về tính khí thất thường của Diehls nhưng Goering không coi đó là vấn đề đáng lo ngại.

    Sau này bác sĩ Schacht đã nói: “Thói say rượu bét nhè là nhân tố căn bản trong lý tưởng Quắc xã”.

    Diehls đã không biết gì về sự cạnh tranh của ông chủ Goering và Roehm. Bản thân Diehls cũng có mối quan hệ thân thiện với những người lãnh đạo S.A, trước hết là với Roehm, rồi đến Ernst, chỉ huy trưởng cảnh sát ở Berlin - Brandebourg, rồi bá tước Helldorff, chỉ huy S.A ở Berlin và Victor Lutze, sau này là trưởng ban tham mưu của S.A.

  2. #22
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Cuối năm 1933, ở Đức đã có 4.500.000 nhân viên S.A và Roehm trở thành bộ trưởng không bộ. Bấy giờ Goering mới tìm cách ngăn lại sự phát triển của S.A. Hắn ủy nhiệm cho Diehls điều tra các trại tập trung của S.A và giải tán các trại tập trung này. Chỉ còn lại những trại tập trung chính thức do S.S cai quản. Goering đã thỏa thuận với riêng cá nhân Himmler, đứng đầu lực lượng S.S trong mục đích ấy.

    Về phần mình, S.A cũng thanh toán món nợ này bằng máu, diệt trừ các đối thủ và các tòng phạm từ trước đã trở thành nguy hiểm. S.A đã ám sát kỹ sư Goering Bell thường là người trung gian trong các cuộc mặc cả tài chính giữa Hitler và Sir Henry Deterding. S.A đã bắn chết cảnh sát trưởng Hunglinger mà 10 năm về trước, ngày 9 tháng 11 năm 1923 đã chống lại Hitler trong cuộc đảo chính hụt ở Munich. S.A còn thanh toán cả những người bỏ hàng ngũ S A. Những tên chỉ huy trưởng lực lượng S.S dưới quyền của Himmler, đang có tham vọng điên cuồng hàng ngày lấn át lực lượng S.A, và những tên này cũng trở thành đối thủ nguy hiểm. S.A muốn trả giá cho sự đổ máu của 300 người chết và 40.000 người bị thương trong hàng ngũ của chúng, trong cuộc đấu tranh giành quyền lực.

    Trong biên bản của tòa án quốc tế ở Nuremberg, Gisevius là một nhân chứng quý giá, vì hắn đã ở lực lượng S.S vài tuần lễ sau đó chuyển sang lực lượng đối địch là S.A. Hắn đã khai tất cả mọi điều về S.A. S.A tổ chức những cuộc đột kích quy mô. Lính S.A lục soát các nhà dân tịch thu tài sản của họ, hỏi cung họ và tống họ vào nhà tù. Tóm lại, S.A mới chỉ là cảnh sát phụ, chỉ được coi như bất kỳ một tổ chức tự do nào thôi. Đau khổ cho những ai rơi vào móng vuốt của chúng. Thời kỳ đó người ta gọi các nhà tù riêng kinh sợ ấy dưới cái tên “Bunker” và mỗi đơn vị S.A đều có một Bunker như thế. Bắt cóc đã trở thành quyền bất khả xâm phạm của S.A. Giá trị của một trại tập trung tùy theo số lượng người bị giam giữ và tiếng tăm của một đơn vị S.A cũng dựa trên hiệu quả của việc nó đã áp dụng và số tù nhân của nó.

    Trong một vài vùng, những đồng minh của nó trước đây, những đảng thuộc cánh tả đều lo sợ về những hoạt động bắt bớ, giết chóc thái quá của bọn S.A. Những lực lượng tự vệ (Stahlhelm) lực lượng “Mũ thép” đều chống lại S.A. Nhưng các lực lượng này cũng bị thanh trừng. Tất cả mọi sự chống cự, mọi sự chần chừ đều bị quét sạch. Mỗi tên chỉ huy S.A đã trở thành một tên bạo chúa kiêu ngạo, tàn ác. Một tên chúa tể của một khu phố cũng có quyền ban phát sự sống, cái chết cho mỗi người dân. Mỗi tên bạo chúa lại tổ chức một đơn vị cận vệ riêng, gồm những tên đầu trộm đuôi cướp, được trang bị vũ khí đầy người. Chúng còn muốn tổ chức một toán chuyên trách theo dõi các địch thủ chính trị để loại trừ họ. Tổ chức này gọi là “ban I.C” cũng giống như tổ chức do thám (2ème = bureau) phòng nhì của Pháp. Chúng bắt bừa những người Cộng sản, bắt người Do Thái và cả những người dân vô tội, không cần điều kiện gì. Đây là cuộc cạnh tranh đối đầu bất hợp pháp.

    Goering tức giận, nhưng Diehls thì lại nhúng mũi vào tất cả các trại tập trung ấy. Theo Diehls thì hình như có gần 40 trại tập trung kiểu như vậy. Các trại này nhốt đến 40.000 hay 50.000 “kẻ thù của Tổ quốc”.

    Trại tập trung nổi tiếng tàn ác nhất là trại Orianenburg do S.A dựng lên kể từ khi tuyển chọn các viên chức của Gestapo. Và Gestapo cũng gửi các tù nhân của chúng đến trại tập trung ấy. Người ta không động đến các trại này. Ngược lại, ba trại tập trung ở Wuppertal, Hohnstein và Bredow, dưới quyền chỉ huy của các sếp S.A địa phương, đều bị người dân gửi đơn tới Bộ tư pháp phàn nàn về những cách đối xử tàn bạo với tù nhân. Bộ trưởng Bộ tư pháp Gürtner đã chuyển những lời kêu ca ấy tới Hitler và viết thêm “những tù nhân bị đánh đập bằng roi vọt và các dụng cụ tra tấn khác, đến bất tỉnh, mà không có một lý do nào để bắt bớ, đánh đập họ, giống như trại giam an ninh của Bredow gần Stettin, nhưng lại có nhiều cách hành hạ khác”.

    Trại tập trung của Bredow do tên chỉ huy S.A, Karpfenstein thiết lập. Hắn là cựu bộ trưởng Quốc xã (gauleiter) ở Poméramie.

    Goering đã cho đóng cửa trại tập trung này cũng như trại tập trung ở Breslau dơ tên Heines cai quản. Tên Heines là cộng sự thân thiết của Roehm, cũng đồng tính luyến ái như Roehm. Hắn hành hạ người tù bằng cách bạo dâm.

  3. #23
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Ở ngoại ô Berlin, tên Ernst, chỉ huy trưởng S.A, trước làm bồi ở quán cà phê, nay trở thành một nhân vật rất quan trọng của S.A, cũng có trại tập trung riêng. Ernst là một tên có quá khứ đáng nghi ngờ, nên Goering đã xóa bỏ cơ sở của nó.

    Ngược lại, người ta không có cớ gì để can thiệp vào các trại tập trung của S.S ở Dachau. 12 năm sau trại tập trung này do S.S cai quản đã trở thành nổi tiếng. Trưởng trại là tên S.S Führer Eicke đã đặt ra quy định:

    “Tha thứ có nghĩa là yếu đuối. Theo đúng điều lệ, mỗi lần áp dụng sự trừng phạt không thương xót là để cho lợi ích của Tổ quốc và để tạo thú vui. Một công dân tốt lầm lạc sẽ không bao giờ phải chịu điều lệ này. Nhưng những kẻ kích động chính trị và những tên trí thức cầm đầu, dù chúng có ý định gì, sẽ phải nhận điều trừng phạt ấy.

    Các nhân viên S.S hãy đề phòng đừng để cho chúng bắt được mình. Chúng sẽ bóp cổ anh, lặng lẽ giải quyết anh theo đúng kiểu các anh đã làm đối với chúng”.

    Mỗi tên S.S đều hiểu rằng chúng phải nghe theo “lợi ích của Tổ quốc”.

    Tháng 5, hai cựu nghị sĩ Cộng sản là Dressel và Schleffer bị ám sát trong trại tập trung Dachau. Cũng trong thời kỳ này, từ 16 đến 27-5 bốn người khác cũng bị ám hại bởi bốn tên lính gác S.S. Điều đó chứng tỏ chuyện giết người của chúng là bình thường.

    Ngày 24-5 tiến sĩ Alfred Strauss, luật sư ở Munich, sau khi bị tra tấn dã man vào lúc buổi sáng đã bị chúng bắn hai phát đạn vào sau gáy. Bác sĩ pháp y cho biết: “Thân thể nạn nhân có nhiều vết thương trí mạng thâm đen, bầm tím, và những vết loét to rộng”.

    Ba người tù khác là Leonhard Hausmann, Louis Schloss và Sebastian Nefzger, cũng bị giết hại trong hoàn cảnh giống như thế.

    Viện kiểm sát ở Munich không hoạt động theo quốc xã, những người có lương tri muốn đưa ra thông tin về các vụ giết người. Ban lãnh đạo S.S đã trả lời rằng bốn người tù bị giết trong lúc họ định chạy trốn. Nhưng theo bác sĩ pháp y thì nạn nhân, tiến sĩ Alfred Strauss một bàn chân còn đi bít tất ngắn. Một nạn nhân khác trần truồng còn thấy rõ vết thương. Và viên đạn bắn vào gáy ở tầm gần.

    Các trại tập trung của S.A bị đóng cửa rõ ràng không phải vì những hành động đồi bại mà chúng đã đối xử với người tù, mà chỉ vì đơn giản chúng do S.A cai quản. Điều đó thì Roehm và các bạn của hắn biết rất rõ. Họ có đánh trả không?

    Một sáng, Gestapo ở Berlin dẫn hai người tù đến trại tập trung Orianenburg. Theo thói quen thông thường, hai người tù này đều ở tình trạng thảm hại. Chúng phải tiến hành hỏi cung họ ngay. Lần này người ta đã tự kể ra và thấy rõ sự phẫn nộ thực sự. Trưởng trại tập trung là Schäfer đã báo tai nạn này lên cấp trên là Schutzwechsler. Chính tên này cũng thấy bị sốc về cách đối xử tàn bạo của bọn Gestapo. Cả hai đi tàu về Prinz Albrechstrasse, nơi có trụ sở của Gestapo để “yêu cầu giải thích”. Bọn Gestapo đã tiếp hai người rất lịch sự, hứa sẽ tìm ra thủ phạm và sẽ trả lời họ vào ngày mai.

    Ngày mai, câu trả lời qua điện thoại “trại tập trung ở Orianenburg đã bị giải tán vì lý do hành hạ tàn ác với người tù. Đang có chuyến tàu chở những người bị giam giữ đến trại tập trung mới do S.S quản lý ở gần Ems”. Trưởng trại Schäfer chỉ còn thời gian nhảy về Berlin để kể chuyện này cho ông bộ trưởng Grauert biết. Ông này thấy mầm mống cuộc đối địch quan trọng nên định hòa giải. Trại tập trung Orianenburg không bị giải tán mà vẫn tiếp tục hoạt động dưới quyền bảo trợ của Schäfer.

    Đây chỉ là một trong những thời kỳ xẩy ra chiến tranh thực sự giữa các tổ chức Quốc xã chống lại nhau và cùng kết thúc với chế độ Quốc xã.

    Ngoài ra cũng còn một vài bản báo cáo của cá nhân nhưng chỉ được dàn xếp kết thúc trong phòng xử án của tòa án quốc tế ở Nuremberg. Những sự tranh giành như vậy thường đạt đến mức độ căm hờn phi thường.

    Những sự tranh giành này đều bắt nguồn từ cuộc chạy đua vào các chức vị, vào danh vọng, vào lợi ích, không phải lý do về sự xứng đáng, về khả năng, về giá trị đạo đức mà chỉ là sự lợi dụng tình thế hỗn loạn lúc bấy giờ, là ưu thế trong chốc lát của các phe cánh hay của kẻ có thế lực. Tổ chức nào cũng muốn vượt trội hơn các tổ chức đối địch, nhất là về quyền hạn.

    Những bộ phận khác nhau bên trong nội bộ các tổ chức ấy cũng có những cuộc đấu tranh tương tàn để chia sẻ quyền lực.

    Gestapo cũng không tránh khỏi. Nhưng bề ngoài, dân chúng chỉ thấy Gestapo là một bộ phận khăng khít, thống nhất, lạnh lùng và ghê gớm, dù thực tế đó chỉ là một lũ cua bọ lúc nhúc chen nhau trong cái thúng.

  4. #24
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    6
    Vị trí của Diehls, được Goering nâng đỡ là không thể thay thế, đã lôi kéo nhiều sự thèm muốn của những kẻ khác. Nhiều tên muốn hạ gục Diehls, để hy vọng ngồi vào chiếc ghế ấy. Bởi vì theo lệ của quốc xã, kẻ tố giác một người nào đấy sẽ được trả công bằng cách được thay thế vị trí của kẻ đã bị xử. Những kẻ thù của Goering nhằm vào Diehls để mở đầu cho sự sụp đổ chức vị bộ trưởng - thủ tướng của Goering. Đứng trước những âm mưu ấy, Diehls đã khôn khéo, quanh co, dùng mọi thủ thuật để đối phó.

    Một hôm, một trong những kẻ thù của Diehls bị sơ hở. Sau cuộc vận động yêu sách giả đạo đức để chống lại những thủ tục của Gestapo, Diehls đã gửi một tập hồ sơ lên tổng thống Hindenburg, qua các tướng lĩnh có tín nhiệm của tổng thống. Diehls nhằm vào Frick, người phản đối cánh Goering đã loại trừ quyền kiểm soát của ông ta đối với Gestapo. Thủ đoạn của Diehls diễn ra nhanh. Frick chất vấn Goering. Goering giải thích là chỉ có thể xử lý những hành động quá đáng lẻ tẻ do cấp dưới gây ra vì quá sốt sắng.

    Theo sắc lệnh, một ủy ban chịu trách nhiệm cải tổ Gestapo và phải áp dụng những hình phạt đối với tổ chức này. Đồng ý như vậy nhưng ủy ban này không bao giờ được thành lập. Để xoa dịu ông thống chế, Goering đành phải thí tên Diehls.

    Cuối tháng 9-1933, Diehls bị cách chức. Nhưng bù lại Diehls được làm phó giám đốc cảnh sát ở Berlin ngay ngày hôm ấy. Được yên thân ở hậu trường, Diehls, tên “sáng tạo” thực thụ ra tổ chức Gestapo, hiểu ra ngay những ngoắt ngoéo của vụ này. Coi khinh nhiệm vụ mới, Diehls lo xa đã tìm cách vượt qua biên giới sang Tiệp Khắc để chờ sự kiện mới xẩy ra ở Bohême nước Áo, nhưng ngay cả nơi này cũng không hề yên ổn.

    Goering đã bị một đòn. Việc đuổi Diehls là sự chiến thắng của những kẻ thù của Goering. Goering tìm cách chống đỡ. Y tìm một tên Quốc xã già dặn trong nghề thay thế cho Diehls. Tên Paul Hinkler, một chiến binh của đội bảo vệ cũ mà tính chính thống quốc xã không có vấn đề gì. Hinkler là bạn thân của Wilhelm Kube, cựu chỉ huy toán quốc xã ở Landtag Phổ, và là Oberpräsident ở Brandebourg (Phó chủ tịch Đảng Quốc xã ở Brandebourg).

    Hinkler nhận nhiệm vụ. Nhưng Goering biết rõ một điều mà hắn không muốn nói ra: Hinkler là tên nghiện rượu rất nặng. Hinkler cũng đã phải ra tòa vì phạm vào tội giết người, nhưng được trắng án. Thực ra Hinkler chỉ là tên khốn nạn nhà nòi và là tên nghiện rượu.

    Diehls ở nơi ẩn trốn tại vùng quê hẻo lánh, vẫn tiếp tục theo dõi các sự kiện. Vụ xét xử những kẻ đốt trụ sở Quốc hội bắt đầu mở từ ngày 21-9, tám ngày sau khi Diehls trốn khỏi nước Đức. Chính Diehls đã chỉ huy cuộc điều tra nên hắn hiểu rất rõ những bí mật về những thời kỳ sóng gió ấy.

    Việc xét xử này làm dư luận nước ngoài rất quan tâm. Những người Đức trốn tránh cố đưa ra sự thật về vụ việc. Diehls hiểu ngầm là nếu đưa được vụ này ra ánh sáng thì hắn có thể trở về nhà an toàn.

    Ở Berlin, Hinkler đã làm nhiều điều lố lăng. Vào cuối tháng 10, chưa đến ba mươi ngày sau khi nhậm chức, hắn đã bị cách chức ngay. Diehls được gọi khẩn cấp về nhậm chức vụ cũ. Một trong những hành động đầu tiên của hắn là ra lệnh bắt giam ngay Hinkler. Mới sáng tinh mơ, lính Gestapo đến đập cửa. Hinkler vẫn mặc quần áo ngủ, nhảy qua cửa sổ, chạy qua vườn ra tới Tiergarten. Một toán tuần tra đã bắt giữ, dẫn hắn về bốt. Hinkler phải cầu cứu đến Kube, cựu chỉ huy toán Quốc xã ở Landtag Phổ.

    Sau đòn cảnh cáo ấy, Diehls trở lại công việc và cách làm cũ của hắn. Goering đã cảm thấy tiếng xé gió của viên đạn, nên tìm cách chống đỡ bằng cuộc tấn công mới. Ngày 30-11-1933, với quyền lực của bộ trưởng - thủ tướng Phổ, y ký một sắc lệnh mang tính cách mạng, đánh vào tổ chức cảnh sát chính trị: Gestapo, với quyền hạn của Bộ Nội vụ. Với sắc lệnh này, Gestapo phải đặt dưới quyền của cá nhân Goering.

    Việc tách một nhánh của lực lượng cảnh sát thể hiện một tính pháp lý quái gở. Nhưng đối với bọn Quốc xã mọi hình thức pháp lý đều không còn quan trọng.

    Cũng ngày hôm đó, Goering ra sắc lệnh bắt giữ vài người trong hội đồng cải tổ và kiểm soát thành lập bởi Diehls. Lệnh bắt không được thi hành nhưng y cũng đạt được mục đích: Báo động cho những ai muốn xoi mói Gestapo. Đầu năm 1934, báo Hearst xuất bản ở Mỹ, đăng một bài của Goering. Hắn viết: “Chúng tôi bị tước quyền hợp pháp chống lại kẻ thù của dân tộc (...) Chúng tôi, những người Quốc gia - xã hội cố gắng nêu cao việc chống lại những sự nương nhẹ và chủ nghĩa nhân ái giả dối (...) Chúng tôi không cần biết đến những sáng kiến dối trá của các luật sư và cả những thể thức hành chính phiền toái, tế nhị của nền pháp lý”.

    Đúng thế, bọn Quốc xã không bao giờ biết đến những phiền toái của luật sư, chỉ duy một lần chúng sử dụng để quảng cáo, khua chiếng, gõ trống cho một vụ xét xử lớn. Nhưng mưu đồ ấy đã chống lại chúng.

  5. #25
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Ngày 21-9-1933, tòa thượng thẩm liên bang mở cuộc xử án tại tòa án Leipzig về màn thứ hai của thảm kịch hồi tháng 2, làm rung động cả nước Đức và thế giới. Bảy tháng trước khi mái vòm cung điện của Reichstag gần như bị đổ sập do ngọn lửa gây ra thì cả nước Đức tự do cũng sụp đổ với nó trong đống than hồng còn khủng khiếp hơn. Và nay những chủ nhân mới của Reich muốn biện bạch trước dư luận quốc tế, bởi vì từ ngày xẩy ra vụ cháy, chưa có ai chi kinh phí để đưa ra xét xử câu chuyện hoang đường về âm mưu của Cộng sản, một câu chuyện bịa đặt để lấy cớ phát động cuộc trấn áp không thương xót, tiêu diệt địch thủ của phe Quốc xã.

    Chánh án Bünger, ông quan tòa già, đầu bạc trắng, xung quanh có 4 hội thẩm viên mặc áo choàng đỏ, ra mắt trước 54 cử tọa là những người xứng đáng nhất, cố gắng giữ phẩm cách trong các cuộc tranh luận mà ông luôn bị mất phương hướng.

    Trong ngăn ngồi của các bị cáo, có 5 người khác nhau về lời khai cung. Đó là Van der Lubbe, người Hà Lan, hơi đần độn, bị bắt ngay trong tòa nhà Quốc hội lúc nó đang bốc cháy, hiển nhiên là thủ phạm. Bên cạnh Lubbe là Torgler, cựu bí thư một chi bộ Cộng sản, nhà diễn thuyết nổi tiếng nhất của K.P.D (Đảng Cộng sản), một người bình dân nhất sau ông Ernest Thaelmann, tổng bí thư K.P.D; đã bị tống giam ngay sau khi tự đến trình diện với cảnh sát vào ngày hôm sau xẩy ra vụ cháy với mục đích tự minh oan. Ông bị kết tội do lời khai của hai kẻ làm chứng đáng nghi ngờ là hai nghị sĩ Frey và Karwahne, cựu đảng viên Cộng sản nhưng đã hợp tác với N.S.D.A.P. Hai kẻ này tuyên bố vào ngày xẩy ra vụ cháy, là đã nhìn thấy ông Torgler đi cùng với tên Lubbe vào tòa nhà Quốc hội. Chỉ lời khai đó đã đủ làm hài lòng chánh án. Ba người khác bị kết tội là những người quan trọng hơn. Đây là ba người Bungari bị bắt trong trường hợp rất lạ lùng. Một tên là Helmer, người phục vụ trong quán cà phê, đã nhìn thấy ảnh tên Van der Lubbe trên các báo chí. Hắn cũng xem tờ thông cáo thưởng 20.000 Mác cho những ai bắt giữ được tội phạm. Helmer nhớ ngay ra là đã thấy Lubbe ở quán ăn. Hắn đi cùng với ba người và chắc chắn ba người này đều là Bôn-sê-vích.

    Làm sao quán ăn của ông Bayernhof sang trọng là thế mà tên ma cô Lubbe lại có thể đến đây? Chi tiết ấy khó tin. Cảnh sát giương cái bẫy ở quán ăn của Bayernhof. Ngày 9-3, chúng đã bắt ba người khách hay lui tới quán. Đó là bác sĩ Hediger và ông Panef, có giấy tờ hợp pháp. Còn người thứ ba không có giấy tờ gì.

    Chỉ mất vài phút cảnh sát phát hiện ra ngay những giấy tờ của hai người trên cũng là giả. Ba người này được điều tra ra ngay là ba người Bungari, tên là Blagoj Popoff, Wassil Taneff và Dimitroff.

    Ban tham mưu của Gestapo hết sức vui mừng khi nghe đến cái tên Dimitroff. Đó chính là bí thư Đảng Cộng sản bí mật ở Tây Âu, lần đầu bị bắt ở Bungari và bị kết án 20 năm tù. Lần thứ hai bị bắt và bị kết án 12 năm tù.

    Hai người đi cùng với Dimitroff cũng bị Bungari kết án mỗi người 12 năm tù về tội hoạt động chính trị. Họ đã trốn khỏi Bungari, sang Nga, ở lại nước này một thời gian dài, rồi trở lại Đức với ý định tìm cách về Bungari. Họ đều khẳng định chưa bao giờ biết đến tên Lubbe và cũng chỉ nghe đến cái tên Torgler, mà không biết người.

    Khi ba người này đã bị bắt, có gần mười người chạy đến Gestapo nói là trông thấy họ đi cùng với Torgler và Van der Lubbe vào quán ăn và vào trụ sở Quốc hội, mang theo những cái hòm, đứng rình ở đại sảnh, trong những vị trí đáng nghi ngờ. Dimitroff bình tĩnh nghe những lời chứng, vì ông tin chắc vào ngày xảy ra vụ cháy, ông không có mặt ở Munich.

    Năm người đã bị kết án. Như vậy họ đều quen biết tên Lubbe không thể chối cãi được, và bị bắt quả tang.

    Vụ xét xử làm dư luận quan tâm. Có 120 phóng viên trên toàn thế giới (trừ Liên Xô) không chấp nhận phiên tòa này, đều có mặt ở phòng xử án. Hitler nóng lòng chờ phiên tòa kết thúc với bản án “không thương xót” để đưa ra đợt tuyên truyền chống Cộng sản.

    Nhưng trước phiên tòa mở ở Leipzig vài ngày, cũng có một phiên tòa khác xét xử về chính vụ này. Những người Đức di cư sang Pháp, Hà Lan, Anh, và cả người ở Hoa Kỳ đã báo động trước dư luận thế giới. Họ đã tiến hành cuộc điều tra, thu thập những chứng cớ, đăng những tấm ảnh và các tài liệu để tái dựng lại sự thật: Trụ sở quốc hội bị chính bọn Quốc xã đốt để buộc ông già Hindenburg phải ký những điều luật quan trọng và để bào chữa cho sự trấn áp rầm rộ.

  6. #26
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    75
    Ngồi trong ghế bành, chánh án Bünger theo dõi phiên tòa bằng con mắt sợ hãi. Ông hiểu rằng phiên tòa này gõ tiếng chuông báo tử cho nghề nghiệp của ông. Đứng trong khu vực bị cáo, ông Dimitroff không giấu được sự hài lòng. Goering vẫn còn bối rối vì cơn giận dữ, chằm chằm nhìn vào ông với ánh mắt đe dọa và cố giữ bình tĩnh. Ông Dimitroff bị cáo đã hỏi ông bộ trưởng - chủ tịch và hắn đã trả lời.

    Một cuộc đối thoại không thể tưởng được đã nổ ra. Ông Dimitroff đã chất vấn:

    - Ngày 28-2 và những ngày tiếp sau ông bộ trưởng Bộ nội vụ đã làm gì? Và tại sao những việc làm của tên Lubbe lại dễ dàng bị phát hiện như vậy?

    - Tôi không phải là một nhân viên cảnh sát tư pháp. Tôi là bộ trưởng. Điều quan trọng nhất đối với tôi là chú ý đến đảng mà tư tưởng của họ đã đè nặng lên thế giới và họ phải chịu trách nhiệm về điều đó.

    Trả lời câu hỏi ấy, Goering đã bị rơi vào tấm lưới bẫy của Dimitroff khiến hắn chuyển hướng sang tranh luận về chính trị. Dù rằng là tư lệnh cao cấp của N.S.D.A.P, Goering cũng không đủ tầm vóc để đối đầu với một kỹ thuật gia về phép biện chứng của người mác-xít. Chỉ trong nháy mắt, Goering đã quay sang cuộc mít tinh tuyên truyền cho Cộng sản. Hắn tức giận đến sùi bọt mép, rủa địch thủ và gào lên: “Mày chỉ là tên vô lại đáng treo cổ”.

    Ông chánh án can thiệp và nhắc Dimitroff không được tuyên truyền cho Cộng sản. Với giọng nói hòa giải, ông nhấn mạnh: “Ông Dimitroff, ông hãy đề cập đến những vấn đề liên quan đến vụ án”.

    Ông Dimitroff trả lời: “Xin cảm ơn ông chánh án. Tôi rất vui lòng về câu trả lời của ông bộ trưởng!”

    Goering lại gào lên: “Đồ lưu manh! Cút đi! Đồ lưu manh. Tao sẽ lại cho bắt mày!”

    Trong khi người ta đẩy tên Goering ra khỏi phòng xử án đang hỗn loạn thì ông Dimitroff lại thách thức Goering: “Ông sợ rồi phải không? Ông bộ trưởng! Ông sợ rồi phải không?”

    Vụ thông đồng của tên Van der Lubbe với những người bị kết tội đã xếp lại, và chỉ có Van der Lubbe là bị kết là Cộng sản.

    Nhưng lại có cuộc tranh luận khác nổ ra: Nếu tên Lubbe đúng là Cộng sản thì nó không phải là đảng viên từ năm 1931 được. Cuộc điều tra của Kriminal Polizei (Kripo - cảnh sát hình sự) đã chứng minh rõ ràng như vậy.

    Ngày 23-12, phiên tòa đưa ra bản án: Van der Lubbe bị kết án tử hình. Bốn bị cáo khác được trắng án!

  7. #27
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Báo chí thế giới bình luận về sự kiện này, những người Đức lưu vong đã chiến thắng. Do các điều luật, các công tố viên Đức không thể kết tội những người bị oan. Khi biết được bản án này Hitler đã nổi cơn điên giận.

    Tuy vậy Goering vẫn không chịu từ bỏ con mồi. Hắn nói với ông Dimitroff: “Tao sẽ gặp lại mày!”

    Đúng thế thật! Mặc dầu tòa án tuyên bố họ trắng án, nhưng bốn lãnh tụ Cộng sản vẫn bị bắt giam. Họ chỉ được trả tự do vào ngày 27-2 do sức ép của dư luận quốc tế ngày càng tăng.

    Khi được ra khỏi nhà tù, Torgler phải chuyển sang trại tập trung. Để đổi lại sự tự do, Torgler đã bán mình cho bọn Quốc xã.

    Ngày 10-1, người ta công bố tên Lubbe đã bị xử tử trong sân nhà tù ở Leipzig. Nhiều người ở Đức nghi ngờ sự thật về vụ tử hình ấy. Theo luật pháp, gia đình Lubbe đã nhiều lần gửi đơn đến chính quyền Đức xin được đưa thi hài về Hà Lan, nhưng họ không bao giờ được thỏa mãn yêu cầu đó.

    Người ta thấy, một khi Lubbe đã là một tên quá khích thì tại sao bọn Quốc xã còn phải chần chừ loại bỏ, theo cách hợp pháp nhất, một tòng phạm khó chịu như vậy!

    Chính vì Gestapo không muốn để lại dấu vết gì sau chúng1.

    Tại sao người ta không viết câu ngạn ngữ bằng tiếng La tinh “Is fecit cui prodest” trên đống tro tàn của tòa nhà Reichstag?

    Vụ án chắc chắn sẽ được sử dụng tốt cho bọn Quốc xã. Chúng cần có vụ cháy này để biện bạch cho những hành động trấn áp, củng cố vai trò của Gestapo và phụ họa cho cuộc vận động bầu cử của Hitler.

    Một giờ sau khi biết tin về vụ cháy trụ sở Reichstag, Hitler và Goering, được tên Diehls hướng dẫn đã đứng nhìn tòa nhà bốc cháy. Sau đó Diehls đưa Hitler và Goering đến chỗ hành lang của tòa nhà, chưa bị ảnh hưởng của đám cháy, bàn luận về những tác động đầu tiên từ đám cháy.

    Thoạt đầu, nhìn thấy ngọn lửa bốc lên dữ dội, Hitler kêu lên “Đây là dấu hiệu của Thượng đế. Không kẻ nào có thể ngăn cản chúng ta dùng bàn tay sắt để xóa bỏ những tên Cộng sản!”

    Ngày 31-1, Goebbels viết trên tờ báo của hắn: “Những nét lớn trong việc tiến hành cuộc đấu tranh chống lại hiểm họa đỏ đã được thỏa thuận trong cuộc họp với Hitler. Bây giờ chúng tôi không cần phải dùng những biện pháp chính trị nữa. Chỉ còn là thời cơ để chúng tôi đánh mạnh khi bọn Cộng sản gây ra cuộc cách mạng”.

    Cần phải để những người Cộng sản “gây ra cuộc cách mạng” để người ta có thể phát động những biện pháp chống lại. Nhưng thời gian đã qua đi, không có “cuộc cách mạng” nào nổ ra và cuộc bầu cử đang đến gần. Vụ cháy cũng đã kết thúc như là một ân huệ của Thượng đế đúng trước một tuần của cuộc bầu cử ấn định. Goebbels đã có thể từ đó tổ chức tiến hành những biện pháp đáng kể.
    _________________________________________
    1. Tuần báo Đức Der Spiegel ngày nay đã đăng bài nghiên cứu kỹ lưỡng với ý đinh chứng tỏ vụ đốt cháy Reichstag chỉ do mình tên Van der Lubbe gây ra. Tôi không muốn tổng hợp những kết luận của việc nghiên cứu rất nghiêm túc ấy, vì còn nhiều điểm quan trọng chưa được giải thích rõ. Vụ án Reichstag còn làm chảy nhiều mực.

  8. #28
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Ngày 22-2, năm ngày trước khi xảy ra vụ cháy, Goering ký lệnh chuyển đơn vị S.A sang trợ giúp cho lực lượng cảnh sát trật tự. Không có lực lượng S.A này thì việc bắt bớ người hàng loạt trong vài giờ không thể thực hiện vào đêm và sáng hôm sau ngày xảy ra vụ cháy. Danh sách những người sẽ bị bắt được ghi từ lâu, nhưng cần phải có một người đáng kể để bị xử tử.

    Một chi tiết khác: Vụ cháy xẩy ra trong thời điểm vận động bầu cử. Theo thói quen, Hitler đã sử dụng đến tối đa các biện pháp cho cuộc vận động bần cử. Goebbels đã lên lịch bầu cử phân phát trong Đảng Quốc xã từ ngày 10-2. Hàng ngày Goebbels còn diễn thuyết trong nhiều cuộc họp, thường ở các địa điểm cách nhau khá xa. Hắn không chịu để mất một giờ nào trong thời gian quý báu ấy.

    Nhưng ngày 10-2, đã có một chi tiết bất ngờ: Không có cuộc họp nào được ấn định vào ngày 25, 26, 27 tháng 2 và người ta còn báo trước là tên độc tài Goebbels không thể diễn thuyết trước công chúng vào ngày 27-2 được.

    Đây là sự trùng hợp kỳ lạ. Vì đúng vào tối hôm ấy xảy ra vụ cháy trụ sở Reichstag.

    Vì sao những nhân viên điều tra, những người cảnh sát có mặt đầu tiên ở hiện trường vào lúc 21 giờ 15 phút, nghĩa là chỉ sau vài phút khi xảy ra thảm họa, lại đã nhìn thấy nhiều chỗ cháy? Có tới 60 hay 65 đám cháy cùng bốc lên một lúc. Phần lớn các đám cháy là do hóa chất gây ra, những cột lửa khổng lồ bốc lên từ nền của phòng hội họp.

    Báo Der Ring số thứ hai, ra vào tháng 3 của Heinrich Von Gleichen, hội viên của Herrenklub, đã đăng một bài chấm dứt về vấn đề này: “Tại sao mọi điều ấy lại có thể xảy ra? Có thực chúng ta đang ở trong đất nước của những con cừu mù? Đâu là những kẻ gây ra tội ác này? Có phải chính họ làm việc này không? (...) Có thể là những kẻ có máu mặt trong xã hội Đức, hay là người nước ngoài?”

    Ngay sau đó bài báo đã bị cấm. Nhưng nó cũng đã đi vào mọi ý nghĩ của toàn thế giới.

    Goering và Goebbels đã thét lên trên làn sóng vô tuyến “Tội ác này chỉ có thể do bọn Cộng sản gây ra!”

    Hôm sau ngày xảy ra vụ cháy, Gestapo và Kripo (Kriminal Polizei) đã khám xét ngôi nhà Karl Liebknecht, là trụ sở của Đảng Cộng sản. Nhưng ngôi nhà này đã bị những tên bạo chúa cướp hết cả đồ đạc và đã bị cảnh sát canh gác từ hơn một tháng rồi.

    Tuy thế chúng cũng phát hiện ra nhiều tài liệu, “hàng tạ tài liệu”, mà theo Goebbels nói thì toàn là những tài liệu quan trọng dựng nên kế hoạch dùng sức mạnh trong toàn nước Đức để lật đổ Quốc xã. Một loạt của sự khủng bố đỏ được thực hiện là dấu hiệu của vụ cháy trụ sở Reichstag. Họ phân phối rộng rãi chi tiết kế hoạch đã bị thất bại do sự cảnh giác nhạy bén của những người Quốc xã yêu nước.

    Những tài liệu đó là chứng cớ không thể chối cãi được, không bao giờ được phổ biến rộng rãi, mặc dù có nhiều báo chí nước ngoài yêu cầu nhưng cũng không có một văn bản chính thức nào được đưa ra sau vụ xét xử.

    Thế thì những cảnh sát chịu trách nhiệm điều tra đã làm gì?

  9. #29
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    169
    Có nhiều người cho rằng, một tên Rall nào đấy, đã tái phạm tội, bị bắt quả tang vài tuần lễ trước ngày xảy ra vụ cháy vì vi phạm luật công cộng, nghĩ rằng có thể thoát tội bằng vài việc tố cáo. Hắn xin được làm nhân chứng “cho một vụ án khác”.

    Hắn khai nhận: “Tháng 2 tôi thuộc đơn vị bảo vệ cho ông Karl Ernst và tôi đã tham gia vào vụ đốt cháy Reichstag”.

    Vẫn cái giọng ấy, hắn còn kể tiếp: “Ông Goering và ông Goebbels đã cho tôi biết tên những người cùng tham gia. Hai ông còn hướng dẫn cho tôi những chi tiết trong hành động”.

    Trong khi tên Rall tiếp tục khai, ông thư ký tòa án vừa ghi vào biên bản và càng thấy ngạc nhiên về chuyện này.

    Tên Rall nói: “Một tối vào cuối tháng 2, ông Ernst triệu tập mười người trong đội bảo vệ tin cẩn. Tôi là một trong số mười người đó. Họ cho chúng tôi biết kế hoạch hành động và địa hình bên trong tòa nhà Reichstag. Mở đầu chiến dịch này là đốt Reichstag. Ngay tối hôm gây ra vụ cháy, chúng tôi được xe tô chở đến Reichstag vào lúc 18 giờ. Chúng tôi phải xuống tầng hầm chờ ở đấy độ hai hay ba giờ để Karl Ernst cho hiệu lệnh. Mỗi người chúng tôi nhận một chiếc hộp vuông chứa chất gây cháy và phải thật thuộc vai trò của mình bằng cách diễn đi, diễn lại nhiều lần...”

    Trong lúc chờ đợi, đã có một sự việc xảy ra mà chúng không được biết.

    Vào lúc 21 giờ Ernst đến và ra hiệu. Mười tên xuống đường hầm, chui vào Reichstag và tỏa ra khắp nơi trong tòa nhà vào giờ này đã vắng. Chúng rải các chất gây cháy, và trong mười phút, chúng đã làm xong công việc, quay lại con đường cũ, thoát ra phía dinh chủ tịch Quốc hội.

    “Hành động cùng thời gian ấy” mà người ta chờ nó xảy ra để phát dấu hiệu, chỉ có thể là việc “hướng dẫn từ xa” của tên Lubbe, được “các bạn” của nó gây ra cho nó tình trạng tâm thần. Và trong khi “con hươu non chưa mọc sừng”, bị say ma túy, bị ám thị, đã đến trước tòa nhà Reichstag, trong túi có đầy diêm, trèo thang lên mặt tiền đập vỡ của kính, đúng lúc này 10 tên S.A tỏa ra khắp các phòng, vứt các hộp vuông vào nơi đã ấn định trước, rồi rút lui dưới sự che chở của Goering. Bởi vì Goering không thể nghĩ ra chuyện này, nhưng được Goebbels gợi ý, y đã đồng ý ngay.

    Theo Gisevius, chi tiết này chứng tỏ chỉ có một người giữ vị trí chiến lược vào lúc mà sự kiện này có thể thu được kết quả. Goering đã ủy nhiệm cho Diehls từ lúc lên kế hoạch cho đến việc đánh lạc hướng điều tra, đề phòng những tình huống bất ngờ.

    Tên Rall là một trong những tình huống bất ngờ ấy.

    Reineking, thư ký tòa án ghi chép những lời khai của tên Rall, cũng là Quốc xã, là cảnh sát chìm của S.A cài vào tòa án. Hắn không có cấp bậc gì, nhưng thấy rõ dịp may để tiến thân bằng cách báo cáo lại sự việc với các ông trùm. Hắn tin rằng tên Rall đã khai sự thật, có nhiều chi tiết chính xác, nhất là về cách làm việc độc đoán, cách kiểm soát đội bảo vệ, của Karl Ernst. Reineking thường xuyên phải ghi lại các lời khai của nhân chứng. Hắn vội báo động cho sếp của hắn biết việc tên Rall đã khai báo sự thật của vụ đốt cháy Reichstag.

    Trước sự kiện quan trọng này, Goering và Goebbels vội đến ngay trụ sở chính của S.A, ra lệnh cho chuyển mười tên tham dự vào việc đốt tòa nhà cho Gestapo.

    Các phái viên được cử đi đến khắp nơi. Gestapo vội vàng đến Leipzig ngăn bưu điện để thu lại bức thư của tòa án ở Neuruppin gửi cho bồi thẩm đoàn của tòa thượng thẩm. Bức thư này có sao lại bản khai cung của tên Rall.

    Trong khi ấy Gestapo đã tống tên Rall vào nhà tù ở Neuruppin và nói với tòa án là chúng cần chứng cớ. Tên Rall được chuyển ngay về trụ sở Gestapo ở Berlin và bị hỏi cung suốt 24 giờ liền.

  10. #30
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    PHẦN THỨ HAI
    GESTAPO ÁP DỤNG CÁCH THỨC CỦA NÓ
    1934 - 1936


    1. Himmler nắm quyền chỉ dạo Gestapo

    Năm 1933, Goering do bị tòa án xét xử trong vụ đốt tòa nhà Reichstag, đã chấm dứt nghề nghiệp của hắn. Phiên tòa này chính là sự thất bại của bọn Quốc xã, đánh vào uy tín của chúng trong toàn nước Đức và trên cả thế giới. Ngày 1-1-1934 Goering nhận được lá thư thỉnh cầu của vị “hoàng đế” của hắn (chỉ Hitler) buộc y nghỉ việc.

    Nhớ lại cuộc đảo chính năm 1923, việc cải tổ S.A mà hắn lãnh đạo, việc giữ vai trò đầu tàu trong thời kỳ chuẩn bị nắm quyền lực vào ngày 30-1, Goering đã xin “hết lòng cảm ơn” “hoàng đế” về những việc làm “lỗi lạc” của hắn, phục vụ cho cuộc cách mạng quốc gia - xã hội và cuộc đi lên của toàn dân tộc Đức, nay đã chấm dứt.

    Goering chấp nhận nghỉ việc vài tuần lễ sau khi nhận lá thư của Hitler, với thái độ vui vẻ giả tạo. Ngành hàng không đã chuyển thành Bộ Hàng không dân dụng, trá hình của tổ chức tái xây dựng bí mật lực lượng không quân đã bị Đồng minh giải tán; Goering trở thành Bộ trưởng Không quân và được chỉ định làm tướng của Reichswehr. Người ta đã thuyết phục thống chế Hindenburg rằng một bộ trưởng tương lai của lực lượng không quân hùng mạnh không có thể chỉ là đại úy.

    Một “liên minh phòng vệ hàng không” do tướng nghỉ hưu Grimme thành lập. Trong liên minh này còn có những nhà xây dựng như Messerschmidt và Heinkel, họ bắt tay làm việc dưới sự chỉ đạo của đại tá Ehrard Milch, người mà Goering đã biết đến lúc còn là đại uý không quân năm 1918, sau đó là tổng thanh tra của Lugtwaffe và cuối cùng là thống chế.

    Khi vụ án về tên Lubbe đã dần lùi về dĩ vãng, Goering lại bắt đầu theo dõi từ từ những vấn đề của cảnh sát. Lúc này Goering không có ý định trao hoàn toàn lực lượng Gestapo của hắn vào tay người khác.

    Năm 1934, hắn viết. “Trong nhiều tuần lễ, chỉ có mình tôi làm việc để cải tổ cơ quan Gestapo bằng chính sáng kiến và sự hoạt động của cá nhân tôi. Công cụ này đã gây ra sự kinh hoàng sâu sắc cho kẻ thù của nhà nước và góp phần mạnh mẽ chống lại hiểm họa Cộng sản hay Mác-xít ở Đức và ở Phổ”.

    Ngày 30-1-1934, nhân kỷ niệm ngày Quốc xã chiếm quyền lực, đã có một sắc lệnh đặt các cơ quan cảnh sát dưới quyền xét xử của Reich. Vì kể từ khi thành lập những Reichtatthalter, sự quản lý hành chính đơn độc của các bang, đến nay chỉ là những cơ cấu cổ lỗ mất hết quyền lực. Nhưng các bang này vẫn phải dùng quỹ ngân sách để trả lương cho cảnh sát cho đến khi có đạo luật mới vào năm 1936.

    Việc “đặt dưới quyền kiểm soát” đã đụng chạm đến Gestapo, nhưng thực tế chỉ là thủ tục về hành chính: Goering vẫn nắm lực lượng Gestapo trong tay.

    Thực ra, hắn đã rất kiêu hãnh về vụ loại trừ trước đây. Hắn vẫn còn cần phải triệt hạ Roehm, một địch thủ nguy hiểm. Điều hắn cần làm là phải thâu tóm Gestapo vào chính tay mình. Nhờ những biện pháp mà hắn có, Goering đã hoàn toàn tự do sắp đặt mọi công việc.

    Sắc lệnh ngày 30-11-1933 đã tách Gestapo ra khỏi Bộ nội vụ Phổ để đặt dưới quyền của Goering.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •