Kết quả 1 đến 2 của 2

Chủ đề: Trận Hà Lan

  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2

    Trận Hà Lan

    Trận Hà Lan (tiếng Hà Lan: Slag om Nederland) là một phần trong "kế hoạch màu vàng" (tiếng Đức: Fall Gelb) - cuộc xâm lược của Đức Quốc xã vào Vùng đất thấp (Bỉ, Luxembourg, Hà Lan) và Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai. Trận chiến bắt đầu ngày 10 và kết thúc ngày 14 tháng 5 năm 1940 khi quân đội chính quy của Hà Lan ra hàng Đức, và Hà Lan trở thành quốc gia Tây Âu đầu tiên rơi vào tay quân đội Đức Quốc xã. Trong trận chiến nước Pháp thì đây là chiến dịch quân sự ngắn nhất và ít thiệt hại nhất đối với Đức. Riêng lực lượng của Hà Lan tại tỉnh Zeeland còn tiếp tục kháng cự với Wehrmacht cho đến ngày 17 tháng 5, khi mà Đức Quốc xã hoàn tất việc chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ.

    Trận Hà Lan là một trong những trường hợp đầu tiên quân dù được sử dụng để đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trước khi bộ binh tiếp cận mục tiêu. Không quân Đức đã huy động lực lượng lính dù nhằm đánh chiếm nhiều sân bay lớn của Hà Lan ở trong và xung quanh các thành phố chính như Rotterdam và Den Haag để nhanh chóng tràn ngập quốc gia này và vô hiệu hóa các lực lượng của Hà Lan.

    Trận chiến đã kết thúc ngay sau cuộc oanh tạc Rotterdam của không quân Đức cùng với mối đe doạ tiếp đó của Đức về việc hủy diệt các thành phố lớn của Hà Lan bằng các đòn ném bom khủng bố huỷ diệt nếu quốc gia này không chịu khuất phục. Bộ Tư lệnh tối cao Hà Lan, biết rằng không thể ngăn chặn được các máy bay ném bom của đối phương, đã quyết định đầu hàng để tránh cho các thành phố khác của mình phải chịu số phận tương tự. Đức Quốc xã sau đó đã chiếm đóng Hà Lan, cùng với nước Pháp và các quốc gia Vùng Đất Thấp khác; cho đến khi lãnh thổ Hà Lan được hoàn toàn giải phóng tháng 5 năm 1945.

    Trận Hà Lan
    Một phần của Mặt trận phía Tây thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai<font color="#5a3696">
    Quân đội Đức tiến vào thủ đô Amsterdam của Hà Lan.

    Thời gian1014 tháng 5 năm 1940

    Địa điểmHà Lan

    Nguyên nhân bùng nổĐức Quốc Xã xâm lược Hà Lan

    Kết quả Chiến thắng quyết định của Đức ,Thành lập Uỷ ban Đế chế Hà Lan

    Thay đổi lãnh thổĐức chiếm đóng Hà Lan

    Tham chiến
    Hà Lan
    Pháp
    Đức Quốc Xã

    Chỉ huy

    Henri Winkelman
    Jan Joseph Godfried van Voorst tot Voorst
    Henri Giraud
    Fedor von Bock (Cụm Tập đoàn quân B)

    Lực lượng
    9 sư đoàn ,676 đại bác ,1 xe tăng ,124 máy bay
    Tổng cộng: 280.000 người
    22 sư đoàn,1.378 đại bác,759 xe tăng,830 máy bay,6 xe lửa bọc thép
    Tổng cộng: 750.000 người

    Tổn thất

    2.332 chết
    7.000 bị thương
    271.668 bị bắt hoặc chạy thoát an toàn
    70 máy bay bị mất
    ~2.000 thường dân bị giết2.500 chết
    5.500 bị thương
    700 mất tích
    2.000 bị bắt</font>

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Bối cảnh
    Anh và Pháp đã cùng nhau tuyên chiến với Đức từ sau cuộc xâm lược Ba Lan năm 1939, nhưng suốt thời gian của Cuộc chiến tranh kỳ quặc mùa đông 1939–1940 đã không có hoạt động trên bộ đáng kể nào được triển khai tại Tây Âu, trong lúc này phe Đồng minh tiến hành xây dựng tích lũy lực lượng và chờ đợi một cuộc chiến tranh lâu dài, và nhờ vậy Đức đã có thể hoàn thành cuộc chinh phục tại Ba Lan . Ngày 9 tháng 10 năm 1939 Hitler đã ra lệnh xây dựng một kế hoạch xâm lăng Vùng Đất Thấp, như một phần trong chiến dịch tấn công nước Pháp.
    Người Hà Lan không có sự chuẩn bị để đối phó với một cuộc xâm lược như vậy. Khi Hitler lên nắm chính quyền tại Đức, người Hà Lan bắt đầu tái vũ trang, nhưng với tốc độ chậm hơn nhiều so với Pháp và Bỉ; cho đến năm 1936 ngân sách quốc phòng mới dần dần được tăng lên.[6] Các chính phủ nối tiếp nhau của Hà Lan có xu hướng lảng tránh việc công khai xác nhận rằng Đức Quốc xã là một mối đe doạ quân sự nguy hiểm. Điều này một mặt là vì mong muốn không phải đối đầu với một đối tác thương mại quan trọng,[7] ngay cả với vấn đề chỉ trích hạn chế đối với các chính sách Quốc xã; mặt khác là do chủ trương tiết kiệm ngân sách một cách nghiêm ngặt không thể không tiến hành mà các chính phủ bảo thủ của Hà Lan áp dụng trong cố gắng vô vọng nhằm đối phó với cuộc Đại suy thoái mà đang đẩy xã hội Hà Lan vào tình cảnh vô cùng khó khăn. Bản thân Hendrikus Colijn, thủ tướng Hà Lan từ năm 1933 đến năm 1939, đã tin chắc rằng Đức sẽ không vi phạm sự trung lập của Hà Lan; và các viên chức chủ chốt trong chính quyền cũng chưa bao giờ thử làm gì để vận động dư luận quần chúng ủng hộ cho việc tăng cường công tác quốc phòng.

    Quân Hà Lan đóng rào chắn cây cầu Nijmegen Waal trong thời gian cuộc khủng hoảng Albania



    Tình hình căng thẳng leo thang trong quan hệ quốc tế vào cuối những năm 1930, với những cuộc khủng hoảng chính trị diễn ra khi Đức chiếm đóng Rhineland năm 1936, việc sáp nhập Áo và vùng Sudetenland - vấn đề của năm 1938, cũng như khi Đức chiếm Bohemia, Moravia và Ý chiếm đóng Albania mùa xuân năm 1939, đã buộc chính phủ Hà Lan phải cảnh giác hơn. Thế nhưng họ đã tự giới hạn tối đa phản ứng của mình, và biện pháp quan trọng nhất được thực hiện cũng chỉ là một cuộc động viên hạn chế 100.000 người vào tháng 4 năm 1939.
    Sau khi Đức xâm lược Ba Lan tháng 9 năm 1939 và tiếp theo là sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai, Hà Lan vẫn hy vọng sẽ giữ được sự trung lập mà họ đã từng có được trong chiến tranh thế giới thứ nhất 25 năm về trước. Để đảm bảo cho điều đó, quân đội Hà Lan đã được động viên ngày 24 tháng 8 năm 1939và bắt đầu cho triển khai công tác phòng thủ. Một khoản ngân sách lớn (khoảng 900 triệu guilder) rốt cục đã được chi cho công tác quốc phòng, nhưng thật khó mà có được trang thiết bị mới trong thời chiến, nhất là khi nguồn hàng này của Hà Lan - chủ yếu nhập từ Đức - hiện tại đang bị cố tình trì hoãn cung cấp. Ngoài ra, một phần đáng kể ngân sách quốc phòng lại được dự định dành cho vùng Đông Ấn thuộc Hà Lan, chủ yếu liên quan đến kế hoạch cho đóng 3 tàu tuần dương thiết giáp mới.
    Anh, Pháp đã cố gắng thuyết phục các quốc gia này không nên ngồi yên chờ đợi cuộc tấn công tất yếu sẽ xảy đến của Đức mà hãy liên kết với phe Đồng minh từ trước; như đề xuất của Winston Churchill trong bài diễn văn trên radio ngày 20 tháng 1 năm 1940 Thế nhưng cả Bỉ và Hà Lan đều cự tuyệt, ngay cả khi bản kế hoạch tấn công của Đức rơi vào tay người Bỉ sau vụ một chiếc máy bay Đức gặp tai nạn trong sự cố Mechelen tháng 1 năm 1940.
    Người Pháp đã cân nhắc đến việc xâm phạm sự trung lập của các quốc gia Vùng đất thấp nếu như họ không gia nhập phe Đồng minh trước cuộc đại tấn công dự kiến sẽ tiến hành vào mùa hè năm 1941. Sự vi phạm này đã được chỉ rõ: nếu Đức chỉ tấn công Hà Lan - lúc này sẽ đòi hỏi phải có một cuộc tiến quân của phe Đồng minh qua Bỉ - hay ngược lại, nếu Hà Lan cho phép Đức tiến quân vào Bỉ qua phần lãnh thổ phía nam của họ, cả hai khả năng là một phần trong giả thuyết Hà Lan. Chính phủ Hà Lan chưa bao giờ chính thức xây dựng một chính sách nào để đối phó trong trường hợp bất ngờ như vậy; đa số các bộ trưởng đều có xu hướng việc chống lại cuộc tấn công đó, số ít khác cùng với Nữ hoàng Wilhelmina thì từ chối việc trở thành đồng minh với Đức cho dù hoàn cảnh có thế nào đi nữa. Hà Lan đã nhiều lần cố gắng làm trung gian hoà giải giữa Đức và Đồng minh, nhằm đạt tới một thỏa thuận hoà bình bằng thương lượng.
    Sau khi Đức xâm lược Đan Mạch và Na Uy mà không tuyên chiến, cùng với cảnh báo của Tùy viên Hải quân Nhật Bản mới là Đại tá Tadashi Meada rằng cuộc tấn công của Đức là tất yếu,giới quân sự Hà Lan thấy rõ rằng đứng ngoài cuộc xung đột là điều không tưởng và họ bắt đầu chuẩn bị nghiêm túc cho chiến tranh, cả về tinh thần và vật chất. Quân đội biên phòng Hà Lan được đặt trong tình trạng báo động cao. Những tin tức về hoạt động của bọn phản quốc tại Scandinavia đã làm lây lan mối lo ngại rằng cả Hà Lan cũng sẽ bị bọn tay chân Đức xâm nhập nhờ sự giúp đỡ của những kẻ phản bội .Nhiều biện pháp đối phó được tiến hành nhằm đề phòng khả năng bị tấn công tại các sân bay và bến cảng.Ngày 19 tháng 4 tình trạng khẩn cấp được ban hành.Thế nhưng, những hoạt động gián điệp của Đức vẫn phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả tại Hà Lan. Có thể chỉ ra ví dụ, viên chỉ huy sư đoàn bộ binh số 207 của Đức đã nắm trong tay một bản đồ chi tiết về các bãi mìn, sở chỉ huy, các công sự và những khu ngập nước thuộc vùng đồi Grebbeberg, một bộ phận quan trọng trong tuyến phòng thủ Grebbe của Hà Lan, hay viên tư lệnh Đức trong trận Den Haag cũng có những tấm bản đồ hoàn hảo về thành phố này, kể cả vị trí của hoàng gia và các chốt phòng thủ trọng yếu. Nhiều tên gián điệp, trong đó có đại uý Kriebel, ngày 23 tháng 2 năm 1940 đã đến Den Haag bằng đường xe lửa, ô tô, và từ đây bắt đầu nghiên cứu vùng đồi Grebbeberg. Thiếu tá Mantey và thiếu tướng Zickwolf, tư lệnh sư đoàn bộ binh số 227 của Đức, cũng là những 'vị khách' đầu tiên tới Hà Lan. Người Đức đã khảo sát tỉ mỉ đồi Grebbeberg từ những pháo đài có tầm nhìn lý tưởng trong vườn thú Ouwehands tại Rhenen. Điều này một phần là do quyết định của thủ tướng Dirk Jan de Geer, khi ông ta thấy rằng ý nghĩa kinh tế của việc mở cửa các pháo đài này quan trọng hơn nguy cơ đối với an ninh quốc gia. Tại các nơi khác cũng để cho yếu tố kinh tế quyết định, và kết quả là đề án triệt hạ cây cối nhằm phục vụ cho công tác phòng thủ tại đồi Grebbeberg và nhiều vị trí khác đã bị bác bỏ do tầm quan trọng của chúng đối với tầng lớp nông dân.
    Thế nhưng hầu hết dân chúng vẫn nuôi ảo tưởng rằng đất nước mình sẽ được an toàn quan điểm này sau chiến tranh đã bị mô tả như một sự phủ nhận mù quáng. Người Hà Lan hy vọng rằng chính sách kìm chế của phe Hiệp ướcLiên minh Trung tâm trong chiến tranh thế giới thứ nhất sẽ được lặp lại và đã cố gắng để tránh thu hút sự chú ý của các cường quốc cũng như né tránh một cuộc chiến tranh mà họ lo ngại rằng sẽ đem đến tổn thất về nhân mạng không kém gì lần xung đột thế giới trước đó. Ngày 10 tháng 4, Anh và Pháp đã lặp lại lời đề nghị Hà Lan tham gia cuộc chiến về phe Đồng minh và một lần nữa gặp phải sự cự tuyệt.
    Lý do chiến lược của cuộc tấn công

    Vị trí chiến lược của Vùng đất thấp, nằm giữa Pháp và Đức và tiếp giáp với cánh sườn trống trải không được bao bọc thuộc tuyến phòng thủ của họ, đã khiến nơi này trở thành tuyến đường tiến công lí tưởng từ cả hai phía. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất người Đức đã cho triển khai kế hoạch Schlieffen, bao gồm một mũi tấn công xuyên qua nước Bỉ để tràn vào Pháp. Kế hoạch này đã bị phá sản do nhiều nguyên nhân. Các nhà sử học quân sự có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Một số người cho rằng kế hoạch đó là quá tham vọng, số khác tin là quân đội Đức trong Thế chiến thứ nhất có đủ khả năng tiến hành một kế hoạch như vậy. Riêng Hitler tin rằng một trong những nguyên nhân là do tuyến đường tiến công bị giới hạn trong lãnh thổ Bỉ như một nút cổ chai. Vì thế, ông ta quyết định rằng cuộc tấn công của Đức nhất thiết phải đi qua khu vực phía nam của Hà Lan tại Limburg. Như vậy là cần phải vi phạm tính trung lập của Hà Lan và sau đó là chiếm đóng toàn bộ nước này. Người Đức đã bỏ qua những tác động sẽ gây ra bên ngoài Châu Âu: vùng Đông Ấn thuộc Hà Lan vẫn đang là một nguồn cung cấp dầu chính cho Nhật Bản trong cuộc chiến chống lại Trung Quốc. (Mà sau đó đã cùng với Anh và Mỹ tiến hành phong tỏa dầu mỏ đối với Nhật và góp phần dẫn đến cuộc tấn công Trân Châu Cảng cũng như việc người Nhật chinh phục Đông Ấn thuộc Hà Lan)
    Trong bức tranh tổng thể của cuộc tấn công vào nước Pháp, chiến dịch tại Hà Lan chỉ là một hoạt động mang tính phụ trợ. Lý do duy nhất để Đức nghiêm túc huy động một đội quân khá lớn chống lại Hà Lan trong chiến dịch này là nó sẽ giúp ngăn ngừa khả năng đe dọa của Đồng minh đối với vùng Ruhr, khu công nghiệp quan trọng sống còn của nước Đức.Ngoài ra, Không quân Đức sẽ có thể sử dụng các sân bay trên lãnh thổ Hà Lan làm căn cứ để ném bom lãnh thổ Anh quốc

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •