Kết quả 1 đến 8 của 8
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0

    Chiến dịch Weserübung

    Chiến dịch Weserübung là mật danh của cuộc tấn công do Đức Quốc xã tiến hành tại Đan Mạch và Na Uy trong Chiến tranh thế giới thứ hai và mở đầu cho Chiến dịch Na Uy. Mật danh này dịch từ tiếng Đức là Chiến dịch diễn tập Weser (Unternehmen Weserübung), với Weser là tên một con sông ở Đức.

    Sáng sớm ngày 9 tháng 4 năm 1940 – ("ngày Weser") – quân Đức đã tấn công Đan Mạch và Na Uy, với lý do nhằm ngăn ngừa một hoạt động đối nghịch đang được lên kế hoạch và bàn luận công khai của Pháp-Anh nhằm xâm chiếm cả 2 quốc gia này. Sau cuộc xâm lăng, đại sứ Đức thông báo với chính phủ Đan Mạch và Na Uy rằng quân đội Đức Quốc Xã đến để bảo vệ các quốc gia trung lập trước âm mưu xâm lược của Anh và Pháp. Sự khác biệt đáng kể về địa lý và khí hậu giữa 2 quốc gia đã khiến các diễn biến quân sự thực tế ở 2 nơi diễn ra hết sức khác nhau.

    Thời điểm đổ bộ tấn công chính thức của hạm đội Đức – ("giờ Weser") – đã bắt đầu lúc 05:15 sáng theo giờ Đức, tương ứng với 04:15 giờ Na Uy.

    Chiến dịch Weserübung
    Một phần của Chiến dịch Na Uy trong Thế chiến thứ hai<font color="#002bb8">
    Trận hải chiến gần Narvik.

    Thời gian9 tháng 4 – 10 tháng 6, 1940

    Địa điểmĐan Mạch, Na Uy, biển Bắc

    Kết quảChiến thắng quyết định của Đức
    • Đức chiến đóng Đan Mạch
    • Đức chiếm đóng Na Uy
    Tham chiến
    Đức Quốc xã
    Na Uy
    Đan Mạch
    Vương quốc Anh
    Pháp
    Ba Lan</font>

  2. #2
    Ngày tham gia
    Apr 2016
    Bài viết
    0
    Chỉ huy
    Leonhard Kaupisch
    Nikolaus von Falkenhorst
    Hans Ferdinand Geisler
    Günther Lütjens
    Eduard Dietl
    Haakon VII
    Johan Nygaardsvold
    Kristian Laake
    Otto Ruge
    Carl Gustav Fleischer
    Christian X
    Thorvald Stauning
    William Wain Prior
    Adrian Carton de Wiart
    Charles Tolver Paget
    Pierse Joseph Mackesy
    Zygmunt Bohusz-Szyszko
    Lực lượng
    9 sư đoàn,1 tiểu đoàn pháo binh.1 lữ đoàn cơ giới súng trường,208 tàu,1.121 máy bay . Tổng cộng:
    120.000 quân
    Na Uy: 6 sư đoàn:
    ~60.000 người
    Đan Mạch: 2 sư đoàn: ~14.500 người
    ~35.000 quân Đồng Minh
    Tổn thất
    Hải quân:
    1 tuần dương hạm hạng nặng
    2 tuần dương hạm hạng nhẹ
    10 tàu khu trục
    Không quân: 1.130 phi hành đoàn
    341 chết
    448 mất tích

    Tổng cộng:
    5.636 chết hoặc mất tích
    341 bị thương
    Hải quân và quân đội Hoàng gia Na Uy:
    1.335 chết
    Đồng minh:
    4.765 chết
    Tổng cộng:
    6.100 chết

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Bối cảnh chính trị và quân sự

    Vào đầu mùa xuân năm 1939, Bộ Hải quân Anh bắt đầu nhận định vùng Scandinavia rất có thể sẽ là một mặt trận chiến tranh trong cuộc xung đột tương lai với Đức. Chính phủ Anh lúc này đang khá miễn cưỡng tham gia vào cuộc xung đột trên các vùng khác thuộc lục địa mà họ tin rằng sẽ là một sự lặp lại của Chiến tranh thế giới thứ nhất. Vì vậy họ bắt đầu xem xét về một chiến lược phong tỏa để cố gắng gián tiếp làm suy yếu nước Đức. Nền công nghiệp Đức phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhập khẩu quặng sắt từ các vùng mỏ phía bắc Thụy Điển, và hầu hết số quặng này trong mùa đông được chuyên chở bằng tàu biển qua cảng biển Narvik ở phía bắc Na Uy. Việc kiểm soát bờ biển Na Uy sẽ giúp Anh thắt chặt thêm cuộc phong tỏa chống Đức.
    Tháng 9 năm 1939, thủ lĩnh Hải quân Đức, Đại Đô đốc Erich Raeder, đã thảo luận với Adolf Hitler về mối nguy hiểm do nguy cơ từ việc Anh quốc có thể đặt được các căn cứ quân sự tại Na Uy gây ra, cũng như khả năng chiếm giữ trước các căn cứ đó của Đức. Phía hải quân lập luận rằng việc sở hữu Na Uy sẽ cho phép Đức kiểm soát cả vùng biển xung quanh và đem lại một căn cứ tiến công phục vụ cho các hoạt động chống lại Anh của lực lượng tàu ngầm trong tương lai. Nhưng vào thời điểm này, các bộ phận khác trong quân đội Đức không tỏ ra hứng thú với kế hoạch, và Hitler lại vừa ban hành một chỉ thị nêu rõ rằng mối quan tâm chính hiện nay là giành cho một cuộc tấn công trên bộ qua Vùng đất thấp.
    Cho đến cuối tháng 11, Winston Churchill, một thành viên mới của Nội các chiến tranh Đế quốc Anh, đã đề nghị cho tiến hành đặt mìn ở vùng bờ biển Na Uy trong chiến dịch Wilfred. Điều này sẽ buộc các tàu chở quặng phải di chuyển qua hải phận quốc tế thuộc biển Bắc, tại đó Hải quân Hoàng gia Anh có thể tổ chức chặn đánh chúng. Churchill phỏng đoán rằng chiến dịch Wilfred sẽ kích động người Đức phản ứng tại Na Uy. Khi điều đó xảy ra, Đồng minh sẽ cho thực hiện kế hoạch R 4 và chiếm lấy Na Uy. Nhưng lúc đầu chiến dịch Wilfred bị Neville ChamberlainThống đốc Halifax bác bỏ, do lo sợ sẽ gây ra phản ứng bất lợi từ các quốc gia trung lập như Hoa Kỳ. Trong tháng 11 năm 1940, Chiến tranh mùa Đông bùng nổ giữa Liên XôPhần Lan làm tình hình ngoại giao thay đổi, Churchill lặp lại đề nghị về dự án rải mìn của mình, nhưng một lần nữa bị từ chối.
    Trong tháng 12, Anh và Pháp bắt đầu xem xét nghiêm túc về việc gửi viện trợ cho Phần Lan. Kế hoạch của họ yêu cầu một lực lượng đổ bộ tại Narvik phía bắc Na Uy, cảng biển chính xuất khẩu quặng sắt từ Thụy Điển, và kiểm soát tuyến đường sắt Malmbanan nối liền Narvik với Luleå trên vịnh Bothnia. Đồng thời, nó còn cho phép quân Đồng minh chiếm giữ khu vực khai thác mỏ quặng sắt của Thụy Điển. Kế hoạch nhận được sự ủng hộ từ cả Chamberlain lẫn Halifax. Họ hy vọng vào thái độ hợp tác của Na Uy, điều này sẽ giúp giải quyết nhiều vấn đề về pháp lý. Nhưng khi được thông báo, kế hoạch này đã dẫn đến những phản ứng tiêu cực mạnh mẽ ở cả Na Uy và Thụy Điển. Cuộc viễn chinh này vẫn tiếp tục được bàn bạc cho đến khi lý do để tiến hành nó bị loại bỏ vì Phần Lan yêu cầu Liên Xô đàm phán hòa bình tháng 3 năm 1940.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Kế hoạch

    Tin chắc vào mối đe dọa mà Đồng minh gây ra đối với nguồn cung cấp quặng sắt, Hitler đã ra lệnh cho Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang Đức (OKW) bắt đầu lên kế hoạch cho cuộc xâm lăng Na Uy vào ngày 14 tháng 12 năm 1939. Kế hoạch sơ bộ được mang tên Studie Nord và chỉ được huy động cho có một sư đoàn.
    Từ ngày 14 đến 19 tháng 1, Hải quân Đức đã tham gia cải tiến mở rộng kế hoạch này. Họ đã xác định ra hai yếu tố chủ chốt: thứ nhất là yếu tố bất ngờ cần thiết để giảm thiểu sự kháng cự của Na Uy (cũng như can thiệp của Anh); thứ hai là phải sử dụng các tàu chiến nhanh hơn thay vì các tàu buôn có tốc độ chậm để vận chuyễn quân. Điều này sẽ cho phép tất cả các mũi tiến công có thể thực hiện cùng một lúc, không bị hạn chế như khi sử dụng tàu vận chuyển. Kế hoạch mới này cần đến cả một quân đoàn, bao gồm 1 sư đoàn chyên đánh nhau ở miền núi, 1 sư đoàn không vận, 1 lữ đoàn súng trường cơ giới, và 2 sư đoàn bộ binh. Các mục tiêu tấn công của lực lượng này gồm có:
    • Thủ đô Na Uy Oslo và các khu trung tâm dân cư lân cận
    • Bergen
    • Narvik
    • Tromsø
    • Trondheim
    • Stavanger
    Kế hoạch còn đòi hỏi việc bắt giữ chớp nhoáng các quốc vương của Đan Mạch và Na Uy với hy vọng ép đối phương phải nhanh chóng đầu hàng.
    Ngày 21 tháng 2 năm 1940, Đại tướng von Falkenhorst được chỉ định làm tư lệnh chiến dịch. Ông ta đã tham chiến ở Phần Lan trong Chiến tranh thế giới thứ nhất vì vậy rất am hiểu chiến trường vùng cực Bắc. Tuy nhiên trước đây ông mới chỉ chuyên chỉ huy các lực lượng trên bộ.
    Bản kế hoạch sau cùng được đặt mật danh Chiến dịch Weserübung ("Bài diễn tập trên sông Weser") ngày 27 tháng 1 năm 1940. Kế hoạch được tiến hành bởi cụm tập đoàn quân số XXI bao gồm sư đoàn miền núi số 3 và 5 sư đoàn bộ binh, không sư đoàn nào trong số này từng có kinh nghiệm chiến đấu. Kế hoạch bố trí ban đầu là sẽ cho 3 sư đoàn tấn công đầu tiên, các lực lượng còn lại sẽ theo sau. 3 đại đội lính dù sẽ được huy động để chiếm giữ các sân bay. Sau đó có quyết định gửi thêm sư đoàn miền núi số 2 đến tăng cường cho chiến dịch.
    Kế hoạch ban đầu là nhằm mục đích xâm chiếm Na Uy và giành quyền kiểm soát các sân bay Đan Mạch bằng con đường ngoại giao. Nhưng Hitler đã cho ban hành một chỉ thị mới ngày 1 tháng 3 đòi hỏi phải xâm chiếm cả Na Uy và Đan Mạch. Điều này là do yêu cầu của Không quân Đức đòi hỏi phải chiếm lấy các căn cứ không quân và các vị trí để đặt chốt cảnh báo phòng không. Quân đoàn số ***I được thành lập để đánh chiếm Đan Mạch, gồm 2 sư đoàn bộ binh và lữ đoàn cơ giới số 11. Toàn bộ chiến dịch được yểm trợ bởi quân đoàn không quân số X, với hơn 1.000 máy bay các loại.

    Mở màn
    Tháng 2, tàu khu trục HMS Cossack của Anh đã tấn công tàu vận tải Đức Altmark trên hải phận Na Uy (sự kiện Altmark), giải cứu các tù binh chiến tranh bị giam giữ trái với công ước quốc tế trên tàu (tàu Altmark có nghĩa vụ phải phóng thích tù binh khi đi vào lãnh thổ trung lập). Hitler cho đây là biểu hiện rõ ràng rằng cho ý định vi phạm sự trung lập của Na Uy của Anh, qua đó càng tăng cường thúc đẩy mạnh mẽ cuộc xâm lược.[5]
    Ngày 12 tháng 3, Anh quyết định phái một đội quân viễn chinh đến Na Uy đúng vào lúc cuộc chiến tranh Mùa đông đang bắt đầu lắng dịu. Đội quân này đã xuống tàu ngày 13 tháng 3, nhưng lại bị triệu hồi - và cuộc hành quân bị hủy bỏ - do kết thúc của cuộc chiến Mùa đông. Thay vào đó, nội các Anh đã thông qua việc tiến hành các hoạt động đặt mìn trong vùng biển Na Uy, rồi tiếp theo sẽ cho quân đổ bộ.
    Các tàu chiến xâm lược đầu tiên của Đức đã khởi hành vào ngày 3 tháng 4. Hai ngày sau, Chiến dịch Wilfred được lên kế hoạch kỹ càng bắt đầu triển khai và đội Hải quân Hoàng gia Anh do tàu HMS Renown dẫn đầu đã rời Scapa Flow đi thả mìn vùng biển Na Uy. Các bãi mìn đã được rải tại Vestfjord sáng sớm ngày 8 tháng 4. Chiến dịch Wilfred kết thúc, nhưng một ngày sau, khu trục hạm Con đom đóm, đã tách ra ngày 7 tháng 4 để đi tìm một người mất tích trên tàu, và bị đánh chìm trong trận đụng độ với tuần dương hạm Đô đốc Hipper và 2 khu trục hạm thuộc hạm đội xâm lược của Đức.
    Ngày 9 tháng 4, cuộc xâm lăng của Đức bắt đầu tiến hành và kế hoạch R 4 cũng đồng thời được triển khai kịp lúc.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    2
    Xâm chiếm Đan Mạch


    Xe tăng Pz.Kpfw. I của Đức tại Aabenraa, Đan Mạch, 9 tháng 4 năm 1940



    Xét về mặt chiến lược, Đan Mạch giữ vai trò quan trọng đối với Đức như một bàn đạp cho chiến dịch Na Uy, và dĩ nhiên là một quốc gia có biên giới với Đức cần phải bị Đức kiểm soát theo một cách nào đó. Với vị trí của Đan Mạch trên biển Baltic, đây còn là một khu vực quan trọng để kiểm soát cửa ngõ tiến vào các cảng lớn của Nga và Đức.
    Với diện tích nhỏ và địa hình tương đối bằng phẳng, quốc gia này là vùng đất rất lí tưởng cho hoạt động của quân đội Đức, và đội quân nhỏ bé của Đan Mạch có rất ít hy vọng. Tuy thế, trong những giờ đầu tiên, vài toán quân Đan Mạch vẫn giao chiến với quân Đức, làm 16 người chết và 20 bị thương. Thiệt hại của Đức không được rõ ràng, với 12 xe thiết giáp và một số mô tô, ô tô bị phá hủy. 4 xe tăng Đức bị hư hại và 1 máy bay ném bom bị thương. 2 lính Đức đã bị Đan Mạch bắt giữ trong cuộc chiến ngắn ngủi này.
    Ngay trước khi mở màn cuộc xâm lăng vào ngày 9 tháng 4 năm 1940, đại sứ Đúc tại Đan Mạch, Renthe-Fink, đã gọi điện cho bộ trưởng ngoại giao Đan Mạch Peter Rochegune Munch và yêu cầu được họp mặt. Khi hai người gặp nhau 20 phút sau đó Renthe-Fink tuyên bố rằng quân đội Đức lúc này đã hành quân chiếm Đan Mạch để bảo vệ đất nước này khỏi cuộc tấn công của Pháp-Anh. Đại sứ Đức yêu cầu mọi sự kháng cự của Đan Mạch phải chấm dứt ngay lập tức và thiết lập liên lạc giữa chính quyền Đan Mạch và các lực lượng vũ trang Đức. Nếu yêu sách không được đáp ứng, không quan Đức sẽ ném bom xuống thủ đô Copenhagen.


    Xe thiết giáp Đức tại Jutland.



    Trong khi yêu sách của Đức được truyền đạt, cuộc tiến quân đầu tiên đã diễn ra khi quân Đức đổ bộ bằng phà tại Gedser lúc 04:15 rồi tiến lên phía bắc. Các đơn vị lính dù Đức đổ bộ không gặp kháng cự và chiếm được 2 sân bay tại Aalborg, cây cầu Storstrøm cùng với pháo đài Masnedø.
    Lúc 04:20 giờ địa phương, 1.000 lính bộ binh Đức đã đổ bộ lên cảng Copenhagen từ tàu thủy lôi Hansestadt Danzig, nhanh chóng chiếm được các đồn quân tại Kastellet mà không gặp phải sự kháng cự nào. Từ bến cảng, quân Đức tiến về lâu đài Amalienborg để bắt sống hoàng gia Đan Mạch. Đến khi quân xâm lược đến cung điện, lính gác hoàng gia đã được báo động và quân tiếp viện đang lên đường đến lâu đài. Cuộc tấn công đầu tiên của Đức vào Amalienborg đã bị đẩy lui, giúp cho Quốc vương Christian X và các bộ trưởng có đủ thời gian bàn bạc với đại tướng Prior chỉ huy quân đội Đan Mạch. Khi cuộc bàn luận còn đang tiến hành, nhiều đội hình máy bay ném bom Heinkel 111 và Dornier 17 gầm rú trên bầu trời thủ đô và rải xuống các tờ truyền đơn OPROP!. Đối mặt với lời đe dọa rõ ràng của không quân Đức về việc ném bom xuống dân thường Copenhagen, với chỉ còn mình đại tướng Prior chủ trương tiếp tục chiến đấu, lúc 08:34 Christian X và chính phủ Đan Mạch đã quyết định đầu hàng để đổi lấy sự duy trì nền độc lập chính trị đối với các vấn đề quốc nội.
    Lúc 05:45, hai phi đội Bf 110 của Đức đã tấn công sân bay Værløse trên đảo Zealand và xóa sổ Quân chủng Không quân Đan Mạch trong cuộc oanh kích. Bất chấp lưới lửa phòng không của Đan Mạch, máy bay tiêm kích Đức đã tiêu diệt 11 máy bay Đan Mạch và làm hư hại nghiêm trọng 14 chiếc khác.
    Cuộc xâm lăng Đan Mạch đã hoàn thành chỉ trong vòng không đến 6 tiếng đồng hồ và là chiến dịch quân sự ngắn nhất mà Đức tiến hành trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sự đầu hàng chóng vánh của Đan Mạch đã giúp cho nước này được hưởng một chế độ chiếm đóng ôn hòa hiếm có, nhất là cho đến mùa hè năm 1943, thậm chí còn trì hoãn được việc bắt giữ và lưu đày người Đan Mạch gốc Do Thái cho đến khi gần toàn bộ bọn họ được cảnh báo và sang tị nạn tại Thụy Điển. Tổng cộng có 477 người bị lưu đày, 70 người mất mạng, trong tổng số hơn 8.000 người gốc Do Thái và lai Do Thái trước chiến tranh.
    Mặc dù không có nhiều ý nghĩa trực tiếp về mặt quân sự, nhưng đối với Đức, Đan Mạch lại mang một giá trị chiến lược lớn và một tầm quan trọng về kinh tế trong phạm vi nhất định.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Xâm chiếm Na Uy

    Động cơ và tổ chức quân đội

    Na Uy có một tầm quan trọng to lớn đối với Đức vì 2 lý do chính: đây là một căn cứ cho các đơn vị hải quân, trong đó có các tàu ngầm U-boat, tiến hành đánh phá đường hải vận của Đồng Minh tại Bắc Đại Tây Dương, và độc chiếm các nguồn quặng sắt ở Thụy Điển chuyển qua cảng Narvik.[5] Đường bờ biển dài phía bắc là một địa điểm lý tưởng làm nơi khởi hành của các tàu ngầm U-boat tiến ra Đại Tây Dương tấn công nền thương nghiệp hàng hải của Đế quốc Anh. Đức bị phụ thuộc rất nhiềug vào nguồn quặng của Thụy Điển và đang lo lắng một cách có căn cứ về việc quân Đồng minh sẽ cố gắng ngăn chặn những nguồn hàng này, với 90% trong số đó khởi nguồn từ Narvik.
    Cuộc xâm lăng Na Uy được giao cho Quân đoàn XXI dưới quyền Đại tướng Nikolaus von Falkenhorst và bao gồm các đơn vị chính sau:
    • Sư đoàn bộ binh số 163
    • Sư đoàn bộ binh số 69
    • Sư đoàn bộ binh số 196
    • Sư đoàn bộ binh số 181
    • Sư đoàn bộ binh số 214
    • 2 trung đoàn thuộc sư đoàn miền núi số 3
    Lực lượng tấn công ban đầu được vận chuyển theo nhiều tốp bằng tàu chiến của Hải quân Đức:
    • Các tuần dương hạm ScharnhorstGneisenau yểm hộ từ xa, cộng thêm 10 khu trục hạm với 2.000 quân giao chiến tại miền núi do Đại tướng Eduard Dietl chỉ huy tới Narvik;
    • Tàu tuần dương hạng nặng Đô đốc Hipper và 4 khu trục hạm với 1,700 quân đến Trondheim;
    • Tàu tuần dương hạng nhẹ KölnKönigsberg, tàu huấn luyện pháo binh Bremse, tàu vận tải Karl Peters, 2 ngư lôi hạm và 5 tàu ngư lôi gắn động cơ với 1,900 quân tới Bergen;
    • Tàu tuần dương hạng nhẹ Karlsruhe, 3 ngư lôi hạm, 7 tàu phóng ngư lôi gắn động cơ và tàu mẹ loại Schnellboot (Schnellbootbegleitschiff) Tsingtau với 1,100 quân đến Kristiansand;
    • Tàu tuần dương hạng nặng Blücher, tàu tuần dương hạng nặng (trước đây là tiểu chiến hạm) Lützow, tàu tuần dương hạng nhẹ Emden, 3 ngư lôi hạm và 8 tàu quét mìn với 2.000 quân tới Oslo;
    • 4 tàu quét mìn với 150 quân tới Egersund.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    11
    Diễn biến chiến dịch
    • Trưa ngày 8 tháng 4, tàu chở quân bí mật Rio de Janeiro của Đức đã bị bắn chìm ngoài khơi Lillesand bởi tàu ngầm Orzeł của Ba Lan, thuộc đội tàu ngầm số 2 Hải quân hoàng gia Anh. Thế nhưng, thông tin về vụ việc này đến được với các cấp chính quyền có chức năng ở Oslo quá trễ khiến cho phía Na Uy không kịp làm gì hơn là cho phát đi một báo động hạn chế vào phút cuối.[9]
    • Khuya ngày 8 tháng 4 năm 1940, đội Kampfgruppe 5 bị tàu tuần tra Pol III của Na Uy phát hiện. Pol III liền bị tấn công, thuyền trưởng Leif Welding-Olsen trở thành quân nhân Na Uy đầu tiên bị thương nặng trong chiến tranh.
    • Tàu tuần dương hạng nặng Blücher của Đức bị bắn chìm tại Oslofjord ngày 9 tháng 4 bởi hỏa lực phòng thủ bờ biển của Na Uy, trong đó có 2 khẩu đại bác Krupp 48 tuổi kiểu Đức (MosesAron, cỡ 28 cm, được lắp ráp tại pháo đài Oscarsborg tháng 5 năm 1893) và bằng ngư lôi kiểu cũ:
      <ul><li style="">Đội tàu Đức tiến vào khu vịnh dẫn tới Oslo, đến cửa biển Drøbak. Sáng sớm ngày 9 tháng 4, các pháo thủ trong pháo đài Oscarsborg đã bắn vào tàu chỉ huy được sơn màu nổi bật trong đội hình, chiếc Blücher, vào khoảng 5h15. Sau 2 tiếng đồng hồ, con tàu, do mất đi tính cơ động trong vịnh hẹp, đã bị trọng thương sau khi trúng nhiều đòn tấn công của pháo binh và thủy lôi, rồi cuối cùng chìm với thương vong lớn khoảng từ 600 đến 1.000 thuỷ thủ. Mối đe doạ rõ rệt từ pháo đài cùng với nhận định sai lầm cho rằng bãi mìn đã góp phần làm tàu chìm đã ngăn cản đội tàu xâm lược còn lại đủ lâu cho hoàng gia Na Uy, nội các NygaardsvoldNghị viện Na Uy kịp sơ tán, cùng với toàn bộ ngân khố quốc gia. Nhờ đó, Na Uy đã không bao giờ phải đầu hàng Đức, để lại chính phủ bất hợp pháp của Vidkun Quisling và đưa Na Uy tham gia như một thành viên của phe Đồng minh trong chiến tranh, chứ không phải một quốc gia bị chiếm đóng.
    </li>[*]Quân không vận Đức đổ bộ tại sân bay Oslo, Fornebu, sân bay Kristiansand, Kjevik, và trạm hàng không Sola – sau này được mệnh danh là lực lượng lính dù chiến đấu (Fallschirmjäger) đầu tiên trong lịch sử;[5] ngẫu nhiên trong số các phi công của không quân Đức đổ bộ tại Kjevik có mặt Reinhard Heydrich.</ul>
    Bản đồ Oscarsborg trong Oslofjord



    • Cuộc đảo chính trên đài phát thanh của Quisling.
    • Một phần nhờ vào việc đánh chìm tàu Blücher trên vịnh Oslo, hoàng gia, nghị viện và ngân khố quốc gia Na Uy đã trốn thoát khỏi quân xâm lược Đức;[5] quốc vương Haakon từ chối hạ vũ khí đầu hàng; giao chiến tại Midtskogen; ném bom ElverumNybergsund; hoàng gia, nội các, nghị viện cùng toàn bộ dự trữ vàng quốc gia chạy lên phía bắc thoát khỏi quân Đức.
    • Các thành phố, thị trấn Bergen, Stavanger, Egersund, Kristiansand S, Arendal, Horten, TrondheimNarvik bị tấn công và chiếm đóng trong vòng 24 tiếng đồng hồ.
    • Cuộc kháng cự anh hùng nhưng vô ích của 2 tàu bọc thép bảo vệ bờ biển Na Uy NorgeEidsvold tại Narvik. Cả 2 tàu đều bị trúng thủy lôi và chìm với số thương vong lớn.
    • Trận Narvik thứ nhấtthứ hai (Hải quân hoàng gia Anh đánh với hải quân Đức).
    • Quân Đức chiếm Narvik và đổ bộ lên với 2.000 quân bộ binh chuyên đánh ở miền núi, nhưng hải quân Anh đã phản công thành công trong nhiều ngày với chiếc tàu chiến cũ HMS Warspite và một tiểu hạm đội khu trục, đánh đắm cả 10 khu trục hạm của Đức khi chúng hết nhiên liệu và đạn dược.
    • Bom đạn tàn phá thị trấn Nybergsund, Elverum, Åndalsnes, Molde, Kristiansund N, Steinkjer, Namsos, Bodø, Narvik – một số chỉ bị ném bom chiến thuật, số khác bị ném bom khủng bố.
    • Chiến dịch đổ bộ chính của quân Đức lên phía Bắc từ Oslo với trang bị nâng cấp; lính Na Uy với vũ khí từ thế kỷ trước, cùng một số đội quân Anh-Pháp (xem chiến dịch Namsos), chặn được quân xâm lược một thời gian trước khi phải chịu đầu hàng – cuộc giao chiến trên bộ đầu tiên giữa quân đội Anh và quân đội Đức trong Thế chiến 2.
    • Các trận đánh trên bộ tại Narvik: lực lượng Na Uy và quân Đồng minh (PhápBa Lan) dưới quyền đại tướng Carl Gustav Fleischer đã giành được thắng lợi chiến thuật lớn đầu tiên trước quân đội Đức trong Thế chiến 2; cuộc rút lui sau đó của Đồng minh (xem dưới đây); giao tranh tại Gratangen.
    • Cuộc sơ tán của Quốc vương và nội các Nygaardsvold từ Molde tới Tromsø ngày 29 tháng 4, và cuộc di tản của quân Đồng minh ra khỏi Åndalsnes ngày 1 tháng 5, kết thúc các hoạt động chống cự tại miền Nam Na Uy.
    • Cuộc "kháng cự cuối cùng": pháo đài Hegra (pháo đài Ingstadkleiven) chống trả các cuộc tấn công của Đức cho đến ngày 5 tháng 5 – có ý nghĩa tuyên truyền quan trọng với quân Đồng minh, giống như ở Narvik.
    • Quốc vương Haakon, hoàng thái tử Olav, và nội các Nygaardsvold rời Tromsø ngày 7 tháng 6 (trên tàu tuần dương hạng nặng HMS Devonshire) đến Anh quốc làm đại diện lưu vong cho Na Uy (quốc vương đã trở về Oslo đúng vào ngày này 5 năm sau); hoàng thái tử phi Märtha và các con, bị từ chối cho nương náu tại quê hương Thụy Điển, sau đó đã rời Petsamo, Phần Lan, đến sống lưu vong tại Hoa Kỳ.
    • Quân đội Na Uy đầu hàng ngày 10 tháng 6 năm 1940, 2 tháng sau ngày Weser, và Na Uy bị chiếm đóng hoàn toàn sau một thời gian dài chống trả quân xâm lược. Tuy vậy các lực lượng vũ trang Na Uy vẫn tiếp tục chiến đấu với quân Đức tại hải ngoại và ở trong nước cho đến tận khi Đức đầu hàng ngày 8 tháng 5 năm 1945.
    Xa hơn về phía bắc, các đội quân Na Uy, Pháp, Ba Lan, được hỗ trợ bởi hải quânkhông quân Hoàng gia Anh, đã chiến đấu với quân Đức nhằm giành quyền kiểm soát cảng Narvik, vốn rất quan trọng với việc xuất khẩu quặng sắt của Thụy Điển (cảng Luleå của Thụy Điển bị đóng băng trong mùa đông). Ngày 28 tháng 5, quân Đức đã bị đẩy khỏi Narvik, nhưng do tình hình tại lục địa châu Âu chuyển biến xấu, quân Đồng minh đã rút đi trong chiến dịch Alphabet – và quân Đức tái chiếm Narvik ngày 9 tháng 6, thành phố đến lúc đó đã bị bỏ hoang do các cuộc ném bom dữ dội của không quân Đức.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Phong toả Thuỵ Điển và Phần Lan

    Tuyến đường sắt Malmbanan: Quặng sắt được khai thác ở KirunaMalmberget, rồi chuyển bằng tàu hoả đến các cảng LuleåNarvik.
    (Biên giới giai đoạn 1920–1940.)



    Chiến dịch Weserübung không bao hàm một cuộc tấn công quân sự vào nước Thụy Điển trung lập, vì điều đó là không cần thiết. Khi đã nắm được Na Uy, các eo biển của Đan Mạch và phần lớn bờ biển Baltic, Đế chế thứ ba đã bao quanh Thụy Điển từ 3 mặt phía bắc, phía tây và phía nam – còn tại phía đông, Liên Xô, kẻ thù không đội trời chung với Thụy Điển và Phần Lan từ thời Nga hoàng, lại đang có quan hệ thân thiết với Hitler theo các điều khoản của hiêp ước Molotov-Ribbentrop. Có một số nhỏ quân tình nguyện Phần Lan đã giúp đỡ quân đội Na Uy một đơn vị cứu thương trong cuộc chiến chống lại Đức. Nền thương nghiệp buôn bán của Thụy Điển và Phần Lan đã hoàn toàn bị Hải quân Đức kiểm soát. Như vậy nghiễm nhiên Đức có khả năng tạo áp lực để nước Thụy Điển trung lập phải cho phép hàng hóa quân sự và binh lính nghỉ phép của mình quá cảnh. Ngày 18 tháng 6 năm 1940, một bản hiệp định đã được thông qua. Theo đó binh lính Đức quá cảnh tại Thụy Điển không được mang vũ khí và không phải là thành phần của các đơn vị hành quân. Tổng cộng có 2.140.000 lính Đức và hơn 100.000 toa xe quân sự đã chuyển qua Thụy Điển cho đến khi tuyến vận chuyển này chính thức bị đình chỉ ngày 20 tháng 8 năm 1943.
    Ngày 19 tháng 8 năm 1940, Phần Lan đã đồng ý cho quân đội Đức được quyền tiến vào lãnh thổ của mình, theo thỏa thuận ký ngày 22 tháng 9. Hiệp định ban đầu chỉ bao hàm việc vận chuyển quân đội và trang bị quân sự đến và đi tại miền bắc Na Uy, nhưng chẳng mấy chốc các căn cứ nhỏ đã xuất hiện dọc theo tuyến vận chuyển và được phát triển để chuẩn bị phục vụ cho chiến dịch Barbarossa.
    Phán xét tại Nuremberg

    Cuộc xâm chiếm Iran của Anh và Liên Xô năm 1941, và cuộc xâm lược Na Uy năm 1940 của Đức đã được bào chữa là những hoạt động phòng ngừa trong phần biện hộ của Đức tại tòa án Nuremberg năm 1946, phía Đức nói rằng họ "bắt buộc phải tấn công Na Uy do sự cần thiết phải đi trước một cuộc xâm chiếm của Đồng minh và hành động này do đó chỉ là phòng ngừa." Lý lẽ của Đức ám chỉ kế hoạch R 4 và những kế hoạch trước đó của Đồng minh. Na Uy rất quan trọng đối với Đức vì đây là tuyến đường vận quặng sắt từ Thụy Điển, một nguồn cung cấp mà người Anh kiên quyết phải ngăn chặn. Có một kế hoạch đã được thông qua của Anh là đi xuyên qua Na Uy để đánh chiếm các thành phố ở Thụy Điển.Một cuộc xâm chiếm của Đồng minh đã được chỉ định vào ngày 12 tháng 3, và hệ thống liên lạc toạ độ radio của Đức đã chọn ngày 14 tháng 3 làm hạn cuối cho việc chuẩn bị.Nền hòa bình ở Phần Lan đã làm phá sản kế hoạch của Đồng minh, nhưng Hitler lúc này đã tin tưởng một cách đúng đắn rằng phe Đồng minh sẽ còn trở lại, và ra lệnh mở chiến dịch Weserübung. Những kế hoạch mới của Đồng minh là chiến dịch Wilfredkế hoạch R 4. Kế hoạch này nhằm kích động một phản ứng bằng cách cho rải mìn trên hải phận Na Uy, và một khi Đức có dấu hiệu hành động thì quân Anh sẽ chiếm Narvik, Trondheim, Bergen và mở một cuộc đột kích vào Stavanger để phá huỷ sân bay Sola. Thế nhưng "mìn đã không được rải cho đến sáng ngày 8 tháng 4, thời điểm mà các tàu Đức đang trên đường tiến đến bờ biển Na Uy." Mặc dù vậy, toà án quân sự quốc tế tại Nuremberg quả quyết rằng không có cuộc xâm chiếm nào của Đồng minh sắp xảy ra lúc đó, và qua đó bác bỏ lời bào chữa của Đức rằng như vậy bác bỏ lập luận rằng Đức có quyền tiến đánh Na Uy.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •